BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN BÀI TIỂU LUẬN Đề tài QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN VÀ SỰ VẬN DỤNG VÀO QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN TÊN HỌC PHẦN TRIẾT H[.]
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
BÀI TIỂU LUẬN
Đề tài:
QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN VÀ SỰ VẬN DỤNG VÀO QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
TÊN HỌC PHẦN : TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN
HỌ VÀ TÊN SINH VIÊN :
MÃ SINH VIÊN :
LỚP HỌC PHẦN :
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN:
Hà Nội, tháng 4 năm 2020
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU
“ Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí mạnh thế nước mạnh đi lên, nguyên khí yếu thế nước yếu đi xuống” (Trích văn bia tiến sĩ khoa Nhâm Tuất niên hiệu Đại Bảo 3)
Từ thời xa xưa, nền giáo dục nước nhà đã được hết sức quan tâm, chăm sóc
và được đúc kết qua những câu thơ, câu văn mang tầm thời đại Thế giới phát triển từng ngày đòi hỏi nền giáo dục cũng phải có những chuyển biến tích cực
để bắt kịp với xu thế của xã hội Đặc biệt, giáo dục trong lĩnh vực kinh tế đóng vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình phát triển của loài người
Đánh giá quá trình phát triển của giáo dục phải được đặt trong tổng thể các mối quan hệ, trong sự vận động phát triển không ngừng Do vậy, việc vận dụng quan điểm toàn diện của Triết học Mác – Lê-nin là rất cần thiết để có được hướng đi đúng đắn
Xuất phát từ những nhận thức trên, em đã chọn đề tài: “ Vận dụng quan điểm toàn diện vào quá trình xây dựng và phát triển trường Đại học Kinh tế Quốc dân” làm đề tài nghiên cứu cho mình
Kết cấu đề tài gồm 2 phần:
Phần 1: Vấn đề lý luận về quan điểm toàn diện
Phần 2: Vận dụng quan điểm toàn diện vào quá trình xây dựng và phát triển trường đại học Kinh tế Quốc dân
Trang 3PHẦN 1: VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUAN ĐIỂM
TOÀN DIỆN
Phép biện chứng duy vật - môn khoa học nghiên cứu những quy luật chung nhất của sự vận động và phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy được xây dựng trên cơ sở một hệ thống gồm 2 nguyên lý, 6 cặp phạm trù cơ bản và 3 quy luật phổ biến Từ 2 nguyên lý cơ bản trên, ta xây dựng được 3 quan điểm: Quan điểm toàn diện, quan điểm phát triển và quan điểm lịch sử - cụ thể Trong đó, quan điểm toàn diện đóng một vai trò quan trọng bởi bất cứ sự vật hiện tượng nào trong thế giới đều tồn tại trong mối liên hệ với các sự vật khác và mối liên
hệ rất đa dạng, phong phú
1.1 Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến.
Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng thế giới tồn tại như một thể thống nhất Các sự vật hiện tượng và các quá trình cấu thành thế giới đó vừa tồn tại tách biệt với nhau, vừa có sự liên hệ qua lại, thâm nhập và chuyển hóa lẫn nhau
Cơ sở của sự liên hệ đó chính là tính thống nhất của thế giới vật chất
Mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng là khách quan, là vốn có của sự vật, hiện tượng Đồng thời mối liên hệ còn mang tính phổ biến bởi bất cứ sự vật hiện tượng nào cũng đều nằm trong các mối liên hệ với những sự vật, hiện tượng khác
Quan điểm duy vật biện chứng không chỉ khẳng định tính khách quan, tính phổ biến của sự liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng, các quá trình mà nó còn nêu
rõ tính đa dạng của sự liên hệ qua lại: có mối liên hệ bên trong và mối liên hệ bên ngoài, có mối liên hệ chung bao quát toàn bộ thế giới và mối liên hệ bao quát một số lĩnh vực của thế giới,có mối liên hệ trực tiếp, mối liên hệ gián tiếp
mà trong đó sự tác động qua lại được thể hiện thông qua một hay một vài khâu trung gian, có mối liên hệ bản chất, mối liên hệ tất nhiên và liên hệ ngẫu nhiên,
có mối liên hệ giữa các sự vật khác nhau và mối liên hệ giữa các mặt khác nhau của sự vât Trong các mối quan hệ đó, nói chung, mối liên hệ bản chất, mối liên
hệ tất nhiên, mối liên hệ chủ yếu… giữ vai trò quyết định, tùy thuộc vào quan
hệ hiện thực xác định
Trang 41.2 Quan điểm toàn diện trong Triết học Mác – Lê-nin
Từ việc nghiên cứu nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của sự vật hiện tượng, triết học Mác - Lênin rút ra quan điểm toàn diện trong nhận thức
Với tư cách là một nguyên tắc phương pháp luận trong việc nhận thức các sự vật hiện tượng, quan điểm toàn diện đòi hỏi để có được nhận thức đúng đắn về
sự vật hiện tượng Một mặt, chúng ta phải xem xét nó trong mối liên hệ qua lại giữa các bộ phận, các yếu tố, các thuộc tính khác nhau trong chính chỉnh thể của
sự vật, hiện tượng đó, mặt khác chúng ta phải xem xét trong mối liên hệ qua lại giữa sự vật hiện tượng đó với với các sự vật, hiện tượng khác, tránh cách xem xét phiếm diện, một chiều Nguyên tắc toàn diện đòi hỏi phải xem xét đánh giá từng mặt, từng mối liên hệ, và phải nắm được đâu là mối liên hệ chủ yếu, bản chất quy định sự vận động, phát triển của sự vật hiện tượng; tránh chủ nghĩa triết chung, kết hợp vô nguyên tắc các mối liên hệ; tránh sai lầm cẩu thuật ngụy biện, coi cái cơ bản thành cái không cơ bản, không bản chất thành bản chất hoặc ngược lại, dẫn đến sự sai lệch, xuyên tạc bản chất của sự vật hiện tượng
Trong nhận thức phương pháp toàn diện là yêu cầu tất yếu của phương pháp tiếp cận khoa học, cho phép chính tính đến mọi khả năng của sự vận động, phát triển có thể có của sự vật, hiện tượng đang nghiên cứu, nghĩa là xem xét sự vật, hiện tượng trong một chính thể thống nhất với tất cả các mặt, các bộ phận , các yếu tố các thuộc tính, cùng các mối liên hệ của chúng Đề cập đến hai nội dung này, V.I Lênin viết "muốn thực sự hiểu được sự vật, cần phải nhìn bao quát và nghiên cứu tất cả các mặt, các mối liên hệ và quan hệ gián tiếp của sự vật đó" Hơn thế nữa, quan điểm toàn diện đòi hỏi, để nhận thức được sự vật, cần phải xem xét nó trong mối liên hệ với nhu cầu thực tiễn của con người Ứng với mỗi con người, mỗi thời đại và trong một hoàn cảnh lịch sử nhất định, con người bao giờ cũng chỉ phản ánh được một số lượng hữu hạn những mối liên hệ Bởi vậy, nhận thức của con người về sự vật cũng chỉ là tương đối, không trọn vẹn, đầy đủ Có ý thức được điều này chúng ta mới tránh được việc tuyệt đối hoá những tri thức đã có về sự vật và tránh xem đó là những chân lý bất biến, tuyệt đối không thể bổ sung, không thể phát triển Để nhận thức được sự vật , cần phải nghiên cứu tất cả các mối liên hệ, "cần thiết phải xem xét tất cả mọi mặt để
đề phòng cho chúng ta khỏi phạm sai lầm và sự cứng nhắc."
