1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Quan li TH-Ho Thi Huong-TH Thi tran Ben Sung-Nhu Thanh (1) - Copy

20 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 237,42 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1 Mở đầu 1 1 Lý do chọn đề tài Phương pháp dạy học (PPDH) đóng vai trò quan trọng và quyết định với hiệu quả của việc dạy học ở Tiểu học Dạy học có phương pháp và đúng phương pháp sẽ không chỉ truyền[.]

Trang 1

Phương pháp dạy học (PPDH) đóng vai trò quan trọng và quyết định với hiệu quả của việc dạy học ở Tiểu học Dạy học có phương pháp và đúng phương pháp sẽ không chỉ truyền đạt được kiến thức cho học sinh một cách đầy đủ mà thêm vào đó, khơi gợi được hứng thú, tinh thần tự giác và chủ động cho học sinh Trái lại, việc dạy học sai phương pháp sẽ làm cho việc học trở thành việc nhồi nhét kiến thức, khiến cho học sinh ngày một thụ động, đối phó, thậm chí ảnh hưởng đến cả lối tư duy và đạo đức của các em Đặc biệt ở bậc học Tiểu học vấn đề này được các nhà giáo dục và xã hội đặc biệt quan tâm, đòi hỏi công tác chỉ đạo của các nhà quản lý và giáo viên trường Tiểu học phải có biện pháp quản

lý, giảng dạy phù hợp, không ngừng đổi mới PPDH nhằm hướng cho học sinh vào hoạt động học tập một cách tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo.Vì thế,

PPDH phải phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí của trẻ đó là: “Phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học, bồi dưỡng năng lực tự học, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên.”

Trong các môn học ở bậc Tiểu học, cùng với môn Tiếng Việt, môn Toán

có vị trí hết sức quan trọng bởi vì: Các kiến thức, kĩ năng của môn Toán ở tiểu học có nhiều ứng dụng trong đời sống, chúng rất cần thiết cho người lao động, rất cần thiết để học tốt các môn học khác ở Tiểu học, học môn Toán góp phần bước đầu phát triển năng lực tư duy, khả năng suy luận hợp lí, cách phát hiện và cách giải quyết những vấn đề đơn giản, gần gũi trong cuộc sống, kích thích trí tưởng tượng, gây hứng thú học tập toán, góp phần hình thành bước đầu phương pháp tự học và làm việc có kế hoạch khoa học, chủ động, linh hoạt, sáng tạo

Là một cán bộ quản lý phụ trách công tác chỉ đạo chuyên môn trong nhà trường, tôi rất băn khoăn, lo lắng đến chất lượng giáo dục của nhà trường, đứng trước mục tiêu giáo dục và yêu cầu của việc dạy học hiện nay, việc thực hiện đổi mới PPDH dạy học môn Toán của giáo viên là rất cần thiết Vậy làm thế nào để công tác chỉ đạo đổi mới PPDH môn Toán ở tiểu học được tốt Tôi xin mạnh dạn

đưa ra “Một số biện pháp chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học nâng cao chất lượng môn Toán ở trường Tiểu học Thị Trấn Bến Sung”.

1.2 Mục đích nghiên cứu:

Sáng kiến kinh nghiệm nhằm đổi mới phương pháp dạy học, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của tất cả các đối tượng học sinh trong việc tự chiếm lĩnh kiến thức môn Toán

1.3 Đối tượng nghiên cứu:

Nghiên cứu các phương pháp dạy học môn Toán bậc Tiểu học nhằm đưa

ra các biện pháp chỉ đạo đổi mới phương pháp nâng cao chất lượng môn Toán bậc Tiểu học cho học sinh trường Tiểu học Thị trấn Bến Sung trong năm học

2020 - 2021

1.4 Phương pháp nghiên cứu: Sử dụng kết hợp các phương pháp:

- Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết

Trang 2

- Phương pháp điều tra, khảo sát, thống kê

- Phương pháp thực nghiệm

- Phương pháp phân tích tổng hợp

2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm 2.1 Cơ sở lý luận.

