1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

194612_3532-tm-khtk

35 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Báo Cáo Các Giải Pháp Đẩy Mạnh Tiêu Thụ Một Số Nông Sản Thời Kỳ Đến Năm 2010
Người hướng dẫn Lê Danh Vĩnh
Trường học Bộ Thương mại
Thể loại báo cáo
Năm xuất bản 2002
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 246,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Công văn 3532/TM KHTK Công ty luật Minh Khuê www luatminhkhue vn BỘ THƯƠNG MẠI ******** CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập Tự do Hạnh phúc ******** Số 3532/TM KHTK Hà Nội, ngày 06 tháng 9 năm[.]

Trang 1

Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tai văn bản số 1231/VPCP-TH ngày 13 tháng

3 năm 2002 về việc phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xây dựng các “Giải pháp thúc đẩy tiêu thụ nông sản, đổi mới phương thức tiêu thụ, mua bán nông, lâm thuỷ sản phù hợp với yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế, hình thành trung tâm giao dịch nông sản ở Việt

Nam”; và các “Giải pháp tạo việc làm phi nông nghiệp , đẩy mạnh phát triển ngành nghề và dịch

vụ nông thôn, giảm lao động nông nghiệp còn khoảng 57% năm 2005 và 50% năm 2010”, Bộ Thương mại đã xây dựng Báo cáo Các giải pháp đẩy mạnh tiêu thụ một số nông sản thời kỳ đến năm 2010 Bản Báo cáo này được xây dựng dựa trên cơ sở quán triệt các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về phát triển nông nghiệp nói chung và mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản nói riêng, nâng cao sức cạnh tranh và khai thác tối đa những thế mạnh về nông sản của Việt Nam, trước hết là những sản phẩm có nhiều tiềm năng và thế mạnh; cập nhật một

số thông tin về thị trường nông sản ở trong nước và ngoài nước; đề xuất các giải phá đẩy mạnh tiêu thụ một số nông sản thời kỳ đến năm 2010

Bộ Thương mại kính trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định và cho ý kiến chỉ đạo

K.T BỘ TRƯỞNG BỘ THƯƠNG MẠI

Trang 2

Nông sản là loại hàng hóa phụ thuộc vào thời tiết Được mùa, mất mùa sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến số lượng và giá cả trên thị trường Cũng xuất phát từ đặc điểm phụ thuộc vào điều kiện thời tiết, khí hậu, sản xuất nông sản luôn mang tính thời vụ, thời gian thu hoạch không kéo dài và diễn ra vào một khoảng thời gian nhất định trong năm; song lại có thể được cất trữ, chế biến và tiêu thụ quanh năm.

Do tính đa dạng của các sản phẩm nông nghiệp, đặc biệt là những sản phẩm nông nghiệp vùng nhiệt đới, giá cả nông sản không bao giờ cùng lúc tăng giá hoặc cùng lúc giảm giá Bởi vì, một nông sản hàng hóa thường có rất nhiều loại sản phẩm khác thay thế, và mỗi quốc gia, mỗi địa phương sẽ chỉ có lợi thế để sản xuất một, hoặc một vài loại nông sản nhất định, không có khả năng gây đột biến lớn thị trường

Như vậy, xét trên tổng thể, nhu cầu và nguồn cung cấp của các mặt hàng nông sản tương đối

ổn định Do vậy, sự đột biến về giá cả phụ thuộc vào yếu tố khó lường là thời tiết Thêm vào đó, những thành tựa của khoa học - công nghệ, đặc biệt trong vấn đề cải tạo giống cho năng suất caovừa làm tăng tính cạnh tranh vừa là nhân tố ổn định giá cả

II TỔNG QUAN TÌNH HÌNH CUNG - CẦU MỘT SỐ NÔNG SẢN CHỦ YẾU TRÊN THỊ TRƯỜNG THẾ GIỚI

Thuỷ sản

Tình hình cung ứng

Sản lượng thuỷ sản thế giới tăng ổn định trong nửa đầu thập kỷ 90 nhưng lại biến động không đều và tăng chậm vào nửa cuối những năm 90 Nhịp độ tăng bình quân giai đoạn 1991 - 1995 là 4,25%/năm giai đoạn 1996 - 2001 giảm xuống còn 1,5%/năm Năm 1998 sản lượng thuỷ sản giảm 4% so với năm 1997 chủ yếu là vì sản lượng thuỷ sản đánh bắt tại Chi-lê và Pêru giảm do ảnh hưởng của El Nino Tuy nhiên, đến các năm 2000, 2001 đã tăng trở lên 125,2 và 127,08 triệutấn do khối lượng thủy sản nuôi trồng tăng

Trung Quốc là nước đánh bắt thuỷ sản lớn nhất thế giới, năm 1999 đạt 17 triệu tấn, các nước đánh bắt chính khác là Pêru (8,4 triệu tấn), Nhật Bản (5,2 triệu tấn), và Chi Lê (5 triệu tấn).Khai thác thủy sản biển chiếm hơn 90% tổng sản lượng thủy sản khai thác toàn thế giới Sản lượng thủy sản nuôi trồng tiếp tục tăng trong năm 1999 và 2000/2001 mặc dù đã giảm nhịp độ sovới những năm đầu thập kỷ 90 Nhịp độ tăng bình quân sản lượng nuôi trồng thủy sản trong giaiđoạn 1991 - 1995 là 10%/năm, giai đoạn 1996 - 2001 chỉ còn 4,9%/năm

Tình hình tiêu thụ

Tiêu thụ dưới dạng tươi sống chiếm 36% sản lượng, còn lại được tiêu dùng dưới dạng chế biến Trong thủy sản tiêu thụ trực tiếp, hàng tươi sống chiếm tỷ trọng lớn nhất (45,3%), tiếp theo là hàng đông lạnh (28,8%), đồ hộp (139%) Năm 1998, tiêu thụ thủy sản tươi sống đạt 42 triệu tấn, thuỷ sản chế biến (đông lạnh, hun khói và đóng hộp) đạt hơn 51 triệu tấn

Tổng giá trị tiêu thụ thuỷ sản của EU năm 1999 là 27 tỷ USD, tương đương 73 USD/đầu người.Mức tiêu thụ bình quân đầu người hàng năm khác nhau ở mỗi khu vực, mỗi nước do t ác động bởi nhiều yếu tố như thu nhập, thị hiếu, khẩu vị Châu Phi chỉ tiêu dùng 5,2 triệu tấn với mức tiêu thụ bình quân đạt 7,1 kg , trong khí ở Châu Á mức tiêu thụ bình quân đầu người là 14,7kg, riêng Trung Quốc là 25,7kg

Tình hình buôn bán

Trang 3

- Buôn bán thuỷ sản giảm từ 53,3 tỷ USD năm 1997 xuống còn 51,3 tỷ USD năm 1998 Năm

1999, tổng kim ngạch buôn bán thủy sản thế giới đạt 53,4 tỷ USD và có xu hướng tăng trong những năm đầu thế kỷ XXI, chủ yếu là do tăng sản lượng và giá cả trong lĩnh vực nuôi trồng.Tôm là mặt hàng quan trọng nhất, chiếm 20% tổng kim ngạch buôn bán thuỷ sản toàn thế giới và