Quan điểm toàn diện đối lập với cách nhìn phiến diện, một chiều; đối lập với chủ nghĩa triết chung và thuật ngụy biện Không chỉ ở chỗ nó chú ý đến nhiều mặt, nhiều mối liên hệ Việc chú ý tới nhiều mặt, nhiều mối liên hệ vẫn có thể là phiến diện nếu chúng ta đánh giá ngang nhau những thuộc tính, những quy định khác nhau của của sự vật được thể hiện trong những mối liên hệ khác nhau đó Quan điểm toàn diện chân thực đòi hỏi chúng ta phải đi từ tri thức về nhiều mặt,
Trang 5nhiều mối liên hệ của sự vật đến chỗ khái quát để rút ra cái bản chất chi phối sự tồn tại và phát triển của sự vật hay hiện tượng đó
Như vậy, quan điểm toàn diện cũng không đồng nhất với cách xem xét dàn trải, liệt kê những tính quy định khác nhau của sự vật, hiện tượng Nó đòi hỏi phải làm nổi bật cái cơ bản, cái quan trọng nhất của sự vật hiện tượng đó Có thể kết luận, quá trình hình thành quan điểm toàn diện đúng đắn với tư cách là nguyên tắc phương pháp luận để nhận thức sự vật sẽ phải trải qua các giai đoạn
cơ bản là đi từ ý niệm ban đầu về cái toàn thể để để nhận thức một mặt, một mối liên hệ nào đó của sự vật rồi đến nhận thức nhiều mặt, nhiều mối liên hệ của sự vật đó và cuối cùng, khái quát những tri thức phong phú đó để rút ra tri thức về bản chất của sự vật
Quan điểm toàn diện vừa khác chủ nghĩa chiết trung vừa khác thuật nguỵ biện Chủ nghĩa chiết trung tuy cũng tỏ ra chú ý tới nhiều mặt khác nhau nhưng lại kết hợp một cách vô nguyên tắc những cái hết sức khác nhau thành một hình ảnh không đúng về sự vật Chủ nghĩa chiết trung không biết rút ra mặt bản chất, mối liên hệ căn bản nên rơi vào chỗ cào bằng các mặt, kết hợp một cách vô nguyên tắc các mối liên hệ khác nhau, do đó hoàn toàn bất lực khi cần phải có quyết sách đúng đắn Thuật nguỵ biện cũng chỉ chú ý đến những mặt , những mối liên hệ khác nhau của sự vật nhưng lại đưa cái không cơ bản thành cái cơ bản, cái không bản chất thành cái bản chất Cả chủ nghĩa chiết trung và thuật nguỵ biện đều là những biểu hiện khác nhau của phương pháp luận sai lầm trong việc xem xét các sự vật, hiện tượng
Trang 6PHẦN 2: VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN VÀO QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
2.1 Giới Thiệu Chung về Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (National Economics University) là một trong những trường đại học về đào tạo khối ngành kinh tế và quản lý tại Việt Nam Đồng thời, trường còn là trung tâm nghiên cứu kinh tế chuyên sâu, tư vấn các chính sách vĩ mô cho Nhà nước Việt Nam, chuyển giao và tư vấn công nghệ quản lý và quản trị
a Lịch sử hình thành
- Ngày 25 tháng 1 năm 1956, trường được thành lập với tên Trường Kinh tế Tài chính
- Ngày 22 tháng 5 năm 1958, đổi tên thành Trường Đại học Kinh tế Tài chính trực thuộc Bộ Giáo dục
- Tháng 1 năm 1965, đổi tên thành Trường Đại học Kinh tế Kế hoạch
- Ngày 22 tháng 10 năm 1985, đổi tên trường thành Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
- Năm 1989, trường Đại học Kinh tế Quốc dân được Chính phủ giao thực hiện 3 nhiệm vụ chính là:
1/ Tư vấn về chính sách kinh tế vĩ mô
2/ Đào tạo về kinh tế, quản lý và quản trị kinh doanh ở bậc đại học và sau đại học
3/ Đào tạo cán bộ quản lý cho các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế
b Quy mô
- Tổng số giảng viên và nhân viên: 1228
Trong đó có 18 Giáo sư, 95 Phó Giáo sư, 255 Tiến sĩ, 391 Thạc sĩ; 20 Giảng viên cao cấp, 230 giảng viên chính, 329 giảng viên 2 Nhà giáo Nhân dân, 41 Nhà giáo Ưu tú, 382 Đảng viên
Trang 7Hiện trường đang đào tạo khoảng 45.000 sinh viên với 19 khoa, 45 chuyên ngành, 11 viện và 8 trung tâm, 13 bộ môn, 9 phòng ban chức năng và 4 đơn vị phục vụ khác
c Vị thế, sứ mạng của trường Đại học Kinh tế Quốc Dân.
