Để hiểu rõ hơn về vai trò của nó, nhóm chúng em có thực hiện bài nghiên cứu về sự hiệu quả hoạt động của NHTM Việt Nam thông qua lợi nhuận trên tổng tài sản ROA, lợi nhuận trên vốn chủ s
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ
HỒ CHÍ MINH
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TIỂU LUẬN MÔN PHƯƠNG PHÁP ĐỊNH LƯỢNG
TRÊN THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH
Giảng viên : ThS Lê Văn Lâm
Đề tài : Phân tích hiệu quả hoạt động của ngân
hàng thương mại Việt Nam
Các thành viên :
Đặng Chí Bảo
Nguyễn Châu Chí Bảo
Nguyễn Văn Thịnh
Bùi Minh Cường
Khoa ngân hàng
Trang 2MỤC LỤC
1 GIỚI THIỆU 4
2 LƯỢC KHẢO NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ NGHIÊN CỨU 4
3 DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 6
3.1 DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU 6
3.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 6
3.2.1 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ MÔ TẢ BIẾN 6
3.2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 7
4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 8
4.1 THỐNG KÊ MÔ TẢ 8
4.2 MA TRẬN TƯƠNG QUAN PEARSON 9
4.3 KIỂM ĐỊNH VIF 10
4.4 KIỂM ĐỊNH WHITE TEST 10
4.5 PHÂN TÍCH KẾT QUẢ HỒI QUY 11
4.5.1 BIẾN PHỤ THUỘC ROA 11
4.5.2 BIẾN PHỤ THUỘC ROE 12
4.5.3 KẾT QUẢ HỒI QUY VÀ THẢO LUẬN 12
5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 15
Trang 3Tóm tắt : Ngân hàng từ lâu đã đóng vai trò quan trọng trong điều tiết nền kinh tế cũng
như là một phần không thể thiếu trong kênh tài chính Vai trò của nó góp phần thúc đẩy kinh tế đất nước phát triển và tăng trưởng một cách bền vững Để hiểu rõ hơn về vai trò của nó, nhóm chúng em có thực hiện bài nghiên cứu về sự hiệu quả hoạt động của NHTM Việt Nam thông qua lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA), lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) Mẫu dữ liệu gồm 341 quan sát của 4 ngân hàng thương mại Nhà nước và 31 ngân hàng thương mại cổ phần được thu thập trong BCTC trên website của các NHTM Việt Nam và được so sánh đối chiếu để dữ liệu được minh bạch và phù hợp với tiêu chí của bài nghiên cứu trong giai đoạn 2009-2019 Thông qua nghiên cứu này có thể thấy được TCTR có ảnh hưởng trái chiều cho cả ROA và ROE, với tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản, tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản và tỷ lệ tiền gửi so với tiền cho vay có tương quan thuận cho hiệu quả hoạt động của NHTM Việt Nam Không có sự khác biệt về hiệu quả hoạt động giữa NHTM nhà nước và NHTM khác; thị phần ngân hàng không ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Từ viết đầy đủ bằng tiếng
Anh Từ viết đầy đủ bằng tiếngViệt
OLS Ordinary Least Squares Phương pháp bình phương
bé nhất ROA Return On Equity Tỷ số lợi nhuận trên tài
sản ROE Return On Equity Tỷ số lợi nhuận trên vốn
chủ sở TCTR Total cost – total revenue Tổng chi phí trên tổng
doanh thu thuần VIF Variance Inflation Factor Nhân tử phóng đại phương
sai
Trang 41 GIỚI THIỆU
Năng suất hoạt động của các NHTM Việt Nam giai đoạn 2009-2019 trở nên mạnh mẽ hơn sau khi trải qua cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu giai đoạn 2007-2008 và những hậu quả để lại cho nền kinh tế thế giới nói chung và nền kinh tế Việt Nam nói riêng Dưới