ổn định trong suốt 20 năm qua, mặc dù cơ cấu thủy hải sản trong buôn bán và sản xuất có thay đổi đáng kể

Thái Lan và NaUy là hai nhà xuất khẩu thủy sản lớn nhất thế giới, chiếm 15% tổng kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản của thế giới Kim ngạch xuất khẩu của các nước đang phát triển tiếp tục tăng

và dần rút ngắn khoảng cách thâm hụt cán cân thương mại ở mức 16 - 17 tỷ USD mỗi năm Kim ngạch xuất khẩu cá hồi các loại như tươi sống, đông lạnh, hun khói hoặc đóng hộp đã tăng lên 7% các sản phẩm khác như bột cá, bột mực ống hoặc mực giảm xuống còn 3 - 4%

Tình hình nhập khẩu

Năm 1998, tổng giá trị nhập khẩu thuỷ sản toàn cầu là 55 tỷ USD, giảm 2,8% so với năm 1997

và 3,9% so với năm 1996 Nhật Bản, Mỹ, EU chiếm hơn 77% tổng giá trị nhập khẩu Năm 1999,

EU nhập khẩu khoảng 20% tỷ USD thủy sản, trong đó chủ yếu là thuỷ sản tươi, làm lạnh hoặc cắt khúc, chiếm 36% tổng khối lượng nhập khẩu do sản lượng đánh bắt của EU không đủ đáp ứng nhu cầu Lượng nhập khẩu thuỷ sản của EU chủ yếu do hạn ngạch và giới hạn nhập khẩu quyết định

Nhật Bản vẫn là nước nhập khẩu lớn nhất, chiếm 23% tổng giá trị nhập khẩu Nhập khẩu của Nhật Bản giảm trong năm 1997 - 1998 chủ yếu do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế Mỹ là nước nhập khẩu lớn thứ hai sau Nhật Bản trong năm 1999, chiếm 16%

Gạo

Sản lượng gạo tăng liên tục qua các năm ở hầu hết các nước sản xuất chính làm cho sản lượng gạo toàn thế giới năm 1999 tăng 7,04% so với mức trung bình của năm 1994 - 1996 Tuy nhiên, xuất nhập khẩu gạo lại giảm mạnh vào năm 1999 sau khi đạt mức tăng cao của năm 1998 Nhập khẩu gạo năm 1999 của hầu hết các nước nhập khẩu chính như Băng la đét, Braxin, Inđônêxia, Philippin đều giảm Điều này làm cho giá gạo năm 1999 giảm mạnh so với 1998 Đây là mức giảm lần thứ ba liên tiếp kể từ mức tăng của năm 1996

Trong năm 1999, trong khi xuất khẩu của các nước Trung Quốc, ấn Độ, Mỹ đều giảm thì xuất khẩu gạo của Thái Lan và Việt Nam vẫn tăng lên

Năm 2002, giá gạo thế giới có xu hướng tăng lên thì Việt Nam lại có ít gạo hàng hóa để xuất khẩu

Cà phê

Trang 4

Tình hình xuất nhập khẩu

Xuất khẩu cà phê của các nước sản xuất chủ yếu tăng mạnh trong năm 1992 nhờ sản lượng cao của niên vụ 1991/1992 nhưng lại giảm xuống trong những năm sau và tăng trở lại vào năm

1996, nhờ sản lượng cao của vụ cà phê 1995/1996

Các nước nhập khẩu chủ yếu chiếm trên 90% tổng lượng cà phê nhập khẩu toàn cầu, trong đó,

Mỹ là nước nhập khẩu cà phê lớn nhất thế giới, chiếm tới 29% tổng lượng cà phê nhập khẩu

Quả tươi các loại

Sản xuất và xuất khẩu quả tươi chủ yếu là thuộc các nước đang phát triển (95%) Tuy có xu hướng tăng lên những năm gần đây nhưng xuất khẩu còn chiếm tỉ trọng nhỏ so với số lượng sản xuất Xuất khẩu quả tươi toàn cầu năm 1998 chỉ chiếm 3,4% so với sản lượng

Các nước phát triển là những nhà nhập khẩu chủ yếu, chiếm 68,7% khối lượng nhập khẩu của thế giới năm 1998

Trong đó, quả có múi

Sản lượng quả có múi của thế giới có xu hướng tăng lên nhưng không đều qua các năm Nước sản xuất lớn nhất là Braxin, chiếm 22% khối lượng quả có múi toàn thế giới, tiếp đến là Mỹ, chiếm 17%

Xuất - nhập khẩu niên vụ 1998/1999 giảm đi do sản lượng giảm ở hầu hết các nước sản xuất chính xuất khẩu quả có múi chiếm hơn 10% sản lượng sản xuất Tây Ban Nha là nước xuất khẩulớn nhất với hơn 30% khối lượng xuất khẩu của toàn cầu, sau đó là Mỹ chiếm 12%

Các nước nhập khẩu chính là Đức, Pháp, Anh, Hà Lan, Nhật Bản Năm nước này chiếm từ 45 - 50% khối lượng nhập khẩu của toàn thế giới

Khác với các loại hàng nông sản khác, giá các loại qủa có múi có xu hướng tăng lên trong giai đoạn 1994 - 1999

Cao su

Tình hình cung ứng

Tổng diện tích cao su của thế giới hiện có khoảng 9,7 - 10 triệu ha, cho sản lượng trung bình khoảng 5,5 - 6,6 triệu tấn mủ khô Châu Á có diện tích trồng cao su lớn nhất, chiếm đến 90%

Trang 5

diện tích cao su thế giới, trong đó 3 năm sản xuất cao su lớn nhất là Thái Lan, Malaysia,

Indonêsia chiếm khoảng 75 - 80% sản xuất lượng mủ cao su của cả thế giới

Theo nhóm Nghiên cứu cao su quốc tế (IRSG), mặc dù cao su là mặt chịu ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính - tiền tệ nhưng sản lượng cao su thế giới thời gian qua vẫn tăng trung bình khoảng 3,2%/năm (khoảng 200 nghìn tấn/năm) do các nước sản xuất vẫn tiếp tục gia tăng diện tích và áp dụng tiến bộ khoa học vào sản xuất

Tình hình tiêu thụ

Khoảng 2/3 tiêu thụ cao su thiên nhiên là phục vụ cho ngành vận tải, đặc biệt là sản xuất các loại săm lốp Trong những năm gần đây, tiêu thụ cao su thiên nhiên thế giới dao động ở mức 6,5 đến 7 triệu tấn và hầu hết khối lượng tiêu thụ này đều tập trung tại các nước công nghiệp phát triển như Mỹ, Italia, Đức, Nhật Bản và các nước Châu Á khác vẫn chiếm khoảng 1/3 tiêu thụ cao su thiên nhiên toàn cầu

Tổng tiêu thụ cao su toàn cầu tăng với tốc độ 2,8%/năm trong giai đoạn 1991 - 2001, tăng khoảng 180.000 tấn/năm Nền kinh tế tăng trưởng tai một số thị trường chính đã làm nhu cầu xe

