Quản lý là hoạt động dựa trên sự nhậnthức và vận dụng các quy luật thực tế khách quan, Thống Kê có bộ công cụphong phú để phân tích nhận thức và biểu hiện được bản chất, tính quy luật củ
Trang 1Đề tài: Vận dụng phương pháp Thống Kê phân tích hiệu quả sản xuất
kinh doanh của Xí nghiệp may xuất khẩu Thanh Trì năm 2003-2004.
===================
Lời mở đầu
Trong xu thế hội nhập và phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thế giới, hiệuquả sản xuất kinh doanh là một trong những yếu tố quyết định sự tồn tại, mởrộng và phát triển của mỗi đơn vị sản xuất kinh doanh Với hệ thống thương mại
đã phát triển trên toàn cầu, giao lưu hợp tác buộc mỗi đơn vị, mỗi nước phảicạnh tranh với toàn bộ phần còn lại của thế giới Để tăng cường khả năng cạnhtranh các đơn vị kinh tế luôn phải nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh củamình, làm tốt công tác Marketing và không ngừng hoàn thiện nâng cao chấtlượng sản phẩm
Thống Kê được coi là một trong những công cụ sắc bén nhất để nhận thứchiện tượng kinh tế xã hội, vì nó cho phép định lượng các chất, gắn định lượngvới định tính, phản ánh hiện thực khách quan, làm cơ sở để cho các quyết địnhquản lý có căn cứ thực tế và hiệu quả Quản lý là hoạt động dựa trên sự nhậnthức và vận dụng các quy luật thực tế khách quan, Thống Kê có bộ công cụphong phú để phân tích nhận thức và biểu hiện được bản chất, tính quy luật củahiện tượng làm cơ sở cho việc ra các quyết định quản lý: kiểm kê, kiểm soát.Muốn hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả thì luôn phải cập nhậtnhững thông tin về hoạt động sản xuất và tiêu thụ, Thống Kê là một công cụ ưu
tú vì vậy không thể thiếu, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Chính vì vậy, sau thời gian thực tập ở Xí nghiệp may xuất khẩu Thanh Trì,dựa trên những kiến thức Thống Kê đã được học tại trường, đề tài em lựa chọn
là “ Vận dụng phương pháp Thống Kê phân tích hiệu quả sản xuất kinh doanh của Xí nghiệp may xuất khẩu Thanh Trì “
Bài viết gồm 5 phần:
Lời mở đầu
Chương I: Khái niệm, ý nghĩa của hiệu quả sản xuất kinh doanh
Chương II: Hệ thống chỉ tiêu Thống Kê hiệu quả sản xuất kinh doanh
Chương III: Vận dụng phương pháp Thống Kê phân tích hiệu quảsản xuất kinh doanh của Xí nghiệp may xuất khẩu Thanh Trì trên cơ sở số liệuThống Kê về hiệu quả và chi phí
Kết luận
Trang 2ươ ng I : Khái niệm, ý nghĩa của hiệu quả sản xuất kinh doanh
I Khái niệm hiệu quả kinh tế và hiệu quả sản xuất kinh doanh
1 Khái niệm chung
Hiệu quả kinh tế là một vấn đề quan trọng cả về lý thuyết và thực tiễn Đảmbảo hiệu quả kinh tế là vấn đề bao trùm thể hiện của chất lượng của toàn bộcông tác quản lý kinh tế vì suy cho cùng quản lý kinh tế là đảm bảo tạo ra kếtquả cuối cùng, hiệu quả cuối cùng của mọi quá trình kinh tế Dự thảo chiến lược
ổn định và phát triển kinh tế xã hội của nước ta đã chỉ rõ “ Hiệu quả kinh tế
-xã hội là tiêu chuẩn quan trọng nhất của sự phát triển|”
Các nhà kinh tế và Thống Kê có nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả dođiều kiện lịch sử và giác độ nghiên cứu từ nhiều phía khác nhau Nhìn chunghiệu quả được xem xét dưới hai góc độ: hiệu quả sản xuất - kinh doanh và hiệuquả kinh tế
1.1.Khái niệm hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế là phạm trù kinh tế quan trọng biểu hiện quan hệ so sánhgiữa kết quả kinh tế mà xã hội đạt được với chi phí bỏ ra để đạt được hiệu quả
đó Vào buổi bình minh của kinh tế học, trong đời sống kinh tế chính trị từ 500năm trước công nguyên các nhà tư tưởng Hy Lạp đã chú ý quan tâm đến hiệuquả, nhưng chủ yếu họ mới chỉ quan tâm đến phạm trù hiệu quả kinh tế:
Theo Xanophon (427-355 trước CN) tính hiệu quả tập trung vào khả năngcủa con người được hướng dẫn bởi khả năng lãnh đạo tốt như là biến số chínhtrong việc quản lý Một nhà quản lý tốt phấn đấu gia tăng kích thước thặng dưkinh tế của bất kỳ đơn vị nào anh ta giám sát, điều này đạt được bằng kỹ năng,
và nguyên tắc kinh tế cơ bản nhất là sự phân công lao động Ông quy sự giatăng của cả sản lượng và chất lượng sản phẩm vào nguyên tắc phân công laođộng
Theo Plato (427-327 trước CN) Thừa nhận chuyên môn hoá và phân cônglao động như nguồn gốc của hiệu quả và năng suất
Theo Aristotle ( 384-322 trước CN) phân phối công bằng tạo ra hiệu quảkinh tế
Các nhà kinh tế học thời kỳ trung cổ cho rằng hiệu quả kinh tế được tínhthông qua các chỉ về kết quả:
A.Smith trong tác phẩm “Tìm kiếm bản chất và nguồn gốc của sự giàu cócủa các quốc gia” cho rằng hiệu quả được phản ánh thông qua tiền lãi và lợinhuận, lợi nhuận là tiền lời đối với tư bản hơn là thu nhập của doanh nghiệp.Tiền lãi được xem là đại diện của lợi nhuận, tức là coi hiệu quả là kết quả đạtđược trong hoạt động kinh tế, là doanh thu và lợi nhuận Sức lao động của conngười trong mỗi quốc gia là nguồn gốc của sự giàu có và là vốn liếng đầu tiêntạo ra mọi của cải cần thiết cho đời sống xã hội Vì vậy để sản xuất có hiệu quảcần một sự phân công lao động trong các tổ chức, các ngành trong một quốc gia
Trang 3Ogiephri ( nhà kinh tế người Pháp) cũng đồng quan điểm như vậy.
Trong bản dự thảo phương pháp tính hệ thống chỉ tiêu hiệu quả kinh tế củaviện nghiên cứu khoa học thuộc uỷ ban kế hoạch nhà nước Liên Xô cũ đã xemhiệu quả kinh tế là tốc độ tăng thu nhập quốc dân và tổng sản phẩm xã hội Nhưvậy ở đây hiệu quả được đồng nhất với chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động sảnxuất kinh doanh hoạc nhịp độ tăng các chỉ tiêu đó Rõ rang các quan điểm nàykhông hợp lý, Kết quả sản xuất kinh doanh có thể tăng do chi phí tăng hay mởrộng sử dụng các nguồn lực sản xuất Nếu cùng một kết quả sản xuất mà có haimức chi phí khác nhau thì quan điểm này có chung một hiệu quả
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế đặc biệt quan trọng, thuộc mọi lĩnhvực hoạt động kinh tế, nó là một chỉ tiêu sản xuất biểu hiện mức độ của tiết kiệmchi phí trong một đơn vị kết quả hữu ích và mức tăng khối lượng kết quả hữu íchcủa hoạt động sản xuất vật chất trong một thời kỳ, góp phần làm tăng thêm lợiích của xã hội, của nền kinh tế quốc dân Ưu điểm của quan điểm này là gắn kếtquả với chi phí, coi kết quả là sự phản ánh trình độ sử dụng chi phí Nhưngnhược điểm là chưa rõ ràng, chưa nhất quán và thiếu tính hiện thực ở phươngdiện xác định và tính toán Cụ thể là “chỉ tiêu so sánh biểu hiện mức độ tiết kiệmchi phí trong 1 đơn vị kết quả hữu ích” vì rằng muốn biết mức độ tiết kiệm thìphải có hai phương án để so sánh hoặc phải có định mức, tiêu chuẩn để so sánh.Điều đó chỉ có trong lĩnh vực kế hoạch chọn lọc các phương án sản xuất hoặc dự
án đầu tư Trong Thống Kê, mỗi đối tượng trong một phạm vi thời gian vàkhông gian cụ thể chỉ có một kết quả và một chi phí tương ứng, vì vậy rất khó đểbiết được mức độ tiết kiệm
Quan điểm khái niệm hiệu quả kinh tế phải xuất phát từ bản chất và tiêuchuẩn của hiệu quả kinh tế, do vậy khái niệm về hiệu quả kinh tế phải chỉ rõtrình độ sử dụng các chỉ tiêu sản xuất kinh doanh và nguồn vốn sản xuất, phảichỉ rõ kết quả cuối cùng đối với người lao động, doanh nghiệp và xã hội Nóicách khác, khái niệm hiệu quả kinh tế phải bộc lộ rõ ràng bản chất của hiệu quảkinh tế, bộc lộ được rõ biểu hiện mặt chất của việc sử dụng các yếu tố chi phísản xuất cũng như kết quả thu được
Các nhà kinh tế học hiện đại cho rằng: việc xác định bản chất và khái niệmcủa hiệu quả kinh tế phải xuất phát từ luận điểm của triết học Mark, những luậnđiểm của lý thuyết hệ thống và lý thuyết Thống Kê:
Hiệu quả kinh tế là phạm trù kinh tế quan trọng biểu hiện quan hệ so sánhgiữa kết quả kinh tế mà xã hội đã đạt được với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả
đó Kết quả được đem ra so sánh có thể là kết quả ban đầu, kết quả trung gianhay kết quả cuối cùng Nó có thể là kết quả trực tiếp hay kết quả gián tiếp Chiphí được chọn để so sánh cũng bao gồm nhiều loại khác nhau: chi phí thườngxuyên, chi phí một lần (nguồn lực của nền sản xuất xã hội) Tương ứng các chỉtiêu hiệu quả và chi phí khác nhau có các chỉ tiêu hiệu quả khác nhau, có tácdụng phân tích khác nhau
Theo quan điểm của lý thuyết hệ thống hiệu quả là một phạm trù triết hcọ vàkinh tế phản ánh nhu cầu của quy luật kinh tế tiết kiệm thời gian, quy luật
Trang 4nầyhọt động trong nhiều phương thức sản xuất vì vậy phạm trù này cũng tồn tạitrong nhiều phương thức sản xuất, ở đâu và lúc nào con người cũng muốn hoạtđộng một cách có hiệu quả nhất Trong nền kinh tế, hiệu quả là mục tiêu khôngphải cuối cùng mà là mục tiêu phương tiện xuyên xuất mọi hoạt động kinh tế.Trong kế hoạch và quản lý kinh tế nói chung hiệu quả là quan hệ so sánh tối ưugiữa đầu ra và đầu vào, là lợi ích lớn nhất thu được với một chi phí nhất định(hoặc một kết quả nhất định với một chi phí nhỏ nhất)
Trong Thống Kê, hiệu quả kinh tế là các chỉ tiêu đặc trưng kinh tế - kỹ thuật,xác định bằng tỷ lệ so sánh giữa đầu ra và đầu vào của hệ thống sản xuất xã hội.Phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực vào việc tạo ra các lợi ích vật chấtnhằm đạt các mục tiêu kinh tế - xã hội Việc đạt tới mục tiêu kinh tế - xã hội (đạttới hiệu quả mong muốn ) là việc của kế hoạch, của lãnh đạo và quản lý Thống
Kê phục vụ cho công cuộc đó bằng sự phản ánh trạng thái của hệ thống mức độhiệu quả đã đạt được trong quá khứ, ở dạng các thông số kinh tế-kỹ thuật của hệthống sản xuất xã hội Nhưng các chỉ tiêu đặc trưng kinh tế - kỹ thuật của hệthống kinh tế xã hội không phải tất cả đều là chỉ tiêu hiệu quả và việc pảhn ánhtrình độ sử dụng các nguồn lực xã hội vào sản xuất sản phẩm của các chỉ tiêuhiệu quả kinh tế cũng mang tính chất tương đối
Ở dạng khái quát nhất, hiệu quả là các đặc trưng kinh tế - kỹ thuật xác địnhbằng tỷ lệ so sánh giữa đầu ra và đầu vào của hệ thống Với nền sản xuất xã hội
có thể nói cụ thể hơn ở phương diện Thống Kê: hiệu quả kinh tế phản ánh trình
độ sử dụng các nguồn lực của xã hội trong sản xuất thông qua các chỉ tiêu đặctrưng kinh tế - kỹ thuật được xác định bằng tỷ lệ so sánh giữa các chỉ tiêu phảnánh kết quả đạt được về kinh tế với các chỉ tiêu phản ánh chi phí đã bỏ ra hoặcnguồn sản xuất được huy động vào sản xuất
1.2 Khái niệm hiệu quả sản xuất kinh doanh
Vấn đề hiệu quả sản xuất kinh doanh đã được các nhà khoa học đi sâunghiên cứu từ những năm 1930, đặc biệt được tập trung nghiên cứu từ nhữngnăm 1960 trở lại đây Có rất nhiều khái niệm được đưa ra:
Hiệu quả sản xuất kinh doanh là mức độ hữu ích của sản phẩm sản xuất ra,tức là giá trị sử dụng của nó chứ không phải giá trị Theo quan điểm này, mức
độ thoả mãn nhu cầu xã hội phụ thuộc vào các tác dụng vật chất cụ thể chứkhông phải giá trị trừu tượng nào đó Do đó thường bị lẫn lộn giữa các kháiniệm hiệu quả và kết quả kinh doanh, mục tiêu kinh doanh Kết quả thường phảnánh những cái thu được sau một quá trình sản xuất kinh doanh, kết quả là mụctiêu của doanh nghiệp và có thể được biểu hiện bằng đơn vị hiện vật hay giá trị.Hiệu quả phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực sản xuất, nó không thể đobằng đơn vị hiện vật hay đơn vị giá trị mà là một phạm trù tương đối Trênphương diện tính toán Thống Kê Chỉ tiêu hiệu quả là một chỉ tiêu tương đốicường độ, phản ánh 1 đơn vị đầu vào tương ứng với bao nhiêu đơn vị đầu ra.Nếu kết quả là mục tiêu của quá trình sản xuất thì hiệu quả là phương tiện để cóthể đạt được các mục tiêu đó Trong nền kinh tế, hiệu quả không phải là mục
Trang 5tiêu cuối cùng mà là mục tiêu phương tiện xuyên xuất trong mọi hoạt động kinh
tế Ở đây chúng ta cần phân biệt giữa hiệu quả và vai trò của nó Hiệu quả nóichung hay hiệu quả sản xuất kinh doanh nói riêng có ý nghĩa rất lớn trong việcnâng cao mức sống nhân dân, nó là phương tiện để đi đến thoả mãn các mục tiêucao hơn là không ngừng thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng và sự phát triển củamọi thành viên trong xã hội, bản thân hiệu quả không phải là mục tiêu mà chỉ làphương tiện, phải xác định nó ở dạng công cụ chứ không phải tác dụng cuốicùng của nó
Hiệu quả sản xuất kinh doanh là sự tăng trưởng kinh tế được phản ánh quanhịp độ tăng trưởng của các chỉ tiêu kinh tế Cách hiểu này chỉ đứng trênphương diện biến động theo thời gian Hiệu quả sẽ cao khi có nhịp độ tăng cácchỉ tiêu đó cao Tức là một đơn vị sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả kinh tế khicác chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất kinh doanh tăng theo thời gian, ví dụ Lợinhuận của doanh nghiệp năm 2005 so với năm 2003 tăng 1.2 lần, tức là doanhnghiệp đó đã sản xuất kinh doanh có hiệu quả Tuy nhiên quan điểm này khôngtính đến việc nếu chi phí sản xuất hoặc các nguồn lực được huy động tăng nhanhhơn thì sao? Hơn nữa điều kiện sản xuất năm hiện tại khác năm trước, các yếu tốbên trong và bên ngoài của nền kinh tế có ảnh hưởng khác nhau, việc năm gốc
so sánh cũng có ảnh hưởng lớn đến kết quả so sánh Nếu năm gốc bị mất mùa,thiên tai, cấm vận… kết quả kinh tế đạt được thấp thì năm nghiên cứu có hiệuquả cao, với mỗi năm gốc khác nhau chúng ta có các mức hiệu quả khác nhaucủa cùng một năm nghiên cứu
Hiệu quả sản xuất kinh doanh là các chỉ tiêu được xác định bằng tỉ lệ so sánhgiữa kết quả và chi phí, định nghĩa này chỉ đưa ra cách xác lập các chỉ tiêu hiệuquả chứ không toát lên bản chất của vấn đề Nếu tỉ lệ so sánh giữa kết quả và chiphí mà kết quả lớn lớn hơn chi phí tức là doanh nghiệp sản xuất kinh doanh cóhiệu quả
Hiệu quả sản xuất kinh doanh là mức độ tiết kiệm chi phí và mức độ tăng kếtquả kinh tế, đây là cách hiểu theo biểu hiện của bản chất chứ không phải là kháiniệm về hiệu quả kinh tế và cũng là mục tiêu phấn đấu của tất cả các đơn vị sảnxuất kinh doanh là giảm chi phí sản xuất, nâng cao kết quả
Hiệu quả sản xuất kinh doanh là mức tăng của kết quả sản xuất kinh doanhtrên mỗi lao động hay mức doanh lợi của vốn sản xuất kinh doanh, theo cáchhiểu này hiệu quả sản xuất kinh doanh được quy về một chỉ tiêu tổng hợp cụ thểnào đó, hay đây chính là hiệu quả cận biên của mỗi đơn vị chi phí ra
Hiệu quả sản xuất kinh doanh là hiệu quả tài chính của doanh nghiệp: coihiệu quả sản xuất kinh doanh là hiệu quả tài chính của doanh nghiệp tức là muốn
đề cập đến mối quan hệ giữa lợi ích kinh tế mà doanh nghiệp nhận được và chiphí mà doanh nghiệp bỏ ra để có được lợi ích kinh tế đó Quan điểm này đúngvới các nhà đầu tư khi xét hiệu quả các dự án đầu tư nhưng không đúng với cácdoanh nghiệp đang sản xuất kinh doanh Vì hiệu quả tài chính chỉ liên quan đếnthu chi có liên quan trực tiếp các nhà đầu tư trong chi phí khai thác hàng nămkhông xét đến các yếu tố khấu hao tài sản vì giá trị của nó được thể hiện ở chi
Trang 6phí đầu tư, còn đối với doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, chi phí khấu hao làmột yếu tố chi phí.
