1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Toan TH-Nguyen Thi Nguyet - TH Yen Tho 1- Nhu Thanh

22 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 188,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1 SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NHƯ THANH SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY DẠNG TOÁN VỀ TÌM HAI SỐ KHI BIẾT TỔNG VÀ TỈ SỐ CỦA HAI SỐ ĐÓ CHO H[.]

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NHƯ THANH

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY DẠNG TOÁN VỀ TÌM HAI

SỐ KHI BIẾT TỔNG VÀ TỈ SỐ CỦA HAI SỐ ĐÓ CHO HỌC

SINH LỚP 4B TRƯỜNG TIỂU HỌC YÊN THỌ 1

Người thực hiện: Nguyễn Thị Nguyệt Chức vụ: Giáo viên

Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Yên Thọ 1 SKKN thuộc lĩnh vực ( môn): Toán

THANH HOÁ, NĂM 2020

Trang 2

Mục lục

1 Mở đầu 1.1 Lý do chọn đề tài.

Tiểu học là cấp học nền tảng đặt cơ sở ban đầu cho việc hình thành vàphát triển nhân cách của con người, đặt nền móng vững chắc cho giáo dục phổthông và cho toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân

Mỗi môn học ở Tiểu học đều góp phần vào việc hình thành và phát triểnnhững cơ sở ban đầu, rất quan trọng của nhân cách con người Việt Nam Trongcác môn học ở Tiểu học, cùng với môn Tiếng Việt, môn Toán có vai trò quantrọng không kém Môn Toán là một môn học mà từ xưa đến nay được xem làkhô khan và có phần trừu tượng Nhưng khả năng giáo dục nhiều mặt của mônToán rất to lớn, nó có khả năng phát triển tư duy lôgic, phát triển trí tuệ

Ở tiểu học, trong năm mạch kiến thức thuộc nội dung môn toán thì việcdạy giải toán có lời văn là mức cao nhất của hoạt động tư duy, đòi hỏi học sinhphải tập trung trí tuệ, huy động tất cả vốn trí thức về toán học của cuộc sống vàohoạt động dạy toán Đây là sự vận dụng có tính chất tổng hợp các kĩ năng,phương pháp mà học sinh đã được học

Đối với học sinh tiểu học, có thể coi việc giải toán là một hình thức chủyếu của việc học toán Việc dạy giải các bài toán cho học sinh là một trongnhững nhiệm vụ quan trọng và quyết định trong việc học toán của các em

Đối với lớp 4, dạy giải toán có lời văn chủ yếu là hướng vào các bài toánđiển hình Trong quá trình giải có những bài toán ở mỗi dạng khi thay đổi một vàiđiều kiện của đề bài sẽ tạo nên rất nhiều tình huống toán học khác nhau, từ đó dẫnđến phương pháp giải cũng vô cùng phong phú, đa dạng, hấp dẫn và nó hoàn toàntuỳ thuộc vào năng lực toán của mỗi học sinh và mức độ hướng dẫn của mỗi giáoviên Chính vì vậy, hướng dẫn học sinh lựa chọn phương pháp giải toán phù hợp

là việc làm cần thiết đối với mỗi giáo viên trong quá trình dạy học toán

Trong thực tế dạy học giải toán ở các trường Tiểu học hiện nay thì việchướng dẫn học sinh về phương pháp giải toán đối với từng dạng toán có lời vănđiển hình đã được rất nhiều giáo viên quan tâm Song kết quả giải toán của họcsinh chưa cao, học sinh còn nhầm lẫn các dạng toán với nhau Đặc biệt ở lớp 4

với các dạng toán điển hình như: “Tìm hai số khi biết tổng và tỉ của 2 số đó” và

“Tìm 2 số khi biết hiệu và tỉ số của 2 số đó”, Học sinh thường nhầm lẫn, sử

dụng sai phương pháp giải khi gặp các bài toán hơi biến dạng thì hầu như họcsinh không giải được

