UBND TỈNH HÀ TĨNH UBND TỈNH HÀ TĨNH SỞ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN Số BC/SNN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập Tự do Hạnh phúc Hà Tĩnh, ngày tháng 01 năm 2008 BÁO CÁO TỔNG KẾT NĂM 200[.]
Trang 1UBND TỈNH HÀ TĨNH
SỞ NÔNG NGHIỆP VÀ
PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
Số: BC/SNN
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Hà Tĩnh, ngày tháng 01 năm 2008
BÁO CÁO TỔNG KẾT NĂM 2007, TRIỂN KHAI THỰC HIỆN
KẾ HOẠCH NĂM 2008 NGÀNH NÔNG NGHIỆP
VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
Năm 2007, Nông nghiệp - Nông thôn Hà Tĩnh tiếp tục nhận được sự quan tâm cao của Bộ Nông nghiệp và PTNT, của Tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh, sự phối hợp chặt chẽ giữa các Sở, Ban, Ngành, các tổ chức chính trị - xã hội, của cấp uỷ, chính quyền địa phương, cùng với sự phấn đấu của cán bộ công nhân viên và bà con nông dân, toàn ngành đạt được một số kết quả đáng khích lệ Có sự chuyển biến tích cực trong việc xây dựng và triển khai thực hiện các đề án sản xuất Công tác tham mưu chỉ đạo sản xuất kịp thời, năng động; chỉ đạo phát triển chăn nuôi phát triển khá cả về số lượng và chất lượng; chỉ đạo khắc phục hậu quả hạn hán, bão lụt kịp thời, quyết liệt Công tác tổ chức cán bộ, tuyển dụng đảm bảo theo quy trình, dân chủ, công khai Công tác quy hoạch, kế hoạch được chú trọng Dự án Hợp phần Bồi thường, hỗ trợ tái định cư Hệ thống thủy lợi Ngàn Trươi - Cẩm Trang được bố trí vốn và đã tổ chức khởi công, Dự án Kênh trục Sông Nghèn và Cống Đức Xá được Thủ tướng Chính phủ đồng ý đầu tư
Tuy nhiên, phải khẳng định năm 2007 là năm mà ngành gặp rất nhiều khó khăn, nhất là thời tiết diễn biến trái quy luật, giá cả vật tư tăng cao, các nguồn lực đầu tư không đáp ứng, dịch bệnh xẩy ra ở nhiều địa phương Nhưng với sự cố gắng của toàn ngành, sự
nổ lực của các cấp, các ngành và bà con nông dân nên về cơ bản đời sống của bà con nông dân vẫn tiếp tục được cải thiện, một số lĩnh vực đạt kết quả khá
Phần thứ nhất KẾT QUẢ THỰC HIỆN NĂM 2007
A CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC:
1 Công tác quy hoạch, kế hoạch:
- Về công tác quy hoạch: Quy hoạch phát triển các loại cây trồng, vật nuôi chủ yếu tỉnh Hà Tĩnh đã hoàn chỉnh; chiến lược Phát triển thủy lợi được phê duyệt là cơ sở định hướng cho công tác quy hoạch thuỷ lợi 2010 và tầm nhìn đến năm 2020; rà soát, quy hoạch lại 3 loại rừng đã được công bố kết quả; quy hoạch phát triển kinh tế xã hội các huyện dọc tuyến đường Hồ Chí Minh kèm theo kế hoạch triển khai thực hiện đã được ban hành nhằm giúp tỉnh và các huyện dọc tuyến đường có những giải pháp và bước đi cụ thể cho việc phát triển kinh tế - xã hội;
- Đã tham mưu xây dựng được nhiều chương trình, đề án chuyên ngành sát thực
tế, đảm bảo chất lượng như: Đề án phát triển cây cao su, Kế hoạch năm 2008 ngành Nông nghiệp và PTNT, Chương trình giống cây trồng, vật nuôi đến năm 2010, Kế hoạch hoạt động khoa học công nghệ, Chương trình hành động kế hoạch phát triển lâm sản ngoài gỗ
- Công tác xúc tiến đầu tư đạt kết quả tốt, từ các dự án do ngân sách Trung ương đầu tư như Hệ thống thuỷ lợi Ngàn Trươi - Cẩm Trang, Hệ thống Kênh trục Sông
Trang 2Nghèn và Cống Đức Xá, Đường cứu hộ Hồ chứa nước Kim Sơn được chấp nhận đầu tư; đến dự án thực hiện từ nguồn vốn Trái phiếu Chính phủ như: Hồ chứa nước Xuân Hoa, Hồ chứa nước Thượng nguồn Sông Trí được bố trí vốn để có thể đẩy nhanh tiến
độ thi công; các dự án có vốn đầu tư nước ngoài như: Dự án “Nâng cao đời sống thông qua phân cấp” do Tổ chức phát triển Quốc tế Canada (CIDA) tài trợ được đẩy nhanh tiến độ thiết kế dự án, đã có cam kết của nhà tài trọ; dự án Khắc phục hậu quả thiên tai năm 2005 đã triển khai…Thành công nhất là dự án Hợp phần Bồi thường, hỗ trợ tái định cư công trình Hệ thống thủy lợi Ngàn Trươi - Cẩm Trang đã được phê duyệt, được
bố trí vốn và đã tổ chức khởi công, phục vụ cho việc xúc tiến triển khai xây dựng hệ thống công trình đầu mối và kênh mương
2 Quản lý nhà nước về Nông- Lâm nghiệp:
Về Nông nghiệp:
- Trồng trọt: Triển khai theo quy định của Nhà nước, tạo sự chủ động cho các
huyện, thị xã, thành phố trong việc xây dựng và triển khai kế hoạch sản xuất năm 2007 Làm tốt công tác quy hoạch, kế hoạch; bố trí cơ cấu cây trồng, thời vụ hợp lý Triển khai kế hoạch sản xuất một cách chủ động và kịp thời trước những diễn biến bất lợi của thòi tiết