sự quản lý của Ngân hàng nhà nước, hoạt động của các NHTM Việt Nam đóng vai trò là định chế tài chính trung gian để điều tiết nền kinh tế Do vậy việc đánh giá hiệu quả hoạt động của các NHTM Việt Nam trong giai đoạn hồi phục 2009-2019 là vấn đề cần thiết khi mà sự hồi phục của nền kinh tế Việt Nam có sự đóng góp không nhỏ của ngành ngân hàng Và để nhìn nhận lại những vấn đề cần cải thiện; phát huy trong giai đoạn đó và đưa
ra các giải pháp, định hướng phù hợp với chính sách và điều hành hệ thống NHTM tại Việt Nam trong tương lai thì việc đánh giá hoạt động của NHTM Việt Nam trở nên càng cần thiết Chính vì sự cần thiết của các yếu tố trên, bài viết sau đây sẽ đánh giá sự ảnh hưởng của các nhân tố đến hiệu quả hoạt động của các NHTM Việt Nam nhằm giải quyết các vấn đề nêu trên
2 LƯỢC KHẢO NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ NGHIÊN CỨU
Trong kinh tế học, hiệu quả hoạt động được hiểu là khả năng biến đổi các đầu vào có tính chất khan hiếm thành khả năng sinh lời hoặc giảm thiểu chi phí so với các đối thủ cạnh tranh- Daft, 2008 Rất nhiều người sử dụng các cách khác nhau để đo lường sự hiệu quả hoạt động thông qua những bài nghiên cứu trước đó, trong đó, bài nghiên cứu mẫu mà nhóm chúng em dựa theo tham khảo của nhóm tác giả TS Trịnh Quốc Trung và ThS Nguyễn Văn Sang thuộc ĐH Ngân hàng TP HCM sử dụng chỉ số ROA (tỷ suất sinh lời trên tổng tải sản) và chỉ số ROE (tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu) để đưa vào nghiên cứu hiệu quả hoạt động của các NHTM Việt Nam Sau khi thực hiện tham khảo các bài nghiên cứu về hiệu quả hoạt động của các NHTM trước đây thì việc sử dụng hai chỉ số này khá thường xuyên được sử dụng do tính thuận tiện khi so sánh hiệu quả giữa các ngân hàng, loại hình khác nhau trong các thời kỳ khác nhau Do vậy nhóm chúng em đưa
ra quyết định đồng tình với nhóm tác giả đã tham khảo, đưa hai chỉ số này vào bài nghiên cứu và sử dụng các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng như nhóm tác giả tham khảo như sau:
Loại hình ngân hàng (OWNERNN)
Dựa theo Heffernan và Fu (2008) về NHTM tại Trung Quốc và kết quả bài nghiên cứu
“Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các NHTM Việt Nam” của TS Trịnh Quốc Trung và ThS Nguyễn Văn Sang thuộc ĐH Ngân Hàng TP HCM cho các NHTM Việt Nam, đều cho thấy các NHTM quốc doanh có kết quả hoạt động thấp hơn so với NHTM khác Chính vì điều này biến OWNERNN được đưa vào mô hình nhằm kiểm định sự khác biệt về loại hình ngân hàng có thể tạo ra sự khác biệt về hiệu quả hoạt động
Trang 5Tổng chi phí trên tổng doanh thu (TCTR)
Theo Nguyễn Việt Hùng (2008), yếu tố TCTR có ảnh hưởng đến NHTM tại Việt Nam TCTR là biến được đo lường bằng tổng chi phí trên tổng doanh thu do đó thông qua tỷ số này có thể biết được mức độ hiệu quả hoạt động của ngân hàng nếu tỷ số càng nhỏ thì mức độ hiệu quả càng cao
Tỷ lệ tiền gửi trên số tiền cho vay (DRL)
Theo Kyriaki Kosmido, Nguyễn Việt Hùng (2008), tỷ lệ tiền gửi trên số tiền cho vay có ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng Ngân hàng sẽ có càng nhiều vốn lưu động từ việc các khách hàng gửi tiền càng nhiều và thông qua đó ngân hàng cho vay để thu được lợi nhuận từ sự chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi
Tỷ lệ nợ quá hạn trên dư nợ cho vay (NPL)
Theo IMF (2006), tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ cho vay là một trong những tỷ lệ quan trọng để đánh giá mức độ lành mạnh tài chính của NHTM, nếu tỷ lệ này càng cao thì hiệu quả ngân hàng càng thấp, do nợ xấu tăng làm ngân hàng phải trích lập dự phòng tăng dẫn đến lợi nhuận giảm và kèm theo đó là sự hoạt động không ổn định
Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản (ETA)
Theo IMF (2006), tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản là một trong những chỉ số trong
bộ tài chính lành mạnh, nó được khuyến khích dùng để xem xét mức độ lành mạnh tài chính của NHTM (IMF, 2006) Theo Heffernan và Fu (2008), ETA lớn thì lợi nhuận trên vốn tự có tăng, đồng thời nó cho biết việc tài trợ cho tài sản bằng vốn chủ sở hữu tăng làm giảm rủi ro cho các cổ đông và các trái chủ của ngân hàng Tỷ lệ này có thể tác động
2 chiều đền hiệu quả hoạt động của NHTM, nếu vốn chủ sở hữu cao NHTM có thể nới lỏng tín dụng và điều kiện cho vay thiếu chặc chẽ dẫn đến phát sinh nợ nấu làm giảm hiệu quả hoạt động và ngược lại
Thị phần của các NHTM ( MARKETSHARE)
MARKETSHARE được đưa vào mô hình hồi quy để kiểm định việc phân chia thị phần
có ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các NHTM hay không và được tính bằng tổng tài sản của từng ngân hàng trên tổng tài sản của các ngân hàng Biến này cũng được Nguyễn Việt Hùng (2008), Isik và Hassan (2003), Hefferman và Fu (2008) sử dụng trong
mô hình của mình
Tỷ lệ vốn cho vay so với tổng tài sản (LOANTA)
LOANTA là tỷ lệ vốn cho vay so với tổng tài sản phản ánh được năng lực quản lý của nhà quản trị ngân hàng, theo Nguyễn Việt Hùng (2008), Isik và Hassan (2003), Hefferman và Fu (2008), nếu một ngân hàng có thể quản trị vốn tốt và thực hiện được
Trang 6nhiều khoản cho vay hợp lý sẽ làm cho chi phí hoạt động thấp hơn và qua đó cho phép
ngân hàng có thể dần dần tăng thị phần trên thị trường cho vay lớn hơn
3 DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.
3.1 DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU
Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ Báo cáo tài chính hợp nhất đã qua kiểm toán của 31
ngân hàng thương mại cổ phần và 4 ngân hàng thương mại Nhà nước trong giai đoạn
2009-2019 Đối với những dữ liệu còn thiếu trong vài ngân hàng thì tiến hành lượt bỏ Ở
đây, chúng em sử dụng dữ liệu từ báo cáo tài chính hợp nhất đã qua kiểm toán thay vì sử
dụng dữ liệu từ báo cáo tài chính của công ty mẹ đã qua kiểm toán như nhóm tác giả bài
tham khảo sử dụng vì chúng em nhận thấy để đánh giá hiệu quả hoạt động của NHTM
Việt Nam thì không thể phủ nhận được hiệu quả sử dụng vốn của ngân hàng khi đầu tư
vào các công ty con hoặc liên kết nên việc sử dụng dữ liệu từ dữ liệu từ báo cáo tài chính
hợp nhất đã qua kiểm toán sẽ cho cái nhìn tổng quát hơn về hiệu quả hoạt động của
NHTM Việt Nam
Bảng 3.1 : Thống kê số quan sát trong mẫu nghiên cứu
Loại ngân hàng Số quan sát Tỷ lệ Ngân hàng thương mại Nhà nước 20 5,87%
Ngân hàng thương mại cổ phần tư nhân 321 94,13%
Nguồn : Kết quả thống kê dữ liệu từ exel 3.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.2.1 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ MÔ TẢ BIẾN
