1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Khả năng thanh khoản của các ngân hàng thương mại việt nam

25 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 379,67 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều này làm cho các ngân hàng phải chú trọng hơn trong khâu thanh khoản,nghiên cứu này tác giả xem xét khả năng thanh khoản của ngân hàng được đo lường qua:tốc độ tăng trưởng kinh tế GD

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Khả năng thanh khoản của các ngân hàng thương mại Việt Nam

Môn: Phương pháp định lượng trên thị trường tài (BAN506005)

Giáo viên phụ trách: Thầy Lê Văn Lâm

THÀNH VIÊN:

Nguyễn Tấn Hoàng – 31171022309

Trần Minh Nhật Hằng – 31171022450

Hoàng Trọng Bình - 31171020195

Trang 2

MỤC LỤC

I TÓM TẮT ĐỀ TÀI 2

II NỘI DUNG 2

1 Giới thiệu đề tài 2

1.1 Lý do chọn đề tài 2

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3

1.3 Tóm tắt sơ bộ về kết quả 3

1.4 Đóng góp của của nghiên cứu 4

2 Lược khảo nguyên cứu 4

2.1 Những nghiên cứu ở một số nước trên thế giới 4

2.2 Những nghiên cứu tại Việt Nam 6

3 Phương pháp nguyên cứu 7

3.1 Mô tả dữ liệu 7

3.2 Mô hình nguyên cứu 8

3.3 Phương pháp xử lý số liệu 8

3.4 Cách đo lường các biến độc lập 8

3.5 Phương pháp ước lượng và các kiểm định 11

4 Kết quả nguyên cứu 11

4.1 Thống kê mô tả 11

4.2 Phân tích tương quan 12

4.3 Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến 13

4.4 Kiểm định phương sai đồng nhất 14

4.5 Phân tích kết quả hồi quy 15

5 Kết luận 17

6 Hạn chế của nguyên cứu 18

PHỤ LỤC 18

Trang 3

I TÓM TẮT ĐỀ TÀI

Trong thời kì kinh tế suy thoái và có nhiều biến động như hiện nay, thế mạnh của mộtngân hàng không chỉ dựa trên tài sản chính mà còn phải dựa trên khả năng thanh khoảncủa mình Điều này làm cho các ngân hàng phải chú trọng hơn trong khâu thanh khoản,nghiên cứu này tác giả xem xét khả năng thanh khoản của ngân hàng được đo lường qua:tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP), quy mô ngân hàng (size), lợi nhuận trên vốn chủ sởhữu (ROE), nợ xấu (NPL), tỷ lệ vốn (CAP), tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng (r) Mẫunghiên cứu bao gồm 200 quan sát của 10 ngân hàng thương mại trên trang dữ liệucafef.vn của thị trường Việt Nam, trong giai đoạn 2013-2017 Kết quả nghiên cứu đã chỉ

ra rằng tỷ lệ vốn có ảnh hưởng cao nhất (hơn 88%) đến khả năng thanh khoản của ngânhàng Ngược lại, tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng có quan hệ ngược biến làm giảm tínhthanh khoản của ngân hàng cao nhất khoảng 27%

II NỘI DUNG

1 Giới thiệu đề tài

1.1 Lý do chọn đề tài

Cuộc khủng hoảng kinh tế trên toàn thế giới đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triểnkinh tế - xã hội của nhiều quốc gia Để giảm thiểu rủi ro, đa số các ngân hàng thương mại

đã quan tâm đến vấn đề thanh khoản

Cuộc khủng hoảng cũng cho thấy, những ngân hàng dựa nhiều vào thị trường tiền tệ ngắnhạn tài trợ cho các tài sản hoạt động của họ có xu hướng gặp rủi ro thanh khoản rất lớn.Rút kinh nghiệm từ cuộc khủng hoảng trên, đa số các ngân hàng thương mại (NHTM) đãquan tâm đến vấn đề thanh khoản vì nó chính là vấn đề sống còn của các ngân hàng