Để đáp ứng được yêu cầu của việc đổi mới phương pháp dạy học toán, đòihỏi người giáo viên phải chủ động tích cực đầu tư, nghiên cứu, cải tiến phươngpháp truyền thụ, đề ra biện pháp cụ thể cho từng bài dạy

Trang 3

Xuất phát từ nhận thức đó, tôi chọn đề tài sáng kiến kinh nghiệm

là:“Mộtsố biện pháp nâng cao chất lương dạy dạng toán về tìm hai số khi biết

tổng và tỉ số của hai số đó cho học sinh lớp 4B Trường Tiểu học Yên Thọ 1”

góp phần nâng cao chất lượng dạy học toán hiện nay ở nhà trường.

1.3 Đối tượng nghiên cứu

Học sinh lớp 4B ở Trường Tiểu học Yên Thọ 1

1.4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu lí thuyết

+ Tìm hiểu các khái niệm, thuật ngữ có liên quan

- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

+ Phương pháp quan sát, thu thập thông tin

+ Phương pháp so sánh, đối chiếu và xử lí số liệu

+ Phương pháp thực hành, vận dụng

+ Phương pháp phân tích và tổng hợp kinh nghiệm

2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm 2.1 Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm

Để góp phần hoàn chỉnh kiến thức, chuẩn bị cho các em tiếp tục học tập ởcác lớp trên Việc giảng dạy môn Toán cần phải đạt được các mục đích sau: Họcsinh phải nắm vững các kiến thức, kỹ năng của môn Toán; học sinh có kỹ năngvận dụng các kiến thức đã học vào giải Toán và đời sống; góp phần quan trọngtrong việc rèn luyện phương pháp suy nghĩ, suy luận, giải quyết vấn đề, pháttriển trí thông minh, cách suy nghĩ độc lập, linh hoạt sáng tạo

Đối với học toán có lời văn nói chung các em cần biết tính toán cụ thể cácbài toán thực tế Không những thế, còn giúp cho các em phát triển được tư duysáng tạo qua các bài toán có tính chất nâng cao Ngay từ lớp 1, học sinh đã đượclàm quen với các bài toán có lời văn dạng đơn giản, ở đây, các em đã được tínhtoán với các con số không phải chỉ ở trong các dãy tính mà còn ở các bài toán cólời văn Cụ thể các em đã được làm quen với các lời giải cho mỗi phép tính Đếnlớp 4 các em đã được làm quen với các bài toán có lời văn điển hình và cách giảicác bài toán đó Để giúp học sinh phát triển được tư duy sáng tạo qua các bàitoán có lời văn nhất là dạng toán tìm hai số khi biết tổng và tỉ của hai số, họcsinh không những giải dạng toán điển hình theo các bước giải đơn thuần theocông thức mà cần tìm tòi phát triển các dạng toán nâng cao để học sinh có điềukiện tiếp xúc với các kiến thức cơ bản đã được biến đổi Từ đó các em đã có khảnăng phân tích, tư duy phán đoán

Trang 4

Dạy giải toán có lời văn bài “Tìm hai số khi biết tổng và tỉ số của hai số đó” cho học sinh lớp 4 với mục tiêu là:

Học sinh biết giải các bài toán hợp không quá 4 bước tính liên quan đếncác dạng toán điển hình

Biết trình bày bài giải đầy đủ gồm các câu lời giải (mỗi phép tính

đều có lời văn) và đáp số theo đúng yêu cầu của bài toán

Do đó, để dạy tốt được môn Toán nói chung và dạng toán này nói riêng,người giáo viên phải có sự đổi mới phương pháp dạy học, có khả năng lựa chọn,vận dụng phương pháp phù hợp với từng đối tượng học sinh, người giáo viênphải có vốn kiến thức vững chắc nhằm hình thành tốt các khái niệm ban đầugiúp học sinh nắm được từng mạch kiến thức của môn Toán ở Tiểu học