Nghiên cứu này nhầm mục đích phân hiệu quả hoạt động của các NHTM Việt Nam, dựa
theo bài nghiên cứu của TS Trịnh Quốc Trung, ThS Nguyễn Văn Sang và trường đại
học Ngân hàng thành phố Hồ Chí Minh (2013); Phương pháp bình phương bé nhất được
đưa vào để phân tích các nhân tố trong mô hình :
Mô hình hồi quy :
Mô hình nghiên cứu kì vọng có dạng :
Trang 7Trong đó : ROA và ROE là biến phụ thuộc Thuật ngữ β0 là hệ số chặn và các biến độc lập được mô tả thông qua bảng 3.2.1 bên dưới
vọng Phụ thuộc
ROA Lợi nhuận sau thế trên
tổng tài sản ROE Lợi nhuận sau thế trên
tổng vốn chủ sở hữu Độc lập
OWNERNN Loại hình ngân hàng = 1 Nếu NHTM nhà
nước, 0 nếu NHTM khác TCTR Tỷ lệ chi phí trên doanh
DLR Tỷ lệ tiền gửi so với tiền
ETA Vốn chủ sở hữu trên tổng
tài sản Vốn chủ sở hữu/tổng tài sản + MARKETSHARE Thị phần ngân hàng Tổng tài sản từng ngân
hàng / tổng tài sản 35 NHTM
+
LOANTA Tỷ lệ cho vay trên tổng
NPL Tỷ lệ nợ quá hạn trên
tổng dư nợ Nợ quá hạn/tổng dư nợ cho vay Bảng 3.2.1 : Mô tả các biến được sử dụng trong nghiên cứu
3.2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Bài nghiên cứu sử dụng dạng dữ liệu bảng để kiểm tra sự tác động của ROA và ROE qua
đó có thể thấy được hiệu quả hoạt động của ngân hàng như thế nào Dữ liệu bảng là sự
Trang 8kết hợp chuỗi thời gian của các quan sát chéo mang lại nhiều thông tin, tính biến thiên nhiều hơn, ít hiện tượng đa cộng tuyến giữa các biến cũng như là độ tin cậy cao hơn Tác giả sử dụng phương pháp ước lượng bình phương nhỏ nhất – OLS để kiểm tra tác động của ROA và ROE lên hiệu quả hoạt động của ngân hàng Quá trình phân tích dữ liệu và hồi quy mô hình nghiên cứu dưới sự hỗ trợ của phần mềm Stata 12.0 theo trình tự như sau:
Đầu tiên, thực hiện thống kê mô tả dữ liệu để xác định giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, giá trị lớn nhất và giá trị nhỏ nhất của các biến sử dụng trong mô hình nghiên cứu
Tiếp theo, kiểm tra mối liên hệ tuyến tính giữa các biến độc lập với biến phụ thuộc trong
mô hình nghiên cứu thông qua ma trận tương quan Pearson
Kế đến, thực hiện kiểm định VIF( hệ số phóng đại phương sai) để xem xét hiện tượng đa cộng tuyến có xảy ra trông mô hình hay không
Cùng với đó là kiểm định phương sai đồng nhất bằng White test để xác định được hiện tượng phương sai không đồng nhất có xuất hiện trong mô hình và tìm cách khắc phục Cuối cùng, nếu như có hiện tượng phương sai không đồng nhất khi sử dụng phương pháp OLS, tác giả thực hiện hồi quy theo phương pháp bình phương nhỏ nhất với sai số tiêu chuẩn vững
4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Trong mục này, tác giả trình bày theo trình tự đã nêu trên : thống kê mô tả dữ liệu, kiểm tra mối liên hệ tuyến tính giữa các biến, thực hiện kiểm định VIF, kiểm định White test
và cuối cùng là kết quả hồi quy từ mô hình nghiên cứu
4.1 THỐNG KÊ MÔ TẢ
Đây là một bước ban đầu nhưng cũng có tầm quan trọng không kém, bước này giúp ta thống kê được các quan sát, giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, giá trị lớn nhất, giá trị nhỏ nhất của các biến trong dữ liệu đã được thu thập
Bảng 4.1 Thống kê mô tả các biến
sát Giá trị trung bình Độ lệch chuẩn Giá trị nhỏ nhất Giá trị lớn nhất