Theo P Samueleson và W.Nordaus cho rằng: “Hiệu quả là 1 mối quan tâmcủa kinh tế học - có lẽ là mối quan tâm trung tâm duy nhất” Hiệu quả nghĩa làkhông lãng phí, hiệu quả sản xuất kinh doanh diễn ra khi xã hội không thể tăngsản lượng một hàng hoá nào mà không cắt giảm sản lượng hàng hoá khác Mộtnền kinh tế có hiệu quả trên giới hạn khả năng sản xuất của nó Thực chất củaquan điểm này đề cập đến khía cạnh phân bổ có hiệu quả các nguồn lực sản xuất
xã hội Trong cách hiểu này, rõ ràng phân bổ các nguồn lực kinh tế sao cho đạtđược việc sử dụng mọi nguồn lực trên đường giới hạn khả năng sản xuất sẽ làmcho nền kinh tế có hiệu quả và rõ ràng xét trên phương diện lý thuyết thì đây làmức hiệu quả kinh tế cao nhất mà mỗi nền kinh tế có thể đạt được Xét trên giác
độ lý thuyết hiệu quả sản xuất kinh doanh chỉ có thể đạt được trên đường giớihạn năng lực sản xuất của doanh nghiệp Tuy nhiên để đạt mức hiệu quả sảnxuất kinh doanh còn rất nhiều điều kiện, trong đó còn đòi hỏi phải dự báo vàquyết định sản xuất theo quy mô phù hợp với cầu thị trường
Giới hạn khả năng sản xuất được đặc trưng bởi chỉ tiêu tổng sản lượng tiềmnăng, là mức sản lượng cao nhất có thể đạt được trong một điều kiện công nghệ
và lao động nhất định, đôi khi còn gọi là “ sản lượng trong điều kiện có nhiềucông ăn việc làm” Tỷ lệ giữa tổng sản lượng thực tế và tổng sẩn lượng tiềmnăng là chỉ tiêu hiệu quả Chỉ tiêu tuyệt đối chênh lệch giữa sản lượng tiềm năng
và sản lượng thực tế là phần sản phẩm tiềm năng mà xã hội không sử dụngđược, bị lãng phí Theo quan điểm này hiệu quả thể hiện sự so sánh mức thực tế
và mức tối đa về sản lượng, tỷ lệ so sánh đó càng gần 1 càng có hiệu quả, bằng 1khi 2 mức độ bằng nhau
Hiệu quả sản xuất còn được xác định theo chỉ tiêu hiệu quả tuyệt đối tức là: Hiệu quả sản xuất = Kết quả - chi phí
Quan điểm này ít được thừa nhận do người ta cho rằng quan điểm này nhầmlẫn giữa phạm trù hiệu quả sản xuất kinh doanh với mô tả sự chêng lệch kết quả
và hao phí nguồn lực Chênh lệch kết quả - chi phí luôn là số tuyệt đối phản ánhmức độ đạt được một mặt nào đó nên cũng mang bản chất là kết quả quá trìnhsản xuất kinh doanh và không bao giờ phản ánh đượ trình độ lợi dụng các nguồnlực
Hiệu quả sản xuất kinh doanh luôn là một yếu tố có ảnh hưởng rất lớn đếnnền kinh tế, vì vậy cần có một khái niệm bao quát tất cả các mặt và biểu hiệncủa nó:
Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế, phản ánh trình độkhai thác các nguồn lực trong quá trình tái sản xuất nhằm thực hiện mục tiêukinh doanh của doanh nghiệp, nó là chỉ tiêu tương đối biểu hiện quan hệ so sánhgiữa kết quả sản xuất kinh doanh với chi phí sản xuất kinh doanh ( hiệu quảdạng thuận), hoặc ngược lại là quan hệ so sánh giữa chi phí sản xuất kinh doanhvới kết quả sản xuất kinh doanh (hiệu quả dạng nghịch) Các chỉ tiêu hiệu quảsản xuất kinh doanh dạng thuận còn có thể được gọi là các chỉ tiêu năng suất,
Trang 7dạng nghịch có thể được gọi là suất tiêu hao Hiệu quả sản xuất kinh doanh biểuhiện sự tập trung của sự phát triển kinh tế theo chiều sâu, phản ánh trình độ khaithác các nguồn lực và trình độ chi phí các nguồn lực đó trong quá trình tái sảnxuất nhằm thực hiện mục tiêu kinh doanh Phát triển kinh tế theo chiều rộng làhuy động mọi nguồn lực vào sản xuất kinh doanh, tăng thêm vốn, bổ xung laođộng và kỹ thuật, mở mang nghành nghề, xây dựng thêm nhiều xí nghiệp, tạo ranhiều mặt hàng mới Phát triển kinh tế theo chiều sâu là đẩy mạnh cách mạngkhoa học kỹ thuật và công nghệ sản xuất, tiến nhanh lên hiện đại hoá nâng caotrình độ sử dụng các nguồn lực, trú trọng chất lượng sản phẩm và dịch vụ, pháttriển kinh tế theo chiều sâu nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế Như vậy hiệu quảsản xuất kinh doanh là thước đo ngày càng trở nên quan trọng của sự tăngtrưởng kinh tế và là chỗ dựa cơ bản để đánh giá việc thực hiện mục tiêu kinh tếcủa doanh nghiệp trong từng thời kỳ.
1.3 Phân biệt hiệu quả sản xuất kinh doanh và hiệu quả kinh tế
Từ các khái niệm trên cho thấy: hiệu quả kinh tế có nội dung rộng hơn, nókhông chỉ về kết quả kinh tế mà mà cả kết quả xã hội đạt được tức là hiệu quảkinh tế nền sản xuất xã hội bao gồm hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội Trongkhi đó hiệu quả sản xuất kinh doanh là phạm trù kinh tế chỉ phản ánh trình độkhai thác nguồn lực trong quá trình tái sản xuất nhằm thực hiện mục tiêu kinhdoanh của doanh nghiệp, nói cách khác hiệu quả sản xuất kinh doanh chỉ là một
bộ phận của hiệu quả kinh tế
Hiệu quả sản xuất kinh doanh là mối quan tâm hàng đầu của các doanhnghiệp hoặc các nhà đầu tư, hiệu quả kinh tế là mối quan tâm của toàn xã hội.Hiệu quả sản xuất kinh doanh được xem xét trên quan điểm doanh nghiệp.hiệu quả kinh tế được xem xét theo quan điểm xã hội
Hiệu quả sản xuất kinh doanh được xem xét theo quan điểm bộ phận, hiệuquả kinh tế đưcợ xem xét trên quan, điểm tổng thể Quan hệ giữa hiệu quả sảnxuất kinh doanh và hiệu quả kinh tế là quan hệ giữa lợi ích bộ phận và lợi íchtổng thể Một mối quan hệ thống nhất có mâu thuẫn
2 Phân loại hiệu quả sản xuất kinh doanh
2.1 Theo tác dụng của hiệu quả sản xuất kinh doanh.
-Hiệu quả kinh tế: phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực để đạt các mụctiêu kinh tế của các thời kỳ và biểu hiện qua các chỉ tiêu phản ánh kết quả sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp như: lợi nhuận, giá trị gia tăng…
-Hiệu quả xã hội : phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực sản xuất xã hộinhằm đạt được các mục tiêu xã hội nhất định, biểu hiện qua số lao động đượcgiải quyết việc làm, nâng cao phúc lợi xã hội, cải thiện điều kiện lao động, vệsinh môi trường…
-Hiệu quả an ninh, quốc phòng: sức mạnh kinh tế của một quốc gia góp phầnvào làm tăng thêm sức mạnh an ninh quốc phòng
Trang 8-Hiệu quả đầu tư: biểu hiện qua các dự án đầu tư hay thu hút vốn đầu tưnước ngoài, ngoài ra là các kết quả thu được từ các dự án đầu tư, dự án đầu tưtăng thêm…
-Hiệu quả môi trường: các doanh nghiệp khi sản xuất kinh doanh có thể gây
ra các tác dụng ảnh hưởng đến môi trường, các ảnh hưởng này có thể là tích cựchay tiêu cực, tuy nhiên nói đến hiệu quả môi trường thường là nhắc đến các ảnhhưởng tích cực của các hoạt động sản xuất kinh doanh, ví dụ như các doanhnghiệp khi sản xuất kinh doanh áp dụng các công nghệ sạch…
2.2 Theo nội dung tính toán:
-Hiệu quả dạng thuận:
Kết quả đầu ra
Hiệu quả kinh tế =
Chi phí đầu vào
-Hiệu quả toàn phần (hay hiệu quả đầy đủ): tính chung cho toàn bộ kết quả
và toàn bộ chi phí của từng yếu tố hoặc tính chung cho tổng nguồn lực
-Hiệu quả đầu tư tăng thêm( hay cận biên): chỉ tính cho phần đầu tư tăngthêm và kết quả tăng thêm của thời kỳ tính toán
2.4 Theo hình thái biểu hiện:
-Hiệu quả ẩn: góp phần thực hiện các mục tiêu xã hội
-Hiệu quả hiện: thể hiện qua các chỉ tiêu về kết quả sản xuất kinh doanh Hiện nay các doanh nghiệp thường mới chỉ tính hiệu quả sản xuất kinhdoanh dưới dạng hiện
3 Quan điểm và tiêu chuẩn đánh giá về hiệu quả
Phương diện khái quát, theo quan điểm triết học, tiêu chuẩn là căn cứ cơ bản
và chủ yếu để nhận rõ thực tế khách quan, đảm bảo nhận thức chính xác sự vậthoặc hiện tượng nghiên cứu và phân biệt đúng sai Chúng thường là một chỉ tiêuhoặc một tiêu thức để đánh giá một hệ thống có hoạt động phù hợp với mục tiêuhay không Tiêu chuẩn theo nghĩa khái quát là tiêu thức (tínhchất, nét đặctrưng) đặc biệt để đánh giá một tiêu thức khác phù hợp với những điều kiện nhấtđịnh, hay nó là cái “ngưỡng” là mức căn cứ để kết luận có hiệu quả hay không
về một chỉ tiêu hiệu quả đang xét Ở phương diện kinh tế việc xác định các cộtmốc, mức ấy là rất phức tạp, tuỳ thuộc ở phương diện xem xét và quan điểmnhìn nhận của người nghiên cứu, mục đích, bản chất cảu hệ thống kinh tế đượcxem xét Trong lĩnh vực kinh tế tiêu chuẩn mang tính chất tương đối, nó co dãn,linh hoạt theo hoàn cảnh khách quan và chủ quan nhất định Điều đó lý giải cho
Trang 9việc vì sao người ta ít nói đến những con số của tiêu chuẩn hiệu quả lằmcn cứđánh giá các hoạt động kinh tế Vì nó mang tính chất định tính nhiều hơn là địnhlượng Hiện nay còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về tiêu chuẩn đánh giáhiệu quả.