ô tô cao hơn và làm cho nhu cầu lốp xe tăng tương ứng Kinh tế Trung Quốc tiếp tục tăng trưởng vững chắc trong giai đoạn gần đây nên tiêu thụ cao su tự nhiên của nước này vẫn tăng đều đặn, đặc biệt là thị trường lốp xe nội địa đang khởi sắc Các nước tiêu thụ chủ yếu khác, bao gồm Nhật Bản, ấn Độ, Hàn Quốc, Malaysia cũng đã tăng lượng tiêu thụ cao su thiên nhiên Vì vậy, tổng lượng tiêu thụ cao su thiên nhiên toàn thế giới năm 2001 cao hơn và tồn kho cao su thiên nhiên tính đến cuối năm 2001 đã giảm nhẹ so với các năm trước

Tình hình xuất khẩu

Xuất khẩu cao su của hầu hết các nước đều tăng trong giai đoạn 1991 - 1995, nhưng lại giảm trong giai đoạn 1996 - 1998 do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế Châu Á Xuất khẩu được phục hồi trong năm 1999, 2000 và giảm tiếp trong năm 2001 do những biến động lớn ở những nước nhập khẩu Xuất khẩu của Maylaysia giảm mạnh do chi phí cao, đặc biệt là chi phí lao động

Chè

Tình hình cung ứng

Theo thống kê của Cơ quan dự báo quốc tế (EIU), sản lượng chè các loại của toàn thế giới tăng với nhịp độ trung bình 1,75%/năm trong thời kỳ 1991 - 2000 Năm 2000, do được mùa ở các nước sản xuất chính nên tổng sản lượng các loại chè đạt gần 3 triệu tấn, tăng 2,6% so với năm 1999

Trang 6

Sản lượng chè đen của thế giới tăng với nhịp độ nhanh hơn so với mức tăng chung, trung bình khoảng 3,0%/năm giai đoạn 1992 - 2001 đạt 2.132 nghìn tấn vào năm 2001 Đây là kết quả của chính sách khuyến khích trồng chè ở các quốc gia, đặc biệt là trồng chè đen cho xuất khẩu.

ấn Độ, Trung Quốc, Kênia, Srilanka là các nhà sản xuất lớn nhất, chiếm hơn 85% sản lượng chè toàn cầu

Các nước tiêu thụ chè đen chủ yếu là Anh, ấn Độ , các nước SNG và Pakistan

Tình hình xuất khẩu

Nhìn chung, xuất khẩu chè trong suốt thập kỷ 90 tăng liên tục và ổn định do sản lượng tăng Kim ngạch xuất khẩu chè thế giới tăng với nhịp độ trung bình 2,75%/năm trong thời kỳ 1992 - 2000

Các nước sản xuất chính đồng thời cũng là các nhà xuất khẩu chính là ấn Độ, Kênia, Srilanka và Trung Quốc Bốn nước này chiếm tới 70% khối lượng xuất khẩu của toàn thế giới

Thịt và các sản phẩm từ thịt

Sản lượng thịt các loại tăng lên qua các năm trong giai đoạn 1994 - 1999 Sản lượng năm 1999 tăng 12,3% so với mức trung bình của các năm 1994 - 1996 Thị lợn chiếm tỉ trọng lớn nhất (khoảng 40%) trong tổng khối lượng thịt sản xuất của thế giới Tuy nhiên sản lượng thịt gia cầm đang tăng với nhịp độ nhanh nhất và từ năm 1997 đã thay thế thịt bò chiếm vị trí thứ hai về khối lượng sản xuất

Xuất khẩu thịt các loại chiếm khoảng 7% sản lượng sản xuất Xuất khẩu thịt gia cầm chiếm tỉ trọng lớn và có nhịp độ tăng trưởng nhanh Tỉ trọng xuất khẩu thịt năm 1999: Thịt gia cầm: 40%;Thịt Bò: 35%; Thịt lợn: 20%; Thịt cừu: 4,5%; Thịt khác: 0,5%

Các nước xuất khẩu chính là Ôxtrâylia, EU, Mỹ, Niu DiLân, Trung Quốc Trong đó, Mỹ, Trung Quốc, EU vừa là nhà xuất khẩu vừa là nhà nhập khẩu lớn

Đường

Sản lượng đường của thế giới tăng nhanh vượt quá nhu cầu tiêu thụ lần thứ năm liên tiếp cho tới niên vụ 1998/1999 làm cho dự trữ đạt mức kỷ lục và tiếp tục gây áp lực giảm giá Tỉ trọng

Trang 7

xuất khẩu so với sản lượng giảm 24,4% năm 1994 xuống 18,8% năm 1998 Các nước đang phát triển chiếm 80% sản lượng đường của thế giới.

EU là khu vực xuất khẩu lớn nhất, chiếm trên 20% khối lượng xuất khẩu của thế giới Tuy nhiên,50% khối lượng đường buôn bán là xuất nhập khẩu nội khu vực

III CHÍNH SÁCH BẢO HỘ NÔNG NGHIỆP VÀ QUẢN LÝ NHẬP KHẨU NÔNG SẢN CỦA MỘT SỐ THỊ TRƯỜNG NHẬP KHẨU NÔNG SẢN LỚN

EU

- Trợ cấp xuất khẩu nông sản: Hiện nay, EU vẫn duy trì quyết định trợ cấp xuất khẩu đối với lúa

mì, bột mì, thịt bò, sữa và các sản phẩm từ sữa Trợ cấp xuất khẩu được tính theo chênh lệch giữa giá nội địa và giá trung bình của thế giới

- Trợ cấp tiêu thụ: EU trợ cấp 95 triệu euro/năm thông qua các hoạt động xúc tiến thương mại (tham gia triển lãm, hội chợ, hội thảo, nghiên cứu khảo sát thị trường, mặt hàng mới, thị trường mới ) Các nhóm nông sản được trợ giúp tiêu thụ là sữa và các sản phẩm từ sữa, dầu olive, nho

và rượu nho, khoai tây, quả có múi, quả nguyên vỏ, hoa tươi, cây cảnh, thịt bò và các sản phẩm thịt bò

- Chế độ hạn ngạch nhập khẩu đối với gạo và đường

- Chế độ giấy phép nhập khẩu đối với một số nông sản khi không xác định được xuất xứ

- Hàng rào kỹ thuật: rất đa dạng, tinh vi, chủ yếu về vệ sinh an toàn thực phẩm, kiểm dịch, nhãn mác, bao bì, chất lượng hàng hóa, phương tiện vận chuyển, đặc biệt sữa, ngũ cốc, mật ong, rau quả tươi và khô, đồ hộp, thịt các loại

Nga

Hiện nay, Nga không có chính sách trợ cấp trực tiếp cho nông nghiệp Tuy nhiên, một số hàng hóa thương mại phi thuế quan vẫn dang được áp dụng, cụ thể bao gồm:

- Cấm nhập khẩu: áp dụng đối với mặt hàng trứng

- Giấy phép nhập khẩu: áp dụng đối với rượu vodka và rượu cồn, kể cả bia có nồng độ rượu trên 28%, đặc biệt là vodka hoa quả Giấy phép được cấp sau khi đã đóng thuế

- Các yêu cầu tiêu chuẩn và kỹ thuật khác: yêu cầu nhãn mác đối với thực phẩm

Ba Lan

Chính sách quản lý nhập khẩu của Ba Lan đang được hình thành chủ yếu theo những cam kết vớiWTO và có tính tới triển vọng được gia nhập EU trong tương lai trung hạn T rợ cấp xuất khẩu nông sản của Ba Lan trong giới hạn cho phép của WTO và đang được giảm dần Hiện nay, Ba Lan trợ cấp cho 1/3 sản lượng đường xuất khẩu (tương đương với khoảng 104 nghìn tấn), chủ yếu xuất sang SNG và Trung Đông

Các nước Đông Âu

- Đối với hàng xuất khẩu không có trợ cấp, bù giá

- Đối với hàng nhập khẩu:

+ Tuỳ theo đối tác (EU, CEFTA), hàng năm có hạn ngạch dành riêng với mức thuế thấp, còn lại điều tiết bằng thay đổi mức thuế hàng năm

Trang 8

+ Đối với các nước được hưởng GS PC (Hiệp định tổng thể về ưu đãi thương mại), trong đó có Việt Nam, một số loại nông sản nhiệt đới được hưởng thuế ưu đãi.

