Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài Đề tài phân tích thực trạng và giải pháp của xuất khẩu hàng dệt maytại công ty cổ phần may Thăng Long sang thị trường Mỹ với đối tượngđược hướn
Trang 1Nhận thức được những tiềm năng đó, công ty cổ phần may ThăngLong cũng nhanh chóng tìm cách thức thích hợp nhất để xâm nhập thịtrường Mỹ và Mỹ đã trở thành khách hàng chủ lực của công ty Công ty cổphần may Thăng Long (nguyên là Công ty may Thăng Long) là doanhnghiệp may xuất khẩu được thành lập ngày 8/5/1958 theo quết định của BộNgoại thương Với gần 50 năm trong hoạt động, doanh nghiệp đã tạo dựngcho mình một thương hiệu uy tín trong và ngoài nước Với các chỉ tiêukhông ngừng tăng cao như doanh thu tăng bình quân 20%/năm, mức nộpngân sách tăng 25%/năm, thu nhập tăng 13%/ năm có được những thànhtích trên là do sự đổi mới kịp thời của doanh nghiệp trước những thay đổicủa thị trường, luôn tìm ra hướng đi đúng đắn cho từng giai đoạn Khôngnhững đổi mới trong phương thức sản xuất, mẫu mã sản phẩm, phươngthức quản lý mà ngay cả trong hình thức xuất nhập khẩu, phương thức xâmnhập thị trường cũng luôn thích nghi với từng thời kỳ để đạt đến thànhcông như ngày hôm nay luôn là vấn về đối với mỗi doanh nghiệp.
Tuy đã đạt đựợc nhiều thành công, có nhiều kinh nghiệm trong hoạtđộng xuất nhập khẩu với các bạn hàng nhưng với mỗi thời kỳ, mỗi điềukiện lạị có những thách thức, khó khăn riêng Nhằm đánh giá mặt đã đạt
Trang 2được và những tồn tại, hạn chế để đề xuất những giải pháp thích hợp, lựachọn những phương thức tối ưu trong đó góp phần nâng cao hiệu quả sảnxuất kinh doanh, nâng cao kết quả kinh doanh của công ty Xuất phát từ lý
do đó em đã lựa chọn đề tài:
“Thực trạng và giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng dệt may của công ty cổ phần may Thăng Long vào thị trường Mỹ”.
2 Mục tiêu nghiên cứu
Từ việc phân tìch thực trạng của công ty trong thời gian qua đặc biệt làgiai đoạn 2003 -2005, cùng với các giải pháp mà công ty đã áp dụng Đề tàiđánh giá những thành công và những hạn chế khó nhăn cònn gặp phải từ đó
đề xuất một số giải pháp thích hợp nhằm thúc đẩy lượng xuất khẩu hàngdệt may của công ty nói chung và sang thị trường Mỹ nói riêng, góp phầnnâng cao hiệu quả kinh doanh của công ty,đáp ứng được yêu cầu của thịtrường
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đề tài phân tích thực trạng và giải pháp của xuất khẩu hàng dệt maytại công ty cổ phần may Thăng Long sang thị trường Mỹ với đối tượngđược hướng tới chủ yếu là thị trường Mỹ với những điểm cần chú ýcùngvới kết quả hoạt động kinh doanh của công ty trong thời gian qua, cácthành quả đạt được những tồn tại trong kinh doanh nói chung và kết quả đạtđược từ thị trường Mỹ nói riêng
4 Thời gian nghiên cứu
Với thời gian hoạt động của mình công ty cổ phần may Thăng Long
đã khẳng định được vị trí của mình trên thương trường với rất nhiều điềucần học hỏi, xong thời gian và phạm vi nghiên cứu đề tài có hạn đề tài chỉnghiên cứu thực trạng và giải pháp của công ty trong một số năm gần đâychủ yếu là trong gia đoạn 2003 -2005
Trang 35 Phương pháp nghiên cứu
Với kiến thức đã học được cùng với các tư duy của bản thân đề tàiđược vận dụng phướng pháp duy vật biện chứng kết hợp với duy vật lịch sửcùng với phương pháp thống kê, so sánh, phân tích để đưa ra các nhân xét
dự báo nhằm tìm ra giải pháp tốt nhất để áp dụng vào công ty trong thờigian tới
6 Nội dung của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dungchuyên đề được trình bày gồm 3 phần chính:
Chương I: Đánh giá tiềm năng, nhu cầu thị trường Mỹ đối với hàngdệt may và cơ hội, thách thức đối với các doanh nghiệp Việt Nam
Chương II: Giới thiệu khái quát công ty cổ phần may Thăng Long.Thực trạng xuất khẩu và xuất khẩu hàng dệt may của công ty cổ phần mayThăng Long vào thị trường Mỹ
Chương III: Giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng dệt may của công ty
cổ phần may Thăng Long vào thị trường Mỹ
Sau một thời gian thực tập tại công ty với sự chỉ dẫn và giúp đỡ củaThầy giáo Cấn Anh Tuấn và các cán bộ trong toàn công ty đặc biệt các cán
bộ trong phòng kế hoạch thi trường em đã hoàn thành báo cáo thực tậpchuyên đề này Song khả năng, thời gian còn có hạn báo cáo không tránhkhỏi những thiếu sót nhất định Vì vậy, rất mong sự đóng góp ý kiến củathầy giáo, các cán bộ trong toàn công ty nói chung và cán bộ phòng kếhoạch thị trường để bản báo cáo hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cám ơn!
Trang 4CHƯƠNG I ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG NHU CẦU THỊ TRƯỜNG MỸ ĐỐI VỚI HÀNG DỆT MAY VÀ CƠ HỘI, THÁCH THỨC
ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
I Đánh giá tiềm năng thị trường Mỹ.