Đổi mới phương pháp dạy học là một trọng tâm của đổi mới giáo dục, đổi mới PPDH được hiểu là đưa những phương pháp mới vào giảng dạy trên cơ sở phát huy những mặt tích cực của các phương pháp truyền thống nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả giảng dạy

Trong quá trình dạy học nói chung và dạy học Toán nói riêng, giáo viên là người tổ chức, hướng dẫn hoạt động của học sinh, mọi học sinh đều hoạt động học tập để phát triển năng lực cá nhân, giáo viên tổ chức hướng dẫn học sinh huy động vốn hiểu biết và kinh nghiệm bản thân để học sinh chiếm lĩnh tri thức

và vận dụng các tri thức đó trong thực hành Tạo cho học sinh cách làm việc tự giác, chủ động, không rập khuôn máy móc biết tự đánh giá kết quả học tập của mình, của bạn Đặc biệt là giúp học sinh có niềm tin, niềm vui trong học tập Đồng thời tạo điều kiện cho học sinh phát huy năng lực sở trường của mình, biết ứng dụng kiến thức mới trong bài học vào thực tế đời sống xã hội

Đổi mới phương pháp dạy học Toán ở Tiểu học không loại bỏ phương pháp dạy học truyền thống mà phải vận dụng một cách hợp lí mặt tích cực của phương pháp dạy học cũ để tổ chức cho học sinh hoạt động học tập theo kiểu mới, tạo điều kiện cho từng học sinh được tham gia giải quyết vấn đề từ đó mà thu nhận tri thức mới và rèn luyện kĩ năng mới

Đặc biệt, đối với học sinh Tiểu học tư duy của các em ở lớp 1,2,3 chủ yếu

là trực quan sinh động, lên lớp 4,5 được nâng dần lên tư duy trừu tượng, chính

vì thế bước đầu có khả năng thực hiện việc phân tích tổng hợp, trừu tượng hoá, khái quát hoá và những hình thức đơn giản của sự suy luận, phán đoán, các khái niệm Toán học được hình thành qua trừu tượng hoá và khái quát hoá nhưng không thể chỉ dựa vào tri giác bởi khái niệm toán học còn là kết quả của các thao tác tư duy đặc thù, chính vì thế cần phát huy các hoạt động học tập tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh giúp các em tự khám phá kiến thức mới trong quá trình học Toán

2.2 Thực trạng của việc đổi mới phương pháp dạy học môn Toán ở trường Tiểu học Thị trấn Bến Sung.

2.2.1 Tài liệu, đồ dùng và công tác tự học, tự bồi dưỡng:

Trong những năm qua, nhà trường đã đầu tư mua các loại sách giáo khoa, sách tham khảo của môn Toán dành cho giáo viên và học sinh, các tổ chuyên môn cũng đã thiết kế, tự làm đồ dùng thiết thực đơn giản để phục vụ cho các tiết dạy giúp cho học sinh hiểu bài một cách dễ dàng

Trang 3

Tuy nhiên tài liệu cho giáo viên nghiên cứu về việc đổi mới PPDH của môn Toán còn ít, chưa phát động được phong trào tự làm đồ dùng học tập đơn giản cho học sinh nên chưa phát huy được tính sáng tạo của học sinh

Năng lực của một số giáo viên là nòng cốt chuyên môn của nhà trường vững vàng kiến thức, luôn vận dụng linh hoạt các phương pháp giảng dạy để có những tiết dạy nhẹ nhàng và có hiệu quả cao Tuy vậy còn một số giáo viên còn

có những hạn chế nhất định nên chưa đáp ứng được việc đổi mới phương pháp dạy học môn Toán

2.2.2 Thực trạng của việc đổi mới PPDH môn Toán:

Xuất phát từ mục tiêu đổi mới phương pháp dạy học môn Toán nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả giảng dạy, tôi đã trực tiếp dự giờ một số tiết Toán từ khối 1 đến khối 5 (Cả tiết hình thành kiến thức mới và các tiết luyện tập), tôi nhận thấy:

- Giáo viên dạy đúng qui trình của một tiết dạy ở hai dạng bài (Dạng bài

hình thành Kiến thức mới và dạng bài Luyện tập)

- Giáo viên truyền đạt đầy đủ nội dung kiến thức trong sách giáo khoa, thực hiện đúng theo chuẩn kiến thức kỹ năng

- Bên cạnh đó, vẫn còn bộc lộ hạn chế như sau: Giáo viên còn dạy học theo kiểu truyền thống như sử dụng phương pháp thuyết trình để truyền thụ cho học sinh một khối lượng lớn các nội dung toán học, chưa chủ động được về thời gian Học sinh tiếp thu kiến thức một cách thụ động vì giáo viên chỉ dùng lời nói đơn điệu, giáo viên nói nhiều nên không có điều kiện kiểm tra khả năng lĩnh hội kiến thức của học sinh dẫn tới việc đánh giá thường xuyên trong tiết dạy chưa chủ động và chưa phù hợp Hoặc giáo viên giảng giải minh hoạ, tức là giáo viên dùng lời nói để giải thích nội dung Toán kết hợp với việc dùng các tài liệu trực quan để hỗ trợ cho việc giải thích này PPDH này kết hợp được giữa cái cụ thể

và cái trừu tượng nên cũng gây hứng thú học tập cho học sinh trong việc giúp học sinh hiểu, nhớ kiến thức nhưng vẫn chỉ nhằm thông báo kiến thức có sẵn cho học sinh Vì vậy, học sinh vẫn bị đặt trong tình trạng thụ động, chưa phát huy được tính tích cực tư duy của các em Sự chủ động, tích cực của phần lớn học sinh trong các bài học chưa cao, kĩ năng phát hiện và giải quyết vấn đề trong học tập còn thấp, kĩ năng thực hành còn hạn chế vì giáo viên chưa biết gợi mở đưa ra các tình huống có vấn đề cho học sinh suy nghĩ

Năm học 2020 - 2021, vào tháng 9 và tháng 10, tôi đã tiến hành dự giờ các tiết học Toán và điều tra việc vận dụng đổi mới PPDH kết quả cụ thể như sau:

Tổng

số

phương pháp

dạy học linh

hoạt, phù

hợp.

Sử dụng hiệu quả các phương tiện, đồ dùng cần thiết cho tiết dạy.

Học sinh tự tin, biết hợp tác đều được hoạt động học tập tích cực đúng khả năng

Phát triển

tư duy, sáng tạo của học sinh

Trang 4

32 tiết 14 tiết 16 tiết 15 tiết 17 tiết Qua việc đánh giá nhận xét giờ dạy của giáo viên, việc sử dụng linh hoạt các PPDH phát huy tính tích cực và phát triển tư duy của học sinh còn có những mặt hạn chế nhất định, có những tiết dạy đảm bảo được yếu tố này nhưng không đảm bảo yếu tố kia

Từ thực trạng trên để hoạt động dạy học trong nhà trường đạt hiệu quả tốt hơn, tôi đã mạnh dạn đưa ra một số biện pháp chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn Toán ở Tiểu học

2.3 Các giải pháp đã sử dụng để chỉ đạo đổi mới phương pháp giảng dạy nâng cao chất lượng môn Toán ở trường Tiểu học Thị trấn Bến Sung.