Chỉ đạo sản xuất có trọng tâm, trọng điểm; sau các cơn bão số 2 và số 5 đã thành lập các đoàn đi kiểm tra, chỉ đạo trực tiếp tại cơ sở Việc kiểm tra, hướng dẫn thực hiện theo quy trình, quy phạm trong sản xuất đuợc chú trọng, nhất là trong sản xuất giống
- Chăn nuôi: Chỉ đạo sát cơ sở, đúng định hướng, tập trung phát triển bò thịt,
đàn lợn nái ngoại và phát triển gia cầm Vì vậy mặc dù trong năm, dịch bệnh gia súc gia cầm xảy ra nhiều nơi nhưng chăn nuôi vẫn phát triển khá cả về lượng và chất Tổng đàn trâu bò ổn định, đàn lợn cũng như đàn gia cầm tăng mạnh
- Bảo vệ thực vật: Mặc dù công tác dự tính, dự báo, phòng, trừ sâu bệnh khá kịp
thời, song do thời tiết diễn biến phức tạp nên vụ Đông - Xuân, dịch rầy nâu ở lúa phát sinh trên diện rộng, gây thiệt hại đáng kể Sở đã chỉ đạo kịp thời, quyết liệt, các địa phương triển khai nhanh chóng có hiệu quả nên đã góp phần giảm thiệt hại xuống mức thấp nhất Vụ Hè thu, vụ Mùa và vụ Đông do công tác dự tính dự báo được chú trọng
và triển khai kịp thời nên đối tượng gây hại không đáng kể
- Thú y: Công tác kiểm dịch động vật, kiểm soát giết mổ khá chặt chẽ Tiêm
phòng văcxin ở gia súc, gia cầm đợt 1 và đợt 2/2007 đạt khá; tuy nhiên dịch bệnh ở gia súc, gia cầm phát sinh, phát triển rất phức tạp Đầu năm bệnh LMLM gia súc xuất hiện tại xã Kỳ Nam- Kỳ Anh nhưng đã được ngăn chặn, không phát sinh ra diện rộng Dịch cúm gia cầm xuất hiện tại 3 xã: Thịnh Lộc, Tân Lộc, Phù Lưu - Lộc Hà và xã Kỳ Phương - Kỳ Anh, làm tổng số gia cầm chết và phải tiêu huỷ hơn 23.000 con Dưới sự chỉ đạo sát sao của UBND tỉnh, sự tập trung quyết liệt của Sở và 2 huyện xảy ra dịch nên đã được khống chế và dập tắt được dịch Cuối tháng 12/2007, dịch LMLM lại tái xuất hiện ở huyện Hương Sơn, huyện Lộc Hà và Thành phố Hà Tĩnh
Về Lâm nghiệp:
- Kiểm lâm: Công tác bảo vệ rừng, phòng chống cháy rừng được đặc biệt chú
trọng: Đã ban hành và triển khai phương án huy động lực lượng chữa cháy rừng của tỉnh khi có cháy lớn xảy ra; tổ chức họp triển khai, tập huấn về công tác PCCCR đến tận thôn xóm kịp thời; công tác pháp chế thực hiện nghiêm túc Mặc dù đã tập trung chỉ đạo quyết liệt, triển khai đồng bộ nhằm hạn chế các vụ cháy xảy ra nhưng trong năm 2007
đã xảy ra 39 vụ cháy rừng, trong đó: 14 vụ cháy cây bụi, 02 vụ cháy rừng tự nhiên, 23
vụ cháy rừng trồng và cây bụi; diện tích bị cháy 215,8 ha, diện tích bị thiệt hại 64,42 ha
Trang 3- Lâm nghiệp: Các lĩnh vực quản lý, sử dụng và phát triển rừng đều được quan
tâm tổ chức thực hiện Chỉ đạo, hướng dẫn các chủ rừng và bà con nông dân thực hiện đúng quy trình, đúng trình tự, thủ tục thiết kế, trồng, chăm sóc và khai thác rừng Chỉ đạo các chủ rừng hoàn thành về cơ bản các chỉ tiêu kế hoạch năm 2007, góp phần bảo
vệ và phát triển rừng trên địa bàn tỉnh, tạo công ăn việc làm cho hơn 20 nghìn hộ dân, nhiều hộ đã thoát nghèo, có nhiều hộ vươn lên làm giàu; hệ thống tổ chức Lâm nghiệp dần dần được củng cố
(Có báo cáo riêng)
3 Công tác quản lý đầu tư xây dựng cơ bản:
- Công tác quản lý nhà nước trong đầu tư xây dựng được tăng cường; trình tự, thủ tục đầu tư XDCB từng bước được chuẩn hoá, góp phần làm cho chất lượng công trình ngày càng đảm bảo và tiến độ thi công được đẩy nhanh; các công trình hoàn thành
đa phần phát huy tốt hiệu quả đầu tư Năm 2007, Sở đã tổ chức kiểm tra tiến độ, chất lượng trên 25 công trình đang thi công; quá trình kiểm tra phát hiện một số sai sót, chủ yếu là các sai sót về trình tự, thủ tục thực hiện đầu tư xây dựng và đã chỉ đạo sửa chữa, uốn nắn kịp thời
- Các dự án đầu tư thuộc thẩm quyền thẩm định hoặc tham gia góp ý kiến, Sở đều thực hiện chặt chẽ, đúng quy trình, thủ tục, đảm bảo yêu cầu chất lượng
4 Thuỷ lợi, Đê điều, Phòng chống bão lụt- GNTT:
- Chủ động cân đối nguồn nước, xây dựng kế hoạch tưới tiêu và phương án tu sửa, nâng cấp hệ thống công trình; chỉ đạo, đôn đốc các đơn vị thuỷ nông và các địa phương đảm bảo tưới tiêu phục vụ sản xuất với kết quả tốt Điển hình như trong đợt đại hạn vụ Hè- Thu vừa qua, mặc dù nguồn nước khó khăn, công trình xuống cấp, kinh phí
eo hẹp nhưng ngành đã chỉ đạo quyết liệt, dùng mọi biện pháp và đã cung cấp đủ nước tưới phục vụ cho lúa sinh trưởng và phát triển, nhờ vậy đã hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại do hạn hán gây ra