1 Nhu cầu thị trường Mỹ.
Mỹ là một cường quốc trên thế giới, với trên hơn ba trăm triệu dân,nền kinh tế đứng đầu thế giới là thị trường hứa hẹn của tất cả các doanhnghiệp Hiện nay, tổng thu nhập quốc dân của Hoa Kỳ ước tính khoảng10.450 tỷ USD, chiếm khoảng 21% tổng thu nhập quốc dân toàn cầu Thunhập bình quân đầu người của Hoa Kỳ khoảng 36.300 USD
Kể từ thập kỷ 90 trở lại đây, Mỹ đã duy trì được mức tăng trưởngGDP cao hơn mức tăng trưởng chung của cả khối G7 Mức tăng trưởngGDP bình quân của Mỹ trong thập kỷ 90 là 3,6% trong khi đó mức tăngtrưởng chung của cả khối G7 trong cùng thời kỳ là 2,6% Tuy nhiên, tốc
độ tăng trưởng GDP thực tế của Mỹ từ năm 2000 trở lại đây không ổn định
và thấp hơn so với mức bình quân của thập kỷ 90 Cụ thể là mức tăngtrưởng năm 2000 là 5%, 2001 là 0,5%, 2002 là 2,2%, 2003là 3,1% và năm
2004 là 4,3% Nhu cầu tiêu dùng cá nhân của Mỹ vẫn tiếp tục giữ ở mứccao Tỷ lệ tiết kiệm ở Mỹ rất thấp, người dân Mỹ chỉ tiết kiệm 1,3% thunhập hàng năm Mặc dù, kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu qua mỗi nămđều tăng, song kim ngạch nhập khẩu tăng hơn, nên tổng thâm hụt thươngmại hàng và dich vụ của Mỹ năm 2003 tăng 71,3 tỷ USD so với năm 2002,lên mức 489,4 tỷ USD Ta có thể nhận thấy qua bảng sau:
Trang 5Bảng 1: Tóm tắt ngoại thương Hoa Kỳ
Nguồn: Ủy ban Thương mại Quốc tế Hoa Kỳ.
Từ bảng số liệu trên cho ta thấy, nhu cầu của thị trường Mỹ là rất lớnvới tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và ổn định trong thời gian qua đã, đang
và sẽ là một điều kiện thuận lợi cho sự thâm nhập của các doanh nghiệpcủa Việt Nam và các nước khác
2 Đánh giá sự cạnh tranh trong lĩnh vực hàng dệt may trên thị trường Mỹ.
2.1 Đặc trưng của thị trường dệt may tại Mỹ.
Mỹ xuất hiện trên thị trường chậm hơn các nước khác ở Châu Âu vàChâu Á, nhưng đã tạo dựng cho mình một thương hiệu, một vị thế đáng nểtrên thị trường Bất kỳ ở lĩnh vực nào Mỹ cũng khẳng định ví trí số 1 củamình trên phạm vi toàn thế giới Mỹ có những vùng trồng bông nổi tiếngcho sản lượng, năng suất, chất lượng tốt, đáp ứng nhu cầu cho ngành dệtmay trong toàn nước Mỹ Để từ đó, dệt may là 1 trong 10 ngành côngnghiệp đứng hàng đầu trong các ngành công nghiệp tai Mỹ, thu hút trên 1,4triệu lao động trong giai doạn những năm 70 Nhưng sau đó, những thập kỷsau, từ những thành tựu của khoa học kỹ thuật đã có sự chuyển dịch củalao động Tiến bộ khoa học kỹ thuật đã giúp giải phóng sức lao động củacon người, làm lực lượng lao động trong ngành may giảm đáng kể Từ năm
1999, đánh dấu sự sụt giảm của ngành may trong toàn nước Mỹ cụ thể đó
Trang 6là việc giảm sut số lượng các nhà máy dệt, và tiếp đó năm 2000 xuất hiện
sự cạnh tranh của các sản phẩm dệt may từ Châu Á với giá cả cạnh tranh.Với sự giảm sút của chỉ số giá từ 134,8% năm 1998 xuống còn 122,7%năm 1999 Chi phí cao, lợi nhuận giảm đã dẫn tới việc số công nhân giảmtheo Từ đây, ngành công nghiệp may không phát huy đựợc thế mạnh trướckia nữa bởi chi phí nhân công và đầu vào cao dẫn tới việc phải nhập cácsản phẩm dệt may từ các thị trường khác
Từ những kết quả trên ta thấy, năng lực xuất khẩu hàng dệt may của
Mỹ ngày càng suy giảm Với việc giảm của số lựợng đơn hàng và kimngạch giảm Có thể nói, Mỹ không còn khả năng phát huy một cách hiệuquả các lợi thế của ngành dệt may và chuyển hướng tập trung sang sản xuấtnhững mặt hàng có hàm lượng công nghệ cao như: điện tử, viễn thông,công nghệ sinh học…là xu hướng tất yếu
Mặc dù đứng đầu thế giới về nhập khẩu hàng dệt may, nhưng Mỹ vẫn
có những chính sách ưu tiên xuất khẩu hàng dệt may và có những đạo luậtnhằm hạn chế lượng hàng dệt may được nhập khẩu vào Trong khuôn khổATC, các hạn ngạch và các hạn chế đối với việc buôn bán hàng dệt mayđược dỡ bỏ dần dần trong 3 giai đoạn và hết ngày 1/1/2005 Tất cả cácthành viên của WTO là đối tượng áp dụng của Hiệp định ATC, cho dù họ
có phải là nước ký kết hay không, và chỉ các nước thành viên của WTOmới đủ tiêu chuẩn được hưởng các lợi ích này
Mỹ là một nước có mức tiêu dùng cao, khá nhạy bén với những biếnđộng của thị trường Sự thay đổi xu hướng tiêu dung hàng may mặc cùngvới sự cạnh tranh trong ngành dệt may đã làm thay đổi cấu trúc ngành này.Rất nhiều các công ty sản xuất quần áo chuyển sang công ty tiếp thị tiêudùng Hay những công ty này đã chuyển một phần sản xuất của họ ra nướcngoài hoặc tìm kiếm các nhà thầu nước ngoài, đặc biệt là Mêhicô và cácnước Caribbean Basin Initiative (CBI) Chính việc này cho phép họ có thể
Trang 7cung cấp các sản phẩm với giá cạnh tranh và có khả năng phản ứng nhanhvới những thay đổi trong nhu cầu tiêu dùng
Ở Mỹ có sự quan tâm rất lớn đến thương hiệu của tầng lớp thanh thiếuniên Mỹ là một tín hiệu đáng mừng đối với các Công ty tiếp thị thươnghiệu Ngoài các thương hiệu do các công ty sản xuất quần áo đã tạo dựng từtrước, những thương hiệu do các Công ty bán lẻ độc quyền đã trở lên ngàycàng quen thuộc, tạo được sự tín nhiệm với khách hàng nhờ những hoạtđộng Marketing
Tại Mỹ, cũng có những sự thay đổi xu hướng, với sự thay đổi củakết cấu lao động trong các ngành nghề cũng dẫn tứoi sự thay đổi trongngành dệt may Các doanh nghiệp sản xuất cũ có những bước thay đổi đểphù hợp với nhu cầu của người tiêu dùng hơn Dẫn tới vệc sáp nhập củacác công ty hay tổ chức lại hoặc chuyển sang nhập khẩu Các công ty tậptrung tìm các nguồn bên ngoài từ các bạn hàng Các thương nhân tại Mỹ đãnhanh chóng nắm bắt được nhu cầu này và hàng loạt các hợp đồng với cácbạn hàng từ những nước khác trên thế giới đã hướng về Mỹ
Trang 8Bảng 2: Bạn hàng chính của Mỹ
(Đơn vị: triệu USD)
Nguồn: Ủy ban Thương mại Quốc tế Hoa Kỳ.