+ Thuốc lá, rượu, cà phê phải chịu thuế tiêu thụ đặc biệt rất cao

Hoa Kỳ

Tổng thống Hoa Kỳ vừa thông qua ngân sách trợ cấp nông nghiệp và phát triển nông thôn 10 năm, trị giá 180 tỷ USD, tăng 70% trên ngân sách dành cho các chương trình hiện hành, thông qua các hình thức trợ cấp gián tiếp như hỗ trợ lãi suất và trợ cấp trực tiếp qua giá, bồi thường để cải thiện môi trường, trợ cấp doanh nghiệp do nông dân làm chủ

Các nước Mỹ Latinh

Nhìn chung, cho đến nay những nước này:

- Không áp dụng hạn ngạch thuế quan cũng như thuế mùa vụ đối với các sản phẩm nông nghiệp

Nói tóm lại, đây là thị tường dài đối với mặt hàng chè và gạo Trong giai đoạn 2002 - 2005 chưa

có thay đổi gì về chính sách đối với nông nghiệp và bảo hộ sản xuất trong nước

I-ran

Hàng năm I-ran nhập khẩu từ 800 nghìn đến 1 triệu tấn gạo, I-ran có chính sách bảo vệ sản xuất trong nước một cách triệt để; cấm nhập khẩu các hàng nông sản mà sản xuất trong nước có khả năng đáp ứng nhu cầu

Đối với 4 mặt hàng chính thuộc nhóm lương thực phẩm mà sản xuất trong nước chưa đáp ứng gồm: mì, gạo, dầu ăn, đường thì nhà nước độc quyền nhập khẩu (Công ty Thương mại Chính phủ GTC) Các hợp đồng chỉ được ký kết và thực hiện sau khi đã được Uỷ ban Mua sắm Quốc gia xem xét các điều kiện giá cả, chất lượng, quan hệ chính trị

Số lượng nhập khẩu được điều chỉnh trên cơ sở sản lượng thu hoạch của mỗi năm với điều kiện phải mua hết sản phẩm nông nghiệp do nông dân sản xuất ra

Chính phủ đầu tư cho công tác nghiên cứu tạo giống cây có năng suất cao, mời chuyên gia nông nghiệp nước ngoài, đầu tư vào thủy lợi

Tuy vậy, trong 10 năm tới, I-ran vẫn phải nhập khẩu các mặt hàng trên với số lượng tương đối

ổn định:

Gạo: 800 nghìn tấn - 1 triệu tấn

Trang 9

Với thực tế xuất khẩu gạo cho I-ran trong thời gian cho thấy việc thực hiện nghiêm túc các hợp đồng là yêu cầu tiên quyết để duy trì thị trường Hàng năm ta có thể xuất khẩu sang I-ran từ 200 nghìn đến 300 nghìn tấn gạo.

- Từ năm 1995, Chính phủ Senegal xoá bỏ độc quyền nhập khẩu gạo của công ty nhà nước từ năm 1995 trở về trước chỉ có 1 công ty nhà nước nắm độc quyền nhập khẩu gạo) và tự do hoá hoàn toàn việc nhập khẩu và kinh doanh mặt hàng gạo Hiện tại trên thị trường Senegal có khoảng 10 công ty tư nhân lớn chuyên kinh doanh gạo năm giữ khoảng 90% lượng gạo nhập khẩu vào nước này

Do khả năng thanh toán kém nên hiện nay tất cả các công ty nhập khẩu gạo của Senegal đều không thể trực tiếp nhập khẩu gạo từ các nước cung cấp mà phải nhập khẩu qua các nước trung gian châu Âu (chủ yếu là các công ty Pháp, Thụy sĩ, Đức và một số ít các công ty của Libăng và Aicập) Kể cả các công ty xuất khẩu gạo của Thái Lan và ấn Độ cũng chưa trực tiếp xuất khẩu gạo vào thị trường này mà phần lớn vẫn phải xuất khẩu qua các công ty trung gian của châu Âu.Gạo nhập khẩu vào Sengal chịu 2 loại thuế chính là: thuế nhập khẩu và thuế bảo hộ sản xuất gạo trong nước Thuế nhập khẩu đánh vào gạo không cao (10%) nhưng thuế bảo hộ lại rất cao, mức cao nhất là 30% Thuế bảo hộ được tính theo giá CIF nhập khẩu và theo nguyên tắc “giá nhập khẩu càng cao thì chịu mức thuế càng thấp, giá nhập khẩu càng thấp thì mức thuế càng cao”, biểu thuế giao động từ 0% - 30% Chính phương thức tính thuế này làm giảm tính cạnh tranh về giá và khuyến khích việc lập hoá đơn giả nâng giá nhập khẩu gạo vào Senegal để trốn thuế.Senegal cũng tập trung vào việc phát triển sản xuất lúa gạo: thông qua FAO để tranh thủ kỹ thuật, chuyên gia quốc tế để thực hiện chủ trương này

Gạo của Việt Nam đã trở nên quen thuộc và được người tiêu dùng Senegal ưa chuộng vì giá rẻ hơn các loại gạo khác và có chất lượng phù hợp với khẩu vị của người Senegal

Phương thức nhập khẩu gạo vào thị trường Senegal

Phương thức nhập khẩu gạo vào thị trường Senegal

Trang 10

Phương thức nhập khẩu gạo vào thị trường Senegal khác hẳn với phương thức nhập khẩu gạo thông thường vẫn được áp dụng tại các nước nhập khẩu gạo ở Châu Á, Châu Âu và các khu vực khác Cũng chính phương thức kinh doanh này giải thích tại sao các công ty Việt Nam cũng như Thái Lan chưa thể bán gạo trực tiếp vào thị trường này, cụ thể là:

- Các Công ty nhập khẩu gạo của Senegal không đủ khả năng tài chính để mở L/C cho cả một tàugạo từ 5.000 tấn trở lên (hợp đồng 5.000 tấn gạo xuất khẩu sang Senegal sẽ không có hiệu quả vìgiá cao) Trên thực tế, phương thức mở L/C cho các hợp đồng nhập khẩu gạo không được sử dụng ở Senegal