3.1 Bản chất và tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế
a Bản chất của hiệu quả kinh tế - xã hội là nâng cao hiệu quả kinh tế nền sảnxuất xã hội, là thực hiện yêu cầu của quy luật tiết kiệm thời gian, biểu hiện trình
độ sử dụng các nguồn lực của xã hội Nó có ý nghĩa quan trọng đối với yêu cầutăng trưởng và phát triển kinh tế nói riêng và sự phát triển của xã hội loài ngườinói chung C Mark đã cho rằng: hiệu quả hay quy luật tiết kiệm thời gian là mộtquy luật có tầm quan trọng đặc biệt, tồn tại trong nhiều phương thức sản xuất,mọi hoạt động của con người đều tuân theo quy luật đó, nó quyết định động lựcphát triển của lực lượng sản xuất, tạo điều kiện phát triển văn minh của xã hội vànâng cao đời sống của loài người qua mọi thời đại Nâng cao hiệu quả kinh tế -
xã hội là một trong những yêu cầu khách quan của tất cả các hình thái kinh tế
Để đảm bảo hiệu quả kinh tế nền sản xuất xã hội cần đảm bảo sự tồn tại hữu
cơ cảu ba loại lợi ích: lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể và lợi ích xã hội Xã hộiquan tâm đến GO, GDP vì vậy tăng GO và GDP là cơ sở để xác định hiệu quảtheo quan điểm xã hội Ngoài ra chúng ta có thể phân tích hiệu quả kinh tế - xãhội thông qua các chỉ tiêu:
Tăng thu ngân sách: mọi doanh nghiệp khi tiến hành các hoạt động sản xuấtkinh doanh đều phải có nhiệm vụ nộp thuế cho ngân sách nhà nước dưới nhiềuhình thức, nộp thuế là quyền lợi và cũng là nghĩa vụ của mỗi người, mỗi doanhnghiệp: thuế doanh thu, thuế lợi tức, thuế đất, thuế VAT… Nhà nước sử dụngnhững khoản thu này để chi cho các hoạt động phát triển của nền kinh tế quốcdân và các lĩnh vực phi sản xuất, phân phối lại thu nhập…
Tạo công ăn việc làm và nâng cao mức sống cho người lao động: ngoài tạoviệc làm cho người lao động, các doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả góp phầnnâng cao mức sống cho người lao động Xét trên giác độ kinh tế việc nâng caomức sống cho người dân được thể hiện qua các chỉ tiêu như: tăng thu nhập bìnhquân đầu người, tăng đầu tư sản xuất, tăng phúc lợi xã hội…
Tái phân phối phúc lợi xã hội: sự phát triển không đồng đều về mặt kinh tếgiữa các vùng lãnh thổ và tầng lớp dân cư do các yếu tố chủ quan và khách quannhư: địa lý kinh tế, nguồn lực, tài nguyên… là khá phổ biến, hiệu quả kinh tếgóp phần xoá bỏ các cách biệt này, phân phối lại lợi ích xã hội
b Một số nhà kinh tế cho rằng tiêu chuẩn hiệu quả là nội hàm của phạm trùhiệu quả, là biểu hiện bản chất của phạm trù hiệu quả kinh tế Nói cách khác họquan niệm tiêu chuẩn hiệu quả đồng nghĩa với nội dung hiệu quả Tiêu chuẩnhiệu quả kinh tế phản ánh ở dạng chung nhất phạm trù hiệu quả kinh tế Tiêuchuẩn hiệu quả kinh tế được biểu hiện gián tiếp thông qua một hệ thống chỉ tiêu.Nếu tiêu chuẩn biểu hiện mặt lượng của hiệu quả kinh tế thì hệ thống chỉ tiêubiểu hiện đặc trưng số lượng của hiệu quả kinh tế Dưới chủ nghĩa xã hội, tiêu
Trang 10chuẩn của hiệu quả kinh tế nền sản xuất xã hội là tiết kiệm lao động xã hội haynói khác đi là tăng năng suất lao động xã hội Theo sự giải thích của Mark: “ Sựtăng lên của sức sản xuất xã hội hay năng suất lao động chúng ta hiểu nói chung
là sự thay đổi trong cách thức lao động, một sự thay đổi làm rút ngắn thời gianlao động xã hội cần thiết để sản xuất ra một hàng hoá sao cho một số lượng laođộng ít hơn mà lại có được một sức sản xuất ra nhiều giá trị sử dụng hơn”.Người còn chỉ rõ: “ năng suất lao động tăng lên biểu hiện ở chỗ phần lao độngsống giảm bớt còn phần lao động quá khứ thì tăng lên, nhưng tăng lên như thếnào để cho tổng số lao động chứa trong hàng hoá ấy giảm đi hay nói cách kháclao động sống giảm bớt nhiều hơn là lao động quá khứ tăng lên”
Có quan điểm cho rằng: tiêu chuẩn hiệu quả là hiệu quả tối ưu được xác địnhbằng phương pháp tối ưu, tức là mức kỳ vọng hướng tới mức tối đa kết quả cóthể, tiêu chuẩn hiệu quả là sự chỉ dẫn về tư tưởng trong hoạt động kinh tế, Max
về hiệu quả, Min về chi phí mà không chỉ rõ phải là bao nhiêu mới được coi làhiệu quả Tiêu chuẩn hiệu quả là cái mà người ta mong đợi
Ở cấp vi mô, các nhà kinh tế tư bản chủ nghĩa và một số nhà kinh tế khác ởcác nước chủ nghĩa xã hội coi tiêu chuẩn hiệu quả là tiêu chuẩn lợi nhuận, cólợi nhuận là có hiệu quả, thua lỗ là không có hiệu quả, lợi nhuận càng nhiều hiệuquả càng cao
Có ý kiến cho rằng tiêu chuẩn hiệu quả là biểu hiện biến đổi phù hợp củađộng thái các chỉ tiêu kết quả, phải so sánh với năm trước các chỉ tiêu hiệu quảtăng giảm như thế nào, các chỉ tiêu như năng suất lao động, mức tăng kết quảtrên 1 đồng chi phí… tăng hơn so với kỳ trước mới là hiệu quả, các chỉ tiêuthuận (sự tăng lên của chúng là hợp quy luật) thì tiêu chuẩn hiệu quả alf xuhướng tăng; các chỉ tiêu nghịch (theo nghĩa sự giảm đi của chúng theo thời gian
là hợp quy luật) thì tiêu chuẩn hiệu quả là xu hướng giảm
Ví dụ:
quảMức năng suất lao động bình quân (W) W Max
Mức tiền lương cho 1 đơn vị sản phẩm (TL) TL Min
Tiêu hao vật chất cho 1 đơn vị sản phẩm (NVN) NVN Min
Những xu hướng động thái làm tiêu chuẩn cho các chỉ tiêu hiệu quả cũng chỉmang tính chất định tính Max hay Min mà không chỉ rõ được mức độ của xuhướng đó, cần có tăng lên là được, còn cụ thể tăng bao nhiêu phần trăm thìkhông định trước được Xu hướng là Min nhưng giảm bao nhiêu thì không cầnbiết, đó là chưa kể sự xác đĩnhu hướng Max, Min cần có ở trên chưa dựa vào cơ
sở phân tích khoa học các quy luật tác động nội tại quá trình sản xuất Quanđiểm về hiệu quả nêu trên sẽ có ích trong việc nhận biết và phân tích hiệu quảnếu tiêu chuẩn hiệu quả đề ra cho từng chỉ tiêu cụ thể có cơ sở khoa học Nắm
Trang 11được động thái các chỉ tiêu là điều rất quan trọng trong quản lý kinh tế, diễnbiến trong quá khứ và hiện tại sẽ giúp ích nhiều cho tương lai
Quan điểm phổ biến trong các nhà kinh tế Đông Âu và Liên Xô cũ cho rằng:Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả nền kinh tế do quy luật kinh tế cơ bản quyết định,tiêu chuẩn hiệu quả phải gắn liền với mục tiêu của phương thức sản xuất
Trong tất cả các quan điểm đã trình bầy trên thì quan điểm cuối cùng đượcthừa nhận rộng rãi hơn cả, theo đó tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế nền sảnxuất xã hội là đạt được kết quả kinh tế cao nhất Hiệu quả kinh tế của nền sảnxuất xã hội cần được tính ở tất cả các phạm vi của hệ thống kinh tế nói chung(xã hội, ngành,doanh nghiệp), hơn thế nữa xã hội còn tồn tại 3 lợi ích (nhà nước,tập thể, người lao động) có mối quan hệ hữu cơ với nhau nên tiêu chuẩn đánhgái hiệu quả kinh tế có niểu hiện khác nhau ở các đối tượng xem xét Phạm vi xãhội: tăng thu nhập quốc dân và tổng sản phẩm xã hội; phạm vi ngành: tăng tổngsản lượng và sản lượng thuần tuý; phạm vi doanh nghiệp: tăng lợi nhuận và sảnlượng thuần tuý, hai chỉ tiêu này vừa đảm bảo lợi ích doanh nghiệp vừa đảm bảolợi ích chung
Đáp ứng yêu cầu theo các lĩnh vực nghiên cứu khác nhau ở các phạm vikhác nhau, ta có thể chia thành các trường hợp:
Ở kinh tế vi mô, tiêu chuẩn hiệu quả kinh tế là mức bình quân tính cho toànnền kinh tế hoặc ngành về sản lượng kết quả kinh tế thu được ở kết quả đầu ratính trên 1 đơn vị chi phí đầu vào (chi phí hoặc nguồn)
Trong lĩnh vực kế hoạch, tiêu chuẩn hiệu quả kinh tế để lựa chọn phương ánsản xuất hoặc đầu tư là hệ số hiệu quả định mức, thường được xác định bằngmức trung bình hoặc mức trung bình tiên tiến hiện tại đã đạt được Nếu có nhiềuphương án vượt hiệu quả định mức thì tiêu chuẩn hiệu quả kinh tế là phương ántốt nhất, tối ưu theo mục tiêu đã xác định
Ở kinh tế vĩ mô, tiêu chuẩn hiệu quả kinh tế là mức sản phẩm cuối cùng bìnhquân đầu người tăng lên Mục tiêu của nền sản xuất xã hội là không ngừng thoảmãn nhu cầu vật chất và tinh thần thường xuyên tăng lên và sự phát triển tàondiện của mọi thành viên trongxh trên cơ sở phát triển sản xuất Để đạt mục tiêu
đó sản xuất không chỉ tăng lên nói chung mà phải tăng lên tính theo đầu ngườiTiêu chuẩn hiệu quả xác định phải vừa có thể định lượng rõ ràng vừa phùhợp với từng lĩnh vực, đối tượng nghiên cứu Trong kinh tế vi mô, việc xác địnhtiêu chuẩn hiệu quả là mức trung bình toàn bộ hoặc từng ngành là tuỳ điều kiện,giữa các ngành có sự khác biệt lớn về trình độ phát triển thì tiêu chuẩn hiệu quảxác định riêng cho từng ngành để đánh giá các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất sẽphù hợp hơn
3.2 Bản chất và tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh
a Bản chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh là nâng cao năng suất lao động
xã hội và tiết kiệm lao động lao động xã hội Đây là hai mặt có mối liên hệ mậtthiết của vấn đề hiệu quả Chính việc khan hiếm nguồn lực và sử dụng chúng cótính chất cạnh tranh nhằm thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của xã hội, đặt ra
Trang 12vấn đề phải khai thác tận dụng triệt để và tiết kiệm các nguồn lực Để đạt đượcmục tiêu kinh doanh các doanh nghiệp buộc phải trú trọng các điều kiện nội tại,phát huy nguồn lực của các nhân tố sản xuất và tiết kiệm mọi chi phí Yêu cầucủa nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là phải đạt hiệu quả tối đa với chi phítối thiểu hay chính xác hơn là hiệu quả tối đa với chi phí nhất định, hoặc kết quảnhất định với chi phí tối thiểu Chi phí ở đây được hiểu theo nghĩa rộng là chiphí tạo ra nguồn lực đồng thời cũng phải tính đến cả chi phí cơ hội - là chi phícho giá trị của việc lựa chọn tốt nhất bị bỏ qua hay giá trị của của việc hi sinhcông việc kinh doanh khác để thực hiện công việc kinh doanh này Chi phí cơhội phải được hạch toán vào chi phí kế toán, và loại ra khỏi lợi nhuận kế toán đểthấy được lợi ích thực sự Cách tính như vậy sẽ khó khăn cho các nhà kinhdoanh lựa chọn phương án tốt nhất, các mặt hàng sản xuất có hiệu quả hơn.Phản ánh một cách toàn diện các khoản chi phí.
Biểu hiện của hiệu quả sản xuất kinh doanh là lợi ích mà thước đo cơ bảncủa nó là tiền cụ thể hơn là phần lợi nhuận của doanh nghiệp Đây là mục tiêu cơbản, số một chi phối toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh
b Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh: để đánh giá hiệu quảsản xuất kinh doanh chúng ta có thể đánh giá dưới hai giác độ: đánh giá ở trạngthái tĩnh và đánh giá ở trạng thái động Tiêu chuẩn đánh gía ở trạng thái động làphương pháp so sánh trị số của các chỉ tiêu hiệu quả tính được theo thời gian.Các ma trận hiệu quả có thể được tính toán trên cơ sở tài liệu Thống Kê về kếtquả và chi phí của hai thời kỳ (kỳ báo cáo và kỳ gốc) Từ các ma trận hiệu quảnày ta có thể tiến hành lập bảng so sánh trị số của các chỉ tiêu theo từng nhóm(các chỉ tiêu hiệu quả toàn phần, hiệu quả cận biên dạng thuận hoặc dạngnghịch) Nếu kết quả so sánh cho thấy tốc độ phát triển của các chỉ tiêu dạngthuận lớn hơn 100%, còn tốc độ phát triển của các chỉ tiêu dạng nghịch nhỏ hơn100% phản ánh hiệu quả tăng, còn ngược lại nếu tốc độ phát triển của các chỉtiêu dạng nghịch lớn hơn 100%, của dạng thuận nhỏ hơn 100% thì hiệu quảgiảm Nguyên nhân cảu hiệu quả tăng (hoặc giảm) là do tốc độ phát triển củacác chỉ tiêu kết quả lớn hơn ( hoặc nhỏ hơn) tốc độ phát triển của các chỉ tiêu kếtquả hoặc nguồn lực Ngoài tiêu chuẩn đánh giá theo trạng thái động, chúng tacòn có thể đánh giá theo trạng thái tĩnh Tiêu chuẩn đánh gía theo trạng thái tĩnh
là hệ thống các chỉ tiêu được đặt ra sẵn (các mức nào đó về hiệu quả) dựa vào đó
có thể kết luận rằng sản xuất kinh doanh có đạt hiệu quả hay không Gần đâyChính phủ đã đưa ra 6 tiêu chí đánh giá hiệu quả:
Bảo toàn và phát triển được vốn sản xuất, trích khấu hao TSCĐ theo đúngquy định của chế độ hiện hành’
Kinh doanh có lãi, nộp đủ tiền thu sử dụng vốn và lập đủ các quỹ doanhnghiệp như: quỹ dự phòng tài chính, trợ cấp mất việc làm cho người lao động,đầu tư phát triển, quỹ khen thưởng…
Trả đầy đủ các khoản nợ đến hạn ( tức không có nợ quá hạn)
Nộp đủ tiền BHXH, BHYT cho người lao động theo quy định
Nộp đủ các khoản thuế theo luật định
Trang 13Trả lương cho người lao động tối thiểu phải bằng mức bình quân của cácdoanh nghiệp trên cùng địa bàn
Chỉ khi nào đạt được 6 tiêu chuẩn trên thì chỉ tiêu hiệu quả sản xuất kinhdoanh mới có vai trò nổi bật là mức doanh lợi hay tỷ suất lợi nhuận trên vốnmới là chỉ tiêu thực và không tồn tại tình trạng lãi giả lỗ thật Các doanh nghiệphoạt động không hiệu quả khi làm ăn thua lỗ từ 2 năm liên tục trở lên mà tổng sốluỹ kế nợ khó đòi, các khoản giảm giá tài sản đã chiếm trên 3/4 vốn sản xuấtkinh doanh và không có thị trường tiêu thụ ổn định Như vậy nếu tiêu chuẩnđánh giá dạng động đánh giá hiệu quả thông qua so sánh kết quả và chi phí củahai kỳ khác nhau thì tiêu chuẩn đánh giá dạng tĩnh tức là đánh giá tại một thờiđiểm nhưng có phạm vi thời gian và không gian rộng hơn, các chỉ tiêu đánh giákhông phải là của 1 năm mà phải qua một số năm kinh doanh Tiêu chuẩn đánhgiá dạng tĩnh thể hiện không chỉ mối quan hệ nội bộ ngành mà cả với bên ngoàitức là với Ngân hàng, Tín dụng, Bảo hiểm…