Ở Việt Nam, hơn 20 năm qua, từ khi thực hiện quá trình cải cách, hệ thống ngân hàngViệt Nam đã có sự phát triển mới cả về số lượng và chất lượng, nhưng vấn đề rủi ro thanhkhoản vẫn chưa được quan tâm đúng mức Vì vậy, việc nghiên cứu các yếu tố tác độngđến rủi ro thanh khoản tại các ngân hàng thương mại là rất cần thiết để góp phần nângcao công tác quản trị rủi ro nói riêng và đảm bảo sự sống còn của hệ thống ngân hàng

Trang 4

Việt Nam nói chung Trong nhưng năm gần đây có rất nhiều nghiên cứu chọn đề tài này

ở trên thế giới (Nghiên cứu của Aspachs & cộng sự (2005)) cũng như ở Việt Nam(nghiên cứu của Vũ Thị Hồng (2015)) Những nghiên cứu đó cũng đủ cho thấy tầm quantrọng của khả năng thanh khoản đối với các ngân hàng là như thế nào Vì vậy, câu hỏivẫn là khả năng thanh khoản của các ngân hàng tác động như thế nào đối với các ngânhàng? Nghiên cứu này bao gồm 10 ngân hàng thương mại có vốn hóa cao hàng đầu tronggiai đoạn 2013 – 2017 ở Việt Nam

Tác động của khả năng thanh khoản ảnh hưởng tới thành quả của các ngân hàng thươngmại tại Việt Nam Với mong muốn kết quả của nghiên cứu này sẽ giúp cho các ngân hàngthương mại kể cả các công ty phi tài chính tại Việt Nam nhận thấy đước khả năng thanhkhoản bị ảnh hưởng bởi những yếu tố nào và tại sao lại ảnh hưởng, để từ đó đưa ra nhữngchính sách và chiến lược phát triển phù hợp để năng cao hiệu quả hoạt động của công ty

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu tổng hợp:

Bài nghiên cứu được thực hiện nhằm cung cấp bằng chứng thực nghiệm về khả năngthanh khoản của các Ngân hàng thương mại ở Việt Nam

Mục tiêu chi tiết:

Bài nghiên cứu được thực hiện nhằm cung cấp bằng chứng thực nghiệm về tác động củakhả năng thanh khoản của các Ngân hàng thương mại ở Việt Nam bằng cách trả lời cáccâu hỏi sau:

Thứ nhất, các biến độc lập GDP, Size, ROE, r, NPL, CAP sẽ tác động như thế nào đếnkhả năng thanh khoản của các ngân hàng thương mại?

Thứ hai, đo lường các biến phụ thuộc và các biến độc lập được đề cập trong bài nguyêncứu

Trang 5

1.3 Tóm tắt sơ bộ về kết quả

- Bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu bảng được thu thập từ Báo cáo tài chính hằng năm của

10 ngân hàng thương mại theo danh sách thống kê của Ngân hàng Nhà nước Việt Namcho đến hiện nay, giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2017

- Để phân tích kết quả hồi quy, tác giả tiến hành hồi quy mô hình nghiên cứu bằngPhương pháp ước lượng bình phương bé nhất – OLS cho kết quả:

+ ROE tỉ lệ thuận với khả năng thanh khoản là 0.1836

+ r tỉ lệ nghịch với khả năng thanh khoản là 0.27 (27%)