2.3.1.Nâng cao nhận thức cho cán bộ quản lý và giáo viên:

Tiếp thu và triển khai đầy đủ và kịp thời các văn bản, chỉ thị của ngành giáo dục về việc thực hiện đổi mới phương pháp dạy học có hiệu quả, giúp cho cán bộ quản lý, giáo viên và các lực lượng tham gia giáo dục phải có quan điểm đúng đắn về đổi mới phương pháp dạy học ở Tiểu học nói chung và đổi mới PPDH môn Toán nói riêng

Xây dựng các buổi sinh hoạt chuyên môn nhằm nâng cao nhận thức của việc đổi mới PPDH góp phần nâng cao hiệu quả chất lượng giáo dục, tránh tư tưởng ngại khó hoặc đổ lỗi cho các điều kiện khách quan

Tăng cường chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học thông qua công tác bồi dưỡng và dự giờ thăm lớp của giáo viên, tổ chức có hiệu quả các đợt sinh hoạt chuyên môn, chuyên đề cấp tổ và cấp trường Tiếp tục phát động giáo viên tự làm

đồ dùng dạy học Trang bị những kiến thức và kỹ năng chuyên môn cần thiết để đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và khả năng tự học của học sinh

2.3.2 Chỉ đạo tổ chức dạy học, đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức dạy học nhằm nâng cao khả năng tư duy học sinh.

2.3.2.1 Dạy học phát huy tính tích cực, chủ động và phát triển tư duy sáng tạo của học sinh:

Ở cùng một lứa tuổi, học sinh có đặc điểm chung về tâm lý và học chung cùng lớp Nội dung kiến thức cơ bản trong từng bài học ở chương trình mới môn Toán đáp ứng nhu cầu tiếp thu của tất cả học sinh Mỗi tiết dạy, giáo viên phải thiết kế một qui trình dạy học cho học sinh cả lớp, đáp ứng yêu cầu “Đồng loạt”, phù hợp với quĩ thời gian qui định cho một tiết dạy Bên cạnh đó cần nhận thức

rõ rằng mỗi trẻ em có sự khác biệt với trẻ em cùng lứa tuổi về nhu cầu và năng lực cá nhân Vì vậy, ở mỗi bài dạy cụ thể, giáo viên phải biết tạo cơ hội để học sinh bộc lộ tốt nhất những năng lực sở trường của “ Cá nhân ” được thể hịên ở cách học và dung lượng kiến thức đến với học sinh thông qua hệ thống câu hỏi, bài luyện tập thực hành, sử dụng đồ dùng dạy học

Ví dụ:

Bài 3: (Trang 57- Toán 1) Viết số thích hợp vào ô trống

8 + = 10 8 + = 9

Trang 5

9 + = 9 7 + = 9

Với bài tập này học sinh chỉ cần điền số thích hợp vào ô trống là đúng và

đủ đạt yêu cầu so với chuẩn kiến thức và kĩ năng nhưng để tạo cơ hội cho học sinh phát triển tư duy ngôn ngữ toán học, giáo viên cần yêu cầu học sinh nhìn vào sơ đồ đặt bài toán và phải biết sử dụng bảng cộng ứng với yêu cầu đề bài đã cho

Học các bảng nhân (Toán 3) bài tập cuối cùng của mỗi bài học đều có dạng bài đếm thê rồi viết số thích hợp

Ví dụ:

Đếm thêm 7 rồi viết số thích hợp vào ô trống: (Bài 3 - Trang 31- Bài:

Bảng nhân 7)

Học sinh đếm rồi lần lượt điền vào 5 ô trống theo thứ tự từ trái sang phải là: 28; 35; 49; 56; 70 Giáo viên tổ chức cho học sinh phát hiện: các số trong dãy số này chính là tích của 7 với các số tự nhiên liên tiếp từ 1 đến 10 mà trong bảng nhân các em đã được học và giáo viên dùng kết quả của bài tập này để củng cố bài, kiểm tra việc ghi nhớ bảng nhân sau tiết học như: (28 là tích của 7 và bao nhiêu?; 56 là tích của 7 và bao nhiêu? )

Trong chương trình Toán 3 học sinh được học phép chia hết và phép chia còn dư, khi dạy phần nội dung này bắt buộc giáo viên phải tổ chức hướng dẫn để tất cả học sinh nắm được kỹ thuật chia bên cạnh đó học sinh phải hiểu được trong phép chia còn dư, số dư bao giờ cũng nhỏ hơn số chia (Nếu số dư lớn hơn hoặc bằng số chia thì bước chia liền trước chưa thực hiện xong cần phải thực hịên lại)