- Công tác PCBL và giảm nhẹ thiên tai: Ngay từ đầu năm Sở đã tham mưu cho UBND tỉnh ra các quyết định, chỉ thị và tổ chức tốt công tác PCBL và GNTT Xây dựng phương án, tham mưu cho UBND tỉnh, Ban chỉ huy PCBL tỉnh lập các đoàn kiểm tra công tác PCBL và thực hiện công tác kiểm tra trên địa bàn toàn tỉnh, đặc biệt là các công trình trọng điểm như: La Giang, Kẻ Gỗ, Sông Rác, Kim Sơn, Hội Thống Trước, trong và sau bão lũ đều tham mưu chỉ đạo một cách quyết liệt và kịp thời
- Công tác tu bổ, sửa chữa lớn, duy tu bão dưỡng thường xuyên hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch Ngành đã chủ động để xuất phương án trình UBND tỉnh thống nhất với Bộ Nông nghiệp và PTNT cho xây dựng một số công trình, dự án mới cũng như tiếp tục thực hiện tốt các chương trình, dự án, trong đó có Chương trình nâng cấp các tuyến đê biển, cửa sông: Hữu Sông Lam, Hội Thống, Đồng Môn, Cẩm Nhượng - Cẩm Lĩnh, Kỳ Hà, Tả Nghèn
(Có báo cáo riêng)
5 Công tác quản lý Tài chính:
Công tác quản lý tài chính và tài sản công được nâng cao rõ rệt: Dự toán kinh phí của Ngành được giao kịp thời, dự toán phân bổ cho các đơn vị một cách minh bạch, dân chủ Cơ bản các đơn vị đã thực hiện đúng dự toán được duyệt, sử dụng kinh phí đúng mục đích, đúng chính sách chế độ Việc công khai tài chính ở cơ sở đã được phát huy: Hiện nay có 6 Chi cục và Văn phòng Sở hoạt động theo Nghị định
130/2006/NĐ-CP và 14 đơn vị hoạt động theo Nghị định 43/2006/NĐ- 130/2006/NĐ-CP của Chính phủ; hầu hết các đơn vị hành chính sự nghiệp đã có Quy chế hoạt động và Quy chế quản lý tài chính, chi tiêu nội bộ Việc quản lý và sử dụng kinh phí, nhất là thực hành tiết kiệm, chống lãng
Trang 4phí có tiến triển tốt Công tác quyết toán tài chính cho các đơn vị sự nghiệp, các doanh nghiệp công ích thuộc ngành thực hiện nghiêm túc, đi vào nề nếp Nhiều khó khăn, tồn tại ở một số đơn vị từng bước được tháo gỡ
6 Công tác Tổ chức - Đào tạo:
- Công tác tổ chức được thực hiện đảm bảo chặt chẽ, đúng quy định: Năm 2007
đã hoàn thành việc tiếp nhận Chi cục Kiểm lâm về Sở quản lý Đã tham mưu trình UBND tỉnh ban hành Quyết định Quy định chức năng nhiệm vụ của Chi cục Lâm nghiệp và Chi cục Kiểm lâm Một số phòng và đơn vị thuộc Sở được sắp xếp lại; một
số chức danh lãnh đạo được bổ nhiệm và bổ nhiệm lại; công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo cấp Sở và đơn vị đảm bảo dân chủ, đúng quy trình, có chất lượng
- Công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ được quan tâm đúng mức: Trong năm có 8 cán bộ, công chức, viên chức đi học cao học chuyên ngành, 4 cán bộ, công chức đi học lớp cao cấp lý luận chính trị, 3 cán bộ, công chức, viên chức thi nâng ngạch lên chuyên viên chính; 23 cán bộ, công chức đi học lớp quản lý Nhà nước ngạch chuyên viên; Ngoài ra còn tổ chức được nhiều lớp tập huấn nghiệp vụ chuyên môn như tập huấn về công tác quy hoạch Nông lâm nghiệp, nghiệp vụ kế toán cho HTX và cử cán bộ, công chức tham gia nhiều lớp tập huấn ngắn hạn khác… Quản lý, chỉ đạo đào tạo đối với Trường Trung học kỹ thuật nông nghiệp và PTNT đảm bảo yêu cầu, đúng quy định Đặc biệt là đã tổ chức kỳ thi tuyển viên chức cho các đơn vị sự nghiệp một cách nghiêm túc, đúng luật, nhằm chọn được nguồn nhân lực có chất lượng vào phục vụ cho ngành
7 Thanh tra, kiểm tra:
- Công tác thanh tra, kiểm tra tình hình chấp hành pháp luật trong các hoạt động
sự nghiệp, kinh doanh, xây dựng cơ bản, bảo vệ và phát triển rừng, chất lượng vật tư, hàng hoá được coi trọng: Năm 2007, tiến hành thanh tra về tài chính tại 4 đơn vị thuộc
Sở và 64 cơ sở sản xuất kinh doanh Nhìn chung các đơn vị thực hiện đảm bảo quy chế, một số đơn vị vi phạm đã tiến hành xử lý (Như tại Chi cục Thú y và Đoàn quy hoạch nông lâm nghiệp, xử lý hành chính về vi phạm chất lượng vật tư hàng hoá 02 vụ, xử lý
vi phạm về chất lượng giống cây trồng, vật nuôi vụ Thu đông trên địa bàn toàn tỉnh) Phát hiện và xử lý 751 vụ vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng, tịch thu trên 1.300
m3 gỗ các loại, trên 1.600 kg động vật và 5.600 kg lâm sản khác, thu nộp vào ngân sách gần 6 tỷ đồng
Công tác tiếp dân, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân được xử lý kịp thời đảm bảo đúng pháp luật (Đã tiếp nhận và giải quyết 9 đơn thư, trong đó có 6 đơn khiếu nại và 3 đơn tố cáo; đơn thư thuộc thẩm quyền xử lý chỉ có 5 đơn), không để tình trạng đơn thư tồn trọng