- Trường KTQD là đại học kinh tế đầu tiên của Việt Nam, được thành lập cách đây 61 năm Nơi đây cũng đồng thời là trường thuộc khối kinh tế đầu tiên của
cả nước được Thủ tướng giao nhiệm vụ đào tạo trên đại học để đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực có trình độ cao Hiện nay, đại học Kinh tế Quốc dân là một trong những trường đứng đầu trong khối các trường đại học đào tạo, nghiên cứu kinh tế ở Việt Nam
- Sứ mạng của trường Đại học Kinh tế Quốc dân là tham gia phát triển và lan tỏa tri thức, thu hút và bồi dưỡng nhân tài, cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu phát triển bền vững của đất nước; phát huy vai trò là trường đại học đào tạo các nhà lãnh đạo cấp cao và những doanh nhân hàng đầu của Việt Nam, giữ vững vị thế của một trung tâm nghiên cứu xuất sắc, nơi đề xuất đường lối, chính sách phát triển kinh tế xã hội của đất nước và tư vấn các giải pháp cho các tổ chức, doanh nghiệp
2.2 Những nhân tố tác động đến quá trình hình thành và phát triển của trường Đại học Kinh tế Quốc dân
- Sau khi hòa bình được lập lại trên toàn miền Bắc, từ năm 1954, nước ta tạm thời bị chia cắt làm hai miền Miền Bắc bắt đầu thực hiện quá độ lên CNXH, miền Nam tiếp tục đấu tranh chống đế quốc Mĩ xâm lược và chính quyền Sài Gòn Trong đó, hoàn thành cải cách ruộng đất, khôi phục kinh tế, cải tạo quan
hệ sản xuất, là nhiệm vụ hàng đầu mà Đảng và Chính Phủ đặt ra cho miền Bắc Thời kì đó, nền kinh tế nước ta vẫn đang là nông nghiệp lạc hậu, bị tàn phá nặng
nề, công nghiệp phát triển nhưng với quy mô nhỏ bé, kĩ thuật lạc hậu nên năng suất thấp, không đáp ứng được yêu cầu sản xuất và đời sống của nhân dân
- Trước những thách thức đặt ra, ngày 25 tháng 1 năm 1956, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân được thành lập theo Nghị định số 678-TTg, với tên Trường Kinh tế Tài chính Trường Kinh tế Tài chính nằm trong hệ thống đại học nhân dân của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhằm thỏa mãn từng bước nhu cầu đào tạo cán bộ trong quá trình khôi phục và phát triển kinh tế có kế hoạch
- Trải qua những cuộc “chuyển mình” của đất nước, trong thời kì hội nhập và phát triển hiện nay, dưới sự quan tâm của Đảng và Chính Phủ, trường Đại học Kinh tế Quốc dân vẫn luôn không ngừng phát triển và khẳng định vị thế trường
Trang 8trọng điểm quốc gia, trường đầu ngành trong hệ thống giáo dục đại học của cả nước nhằm phục vụ cho sự nghiệp Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa đất nước, phục vụ có hiệu quả nhu cầu phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế - xã hội Việt Nam
