1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Toan TH - Pham Thi Hong Cam - TH Phu Nhuan - Nhu Thanh

17 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 585 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

a SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TỈNH THANH HÓA PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NHƯ THANH SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢI TOÁN CÓ LỜI VĂN CHO HỌC SINH LỚP 4D TRƯỜNG TIỂU HỌC PHÚ N[.]

Trang 1

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢI TOÁN CÓ LỜI VĂN CHO HỌC SINH LỚP 4D

TRƯỜNG TIỂU HỌC PHÚ NHUẬN

Người thực hiện: Phạm Thị Hồng Cẩm Chức vụ: Giáo viên

Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Phú Nhuận

SK thuộc lĩnh vực (Môn): Toán

THANH HÓA NĂM 2021

Trang 2

Mục lục 1

1 Mở đầu 1

1.1.Lí do chọn đề tài 1

1.2.Mục đích nghiên cứu 1

1.3 Đối tượng nghiên cứu 1

1.4 Phương pháp nghiên cứu 1

2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm 2

2.1.Cơ sở lí luận 2

2.2 Thực trạng vấn đề 3

2.2.1.Thực trạng 3

2.2.2.Kết quả của thực trạng 3

2.3 Các biện pháp thực hiện 4

Biện pháp 1: Lập kế hoạch bài dạy phát huy năng lực giải toán có lời văn của học sinh 4

Biện pháp2: Vận dụng linh hoạt các hình thức tổ chức dạy học 6 Biện pháp 3: Hướng dẫn học sinh giải các bài toán có lời văn theo hướng phát triển năng lực của học sinh 8

2.4 Hiệu quả của sáng kiến 12

3 Kết luận, kiến nghị 12

3.1 Kết luận 12

- GV cần lựa chọn bài tập phù hợp với đối tượng học sinh của lớp 12

- Đối với học sinh chậm tiến cần có sự giúp đỡ riêng để đạt yêu cầu Đối với học sinh có năng khiếu cần khai thác, phát triển các bài tập để các em có điều kiện bộc lộ hết năng lực của mình Tổ chức các tiết học sao cho mọi học sinh đều hoạt động một cách tích cực, chủ động trong mọi khâu, để đạt kết quả cao nhất 12

- Sử dụng nhiều hình thức linh hoạt, tạo không khí vui vẻ, thoải mái, gây hứng thú cho học sinh trong các giờ học toán Để việc dạy học môn toán đảm bảo tính khoa học, chính xác, sư phạm và phát huy được tính chủ động, sáng tạo, tư duy lôgic của học sinh, giáo viên không ngừng nâng cao trình độ về toán học và phương pháp dạy học qua nghiên cứu, học tập các tài liệu có liên quan đến chương trình, nội dung giảng dạy 13

3.2 Kiến nghị 13

Tài liệu tham khảo 14

DANH MỤC 1

Trang 3

Toán học ngày càng có nhiều ứng dụng trong cuộc sống, những kiến thức và

kĩ năng toán học cơ bản đã giúp con người giải quyết các vấn đề trong thực tế cuộc sống một cách có hệ thống và chính xác, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển Môn Toán ở trường phổ thông góp phần hình thành và phát triển các phẩm chất chủ yếu, năng lực chung và năng lực toán học cho học sinh; phát triển kiến thức, kĩ năng then chốt và tạo cơ hội để học sinh được trải nghiệm, vận dụng toán học vào thực tiễn; tạo lập sự kết nối giữa các ý tưởng toán học, giữa Toán học với thực tiễn, giữa Toán học với các môn học và hoạt động giáo dục khác Nội dung môn Toán thường mang tính logic, trừu tượng, khái quát Do đó, để hiểu và học được Toán, chương trình Toán ở trường phổ thông cần bảo đảm sự cân đối giữa “học” kiến thức và

“vận dụng” kiến thức vào giải quyết vấn đề cụ thể

Tuy nhiên, trong thực tế môn toán là môn khô khan đối với học sinh các khối lớp nói chung và đặc biệt là đối với học sinh lớp 4 Hơn nữa ở lớp 3 các em đang học dạng toán cơ bản, lên lớp 4 học toán chuyên sâu nên các em hay bị