8 Công tác thi đua, khen thưởng:
Thực hiện đúng Luật Thi đua khen thưởng, có hướng dẫn cụ thể, kịp thời; hồ sơ, thủ tục đề nghị khen thưởng đảm bảo chất lượng và thời gian quy định Cụ thể số lượng tập thể, cá nhân đề nghị được khen thưởng năm 2007, gồm: Huân chương lao động các loại có 3 tập thể và 3 cá nhân; Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ có 2 tập thể, 5 cá nhân; Cờ thi đua của UBND tỉnh có 01 đơn vị cơ sở, Tập thể lao động xuất sắc có 30 tập thể, Chiến sỹ thi đua cấp cơ sở có 130 cá nhân, Bằng khen của UBND tỉnh có 20 tập thể và 40 cá nhân; Bằng khen của Bộ Nông nghiệp và PTNT có 10 tập thể và 20 cá nhân cùng với 30 tập thể và 150 cá nhân được đề nghị Giám đốc Sở tặng giấy khen
9 Công tác chỉ đạo, điều hành:
Trang 5- Tiếp tục thực hiện chương trình cải cách hành chính, đã có nhiều chuyển biến tích cực, góp phần vào việc hoàn thành nhiệm vụ chính trị, nhiệm vụ chuyên môn của ngành, được UBND tỉnh, Ban chỉ đạo cải cách hành chính tỉnh đánh giá là một trong những đơn vị triển khai thực hiện tốt cả 4 nội dung: Cải cách thể chế, cải cách bộ máy hành chính, xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức và cải cách tài chính công; đặc biệt là chương trình cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế “Một cửa” và áp dụng cài đặt các phần mềm quản lý văn bản và hồ sơ công việc chạy trên mạng LAN thuộc Đề án 112 của Chính phủ, Sở Nông nghiệp và PTNT được đánh giá là đơn vị thực hiện tốt nhất
- Công tác chỉ đạo, điều hành được duy trì và có sự đổi mới Hàng tuần, hàng tháng có lịch công tác cụ thể, khoa học, trong đó ưu tiên hàng đầu cho công tác chỉ đạo, kiểm tra ở cơ sở Chế độ giao ban (tuần, tháng, quý) đã đi vào nề nếp, có tác dụng cao trong điều hành chỉ đạo kịp thời công việc Năm 2007, Sở đã ban hành 2.181 văn bản các loại, trong đó có: 334 quyết định, 57 tờ trình, 1.790 công văn các loại; Xử lý 5.013 văn bản đến Tham mưu UBND tỉnh ban hành 395 văn bản (78 quyết định, 9 chỉ thị, 8 công điện, 10 thông báo )
- Mối quan hệ phối kết hợp giữa các cấp, các ngành và các địa phương cũng như với các tổ chức chính trị - xã hội, đoàn thể quần chúng ngày càng chặt chẽ và có hiệu quả cao
B HOẠT ĐỘNG SỰ NGHIỆP:
1 Điều tra, quy hoạch:
Công tác xây dựng quy hoạch, kế hoạch ngày càng nhanh, hiệu quả; đã áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, sử dụng các phần mềm chuyên dụng trong điều tra, khảo sát, quy hoạch như phần mềm xây dựng bản đồ, phần mềm hệ thống thông tin địa lý GIS, phần mềm theo dõi diễn biến tài nguyên, xây dựng cơ sở dữ liệu Ngành Một số
dữ liệu áp dụng công nghệ thông tin số hoá phục vụ có hiệu quả cao cho công tác quản
lý, chỉ đạo, điều hành của Ngành
2 Hoạt động Khoa học - Công nghệ, công tác Khuyến nông - Khuyến lâm
và công tác giống:
- Ứng dụng, triển khai một số tiến bộ khoa học về công nghệ giống vào sản xuất,
có nhiều giống mới được sản xuất đại trà trên toàn tỉnh Năm 2007 diện tích giống lúa năng suất, chất lượng cao như: PC6, P6, ĐB6… đã được mở rộng; một số giống có triển vọng như các giống lúa: Khang dân đột biến, nếp 98, nếp 97, TBR-1, BT1, lúa lai Thục Hưng 6, các giống ngô C919, CP3Q đã đưa vào xản xuất thử; một số giống lạc có năng suất cao đã được đưa vào sản xuất trên diện rộng như: V79, QĐ12, Sen lai MD7, L12, L14, L18 Giống cây ăn quả, đã sản xuất trên 8 ngàn cây bưởi, bảo tồn và lưu giữ trên 420 cây đã qua bình tuyển công nhận cây, vườn cây đầu dòng
- Trong chăn nuôi đã đưa tinh bò Bratman là giống bò thịt cao sản có năng suất chất lượng tốt thay thế cho bò sind, thay thế dùng tinh đông viên phối nhân tạo bò bằng tinh cọng rạ có nhiều ưu điểm như tỷ lệ thụ thai cao hơn từ 15-20% chất lượng bê tốt hơn; Đã thay đàn lợn đực giống Đại bạch có tỷ lệ nạc thấp (46-47 % ) bằng lợn đực giống Landrac có tỷ lệ nạc cao (50-51 %) phục vụ phối tinh nhân tạo cho hiệu quả kinh
tế cao Hiện đang nhập đực giống Durốc của Mỹ và đực giống có tỷ lệ nạc trên 55% vào nuôi khảo nghiệm Đến nay cả tỉnh đã có 3.000 con lợn nái ngoại sinh sản chiếm 10% tổng đàn
Trong Lâm nghiệp: Đã ứng dụng rộng rãi công nghệ sản xuất giống cây bằng phương pháp mô hom
Trang 6Trong Thuỷ lợi: Đưa các phần mềm mới vào ứng dụng trong khảo sát và thiết kế các công trình (Như hệ thống quản lý điều hành tưới Scada trong hệ thống kênh tưới