2.3 Vận dụng quan điểm toàn diện vào quá trình xây dựng và phát triển trường Đại học Kinh tế Quốc dân.
2.3.1 Những vấn đề cần quan tâm
*) Giáo dục – Đào tạo:
Chất lượng đào tạo của Kinh tế Quốc dân được đánh giá cao bởi chất lượng sinh viên và giảng viên đều được đảm bảo qua các năm
- Đầu vào của trường luôn nằm trong top những đường đại học có điểm chuẩn cao nhất của các nước, vì thế nơi đây quy tụ rất nhiều học sinh giỏi của các trường THPT trên cả nước Trường cũng luôn nằm trong top đầu các trường có sinh viên đầu ra đạt mức lương cao nhất
- Giảng viên trường Đại học Kinh tế Quốc dân là những người có chuyên môn cao, kiến thức sâu rộng trong lĩnh vực kinh tế, thường xuyên được mời qua giảng dạy ở các trường đại học khác Giáo trình của trường cũng được nhiều trường đại học khác tham khảo và học tập
*) Hợp tác quốc tế:
- Trường Đại học Kinh tế Quốc dân có quan hệ trao đổi, hợp tác nghiên cứu – đào tạo với nhiều trường đại học, viện nghiên cứu nổi tiếng và nhiều tổ chức quốc tế của các nước như Nga, Trung Quốc, Bulgaria, Ba Lan, Cộng hòa Séc và Slovakia, Anh, Pháp, Mỹ, Úc, Nhật, Thuỵ Điển, Hà Lan, Đức, Canada, Hàn Quốc, Thái Lan,
Đặc biệt, trường cũng nhận được tài trợ của các nước và các tổ chức quốc tế như tổ chức Sida (Thụy Điển), UNFPA, CIDA (Canada), JICA (Nhật Bản), Chính phủ Hà Lan, ODA (Vương quốc Anh), UNDP, Ngân hàng Thế giới, Quỹ Ford (Mỹ), Quỹ Hanns Seidel (Đức) để tổ chức nghiên cứu, xây dựng chương trình đào tạo và mở các khoá đào tạo thạc sĩ tại Trường về kinh tế, quản lý, quản trị kinh doanh và các lớp bồi dưỡng về kinh tế thị trường
Đồng thời, Trường cũng có quan hệ với nhiều công ty nước ngoài trong việc đào tạo, nghiên cứu và cấp học bổng cho sinh viên
Trang 92.3.2 Những thành tựu, bất cập trong quá trình xây dựng và phát triển của trường
a Những thành tựu đạt được
Trải qua hơn nửa thế kỷ xây dựng và phát triển, trường Đại học Kinh tế Quốc dân luôn luôn giữ vững vị trí là:
- Một trong những trung tâm đào tạo và bồi dưỡng cán bộ quản lý kinh tế và quản trị kinh doanh lớn nhất ở Việt Nam
Cho đến nay, trường Đại học Kinh tế Quốc dân đã đào tạo được nhiều thế hệ cán bộ quản lý chính quy, năng động, dễ thích nghi với nền kinh tế thị trường và
có khả năng tiếp thu các công nghệ mới Trong số những sinh viên tốt nghiệp của Trường, nhiều người hiện đang giữ những chức vụ quan trọng trong các cơ quan của Đảng, Quốc hội, Chính phủ và các doanh nghiệp
- Trung tâm tư vấn và chuyển giao công nghệ quản lý kinh tế và quản trị kinh doanh Trường đã có nhiều đóng góp to lớn trong việc tư vấn cho các tổ chức ở Trung ương, địa phương và các doanh nghiệp Ảnh hưởng sâu rộng của trường Đại học Kinh tế Quốc dân đến toàn bộ công cuộc đổi mới được tăng cường bởi các mối liên kết chặt chẽ của Trường với các cơ quan thực tiễn
Ngoài ra, Trường cũng hợp tác về nghiên cứu với nhiều trường đại học, viện nghiên cứu và các tổ chức quốc tế
- Bên cạnh đó, Đại học Kinh tế Quốc dân đã đạt được rất nhiều thành tựu to lớn