3.3 Quan điểm đánh giá về hiệu quả kinh tế và hiệu quả sản xuất kinh doanh 3.3.1 Hiệu quả kinh tế.
Hiệu quả kinh tế nói chung và hiệu quả sản xuất kinh doanh nói riêng là mộtchỉ tiêu tương đối, thời kỳ Đó là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp vì vậy có nhiềuquan điểm đánh giá về nó:
-Quan điểm 1: là biểu hiện của lượng sản xuất ra hay chính là biểu hiện củakết quả sản xuất: Sản lượng sản phẩm (q) có thể là sản phẩm hiện vật hoặc sảnphẩm hiện vật quy chuẩn, Giá trị sản xuất (GO), Giá trị gia tăng (VA), Giá trịgia tăng thuần (NVA), Tổng sản phẩm sản xuất (GDP), Lợi nhuận (M)
-Quan điểm 2: là đại lượng so sánh giữa kết quả đạt được so với chi phí đã
bỏ ra để đạt được kết quả sản xuất kinh doanh đó, nói một cách tổng quát hiệuquả sản xuất kinh doanh là một đại lượng so sánh giữa kết quả của đầu ra so vớichi phí của đầu vào Nó được biểu hiện dưới hai dạng, dạng so sánh tương đối(dạng phân số)
Kết quả đầu ra
Hiệu quả kinh tế = 1 hay
Chi phí đầu vào Chi phí đầu vàoHiệu quả kinh tế = 1
Kết quả đầu ra Thì hoạt động sản xuất kinh doanh là có hiệu quả
Dạng so sánh tuyệt đối ( dạng hiệu số):
Hiệu quả kinh tế = Kết quả đầu ra – Chi phí đầu vào 0
Trang 14-Quan điểm 3: Hiệu quả kinh tế sản xuất kinh doanh là quan hệ tỉ lệ giữaphần tăng thêm của kết quả và phần tăng thêm của chi phí
kết quả đầu ra chi phí đầu vào
chi phí đầu vào kết quả đầu raHiệu quả kinh tế nếu được hiểu theo quan điểm 2 sẽ tăng trong 5 trườnghợp:
Khi kết quả đầu ra tăng, chi phí đầu vào giảm: đổi mới quy trình công nghệ,đào tạo lại tay nghề lao động và làm tốt công tác quản lý…
Khi kết quả đầu ra tăng, chi phí đầu vào không đổi: làm tốt công tác quản lýdoanh nghiệp…
Khi kết quả đầu ra tăng, chi phí đầu vào tăng nhưng tốc độ tăng chi phíchậm hơn tốc độ tăng kết quả
Khi kết quả đầu ra không đổi, chi phí đầu vào giảm
Khi kết quả đầu ra giảm, chi phí đầu vào giảm, nhưng tốc độ giảm của kếtquả nhỏ hơn tốc độ giảm của chi phí
3.3.2 Hiệu quả xã hội
-Năng suất lao động xã hội: dạng thuận hoặc dạng nghịch
Giá trị gia tăng (VA)Năng suất lao động xã hội =
Lao động bình quân
Lao động bình quânNăng suất lao động xã hội =
Giá trị gia tăng (VA)
-Hiệu suất đồng vốn: Chỉ tiêu được tính cho tổng số vốn nói chung và riêngcho vốn cố định đã bỏ ra để có được kết quả sản xuất kinh doanh
Kết quả ( GDP,VA, M) Hiệu suất đồng vốn =
Tổng vốn
Kết quả ( GDP,VA, M) =
Vốn cố định ( vốn lưu động)
-Hiệu quả của một đồng chi phí: là hiệu quả đem lại từ một đồng chi phítrung gian
Trang 15Kết quả (GDP,VA, M )Hiệu quả 1 đồng chi phí =
Chi phí trung gian( IC )
-Thu nhập bình quân cho một lao động: là kết quả so sánh tổng thu nhập củangười lao động với tổng số lao động trung bình của năm đó
Tổng thu nhậpThu nhập bình quân cho 1 lao động =
Tổng lao động
-Hệ số ICOR ( Hệ số gia tăng vốn - đầu ra ): là hệ số nói lên vốn sản xuấtđược tạo ra bằng đầu tư, là yếu tố cơ bản của tăng trưởng, tiết kiệm của nhândân và các công ty là nguồn gốc của đầu tư, hệ số này cũng phản ánh trình độ kỹthuật của sản xuất và là số đo năng lực của phần đầu tư tăng thêm Đây là chỉtiêu khái quát mối quan hệ và tác động qua lại giữa vốn đầu tư với tăng trưởngGDP
Tổng số vốn đầu tư thực hiện trong năm
Hệ số ICOR =
GDP năm nghiên cứu – GDP năm trước đó
-Tỷ lệ lạm phát: Lạm phát là tỷ lệ phần trăm thay đổi liên tục của mặt bằnggiá chung theo thời gian (thường là tháng, quý, năm), là quá trình tăng giá liêntiếp chứ không phải tăng giá một lần của nền kinh tế
-Tỷ lệ động viên tài chính: là tỷ lệ so sánh giữa tổng thu của ngân sách nhànước từ trong nước so với tổng sản phẩm trong nước(GDP)
-Số lao động được giải quyết việc làm
bộ xã hội Nâng cao hiệu quả kinh tế còn là yêu cầu bức xúc để chuyển dịch quátrình tái sản xuất từ mô hình phát triển giản đơn sang mô hình phát triển cả vềchiều rộng và chiều sâu Thật vậy không thể thực hiện bước chuyển đổi trên nếunhư không có sự tích luỹ, song muốn tích luỹ phải có lao động thặng dư và do
đó có giá trị của sản phẩm thặng dư, do đó việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinhdoanh là góp phần tạo ra nguồn tích luỹ cho nội bộ nền kinh tế
-Nâng cao hiệu quả kinh tế còn là yêu cầu góp phần chuyển từ cơ chế quản
lý tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế hạch toán theo cơ chế thị trường Đếnlượt nó, cơ chế quản lý kinh tế mới được xác lập và ngày càng hoàn thiện lại có
Trang 16tác động to lớn đến việc nâng cao hiệu quả kinh tế của từng doanh nghiệp, từngngành và của toàn xã hội.
Việc nâng cao hiệu quả kinh tế còn góp phần làm giảm tốc độ lạm phát,giảm nhịp độ tăng giá, bội chi ngân sách và giảm khó khăn về đời sống
*Như đã nói trên, hHiệu quả sản xuất kinh doanh có ý nghĩa thực tiễn vôcùng to lớn, tác động đến sự tồn tại phát triển của các đơn vị sản xuất kinhdoanh Hiệu quả sản xuất kinh doanh tạo ra lợi thế, tăng sức mạnh cạnh tranh.Dựa vào phân tích và đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh có thể giúp doanhnghiệp đánh giá được lĩnh vực kinh doanh nào cần mở rộng, lĩnh vực nào cầnthu hẹp, lĩnh vực nào kém hiệu quả, nguyên nhân và biện pháp khắc phục
-Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là sử dụng hợp lý hơn các yếu tốcủa quá trình sản xuất kinh doanh, với chi phí không đổi nhưng tạo ra đượcnhiều kết quả hơn Như vậy phấn đấu nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh sẽlàm giảm giá thành, tăng năng lực cạnh tranh
- Tận dụng và tiết kiệm được các nguồn lực hiện có: Hiệu quả sản xuất gắnvới chuyên môn hoá sản xuất và phân công lao động chuyên sâu hơn, khi đó cácnguồn lực sẽ được sử dụng hiệu quả hơn cả về nhân lực, tài lực và vật lực
- Thúc đẩy tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ, tạo cơ sở cho việc thựchiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá sản xuất: Muốn nâng cao hiệu quả sản xuấtkinh doanh đơn vị sản xuất kinh doanh cần phải áp dụng các phương pháp quản
lý mới, các quy trình công nghệ mới, hiện đại và tiên tiến, điều này yêu cầu cácđơn vị phải luôn nghiên cứu, tìm hiểu, phát minh và cập nhật các tiến bộ trongsản xuất và kinh doanh Đơn vị nào tìm ra được phương pháp mới có hiệu quảtrong sản xuất kinh doanh, đơn vị đó sẽ giành được lợi thế, thu được nhiều lợinhuận và tạo ra ưu thế trong cạnh tranh Vì vậy các đơn vị sản xuất luôn tìmcách nâng cao công nghệ, thúc đẩy tiến bộ khoa học, điều này trực tiếp ảnhhưởng đến quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá sản xuất của đơn vị nóiriêng và của đất nước nói chung Dẫn đến thúc đẩy cạnh tranh, nâng cao nănglực sản xuất, nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm làm cho sản xuấtkinh doanh phát triển với tốc độ cao
-Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh cũng đồng nghĩa với nâng cao đờisống vật chất và tinh thần cho người lao động
Nâng cao hiệu quả kinh tế nói chung và hiệu quả sản xuất kinh doanh nóiriêng có tầm quan trọng và đang là 1 vấn đề nóng bỏng, song muốn biến nóthành hiện thực cần phải có một giải pháp toàn diện và đồng bộ cả về kinh tế vàchính trị Sử dụng đồng bộ các biện pháp trong đólấy biện pháp kinh tế và độnglực lợi ích kinh tế làm chủ yếu
5 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh
Môi trường kinh doanh là một hệ thống các yếu tố các mối quan hệ bêntrong cũng như bên ngoài doanh nghiệp có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động củacác doanh nghiệp, các tổ chức trong nền kinh tế Các yếu tố này có thể tạo ra cơhội hoặc thách thức cho các ngành, các doanh nghiệp theo các mức độ khác
Trang 17nhau Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế tổng hợp nên có rấtnhiều nhân tố ảnh hưởng đến nó, có thể chia các nhân tố ảnh hưởng đến hiệuquả sản xuất kinh doanh thành hai nhóm nhân tố chính là các nhân tố bên ngoàidoanh nghiệp và các nhân tố bên trong doanh nghiệp
5.1 Các nhân tố bên trong doanh nghiệp
Các nguồn lực: là các yếu tố cơ bản cần xem xét đánh giá đầu tiên, mục tiêucủa doanh nghiệp có đạt được hay không là phụ thuộc chủ yếu vào các yếu tốnày:
-Nguồn nhân lực (lực lượng lao động): Lao động trong doanh nghiệp làtoàn bộ đội ngũ cán bộ công nhân viên đã ký kết hợp đồng lao động với doanhnghiệp, được ghi tên vào danh sách lao động của doanh nghiệp và được quản lý,
sử dụng sức lao động và trả thù lao theo kết quả hoàn thành công việc được giaotrong trong hoạt động sản xuất kinh doanh Gồm: lực lượng các nhà quản trị cáccấp và lao động ở tất cả các bộ phận Đối với nhà quản trị, các tiêu chuẩn vềnghề nghiệp, kỹ năng chuyên môn, kỹ năng quan hệ với con người, kỹ năng tưduy… cần được đánh giá chặt chẽ trong từng thời kỳ để có kế hoạch quản lý phùhợp nhất là các nhà quản trị cấp cao Đối với lao động, các tiêu chuẩn về đạođức nghề nghiệp và trình độ chuyên môn tay nghề cần kiểm tra phân tích đánhgiá qua các kỳ thi nhằm hoạch định kế haọch huấn luyện, nâng cao chất lượngtheo thời gian Thể hiện thông qua trình độ quản lý và trình độ lành nghề của laođộng, nNếu một đơn vị có bộ máy quản lý và phương pháp quản lý tốt, lao động
có trình độ chuyên môn cao thì sẽ có hiệu quả sản xuất cao Các chỉ tiêu thể hiện
là bậc thợ bình quân, trình độ học vấn của lao động, thâm niên nghề nghiệp…Đây là nhân tố quan trọng liên kết tất cả các nhân tố để có thể đạt hiệu quả sảnxuất kinh doanh cao nhất
Lao động tác động vào hiệu quả sản xuất kinh doanh theo các góc độ: Sốlượng, chất lượng, tiền lương và năng suất lao động tác động vàoảnh hưởng đến
kết quả đầu ra Thông qua các hoạt động: trực tiếp điều khiển máy móc thiết bịtạo ra sản phẩm, sáng tạo ra những giải pháp kỹ thuật công nghệ, hoạt động chấphành nội quy làm việc Lao độngCác nhà quản trị tác động vào quá trình tổ chứcsản xuất thông qua sự tác động quản lý, để có thể quản lý lao động trong sảnxuất kinh doanh phải đảm bảo các yêu cầu như nâng cao chất lượng chuyên môncủa đội ngũ công nhân viên, giúp họ có phong cách khoa học và tính kỷ luật cao,nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng năng suất lao động …Muốn vậy doanhnghiệp cần phải đưa ra kế hoạch tuyển dụng hợp lý, đào tạo và có sự quan tâmđúng mức đến người lao động, tạo cơ hội thăng tiến, tạo bầu không khí lao độngthoải mái để góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp( các chế độ về quản lý, ưu đãi, giám sát, kiểm tra sản phẩm…)
Con người là yếu tố cực kỳ quan trọng, quyết định thành công hay thất bạitrong mọi hoạt động Kiểm tra, phân tích đánh giá con người thường xuyênnhằm nâng cao giá trị văn hoá cá nhân và tạo ra lợi thế cạnh tranh cho doanhnghiệp
Trang 18-Vốn kinh doanh: Là một phần thu nhập quốc dân dưới dạng tài sản vậtchất và tài sản tài chính được chính các cá nhân và các tổ chức, các doanhnghiệp bỏ ra để tiến hành sản xuất kinh doanh nhằm mục tiêu tối đa hoá lợinhuận Về bản chất nó là biểu hiện bằng tiền của các tư liệu sản xuất được sửdụng trong quá trình sản xuất kinh doanh Đây là điều kiện đầu tiên, tiên quyết,quyết định cho sự ra đời tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Yêu cầu của sửdụng vốn là không ngừng nâng cao hiệu quả đồng vốn được sử dụng trong quátrình sản xuất, tức là làm thế nào để đồng vốn luân chuyển nhanh tạo ra lợinhuận cho doanh nghiệp Vốn kinh doanh được hình thành từ 2 loại vốn cơ bản
là vốn cố định và vốn lưu động Mức độ huy động sử dụng các loại vốn thể hiệntính chủ động, tính hiệu quả mà doanh nghiệp đạt được sẽ đánh giá điểm mạnh,yếu về nguồn vốn kinh doanh
Vốn cố định là một bộ phận của vốn đầu tư ứng trước về TSCĐ và cáckhoản đầu tư tài chính dài hạn của doanh nghiệp, luân chuyển dần từng phầntrong nhiều chu kỳ sản xuất và hoàn thành 1 vòng tuần hoàn khi TSCĐ hết thờigian sử dụng
Vốn lưu động là số tiền ứng trước về tư liệu lao động và đầu tư tài chínhngắn hạn nhằm đảm bảo quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp được thực hiệnthường xuyên và liên tục
-Công nghệ là nhân tố có ảnh hưởng đặc biệt quan trọng đến hiệu quả sảnxuất kinh doanh, công nghệ được hiểu là tập hợp những hiểu biết để tạo ra cácgiải pháp kỹ thuật được áp dụng vào sản xuất Theo tiêu chuẩn phát triển củaLiên Hợp Quốc - UNIDO công nghệ: “ là việc áp dụng khoa học vào công nghệbằng cách sử dụng các kết quả nghiên cứu và sử lý nó một cách có hệ thống và
có phương pháp” Ngày nay công nghệ thường là sự kết hợp của các nhân tố:trang thiết bị máy móc, khí cụ nhà xưởng, cơ sở vật chất khoa học kỹ thuật,thành phần lực lượng lao động như kỹ năng tay nghề, kinh nghiệm của ngườilao động, tổ chức, bố trí, sắp xếp điều phối, quản lý và thành phần thông tin baogồm các bí quyết, quy trình, phương pháp, các dữ liệu và các bản thiết kế … Bất
kỳ quá trình sản xuất kinh doanh nào đều phải đảm bảo các nhân tố trên, mỗinhân tố đảm nhiệm một chức năng nhất định, trang thiết bị máy móc, cơ sở vậtchất kỹ thuật là xương sống, cốt lõi của quá trình sản xuất kinh doanh, lực lượnglao động được coi là chìa khoá của hoạt động sản xuất kinh doanh và có nhiệm
vụ liên kết các nhân tố, thông tin là cơ sở hướng dẫn hoạt động sản xuất kinhdoanh và ra quyết định Sự kết hợp chặt chẽ của các nhân tố trên là điều kiện cơbản để đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao Công nghệ cóảnh hưởng quyết định đến kết quả hoạt động của sản xuất kinh doanh, doanhnghiệp có tạo ra sản phẩm chất lượng cao, giá thành hạ hay không là phụ thuộckhông nhỏ vào yếu tố công nghệ trong đó bao gồm cả tìm kiếm và chuyển giaocông nghệ
-Vốn kinh doanh: Là một phần thu nhập quốc dân dưới dạng tài sản vậtchất và tài sản tài chính được chính các cá nhân và các tổ chức, các doanhnghiệp bỏ ra để tiến hành sản xuất kinh doanh nhằm mục tiêu tối đa hoá lợi
Trang 19nhuận Về bản chất nó là biểu hiện bằng tiền của các tư liệu sản xuất được sửdụng trong quá trình sản xuất kinh doanh Đây là điều kiện đầu tiên, tiên quyết,quyết định cho sự ra đời tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Yêu cầu của sửdụng vốn là không ngừng nâng cao hiệu quả đồng vốn được sử dụng trong quátrình sản xuất, tức là làm thế nào để đồng vốn luân chuyển nhanh tạo ra lợinhuận cho doanh nghiệp Vốn kinh doanh được tạo ra
-Cơ sở vật chất khoa học kỹ thuật và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật: hiệu quảsản xuất kinh doanh góp phần thúc đẩy tiến bộ khoa học kỹ thuật, và ngược lạiviệc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật cũng là một trong nhân tố quan trọng
để nâng cao hiệu quả sản xuất Thực tế đã chứng minh bằng các cuộc cách mạngkhoa học kỹ thuật đã giúp cho sức sản xuất của con người trong thế kỷ XX tănggấp nhiều lần Cơ sở vật chất càng phát triển càng thuận tiện trong việc áp dụngcác phương pháp sản xuất mới Tiến bộ kỹ thuật trong doanh nghiệp là hệ thốngcác cải tiến, đổi mới quy trình công nghệ nâng cao trình độ thành thạo và thíchứng của người lao động với các trang thiết bị kỹ thuật và phương thức sản xuấtmới, hoàn thiện cách sử dụng nguyên vật liệu, trang bị các phương tiện quản lýnhằm tăng thêm số lượng và chất lượng sản phẩm, tăng các mặt hàng mới, hạgiá thành sản phẩm, tăng tích luỹ cho doanh nghiệp, đồng thời cải thiện điềukiện lao động và sinh hoạt của công nhân viên
-Hệ thống trao đổi và sử lý thông tin: yêu cầu của công tác quản lý và raquyết định đòi hỏi các nhà lãnh đạo doanh nghiệp phải nắm bắt những thông tin
có liên quan một cách chuẩn xác Trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay ainắm được thông tin trước là người chiếm ưu thế trong cạnh tranh Vì vậy hệthống thông tin là một trong những yếu tố quan trọng tạo nên hiệu quả sản xuất
Về phương diện thông tin công khai khi cung cấp, công bố số liệu ra bên ngoàicần phải giữ kín thông tin về phương pháp sản xuất, bí mật công nghệ và bíquyết thương mại, khi cần thiết cũng phải làm công tác tình báo thông tin, tổchức thu thập các thông tin của đối thủ cạnh tranh Bên cạnh việc thu thập thôngtin, cần phát triển song song hệ thống sử lý thông tin thật chuẩn xác, thông tin cóđầu ra và đầu vào Có thông tin đầu vào mà sử lý sai thì sẽ cho kết quả sai, vìvậy cần phải tổ chức thật tốt cả hệ thống thu thập và sử lý thông tin
-Quản lý doanh nghiệp: trình độ và kinh nghiệm quản lý sản xuất kinhdoanh được coi là yếu tố quyết định đến sự thành đạt của doanh nghiệp Cho dùnguồn lực có dồi dào đến đâu chăng nữa mà quản lý yếu kém thì hoạt động sảnxuất kinh doanh cũng không có hiệu quả Thước đo hiệu quả quản lý là việc đưa
ra quyết định đúng đắn, cụ thể là xác định đúng quy mô sản xuất kinh doanh phùhợp với đường lối, mục tiêu của doanh nghiệp Do vậy quá trình hoạt động sảnxuất kinh doanh không ngừng nâng cao chất lượng của các nhà quản lý để giúpdoanh nghiệp đạt được kết quả cao nhất