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm

Thực trạng về dạy và học Toán của học sinh lớp 4B ở trường Tiểu họcYên Thọ 1

a Đối với giáo viên:

Qua thực tế dạy học nhiều năm ở lớp, qua dự giờ đồng nghiệp và tìm hiểu

học sinh về dạy và học dạng toán “Tìm hai số khi biết tổng và tỉ số của hai số

đó”nói riêng tôi nhận thấy:

- Một bộ phận không nhỏ giáo viên chỉ mới truyền đạt nội dung bài dạyđầy đủ theo sách giáo khoa, chưa có sự linh hoạt, sáng tạo trong việc đổi mớiphương pháp dạy học, cách thức tổ chức chiếm lĩnh kiến thức cho học sinh

- Khi lên lớp giáo viên chỉ mới chú ý đến việc khắc phục những thiếu sót

sự lúng túng của học sinh khi gặp mỗi bài toán mà không quan tâm đến việchình thành phương pháp suy nghĩ, con đường tìm tòi lời giải Chưa phát huyđược tính tích cực, sáng tạo và tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh trongquá trình học toán

- Mặt khác, trong quá trình hướng dẫn giải toán giáo viên chưa khái quátđược cách giải dạng toán điển hình này cho học sinh mà chỉ chú ý đến giải từngbài cụ thể, chưa phát hiện được mối quan hệ giữa các dạng toán, mối quan hệgiữa các phương pháp giải Do đó, khi dạy riêng từng bài các dạng toán điển

hình như “Tìm hai số khi biết tổng và hiệu”, “ Tìm hai số khi biết tổng và tỉ số

của hai số đó” hay dạng toán “Tìm hai số khi biết hiệu và tỉ số của hai số đó”

học sinh mới chỉ có thể giải được một số bài toán đơn giản, nhưng khi đến cácbài luyện tập hay luyện tập chung thì học sinh hay lẫn lộn giữa các dạng toándẫn đến bài giải sai, kết quả học tập không cao

b Đối với học sinh:

Đa số học sinh thích học môn Toán, học sinh có đầy đủ phương tiện

học tập Nhưng môn Toán là môn học khó khăn, học sinh dễ chán Khảnăng nhận thức và tiếp thu của học sinh không đồng đều

Trang 5

Tiếp thu bài giảng một cách thụ động, ít có sự vận dụng sáng tạo, học sinhchưa nắm được cấu trúc dạng toán, thường chưa tìm hiểu kĩ đề bài, áp dụng máymóc bài mẫu

Nhiều em khả năng phân tích, tìm hiểu đề bài còn hạn chế, xác định

“tổng”, “tỉ” đôi khi chưa chính xác hoặc còn có sự nhầm lẫn.

Tóm tắt bài toán còn vụng về, chưa khoa học

Trình bày lời giải dài dòng thiếu chính xác, thậm chí viết sai cả lời giải.Một số em ý thức tự giác chưa cao, chưa thực sự say mê ham học, lười tưduy nên khi làm bài ít tập trung làm cho xong việc.

Đặc biệt, ở lớp 4 học sinh phải làm quen với các dạng toán điển hình nên

khi giải dạng toán “Tìm hai số khi biết tổng và tỉ số của hai số đó” học sinh dễ nhầm lẫn với dạng toán “Tìm hai số khi biết hiệu và tỉ số của hai số đó’’ hay dạng toán “Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó” nên cách hiểu bài

toán sai dẫn đến cách giải sai lệch

c Kết quả khảo sát của thực trạng trên:

Cuối năm học 2019 – 2020, tôi đã kiểm nghiệm kết quả về giải toán“Tìm

hai số khi biết tổng và tỉ số của hai số đó”với học sinh lớp 4B trường Tiểu

họcYên Thọ 1 do tôi trực tiếp giảng dạy một số bài tập trong thời gian làm bài

35 phút

Đề bài: 1

Bài 1: (3 điểm) (Bài 1, trang 148 – SGK)

Tổng của hai số là 333 Tỉ số của hai số đó là Tìm hai số đó

Bài 2: (3 điểm)(Bài 2, trang 148 – SGK)

Hai kho chứa 125 tấn thóc, trong đó số thóc ở kho thứ nhất bằng số thóc ởkho thứ hai Hỏi mỗi kho chứa bao nhiêu tấn thóc?