và đã được trao tặng nhiều danh hiệu cao quý của Đảng và Nhà nước như:
HUÂN CHƯƠNG HỒ CHÍ MINH: Năm 2001, 2011
ANH HÙNG LAO ĐỘNG: Năm 2000
HUÂN CHƯƠNG ĐỘC LẬP: Hạng Nhất (1996), Hạng Nhì (1991), Hạng Ba (1986)
HUÂN CHƯƠNG LAO ĐỘNG: Hạng Nhất (1983, 2016), Hạng Nhì (1978), Hạng Ba (1961-1972)
HUY CHƯƠNG HỮU NGHỊ: Nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào (1987, 2008)
Hiện nay, trường được đánh giá là một trong những trường đại học tốt nhất tại Việt Nam:
- Có hệ thống cơ sở vật chất hiện đại, nổi tiếng nhất là “tòa nhà thế kỉ” – tòa nhà được xây dựng theo lối kiến trúc Pháp, có 10 tầng với 147 phòng chức năng cùng 6 thang máy, các phòng học đều được đầu tư máy chiếu, điều hòa, có
Wi-fi phủ sóng toàn bộ tòa nhà
Trang 10- Xây dựng được hệ thống đào tạo từ xa hiện đại, trong đó phải kể đến Blended learning, Turnitin,… và các trang web đào tạo chính quy của nhà trường
- Thường xuyên trao đổi, hợp tác quốc tế với các trường đại học lớn
- Có 24 tổ đội thuộc Hội sinh viên và 21 câu lạc bộ thuộc Đoàn trường cũng như Liên chi đoàn của 33 khoa, viện Các tổ chức này đều hoạt động rất sôi nổi, mỗi năm tổ chức hàng trăm sự kiện lớn nhỏ trong trường, chứng minh sự năng động
và sáng tạo của sinh viên trong học tập lẫn hoạt động
- Xây dựng được thương hiệu trường đại học tốt nhất trong khối ngành kinh tế tại Việt Nam
b Những hạn chế, khó khăn còn tồn tại
*) Giáo dục – Đào tạo
- Chất lượng giảng dạy của trường được đánh giá tốt, trường tập trung đào tạo chuyên sâu về học thuật cho sinh viên, vì thế sinh viên của trường thường có kiến thức nền vững chắc và tầm hiểu biết rộng về các vấn đề liên quan đến kinh
tế Tuy nhiên, cần có sự kết hợp giữa việc giảng dạy lý thuyết hàn lâm với các
kỹ năng cần thết trong cuộc sống Việc chú trọng vào đào tạo các kiến thức học thuật và khái quát dễ khiến buổi học trở nên thiếu lôi cuốn
*) Cơ sở vật chất
- Trường đại học Kinh tế quốc dân là một trong những ngôi trường đại học có
hạ tầng cơ sở vật chất hàng đầu Việt Nam Tuy nhiên khu vực sân vận động lại chưa được đầu tư kịp thời, trường không có nhà đa chức năng hay khu vực tập luyện cho bộ môn Giáo dục thể chất mà phải tận dụng khu vực sân ở kí túc xá
Hạ tầng và các thiết bị phục vụ cho nhu cầu thể dục thể thao cũng chưa được đầu tư kĩ càng
- Kí túc xá của đại học Kinh tế Quốc dân nằm gần trường (cách giảng đường một cây cầu đi bộ) Mức giá linh hoạt giúp các bạn sinh viên dễ dàng lựa chọn nơi ở phù hợp với điều kiện của bản thân Tuy nhiên, tình trạng thực tế của kí túc xá lại không đáp ứng được nhu cầu và mong muốn của sinh viên như: thiếu nguồn nước sạch, bãi đỗ xe chưa hoạt động tốt,v.v…
*) Học phí
- Tuy là trường công lập nhưng học phí của trường Đại học Kinh tế Quốc dân lại khá cao so với các trường công lập khác Điều đó tạo một rào cản lớn đối với các học sinh nghèo, gia đình có hoàn cảnh khó khăn nhưng có thành tích tốt và mong muốn được học tại trường