- Tất cả các hợp đồng nhập khẩu gạo vào Senegal đều theo phương thức "người giữ hàng thứ 3" với sự tham gia của 4 chủ thể gồm: Công ty nhập khẩu Senegal, công ty xuất khẩu gạo (công ty trung gian Châu Âu), ngân hàng và công ty giao nhận - kho vận hoặc các công ty vận tải biển có

hệ thống kho hàng ở cảng hoặc trong đất liền của Senegal (người giữ hàng thứ 3) Theo phương thức này, công ty nhập khẩu gạo của Senegal phải ký đồng thời 2 hợp đồng: một hợp đồng với công ty xuất khẩu gạo vào hợp đồng được gọi là "thỏa thuận giữ hàng và cung cấp dịch vụ" với

sự tham gia của ngân hàng và công ty giữ hàng Theo hợp đồng nhập khẩu và "thỏa thuận giữ hàng và cung cấp dịch vụ thì công ty nhập khẩu Senegal sẽ trả trước một phần giá trị giá hợp đồng cho công ty xuất khẩu (thông thường là 10%), sau khi hàng về đến cảng Senegal công ty giữ hàng sẽ đứng ra nhận hàng và đưa hàng về bảo quản tại kho hàng của mình, công ty nhập khẩu Senegal nộp tiền vào ngân hàng đến đâu thì được nhận hàng đến đó, phần tiền trả trước sẽ được trừ vào lần nhận hàng cuối cùng Số lượng mỗi lần nộp tiền và nhận hàng được quy định cụthể tại "thỏa thuận giữ hàng và cung cấp dịch vụ", thông thường là trong vòng không quá 3 thángcông ty nhập khẩu Senegal phải nhận hết hàng và trả hết tiền

Hiện tại có gần khoảng 20 công ty Châu Âu (chủ yếu là các công ty Pháp), trong đó phần lớn cáccông ty vận tải biển và giao nhận - kho vận thực hiện chức năng "người giữ thứ 3" tại Senegal Các công ty này có hệ thống kho hàng hoàn chỉnh tại Senegal, các kho hàng này không chỉ phục

vụ cho việc nhập khẩu gạo vào Senegal mà còn phục vụ cho việc nhập khẩu các mặt hàng khác vào thị trường này vì nhiều mặt hàng khác cũng được nhập khẩu vào Senegal theo phương thức

"người giữ hàng thứ 3" Ngoài ra, các kho hàng này còn làm nhiệm vụ thu gom hàng xuất khẩu của Senegal (bông,hạt điều, hải sản )

Hiện các ngân hàng Pháp và Mỹ kiểm soát toàn bộ các hoạt động thanh toán và tài chính của Senegal Gần như 100% các hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu của Senegal do các ngân hàng này thực hiện

Senegal không có đồng tiền riêng mà dùng đồng Franc CFA lấy đồng Franc Pháp làm bản vị Các công ty trung gian của Châu Âu sẵn sàng dùng đồng FCFA trong việc thanh toán các hợp đồng gạo vì các công ty này có quan hệ chặt chẽ với các ngân hàng Châu Âu và nắm vừng cơ chế vận hàng của đồng FCFA Đây cũng chính là điểm mạnh của các công ty Châu Âu mà các công ty xuất khẩu gạo của Thái Lan, ấn Độ và Việt Nam không có được

Ngoài ra các công ty Châu Âu còn có một số thế mạnh khác nữa, đó là khả năng tài chính mạnh Các công ty này có thể mua gạo thường xuyên với số lượng lớn và giá rẻ tại các nước sản xuất như Việt Nam, Thái Lan, Pakistan sau đó bán lại cho các công ty Senegal với giá cạnh tranh và thanh toán dần trong khoảng 3 - 5 tháng

Trang 11

Như vậy, muốn trực tiếp xuất khẩu gạo vào thị trường Senegal, các công ty Việt Nam không có

sự lựa chọn nào khác là chấp nhận phương thức phổ biến trên của thị trường này hoặc tối thiểu phải có đại diện nằm ở Senegal

Các nước liên minh kinh tế - tiền tệ tây phi (UEMOA)

Các nước thành viên của UEMOA (bao gồm Benin, Burkina Faso, Cote d'Ivoire, Guinee Bissau,Mali, Negier, Senegal và Togo) đều là các nước láng giềng của Senegal, tất cả các nước này đều

có quan hệ thương mại chặt chẽ với Senegal Senegal là điểm chung chuyển hàng hóa quan trọngcủa các nước không có cảng biển như: Mali, Nigier và Burkina Faso

Tổng dân số của các nước UEMOA khoảng 60 triệu người và tất cả các nước này đều là các nước phải nhập khẩu gạo với số lượng tương đối lớn Theo ước tính của cơ quan quản lý và giámsát thị trường gạo Senegal thì hàng năm các nước UEMOA phải nhập khẩu khoảng 1,5 triệu tấn gạo

Về phương thức kinh doanh gạo ở các nước này cũng tương tự như ở Senegal Do vậy, nếu các công ty Việt Nam thành công trong việc thâm nhập thị trường gạo Senegal thì cũng đồng thời mở

ra được hướng xuất khẩu gạo trực tiếp vào các nước khác thuộc UEMOA

Theo đánh giá của các nhà nhập khẩu gạo lớn của Nigieria và các công ty nước ngoài có kinh doanh mặt hàng gạo với Nigieria thì lượng gạo nhập khẩu hàng năm vào nước này có thể lên đếntrên 1,5 triệu tấn

Nhu cầu gạo trên thị trường rất đa dạng, tất cả các loại phẩm cấp và nguồn gốc gạo đều được chấp nhận

Hiện nay trên thị trường Nigieria có bán nhiều loại gạo khác nhau nhưng phổ biến nhất là gạo có nguồn gốc từ Mỹ, Thái Lan và ấn Độ Gạo của Việt Nam cũng đã có bán ở thị trường Nigieria nhưng số lượng còn rất ít và khó xác định qua con đường nào mà gạo của Việt Nam đã có mặt ở thị trường Nigieria

Do khả năng thanh toán của thị trường Nigieria bị giảm sút nhiều so với thời gian trước đây (trong những năm 70 và 80) nên hình thức mua bán thông qua mở L/C cũng bị thu hẹp và

phương thức "trả tiền - nhận hàng" được mở rộng

Phương thức và cơ chế nhập khẩu gạo vào thị trường Nigieria

Hiện tại việc nhập khẩu gạo vào thị trường Nigieria do các công ty tư nhân kiểm soát, chính phủ không can thiệp trực tiếp vào việc kinh doanh gạo mà chỉ điều tiết bằng thuế nhằm bảo hộ sản xuất trong nước Thuế nhập khẩu đánh vào mặt hàng gạo tương đối cao (bình quân là 55%).Gạo được nhập khẩu vào Nigieria theo nhiều phương thức khác nhau Tuy nhiên phổ biến là theo

3 phương thức chính sau:

Trang 12

- Các công ty lớn: Hiện nay, tại Nigieria có một vài công ty lớn kinh doanh các mặt hàng nông sản trong đó có các mặt hàng gạo Ước tính các công ty này hàng năm nhập khẩu vào Việt Nam khoảng 400 tấn đến 500 tấn thóc và gạo Các công ty này có đầy đủ các cơ sở kinh doanh từ nhà máy xay xát, xí nghiệp đóng gói, hệ thống vận tải và phân phối Vì có các nhà máy xay xát và đóng gói tại Nigieria nên các công ty này có chủ trương nhập khẩu thóc để tận dụng lao động địaphương và đáp ứng được các yêu cầu về chất lượng và bao gói đảm bảo đưa ra thị trường loại gạo có chất lượng cao.