Bài 3: (4 điểm) ( Bài 4, trang 148 – SGK)

Một hình chữ nhật có chu vi là 350 m, chiều rộng bằng chiều dài Tìmchiều dài, chiều rộng của hình chữ nhật đó

* Kết quả thu được: (Tổng số học sinh lớp 4B tham gia làm bài khảo sát:

25 em)

Bảng 1.

Năm học Tổng số HS

Kết quả xếp loại Điểm

Trang 6

Với kết quả trên, tôi đã tìm ra nguyên nhân vì sao chất lượng điểm khảosát chưa cao, Số học sinh đạt điểm 9 -10 còn rất thấp, còn rất nhiều em hạn chế

về kiến thức cơ bản vậy nguyên nhân do đâu? Tôi khảo sát thực tế một sốnguyên nhân sau:

Bảng 2.

Năm học Tổng số HS

Nội dung

Số HS phân tích được đề, xác định đúng dạng toán

Số HS thiết lập được các dữ kiện để xây dựng quy trình giải

Số HS trình bày hoàn chỉnh bài giải đúng và đẹp

Qua thực tế bài kiểm tra của các em và bảng thống kê trên tôi nhận thấyrằng chất lượng học sinh không đồng đều một mặt do ý thức học tập của họcsinh, một mặt khác do tổng hợp và tiếp thu kiến thức về giải toán có lời văn còn

yếu, nhiều em chưa xác định được dạng toán về “Tìm hai số khi biết tổng và tỉ

số của hai số đó”, chưa xác định được “ tổng”, “ tỉ” mà bài toán đã cho; còn

nhầm lẫn cách giải dạng toán này với dạng toán “Tìm hai số khi biết tổng và

hiệu của hai số đó”; nhiều em chưa hiểu kỹ đề, chưa xác định được các dữ liệu

mà bài toán đã cho, vì vậy khi giải toán có lời văn của các em còn lúng túng.

Đứng trước thực trạng đó, để giúp học sinh khắc phục những hạn chếthường mắc phải trong quá trình giải toán, góp phần nâng cao chất lượng dạygiải toán của giáo viên và học toán của học sinh Năm học 2020 - 2021 tôi đã sử

dụng” Một số biện pháp hướng dẫn học sinh lớp 4B giải dạng toán về tìm hai

số khi biết tổng và tỉ số của hai số đó”.

2.3.Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề

Trước thực trạng trên, để góp phần vào việc nâng cao chất lượng dạy và

học môn Toán lớp 4 nói chung và giải dạng toán “Tìm hai số khi biết tổng và tỉ

số của hai số đó"cho học sinh lớp 4B, ở trường Tiểu học Yên Thọ 1 trong

những năm học gần đây tôi đã thực hiện những giải pháp cơ bản sau:

2 3.1 Biện pháp 1: Tìm hiểu kĩ nội dung chương trình, đề ra kế

hoạchdạy học đối với dạng toán “Tìm hai số khi biết tổng và tỉ số của hai số

đó".