Kẻ Gỗ); áp dụng công nghệ khoan phụt vữa áp lực cao vào thi công sửa chữa cống Kẻ
Gỗ, đập Đá Bạc và đập Vực Trống
Đạt được kết quả trên là nhờ hoạt động KNCN được đẩy mạnh, chuyển giao đến tận người dân thông qua các chương trình phát trên sóng truyền hình Hà Tĩnh như
“Nông nghiệp - Nông thôn”, “Trao đổi cùng nhà nông”; tờ tin khuyến nông; trang Nông nghiệp - Nông thôn trên báo Hà Tĩnh; Tạp chí “Khuyến nông và Thị trường” ban
hành hàng tuần; câu lạc bộ khuyến nông ở cơ sở, công tác tập huấn đào tạo
3 Công tác đào tạo nghề chuyên nghiệp:
Trường Trung học Kỹ thuật nông nghiệp đào tạo được số lượng sinh viên ngày càng tăng, chất lượng đảm bảo, khi ra trường hầu hết đều có việc làm ổn định Công tác tuyển sinh theo đúng quy chế tuyển sinh và chỉ tiêu được UBND tỉnh giao, năm
2007 tuyển sinh hệ trung cấp 350 học sinh, hệ dạy nghề dài hạn 150 học sinh, tương đương năm 2006, hệ trung cấp học nghề 80 học viên, tăng 14% so với năm 2006
4 Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn:
Bằng nhiều nguồn vốn: Đầu tư của Chương trình MTQG Nước sạch và VSMT nông thôn, hỗ trợ của ngân sách địa phương cùng với đóng góp của nhân dân, năm
2007 đã xây dựng được 6 công trình cấp nước tập trung, 250 lu chứa nước mưa, 40 giếng khoan, 60 hố xí 2 ngăn, 03 công trình cấp nước và vệ sinh trường học Triển khai tập huấn được 12 lớp với nội dung chủ yếu giới thiệu về tác dụng nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn tới sức khoẻ con người Tỷ lệ số dân được sử dụng nước sạch tăng thêm trong năm 5%, tỷ lệ số dân nông thôn được sử dụng nước sạch tính đến cuối năm là 60% Tỷ lệ số hộ có hố xí hợp vệ sinh tính đến cuối năm là 56%
C KẾT QUẢ CỤ THỂ VỀ SẢN XUẤT, KINH DOANH VÀ CÁC LĨNH VỰC KHÁC
I CÁC CHỈ TIÊU TỔNG HỢP:
Giá trị sản xuất Nông - Lâm - Ngư nghiệp đạt 4.243 tỷ đồng, bằng 94,2% kế hoạch và bằng 98,5% so với năm 2006, tỷ trọng GDP ngành Nông - Lâm - Ngư nghiệp bằng 42,3% GDP toàn tỉnh;
Riêng giá trị sản xuất ngành Nông- Lâm nghiệp đạt 3.808 tỷ đồng (giảm 1,3% so với 2006), trong đó:
- Giá trị sản xuất Nông nghiệp đạt 3.550 tỷ đồng: Chăn nuôi đạt 1.299 tỷ đồng, bằng 121% so với 2006; tỷ trọng chăn nuôi trong sản xuất nông nghiệp đạt 36,6% (là năm mà ngành chăn nuôi chiếm tỷ trọng cao nhất từ trước đến nay); tỷ lệ bò lai zêbu đạt 14% tổng đàn Trồng trọt 2.139 tỷ đồng, bằng 89,1% so với 2006; sản lượng lương thực đạt 40,1 vạn tấn, giảm 19% so với 2006 Giá trị bình quân trên đơn vị diện tích canh tác đạt 20 triệu đồng/ha/năm
- Giá trị sản xuất Lâm nghiệp đạt 258 tỷ đồng (Giá trị sản xuất các sản phẩm gỗ
và lâm sản được tính cho giá trị sản xuất công nghiệp); độ che phủ rừng đạt 48,4%
II KẾT QUẢ CỤ THỂ:
1 Nông nghiệp:
1.1 Trồng trọt:
1.1.1 Cây lương thực có hạt: Tổng sản lượng lương thực có hạt đạt 40,1 vạn tấn
(Giảm 9,3 vạn tấn), trong đó:
Lúa: Diện tích cả năm 100.844 ha (Đông xuân: 54.514 ha, Hè thu: 38.855 ha, Mùa: 7.475 ha), giảm 1.005 ha (giảm 1%); sản lượng 37,7 vạn tấn, giảm 9,8 vạn tấn
Trang 7Ngô: Diện tích cả năm 8.584 ha, tăng 963 ha (tăng 13%); sản lượng 24.239 tấn, tăng 4.686 tấn (tăng 26%)
1.1.2 Cây công nghiệp ngắn ngày và rau đậu thực phẩm:
Lạc: Diện tích 20.880, tăng 627 ha (3%); sản lượng 37.097 tấn, giảm 250 tấn
(0,7%); Các giống mới có năng suất như: L14, V79, QĐ12 tiếp tục được đưa vào sản
xuất diện rộng Đậu xanh: Diện tích 11.857 ha; sản lượng: 3.656 tấn, giảm 6.061 tấn
(62,38 %)
Cây ăn quả: Cam: Diện tích 2.180 ha (cam bù: 600 ha; cam chanh: 1.580 ha) Sản lượng 11.054 tấn, gảm 105 tấn (0,94%) Bưởi: Diện tích 1.402 ha (Bưởi Phúc Trạch: 1.043 ha); sản lượng 6.926 tấn, giảm 113 tấn (1,6%)
Cây chè: Diện tích 880 ha; sản lượng 3.360 tấn búp tươi, tăng 170 tấn (5,3%)
(Có phụ biểu chi tiết kèm theo)
1.2 Chăn nuôi:
Mặc dù dịch LMLM, cúm gia cầm xảy ra, song với tinh thần chỉ đạo quyết liệt cùng với ý thức của người chăn nuôi nên năm 2007 tổng đàn gia súc, gia cầm tiếp tục được phát triển, đặc biệt đàn lợn và đàn gia cầm tăng mạnh so với cùng kỳ năm 2006, đàn bò ổn định Theo số liệu kết quả điều tra của Cục Thống kê tỉnh: Tổng đàn bò 210.139 con, trong đó bò lai Sind chiếm trên 14%; đàn trâu: 109.780 con, tăng 0,5% (532 con); đàn lợn: 422.639 con, tăng 4,4% (17.625 con), tỷ lệ lợn nái ngoại đạt 12%
so tổng đàn lợn nái; đàn gia cầm 4.379 nghìn con, tăng 5,3% (tăng 221 nghìn con).