Bài 1: (Trang 30 - Toán 3): Tính

17 2 35 5 44 2 58 6

Bài 4: (Trang 30 - Toán 3): Trong các phép chia có dư với số chia là 3,

số dư lớn nhất của các phép chia đó là

A 3 B 2 C 1 D 0

* Sau khi học sinh tìm được kết quả phép chia còn dư (bài tập 1) và số

dư lớn nhất (bài tập 4), giáo viên khai thác thêm: Phải thêm vào số bị chia mấy đơn vị để phép chia thành phép chia hết? lúc này thương thay đổi như thế nào?

Bài 3: (Trang 156 - Toán 3) Nêu bài toán rồi giải bài toán theo tóm tắt

sau:

17kg

Mẹ :

Trang 6

Với bài này ngoài yêu cầu của bài tập giáo viên nên tạo cơ hội để học sinh phát triển tư duy bằng cách tìm nhiều cách giải cho bài toán

Cách 1: Mẹ cân nặng số ki - lô- gam là:

17  3 = 51 (kg)

Cả hai mẹ con cân nặng số ki - lô- gam là:

51 + 17 = 68 (kg) Đáp số: 68 kg

Cách 2: Từ sơ đồ ta nhận thấy số ki - lô- gam cân nặng của mẹ gấp 3 lần

số ki - lô- gam cân nặng của con Do vậy số ki - lô- gam cân nặng của 2 mẹ con

có số phần bằng nhau là:

3 + 1 = 4 (phần)

Cả hai mẹ con cân nặng số ki - lô- gam là:

17 x 4 = 68 (kg) Đáp số: 68 kg

Dạy bài: Chia một tích cho một số (Toán 4 - trang 79) Học sinh tiến

hành làm bài thông qua 2 ví dụ a và b và rút ra được quy tắc Giáo viên nên đưa

ra câu hỏi: “Khi chia một tích 2 thừa số cho 1 số; 2 thừa số của tích phải như thế nào thì làm được 3 cách? làm được 2 cách? làm được 1 cách?”

- Khi cả 2 thừa số của tích đều chia hết cho số đó (3 cách)

- Khi 1 trong 2 thừa số của tích chia hết số đó (2 cách)

- Khi không có thừa số nào của tích chia hết cho số đó (1cách)

Nói đến so sánh 2 phân số, các em học sinh thường nghĩ ngay đến các cách:

- Qui đồng mẫu số hoặc tử số

- So sánh phần hơn hoặc phần bù của phân số so với đơn vị

- So sánh với phân số trung gian hoặc đơn vị

* Giáo viên có thể gợi ý cho học sinh: Chúng ta có thể dùng “Sơ đồ đoạn thẳng” để so sánh phân số được không?

Ví dụ: So sánh 2 phân số sau

Ta có sơ đồ:

- Từ sơ đồ ta thấy

* Giáo viên cũng có thể gợi ý cho học sinh tìm thương của 2 phân số Nếu

thương lớn hơn 1 thì số bị chia lớn hơn số chia, nếu thương nhỏ hơn 1 thì số bị chia nhỏ hơn số chia

3

2 vµ 4 3

4 3

3

2

3

2 4 3

>

Trang 7

Ví dụ: a So sánh 2 phân số: 25

13

và 35

26

Ta thực hiện phép chia như sau: 25

13

: 35

26

= 10

7

So sánh thương với 1: 10

7

< 1

Thương nhỏ hơn 1 nên 25

13

<35

26

b So sánh 2 phân số: và

Ta thực hiện phép chia như sau: : =

So sánh thương với 1: > 1

Thương lớn hơn 1 nên >

* Muốn so sánh 2 phân số khác mẫu số ta thực hiên phép chia 2 phân số;

sau đó lấy thương của phép chia so sánh với 1, nếu thương nhỏ hơn 1 thì số bị chia nhỏ hơn số chia, còn nếu thương lớn hơn 1 thì số bị chia lớn hơn số chia