Để có được giờ dạy giải toán theo phương pháp đổi mới đạt kết quả tốt,phát huy được tính tích cực của học sinh thì giáo viên phải có thiết kế cụ thể rõràng, nó sẽ quyết định lớn đến chất lượng giờ dạy và đồng thời giáo viên cũng làngười tổ chức, hướng dẫn thiết kế cho từng học sinh Mọi học sinh đều chủ độnghọc tập và phát triển cao Do đó, trước khi dạy bất cứ một loại Toán giải nào, tôiđều dành thời gian tìm hiểu về tất cả các bài tập của dạng toán đó, từ bài giảngđến bài luyện, từ bài trong sách giáo khoa đến bài trong vở bài tập để thấy đượcphương pháp giảng dạy phù hợp, ngắn gọn, học sinh dễ tiếp thu, giáo viên nói ít

Trang 7

và chọn được những bài thêm để nâng cao kiến thức đối với đối tượng học sinhkhá, giỏi Đồng thời cũng lường trước được chỗ học sinh hay vướng mắc trongkhi thực hành giải loại toán đó mà giáo viên lưu ý trong giảng dạy.

Khi dạy loại: "Bài toán tìm hai số khi biết tổng và tỉ số của hai số đó".

Học sinh được học 2 tiết bài mới, đó là tiết 1: "Tỉ số ở dưới dạng số tự nhiên",

có nghĩa là so sánh giữa giá trị của số lớn với giá trị của số bé; Tiết 2: "Tỉ số ởdưới dạng phân số" Thì học sinh thường mắc lỗi ở dạng tỉ số là phân số nêngiáo viên dạy cần lưu ý nhấn mạnh để học sinh dễ hiểu, dễ nhớ Từ mối quan hệ

tỉ số là hai số trong bài, giáo viên hướng dẫn học sinh tìm ra sự biểu diễn trên sơ

đồ tóm tắt bài toán Đây là loại toán giải khó đối với học sinh lớp 4 nên giáoviên phải giúp học sinh nắm được các bước chủ yếu trong việc giải dạng toánnày:

+ Xác định được tổng của hai số phải tìm (hoặc tổng của hai số có liênquan đến các số phải tìm)

+ Xác định được tỉ số của hai số phải tìm (hoặc tỉ số của hai số có liênquan đến các số phải tìm) Biểu thị từng số đó thành số các phần bằng nhautương ứng

+ Tìm tổng số phần bằng nhau

+ Tìm giá trị của một phần bằng cách lấy tổng của hai số chia cho tổng sốphần bằng nhau

+ Tìm mỗi số theo số phần được biểu thị

Trên cơ sở đó học sinh sẽ nắm cách giải đặc trưng của loại toán này Đểcủng cố được kĩ năng và kiến thức của loại toán này, tôi cho các em tự đặt đềtoán theo loại toán đó, đồng thời chọn các bài toán khó cho học sinh khá, giỏi(áp dụng vào tiết luyện tập hay buổi dạy riêng biệt đối với học sinh khá, giỏi)

Tất cả sự chuẩn bị trên của giáo viên đều được thể hiện cụ thể trên bàisoạn đủ các bước, đủ các yêu cầu và thể hiện được công việc của cô và trò tronggiờ giải toán

2 3.2.Biện pháp 2.Hướng dẫn học sinh các thao tác giải toán “Tìm

hai số khi biết tổng và tỉ số của hai số đó".

Giải toán đối với học sinh là một hoạt động trí tuệ khó khăn, phức tạp.Việc hình thành kỹ năng giải toán hơn nhiều so với kĩ năng tính vì bài toán giải

là sự kết hợp đa dạng hoá nhiều khái niệm quan hệ toán học, chính vì đặctrưng đó mà giáo viên cần phải hướng dẫn cho học sinh có được thao tác chungtrong quá trình giải toán sau:

Bước 1:Đọc kỹ đề bài, xác định dạng bài tập.