Công tác giống được tăng cường nhằm nâng cao chất lượng đàn Kết qủa phối giống bò và lợn khá cao: Phối giống bò được 16.287/19.000 con, đạt 86% KH, trong
đó thụ tinh nhân tạo 5.151/9.500 con, đạt 54,2%, bằng 120% so với năm 2006 Sản xuất được 55.700 liều tinh lợn, đạt 87% KH, liều tinh phối dẫn đạt tỷ lệ cao 34.658/55.700 liều, đạt 62%, tỷ lệ thụ thai đạt trên 80% Việc cung ứng giống lợn đảm bảo chất lượng, cơ cấu chủng loại được thay đổi Trung tâm Giống chăn nuôi cung ứng giống lợn được 1.679 con, đạt 93% KH, bằng 104% so với năm 2006, trong đó lợn giống hậu bị bố mẹ 601con
( Có phụ biểu chi tiết kèm theo).
2 Lâm nghiệp:
2.1 Công tác lâm sinh: Các chỉ tiêu về lâm sinh cơ bản hoàn thành, một số chỉ
tiêu đã vượt mức kế hoạch như trồng rừng, trồng cây phân tán Năm 2007, trồng mới rừng được 7.227/6.300 ha, đạt 115% kế hoạch, trồng cây phân tán được 22,5/10 triệu cây, đạt 225% kế hoạch Khoán bảo vệ rừng 66.123/69.025 ha, đạt 96% kế hoạch; một
số đơn vị đã huy động được vốn tự có phục vụ công tác bảo vệ rừng; chăm sóc rừng 13.684/13.826 ha, đạt 99% kế hoạch; khoanh nuôi xúc tiến tái sinh rừng 7.387/13.938
ha, đạt 53% kế hoạch
2.2 Khai thác, chế biến lâm sản: Do ảnh hưởng của mưa bão, lũ lụt nên tiến độ
khai thác, sản lượng khai thác bị giảm sút: Khai thác rừng tự nhiên: 9.043/10.000 m3, đạt 90,4% kế hoạch; khai thác, tỉa thưa rừng trồng: 57.253/70.000 m3, đạt 81,8% KH, bằng 190,8% so với năm 2006; khai thác nhựa thông: 1.162/1.400 tấn, đạt 83% KH Sản lượng gỗ tận thu cây đổ do bão số 5 là 105.600 m3
(Có báo cáo riêng)
3 Diêm nghiệp:
Tổng diện tích đồng muối 330 ha, năm 2007 diện tích đưa vào sản xuất 252ha; sản lượng 23.000/22.000 tấn, vượt 1.000 tấn (5%) so với kế hoạch, tăng 18% so với năm 2006; trong đó sản lượng muối đưa vào chế biến 7.500 tấn, tăng 67%, sản lượng muối sạch 650 tấn
Trang 84 Hoạt động của các Doanh nghiệp, HTX và ngành nghề nông thôn:
- Các công ty, cơ sở cung ứng giống, vật tư, phân bón đã cơ bản đáp ứng nhu cầu cho bà con nông dân về các loại giống cây, giống con có năng suất cao, chất lượng tốt, nổi bật là cung ứng giống kịp thời và đảm bảo chất lượng trong bổ cứu sản xuất vụ Đông
- Các doanh nghiệp thuỷ nông hoạt động ngày càng hiệu quả hơn, việc điều tiết nước phục vụ sản xuất đáp ứng kịp thời, thể hiện rõ nhất là trong đợt đại hạn vụ Hè-Thu 2007 Đã có đổi mới và chủ động cao trong: Đầu vụ tổ chức ra quân làm thuỷ lợi nội đồng, nạo vét kênh mương, tu sửa công trình thủy lợi; điều hành tưới đúng quy trình kỹ thuật Kết quả tưới năm 2007 đạt khá: Tổng diện tích tưới của cả năm là 88.691 ha, trong đó Đông- Xuân 2006 - 2007 tưới được 49.836 ha/50.000 ha, đạt 99,6% KH, Hè- Thu tưới đựoc 38.855 ha/38.000 ha, đạt 102,2% kế hoạch
- Toàn tỉnh hiện có 178 HTX nông nghiệp, trong đó hợp tác xã chuyển đổi và thành lập mới có 18 HTX Hoạt động của các HTX đã từng bước có định hướng, Sở đã
có những hướng dẫn xây dựng phương án sản xuất kinh doanh, hoạt động có hiệu quả, trong năm đã phối hợp với Trường cán bộ quản lý nông nghiệp Trung ương I mở 2 lớp tập huấn bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý cho chủ nhiệm và kế toán trưởng của HTX Nhờ vậy, số HTX hoạt động có lãi ngày càng tăng (Từ 25% lên 45%)
- Ngành nghề nông thôn: Với trên 30 làng nghề truyền thống, tập trung vào các ngành nghề chính như: Sản xuất đồ gỗ, hàng kim khí, chế biến lương thực, chế biến thuỷ sản, sản xuất hàng mây tre đan, chiếu cói, nón Một số làng nghề đã có sự đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng quy mô sản xuất nhưng tốc độ còn chậm
- Kinh tế trang trại: Hiện có 403 trang trại đạt tiêu chuẩn theo tiêu chí mới, nhìn chung hoạt động của trang trại đã dần đi vào nề nếp, có quy mô và hiệu quả
5 Đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng:
- Năm 2007, kết cấu hạ tầng cho Nông nghiệp - Nông thôn được quan tâm đầu
tư khá lớn Tổng vốn đầu tư xây dựng cơ bản 238.386/288.554 triệu đồng, đạt 82,6%
kế hoạch, trong đó các công trình do Trung ương quản lý đạt 51.293/59.550 triệu đồng, đạt 86% kế hoạch, công trình do địa phương quản lý đạt 187.093/229.004 triệu đồng, đạt 81,7% kế hoạch (trong đó vốn đầu tư cho Chương trình nâng cấp các tuyến đê biển,