5.2 Nhân tố thuộc môi trường bên ngoài.
Bên cạnh các yếu tố bên trong, các yếu tố bên ngoài cũng có ảnh hưởngkhông nhỏ đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Vì những nhân
Trang 20tố này không chịu sự quản lý cảu doanh nghiệp Doanh nghiệp chỉ có thể dựbáo và dựa vào hệ thống thông tin của mình để nắm bắt, từ đó điều khiển cáchoạt động theo xu hướng và tác động có lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh,nhằm đạt hiệu quả cao.
-Môi trường pháp lý và môi trường kinh doanh: để cho hoạt động sản xuấtđược phát triển, cần có một môi trường pháp lý và môi trường kinh doanh thuậnlợi Nhất là trong điều kiện nền kinh tế thị trường phát triển như hiện nay, yêucầu cần có một môi trường pháp lý thuận lợi và an toàn để có thể khuyến khíchcác đơn vị và thu hút đầu tư Môi trường kinh doanh là điều kiện quan trọng đểnâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Trước đây, khi nền kinh tế nước ta còntrong cơ chế bao cấp, các đơn vị sản xuất dưới sự bảo hộ của nhà nước, lãi giả lỗthật đã làm giảm tính hiệu quả của các đơn vị sản xuất, mất tính cạnh tranh.Chính vì vậy trong nền kinh tế thị trường mở hiện nay, để có thể nâng cao hiệuquả cần phải đảm bảo cho môi trường pháp lý và môi trường kinh doanh trongsạch và thuận lợi, khuyến khích cạnh tranh công bằng Vì vậy cCần phải tạo ramôi trường kinh doanh cho các doanh nghiệp hoạt động mà vẫn phải đảm bảotính công bằng, hơn nữa 1 cơ chế chính trị xã hội ổn định, 1 hành lang pháp lýthuận lợi sẽ thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh và thu hút các nhà đầu tưnước ngoài vào Việt Nam Môi trường pháp lý ngày càng phải hoàn thiện hơnnữa để tạo môi trường tốt cho hoạt động của các đơn vị kinh tế như việc banhành và áp dụng các đạo luật như luật doanh nghiệp, luật đầu tư…đã tạo độnglực lớn cho phát triển kinh tế Nghiên cứu luật để giúp giúp doanh nghiệp và cácnhà quản trị thực thi pháp luật, hoạch định kế hoạch và nắm bắt cơ hội từ phápluật, ngăn chặn và hạn chế nguy cơ từ pháp luật, thiếu hiểu biết về pháp luật cóthể làm thiệt hại quyền lợi của doanh nghiệp
-Chính phủ: là cơ quan hành pháp, hoạt động của chính phủ ảnh hưởng đếncác ngành kinh tế và từng doanh nghiệp theo mức độ và chiều hướng khác nhau.Doanh nghiệp cần có thông tin thường xuyên về hạot dộng của chính phủ, nhất
là các chính sách nhằm nắm cơ hội hoặc ngăn chặn hạn chế các nguy cơ từ cácyếu tố này Trong chừng mực nhất định doanh nghiệp có thể vận động hànhlang đối thoại với chính phủ để tạo cơ hội hay hạn chế nguy cơ nhất thời chodoanh nghiệp
-Cơ sở hạ tầng: với một hệ thống cơ sở hạ tầng thuận lợi, các đơn vị sản xuấtkinh doanh có thể sản xuất với hiệu quả cao hơn Như việc xây dựng hệ thốnggiao thông công cộng, các tuyến giao thông đến các khu nguyên liệu, hệ thốngthông tin liên lạc…
-Quan hệ quốc tế: Thị trường đóng vai trò quyết định, để có thị trường rộnglớn, các doanh nghiệp phải thắt chặt hơn nữa các mối quan hệ kinh tế quốc tếsẵn có, tham gia vào các liên minh, hiệp hội để nhận được sự ủng hộ của quốc tếđồng thời tìm kiếm thêm các đối tác và thị trường mới
-Yếu tố chính trị: thể hiện qua thể chế chính trị của mỗi quốc gia, mức độ
ổn định hay biến động của thể chế chính trị, động cơ thúc đẩy hoạt động chínhtrị Yếu tố chính trị có tác động đến hệ thống pháp luật và hoạt động của chính
Trang 21phủ, thể hiện động cơ chính trị qua các công cụ quản lý nhà nước nhằm bảo vệlợi ích cá nhân, tập thể và xã hội theo mức độ khác nhau, ảnh hưởng đến giaobang quốc tế và mở rộng, bó hẹp thị trường buôn bán Khi quyết định đầu tư sảnxuất kinh doanh các nhà quản trị phải hiểu rõ tình hình chính trị của khu vực đầu
tư, phát riển thị trường mua bán (đầu tư giúp hạn chế rủi ro và có căn cứ quyếtđịnh mua công nghệ mới) Yếu tố chính trị là cơ sỏ tạo ra nền kinh tế ổn định, là
cơ sở để các doanh nghiệp yên tâm đầu tư vào phát triển doanh nghiệp theochiều rộng lẫn chiều sâu, tìm cách nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệptrên thị trường, từ đó hiệu quả sản xuất kinh doanh cũng được nâng cao
Yếu tố kinh tế: hệ thống các hoạt động, chỉ tiêu kinh tế của mỗi quốc giatrong từng thời kỳ, ảnh hưởng tích cực, tiêu cực đến hoạt động sản xuất kinhdoanh của từng ngành và từng doanh nghiệp theo các mức độ, tốc độ phát triểntừng ngành, của nền kinh tế hàng năm, mức thu nhập bình quân đầu người mộtnăm, tỷ lệ lạm phát, lãi suất tín dụng, dân cư thất nghiệp,thu chi ngân sách củanhà nước… có thể ảnh hưởng đến các doanh nghiệp trong nền kinh tế, hoặc tạo
ra cơ hội, hoặc tạo ra thách thức Doanh nghiệp gặp nguy cơ khi nhà nước có kếhoạch tăng mức thu thuế các ngành để bổ xung nguồn thu, có cơ hội khi chingân sách có liên quan đến nhành nghề hoạt động, hàng hoá mà các tổ chức nhànước cần mua…
-Yếu tố khoa học kỹ thuật: trong thập niên vừa qua, tốc độ phát triển khoahọc kỹ thuật của thế giới diễn ra nhanh chóng, công nghệ mới thay thế côngnghệ cũ diễn ra liên tiếp, chu kỳ đời sống của sản phẩm ngày càng rut ngắn Hầuhết tất cả các ngành trong nền kinh tế đều chịu ảnh hưởng của sự phát triển khoahọc kỹ thuật, tuỳ theo đặc điểm của mỗi ngành, mỗi doanh nghiệp mà mức độảnh hưởng là nhiều hay ít Tạo cơ hội cho các doanh nghiệp: sản phẩm, dịch vụmới ra đời tạo thị trường mới, thời gian sản xuất tạo ra sản phẩm của máy mócthiết bị ngắn hơn, chất lượng cao hơn, hạn chế ô nhiễm môi trường Nguy cơ:các sản phẩm hiện tại nhanh chóng lạc hậu, chi phí đầu tư đổi mới gia tăng, conngười bị hụt hẫng về khả năng quản lý kỹ thuật (nếu không nâng cao trình độchuyên môn kịp thời) Do tác động hai mặt trên doanh nghiệp cần có hệ thốngthông tin nhạy bén để tận dụng được và ngăn chặn nguy cơ kịp thời, đặc biệt cácdoanh nghiệp cần quan tâm đúng mức việc tận dụng công nghệ thông tin mới đểtạo lợi thế cạnh tranh trên thị trường hiện tại và tương lai
-Yếu tố dân số và địa lý: Ảnh hưởng đến nguồn nhân lực và khách hàng củacác doanh nghiệp Khi quyết định đầu tư, phát triển thị trường các ngành hàng
cụ thể, các nhà quản trị, các doanh nghiệp cần phải nghiên cứu các đặc điểm cơbản về dân số để có cơ sở căn cứ quyết định xây dựng cơ sở sản xuất nơi nào cócác nguồn cung cấp lao động dồi dào, kỹ năng, chuyên môn phù hợp và thuậntiện, đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần người lao động Quyết địnhcung cấpcác loại, quy mô đặc trưng sản phẩm phù hợp khu vực thị trường, quyết định cáchoạt động Marketing phù hợp
Ngoài ra còn ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố khác như: Thị hiếu khách hàng,đối thủ cạnh tranh, nhà cung cấp, các tổ chức có liên quan…
Trang 23Chương II: Hệ thống chỉ tiêu Thống Kê hiệu quả sản xuất kinh
doanh
I Yêu cầu và nguyên tắc xây dựng.
1 Sự cần thiết phải xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh
Xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp là một nhiệm vụ quan trọng bởi vì trong việc phân tích và đánh giá hiệuquả sản xuất kinh doanh không chỉ dựa vào một số các chỉ tiêu riêng rẽ mà cầnthiết phải dựa vào một hệ thống các chỉ tiêu Hệ thống các chỉ tiêu là một tậphợp các chỉ tiêu có quan hệ chặt chẽ với nhau, bổ xung cho nhau Thông qua hệthống chỉ tiêu mới phản ánh được một cách toàn diện các khía cạnh khác nhau,các mặt cơ bản của hiệu quả sản xuất kinh doanh Mặt khác rút ra được kết luậnthống nhất về phương hướng nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm nhiều quá trình
và luôn luôn diễn ra rất phức tạp Vì vậy để đánh gía tổng hợp kết quả hoạt độngsản xuất kinh doanh cần hoàn thiện liên tục hệ thống chỉ tiêu giúp cho việc thuthập thông tin dễ dàng, có độ chính xác cao Hệ thống chỉ tiêu cần được thay đổi
bổ xung về mặt số lượng và cơ cấu cho phù hợp với yêu cầu quản lý và trình độhạch toán ở mỗi thời kỳ
Đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phục vụ cho cácnhà quản trị doanh nghiệp nắm vững tình hình hoạt động sản xuất kinh doanhtrên tất cả các lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp trong từng thời kỳ, đặc biệt
nó rất cần thiết cho việc trợ giúp quá trình ra quyết định tác nghiệp cũng nhưquyết định chiến lược của lãnh đạo doanh nghiệp Cụ thể giúp lãnh đạo có căn
cứ khoa học để tổ chức và quản lý có hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanhcủa doanh nghiệp, là căn cứ đánh giá phân tích tình hình sử dụng các yếu tố củaquá trình tái sản xuất của doanh nghiệp (lao động, vốn, vật tư, tài sản…) là căn
cứ để lập kế hoạch phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh cả về quy mô và cơcấu giúp cho các nhà quản lý có những thông tin cần thiết làm căn cứ khoa học
để xây đựng chiến lược sản xuất kinh doanh, phát triển hoạt động sản xuất kinhdoanh theo hình thức đã lựa chọn Ngoài ra nó còn giúp cho lãnh đạo cấp trênhiểu rõ tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
xuất kinh doanh:
Sự cần thiết và tầm quan trọng của việc nâng cao hiệu quả kinh tế tự nó đòihỏi phải xác định rõ ràng chỉ tiêu và tiêu chuẩn hiệu quả làm cơ sở để đnhs giáviệc nâng cao hiệu quả này
Mục đích của việc nghiên cứu hiệu quả kinh tế là tìm ra các thước đo màchúng ta có thể sử dụng nó để so sánh, phân tích những hoạt động kinh tế nhằm
Trang 24phát hiện những tiềm năng và kịp thời có biện pháp điều chỉnh các hoạt độngkinh tế hiện tại góp phần củng cố và phát triển nền kinh tế quốc dân.
Khi xây dựng hệ thống chỉ tiêu Thống Kê hiệu quả sản xuất kinh doanh cầnđảm bảo các yêu cầu sau:
- Xác định đúng bản chất, tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh,không được đồng nhất chỉ tiêu hiệu quả sản xuất kinh doanh -là một phạm trùtổng hợp với các chỉ tiêu bộ phận biểu hiện từng mặt của nó Chỉ dựa trên yêucầu này hệ thống chỉ tiêu được xây dựng mới có ý nghĩa nghiên cứu và có tácdụng thiết thực trong công tác quản lý và phân tích Thống Kê
-Phản ánh đúng thực chất khách quan về hiệu quả sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp trong từng thời kỳ, vì vậy đòi hỏi hệ thống chỉ tiêu khi xây dựngphải đảm bảo tính chính xác, trung thực, phản ánh đúng sự thật khách quan trên
cơ sở hạch toán đầy đủ các yếu tố đầu vào và kết quả đầu ra trong quá trình sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp từ đó giúp nhà nước thấy được thực trạngdoanh nghiệp và đưa ra các hính sách quản lý thích hợp giúp cho các nhà quản
lý thấy được thực trạng về hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đưa
ra các biện pháp nâng cao hiệu quả
-Đảm bảo tính hệ thống: các chỉ tiêu bao gồm trong hệ thống phải có mốiquan hệ hữu cơ với nhau, trong hệ thống phải thể hiện rõ các chỉ tiêu chủ yếu vàthứ yếu, các chỉ tiêu tổng hợp và từng mặt của hiệu quả Đảm bảo sự thống nhất
về nội dung, phương pháp và phạm vi tính các chỉ tiêu cùng loại
-Tính khả thi: Hệ thống được hình thành phải là hệ thống cho phép giảiquyết tốt nhất mâu thuẫn giữa nhu cầu thông tin với khả năng mọi mặt để thuthập và tính toán các chỉ tiêu đó, nghĩa là phải kết hợp giữa tính lý thuyết, kỳvọng và tính khả thi, thực tiễn của hệ thống Hệ thống được xây dựng phải cókhả năng vận dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực công tác quản lý như trong côngtác kế hoạch, hạch toán, phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh…
Các chỉ tiêu vừa đơn giản vừa dễ hiểu nhưng mang tính khoa học, vừa đảmbảo chính xác trong so sánh vừa thể hiện thước đo kết quả và mang tính chấtkiểm tra lẫn nhau
-Hệ thống chỉ tiêu phải phản ánh được mức độ của hoạt động sản xuất kinhdoanh của đơn vị
-Hệ thống chỉ tiêu phải thích hợp với các biểu hiện của hiệu quả sản xuấtkinh doanh và phản ánh được đúng thực trạng khách quan của hiệu quả kinh tế.Các chỉ tiêu đưa vào hệ thống cần phải liên hệ chặt chẽ với nhau khi phản ánhmối quan hệ tồn tại khách quan giữa các yếu tố tác động đến việc tăng, giảmhiệu quả Muốn vậy, cần phải xem xét vị trí của từng chỉ tiêu và số đo của nótrong hệ thống, khả năng kết hợp giữa các chỉ tiêu với nhau, mối quan hệ tươngquan giữa các chỉ tiêu được xác định thông qua sự quy định lẫn nhau của hoạtđộng sản xuất cả về chiều rộng và chiều sâu Bởi vậy khi đánh giá hiệu quả cácchỉ tiêu tách biệt với nhau có thể không được sử dụng nhằm loại trừ các đánh giásai lệch Những liên kết cần thiết của các chỉ tiêu đòi hỏi phải phù hợp với cácmối liên hệ nội tại trong hệ thống, tìm ra điểm nút để phát hiện các mối liên hệ
Trang 25nhân quả và để tiến hành các phân tích sâu sắc hơn nhằm phản ánh đúng thựctrạng tồn tại khách quan hiệu quả sản xuất kinh doanh.