“rối” Đặc biệt là những bài toán có lời văn, nhiều dạng toán giải “na ná” như nhau, khó nhận dạng Các em tóm tắt đề thường dùng lời, chưa biết phát huy phương pháp “sơ đồ đoạn thẳng” đã học ở lớp 2 , lớp 3 trong giải toán Hơn nữa một lớp thường có nhiều đối tượng học sinh khác nhau, việc xác định được yêu cầu “phổ cập” đối với học sinh “đại trà” là phải nắm chắc các kiến thức do chương trình, sách giáo khoa quy định, nắm được các kĩ năng cơ bản của giải bài tập toán Đồng thời phải xác định yêu cầu “nâng cao”đối với học sinh có năng khiếu Để thực hiện tốt được điều này, người giáo viên phải chú ý đến việc khai thác và phát triển các bài tập trong sách giáo khoa để phát triển tư duy toán

học cho học sinh Xuất phát từ lý do trên, tôi quyết định chọn đề tài “ Một số

biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả giải toán có lời văn cho học sinh lớp 4D Trường tiểu học Phú Nhuận” Với hy vọng sẽ góp phần nhỏ bé của mình vào

việc phát triển tư duy toán học cho học sinh để các em có thể học tốt môn Toán cũng như các môn học khác ở các lớp trên

1.2.Mục đích nghiên cứu

-Tìm ra phương pháp giải toán có lời văn hay nhất, phù hợp nhất cho mỗi dạng toán, phù hợp với trình độ nhận thức và tư duy của từng đối tượng học sinh lớp 4

- Giúp học sinh lớp 4D Trường Tiểu học Phú Nhuận có khả năng thực hiện giải tốt các dạng toán được học, để các em có thể nắm vững tri thức và phát huy được tư duy toán học của mình

1.3 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả giải toán có lời văn

cho học sinh lớp 4D Trường tiểu học Phú Nhuận

1.4 Phương pháp nghiên cứu

a Nghiên cứu, xử lí tài liệu

Đọc sách, tài liệu, xem băng hình liên quan đến đề tài nghiên cứu: tài liệu

về tâm sinh lý trẻ lứa tuổi tiểu học, tài liệu có liên quan đến việc rèn kĩ năng sống cho học sinh để thu thập, ghi chép những thông tin cần thiết cho bài viết

Trang 4

b Phương pháp phân tích, tổng hợp

Phân tích mục tiêu giáo dục tiểu học, mục tiêu chương trình môn toán ở lớp 4, tổng hợp những điều thu được để lựa chọn một số biện pháp hiệu quả trong việc dạy toán cho học sinh

c Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Khảo sát, dự giờ một số tiết học toán đối với học sinh lớp 4 ở trường để tìm hiểu thực trạng học toán của các em

Tiến hành thực nghiệm sư phạm để kiểm tra tính khả thi của đề tài

d Phương pháp quan sát

Quan sát hoạt động của các em học sinh lớp 4D

e Phương pháp đàm thoại

Trao đổi, nắm bắt tâm tư của học sinh lớp 4D

g Phương pháp nêu gương, khen thưởng

Kịp thời nêu gương, khen thưởng học sinh những tiến bộ dù nhỏ trong các giờ học

2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm 2.1.Cơ sở lí luận

Chương trình tổng thể Ban hành theo Thông tư 32/2018/TT-BGDĐT ngày

26/12/2018 nêu rõ “Giáo dục toán học hình thành và phát triển cho học sinh

những phẩm chất chủ yếu, năng lực chung và năng lực toán học với các thành tố cốt lõi: năng lực tư duy và lập luận toán học, năng lực mô hình học toán học, năng lực giải quyết vấn đề toán học, năng lực giao tiếp toán học, năng lực sử dụng các công cụ và phương tiện học toán; phát triển kiến thức, kĩ năng then chốt