2.3.2.2 Dạy học tự phát hiện - Dạy học hợp tác nhóm:

Đổi mới PPDH thì cần phải tập trung vào hoạt động của học sinh Phải tạo điều kiện và cơ hội để học sinh tự tìm tòi khám phá, phát hiện những nội dung mới của bài học Học sinh thông qua cách học tự phát hiện để từng nhóm tạo thói quen làm việc có phương pháp Tuỳ theo trình độ của học sinh, giáo viên hướng dẫn học sinh biết cách phát hiện và giải quyết vấn đề theo các mức độ: Nhận biết hiểu rõ áp dụng vào thực tiễn phân tích tống hợp nhận định đánh giá Trong từng hoạt động học tập mỗi học sinh phải thật sự làm việc đề dần dần hình thành kỹ năng tự phát hiện Dạy học tự phát hiện sẽ hình thành cách học, cách làm việc trí óc hợp lí, khoa học cho học sinh Giáo viên phải biết nâng cao năng lực chuyên môn và phương pháp tư duy độc lập sáng tạo nhằm đáp ứng yêu cầu tự phát hiện của học sinh

Dạy học hợp tác nhóm là hình thức tổ chức dạy học có ý nghĩa và tác dụng tích cực Tất cả học sinh đều được làm việc và thực hành luyện tập, biết giúp đỡ lẫn nhau, giải quyết được những vấn đề khó và tìm ra cái mới trong bài học, tạo thái độ học tập tích cực, đặc biệt bước đầu giúp các em làm quen với

9

6 8 5

9

6 8

5 15 16

15 16

9

6 8 5

Trang 8

phong cách làm việc hợp tác Khi tổ chức làm việc nhóm, giáo viên phải nêu rõ nhiệm vụ, chuẩn bị phương tiện đồ dùng đầy đủ như phiếu bài tập, mô hình, Xác định rõ nội dung nào, hoạt động nào của bài học cần làm việc theo nhóm Không tổ chức theo nhóm một cách máy móc, hình thức khi nội dung bài học không phù hợp với điều kiện lớp học không phù hợp

Ví dụ: Toán - Trang 19 (SGK)

a Dạy kiến thức mới

Bài: 8 cộng với một số

8 + 5

Bước 1: Giáo viên nêu bài toán

Bước 2: Xuất hiện phép tính 8 + 5

Bước 3: Tìm kết quả của phép tính: 8 + 5 = ?

Giáo viên tổ chức cho học sinh thảo luận nhóm để tìm kết quả của phép tính thông qua thao tác trên que tính, các nhóm sẽ tìm ra kết quả bằng các cách khác nhau Học sinh đưa ra:

Cách 1: Tách 5 que tính thành 2 phần: 2 que tính và 3 que tính Lấy 8 que

tính gộp với 2 que tính là 10 que tính, 10 que tính thêm 3 que tính là 13 que tính

Cách 2: Đếm tiếp 8 que tính với 1 que tính là 9 que tính; 9 que tính với 1

que tính là 10 que tính, 10 que tính thêm 1 que tính là 11 que tính, , 12 que tính thêm 1 que tính là 13 que tính

Cách 3: Gộp 8 que tính với 5 que tính rồi đếm lần lượt: 1que tính, 2 que

tính, , 13 que tính

Cách 4: Tách 8 que tính thành 2 phần: 5 que tính và 3 que tính; gộp 5 que

tính với 5 que tính là 10 que tính, 10 que tính với 3 que tính là 13 que tính

Dù tìm kết quả bằng cách nào thì kết quả cuối cùng vẫn là 13 que tính và học sinh điền kết quả vào phép tính: 8 + 5 = 13 Tuy nhiên để chuẩn bị “cơ sở” cho việc thực hiện phép cộng có nhớ (qua 10) sau này, giáo viên nên giúp học sinh tự nhận biết (thông qua các thao tác với que tính)