-Hệ thống chỉ tiêu phải phản ánh được hai mặt số lượng và chất lượng trong
sự thống nhất giữa chúng đối với hiệu quả sản xuất kinh doanh Do hiệu quả sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp tạo nên bởi các yếu tố về số lượng của kếtquả và chi phí
Hệ thống chỉ tiêu phải xuất phát từ những mục tiêu mang tính chất đại diện
về mặt xã hội, từ lợi ích xã hội, ngành, doanh nghiệp và người lao động được kếthợp hài hoà, xuất phát từ các yêu cầu của quản lý kinh tế và quản lý doanhnghiệp yêu cầu thúc đẩy sản xuất kinh doanh của ngành và xã hội Nguyên tắcnày bao hàm cả việc các chỉ tiêu kết quả,chi phí có thể có số đo khác nhau vìmỗi số đo có một khả năng diễn đạt riêng, cho nên phải nghiên cứu chi tiết xem
số đo nào là thích hợp với việc đánh giá hiệu quả của một quá trình cụ thể Mặtkhác việc xây dựng hệ thống chỉ tiêu phản ánh hiệu quả cần có phương pháptính toán thật sự khoa học
-Tính thống nhất: Đảm bảo nhất quán giữa hệ thống chỉ tiêu tổng thể và chỉtiêu bộ phận, đảm bảo thống nhất về nội dung, phương pháp và phạm vi tính củacác chỉ tiêu cùng loại., thống nhất về phạm vi thời gian, không gian và nội dungkinh tế của các chỉ tiêu so sánh
-Tính hệ thống: Phải nêu được mối liên hệ giữa các mặt các bộ phận, giữahiện tượng nghiên cứu với các hiện tượng có liên quan ( trong phạm vi mụcđích nghiên cứu) Trong hệ thống các chỉ tiêu Thống Kê xuất khẩu, có những chỉtiêu mang tính chất chung, các chỉ tiêu mang tính chất bộ phận, các chỉ tiêumang nhân tố phản ánh toàn diện và sâu sắc đối tượng nghiên cứu
-Tính hiệu quả (kết quả): hiệu quả cả về mặt kinh tế và về mặt xã hội
-Tính khả thi: Căn cứ vào khả năng nhân tài vật lực cho phép để có thể tiếnhành thu thập, tổng hợp các chỉ tiêu trong sự tiết kiệm nghiêm ngặt Đòi hỏingười lập và hoàn thiện các chỉ tiêu phải cân nhắc thật kỹ lưỡng, xác định cácchỉ tiêu căn bản nhất, quan trọng nhất là làm sao đảm bảo số lượng mà vẫn đúngmục đích nghiên cứu Đồng thời vẫn phải đảm bảo chất lượng, tính đầy đủ toàndiện, có chú ý đến vị trí số đo của từng chỉ tiêu và khả năng kết hợp giữa các chỉtiêu
-Tính linh hoạt: các chỉ tiêu được xây dựng có thể được sử dụng trong nhiềumục đích và nhiều trường hợp khác nhau
- Tính hướng đích: hệ thống chỉ tiêu cần được xuất phát từ mục đích vànhiệm vụ nghiên cứu, nghĩa là nhiệm vụ nào thì hệ thống chỉ tiêu đó, như vậycác hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu hoạt động xuất khẩu hàng dệt may phải đápứng nhu cầu thông tin cần thiết phục vụ cho vịêc đánh giá, phân tích tình hìnhxuất khẩu hàng dệt may
Trang 26II Hệ thống chỉ tiêu hiệu quả sản xuất kinh doanh toàn phần
1 Cách xác lập hệ thống chỉ tiêu Thống Kê hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Hiệu quả vể bản chất được xác định bằng cách so sánh các kết quả kinh tếđạt được với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó, vì vậy để đánh giá hiệu quảsản xuất kinh doanh có thể sử dụng hệ thống chỉ tiêu bao gồm các nhóm:
*Cách xác lập dựa trên lý luận là: Hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp được hiểu là một đại lượng so sánh giữa chi phí bỏ ra và kết quả thuđược, theo nghĩa rộng hơn nó là đại lượng so sánh chi phí và kết quả
Chi phí đầu vào bao gồm: Lao động,tư liệu lao động, đối tượng lao động,vốn…Kết quả đầu ra được đo bằng các chỉ tiêu như: giá trị sản lượng, doanhthu, lợi nhuận…
Chỉ tiêu tổng hợp để đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp được tính như sau:
Dạng hiệu số: Hiệu quả = Kết quả đầu ra – Chi phí đầu vào
Dạng phân số:
Cách xác lập bằng hiệu số (hiệu quả tuyệt đối) có cách tính đơn giản, thuậnlợi, nhưng không phản ánh hết chất lượng sản xuất kinh doanh cũng như tiềmnăng nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Ngoài ra, cách tính ở dạng hiệu sốcũng không thể so sánh hiệu quả sản xuất kinh doanh giữa các bộ phận, các đơn
vị trong doanh nghiệp, không thấy được tiết kiệm hay lãng phí lao động xã hội.Cách xác lập bằng phân số (hiệu quả tương đối) : khắc phục được những tồn tạicủa cách xác lập bằng hiệu số, tạo điều kiện nghiên cứu một cách hiệu quả vàtoàn diện
*Cách xác lập dựa trên cơ sở lý luận cho rằng hiệu quả sản xuất kinh doanh
là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn nhân tài vật lựccủa doanh nghiệp để đạt kết quả cao nhất trong quá trình sản xuất kinh doanhvới tổng chi phí thấp nhất Đồng thời hiệu quả sản xuất kinh doanh là thước đochất lượng phản ánh trình độ tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh cảu doanhnghiệp Hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là chỉ tiêu tổng hợp cóquan hệ với nhiều yếu tố trong quá trình sản xuất (lao động, tư liệu lao động, đốitượng lao động…) nên doanh nghiệp chỉ có thể đạt được kết quả cao khi sửdụng các yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất kinh doanh có hiệu quả
Hiệu quả = Chi phí đầu vàoKết quả đầu ra
Hiệu quả = Kết quả đầu ra
Chi phí đầu vào
Trang 27Phản ánh sức sản xuất hay sức sinh lời của các chỉ tiêu phản ánh đầu vào củaquá trình sản xuất kinh doanh.
Phản ánh suất hao phí của các chỉ tiêu yếu tố đầu vào, để có 1 đơn vị kết quảđầu ra thì hao phí mấy đơn vị chi phí đầu vào
2.1.1 Hiệu quả sử dụng nguồn lực
Hiệu quả sản xuất kinh doanh phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực của
xã hội trong sản xuất thông qua các chỉ tiêu đặc trưng kinh tế kỹ thuật đaựơc xácđịnh bằng tỷ lệ so sánh giữa các chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh tế đạt được vớicác chỉ tiêu phản ánh chi phí hoặc nguồn lực đã được huy động vào sản xuất.Nói cách khác, Hiệu quả sản xuất kinh doanh được xác định bằng tỷ lệ so sánhgiữa đầu ra và đầu vào của hệ thống sản xuất, phản ánh trình độ sử dụng cácnguồn lực vào việc tạo ra các lợi ích vật chất nhằm đạt được các mục tiêu kinh
tế
Nguồn lực là lực lượng sản xuất được sử dụng vào quá trình tái sản xuất.Đây là chỉ tiêu thời điểm, số lượng, tuyệt đối vì vậy để so sánh được, các chỉtiêu kết quả phải xác định chỉ tiêu bình quân theo thời gian Đặc điểm của nguồnlực thường là: tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất, không được tính hoàn toànvào giá thành sản phẩm Nguồn lực bao gồm: nguồn nhân lực (lao động), nguồntài lực (vốn), nguồn vật lực (tài sản)
2.1.1 1 Nguồn lực lao động:
Lao động là nhân tố sáng tạo trong sản xuất kinh doanh, số lượng và châtálượng là nhân tố quan trọng nhất tác động đến hiệu quả kinh doanh của doanhnghiệp
Chỉ tiêu kết quả kinh tế thường được sử dụng:
-Số lao động bình quân: là số lao động có bình quân trong năm của đơn vị
Xí nghiệp may xuất khẩu Thanh Trì năm 2004 có số lao động bình quân là 1800công nhân
-Số ngày-người bình quân ( hoặc giờ người bình quân) trong kỳ
Hiệu quả sử dụng lao động thường được biểu hiện ở các chỉ tiêu:
-Mức năng suất lao động bình quân của 1 lao động trong kỳ: là chỉ tiêu hiệuquả đầy đủ, có 2 dạng, được xác định bằng số lượng (hay giá trị) sản phẩm sảnxuất ra trong một đơn vị lao động hao phí (dạng thuận), hoặc được xác địnhbằng lượng lao động hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm hay một đơn vịgiá trị kết quả sản xuất kinh doanh (dạng nghịch) Phản ánh tổng hợp năng suấtlao động, là giá trị khối lượng hoàn thành do 1 công nhân tạo ra trong kỳ
Hiệu quả = Chi phí đầu vào
Kết quả đầu ra
L
W = Giá trị khối lượng hoàn thành trong kỳLao động bình quân trong kỳ
Trang 28Giá trị khối lượng hoàn thành trong kỳ nếu xét theo quan điểm xã hội haytính theo mức hiệu quả kinh tế nền kinh tế quốc dân người ta tthường tính theochỉ tiêu giá trị sản xuất GO Nếu theo quan điểm doanh nghiệp hay tính theomức ha sản xuất kinh doanh người ta thường tính theo doanh thu và lợi nhuận.Năng suất lao động thường được chia thành:
Năng suất lao động sống: là năng suất lao động tính theo GO
Năng suất lao động xã hội: là năng suất lao động tính theo GDP, VA
Năng suất lao động vật hoá: phản ánh tiết kiệm chi phí trung gian, thể hiện
so sánh tỷ trọng IC/GO kỳ nghiên cứu và kỳ gốc, nếu chênh lệch là dương, tức
là doanh nghiệp đã lãng phí chi phí sản xuất kinh doanh, nếu chênh lệch này là
âm phản ánh tiết kiệm chi phí trung gian, sản xuất có hiệu quả
-Mức doanh thu bình quân một lao động: được tính bằng tỷ số giữa tổngdoanh thu của đơn vị sản xuất với số lao động bình quân trong kỳ, bên cạnh việctính chỉ tiêu hiệu quả toàn phần còn tính chỉ tiêu hiệu quả cận biên cho biết mứcdoanh thu biên của lao động Chỉ tiêu này cho biết một lao động bình quân tạo rabao nhiêu đơn vị doanh thu Năm 2004 Doanh thu thuần của xí nghiệp may xuấtkhẩu Thanh Trì là 81.491,646 triệu đồng như vậy mức doanh thu bình quân mộtlao động của xí nghiệp may là
Doanh thu thuầnDoanh thu bình quân 1 lao động =
Lao động bình quân
=81.1800491,646=45,273(triệuđồng) cho biết bình quân 1 lao động của xí nghiệp may tạo ra được 45,273 triệuđồng doanh thu
-Mức lợi nhuận bình quân một lao động: mức đóng góp của mỗi lao độngđối với doanh nghiệp vào lợi nhuận hay kết quả kinh doanh được tính bằng tỷ
số giữa tổng lợi nhuận của đơn vị sản xuất kinh doanh với tổng số lao động bìnhquân trong kỳ, chỉ tiêu phản ánh hiệu quả cận biên cho biết lợi nhuận biên của
Trang 29lao động Đây là chỉ tiêu cho biết bình quân mỗi lao động tạo ra bao nhiêu đơn
vị lợi nhuận.Năm 2004 xí nghiệp may xuất khẩu Thanh Trì thu được 1.135.120triệu đồng lợi nhuận, vậy mức lợi nhuận bình quân một lao động của xí nghiệpmay là
Tổng lợi nhuậnLợi nhuận bình quân 1 lao động =
Lao động bình quân
= 1.1351800,102 = 0.630(triệuđồng)
cho biết bình quân một lao động của xí nghiệp tạo được 0.630 (triệu đồng)lợi nhuận
-Hiệu suất tiền lương: phản ánh 1 đồng tiền lương bỏ ra có thể đạt được kếtquả cụ thể nào, kết quả có thể là doanh thu, lợi nhuận Hiệu suất tiền lươngtăng khi tốc độ tăng năng suất lao động lớn hơn tốc độ tăng tiền lương bìnhquân
Vốn của doanh nghiệp là toàn bộ giá trị của các nguồn vốn đã hình thànhnên toàn bộ tài sản của doanh nghiệp, hay là hình thái tiền tệ của toàn bộ các tàisản cố định (TSCĐ) và đầu tư dài hạn và giá trị các tài sản lưu động (TSLĐ) vàđầu tư tài chính ngắn hạn Cũng có thể nói nó bao gồm vốn cố định (VCĐ) vàvốn lưu động (VLĐ) được doanh nghiệp sử dụng vào quá trình sản xuất kinhdoanh Nguồn lực về vốn không những phản ánh thực trạng tài chính của doanhnghiệp mà còn phản ánh mối quan hệ giữa tình hình huy động với tình hình sửdụng vốn
-Hiệu suất vốn đầu tư cơ bản: Vốn đầu tư cơ bản là các loại tiền tệ (gồm nội