+ CAP tỉ lệ thuận với khả năng thanh khoản là 0 8864948

+ GDP tỉ lệ nghịch với khả năng thanh khoản là 0.0179343

+ Size tỉ lệ thuận với khả năng thanh khoản là 0 0212951

+ NPL tỉ lệ thuận với khả năng thanh khoản là 0.2266387

1.4 Đóng góp của của nghiên cứu

Qua bài nghiên cứu tác giả mong muốn làm rõ tầm quan trọng của khả năng thanh khoảnđối với các ngân hàng thương mại và những yếu tố tác động lên nó, qua đó là gửi mộtthông điệp tới các nhà quả trị của các ngân hàng cần chú trọng hơn nữa đến khả năngthanh khoản của ngân hàng mình vì chúng là một trong những yếu tố thúc đẩy và manglại kết quả cho ngân hàng trong thời kì kinh tế có nhiều biến động như hiện nay Chúng tađang ở trong khoảng thời gian mà nền kinh tế có nhiều thay đổi và các ngân hàng đượcphân loại là một lĩnh vực chuyên sâu về kinh tế, họ chỉ có thể cải thiện kết quả của họdựa trên khả năng thanh khoản của họ

Trang 6

2 Lược khảo nguyên cứu

2.1 Những nghiên cứu ở một số nước trên thế giới

Thanh khoản ngân hàng đã trở thành một đề tài thú vị trong lĩnh vực ngân hàng và tàichính sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2007 – 2008 Các học giả hàn lâmtrên thế giới cũng nhấn mạnh tầm ảnh hưởng của tính thanh khoản đối với các ngân hàng.DeYoung & Jang (2016) tuyên bố rằng tiêu chuẩn Basel III tương đương với phân tíchTirole (2011) về việc tính thanh khoản ngân hàng tập trung vào ba lĩnh vực chính

Tạo sự thanh khoản và giám sát được ủy quyền là một trong những vai trò chính của cácngân hàng được chỉ ra bởi lý thuyết trung gian tài chính (Berger & Bouwman, 2009;Diamond,1984) Berger và Bouwman (2009); Diamond (1984); Holmstrom và Tirole(1998) giải thích rằng ngân hàng cách cung cấp đủ tiền cho nhu cầu rút tiền của họ nhưmột cách để tạo tính thanh khoản Ngoài ra, các ngân hàng chuyển đổi rủi ro bằng cách

mở rộng tiền gửi không rủi ro sang tài chính cho vay rủi ro trong khi kiếm được lợi nhuận

từ các chức năng chuyển rủi ro Như vậy, vai trò thanh khoản của các ngân hàng yêu cầucác ngân hàng duy trì một lượng thanh khoản hợp lý để thực hiện nghĩa vụ của họ kịpthời Các ngân hàng đảm bảo tạo thanh khoản nhanh chóng và nhất quán bằng cáchphòng ngừa chống lại sự thiếu hụt thanh khoản như duy trì tiền và các khoản tươngđương tiền

Một nghiên cứu của Berger và Bouwman (2009) đã áp dụng mô hình mà họ đã phát triểntrên mẫu của các ngân hàng Hoa Kỳ từ giai đoạn 1993-2003 Họ báo cáo rằng tính thanhkhoản của ngân hàng không ngừng tăng lên trong suốt thời gian nghiên cứu của họ Họtiết lộ thêm rằng tính thanh khoản có liên quan đến quy mô ngân hàng và nó liên quantích cực đến giá trị ngân hàng Hỗ trợ phát hiện này, Delechat et al (2012) đã sử dụngmẫu 100 ngân hàng từ Trung ương Khu vực Mỹ và kết luận rằng tính thanh khoản ngânhàng và tạo ra thanh khoản có liên quan đến quy mô ngân hàng, vốn hóa và lợi nhuận.Nghiên cứu gần đây của Bonner et al (2015) sử dụng dữ liệu từ 30 quốc gia khác nhau vàtìm thấy rằng mối tương quan của bộ đệm thanh khoản ngân hàng (ví dụ: tài sản lưu động