và tạo cơ hội để học sinh được trải nghiệm, áp dụng toán học vào đời sống thực tiễn, giáo dục toán học tạo dựng sự kết nối giữa các ý tưởng toán học, giữa toán học với các môn học khác và giữa toán học với đời sống thực tiễn’’.Vì vậy trong

việc phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh ở Tiểu học, môn Toán đóng vai trò to lớn Toán học có liên quan chặt chẽ và có ứng dụng rộng rãi trong rất nhiều lĩnh vực khác nhau của công nghệ, sản xuất và đời sống xã hội hiện đại, Toán học còn

là một công cụ để học tập và nghiên cứu các môn học khác

Muốn học sinh Tiểu học học tốt được môn Toán thì mỗi người Giáo viên không phải chỉ truyền đạt, giảng giải theo các tài liệu đã có sẵn trong Sách giáo khoa, trong các sách hướng dẫn một cách dập khuôn, máy móc làm cho học sinh học tập một cách thụ động Nếu chỉ dạy học như vậy thì việc học tập của học sinh sẽ diễn ra thật đơn điệu, tẻ nhạt và kết quả học tập sẽ không cao

Mặt khác, học sinh lớp 4 chưa ý thức được nhiệm vụ của mình, chưa chịu khó, chưa tích cực tư duy suy nghĩ, chưa tìm tòi cho mình những phương pháp học tập đúng để biến tri thức của Thầy thành của mình Vì vậy sau khi học xong bài, một số em chưa nắm bắt được lượng kiến thức bài học, nhanh quên và kĩ năng tính toán chưa nhanh, nhất là kĩ năng giải toán Do đó trong dạy giải toán, nếu giáo viên biết cách tổ chức, điều khiển hoạt động dạy học một cách nhẹ nhàng, khoa học, biến các nhiệm vụ học tập của các em bằng các hoạt động tạo hứng thú thu hút sự chú ý của các em thì hiệu quả tiết dạy Toán được nâng cao hơn

Trang 5

2.2 Thực trạng vấn đề

2.2.1.Thực trạng

Sau khi điều tra, khảo sát thực tế tôi nhận thấy bản thân còn gặp những khó khăn và thuận lợi sau:

a Thuận lợi

- Lớp 4D có sĩ số học sinh ít (14 học sinh), đa số các em ngoan, biết nghe

lời cô giáo

- Giáo viên được tập huấn chương trình thay sách, được trang bị về mục tiêu, nội dung chương trình và PPDH Toán Hơn nữa trình độ giáo viên đạt chuẩn, đây là điều kiện thuận lợi cho việc tiếp cận chương trình

- Một số dạng toán ở lớp 4 là kế thừa bổ sung và phát triển các kiến thức toán đã học ở các lớp 1,2,3

- Trường Tiểu học Phú Nhuận là một trường có bề dày trong thành tích học tập của huyện Như Thanh Ban giám hiệu nhà trường luôn quan tâm tới giáo viên và học sinh Bản thân luôn được sự giúp đỡ tận tình của BGH nhà trường

và của đồng nghiệp

- Hơn nữa mấy năm nay xã Phú Nhuận phát triển khá mạnh cả về kinh tế

và nhận thức của người dân, do đó đa phần phụ huynh đã có sự quan tâm đến việc học tập của con em mình

b Khó khăn

- Học sinh lớp 4D là học sinh khu lẻ, đa phần là con em dân tộc Mường, sự tiếp cận các dạng toán đối với các em còn chậm Một số học sinh nhác đọc, không chịu suy nghĩ nên không nắm được bản chất, các quy tắc các dạng toán giải

- Do tiếp cận chương trình chưa thực sự chủ động và sáng tạo nên một số giáo viên còn gặp khó khăn trong dạy - học, nhất là phương pháp tổ chức cho học sinh hình thành khái niệm; chưa rèn được kỹ năng giải toán cho học sinh Khi thiết kế bài dạy cũng như khi giảng dạy trên lớp nhiều khi giáo viên chưa chủ động thiết kế và dạy theo đối tượng học sinh của mình mà phụ thuộc nhiều vào tài liệu hướng dẫn