Từ bảng số liệu ta thấy, so với các nước khác thì Việt Nam còn khákhiêm tốn trong việc tiếp cận thị trường Mỹ Khối lượng buôn bán giữa haichiều còn rất hạn chế, cần có những chính sách thich hợp đẻ thúc đẩy cácdoanh nghiệp Việt Nam tiêp xúc sâu hơn với các bạn hàng Mỹ, mở rộngquan hệ
2.2 Sự cạnh tranh của hàng dệt may trên thị trường Mỹ.
Mỹ là một thị trường rộng lớn và hấp dẫn cho rất nhiều các doanhnghiệp, các tổ chức hoạt động trên tất cảc các lĩnh vực Dệt may cũngkhông nằm ngoài trong số đó Đặc biệt, mô hình sản xuất và thương mạihàng dệt may toàn cầu sẽ có những thay đổi căn bản sau khi Hiệp địnhVòng Uruguay về Dệt may (ATC) hết hiệu lực ngày 1/1/2005 Đó là nhậnđịnh của ủy ban Thương mại Quốc tế Hoa Kỳ (ITC) trong báo cáo đánh giákhả năng cạnh tranh của một số nước xuất khẩu hàng dệt may tại thị trườngMỹ
Trang 9Theo báo cáo, Trung Quốc sẽ là nhà cung ứng số một của hầu hết cácnhà nhập khẩu của Mỹ bởi vì nước này có khả năng sản xuất hầu hết cácloại sản phẩm dệt may ở mọi mức độ chất lượng với giá cạnh tranh Tuynhiên, mức độ tăng trưởng xuất khẩu hàng dệt may của Trung Quốc sau khiATC hết hiệu lực sẽ bị hạn chế một phần do Mỹ và các nước nhập khẩukhác được phép sử dụng các điều khoản tự vệ trong lĩnh vực dệt may đượcquy định tại nghị định thư gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)của Trung Quốc.
Để giảm rủi ro có thể xảy ra do mua từ một nước duy nhất, các nhànhập khẩu của Mỹ cũng có kế hoạch mở rộng quan hệ thương mại vớinhững quốc gia có giá nhập khẩu thấp khác, đặc biệt là Ấn Độ Đây cũng lànước có khả năng sản xuất nhiều loại sản phẩm dệt may với giá cả cạnhtranh với nguồn lao động dồi dào lành nghề, giá cả tương đối thấp
Về lâu dài, xuất khẩu từ Trung Quốc và Ấn Độ có thể bí ảnh hưởng dotăng trưởng mạnh kinh tế ở mỗi nước sẽ ảnh hưởng đến tăng trưởng về nhucầu nội địa về dệt may cũng như giá nhân công tăng lên, tiền vốn Đó làđiều kiện thuận lợi cho việc xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam trongnhững năm tới
Đó là các đối thủ cạnh tranh chính, nhưng bên cạnh đó cũng có rấtnhiều nước với khả năng và điều kiện thuận lợi cũng là đối thủ của ViệtNam Một số nước ở Nam Á như Băngladesh hoặc Pakistan cũng xuất khẩuhàng dệt may với giá thành thấp nổi tiếng với các mặt hàng truyền thốngnhư các loại áo dệt kim đơn giản sản xuất hàng loạt và áo sơ mi vải bông(Băngladesh) hoặc quần áo vải bông nam (Pakistan)
Ngoài ra, một số nước được hưởng lợi từ Luật phục hồi Kinh tế Khuvực lòng chảo Caribê, đặc biệt các nước trong khu vực Trung Mỹ là nguồncung cấp chính nếu hiệp định tự do Thương mại giữa Mỹ với Trung Mỹhoặc Hiệp định tự do Thương mại toàn Châu Mỹ đang đàm phán cho phép
sử dụng vải có xuất xứ khu vực
Trang 10Trong số các nước thành viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á(ASEAN), chỉ có Việt Nam và ở chừng mực thấp hơn là Inđônêsia đượccoi là có khả năng cạnh tranh với Trung Quốc và Ấn Độ Tuy nhiên, mặcdầu cả hai nước đều có nguồn lao động giá rẻ, dồi dào, nhưng việc chưa gianhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) là trở ngại rất lớn bởi việc cónhững rào cản thương mại như hạn ngạch, thuế quan…
II Cơ hội và thách thức xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam vào thị trường Mỹ.
1 Cơ hội đối với các sản phẩm dệt may vào thị trường Mỹ.
Dệt may là một trong những ngành đưa lại kim ngạch xuất khâu lớnnhất trong những năm gần đây Nếu như những năm 90, xuất khẩu hàng dệtmay còn đứng vị trí cuối bảng trong những mặt hàng xuất khẩu thì tới năm
1996 có những bước đột biến khởi sắc Xuất khẩu dệt may có một ý nghĩaquan trọng và được chính phủ xếp là một trong những mặt hàng chiến lược.Đặc biệt, với Mỹ- một thị trường đầy hấp dẫn, lý tưởng cho các doanhnghiệp Việt Nam hướng tới Với Mỹ ta luôn có những thuận lợi mà với cácnước khác khó có thể tìm thấy
1.1 Các thuận lợi từ môi trường tự nhiên đem lai.
Đầu tiên có thể nói là về vị trí địa lý, Việt Nam nằm ở vị trí rất thuậnlợi với bờ biển dài thuận tiện cho việc giao thương buôn bán bằng đườngbiển Việt Nam còn nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, thích hợp trồngnhững cây công nghiệp ngắn ngày như: bông, đay…là nguyên liệu cungcấp chính cho ngành dệt may
Việt Nam còn được biết đến là một nước với bờ biển dài với nhiều hảicảng lớn rất thích hợp cho các hoạt động hàng hải Thích hợp cho các hoạtđộng xuất khẩu bằng đường biển đặc biệt thích hợp với các hợp đồng xuấtkhẩu của ngành dệt may
Trang 111.2 Thuận lợi do xã hội mang lại
Ngoài ra, Việt Nam là nước dân số đứng thứ 13 trên thế giới mà phầnđông ở trong lực lượng lao động Đây là điều kiện thuận lợi cung cấpnguồn nhân lực dồi dào cho các nhà máy, xí nghiệp may trên cả nước Đặcbiệt do đặc thù của ngành may là sử dụng nhiều lao động giản đơn, khôngđòi hỏi trình độ chuyên môn kỹ thuật cao Đây là lợi thế mà rất ít nước cóđược Ngoài ra, Việt Nam còn có thuận lợi về giá nhân công Trong cácnước Châu Á nước ta được đánh giá là một trong những nước có giá nhâncông htấp nhất Chính điều này đã tạo lên lợi thế so sánh cơ bản của hàngdệt may của Việt Nam
Bảng 3: Giá nhân công ngành dệt may của một số nước.