Có đọc kỹ đề bài học sinh mới tập trung suy nghĩ về ý nghĩa nội dung củabài toán và đặc biệt chú ý đến câu hỏi bài toán Chúng tôi có rèn cho học sinhthói quen chưa hiểu đề toán thì chưa tìm cách giải Khi giải bài toán ít nhất đọc

từ 2 đến 3 lần

Trang 8

Bước này người giáo viên cần làm cho học sinh hiểu rõ cách diễn đạtbằng lời văn của bài toán, nắm được ý nghĩa nội dung của đầu bài toán cần phảichỉ ra và phân biệt rõ 3 yếu tố cơ bản của bài toán là:

- Dữ kiện bài toán

- Điều kiện bài toán (mối quan hệ giữa cái đã cho và cái phải tìm.)

- Ẩn số của bài toán (Cái cần tìm)

Trên cơ sở phân biệt rõ 3 yếu tố của bài toán giáo viên cần làm cho họcsinh tóm tắt bài toán dưới dạng ngắn gọn, cô đọng nhất

Giúp học sinh phân biệt và xác định được các dữ kiện cần thiết liên quanđến cái cần tìm, loại bỏ các tình tiết không liên quan đến việc giải quyết bàitoán

*Trong dạng toán này, có một số khó khăn khi tìm hiểu đề bài mà học

sinh dễ mắc phải và cách giải quyết như sau:

- Một số bài toán cho tổng số hay tỉ số của hai số dưới dạng ẩn - yêu cầuhọc sinh phải xác định đúng

- Học sinh thường gặp khó khăn khi phân biệt các yếu tố cơ bản của bàitoán nhất là quan hệ lôgic giữa cái đã cho và cái phải tìm Khi bài toán có dữkiện thay đổi hay thuật ngữ mới học sinh lại lúng túng

- Dạng toán tìm hai số khi biết tổng và tỉ là dạng toán có lời văn vì vậythường xen lẫn cả ba thứ ngôn ngữ: ngôn ngữ tự nhiên, ngôn ngữ thuật toán vàngôn ngữ kí hiệu nên học sinh hay nhầm lẫn khi xác định rõ dạng toán

Vì vậy giáo viên cần phải chú trọng đến việc kết hợp dạy cho các em biếtđọc và hiểu yêu cầu của bài toán với việc củng cố và nâng cao trình độ TiếngViệt giúp các em hiểu được những thuật ngữ toán học Việc hiểu thuật ngữ toánhọc giúp học tìm ra các điều kiện bài toán (tổng số hay tỉ số của hai số) mà bàitoán cho dưới dạng ẩn từ đó giúp các em nhận diện được dạng toán và có hướnggiải đúng

Mặt khác môn Toán là môn học có tính kế thừa và phát triển, do đó khihọc dạng toán này học sinh phải nắm chắc các dạng toán có liên quan như cácbài toán về số tự nhiên, phân số, các bài toán có nội dung hình học hay bài toán

về tìm số trung bình cộng, bài toán về tỉ số,…

Ví dụ 1: Một nhóm học sinh có 12 bạn, trong đó số bạn trai bằng một nửa

số bạn gái Hỏi nhóm đó có mấy bạn trai, mấy bạn gái? (Bài tập 2 - trang 149)2

Ở bài toán này, giáo viên phải giúp học sinh hiểu thuật ngữ “một nửa”chính là

để từ đó học sinh xác định được tỉ số của bài toán và xác định dạng toánđúng

2 SGK Toán 4

Trang 9

Ví dụ 2: Tổng của hai số là 72 Tìm hai số dó biết rằng nếu số lớn giảm 5

lần thì được số bé (Bài tập 3 - trang 149)3

Với bài toán này, giáo viên phải giúp học sinh xác định tỉ số của 2 số dựavào dữ kiện của bài toán đã cho đó là “nếu số lớn giảm 5 lần thì được số bé” -đây chính là điểm thắt nút của bài toán Như vậy học sinh phải hiểu: Vì số lớngiảm 5 lần thì được số bé nên số lớn gấp 5 lần số bé hay số bé bằng số lớn.Từ