- Nhiều khi giáo viên hướng dẫn bài tập một cách thụ động nên các em học sinh năng khiếu không thể hiện được năng lực tư duy sáng tạo của mình

- Một số phụ huynh chỉ lo phát triển kinh tế chưa thực sự quan tâm đúng mực đến việc học tập của con em mình Một số gia đình bố mẹ đi làm ăn xa để các con ở nhà với ông bà nên không có người kèm cặp cho các con học ở nhà ảnh hưởng nhiều tới kết quả học tập của học sinh

2.2.2.Kết quả của thực trạng

Năm học 2020 - 2021, tôi được phân công chủ nhiệm lớp 4D với sĩ số 14 học sinh (9 nam và 5 nữ) Qua khảo sát chất lượng giải Toán có lời văn của học sinh lớp 4D tháng 9 năm 2020, kết quả thu được như sau:

Trang 6

Lớp Sĩ

số

Hoàn thành tốt Hoàn thành Chưa hoàn thành

Số lượng Tỷ lệ Số lượng Tỷ lệ Số lượng Tỷ lệ

4D 14 0 0% 06 42,9% 08 57,1%

Từ thực trạng trên cho thấy kĩ năng giải toán của học sinh còn thấp chưa phát huy được tư duy toán học là do những nguyên nhân sau:

- Giáo viên chưa chú ý đến sự khen ngợi, động viên khích lệ học sinh kịp thời

- Trong tiết dạy giáo viên chỉ áp dụng một cách dạy với tất cả đối tượng học sinh, chưa chú ý đến sự phân hóa các đối tượng học sinh nên chỉ có học sinh năng khiếu mới có thể hoàn thành được bài tập

- Về phía học sinh nhiều khi không nắm được cách giải, không đọc kĩ đề bài ; có khi đọc nhưng kiểu qua loa không hiểu; không phân tích được đề bài, chưa phát hiện được dạng toán

2.3 Các biện pháp thực hiện

Biện pháp 1: Lập kế hoạch bài dạy phát huy năng lực giải toán có lời văn của học sinh

Để một tiết học toán đạt được hiệu quả cao thì việc đầu tiên giáo viên cần làm đó là phải thiết kế Kế hoạch dạy học (KHDH) Toán theo tinh thần đổi mới nội dung, chương trình và phương pháp dạy học với tinh thần “dạy học là tổ chức cho học sinh hoạt động để tự tiếp thu kiến thứcvà phát triển năng lực” Cải tiến cách thiết kế KHDH đảm bảo yêu cầu tinh giản, vững chắc các kiến thức, các hoạt động cơ bản của tiết dạy, đảm bảo cung cấp kiến thức, rèn luyện kĩ năng phù hợp với trình độ học sinh Mục tiêu cần đạt cho từng đối tượng học sinh của lớp, những việc giáo viên cần phải làm, những yêu cầu cụ thể dành cho các nhóm học sinh khác nhau và phát triển năng lực học sinh theo yêu cầu

Vậy theo tôi lập được kế hoạch bài học theo định hướng phát triển năng lực học sinh tiểu học cần thực hiện như sau:

- Trước hết Giáo viên phải dành thời gian đọc, nghiên cứu kỹ bài học, nắm vững yêu cầu, mục tiêu cần đạt về kiến thức, kĩ năng về phẩm chất, năng lực của học sinh Điều này giúp giáo viên nhận biết khả năng tư duy của trẻ, nhận biết khiếm khuyết ở một phần nào của nội dung để có biện pháp phù hợp Từ mục tiêu và nội dung sách giáo khoa giáo viên thiết kế các hoạt động dạy học, mỗi hoạt động dạy học phải xác định được mục tiêu cần đạt, phát triển năng lực nào cho học sinh, mỗi hoạt động dạy học giáo viên phải thiết kế và lựa chọn sử dụng các phương pháp và hình thức dạy học nào cho phù hợp, trong mỗi phương pháp