8 + 5 = 8 + 2 + 3 hoặc 8 + 5

= 10 + 3

= 13 2 3

Dạy bài: Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của 2 số đó (Toán 4 - Trang 47)

Giáo viên dùng bảng phụ xuất hiện bài toán: “Tổng của 2 số là 70 Hiệu của hai số đó là 10 Tìm hai số đó”

Cho học sinh phân tích kỹ bài toán, nêu tóm tắt, vẽ sơ đồ và tổ chức cho học sinh thảo luận theo nhóm

Tóm tắt bài toán: Số lớn:

10 70

Số bé:

Để tìm ra cách giải giáo viên gợi ý cho học sinh như sau:

- Có mấy cách để 2 đoạn thẳng biểu thị số lớn và số bé bằng nhau?

- Và lúc này tổng thay đổi như thế nào?

Trang 9

Cách 1: Cắt đoạn thẳng biểu thị phần hơn của số lớn so với số bé, lúc này

tổng giảm đi 10 đơn vị

Số lớn:

70

Số bé:

Bài giải

Hai lần số bé là: 70 – 10 = 60

Số bé là: 60 : 2 = 30

Số lớn là: 70 - 30 = 40 Hoặc: 30 + 10 = 40

Cách 2: Vẽ thêm đoạn thẳng biểu thị 10 đơn vị vào số bé, lúc này tổng sẽ

tăng lên 10 đơn vị

Số lớn:

10 70

Số bé:

Bài giải

Hai lần số lớn là: 70 + 10 = 80

Số lớn là: 80 : 2 = 40

Số bé là: 70 - 40 = 30 Hoặc: 40 - 10 = 30 Cắt đoạn thẳng biểu thị 10 đơn vị làm 2 phần bằng nhau và chuyển 1 nửa đoạn thẳng này xuống nối với đoạn thẳng biểu thị số bé thì được 2 đoạn bằng nhau

Số lớn:

10 70

Số bé:

Tổng lúc này không thay đổi và có 2 cách giải sau:

Cách 3: Nửa hiệu 2 số là: 10 : 2 = 5

Số lớn là: 70 - 30 = 40 Hoặc: 30 + 10 = 40

Cách 4: Nửa hiệu 2 số là: 10 : 2 = 5

Số lớn là: 70 : 2 + 5 = 40

Số bé là: 70 - 40 = 30

Hoặc: 40 - 10 = 30

Từ 4 cách giải trên giáo viên cho học sinh nhận xét cách giải nào đơn giản (học sinh lựa chọn cách 1 và cách 2) từ 2 cách giải đó giáo viên khái quát cho học sinh phương pháp giải dạng toán này bằng công thức:

Cách 1: Tìm số bé trước Cách 2: Tìm số lớn trước

Số bé = ( Tổng - hiệu ) : 2 Số lớn = (Tổng + hiệu) : 2

Số lớn = Tổng - số bé Số bé = Tổng - số lớn

10

Trang 10

Với cách tổ chức cho học sinh tự phát hiện như trên tuy cách 3 và cách 4 không phục vụ cho việc khái quát công thức nhưng giúp học sinh chủ động trong việc nắm kiến thức góp phần làm cho các em tự tin và kích thích học sinh

tự khám phá trong những bài học tiếp theo (Sách giáo khoa chỉ đề cập tới cách

1 và cách 2)

Muốn hiểu được kiến thức mới phải có nền tảng từ kiến thức đã học Việc vận dụng kiến thức đã học để từ đó hình thành được kiến thức mới đòi hỏi người giáo viên phải gợi mở, dẫn dắt học sinh đi từ đơn giản đến phức tạp, từ cụ thể đến trừu tượng, nâng dần mức độ tư duy của học sinh bằng hệ thống câu hỏi, sự vận dụng linh hoạt sáng tạo, tư duy logic giúp các em phát hiện kiến thức

Trong chương trình Toán lớp 5, các yếu tố hình học được giới thiệu gồm 1 chương (Chương ba), trong chương này sách giáo khoa trình bày cách xây dựng công thức tính diện tích tam giác, diện tích hình thang, diện tích hình tròn… cao hơn nữa là cách tính thể tích một số hình ….