tệ và ngoại tệ), hiện vật hữu hình (nhà xưởng, máy móc thiết bị…), hàng hoá vôhình (mặt nước, mặt đất, sức lao động, bí quyết công nghệ… ) và các phươngtiện khác không phân biệt chủ sở hữu được doanh nghiệp huy động vào quátrình tái sản xuất theo các hình thức cụ thể nhằm duy trì và nâng cao năng lựcsản xuất kinh doanh, năng lực quản lý , năng lực chuyên môn của lao động vàmang lại thu nhập cho các chủ sở hữu vốn, đó là phần vốn mới được huy độngphục vụ cho việc duy trì và nâng cao năng lực hoạt động của doanh nghiệp.Hiệu quả vốn đầu tư cơ bản thể hiện qua một số chỉ tiêu: thời hạn thu hồi vốn,chi phí tính đổi và hiệu quả tuyệt đối vốn đầu tư cơ bản… Chỉ tiêu kết quả đểtính hiệu suất vốn đầu tư cơ bản là kết quả tăng thêm nhờ số vốn này Hiệu suấtvốn đầu tư cơ bản là chỉ tiêu cho biết mỗi một đồng vốn đầu tư vào sản xuất thì
Hiệu suất tiền lương
của 1 kỳ thanh toán =
Doanh thu ( lợi nhuận )Tổng quỹ lương
Trang 30tạo ra bao nhiêu đồng kết quả Được tính bằng tỷ số giữa kết quả sản xuất kinhdoanh và vốn đầu tư cơ bản
*Vốn cố định
-Hiệu suất vốn cố định: Vốn cố định là hình thái tiền tệ của giá trị các TSCĐ
và đầu tư dài hạn của doanh nghiệp hay còn gọi là tài sản dài hạn, trong đó bộphận TSCĐ chiếm tỉ trọng lớn nhất trong tổng vốn cố định của doanh nghiệp
Đặc điểm cơ bản nhất của vốn cố định là sự hao mòn hữu hình và vô hình phụthuộc vào mức sử dụng vốn cố định và các điều kiện khác có ảnh hởng đến độbền lâu dài như chế độ quản lý, sử dụng, bảo dưỡng, khi đó hao mòn vô hìnhchủ yếu là do tiến bộ của khoa học công nghệ và năng suất lao động xã hội tănglên quyết định Vốn cố định có ảnh hưởng quyết định đến kết quả hoạt động sảnxuất kinh doanh vì vậy doanh nghiệp cần phải có biện pháp phù họơ để quản lýnguôn vốn này
Hiệu suất vốn cố định đây là chỉ tiêu chung nhất đánh giá về mặt sử dụng sốlượng vốn cố định, chỉ tiêu này cho biết mỗi một đơn vị vốn cố định đầu tư vàosản xuất cho ra bao nhiêu đơn vị kết quảdoanh thu
-Mức doanh lợi của TSCĐ: là chỉ tiêu cho biết cứ mỗi đơn vị TSCĐ thamgia vào sản xuất kinh doanh tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận và được tính bằng
tỷ số giữa lợi nhuận và giá trị TSCĐ bình quân
-Doanh thu trên mỗi đơn vị TSCĐ: là chỉ tiêu dạng thuận cho biết mỗi đơn
vị TSCĐ tham gia vào sản xuất kinh doanh tạo bao nhiêu đơn vị doanh thu,được tính bằng tỷ số giữa doanh thu và gía trị TSCĐ
Hệ số hao mòn TSCĐ cho biết mứcđộ hao mòn của TSCĐ tại thời điểm sosánh với thời điểm đầu tư ban đầu
Hệ số trang bị TSCĐ cho 1 công nhân trực tiếp sản xuất: phản ánh giá trịTSCĐ bình quân trang bị cho một công nhân trực tiếp sản xuất
*Vốn lưu động: vốn lưu động của doanh nghiệp bao gồm toàn bộ giá trị cácđối tượng lao động như vật liệu, nguyên nhiên liệu, chi tiết phụ tùng thay thế,công cụ lao động nhỏ …nằm trong khâu dự trữ và các sản phẩm dở dang cũngnhư nằm ở các khoản đầu tư tài chính nhắn hạn, các khoản phải thu…Vốn lưuđộng không tham gia nhiều lần vào quá trình sản xuất mà chỉ tham gia một lần
Hiệu suất sử dụng vốn cố định = Doanh thu thuần trong kỳ
CD
V trong kỳ
Hệ số hao mòn TSCĐ =
Số tiền khấu hao luỹ kế TSCĐ tính tới
thời điểm đánh giáNguyên giá TSCĐ tại thời điểm đánh giá
Hệ số trang bị TSCĐ =
Nguyên giá TSCĐ bình quân trong kỳ
Số công nhân trực tiếp sản xuất bình quân
trong kỳ
Trang 31vào quá trình sản xuất, do đó toàn bộ giá trị của nó được chuyển dịch 1 lần vàogiá trị sản phẩm
-Mức doanh lợi của vốn lưu động: là chỉ tiêu cho biết mỗi đơn vị TSLĐ vàđầu tư ngắn hạn tham gia vào sản xuất kinh doanh tạo ra bao nhiêu đồng lợinhuận Mức doanh lợi vốn lưu động bằng tỷ số giữa lợi nhuận và vốn lưu độngbình quân
-Số vòng quay của vốn lưu động là chỉ tiêu cho biết tốc độ lưu chuyển vốnlưu động trong kỳ, đẩy nhanh tốc độ lưu chuyển vốn sẽ góp phần giải quyết nhucầu về vốn cho doanh nghiệp, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.đ Đượctính bằng tỷ số giữa doanh thu hoặc doanh thu thuần và vốn lưu động bìnhquân, nó nói lên vốn lưu động quay được mấy vòng hay chu chuyển được mấylần trong kỳ
-Sức sinh lời của vốn lưu động: cho biết một đồng vốn lưu động trong kỳsinh ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trước (sau) thuế
-Hệ số đảm nhiệm của vốn lưu động: Cho biết vốn lưu động cần có để đạt 1đồng doanh thu thuần
-Độ dài bình quân vòng quay vốn lưu động: tốc độ luân chuyển vốn lưuđộng trong kỳ thể hiện ở số ngày bình quân cần thiết để vốn lưu động thực hiệnđược 1 vòng quay trong kỳ
-Hiệu suất vốn sản xuất kinh doanh: là chỉ tiêu cho biết cứ một đơn vị vốnsản xuất kinh doanh đầu tư vào sản xuất trong kỳ thì tạo ra được mấy đơn vị kếtquả, chỉ tiêu được tính bằng tỷ số giữa kết quả sản xuất kinh doanh và tổng vốn,các chỉ tiêu kết quả sản xuất kinh doanh có thể là hiện vật hoặc giá trị
- Mức doanh lợi của tổng vốn: là chỉ tiêu cho biết cứ 1 đơn vị tổng vốn đầu
tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ thì tạo ra bao nhiêu đơn vị lợinhuận hay nó cho biết tỷ suất sinh lãi trên tổng số vốn trong kỳ đạt bao nhiêu
* Nhóm chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lời của vốn
Tính sinh lời được coi là khả năng tìm kiếm lợi nhuận của doanh nghiệp,lợi nhuận thuần tuý là thước đo quan trọng và duy nhất của tính sinh lợi Các tỷsuất sinh lời (doanh lợi) là cơ sở quan trọng để đánh giá kết quả hoạt động sản
Số vòng quay của vốn lưu động = Doanh thu thuần
Hệ số đảm nhiệm của vốn lưu động = V LDtrong kỳ
Doanh thu thuần trong kỳ
Độ dài bình quân vòng quay vốn
Số ngày trong kỳ
Số vòng quay của vốn lưu
động trong kỳ
Trang 32xuất kinh doanh cũng như so sánh hiệu quả sử dụng vốn và mức lãi của doanhnghiệp cùng loại
-Tỷ suất lợi nhuận / doanh thu: Cho biết 1 đòng doanh thu trong kỳ có baonhiêu phần trăm lợi nhuận
-Tỷ suất lợi nhuận /vốn kinh doanh: cho biết 1 đồng vốn trong kỳ tạo ra baonhiêu đồng lợi nhuận
-Tỷ suất lợi nhuận / Tổng tài sản: 1 đồng chi cho tài sản trong kỳ tạo ra baonhiêu đồng lợi nhuận
Trong các công thức trên, chỉ tiêu lợi nhuận thường dùng là lợi nhuận ròngtrước thuế hoặc sau thuế, vốn có thể là vốn kinh doanh, vốn chủ sở hữu, trong
đó vốn kinh doanh là tổng vốn bao gồm vốn chủ sở hữu và công nợ phải trả.Đối với tỷ suất lợi nhuận của vốn chủ sở hữu có thể chịu ảnh hưởng của 2nhân tố: hệ số vòng quay của vốn chủ sở hữu và nhân tố tỷ suất lợi nhuận trêndoanh thu
Tỷ suất lợi nhuận của tổng số tài sản phản ánh khả năng quản lý sử dụng tàisản của doanh nghiệp để tạo ra lợi nhuận, nó được chia thành hai phần là khảnăng sinh ra lợi nhuận ròng từ doanh thu và hệ số quay vòng của tổng số tài sản
là khả năng sử dụng tài sản để tạo ra doanh thu của doanh nghiệp Đánh giá 2thành phần trên phụ thuộc vào đặc điểm ngành kinh doanh mà doanh nghiệphoạt động Chỉ tiêu tổng hợp của 2 thành phần trên là tỷ suất lợi nhuận của tổng
số tài sản
2
Việc tổng hợp chung các nguồn lực thường đưa đến một khó khăn là làm sao
có thể tổng hợp được các nguồn về một đơn vị Thông thường có 2 phương pháp
để tính các chỉ tiêu nguồn lực chung là:
-Đưa tất cả các nguồn lực về đơn vị lao động: Dựa vào hệ số hồi quy tronghàm sản xuất hay năng suất lao động
Tỷ suất lợi nhuận / doanh thu = Doanh thu tiêu thụ Lợi nhuận
Tỷ suất lợi nhuận / Vốn = Lợi nhuận
Vốn
Tỷ suất lợi nhuận / Vốn chủ sở
Lợi nhuận Tổng số tài sản
Tỷ suất lợi nhuận vốn
Trang 33
Trong đó: L: lao động
F: Vốn và tài sản
W: Năng suất lao động tính theo đơn vị lao động
Hiệu quả nguồn lực chung tính theo công thức này tỷ lệ thuận với năng suấtlao động và tỷ lệ nghịch với mức tài sản sản xuất cho một đơn vị kết quả
-Đưa các loại nguồn lực về đơn vị tiền tệ: có nhiều cách để đưa nguồn lực vềdạng tiền tệ, một trong số đó là dựa vào chi phí sản xuất ra chúng và đồng nhấtcác dạng chi phí đó về mặt thời gian
Tổng nguồn lực bình quân: NLFT.f.T'
H = KQ NL FKQ T T f. '
Trong đó: f: Tiền lương bình quân năm
T’: số năm chênh lệch giữa giới hạn trênvà giới hạndưới của tuổi lao động
Chi phí thường xuyên là toàn bộ chi phí về lao động sống và lao động vậthoá dùng để sản xuất ra sản phẩm đã chuyển dịch vào giá trị sản phẩm được sảnxuất ra và được tính vào chi phí sản xuất Chi phí thường xuyên chủ yếu gồmchi phí về lao động ( thời gian hoặc chi phí bằng tiền), chi phí trung gian (baogồm cả chi phí sản phẩm vật chất và sản phẩm dịch vụ) Đây là chỉ tiêu thời kỳ
vì vậy khi so sánh phải đảm bảo yêu cầu về độ dài thời kỳ ghiên cứu, tức là cácchỉ tiêu kết quả và chi phí có thời kỳ tính toán giống nhau
Ngoài hai loại chi phí trên có thể thêm loại thứ 3: chi phí yếu tố trung gian vìchúng không phải là yếu tố nguồn lực hay chi phí, chẳng hạn vốn đầu tư cơ bản
là yếu tố trung gian tạo nguồn: TSCĐ, tiến bộ kỹ thuật công nghệ là yếu tố đầuvào và yếu tố quản lý cũng được xem xét với tư cách là yếu tố trung gian Gọi làyếu tố trung gian vì cuối cùng cũng được túnh vào chi phí hoặc nguồn Chi phítrung gian không được tính vào giá thành Hiệu quả của chi phí trung gian cũngmang tính chất trung gian để tăng hiệu quả sử dụng chi phí hoặc nguồn lực, tuynhiên chúng cũng có tính độc lập tương đối nào đó và quan trọng với sự pháttriển của sản xuất kinh doanh
Năng suất lao động là chỉ tiêu biểu hiện hiệu quả chi phí lao động Cần phânbiệt ba khái niệm: năng suất lao động , năng suất lao động xã hội, năng suất laođộng vật hoá Năng suất lao động xã hội là biểu hiện tổng hợp của cả hai loại
Trang 34năng suất trên Nó được xác định bằng cách so sánh giữa kết quả sản xuất hoặclưu thông sản phẩm (GDP,VA) với nguồn lực lao động ( thường biểu hiện bằng
số lao động bình quân), phản ánh hiệu quả không chỉ của tiết kiệm lao động vậthoá mà cả tiết kiệm chi phí trung gian Chỉ tiêu biểu hiện năng suất lao động vậthoá là tiết kiệm chi phí trung gian, nhờ đó với lượng chi phí trung gian nhất định
có thể mang lại nhiều kết quả
Tuỳ thuộc vào việc lựa chọn gốc so sánh, năng suất lao động được biểu hiệnbằng 2 chỉ tiêu thuận và nghịch Cả hai chỉ tiêu này đều biểu hiện mức tăng năngsuất lao động nhưng có tác động phân tích khác nhau Chỉ tiêu theo dạng thuậncho phép phân tích ảnh hưởng của năng suất lao động đến các chỉ tiêu kết quảtương ứng đạt được, chỉ tiêu theo dạng nghịch cho phép phân tích ảnh hưởngcủa tăng năng suất lao động đến biến động của chỉ tiêu chi phí về lao động bỏ ra.-Lượng lao động hao phí cho một đơn vị sản phẩm: là chỉ tiêu phản ánh haophí lao động cần thiết để làm ra một đơn vị sản phẩm, có thể được tính bằng đơn
vị hiện vật hoặc đơn vị giá trị Xác định bằng cách so sánh tỷ số giữa số laođộng bình quân hay số ngày-người (giờ-người) lao động bình quân với lượngsản phẩm tạo ra
-Mức chi phí tiền lương bình quân cho một đơn vị sản phẩm: cho biết để sảnxuất ra một đơn vị sản phẩm cần chi phí bao nhiêu đơn vị tiền lương hay phảnánh mức lương mà một lao động nhận được Chỉ tiêu này phản ánh chất lượngcuộc sống của người lao động trong doanh nghiệp
Trang 351.23 2 Hiệu quả chi phí về vốn.