ấy giáo viên sử dụng kỹ thuật, hình thức đánh giá nhận xét như thế nào nhằm phát triển năng lực học sinh Giáo viên cần lưu ý phân bố thời gian cụ thể, phù hợp cho từng hoạt động

Khi thiết kế Kế hoạch dạy học đặc biệt giáo viên không được dùng kiểu

giáo án mẫu Thiết kế kế hoạch dạy- học một bài toán là ghi lại cách tổ chức, hướng dẫn cho học sinh học trong một tiết dạy cụ thể, không phải là bài soạn nội dung để truyền thụ đến học sinh Điều quan trọng nhất đó là mục tiêu bài dạy cần thể hiện rõ tính phù hợp cho nhiều đối tượng học sinh trong lớp Kế hoạch

Trang 7

dạy học cần chỉ rõ vai trò, mối tương tác giữa các chủ thể (Giáo viên – Học sinh) trong tiết dạy

Ví dụ: (Thiết kế bài dạy)

TOÁN LUYỆN TẬP ( Trang 71,72 VBT toán 4- tập 2)

I Mục tiêu:

1 Kiến thức:

- Giải được bài toán tìm hai số khi biết hiệu và tỉ số của hai số đó

- Nêu được bài toán tìm hai số khi biết hiệu và tỉ số của hai số đó

2 Kĩ năng:

Rèn kĩ năng giải bài toán tìm hai số khi biết hiệu và tỉ số của hai số đó

3 Thái độ:

Học sinh có ý thức tự giác, tích cực, chủ động tham gia các hoạt động học tập

4 Góp phần phát triển năng lực:

Năng lực tự học, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo, năng lực tư duy- lập luận logic, năng lực quan sát

II Chuẩn bị:

1.Đồ dùng:

GV: Bảng phụ, phiếu bài tập

HS: VBT toán 4- tập 2

2.Phương pháp, kĩ thuật dạy – học:

- Phương pháp: Quan sát, vấn đáp, động não, thực hành

- Kĩ thuật: trò chơi, nhóm

III Hoạt động trên lớp:

Hoạt động của thầy Hoạt động của trò

1 Khởi động (5 phút- Hoạt động

đồng loạt)

- Gv tổ chức học sinh chơi trò chơi

“Máy tính” ( GV nêu cách chơi, luật

chơi, hướng dẫn học sinh chơi nháp:

+ Lớp trưởng tổ chức cho cả lớp

chơi, lớp phó quan sát, theo dõi.

+GV nhận xét, khen, động viên học

sinh

- GV gọi 1 học sinh nêu các bước thực

hiện giả bài toán “Tìm hai số khi biết

hiệu và tỉ số của hai số đó.”

- GV nhận xét HS, tuyên dương học

sinh

2 Hoạt động dạy học: (28 phút)

- Học sinh thực hiện chơi nháp

- Cả lớp thực hiện chơi trò chơi

- 1 học sinh thực hiện theo yêu cầu

Trang 8

- GV giới thiệu bài- ghi bảng đề bài

- Giáo viên yêu cầu học sinh cả lớp

hoàn thành các bài tập trong vở *Sau

khi học sinh năng khiếu hoàn thành

bài tập trong vở, lên nhận phiếu và

hoàn thành thêm các bài tập trong

phiếu.

(Trong khi học sinh làm bài giáo viên

quan sát theo dõi, gọi học sinh làm

xong lên trình bày bài làm và nhận

xét.)

Bài 1 (dành cho học sinh đại trà)

-Yêu cầu HS tự làm bài vào VBT

- Gọi học sinh nhận xét

- GV nhận xét chốt bài đúng

Bài 2 (dành cho học sinh đại trà)

- Gv nhận xét và chốt bài đúng

* Bài 3: (dành cho học sinh năng

khiếu)

- GV nhận xét và chốt bài đúng

-Yêu cầu 1 HS trình bày bài giải

- GV kết luận về bài làm đúng

* GV thu phiếu bài làm của học

sinh năng khiếu chấm và nhận xét.