Nguồn: Tổng công ty Dệt may Việt Nam.
Ta còn thấy, dệt may là ngành công nghiệp đòi hỏi vốn đầu tư khônglớn, công nghệ không quá phức tạp, suất đầu tư thu hồi vốn nhanh phù hợpvới việc sản xuất quy mô nhỏ ở Việt Nam Ngành công nghiệp dệt may vớicác ngành công nghiệp khác đầu tư thấp hơn nhiều chỉ bằng 1/10 so vớingành điện, 1/15 so với ngành cơ khí, và bằng 1/20 so với ngành luyệnkim Công nghiệp dệt chỉ cần đầu tư khoảng 15.000 USD, công nghiệpmay cần khoảng 10.000 USD trong khi đó suất đầu tư của ngành giấy cầntới 30.000 USD
Đặc biệt, Việt Nam được coi là nước còn chậm phát triển từ lý do đó
có sự chuyển dịch cơ cấu từ nước phát triển sang Đó là nguyên nhân dẫntới sự chuyển dịch ngành dệt may từ những nước phát triển sang Đây làđiều kiện cho Việt Nam phát triển ngành dệt may
Trang 12Viêt Nam còn được biết đến là cái nôi văn hóa, với bề dày lịch sử,ngành dệt đã gắn bao truyền thống của cha ông ta với các sản phẩm nổitiếng như lụa Hà Đông…đã khẳng định được vị thế trên thị trường.
Nhận thức được tầm quan trọng của ngành dệt may đóng góp chongành kinh tế, Đảng và Nhà nước không ngừng thực hiện nhiều chính sách
ưu đãi, hỗ trợ ngành công nghiệp như miễn thuế nhập khẩu đối với nguyênliệu đầu vào cho hàng xuất khẩu, quy định trước thuế 0% để được hoànthuế các mặt hàng xuất khẩu Nhà nước còn cho một số doanh nghiệp vaylãi tạo điều kiện mở rộng khả năng sản xuất, tăng khối lượng xuất khẩu.Đồng thời, Cục xúc tiến và các Đại sứ quán tại các nước cung cấp thông tinđầy đủ giúp cho các doanh nghiệp có các định hướng xuất khẩu phù hợp
Ta còn thấy có điểm tương đồng, bổ sung giữa hai nền kinh tế đó là sự
bù đắp lẫn nhau Việt Nam là nước kém phát triển, công nghệ và trang thiết
bị lạc hậu, cũ kỹ… Trong khi đó, Mỹ là một cường quốc lớn nhất thế giớivới trình độ tiên tiến, thiết bị hiện đại Hai sự trái ngược này bổ sung chonhau bằng việc xuất hiện những hợp đồng đối lưu có sự trao đổi hàng hóaphù hợp
Đó là những thuận lợi mà ngành dệt may của Việt Nam có đượcnhưng bên cạnh đó cũng có rất nhiều khó khăn thách thức ảnh hưởng tớihoạt động xuất nhập khẩu của hàng dệt may qua thị trường Mỹ
2 Những thách thức của hàng dệt may của Việt Nam khi xâm nhập thị trường Mỹ.
2.1 Các rào cản từ phía Mỹ.
Hiệp định song phương Việt Nam – Hoa Kỳ ký tháng 4 năm 2003 vàbắt đầu có hiệu lực từ 1/5/2003 là một trở ngại lớn đối với toàn ngành dệtmay của Việt Nam Theo hiệp định này, 38 cát dệt may từ Việt Nam phảichịu hạn chế về số lượng nhập khẩu vào Hoa Kỳ Hiện tại, Việt Nam vẫnchưa phải là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế Giới (WTO) nên việc
Trang 13xuất khẩu hàng dệt may vẫn bị hạn ngạch Đó là hạn chế lớn đối với vớicác doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dệt may
Ngoài ra, cũng còn có rất nhiều bất lợi khác từ trong nước Thị trường
Mỹ là một thị trường rộng lớn, có thể tiêu thụ hàng hóa của hầu hết các thịtrường với tất cả các nhu cầu về mặt giá cả, chất lượng, mẫu mốt… Nhưngđây cũng là thị trường mà nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng về nhómhàng dệt may có độ nhạy cảm cao Nói cách khác, sự biến động của nhucầu, thị hiếu, sở thích của khách hàng là khó khăn đối với việc tìm hiểu nhucầu thị trường, và đáp ứng nhu cầu của họ
Mặt khác, luật pháp của nước Mỹ ở mỗi bang đều có những điểmkhông đồng nhất Khi xuất khẩu cần có những thông tin cụ thể về luật củacác bang, cử các cán bộ nắm bắt thay đổi các luật định, sự biến đổi của luậttại các thị trường này
2.2 Các khó khăn từ trong nước.
Ngoài ra, dệt may Việt Nam hiện nay còn rất hạn chế trong công việcMarketing giới thiệu sản phẩm Do thiếu vốn mà vấn đề quảng cáo giớithiệu sản phẩm còn yếu, nghiên cứu thiết kế mẫu còn sơ sài, tìm kiếmkhách hàng còn mang tính thụ động, chủ yếu là các khách hàng tự tìm đếnvới các công ty Các công ty còn chưa chú trọng đầu tư cho hệ thống thuthập thông tin để nắm bắt thông tin kịp thời về vấn đề giá cả, cung cầu trênthị trường gây khó khăn trong quá trình đàm phán và xây dựng giá cả
Trong bối cảnh của ngành dệt may Việt Nam hiện nay đã có từngbước khẳng định của mình trên thương trường quốc tế Bằng các kết quảđạt được dệt may Việt Nam đang dần củng cố được vị thế của mình trênthương trường quốc tế Chúng ta chưa được phép thỏa mãn với những kếtquả đó vì đó chưa thực sự đảm bảo một vị thế vững chắc trên thị trường vàvượt trội so với đối thủ khác Bài toán thị trường đầu ra luôn là một vấn đềlớn cần giải đáp cho toàn ngành dệt may nói chung và công ty cổ phần may
Trang 14Thăng Long nói riêng Trước mắt, thị trường Mỹ là một thị trường giàutiềm năng và hấp dẫn Một con đường xuất khẩu đối với công ty đã đangdần được khai thông Tuy nhiên, đó không phải là một con đường bằngphẳng Để sản phẩm của dệt may Việt Nam nói chung và sản phẩm củacông ty cổ phần may Thăng Long nói riêng có mặt và tạo lập được uy tíntrên thị trườngMỹ là một quá trình gian lao vất vả Để đạt được kết quả nhưmong muốn cần có sự chung vai gánh vác của các doanh nghiệp và các cơquan Nhà nước.