đó học sinh xác định được tỉ số của bài toán và xác định dạng toán đúng

Ví dụ 3: Một hình chữ nhật có chu vi là 350m, chiều rộng bằng chiều

dài Tìm chiều dài, chiều rộng của hình chữ nhật đó (Bài tập 4 - trang 148)4

Bài toán này tổng số của 2 số lại chưa cho biết cụ thể mà chỉ có thể dựavào chu vi của hình chữ nhật Nếu học sinh chỉ nắm bài một cách máy móc vàkhông hiểu bản chất chu vi của hình chữ nhật thì sẽ dễ nhầm chu vi chính làtổng của 2 số và dẫn đến giải bài toán sai Vì thế với những dạng này, giáo viêncần hướng dẫn cho học sinh tìm tổng của 2 số vận dụng vào tính nửa chu vi(tổng độ dài chiều dài và chiều rộng của hình chữ nhật) để học sinh có cách giảiđúng

Bước 2:Hướng dẫn học sinh cách tóm tắt đề toán.

- Phân tích tóm tắt đề toán: Để biết bài toán cho biết gì? Hỏi gì? (tức làyêu cầu gì?) Đây chính là trình bày lại một cách ngắn gọn, cô đọng phần đã cho

và phần phải tìm của bài toán để làm rõ nổi bật trọng tâm, thể hiện bản chất toánhọc của bài toán, được thể hiện dưới dạng câu văn ngắn gọn hoặc dưới dạng các

sơ đồ đoạn thẳng Việc tóm tắt đề toán là sự thể hiện: Học sinh đã đọc kĩ đề bàitoán, hiểu đề toán đến đâu đã biết cách phân tích đề bài để tìm ra hướng giảiquyết cho nhiệm vụ của bài toán giải

Ví dụ: Chẳng hạn với đề bài toán sau:

Một cửa hàng có 540m vải hoa và vải xanh Biết rằng số mét vải xanh bằng số mét vải hoa Hỏi cửa hàng có tất cả bao nhiêu mét vải mỗi loại?

Tôi sẽ đưa ra các mức độ sau:

- Đầu tiên cho học sinh đọc kĩ đề bài

- Yêu cầu học sinh tóm tắt đề bài toán (giáo viên chưa hướng dẫn)

một số học sinh sẽ làm đúng yêu cầu, ý đồ của bài toán, tóm tắt một cáchkhoa học (số học sinh khá, giỏi) còn lại số học sinh trung bình, yếu có thể sẽ tómtắt thiếu chính xác không khoa học, có thể sai

Tôi sẽ chọn mỗi dạng tóm tắt (của học sinh trong lớp) một bài điển hình.Cho học sinh nhận xét học sinh tự rút ra cách tóm tắt nào là đúng, là hợp lí,chính xác và khoa học

Chẳng hạn: Giáo viên nêu nhiệm vụ: với đề bài đã cho cô thấy trong lớp

ta có một số cách tóm tắt như sau

3 SGK Toán 4

4 SGK Toán 4

Trang 10

Cách 2: Có: 540m vải hoa và vải xanh

Số mét vải xanh bằng số mét vải hoa

Tính số mét vải mỗi loại

(dùng sơ đồ đoạn thẳng, mô hình, lời văn )

Thông qua bước 1 và bước 2 học sinh sẽ xác định được đây là dạng toán

gì để có cách giải đúng

Mỗi dạng toán đều có phương pháp giải đặc trưng và quy trình giải riêng

vì thế nếu học sinh nhận dạng sai thì dẫn đến giải cũng sai Để khắc phục nhượcđiểm này tôi đã hướng dẫn học sinh nhận dạng bài toán dưới một số hình thứcnhư sau:

Trang 11

Học sinh phân tích mối quan hệ:

Có 540 m vải hoa và vải xanh, số mét vải xanh bằng số mét vải hoa Nhưvậy bài toán cho biết tổng là 540 và tỉ số là

Bài toán yêu cầu tìm được cửa hàng có bao nhiêu mét vải mỗi loại tức làphải tìm được vải xanh có bao nhiêu mét? vải hoa có bao nhiêu mét?