3 Củng cố:(2 phút) GV tổng kết giờ

học

- Học sinh đọc lại tên bài học

- Học sinh làm bài đồng loạt vào vở

- 1 HS đọc bài làm của mình trước lớp, các HS khác theo dõi, nhận xét và bổ sung ý kiến (nếu bạn chưa đúng)

- Một HS trình bày bài giải trước lớp, giải thích cách làm

- 2 học sinh nhìn sơ đồ đọc bài toán trước lớp

- Gọi một vài học sinh đại trà đọc lại bài toán

- 1 học sinh trình bày bài giải trước lớp

- HS nêu lại các bước giải bài toán tìm

hai số khi biết hiệu và tỉ số của hai số đó

Bản thân tôi luôn có một quyển sổ ghi chép lại những kinh nghiệm thành công hay những nội dung cần điều chỉnh sau khi dạy để tiện cho việc thiết kế bài

học ở những tiết sau

Biện pháp2: Vận dụng linh hoạt các hình thức tổ chức dạy học

Bên cạnh việc soạn bài, thiết kế bài dạy một cách hợp lý đúng đối tượng học sinh thì việc nghiên cứu để sử dụng hình thức dạy học linh hoạt trong một tiết học toán cũng vô cùng quan trọng Hình thức dạy học linh hoạt, phù hợp sẽ giúp học sinh không cảm thấy nhàm chán, khô khan trong một tiết học, tạo cho học sinh có môi trường thuận lợi phát huy tính tích cực, tự giác học tập, giúp cho quan hệ thầy trò, quan hệ bạn bè gần gũi hơn Ngoài ra việc sử dụng linh hoạt hình thức dạy học còn giúp cho học sinh trở nên năng động ham thích học tập hơn

Ví dụ: Khi dạy bài "Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó" Sau

khi thực hiện dạy xong phần bài mới, tôi yêu cầu học sinh đồng loạt hoàn thành

Trang 9

các bài tập trong vở bài tập theo năng lực của từng học sinh, rồi sau đó mới thực hiện chữa từng bài tập cho các em

Học sinh lớp 4D thực hành bài tập

Trong các tiết dạy giải toán có lời văn tôi thường cho học sinh thảo luận nhóm.Thảo luận nhóm sẽ giúp HS có cơ hội hoà nhập, hợp tác lẫn nhau, em học tốt phát hiện vấn đề nhanh giúp các bạn trong nhóm chia sẻ băn khoăn, suy nghĩ

để cùng nhau phát hiện vấn đề để cùng giải quyết vấn đề và nhờ việc thảo luận nhóm mà vấn đề của bài tập được giải quyết nhanh hơn, rút ngắn được thời gian giải quyết các bài tập, nhờ đó mà giáo viên có thời gian kèm cặp cho học sinh cũng như có thời gian để giáo viên giúp học sinh năng khiếu thực hiện giải các bài tập năng cao

Ví dụ: Khi dạy bài tập 3 tiết luyện tập trang 64 VBT toán 4- tập 2:

Đề bài: Chu vi một hình chữ nhật là 630m, chiều dài gấp rưỡi chiều rộng.

Tìm chiều dài, chiều rộng của hình đó.

Sau khi học sinh đọc đề bài, tôi tổ chức cho học sinh thảo luận nhóm đôi

để xác định được tổng (nửa chu vi) và tỉ số của chiều dài và chiều rộng hình chữ nhật đó

Khi sắp xếp học sinh thảo luận nhóm giáo viên cần chú ý đến việc di chuyển của học sinh trong nhóm,cũng như việc tránh mất nhiều thời gian cho việc ổn định nhóm Vì vậy khi sử dụng hình thức học nhóm tôi thường tổ chức cho học sinh sử dụng nhóm đôi hoặc nhóm bốn Sử dụng nhóm như vậy từ vị trí chỗ ngồi của mình các em sẽ nhanh chóng chuyển sang vị trí nhóm mà sẽ không mất thời gian hay mất trật tự trong giờ học