III Các hình thức xuất khẩu hàng dệt may.
Cũng như những ngành khác, dệt may cũng có thể áp dụng rất nhiềucác biện phương thức xuất khẩu để đưa sản phẩm của mình tới khách hàng
ở các nước khác nhau Nhưng tùy điều kiện, hoàn cảnh mà mỗi công ty,doanh nghiệp lựa chọn cho mình những phương pháp xuất khẩu phù hợp.Hiện nay, đối với ngành dệt may của Việt Nam nói chung và của công ty
cổ phần may Thăng Long nói riêng chủ yếu áp dụng hai phương thức chính
đó là xuất khẩu trực tiếp (với biện pháp xuất khẩu FOB) và hình thức giacông
1 Hình thức xuất khẩu trực tiếp.
Theo tài liệu Kỹ thuật kinh doanh xuất nhập khẩu của GS.TS VõThanh Thu có viết: Giao dich trực tiếp (xuất nhập khẩu trực tiếp) là hìnhthức giao dịch trực tiếp, trong đó người bán (người sản xuất, người cungcấp) và người mua có quan hệ trực tiếp với nhau (bằng cách gặp mặt, quathư từ, điện tín) để bàn bạc thỏa thuận về hàng hóa, giá cả và các điều kiệngiao dịch khác
Từ đó ta thấy, xuất khẩu trực tiếp là hoạt động bán hàng trực tiếp củamột công ty cho khách hàng của mình ở thị trường nước ngoài
Để thâm nhập thị trường nước ngoài thông qua xuất khẩu trực tiếp, cáccông ty thường sử dụng các phương thức sau:
Trang 15 Đại diện bán hàng: đây là phương thức bán hàng không mangdanh nghĩa của người ủy thác nhằm nhận lương và một phầnhoa hồng trên cơ sở giá trị hàng hóa bán được Trên thực tế, đạidiện bán hàng hoạt động như một như là nhân viên bán hàngcủa công ty ở thị trường nước ngoài, công ty sẽ ký hợp đồngtrực tiếp với khách hàng ở thị trường đó.
Đại lý phân phối: đây là phương thức xuất khẩu trong đó ngườimua hàng hóa của công ty để bán theo kênh tiêu thụ ở khu vực
mà công ty phân định Công ty khống chế phạm vi phân phối ởthị trường nước ngoài Đại lý phân phối chấp nhận rủi ro liênquan đến việc bán hàng hóa ở thị trường đã định sẵn và thu lợinhuận qua chênh lệch giữa giá mua và giá bán
Từ những định nghĩa trên ta thấy, hình thức xuất khẩu trực tiếp cónhững ưu điểm Đó là việc cho phép người xuất khẩu trực tiếp nắm bắtđược nhu cấu của thị trường về số lượng, chất lượng, giá cả để người bánthỏa tôt nhất mãn nhu cầu của thị trường, của khách hàng Từ việc xuấtkhẩu trực tiếp, sẽ giúp nhà xuất khẩu tiết kiệm được rất nhiều chi phí quacác khâu trung gian, người bán sẽ không bị chia nhỏ lợi nhuận Đồng nghĩavới việc đó là người tiêu dùng cũng được tiếp xúc gần hơn với giá cả thực
tế của sản phẩm Ngoài ra, việc xuất khẩu trực tiếp giúp cho doanh nghiệpgây dựng chiến lược tiếp thị quốc tế phù hợp
Nhưng bên cạnh đó, việc áp dụng phương pháp xuất khẩu trực tiếpcũng gặp rất nhiều khó khăn Đầu tiên có thể xét tới việc chi phí bỏ ra đểtiếp cận thị trường nước ngoài là rất lớn cho nên những doanh nghiệp vừa
và nhỏ vốn ít khó có khả năng theo đuổi Đặc biệt những doanh nghiệp củaViệt Nam phần đông đều là những doanh nghiệp nhỏ và vừa nên việc theođuổi việc xuất khẩu trực tiếp này gặp rất nhiều khó khăn Ngoài ra, kinhdoanh xuất khẩu trực tiếp đòi hỏi có các cán bộ có ngiệp vụ kinh doanh
Trang 16xuất nhập khẩu giỏi: giỏi về giao dịch đàm phán, am hiểu và có kinhnghiệm buôn bán quốc tế đặc biệt là nghiệp vụ thanh toán quốc tế thôngthạo, có như vậy mới đảm bảo kinh doanh xuất khẩu trực tiếp có hiệu quả.Đây vừa là yêu cầu để đảm bảo hoạt động kinh doanh xuất trực tiếp, vừathể hiện điểm yếu của đa số các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Namkhi tiếp cận thị trường thế giới Chính vì các điểm yếu trên mà sự lựa chonhiện nay của các doanh nghiệp dệt may ở Việt Nam là xuất khẩu theophương thức thứ hai đó là hình thức gia công.
2 Hình thức gia công
Gia công là một hoạt động kinh doanh thương mại trong đó gia cônghàng xuất khẩu là phương thức sản xuất hàng xuất khẩu Trong đó, ngườiđặt gia công ở nước ngoài cung cấp: máy móc, thiết bị, nguyên phụ liệuhoặc bán thành phẩm theo mẫu định trước Người nhận gia công trongnước tổ chức quá trình sản xuất sản phẩm theo yêu cầu của khách Toàn bộsản phẩm làm ra người nhận gia công sẽ giao lại cho người đặt gia công đểnhận tiền công
Hoạt động gia công ngày nay khá phổ biến trong hoat động ngoạithương của nhiều nước Hoạt động gia công mang đến thuận lợi cho các haibên với các lợi thế của mình Với bên đặt gia công, phương thức này giúpcho lợi dụng được giá rẻ về nguyên phụ liệu và nhân công của nước nhậngia công Đối với bên nhận gia công, phương thức này giúp họ yên tâm vớisản phẩm làm ra bởi có sẵn thị trường tiêu thụ, không phải bỏ ra bất cứ chiphí cho họat động bán sản phẩm xuất khẩu Việc thực hiện các hợp đồnggia công thích hợp cho những công ty có quy mô vừa và nhỏ bởi vốn đầu
tư ít cho sản xuất do không phải lo về nguyên liệu đầu vào Ngoài ra, nócòn giúp tận dụng được lực lượng nhân công rẻ trong nước Từ hoạt đọngnày, cũng giúp các doanh nghiệp học hỏi được kinh nghiệm xuất khẩu, tạomẫu bao bì…
Trang 17Trong điều kiện kinh nghiệm kinh nghiệm kinh doanh quốc tế của cácdoanh nghiệp Việt Nam đặc biệt trong ngành may thấp, chưa có mẫu mã,nhãn hiệu, có uy tín riêng thì hình thức gia công xuất khẩu giúp cho ngànhmay mặc của Việt Nam đưa ngay ra thị trường thế giới, mang lại ngoại tệcho đất nước.