đê cửa sông: 45 tỷ đồng, Dự án chống sạt sạt lở bờ sông: 15 tỷ đồng)
- Các nguồn hỗ trợ khác:
+ Sửa chữa các công trình trước mùa mưa bão: 2,580 tỷ đồng
+ Kinh phí chống hạn: 11 tỷ đồng
+ Kinh phí khắc phục hậu quả bão lụt cho các đơn vị quản lý khai thác công trình thuỷ lợi 5 tỷ đồng để sửa chữa công trình và 2,462 tỷ đồng để cấp bù thuỷ lợi phí
do thất thu
- Về kiên cố hoá kênh mương nội đồng, mặc dù kinh phí Nhà nước hỗ trợ muộn, nhưng các địa phương đã chủ động thực hiện được 87 km/104 km, đạt 83,6% kế hoạch
(Có phụ biểu chi tiết kèm theo)
D NHỮNG TỒN TẠI, HẠN CHẾ VÀ NGUYÊN NHÂN CHỦ YẾU:
1 Những tồn tại, hạn chế:
1.1 Trong sản xuất Nông nghiệp: Việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế nói chung, cơ cấu cây trồng vật nuôi nói riêng chuyển biến vẫn chậm; công tác chuyển giao các tiến
bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp còn hạn chế, giống lúa xuân dài ngày vẫn còn chiếm một tỷ lệ lớn; công tác khuyến nông ở cơ sở còn yếu kém, việc triển
Trang 9khai các mô hình khuyến nông đã có sự đổi mới nhưng chưa thực sự có hiệu quả; vấn
đề xúc tiến thương mại và chế biến chưa được quan tâm đúng mức
1.2 Công tác chỉ đạo và giải pháp phòng chống dịch, bệnh ở cây trồng, vật nuôi, việc chấp hành lịch thời vụ còn bộc lộ nhiều yếu kém Dịch bệnh ở gia súc, gia cầm diễn biến phức tạp: Dịch lở mồm long móng gia súc, dịch cúm gia cầm diễn biến phức tạp, công tác quản lý dịch tễ, nhất là tiêm phòng ở cơ sở bộc lộ nhiều yếu kém
1.3 Việc thực hiện chức năng lý nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng còn nhiều hạn chế, bất cập, để xảy ra một số vụ việc chặt phá rừng trái phép, vi phạm Luật Bảo
vệ và phát triển rừng như: Ở Hương Khê, ở Khu BTTN Kẻ Gỗ; chuyển đổi mục đích
sử dụng rừng chưa đúng quy định của Công ty Cổ phần thuỷ điện Hương Sơn; việc tiến hành các thủ tục bàn giao 4.600 ha rừng cho địa phương quản lý, sử dụng ở Hương Sơn triển khai chậm; công tác triển khai thực hiện giao đất khoán rừng ở một số chủ rừng còn tuỳ tiện Lực lượng kiểm lâm địa bàn chưa bám sát cơ sở để tham mưu cho chính quyền địa phương làm tốt công tác bảo vệ rừng
1.4 Hoạt động sản xuất kinh doanh ở các doanh nghiệp công ích, các đơn vị sự nghiệp có thu gặp nhiều khó khăn, nhiều đơn vị chưa chủ động đề ra chương trình, giải pháp nên nguồn thu mang lại thấp, phần lớn các đơn vị còn dựa vào ngân sách
1.5 Công tác quản lý chất lượng hàng hoá phục vụ sản xuất nông nghiệp còn bất cập, tình trạng hàng giả, hàng kém chất lượng chưa được kiểm soát chặt chẽ Quản lý nhà nước chuyên ngành về xây dựng cơ bản chưa được chú trọng
1.6 Kinh phí đầu tư hàng năm không đáp ứng yêu cầu, dẫn đến kết cấu hạ tầng ở hầu hết các địa phương, đơn vị còn hạn chế Những nhu cầu tối thiểu cần thiết của Ngành và ngay cả chính sách đã ban hành cũng không đủ kinh phí để thực hiện Bão số
2 và số 5 làm hư hỏng nghiêm trọng hệ thống kênh mương, hồ đập, cơ sở hạ tầng lâm nghiệp nhưng kinh phí để khắc phục chỉ được một phần rất nhỏ
1.7 Trong công tác điều hành: Mặc dầu mối quan hệ giữa Sở với các huyện, thị, thành phố tuy đã được củng cố và tăng cường, nhưng sự phối kết hợp vẫn chưa chặt chẽ Một số cán bộ công chức còn bộc lộ sự hạn chế về năng lực cũng như tâm huyết
2 Một số nguyên nhân chủ yếu:
2.1 Nguyên nhân khách quan:
- Năm 2007, là năm có thời tiết bất thuận nhất đối với sản xuất nông nghiệp so gần chục năm trở lại đây Đầu vụ Đông - Xuân nền nhiệt độ cao làm rút ngắn thời gian sinh trưởng, lúa trổ sớm đồng thời do đầu vụ ấm tạo điều kiện cho bị rầy nâu phá hại Đến tháng 4, tất cả các trà lúa đều trổ bông và liên tục chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc với nền nhiệt độ thấp dẫn đến lúa trổ gặp rét, năng suất giảm Bên cạnh đó mưa nhiều trong tháng 1, 2 đã làm cho tiến độ gieo trỉa lạc, ngô vụ Xuân chậm, các loại cây ăn quả như bưởi, cam ra hoa thụ phấn kém dẫn đến mất mùa; dịch bệnh gia súc gia cầm phát sinh phát triển ở nhiều nơi