Trang 10

Học sinh lớp 4D thảo luận nhóm

Biện pháp 3: Hướng dẫn học sinh giải các bài toán có lời văn theo hướng phát triển năng lực của học sinh

Trong các giờ học toán ngoài việc phải dạy tốt phần lí thuyết còn cần phải chú ý khai thác bài tập sau phần lí thuyết để phát triển tư duy cho học sinh Thường thì trong các tiết dạy, đến phần học sinh luyện tập thực hành, giáo viên cho học sinh nêu yêu cầu rồi hướng dẫn học sinh giải lần lượt từng bài tập Như thế hiệu quả giờ dạy sẽ không cao, không phát triển được tư duy cho học sinh năng khiếu Đối với cách dạy của tôi, sau khi khai thác xong phần lí thuyết, tôi thường tung tất cả các bài tập để học sinh tự làm Như vậy học sinh năng khiếu sau khi hoàn thành các bài tập cơ bản trong sách sẽ có thời gian làm các bài tập dạng mở rộng để phát triển tư duy Còn đối với học sinh đại trà tôi sẽ đi đến từng học sinh để hướng dẫn, giúp đỡ Sau đó tôi sẽ gọi một số học sinh lên trình bày bài làm ( gọi học sinh đại trà làm các bài cơ bản, học sinh năng khiếu làm các bài dạng mở rộng) Dần dần học sinh sẽ có thói quen không bằng lòng với kết quả đã đạt được của mình và có mong muốn phấn đấu để hoàn thành được nhiều bài tập hơn

Khả năng giải toán của học sinh phụ thuộc vào phương pháp hướng dẫn giải toán của giáo viên Sự hướng dẫn của giáo viên phải kích thích được suy nghĩ, tư duy của học sinh Giáo viên phải để học sinh tự mình chiếm lĩnh tri thức, tự mình tìm ra lời giải của bài toán thì các em mới ghi nhớ sâu Vì vậy, sau khi học sinh hoàn thành các bài tập, lên bảng trình bày bài làm của mình, nếu bài làm của học sinh còn sai, tôi hướng dẫn học sinh làm lại bài tập theo quy trình giải 4 bước sau:

Bước 1: Hướng dẫn tìm hiểu đề (phát hiện dạng toán)

Đây là bước quan trọng có thể nói không thể thiếu được trong dạy - học giải toán, ở bước này, trước tiên giáo viên giúp học sinh khắc phục những khó

khăn về ngôn ngữ Biết diễn đạt bằng ngôn ngữ kí hiệu đặc biệt Sau đó xác

định ba yếu tố cơ bản của bài toán: dữ kiện (là những cái đã cho, đã biết trong

đề bài), ẩn số (là những cái chưa biết cần tìm), điều kiện (là quan hệ giữa các dữ kiện và ẩn số)

Ngày đăng: 20/04/2022, 00:17

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

GV: Bảng phụ, phiếu bài tập. HS: VBT toán 4- tập 2 - Toan TH - Pham Thi Hong Cam - TH Phu Nhuan - Nhu Thanh
Bảng ph ụ, phiếu bài tập. HS: VBT toán 4- tập 2 (Trang 7)
Đề bài: Chu vi một hình chữ nhật là 630m, chiều dài gấp rưỡi chiều rộng. Tìm chiều dài, chiều rộng của hình đó. - Toan TH - Pham Thi Hong Cam - TH Phu Nhuan - Nhu Thanh
b ài: Chu vi một hình chữ nhật là 630m, chiều dài gấp rưỡi chiều rộng. Tìm chiều dài, chiều rộng của hình đó (Trang 9)
- Sử dụng nhiều hình thức linh hoạt, tạo không khí vui vẻ, thoải mái, gây hứng thú cho học sinh trong các giờ học toán - Toan TH - Pham Thi Hong Cam - TH Phu Nhuan - Nhu Thanh
d ụng nhiều hình thức linh hoạt, tạo không khí vui vẻ, thoải mái, gây hứng thú cho học sinh trong các giờ học toán (Trang 15)

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w