Nhưng hiện tại, trong quan hệ gia công hiện nay, phần lớn đối tác giacông là các trung gian mua bán nên lợi nhuận thu được từ hoạt động nàykhông cao Ngoài ra, như ta biết hoạt động gia công của doanh nghiệp nhậngia công phụ thuộc vào bên phía đặt gia công: phụ thuộc về thị trường, giábán sản phẩm, giá đặt gia công, nguyên vật liệu, mẫu mã, nhãn hiệu sảnphẩm…cho nên những doanh nghiệp sản xuất lớn, chất lượng sản phẩm tốtvới hình thức gia công doanh nghiệp khó có điều kiện phát triển mạnh rathị trường thế giới Gia công nhiều khi còn là trường hợp bên phía nướcngoài lợi dụng hình thức gia công để bán máy móc cho phía bên Việt Nam,sau một thời gian không có thị trường đặt gia công nữa máy móc phải “đắpchiếu” gây lãng phí Nhiều trường hợp bên đặt gia công đưa máy móc trangthiết bị cũ, lạc hậu về công nghệ sang Việt Nam dẫn tới công nhân làm việckém hiệu quả, nặng nhọc, gây ô nhiễm môi trường Ngoài ra, với năng lựctiếp thị kém nhiều doanh nghiệp bị phía bên đặt gia công lợi dụng quotaphân bổ đưa hàng kém chất lượng vào Việt Nam.Với trình độ còn hạn chế,phương thức gia công còn dẫn tới việc quản lý định mức gia công và thanh
lý các hợp đồng gia công không tốt sẽ là chỗ hở để đưa hàng hóa trốn thuếvào Việt Nam, gây khó khăn cho sản xuất, và kinh doanh trong thị trườngnội địa Hiện nay, tình hình gia công ở khu vực và trong nước ngày cànggay gắt làm cho giá gia công sụt giảm dẫn tới tình trạng hiệu quả kinhdoanh kém do hiệu quả kinh doanh gia công thấp, thu nhập của công nhângia công ngày càng giảm sút
Trang 18Trên đây là hai hình thức xuất khẩu chủ yếu của hàng dệt may xuấtkhẩu của nước ta trong thời gian qua Phần nào đã đưa lại kết quả đóng góplớn vào kim ngạch xuất khẩu nói riêng và đóng góp vào tổng thu nhập quốcdân nói chung Đồng thời với lượng xuất khẩu không ngừng tăng cao, chấtlượng luôn được cải tiến để đáp ứng tốt nhất nhu cầu của các bạn hàng, củakhách hàng dệt may đã tự khẳng định được vị trí quan trọng của mình trong
cơ cấu ngành nghề của nền kinh tế
Với kết quả đã đạt dược trong thời gian qua cùng với kinh nghiệm thuđược các doanh nghiệp nói riêng và Tổng công ty dệt may nói chung sẽ lựachọn cho mình được cách xuất khẩu thích hợp nhất phù hợp với khả năng
và điều kiện của mình
CHƯƠNG II GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN MAY THĂNG LONG THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU VÀ XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN MAY THĂNG
LONG VÀO THỊ TRƯỜNG MỸ.
I Giới thiệu khái quát về công ty cổ phần may Thăng Long
1 Giới thiệu về công ty
Tên đầy đủ: Công ty cổ phần may Thăng Long.
Tên giao dịch: Thanglong Garment Joint Stock Company
Địa chỉ: 250 Minh Khai, Hai Bà Trưng, Hà Nội
Tên viết tắt: THALOGA
Tel: (84.4) 8623372, 8623375, 6240592, 8639265, 8623054
Trang 19Công ty còn có các trung tâm giao dich và giới thiệu sản phẩm
tại các địa điểm:
250 Minh Khai, Hai Bà Trưng, Hà Nội
Trang 20tại, THALOGA CÓ 05 xí nghiệp tại Hà Nội, Hoà Lạc (Hà Tây), Nam Định
và 01 Công ty liên doanh tại Hà Nam với 75 dây chuyền sản xuất và trên
3000 cán bộ công nhân viên Có được kết quả trên công ty phải trải qua quátrình hình thành và phát triển thành các giai đoạn như sau:
Giai đoạn đầu thành lập từ 1958- 1988 Đây là giai đoạn công ty gặpnhiều khó khăn do mới thành lập và có chiến tranh
Sau một thời gian chuẩn bị ngày 8/5/1958 Bộ Ngoại thương đã chínhthức ra quyết định thành lập Công ty may mặc xuất khẩu, thuộc tổng công
ty xuất nhập khẩu tạp phẩm Công ty có trụ sở đóng tại số nhà 15 phố Cao
Bá Quát- Hà Nội Ban đầu thành lập công ty chỉ có 20 công nhân tay nghềcao và 8 cán bộ là bộ đội chuyển ngành Với tổng số 28 cán bộ ban đầu,nhưng con số không ngừng tăng lên đến nhưng tháng cuối năm 1958 tông
số cán bộ cà công nhân không ngừng tăng lên tới 550 người Đồng thờicông ty hoàn thành xuất sắc kế hoạch năm với tổng sản lượng là 392.129sản phẩm đã đạt 112,8% kế hoạch đề ra Sau đó căn cứ vào nhu cầu sảnxuất công ty đã có những thay đổi về địa điểm Từ những ngày đầu, công ty
đã chuyển về 40 Phùng Hưng, bộ phận đóng gói, đóng hòm phải phân tán
về 17 Chả Cá và phố Cửa Đông Với quy mô sản xuất ngày càng mở rộng,tới năm 1959 công ty chuyển về 139 Lò Đúc nhưng một số bộ phận vẫnphân tán ở một số nơi như sản xuất áo sơ mi, pizama đặt ở Hàng Ngang,măng tô đặt ở Hàng Trống, Hàng Bồ, áo mưa đặt ở Trại Găng và đóng gói,đóng hòm ở Chả Cá, Cửa Đông, Hàng Bột Nhờ sự tăng quy mô về máymóc, thiết bị, số lượng lao động, hệ thống quản lý kế hoạch công ty đãtăng gấp 3 lần năm 1958 nhưng công ty vẫn vượt 102% chỉ tiêu Trongnhững năm này công ty đã mở rộng quan hệ với các khách hàng nước ngoàinhư: Liên Xô, Đức, Mông Cổ, Tiệp Khắc