Vậy việc xây dựng công thức tính diện tích các hình phải dựa trên cơ sở nào, đòi hỏi người giáo viên phải giúp học sinh phát hiện kiến thức mới trên nền tảng những kiến thức đã học, nâng cao khả năng tư duy của các em qua mỗi tiết học cần củng cố, chốt khắc sâu cái cơ bản và bản chất của Toán học

Ví dụ: Muốn xây dựng công thức tính diện tích hình tam giác thì phải dựa

vào công thức tính diện tích hình chữ nhật (đã học ở lớp dưới) Muốn xây dựng được công thức tính diện tích hình thang thì phải dựa vào công thức tính diện tích tam giác… các yếu tố hình học được liên quan logic và chặt chẽ với nhau

Chính vì lẽ đó, để nâng cao khả năng tư duy sáng tạo của các em khi dạy phần hình học cần định hướng cho học sinh trí tưởng tượng thông qua cách vẽ hình đây là một trong những yếu tố rất cần giúp học sinh học tốt phần hình học

Ví dụ: Khi dạy bài Hình thang

Sau khi giới thiệu về hình thang, ngoài việc học sinh chỉ ra các yếu tố của hình như hình thang có 4 cạnh, có hai cạnh đáy là hai cạnh đối diện và song song, hai cạnh kia là hai cạnh bên Ở bài này yếu tố đường cao của hình thang

được giới thiệu: Đoạn thẳng vuông góc với 2 đáy được gọi là đường cao hình thang Vậy để cho học sinh biết được đường cao thông qua biểu tượng, hình ảnh

cụ thể sau:

Nếu chỉ dừng lại việc xác định đường cao ở hình ảnh trên thì hạn chế tư duy của học sinh, từ tính chất đường cao mà sách giáo khoa giới thiệu cùng với

B A

D

Ngày đăng: 20/04/2022, 00:18

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

hình thành Kiến thức mới và dạng bài Luyện tập) - Quan li TH-Ho Thi Huong-TH Thi tran Ben Sung-Nhu Thanh (1) - Copy
hình th ành Kiến thức mới và dạng bài Luyện tập) (Trang 3)
Dạy học hợp tác nhóm là hình thức tổ chức dạy học có ý nghĩa và tác dụng tích cực. Tất cả học sinh đều được làm việc và thực hành luyện tập, biết giúp đỡ lẫn nhau, giải quyết được những vấn đề khó và tìm ra cái mới trong bài học, tạo thái độ học tập tích  - Quan li TH-Ho Thi Huong-TH Thi tran Ben Sung-Nhu Thanh (1) - Copy
y học hợp tác nhóm là hình thức tổ chức dạy học có ý nghĩa và tác dụng tích cực. Tất cả học sinh đều được làm việc và thực hành luyện tập, biết giúp đỡ lẫn nhau, giải quyết được những vấn đề khó và tìm ra cái mới trong bài học, tạo thái độ học tập tích (Trang 7)
kỹ năng vẽ hình, hiểu bản chất của đường cao thì học sinh cần còn vẽ thêm đường cao nữa trong hình thang theo hình ảnh cụ thể sau : - Quan li TH-Ho Thi Huong-TH Thi tran Ben Sung-Nhu Thanh (1) - Copy
k ỹ năng vẽ hình, hiểu bản chất của đường cao thì học sinh cần còn vẽ thêm đường cao nữa trong hình thang theo hình ảnh cụ thể sau : (Trang 11)
Bài 2: (Trang 15 3- Toán 3) Hình H gồm hình chữ nhật ABCD và hình - Quan li TH-Ho Thi Huong-TH Thi tran Ben Sung-Nhu Thanh (1) - Copy
i 2: (Trang 15 3- Toán 3) Hình H gồm hình chữ nhật ABCD và hình (Trang 13)

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w