Trang 7

- tiền gửi, tài sản lưu động - tổng tài sản) với các khoản nợ tiền gửi, tập trung thị trường

và quy mô ngân hàng yếu hơn ở các nước có quy định thanh khoản ngân hàng Họ kếtluận rằng quy định thanh khoản đóng vai trò thay thế cho quản lý thanh khoản chủ độngcủa các ngân hàng Cho thấy các quy định thanh khoản giúp các ngân hàng kiểm soát,chấp nhận rủi ro Như vậy, nó sẽ giúp giảm thiểu hành vi chấp nhận rủi ro cao của cácngân hàng, đặc biệt là quy định thanh khoản cung cấp một chuẩn mực mà một ngân hàngnên duy trì ở bất kỳ giai đoạn cụ thể nào

Ủng hộ quan điểm này, Bonner (2016) đã xem xét ảnh hưởng của bảo hiểm thanh khoảntheo quy định tỷ lệ trên 17 ngân hàng ở Hà Lan và kết luận rằng quy định thanh khoản cótác dụng thực sự, khiến các ngân hàng tăng đầu tư vào trái phiếu chính phủ và giảm đầu

tư vào các khoản vay Do đó, tiêu chuẩn thanh khoản tương đối kiểm soát các ngân hàngchấp nhận rủi ro hành vi, tuy nhiên, mặt khác nó có thể có tác động tiêu cực đến lợinhuận của các ngân hàng, vì các khoản vay đã được xác định là nguồn thu chính của ngânhàng Ngoài ra, điều này có thể dẫn đến sự tập trung tài sản và cuối cùng khiến các ngânhàng phải chịu rủi ro thanh khoản

Mối quan hệ giữa tính thanh khoản của ngân hàng và hành vi chấp nhận rủi ro của họ đãđược giải thích rằng liên quan đến vấn đề cơ quan Vấn đề cơ quan trong ngân hàng tồntại do chức năng giám sát của các ngân hàng gây ra xung đột giữa các nhà quản lý ngânhàng, các chủ sở hữu ngân hàng và thông tin bất cân xứng Andreou et al (2016) đãnghiên cứu thực nghiệm tác động của khả năng quản lý đối với ngân hàng tạo ra thanhkhoản và hành vi chấp nhận rủi ro Phát hiện của họ đã cho thấy rằng khả năng quản lýcao hơn của ngân hàng ngân hàng tạo ra nhiều thanh khoản và chấp nhận rủi ro nhiềuhơn Khan và cộng sự (2017) phát hiện ra rằng các ngân hàng có rủi ro thanh khoản tàitrợ thấp sẽ có nhiều rủi ro hơn

2.2 Những nghiên cứu tại Việt Nam

Bài nghiên cứu “Các yếu tố tác động đến tỷ lệ thanh khoản tại các ngân hàng thương mạiViệt Nam” của tác giả TS Nguyễn Thị Mỹ Linh - Tạp chí Ngân hàng - Số 9.- Tr 22 - 26

2016 kiểm định sự tác động của các yếu tố đến tỷ lệ thanh khoản của 19 ngân hàng

Trang 8

thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2007 – 2014, sử dụng phương pháp định lượng với

kỹ thuât phân tích hồi quy dữ liệu bảng Kết quả nghiên cứu cho thấy rủi ro tín dụng ngânhàng (LLP), khả năng sinh lợi ngân hàng (ROA), tỷ lệ vốn ngân hàng (CAP), lãi suấtbiên (IRM), quy mô ngân hàng (SIZE) tác động ngược chiều đến tỷ lệ thanh khoản củangân hàng (LA)