Tháng 9-1960, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng họp tạithủ đô Hà Nội, đề ra đường lối đưa miền Bắc quá độ lên CNXH và tiếnhành cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam, thống nhất Tổ quốc Để
Trang 21hưởng ứng phong trào đó của Đảng và Nhà nước công ty bước vào thựchiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965) với những thay đổi lớn.Tháng 7/1961, công chuyển về địa điểm 250 Mịnh Khai thuộc khu phố Hai
Bà Trưng nay là quận Hai Bà Trưng – là trụ sở chính như ngày nay Vớiđịa điểm mới đã tạo nhiều thuận lợi cho mọi hoat động của công ty Vớimặt bằng rộng rãi, tổ chức sản xuất ổn định, các bộ phận không còn phântán nay đã thống nhất tạo thành một dây chuyền khép kín khá hoàn chỉnhngay từ nhưng khâu ban đầu như nguyên vật liệu cắt, may, giặt, mài, là đếnkhâu cuối cùng là đóng gói, đóng hòm
Ngày 31/8/1965 theo Quyết định của Bộ Ngoại Thương tách bộ phậngia công thành đơn vị độc lập với tên gọi là Công ty gia công may mặc.Công ty may mặc xuất khẩu đỏi tên thành Xí nghiệp may mặc xuất khẩu và
từ đây đánh dấu một giai đoạn mới của xí nghiệp với những điều kiện thuậnlợi đã tạo điều kiện cho xí nghiệp đi vào chuyên sâu vào các mặt hàng xuấtkhẩu nâng cao chất lượng sản phẩm, nâng cao uy tín của xí nghiệp nóiriêng và của toàn ngành dệt may Việt Nam nói chung Để thực hiện thắnglợi nhiệm vụ của kế hoạch 5 năm xí nghiệp đã có những đầu tư tích cựcvào máy móc (cụ thể đã được cấp 178 máy chạy điện của Công hoà dânchủ Đức thay cho máy móc cũ, chuyển từ thủ công sang máy móc ) vàtrong 5 năm xí nghiệp luôn hoàn thành kế hoạch và đã đóng góp vào việcthực hiện kế hoạch 5 năm thành công trong cả nước
Vào những năm kháng chiến chống Mỹ, cùng với cả nước xí nghiệpcũng gặp rất nhiều khó khăn, đã trải qua 4 lần đổi tên, 4 lần đổi địa điểm, 5lần thay đổi cán bộ chủ chốt với lượng nguyên vật liệu thiếu đã dãn tới năm
1972 xí nghiệp chỉ hoàn thành 67,7% kế hoạch với 2 084 643 sản phẩm.Nhưng con số không ngừng tăng lên theo sự nỗ lực của các cán bộ, côngnhân trong xí nghiệp Năm 1973 xí nghiệp đã đạt tổng giá trị sản lượng là 5
696 900 đồng tức đạt 101,77% Những năm tiếp theo trong điều kiện khókhăn sản lượng có tăng nhưng không nhiều như năm 1975 xí nghiệp đã đạt
Trang 22tổng giá trị sản lượng là 5 984 900 đồng tức đạt 104,36% Trong các năm1976- 1980, xí nghiệp đã tập trung vào một số hoạt động chính như: triểnkhai thực hiện là đơn vị thí điểm của toàn ngành may, trang bị thêm máymóc, nghiên cứu và cải tiến dây truyền công nghệ Năm 1979, xí nghiệpđược Bộ quyết định đổi thành xí nghiệp may Thăng Long.
Giai đoạn từ 1980- 1988, đây là thời kỳ phát triển vượt bậc của xínghiệp Mỗi năm trung bình xuất khẩu 5 000 000 áo sơ mi, thị trường được
mở rộng ở hầu hết các nước XHCN như: Liên Xô, Ba Lan, Tiệp Khắc Giai đoạn từ 1989- 2003, những thị trường truyền thống của xí nghiệpdần thay đổi do vào đầu những năm 90 có sự sụp đổ của một loạt các nướcXHCN, những hợp đồng đã ký ở các thị trường như Đức, Liên Xô, Đông
Âu không còn hiệu lực, hàng không có thị trường tiêu thụ Ngành dệt maynói chung và xí nghiệp may Thăng Long nói riêng lâm vào tình trạng khókhăn
Đứng trước khó khăn đó lãnh đạo của xí nghiệp may Thăng Long đãquyết định tổ chức lại sản xuất Xí nghiệp quyết định đầu tư hơn 20 tỷ dồng
để thay thế toàn bộ hệ thống thiết bị cũ trước đây của Công hoà dân chủĐức bằng dây truyền thiết bị mới của Cộng hoà liên bang Đức, Nhật Bản.Đồng thời xí nghiệp hết sức chú trọng đến việc tìm kiếm và mở rộng thịtrường xuất khẩu Xí nghiệp đã ký nhiều hợp đồng với các doanh nghiệp ởPháp, Đức, Thụy Điển, Hàn Quốc, Nhật Bản
Với những thay đổi hiệu quả trên, năm 1991 xí nghiệp may ThăngLong là đơn vị đầu tiên của ngành may được Nhà nước cấp giấy phép xuấtnhập khẩu trực tiếp Với sự ưu đãi này đã giúp cho xí nghiệp tiếp cận trựctiếp với khách hàng ở các thị trường đã giúp tiết kiệm chi phí, nâng caohiệu quả kinh doanh Thực hiện việc sắp xếp lại các doanh nghiệp Nhànước và địa phương trong thời kỳ đổi mới, tháng 6/1992 xí nghiệp được BộCông Nghiệp Nhẹ (nay là Bộ Công Nghiệp) cho phép chuyển đổi tổ chức
từ xí nghiệp sang thành công ty và giữ nguyên tên Thăng Long theo quyết
Trang 23định số 218 TC/LĐ- CNN Công ty may Thăng Long ra đời- đánh đấu mộtgiai đoạn phát triển mới Công ty may Thăng Long là mô hình công ty đầutiên trong các xí nghiệp may mắc phía Bắc được tổ chức theo cơ chế đổimới Công ty đã thiết lập quan hệ với nhiều bạn hàng ở các thị trường mớinhư Châu Âu, Nhật Bản, Mỹ Ngoài thị trường xuất khẩu doanh nghiệpcòn chú trọng thị trường nội địa, năm 1993, công ty đã thành lập Trung tâmthương mại và giới thiệu sản phẩm tại 39 Ngô Quyền, Hà Nội với diện tíchtrên 300m2 từ đó mở rộng sự hiểu biết của khách hàng về sản phẩm củacông ty cũng như giúp cho công ty hiểu biết thêm về khách hàng của mình.