Qua tìm hiểu được biết hiện nay nguồn cung cấp thóc chủ yếu cho các công ty này là Thái Lan

Để có thể kinh doanh được theo phương thức này, nhất thiết phải có hệ thống khách hàng ổn định, có quan hệ lâu dài và nhất là phải thông thạo và quan hệ tốt với chính quyền địa phương

Để có được điều này thì đầu tư ban đầu rất tốn kém

- Bán hàng qua biên giới: Hiện tại có nhiều công ty bán gạo gián tiếp vào thị trường Nigieria thông qua các nước láng giềng của Nigieria, chẳng hạn như Cameroon, sau đó người mua Nigieria sang mua theo cách "tiền trao đến đâu hàng trao đến đó" Phần lớn lượng gạo này sẽ được đưa lậu vào Nigieria

Nam Phi

Việt Nam có thể xuất khẩu 3 mặt hàng vào Nam Phi đó là gạo, cà phê, hạt tiêu

Hàng năm Nam Phi nhập khẩu 500 nghìn tấn đến 700 nghìn tấn gạo nhưng chủ yếu là gạo đồ Cả

3 mặt hàng trên đều có thuế nhập khẩu bằng 0% Nam Phi không có chính sách bảo hộ đặc biệt nào đối với các mặt hàng này

Tuy ta chưa có gạo đồ xuất khẩu sang Nam Phi nhưng ta có thể xuất khẩu gạo sang Nam Phi để đưa vào 5 nước thuộc Liên minh quan thuế ở vùng Nam châu Phi này

IV KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ NÔNG SẢN CỦA VIỆT NAM Thuỷ sản

Sản lượng năm 2001 đạt 2,41 triệu tấn, trong đó sản lượng nuôi trồng đạt 710 nghìn tấn, sản lượng đánh bắt đạt 1,7 triệu tấn Dự kiến đến 2010, tổng sản lượng đạt khoảng 3 triệu tấn (tăng

Trang 13

bình quân 2,2%/năm), trong đó sản lượng nuôi trồng đạt 1,5 triệu tấn và sản lượng đánh bắt đạt 1,5 triệu tấn.

Hoạt động đánh bắt chủ yếu vẫn diễn ra ở ven bờ Nhà nước đã đầu tư nhiều vốn cho Chương trình đánh bắt hải sản xa bờ, nhưng hiệu quả đạt được còn thấp Vì vậy, giai đoạn từ nay đến

2010, cần chú trọng đẩy mạnh hoạt động đánh bắt xa bờ để tăng năng suất và hiệu quả đánh bắt.Hoạt động nuôi trồng thuỷ sản đạt tốc độ tăng trưởng nhanh, tập trung ở các tỉnh ven biển Sản lượng nuôi trồng hàng năm tăng từ 8 - 10%, trong đó tăng nhanh nhát là hoạt động nuôi tôm (phục vụ xuất khẩu chiếm khoảng 50% tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam) Nhà nước đã có nhiều hỗ trợ cho hoạt động nuôi trồng thuỷ sản như: cung ứng giống, vay vốn ưu đãi,

hỗ trợ kỹ thuật nuôi trồng, và dịch vụ tiêu thụ sản phẩm

Các loại thủy sản đánh bắt và nuôi trồng chủ yếu gồm: tôm, mực, bạch tuộc, cá tra, cá basa, cá ngừ

Thị trường xuất khẩu chủ yếu gồm: Nhật Bản, Hoa Kỳ, EU, Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan, Singapore, Hàn Quốc

Lúa gạo

Sản lượng lúa năm 2001 đạt 32 triệu tấn Dự kiến đến năm 2010, sản lượng lúa đạt mức 36 triệu tấn, bình quân tăng 1,2%/năm Trong đó, tăng chủ yếu ở các loại lúa có chất lượng cao, đáp ứng được yêu cầu xuất khẩu vào một số thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam

Tuy nhiên, sản xuất lúa gạo của Việt Nam thời gian qua vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn do thiên tai xảy ra thường xuyên (lũ lụt, hạn hán ) Bên cạnh đó, tuy có nhiều giống lúa đạt năng suất cao nhưng chất lượng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của một số thị trường Công nghệ sau thu hoạch, bảo quản chế biến và các loại hình dịch vụ hỗ trợ nông nghiệp vẫn còn yếu kém, ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động chế biến và xuất khẩu

Thị trường xuất khẩu gạo chủ yếu của Việt Nam là Inđônêxia, Philipin Malaixia, Hoa Kỳ, Nga,

EU, Trung Đông, Châu Phi

Hướng phát triển trong thời gian tới là ổn định quy hoạch diện tích trồng cà phê ở mức khoảng

500 nghìn ha, trong đó khoảng 400 nghìn ha cà phê vối và 100 nghìn ha cà phê chè Như vậy, diện tích trồng mới trong thời gian tới tập trung vào cà phê chè và giảm bớt diện tích cà phê vối

ở những nơi thiếu nguồn nước tưới, điều kiện chăm sóc kém

Thị trường xuất khẩu chủ yếu của cà phê Việt Nam là EU, Hoa Kỳ, Singapore, Nhật Bản

Trang 14

Rau quả

Sản lượng ra quả năm 2001 đạt 10 triệu tấn, trong đó 4 triệu tấn quả, 6 triệu tấn rau Dự kiến đến năm 2010, sản lượng rau quả nước ta sẽ đạt khoảng 17 triệu tấn, tăng bình quân 5,4%/năm.Các loại rau quả chủ yếu gồm: chuối, dứa, thanh long, nhãn, vải, xoài, dưa hấu, dưa chuột, măng

ta, ngô bao tử

Hiện nay, diện tích các vùng trồng rau quả không ngừng được mở rộng Cộng với thuận lợi về điều kiện thời tiết có thể sản xuất được rau quả quanh năm, đặc biệt là các loại rau quả vụ đông

để cung cấp cho các nước không sản xuất được

Tuy nhiên, năng suất và chất lượng vẫn luôn là trở ngại lớn nhất đối với sản xuất và tiêu thụ rau quả của nước ta Thói quen sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trong canh tác vẫn còn phổ biến, khiếncho chất lượng sản phẩm giảm sút đáng kể Còn ít vùng sản xuất rau quả sạch quy mô lớn để phục vụ xuất khẩu Bên cạnh đó, công nghệ sau thu hoạch, bảo quản, chế biến kém, tỷ lệ hao hụt rất cao (20 - 30%)

Hướng phát triển trong thời gian tới là kết hợp tăng sản lượng rau quả với Chương trình trồng 5 triệu ha rừng, phủ xanh đất trống, đồi núi trọc và các Chương trình khuyến nông, khuyến lâm, xóa đói giảm nghèo của Chính phủ Tăng nhanh sản lượng và nâng cao chất lượng rau quả; đẩy mạnh các hoạt động dịch vụ hỗ trợ nông nghiệp; liên doanh với các đối tác nước ngoài như Nhật Bản, Ixaren, Đài Loan, Hà Quốc, Trung Quốc, Thái Lan để xây dựng những vùng chuyên canh rau quả sạch phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu

Thị trường xuất khẩu chủ yếu là Trung Quốc, Nhật Bản, EU, Hoa Kỳ, Đài Loan, Hàn Quốc, Hồng Kông, Nga, Australia

Hạt tiêu

Sản lượng hạt tiêu năm 2001 đạt 45 nghìn tấn Dự kiến đến năm 2010, sản lượng hạt tiêu nước ta

sẽ đạt khoảng 90 nghìn tấn, tăng bình quân 7,1%/năm

Việt Nam chủ yếu vẫn sản xuất loại hạt tiêu đen, xuất thô, giá thấp Do giá hạt tiêu trên thị trường thế giới tăng giảm thất thường nên diện tích và sản lượng hạt tiêu của nước ta không ổn định và khó có khả năng tăng nhanh

Trong thời gian tới, cần chú trọng mở rộng diện tích trồng loại hạt tiêu trắng, là loại hạt tiêu có chất lượng tốt, giá cao, để đáp ứng thị hiếu của một số thị trường Đồng thời, đẩy mạnh khâu chếbiến, nâng cao tỷ lệ xuất khẩu sản phẩm đã qua chế biến

Thị trường xuất khẩu chủ yếu là Singapore, Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Hàn Quốc, Hoa

Kỳ, EU

Cao su

Sản lượng cao su mủ khô năm 2001 đạt 300 nghìn tấn Dự kiến đến năm 2010, sản lượng cao su

mủ khô nước ta sẽ đạt khoảng 500 nghìn tấn, tăng bình quân 5,2%/năm

Vì cao su là mặt hàng có giá trị xuất khẩu cao và Việt Nam có điều kiện thuận lợi để phát triển loại cây trồng này, do vậy trong thời gian qua, nhà nước, doanh nghiệp và nhân dân đã đầu tư phát triển mở rộng diện tích, nâng cao năng suất và sản lượng Sản lượng cao su tiêu dùng trong nước chiếm khoảng 20%, còn lại 80% dành cho xuất khẩu Tuy thị trường cao su ngày càng được

Trang 15

mở rộng nhưng chủ yếu vẫn tập trung vào thị trường Trung Quốc (chiếm khoảng 40 - 50% tổng lượng cao su xuất khẩu của Việt Nam).

Tuy nhiên, cao su cũng là mặt hàng bị ảnh hưởng rất lớn bởi biến động giá cả trên thị trường Đặc biệt, nhu cầu của Trung Quốc cũng tăng giảm thất thường và hiện tại vẫn đang áp dụng hạn ngạch về mặt hàng này đối với nước ta Để giải quyết được vấn đề này, Việt Nam cần sớm mở rộng và chuyển dịch cơ cấu thị trường, tránh tình trạng bị phụ thuộc quá nhiều vào sự biến động của một hoặc một vài thị trường

Thị trường xuất khẩu chủ yếu là Trung Quốc, Singapore, EU, Malaixia, Hà Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Nhật Bản, Nga

Hướng sắp tới là tăng nhanh diện tích, năng suất, chất lượng; đẩy mạnh hoạt động chế biến, liên doanh với một số đối tác nước ngoài như ấn Độ, Srilanka, Trung Quốc, Anh, Nhật Bản để sản xuất được ngày càng nhiều chủng loại chè có hàm lượng chế biến sâu và chè sạch Ngoài ra, cần đẩy mạnh công tác thông tin, hướng dẫn nông dân kỹ thuật canh tác tiên tiến, tránh thói quen sử dụng quá nhiều thuốc trừ sâu trong chăm sóc loại cây này

Thị trường xuất khẩu chủ yếu là Irắc, Nga, EU, Nhật Bản, Đài Loan, ASEAN, Hoa Kỳ

Hạt điều

Sản lượng hạt điều năm 2001 đạt 220 nghìn tấn Dự kiến đến năm 2010, sản lượng hạt điều nước

ta sẽ đạt khoảng 360 nghìn tấn, tăng bình quân 5,1%/năm

Đây là mặt hàng rất có tiềm năng phát triển và khả năng cạnh tranh cao của Việt Nam Hiện tại, Việt Nam đứng thứ 3 thế giới về sản xuất và xuất khẩu hạt điều Tuy nhiên, cũng như nhiều sản phẩm nông nghiệp khác, đây là mặt hàng chịu sự tác động rất lớn của sự biến động giá cả trên thịtrường thế giới Thêm vào đó, hạn hán thường xuyên xảy ra, nhân dân ít đầu tư thâm canh nên sản lượng và chất lượng vẫn ở mức thấp, biến động thất thường và chưa phát huy được hết tiềm năng, thế mạnh Cơ cấu các chủng loại hạt điều chưa hợp lý, loại hạt điều trắng có giá cao còn chiếm tỷ lệ thấp Hạt điều chủ yếu dùng để xuất khẩu, tiêu dùng trong nước chỉ chiếm khoảng 10% sản lượng

Trong thời gian tới, sẽ tập trung tăng nhanh diện tích trồng điều ở những khu vực có điều kiện đất đai, khí hậu thuận lợi và kết hợp với các chương trình của Chính phủ như Chương trình trồng 5 triệu ha rừng, phủ xanh đất trống, đồi núi trọc và các Chương trình khuyến nông, khuyến lâm, xoá đói giảm nghèo Tăng nhanh diện tích trồng loại điều có nhân trắng, đẩy mạnh các hoạt động chế biến sâu, để nâng cao giá trị xuất khẩu

Trang 16

Thị trường xuất khẩu chính loại mặt hàng này là Trung Quốc, Hoa Kỳ, EU, ASEAN, Nhật Bản, Australia

Thịt lợn

Sản lượng thịt lợn hơi năm 2001 đạt 1,5 triệu tấn, chủ yếu dùng để tiêu thụ trong nước, tỷ lệ dànhcho xuất khẩu còn rất ít (năm 2001 là 32 nghìn tấn) Dự kiến đất năm 2001, sản lượng thịt lợn nước ta sẽ đạt khoảng 2 triệu tấn, tăng bình quân 2,9%/năm

Hiện tại, đàn lợn của cả nước đã đạt trên 21 triệu con và vẫn đang trên đà tăng trưởng Nông dân

có rất nhiều kinh nghiệm trong chăn nuôi lợn Trong những năm gần đây, đã có nhiều trang trại chăn nuôi lợn có quy mô lớn và công nghệ hiện đại, khiến đàn lợn ngày càng có năng suất và chất lượng cao Nhà nước cũng đã quan tâm đầu tư về vốn, giống, và hướng dẫn kỹ thuật chăn nuôi mới cho các hộ gia đình

Tuy nhiên, chủ yếu hoạt động chăn nuôi vẫn diễn ra nhỏ lẻ, chưa đạt quy mô công nghiệp, chi phí sản xuất cao nên khả năng cạnh tranh thấp bên cạnh đó, đa số các giống lợn của Việt Nam là các giống nhỏ, tỷ lệ nạc thấp, chất lượng thịt chưa cao để đáp ứng được nhu cầu của nhiều thị trường khó tính như EU, Nhật Bản, Hoa Kỳ