Vốn cố định là một bộ phận quan trọng của vốn kinh doanh, quy mô vốn cốđịnh cũng như trình độ quản lý và sử dụng nó là một nhân tố có ảnh hưởngquyết định đến trình độ trang bị kỹ thuật, vì vậy việc quản lý sử dụng vốn cốđịnh được coi là vấn đề quan trọng của công tác quản trị tài chính doanh nghiệp.Nghiên cứu hiệu quả sử dụng vốn cố định có thể thấy được các nguyên nhân củaviệc sử dụng vốn cố định không có hiệu quả thường là đầu tư TSCĐ quá mứccần thiết, TSCĐ không sử dụng chiếm tỷ trọng lớn, sử dụng TSCĐ với công suấtthấp hơn mức cho phép
Vốn lưu động dùng để sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, doanh nghiệp sử dụngvốn càng có hiệu quả bao nhiêu thì càng có thể sản xuất và tiêu thụ được nhiềusản phẩm bấy nhiêu Lợi ích kinh doanh đòi hỏi các doanh nghiệp phải sử dụnghợp lý hơn từng đồng vốn của mình
Các chỉ tiêu về hiệu quả chi phí vốn:
-Mức khấu hao bình quân cho đơn vị sản phẩm: cho biết lượng hao mòn vềvốn cố định cho một đơn vị sản phẩm, tính thông qua chỉ tiêu khấu hao TSCĐ -Năng suất bình quân của đơn vị thiết bị thời gian thiết bị hay phương tiệnsản xuất: cho biết một đơn vị thiết bị hay phương tiện sản xuất trong 1 đơn vịthời gian tạo ra bao nhiêu đơn vị kết quả, được tính bằng cách lấy tỷ số giữa sốthời gian làm việc của thiết bị, máy móc, phương tiện sản xuất và kết quả sảnxuất
-Suất vật tư hao phí cho sản phẩm: một đơn vị sản phẩm sản xuất ra phảitiêu tốn bao nhiêu đơn vị vật tư
Hiệu quả chi phí chung được biểu hiện thông qua chỉ tiêu giá thành Giáthành là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ chi phí vật chất, dịch vụ, tiền tệ và laođộng đã chi ra để làm ra kết quả sản xuất kinh doanh của đơn vị trong kỳ nghiêncứu Nó là căn cứ quan trọng để xác định hiệu quả sản xuất kinh doanh của đơnvị
-Giá thành đơn vị sản phẩm sản xuất, tiêu thụ: là biểu hiện bằng tiền củatoàn bộ chi phí vật chất và dịch vụ, lao động, tiền tệ đã chi ra để sản xuất ra 1đơn vị sản phẩm của đơn vị trong kỳ nghiên cứu
-Giá thành đơn vị tiền tệ sản lượng hàng hóa (SLHH) cho biết để làm ra 1đơn vị tiền tệ SLHH (sản xuất hoặc tiêu thụ ) thì cần chi ra bao nhiêu tiền
ZSLHH =
pq zq
Trong đó: zq: Tổng chi phí sản xuất sản phẩm (hoặc tổng giá thành hoàntoàn sản phẩm tiêu thụ) kỳ nghiên cứu
pq: Tổng giá trị SLHH (sản xuất hoặc tiêu thụ)
kỳ nghiên cứu
Trang 36- Giá thành một đơn vị tiền tệ GO: cho biết để làm ra một đơn vị tiền tệ Gothì cần phải chi ra bao nhiêu tiền
Tổng chi phí đã chi ra trong kỳ nghiên cứu ZGO =
GO của kỳ nghiên cứu-Trong nghiên cứu về xuất, nhập khẩu hàng hoá, cần quan tâm đến Giá xuấtkhẩu hàng hoá
Theo hình thức xuất khẩu người ta phân thành giá gia công xuất khẩu và giábán trọn gói xuất khẩu ( bán đứt)
Theo phương thức giao nhập, phân thành
Giá FOB: là giá mua hàng cộngcác loại chi phí khác bao gồmlãi vay ngân hàng (nếu có), chi phí quản lý, thuế xuất khẩu, thuế doanh thu, chiphí lưu thông, lãi dự tính…
Giá CIF: là giá FOB cộng với chi phí vận chuyển và chi phí xuất khẩu hànghoá Giá CIF được xác định khi khách hàng yêu cầu hàng được vận chuyển vềtận cảng của họ
Để tính toán giá xuất khẩu chung cho 1 nhóm hàng nhất định, ta tính chỉ tiêugiá xuất khẩu bình quân ( biểu hiện mức độ điển hình của giá cho 1 nhóm hàngtrong một thời kỳ nhất định, từ đó có thể định ra 1 mức giá chung cho phù hợp
để có thể so sánh được các mức giá xuất khẩu bình quân của từng nhóm hàngkhác nhau) Chỉ tiêu này được xác định trên 2 chỉ tiêu: đơn giá xuất khẩu củatừng mặt hàng và lượng xuất khẩu của mặt hàng đó
q
q p
Pi: đơn giá xuất khẩu của mặt hàng i trong nhóm hàng nghiên cứu
qi: lượng hàng xuất khẩu i
3.4 Hiệu quả tổng hợp nguồn lực-chi phí
Đây là nhóm chỉ tiêu chủ yếu nhất, tổng hợp nhất và cũng là nhóm chỉ tiêu
có nhiều ý kiến khác nhau về mặt phương pháp luận Hiện nay đang được chiathành hai hướng giải quyết:
-Tổng hợp các yếu tố khác nhau của nguồn lực và chi phí nhằm phản ánhđúng nhất nguồn lực và chi phí đã bỏ ra để đạt được kết quả kinh tế trong kỳ-Điều chỉnh kết quả sản xuất nhằm đảm bảo tính so sánh được giữa kết quả
và chi phí
3.4.1 Phương pháp tổng hợp các yếu tố khác nhau của nguồn lực và chi phí
Trang 37Tuỳ thuộc vào p ptổng hợp khác nhau mà ta có các chỉ tiêu hiệu quả khácnhau Có 2 hướng để giải quyết vấn đề tổng hợp các yếu tố khác nhau của chiphí và nguồn lực:
-Đưa các yếu tố về đơn vị tiền tệ: đại diện cho chi phí là giá thành (c+v), đạidiện cho nguồn lực là tài sản sản xuất (V)
Khi đó tổng hợp nguồn lực-chi phí bằng: c+v+V
Phương pháp này đơn giản, dễ áp dụng, nhưng tổng hợp theo phương phápnày vi phạm các nguyên tắc so sánh được, trước hết là do chi phí là chỉ tiêu thời
kỳ còn nguồn lực, như đã nói trên là chỉ tiêu thời điểm, mặt khác đây là hainhóm yếu tố không đồng nhất về thời gian Chi phí thường xuyên là chỉ tiêu thì
kỳ có thời gian tương ứng với thời gian tính kết quả, nguồn lực là chỉ tiêu thờiđiểm phù hpj với kết quả thu được trong toàn bộ vòng đời hoạt động của nó.Như vậy theo phương pháp này chỉ tiêu tổng hợp hiệu qủa nguồn-chi phí có tínhgiả định quy ước rất lớn Phản ánh chi phí thường xuyên về lao động sống quathù lao lao động (v) có nhược điểm tính trùng do ảnh hưởng của tiết kiệm haophí lao động quá khứ Giá tính chi phí không phản ánh đầy đủ năng suất laođộng, theo phương pháp này khi năng suất lao động tăng, chi phí không giảmtương ứng nên chỉ tiêu hiệu quả giảm đi một cách giả tạo Phương pháp này chủyếu được sử dụng trong doanh nghiệp
-Đưa các yếu tố khác nhau về đơn vị lao động tức là dựa vào năng suất laođộng (W), đây là quan điểm hợp lý hơn cả Cho rằng đại diện cho chi phí là chiphí thời gian lao động, đại diện cho nguồn lực là tài sản sản xuất được đưa vềcùng quy mô thời gian như chi phí nhờ hệ số hiệu quả định mức E Khi đó tổngchi phí-nguồn lực bằng:
EVW TWWEV
W.GDP W
Phương pháp này có ưu điểm là biểu hiện chi phí lao động bằng thời gianlao động, do đó không chịu các nhược điểm như khi biểu hiện chi phí đó bằngthù lao lao động, đảm bảo thống nhất về thời gian giữa nguồn lực và chi phí.Phương pháp này hợp logic hơn vì nó tỷ lệ thuận với năng suất lao động vàtỷ lệnghịch với lượng tài sản sản xuất cho 1 đơn vị GDP
3.4.2.Phương pháp xác định bằng điều chỉnh chỉ tiêu kết quả sản xuất.
Vì chưa có phương pháp tổng hợp các yếu tố khác nhau cảu nguồn lực vàchi phí nên có thể xác định chỉ tiêu hiệu quả tổng hợp bằg cách so sánh kết quảkinh tế sau khi đã loại bỏ phần đạt được do nguồn lực hoặc chi phí với phần còn
H = (c+v)+VGDP
Trang 38lại của chi phí và nguồn lực Ví dụ có thể so sánh kết quả kinh tế đạt được saukhi trừ đi phần nhờ nguồn lực (GDP-E.V) với chi phí (T) Cụ thể:
Nhược điểm của phương pháp này là ở chỗ chỉ tiêu hiệu quả phụ thuộc vàocác nhân tố không thuộc hiệu quả ( như lượng tài sản sản xuất cho một đơn vịGDP kỳ gốc)
4 Hệ thống chỉ tiêu hiệu quả sản xuất kinh doanh đầu tư tăng thêm.
4.1.Nhóm chỉ tiêu hiệu quả đầu tư tăng thêm.
Hiệu quả vốn đầu tư là phạm trù kinh tế biểu hiện quan hệ so sánh giữakết quả đạt được với vốn đầu tư để đạt được kết quả đó; khác với hiệu quả khácquan hệ so sánh trong hiệu quả vốn đầu tư được hiểu là so sánh tương đối (chia)chứ không gồm so sánh tuyệt đối (trừ) Cũng khác với các chỉ tiêu hiệu quả khác(hiệu quả lao động, hiệu quả sản xuất kinh doanh, hiệu quả tài sản cố định…) dovốn đầu tư bỏ ra chỉ mang lại hiệu quả sau một thời gian (kết quả trực tiếp và kếtquả gián tiếp) Vì vậy, khi xác định hiệu quả vốn đầu tư phải tính đến độ trễ củađầu tư, tức là so sánh vốn đầu tư không phải với kết quả của thời kỳ đầu tư mà làcủa thời kỳ sau đó, hay so sánh với kết quả nhận được của kỳ này không phảivới chính vốn đầu tư trong kỳ này mà với vốn đầu tư bỏ ra trong kỳ trước
Phân biệt hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội, hiệu quả kinh tế được xácđịnh bằng cách so sánh kết quả đạt được với vốn đầu tư tương ứng đã bỏ ra; hiệuquả xã hội xác định bằng cách so sánh kết quả xã hội đạt được với vốn đầu tưtương ứng đã bỏ ra
Theo mối quan hệ kết quả - chi phí cần phân biệt hiệu quả trực tiếp, hiệuquả gián tiếp, liên kết và liên đới (tác động của hiệu quả) Hiệu quả trực tiếp xácđịnh bằng cách so sánh kết quả trực tiếp đạt được với vốn đầu tư tương ứng đã
bỏ ra; hiệu quả gián tiếp được xác định bằng cách so sánh kết quả gián tiếp đạtđược với vốn đầu tư tương ứng đã bỏ ra
Theo nội dung chi phí, cần phân biệt hiệu quả vốn đầu tư, hiệu quả vốn đầu
tư phát triển, hiệu quả vốn đầu tư cơ bản…
Theo tính chất tổng hợp, cần phân biệt hiệu quả từng mặt và hiệu quả tổnghợp
Theo đặc tính cần phân biệt chỉ tiêu hiệu quả dạng thuận và chỉ tiêu hiệuquả dạng nghịch Chỉ tiêu hiệu quả dạng thuận là chỉ tiêu được xác định bằngcách so sánh kết quả đạt được với vốn đầu tư tương ứng, chỉ tiêu này tăng biểuhiện hiệu quả tăng Chỉ tiêu hiệu quả dạng thuận được sử dụng để phân tích ảnhhưởng của hiệu quả đến kết quả Chỉ tiêu hiệu quả dạng nghịch được xác địnhbằng cách so sánh vốn đầu tư bỏ ra với kết quả đạt được tương ứng, sử dụng đểphân tích ảnh hưởng của hiệu quả đến chi phí
4.2.Các chỉ tiêu phản ánh từng mặt của hiệu quả đầu tư
H = GDP-EV
T
Trang 394.2.1 Nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế
Các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế trực tiếp: Hệ số huy động, suất đầu tư Hệ sốhuy động là chỉ tiêu thuận, được xác định bằng cách so sánh kết quả kinh tế trựctiếp TSCĐ mới tăng thêm, nguồn lực mới tăng thêm với vốn đầu tư tương ứng
bỏ ra Suất đầu tư là chỉ tiêu nghịch được xác định bằng cách so sánh vốn đầu tư
bỏ ra với kết quả kinh tế trực tiếp tương ứng đạt được
Các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế gián tiếp: hệ số hiệu quả kinh tế gián tiếp: Hệ
số hiệu quả / hệ số thu hồi (hoàn) vốn đầu tư, tỷ suất sinh lời của vốn đầu tư,
RR, NPV, tỷ suất sinh lời của vốn tự có, hệ số hoàn vốn nội bộ IRR, Suất đầu tưtheo kết quả gián tiếp, ICOR, thời hạn thu hồi vốn đầu tư, thời hạn thu hồi vốnđầu tư giảm, tổng mức chi phí cho cả đời dự án
Các chỉ tiêu hiệu quả liên quan-liên đới: số vòng quay của vốn lưu động, sốvồng quay tăng thêm của vốn lưu động, điểm hoà vốn, mức vốn giảm, mức vốntăng, năng suất lao động, tỷ suất sinh lời của vốn tự có
4.2.2 Nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả xã hội.
Các chỉ tiêu hiệu quả xã hội trực tiếp: Số chỗ làm việc tăng thêm của mộtđồng vốn đầu tư, mức độ tăng cao trình độ nghề nghiệp trên một đồng vốn đầu
tư, suất đầu tư cho một chỗ làm việc tăng thêm, suất đầu tư cho mức nâng caotrình độ nghề nghiệp
Các chỉ tiêu liên quan liên đới: Mức đóng góp cho ngân sách tăng thêm trênmột đồng vốn đầu tư, số ngoại tệ thực thu từ hoạt động đầu tư, tác động đến môitrường, số lao động có việc làm tăng thêm trên một đồng vốn đầu tư, suất đầu tưcho một lao động có việc làm tăng thêm
4.2.3 Đánh giá tổng hợp hiệu quả của đầu tư
Để đánh giá một cách khách quan, tổng hợp hiệu quả đầu tư, nghiên cứuthay đổi nói chung của vốn đầu tư trong thời gian và không gian, cần có chỉ tiêuhiệu quả tổng hợp của đầu tư Hiệu quả đầu tư được xác định bằng cách tínhbình quân cộng nhiều chiều hiệu quả từng mặt của vốn đầu tư như đã nói ở trên,bình quân nhiều chiều có thể tính theo công thức bình quân giản đơn hay giaquyền Do vai trò các chỉ tiêu từng mặt của hiệu quả có khác nhau nên tốt hơn làtính theo gia quyền
4.3 Nhóm chỉ tiêu phản ánh kết quả vốn đầu tư tăng thêm.
4.3.1 Nhóm chỉ tiêu kết quả kinh tế của vốn đầu tư
-Kết quả trực tiếp:
Kết quả trực tiếp lần đầu: kết quả trực tiếp nhận được từ hoạt động đầu tư,gắn liền với mục đích trực tiếp của đầu tư: quy mô TS/TSCĐ được huy động(G), năng lực sản xuất được huy động (N), cơ cấu TS/TSCĐ được huy động, cơcấu năng lực sản xuất được huy động
-Kết quả gián tiếp:
Trang 40Kết quả gián tiếp là kết quả không trực tiếp nhận từ hoạt động đầu tư,không gắn liền với mục đích trực tiếp của hoạt động đầu tư Đó là kết quả trựctiếp của hoạt động sản xuất kinh doanh (khai thác, sử dụng cxác kết quả trực tiếpcủa hoạt động đầu tư, tức là kết quả gián tiếp, kết quả cuối cùng của hoạt độngđầu tư do kết quả trực tiếp của hoạt động đầu tư là làm tăng thêm tài sản, nguồnlực, còn kết quả sản xuất là kết quả khai thác, sử dụng tài sản, nguồn lực tăngthêm cho nên khác với kết quả sản xuất (tính toàn bộ kết quả nhận được) đặcđiểm của chỉ tiêu kết quả sản xuất là phần tăng thêm (biến động) của kết quả sảnxuất kinh doanh, giá trị tăng thêm, giá trị gia tăng tăng thêm, lợi nhuận tăngthêm.
-Kết quả liên đới:
Kết quả liên đới bao gồm quy mô xây dựng dở dang, cơ cấu xây dựng dởdang, mức độ xây dựng dở dang, mức độ thực hiện/ hoàn thành công trình hệ sốmức độ huy động, độ dài xây dựng, cường độ xây dựng, mức độ xây dựng
4.3.2 Nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả xã hội
- Chỉ tiêu trực tiếp: số chỗ làm việc tăng thêm, trình độ tăng thêm…
- Chỉ tiêu gián tiếp: số thất nghiệp giảm, môi trường được cải thiện…
4.4 Phương pháp tính hiệu quả đầu tư tăng thêm
Các công thức tổng quát tính các chỉ tiêu hiệu quả sản xuất, kinh doanhriêng cho phần đầu tư tăng thêm (hay cận biên) có dạng:
Chỉ tiêu hiệu quả đầu tư tăng thêm dưới dạng thuận:
Chỉ tiêu hiệu quả đầu tư tăng thêm dưới dạng nghịch:
Trong đó:
KQ - kết quả sản xuất kinh doanh
CP - chi phí cho quá trình sản xuất kinh doanh
KQ - Sự gia tăng kết quả; KQ =KQ1-KQ0 với KQ0 là kết quả ở kỳgốc, KQ1 là kết quả ở kỳ báo cáo
CP -Sự gia tăng chi phí; CP =CP1-CP0 với CP1 là chi phí cho quá trìnhsản xuất, kinh doanh kỳ báo cáo, CP0 là chi phí cho sản xuất kinh doanh ở kỳgốc
Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh cuả doanh nghiệp là sản phẩm hữuích của doanh nghiệp được biểu hiện dưới 2 hình thái sản phẩm vật chất và sảnphẩm dịch vụ, do lao động của doanh nghiệp tạo ra trong một thời kỳ nhất định
E = KQ
CP
E = CP
KQ