Từ đó học sinh sẽ kết luận được ngay bài toán trên là thuộc dạng toán tìmhai số khi biết tổng và tỷ số, khi đó học sinh dễ dàng đưa ra được phương phápgiải cho bài toán trên

b/Cho học sinh rèn luyện thực hành nhận dạng toán bằng trắc nghiệm:Chẳng hạn: Em hãy đánh dấu x vào trước đề toán thuộc dạng toán tìm hai số khibiết tổng và tỉ của hai số đó:

Trong rổ có 32 quả cam và chanh, số quả chanh nhiều hơn số quả cam 10quả Tìm số quả của mỗi loại

Trong rổ có 32 quả cam và chanh Tìm số quả mỗi loại biết số quả cambằng số quả chanh

c/ Học sinh tự đặt đề toán có lời văn:

Giáo viên tổ chức cho học sinh chơi trò chơi: “Đi tìm địa chỉ”

Yêu cầu học sinh thi đặt đề toán theo dạng toán"Tìm hai số khi biết tổng

và tỉ số của hai số đó"

Bước 3: Thực hiện kế hoạch giải bài toán.

Việc thực hiện kế hoạch giải bài toán được tiến hành theo trình tự của quátrình xây dựng kế hoạch giải toán Hoạt động này bao gồm việc thực hiện cácphép tính đã nêu trong kế hoạch giải bài toán và trình bày lời giải Đây là khâutiến hành kĩ năng thực hiện các phép tính số học vì vậy khi hướng dẫn cho họcsinh thực hiện giáo viên cần hướng dẫn thật kĩ để tính toán kết quả đúng, mỗiphép tính phải kèm theo một lời giải

Việc dạy toán dạng này cần hướng dẫn các em giải nhiều cách khác nhau

là việc làm hết sức có tác dụng đến việc phát triển kĩ năng giải toán cho học

Ngày đăng: 20/04/2022, 00:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Đặc biệt, ở lớp 4 học sinh phải làm quen với các dạng toán điển hình nên khi giải dạng toán “Tìm hai số khi biết tổng và tỉ số của hai số đó”  học sinh dễ nhầm lẫn với dạng toán “Tìm hai số khi biết hiệu và tỉ số của hai số đó’’ hay dạng toán “Tìm hai số  - Toan TH-Nguyen Thi Nguyet - TH Yen Tho 1- Nhu Thanh
c biệt, ở lớp 4 học sinh phải làm quen với các dạng toán điển hình nên khi giải dạng toán “Tìm hai số khi biết tổng và tỉ số của hai số đó” học sinh dễ nhầm lẫn với dạng toán “Tìm hai số khi biết hiệu và tỉ số của hai số đó’’ hay dạng toán “Tìm hai số (Trang 5)
Bảng 2. - Toan TH-Nguyen Thi Nguyet - TH Yen Tho 1- Nhu Thanh
Bảng 2. (Trang 6)
(dùng sơ đồ đoạn thẳng, mô hình, lời văn ...) - Toan TH-Nguyen Thi Nguyet - TH Yen Tho 1- Nhu Thanh
d ùng sơ đồ đoạn thẳng, mô hình, lời văn ...) (Trang 10)
Một hình chữ nhật có chu vi là 250 m, chiều rộng bằng chiều dài. Tìm chiều dài, chiều rộng của hình chữ nhật đó. - Toan TH-Nguyen Thi Nguyet - TH Yen Tho 1- Nhu Thanh
t hình chữ nhật có chu vi là 250 m, chiều rộng bằng chiều dài. Tìm chiều dài, chiều rộng của hình chữ nhật đó (Trang 18)

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w