+ Vụ Hè Thu- Mùa: Nền nhiệt độ trong các tháng 6,7 cao, nắng nóng diễn ra gay gắt và hạn hán trên diện rộng, các cây trồng cạn như: Đậu, vừng đều không đạt kế hoạch gieo trồng Số diện tích đã gieo trồng sinh trưởng phát triển kém, nhiều diện tích không cho thu hoạch Từ 04- 9/8 bão số 2 gây mưa với cường suất lớn trên diện rộng, gây lũ lớn nhất trong vòng 50 năm qua làm 70 xã thuộc 5 huyện bị ngập nặng, trong đó
có hầu hết diện tích lúa Hè Thu đang làm đòng và cao điểm của thời kỳ trổ bông, đậu đang trong thời kỳ ra hoa kết quả, các vùng nuôi trồng thuỷ sản sắp đến vụ thu hoạch nên đã gây thiệt hại rất lớn về người và tài sản, đặc biệt là mùa màng
+ Vụ Thu Đông: Trong khi đang dồn sức để khắc phục hậu quả bão số 2 thì đầu tháng 10, tỉnh ta lại phải gánh chịu thêm cơn bão số 5- cơn bão mạnh với sức gió giật
Trang 10trên cấp 11, 12 kèm theo mưa lớn dài ngày đã làm xoá đi những thành quả mà toàn ngành và bà con nông dân mới gây dựng lại được Diện tích lúa mùa bị ảnh hưởng nặng nề; hầu hết các loại cây trồng vụ Đông không đạt kế hoạch gieo trồng, sinh trưởng kém, sâu bệnh phát sinh gây hại
- Giá vật tư hàng hoá phục vụ sản xuất tăng, những vùng chuyên canh lúa chủ yếu lấy công làm lãi, lợi nhuận trong nông nghiệp đạt thấp Dẫn đến nông dân không mặn mà với đầu tư sản xuất nông nghiệp
- Hệ thống văn bản dưới luật về Lâm nghiệp ban hành chậm, chồng chéo, không sát thực tế, dẫn đến việc thực hiện ở địa phương khó khăn, lúng túng
2.2 Nguyên nhân chủ quan:
- Công tác chỉ đạo sản xuất còn bộc lộ sự thiếu kiểm tra, thiếu kiên quyết, một
số địa phương thực hiện nhiệm vụ sản xuất đạt kết quả thấp Vai trò chỉ đạo của một số
cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương và các tổ chức trong hệ thống chính trị chưa cao, còn tư tưởng bảo thủ, ngại khó, thiếu linh hoạt và chưa sát thực tế sản xuất; việc chấp hành lịch thời vụ đang bộc lộ nhiều yếu điểm: Vụ Đông Xuân 2006-2007 vẫn còn nhiều địa phương nông dân gieo cấy trước lịch thời vụ 7-10 ngày, chỉ đạo sản xuất vụ Đông chưa thực sự quyết liệt
- Việc tổ chức chỉ đạo tiêm phòng dịch bệnh gia súc đạt kết quả thấp
- Một số mô hình khuyến nông triển khai nhiều nhưng chậm được tổng kết, đánh giá, nhân ra diện rộng
- Một số chương trình và một số khâu ách yếu như phát triển kinh tế HTX, phát triển cây bưởi Phúc Trạch, Chương trình Nước sạch và VSMTNT chưa được quan tâm đầu tư chỉ đạo
- Để sai phạm, vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng xảy ra một số nơi Tham mưu tổ chức triển khai thực hiện quy hoạch 3 loại rừng vừa vội, vừa lúng túng
- Ngân sách Nhà nước đầu tư cho sản xuất nông nghiệp để thúc đẩy đầu tư phát triển sản xuất còn quá ít so với nhu cầu Năm 2007 chính sách đầu tư cho phát triển nông nghiệp 6.083 triệu đồng (Chỉ bằng 50% so với Quảng Bình và 30% so với Nghệ An), một số chính sách ban hành chậm, thiếu đồng bộ điển hình như: Chính sách hỗ trợ xây dựng trang trại chăn nuôi tập trung; chính sách về đầu tư hạ tầng cho Lâm nghiệp
Phần thứ hai
MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ VÀ CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN KẾ HOẠCH NĂM 2008
I Phương hướng, mục tiêu chung và các chỉ tiêu chủ yếu:
1 Định hướng chung:
Bảo đảm duy trì tốc độ tăng trưởng ổn định và bền vững của toàn ngành nông, lâm, diêm nghiệp trên cơ sở tiếp tục chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá; tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ
về nâng cao năng suất, chất lượng, bền vững, an toàn thực phẩm và hiệu quả xã hội gắn với hội nhập kinh tế quốc tế Tăng trưởng kinh tế phải gắn với nâng cao hiệu quả
và khả năng cạnh tranh, xoá đói giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nông dân, bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái Đẩy mạnh xây dựng kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất, tập trung cao đối với các công trình trọng điểm Tiếp tục huy động các nguồn lực xây dựng nông thôn mới Làm tốt hơn nữa công tác cải cách hành
chính Bộ Nông nghiệp và PTNT lấy tiêu đề năm hành động là “An toàn vệ sinh thực phẩm”; đối với tỉnh ta, ngoài chỉ đạo của Bộ, Sở Nông nghiệp và PTNT xác định cần