Thị trường xuất khẩu chủ yếu là Hồng Kông, Nga, Malaixia, Trung Quốc Tuy nhiên, trong vài năm gần đây, trong khi nhu cầu và giá thịt lợn đang có xu hướng tăng lên trên thị trường thế giới thì ta lại thiếu hàng để xuất khẩu

Mía đường

Năm 2001, sản lượng đạt hơn 1 triệu tấn, trong đó đường tinh luyện đạt 760 nghìn tấn và 300 nghìn tấn đường thô Dự kiến đến năm 2010, sản lượng đường nước ta sẽ đạt khoảng 1,5 triệu tấn, tăng bình quân 4,1%/năm

Chương trình sản xuất 1 triệu tấn đường đã và đang góp phần chuyển đổi cơ cấu cây trồng, tăng nhanh sản lượng nông nghiệp nói chung và sản lượng mía nói riêng, giải quyết việc làm cho hàng triệu lao động, nâng cao thu nhập và mức sống cho người dân Tuy nhiên, do công tác quy hoạch nóng vội, triển khai có tính chất phong trào , chưa tính toán kỹ khả năng và điều kiện sản xuất của địa phương, nên hiệu quả của Chương trình này còn thấp Giá thành sản xuất đường từ mía của nước ta còn rất cao so với mức bình quân thế giới (cao hơn 30 - 40%) nên chưa thể xuất khẩu được

Phương hướng sắp tới là tìm cách giảm chi phí sản xuất, nâng cao năng suất và chất lượng mía

để nâng cao khả năng cạnh tranh của mặt hàng đường

Hàng thủ công mỹ nghệ

Đây là mặt hàng truyền thống và có nhiều tiềm năng của Việt Nam Hiện tại, Việt Nam đã hình thành được nhiều làng nghề chuyên sản xuất và xuất khẩu các mặt hàng thủ công mỹ nghệ truyềnthống như Bát Tràng, Đồng Kỵ, Vạn Phúc Giá trị hàng hóa và kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong thời gian gần đây tăng nhanh Năm 2001, kim ngạch xuất khẩu đạt 235 triệu USD Dự kiến đến năm 2010, kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm thủ công mỹ nghệ đạt mức 1 tỷUSD, bình quân tăng 15,6%/năm

Tuy nhiên, hoạt động sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ tại Việt Nam vẫn chủ yếu được các hợp tác xã, hộ gia đình, hoặc các doanh nghiệp nhỏ và vừa sản xuất nên thường gặp phải khó khăn vềvốn, cơ sở, mặt bằng sản xuất, quy mô và công nghệ sản xuất Ngoài ra, mẫu mã, chủng loại mặt

Trang 17

hàng chưa đa dạng cũng như vấn để xử lý kỹ thuật đối với điều kiện thời tiết nóng ẩm, mối mọt của nước ta đã khiến cho các mặt hàng này thiếu sức cạnh tranh trên thị trường thế giới.

Hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam đã xuất khẩu sang hơn 133 thị trường, trong đó chủ yếu là: Nhật Bản, EU, Hoa Kỳ, Hồng Kông, Đài Loan, Hàn Quốc, Nga, ASEAN, Australia

Phương hướng trong thời gian tới là tập trung tổ chức tại sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ, gắn với việc phát triển các làng nghề và phát triển công nghiệp nông thôn, chuyển đổi cơ cấu kinh tế

và cơ cấu lao động; ứng dụng các tiến bộ của khoa học công nghệ và môi trường vào sản xuất Nhà nước cần có các chương trình hỗ trợ, đặc biệt là về vốn, về công tác nghiên cứu thị trường, thiết kế mẫu mã sản phẩm để đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu của thế giới

Phần 2

DỰ BÁO THỊ TRƯỜNG NÔNG SẢN THẾ GIỚI

I DỰ BÁO NHU CẦU, GIÁ CẢ VÀ CƠ CẤU THỊ TRƯỜNG CỦA MỘT SỐ NÔNG SẢN CHỦ YẾU CỦA THẾ GIỚI THỜI KỲ 2001 - 2010

Theo dự báo của FAO, mức tăng sản lượng và nhu cầu về lương thực và các mặt hàng nông sản

sẽ tăng bình quân 2%/năm, cao hơn so với giai đoạn trước và cao hơn so với mức tăng dân số Tuy nhiên, nếu tính bình quân đầu người, sản lượng và tiêu dùng chỉ tăng khoảng 0,7%/năm Đốivới các nước đang phát triển, sản lượng và tiêu thu các mặt hàng nông sản chủ yếu bình quân đầungười dự báo sẽ tăng 1,4%/năm, thấp hơn so với thập kỷ trước - sản lượng tăng 1,6%/năm và tiêu thụ 1,7%/năm

Tăng trưởng thương mại hàng nông sản thế giới dự báo sẽ giảm từ 2,5%/năm trong giai đoạn

1984 - 1994 còn 2,2%/năm trong giai đoạn đến 2005, mặc dù có những ảnh hưởng thuận lợi do cải cách chính sách Vai trò trong mạng lưới buôn bán hàng nông sản của các nước đang phát triển có nguy cơ chuyển từ các nhà cung cấp thành các nhà nhập khẩu nông sản trong tương lai

do xu hướng tăng tiêu thụ và chế biến tại các nước này, cũng như tốc độ tăng dân số và thu nhập cao hơn so với các nước phát triển Dự báo nhập khẩu các sản phẩm nông nghiệp của các nước đang phát triển sẽ đạt 162 tỷ USD, chiếm 49% nhập khẩu hàng nông sản toàn cầu vào năm

2005 và vào năm 2010 sẽ là 190,5 tỷ USD chiếm 51%

Triển vọng về giá: giá hàng nông sản sẽ có những biến động trong giai đoạn dự báo, trong đó, giáhàng lương thực sẽ tăng mạnh do dự trữ giảm, dự báo giá ngũ cốc sẽ tăng 2,7 đến 6% so với thập

kỷ trước; giá các mặt hàng thực phẩm tăng nhẹ hơn, dự báo giá thịt các loại tăng từ 2,8% đến 5,5% trong giai đoạn dự báo

Thủy sản

Sản lượng: Trong hai thập kỷ gần đây, nhịp độ tăng của sản lượng thủy sản đã có xu hướng giảm dần Nếu như trong thập kỷ 80, nhịp độ tăng sản lượng thủy sản đạt bình quân 3,3%/năm, thì sang thập kỷ 90, nhịp độ tăng sản lượng bình quân chỉ là 2,7%/năm Mặc dù sản lượng thủy sản nuôi trồng được gia tăng nhanh chóng, nhưng do sự cạn kiệt của các nguồn lợi tự nhiên đã dẫn tới sự suy giảm chung của nhịp độ tăng sản lượng thủy sản Trong thập kỷ tới, những cố gắng nhằm cải thiện môi trường chung và phục hồi nguồn lợi thủy sản tự nhiên nói riêng cũng như khảnăng gia tăng sản lượng thuỷ sản nuôi trồng chưa thể mang lại nhịp độ tăng chung của sản lượng thủy sản ở mức cao Dự báo sản lượng thủy sản sẽ tăng với nhịp độ bình quân 2,0%/năm trong giai đoạn 1995 - 2000 và sau đó tiếp tục giảm còn 1,7%/năm trong giai đoạn 2006 - 2010

Ngày đăng: 20/04/2022, 00:09

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w