Trang 9MARKETSHARE 341 0030975 0111717 2.52e-09 1384692
Nguồn: Kết quả tổng hợp từ nguồn Stata 12.0 Nhận xét: Từ bảng thống kê 4.1, ta có thể thấy được dữ liệu các biến độc lập (TCTR, DLR, ETA, NPL, OWNERNN, MARKETSHARE và LOANTA) đều mang giá trị dương Giá trị NPL dương có ý nghĩa nợ xấu trong giai đoạn 2009-2019 của các NHTM Việt Nam không bị mất đi hoặc giảm xuống Sự ảnh hưởng của NPL trong mô hình hồi quy cao hơn cả thị phần ngân hàng (MARKETSHARE) và loại hình ngân hàng (OWNERNN) Song bên cạnh đó, sự ảnh hưởng của tỷ lệ nợ xấu lại không quá lớn so với các giá trị cốt lõi để đánh giá hiệu quả hoạt động (TCTR, DLR, ETA, LOANTA)
4.2 MA TRẬN TƯƠNG QUAN PEARSON
ERN N
MARKE TSHAR E
LOA NTA
-0.863 8
-0.7991 1
5 0.1137 0.0744- 1
0 0.1511- 0.2370- 0.034
-1
1
8 0.1542 0.1054- 0.7334 0.043
-7
1
OWNER
NN 0.084
-6
-0.0519 0.1019 0.009
-6
-0.101 3
-0.007 9
1
MARKE
TSHARE 0.045
-3
-0.0625 0.0762 0.013
-7
-0.028 2
-0.007 0
0.298
LOANT
A 0.2199 0.1742 0.0339- 0.221
-8
-0.021 5
-0.111 3
0.055
Tác giả thực hiện kiểm tra mối liên hệ tuyến tính giữa các biến thông qua ma trận tương qua Pearson để có được cái nhìn tổng quát về sự tương quan giữa các biến phụ thuộc với
Trang 10biến độc lập Các hệ số tương quan trong mô hình được thể hiện trên bảng 4.2 bên dưới
Bảng 4.2 Ma trận tương quan giữa các biến
Nguồn: Kết quả tổng hợp từ nguồn Stata 12.0 Nhận xét : Biến TCTR có độ tương quan khá cao so với biến phụ thuộc ROA và ROE Trong khi đó biến NPL cũng có độ tương quan khá cao so với biến DLR Do đó, tác giả
sử dụng kiểm định VIF
4.3 KIỂM ĐỊNH VIF
Tác giá thực hiện kiểm định VIF để xác định có hiện tượng đa cộng tuyến xảy ra trong
mô hình nghiên cứu hay không
Bảng 4.3.1 Kết quả kiểm định VIF của biến phụ thuộc ROA
Giá trị trung bình VIF 1.41
Nguồn: Kết quả tổng hợp từ nguồn Stata 12.0
Bảng 4.3.2 Kết quả kiểm định VIF của biến phụ thuộc ROE
Giá trị trung bình VIF 1.41
Nguồn: Kết quả tổng hợp từ nguồn Stata 12.0 Nhận xét: Qua kết quả nhận được từ Stata, có thể khẳng định không có hiện tượng đa cộng tuyến xảy ra
4.4 KIỂM ĐỊNH WHITE TEST
Tác giả thực hiện kiểm định để xác định có hiện tượng phương sai không đồng nhất hay không
Trang 11Giả thuyết kiểm định : H0: Phươngsai đồng nhất
H1: Phương sai khôngđồng nhất
Bảng 4.4.1 Kết quả của kiểm định White test của biến phụ thuộc ROA
chi2(34) = 274.03
Prob > chi2 = 0.000
Nguồn: Kết quả tổng hợp từ nguồn Stata 12.0
Bảng 4.4.2 Kết quả của kiểm định White test của biến phụ thuộc ROE
chi2(34) = 133.44
Prob > chi2 = 0.0000
Nguồn: Kết quả tổng hợp từ nguồn Stata 12.0 Qua kết quả kiểm định cho thấy p = 0.0000 bé hơn các mức ý nghĩa 1%, 5% hay 10% Vậy dù ở mức ý nghĩa nào vẫn bác bỏ H0 nên phương sai không đồng nhất Để khắc phục hiện tượng này gây ra cho mô hình, tác giả dùng sai số tiêu chuẩn vững (robust standard errors)
Sau khi thực hiện tất cả các kiểm định trên, tác giả nhận thấy bộ dữ liệu hồi quy đủ điều kiện để cho ra kết quả thống kê ở mức có ý nghĩa Do vậy, tác giả thực hiện hồi quy và kết quả hồi quy được trình bày ở mục 4.5
4.3
4.5 PHÂN TÍCH KẾT QUẢ HỒI QUY
4.5.1 BIẾN PHỤ THUỘC ROA
Bảng 4.5.1 Kết quả hồi quy của biến phụ thuộc ROA
OLS
(0.935)
(0.000)
(0.023)
(0.002) MARKETSHARE 0098077
(0.358)
(0.017)