Bài nghiên cứu của tác giả Nguyễn Hoàng Phong, Phan Thị Thu Hà “Các yếu tố tác độngđến thanh khoản ngân hàng – thực tiễn nghiên cứu tại Việt Nam” sử dụng cả phươngpháp dữ liệu bảng tĩnh và dữ liệu bảng động nhằm phân tích các yếu tố tác động đếnthanh khoản của 32 ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2006 – 2015 Thanhkhoản ngân hàng được đo lường bằng tỷ lệ tài sản thanh khoản trên tổng tài sản và tỷ lệtài sản thanh khoản trên vốn huy động ngắn hạn Các yếu tố tác động được chia thành cácnhóm gồm yếu tố bên trong ngân hàng, yếu tố kinh tế vĩ mô và yếu tố điều kiện thịtrường Kết quả ước lượng cho thấy các tỷ lệ thanh khoản ngân hàng có mối tương quanthuận với tỷ lệ vốn chủ sở hữu, mức độ tập trung thị trường, lãi suất liên ngân hàng, tăngtrưởng kinh tế và có mối tương quan nghịch với quy mô ngân hàng, tỷ lệ dư nợ cho vay.Bên cạnh đó, nghiên cứu còn phát hiện ra thấy tỷ lệ thanh khoản của ngân hàng cũng chịu

sự tác động của độ trễ thanh khoản kỳ trước

Nghiên cứu “Các nhân tố tác động đến rủi ro thanh khoản của hệ thống ngân hàng thươngmại Việt Nam” do tác giả Trương Quang Thông - Phát triển kinh tế - 2013 - Số 276.- Tr

50 – 62 nhằm nhận diện những nguyên nhân của rủi ro thanh khoản đối với hệ thốngNHTM VN Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ báo cáo thường niên của 27 NHTM VN

từ năm 2002 đến năm 2011 Rủi ro thanh khoản được sử dụng trong mô hình là “Khe hờtài trợ” và các biến độc lập, tức các nhân tố tác động đến rủi ro thanh khoản, được chiathành 2 nhóm: Nhóm các nhân tố bên trong, và nhóm các nhân tố bên ngoài ngân hàng.Kết quả ước lượng các mô hình cho thấy rủi ro thanh khoản ngân hàng không những phụthuộc vào các yếu tố bên trong hệ thống ngân hàng như quy mô tổng tài sản, dữ trự thanhkhoản, vay liên ngân hàng, và tỉ lệ vốn tự có trên nguồn vốn mà còn chịu sự tác động củacác biến kinh tế vĩ mô, tức những yếu tố bên ngoài hệ thống

Trang 9

3 Phương pháp nguyên cứu

3.1 Mô tả dữ liệu

Dữ liệu được lấy từ báo cáo tài chính và báo cáo trên WB hoặc IMF của 10 ngân hàngthương mại Việt Nam, bao gồm: Ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương Việt NamVietcombank (VCB); Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam BIDV; Ngân hàng Nôngnghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam Agribank; Ngân hàng Thương mại cổ phầnCông thương Việt Nam Vietinbank; Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu ACB; Ngânhàng Thương mại cổ phần Sài Gòn – Hà Nội SHB; Ngân hàng Thương mại cổ phần KỹThương Việt Nam Techcombank; Ngân hàng thương mại Siam SCB; Ngân hàng Thươngmại cổ phần Hàng hải Việt Nam Maritime Bank và Ngân hàng TMCP Việt Nam ThịnhVượng VP Bank

Các dữ liệu theo từng quý trong năm trong khoảng thời gian từ 1/1/2013 đến 31/12/2017 Các BCTC có thể lấy từ website: https://cafef.vn/

Số liệu từ cơ sở dữ liệu của Ngân hàng Thế Giới (WB) và Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) hoặcTổng cục thống kê từ năm 2010 đến nay để phục vụ cho việc định lượng GDP và lạmphát

Trong số 10 ngân hàng trên thì có 8 ngân hàng là đầy đủ dữ liệu, 2 ngân hàng còn lạithiếu dữ liệu, dữ liệu bất cân xứng Cụ thể là ngân hàng SCB thiếu dữ liệu của các quý 2,

4 năm 2013; quý 2,4 năm 2014; quý 2, 4 năm 2015; quý 3,4 năm 2016; quý 1,4 năm

2017 Ngân hàng Maritime Bank thiếu dữ liệu của năm 2013; quý 1,3,4 năm 2014; năm2015

3.2 Mô hình nguyên cứu

Khả năng thanh khoản = y = f (tỷ lệ vốn, quy mô ngân hàng, ROE, tốc độ tăng trưởngkinh tế, tỉ lệ dự phòng rủi ro tín dụng, nợ xấu)

Trong đó: khả năng thanh khoản là biến phụ thuộc Tỷ lệ vốn, quy mô ngân hàng, nợ xấu,ROE, tốc độ tăng trưởng kinh tế, tỉ lệ dự phòng rủi ro tín dụng là các biến độc lập

Trang 10

Sử dụng phần mềm STATA để phân tích và kiểm định mô hình hồi quy dữ liệu bảng.

3.4 Cách đo lường các biến độc lập

Trang 11

ngân hàng có vốn chủ sở hữu lớn sẽ bù đắp vào các khoản thiệt hại mà rủi ro này gâynên, giúp ngân hàng thoát khỏi khó khăn Trong trường hợp ngân hàng mất khả năng chitrả cho khách hàng thì phần vốn chủ sở hữu sẽ được sử dụng để thực hiện điều đó Điều

đó chứng tỏ, CAP và khả năng thanh khoản có mối quan hệ cùng chiều với nhau Tức làkhi tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản ngân hàng càng tăng thì khả năng thanh khoảncủa ngân hàng càng tăng và ngược lại

b Quy mô ngân hàng (SIZE)

Quy mô ngân hàng được định lượng bằng lấy những logarit tự nhiên của tổng tài sảnngân hàng

Một trong các rủi ro mà ngân hàng phải đối mặt là rủi ro thanh khoản và đây là rủi rỏ lớnnhất ngân hàng phải giải quyết trong ngắn hạn Theo thực tế cho thấy, ngân hàng có quy

mô vốn càng lớn, càng vững thì sẽ vượt qua các rủi ro thanh khoản tốt hơn các ngân hàngkhác Ở biến này tồn tại hai quan điểm trái ngược nhau, một của Akhtar & c.s và Ahmed

& c.s, một của Abdullah & Khan Tuy nhiên, đối với thực trạng Việt Nam ta sẽ theo quanđiểm của Abdullah & Khan, nghĩa là ngân hàng có quy mô ngân hàng càng lớn thì khảnăng thanh khoản càng cao và ngược lại

c Khả năng sinh lợi của ngân hàng (ROE)

ROE được tính bằng cách lấy lợi nhuận sau thuế / vốn chủ sở hữu Tỷ số ROE cao chứng

tỏ ngân hàng này đang sử dụng tài sản một cách hiệu quả và ổn định, việc này giúp chongân hàng có thể điều hành tốt các hoạt động kinh doanh từ đó kiểm soát được các rủi rocủa ngân hàng trong đó có cả rủi ro thanh khoản Điều đó chứng tỏ, tỷ số ROE càng caothì thanh khoản của ngân hàng càng tốt

d Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP)

Trong trường hợp này được đo lường bằng tốc độ tăng trưởng của GDP

Biến này được xem xét cụ thể trong nền kinh tế Khi nền kinh tế gặp khủng hoảng haysuy thoái, các ngân hàng sẽ có xu hướng giữ nhiều tài sản thanh khoản vì hoạt động chovay sẽ gặp nhiều rủi ro lớn Còn trong một nền kinh tế tăng trưởng tốt, ngân hàng sẽ sử

Trang 12

dụng nhiều hơn tài sản thanh khoản để cho vay vì hoạt động huy động sẽ gặp khó bởi cácnhà đầu tư có xu hướng đầu tư vào các hoạt động khác có suất sinh lợi cao hơn Với cáckết quả trên, ta có thể thấy, tốc độ tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ ngược chiều vớikhả năng thanh khoản của ngân hàng.

e Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng

Dự phòng rủi ro tín dụng là giá trị được trích lập để dự phòng những tổn thất do kháchhàng không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo cam kết Được tính bằng giá trị trích lập dựphòng rủi ro tín dụng/tổng cho vay

Ngân hàng trích lập dự phòng rủi ro tín dụng nhằm phản ánh đúng thực chất của chấtlượng tài sản (giá trị còn lại của tài sản trên bảng cân đối kế toán) Trong nghiên cứu củaChung-Hua Shen et al, (2009) dự phòng rủi ro tín dụng trên tổng dư nợ được sử dụng đểkiểm định tác động của chúng đến rủi ro tín dụng của ngân hàng và rủi ro tín dụng đếnlượt nó sẽ tác động đến lợi nhuận và thanh khoản ngân hàng

f Nợ xấu (NPL)

Được tính bằng bằng tỷ lệ nợ xấu trên tổng nợ

Nợ xấu là một yếu tố ảnh hưởng đáng kể tới khả năng thanh khoản của ngân hàng Việcngân hàng phải gánh các khoản nợ xấu sẽ làm thiếu chi phí để duy trì các hoạt động kháccủa ngân hàng Cho nên khi nhiều khoản vay trong tổng tài sản ngân hàng chuyển thành

nợ xấu sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng thanh khoản của ngân hàng và hơn thếnữa sẽ làm giảm lợi nhuận của ngân hàng Vậy nợ xấu có tác động tiêu cực hay ngượcchiều với khả năng thanh khoản của ngân hàng

Bảng 3.1: Giải thích và đo lường các biến độc lập

1 CAP Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản ngân hàng BCTC

Ngày đăng: 20/04/2022, 00:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1: Giải thích và đo lường các biến độc lập - Khả năng thanh khoản của các ngân hàng thương mại việt nam
Bảng 3.1 Giải thích và đo lường các biến độc lập (Trang 12)
Bài nguyên cứu sử dụng dữ liệu bảng để trình bày các số liệu của các biến được đề cập trong bài làm - Khả năng thanh khoản của các ngân hàng thương mại việt nam
i nguyên cứu sử dụng dữ liệu bảng để trình bày các số liệu của các biến được đề cập trong bài làm (Trang 13)
Bảng 4.1 Thống kê mô tả các biến trong mô hình nguyên cứu. BiếnSố quan sátĐộ   lệch - Khả năng thanh khoản của các ngân hàng thương mại việt nam
Bảng 4.1 Thống kê mô tả các biến trong mô hình nguyên cứu. BiếnSố quan sátĐộ lệch (Trang 14)
Bảng 4.2 Ma trận tương quan - Khả năng thanh khoản của các ngân hàng thương mại việt nam
Bảng 4.2 Ma trận tương quan (Trang 15)
Ho: Không tồn tại hiện tượng đa cộng tuyến trong mô hình nguyên cứu. H1: Có tồn tại hiện tượng đa cộng tuyến trong mô hình nguyên cứu. - Khả năng thanh khoản của các ngân hàng thương mại việt nam
o Không tồn tại hiện tượng đa cộng tuyến trong mô hình nguyên cứu. H1: Có tồn tại hiện tượng đa cộng tuyến trong mô hình nguyên cứu (Trang 16)
Bảng 4.5 Kết quả hồi quy mô hình - Khả năng thanh khoản của các ngân hàng thương mại việt nam
Bảng 4.5 Kết quả hồi quy mô hình (Trang 18)
 Mô hình cơ sở - Khả năng thanh khoản của các ngân hàng thương mại việt nam
h ình cơ sở (Trang 18)
Kết quả hồi quy của mô hình khi dùng sai số tiêu chuẩn vững: - Khả năng thanh khoản của các ngân hàng thương mại việt nam
t quả hồi quy của mô hình khi dùng sai số tiêu chuẩn vững: (Trang 24)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w