Từ năm 1994, công ty đã thực hiện việc cải tiến quản lý sản xuất Bộ máyquản lý tinh giảm, giám đốc trực tiếp quản lý và điều hành quản lý hoạtđộng của công ty Đồng thời công ty đã thực hiện việc cải tiến quản lý sảnxuất chuyển từ chế độ 2ca/ngày sang chế độ 1ca/ngày Việc cải tiến đã giúpngười lao động không phải đi quá sớm về quá muộn đảm bảo sức khỏe Vàhiệu quả của việc đổi mới này đã làm tăng 20% năng suất lao động Từ đâycông ty đã bắt đầu sáng tạo những mẫu mốt đế triển khai các đơn đặt hàngFOB và nội địa, với một số mặt hàng như áo khoác dài, thảm treo tường… Công ty cũng thay đổi hàng loạt máy móc mới và hiện đại đã đưanăng suất 1.200.000/năm, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường Đếnnăm 1996 công ty lại tiếp tục đầu tư 6 tỷ đồng để cải tạo nhà xưởng, muasắm thiết bị, thành lập xí nghiệp may tại Nam Hải tại TP.Nam Định thu hút
250 lao động và năm 2001 công ty đã đầu tư xây dựng công trình nhà máyliên doanh với Trung Quốc G&A tại Hà Nam với số vốn đầu tư trên 30 tỷđồng giai đoạn 1, bắt đầu tháng 1 năm 2003 nhà máy chính thức đi vàohoạt động đã xuất khẩu 45.000 sản phẩm vào các thị trường EU, Mỹ,Isael Nhờ sự phát triển đó công ty là một trong những đơn vị đầu tiên ởphía Bắc chuyển sang hoạt động sản xuất với kinh doanh nâng cao hiệuquả
Trang 24Từ năm 2004 đến nay, công ty may Thăng Long được cổ phần hoátheo quyết định số 165/2003/QĐ-BCN ngày 14/10/2003 của Bộ CôngNghiệp về việc cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước Công ty may ThăngLong trực thuộc Tổng công ty Dệt may Việt Nam Công ty may ThăngLong chuyển sang hình thức cổ phần với Nhà nước nắm giữ 51% vốn điều
lệ và 49% được bán cho các cán bộ công nhân viên trong công ty Trongquá trình hoạt động, khi có nhu cầu và đủ điều kiện công ty sẽ phát hànhthêm cổ phiếu và trái phiếu để huy động vốn đầu tư để phát triển sản xuấtkinh doanh Theo phương án cổ phần hoá:
Vốn điều lệ của công ty
Vốn điều lệ được chia thành
Mệnh giá thống nhất của mỗi cổ phần
23.306.700.000 đồng233.067 cổ phần100.000 đồngVới gần 50 năm hoạt động công ty may Thăng Long đã đạt nhiềuthành tích đóng góp vào công cuộc xây dựng và phát triển của đất nước.Ghi nhận những đóng góp công ty Nhà nước đã trao tăng cho đơn vị nhiềuhuân chương cao quý như 1 Huân chương Độc lập hạng nhì (năm 2002),Huân chương Độc lập hạng 3 (năm 1997) và nhiều huân chương cao quýkhác Đặc biệt công ty là đơn vị đầu tiên được cấp phép xuất khẩu trực tiếp,tạo thế chủ động, giảm phiền hà tiết kiệm chi phí,…Công ty đã nhận giacông, may, thêu, mài…80% sản phẩm của công ty xuất khẩu ra nước ngoài
và thị trường đã mở rộng ra trên 30 quốc gia
3 Chức năng, nhiệm vụ, lĩnh vực kinh doanh.
kỹ thuật để phát triển sản xuất, mở rộng thị trường
Trang 253.2 Nhiệm vụ.
Công ty cổ phần may Thăng Long là công ty thuộc ngành dệt may đầutiên được quyền xuất, nhập khẩu trực tiếp, công ty chuyên sản xuất các mặthàng chất lượng cao theo đơn đặt hàng của khách hàng trong và ngoàinước Ngoài ra, công ty còn sản xuất các sản phẩm nhựa và kinh doanh khungoại quan Vì vậy, nhiệm vụ của công ty đó là xây dựng và thực hiện đầy
đủ các kế hoạch kinh doanh, đáp ứng nhu cầu may mặc của các tầng lớpnhân dân, thực hiện đầy đủ các hợp đồng xuất nhập khẩu Đồng thời, công
ty cần hoàn thành đầy đủ nghĩa vụ với Nhà nước Tổ chức tốt đời sống chocán bộ, công nhân viên trong toàn công ty
3.3 Lĩnh vực kinh doanh.
Mỗi năm công ty sản xuất khoảng 10.000.000 sản phẩm, trong đóxuất khẩu khoảng 80% Sản phẩm của công ty có mặt trên 30 quốc gia trênthế giới trong đó có cả những thị trường khó tính như Mỹ, EU,…Nhữngmặt hàng công ty đang sản xuất và kinh doanh chủ yếu:
- Quần áo bò
- Quần áo sơ mi nam, nữ, bộ comple
- Bộ đồng phục người lớn, trẻ em
- Áo jacket các loại
- Quần áo thể thao và quần áo dệt kim
Hiện nay, lĩnh vực kinh doanh của công ty bao gồm: sản xuất kinhdoanh xuất nhập khẩu trên các lĩnh vực hàng may mặc, nhựa, kho ngoạiquan Trong đó, hoạt động chính vẫn là ở lĩnh vực may mặc với các loạisản phẩm cơ bản: quần, áo sơmi, áo jacket, áo khoác các loại, quần áo trẻem…Việc sản xuất của công ty chủ yếu là hàng gia công may mặc theo cáchợp đồng gia công
Trang 264 Bộ máy quản lý sản xuất kinh doanh
4.1 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản trị
Từ năm 2004, công ty may Thăng Long được cổ phần hoá theo quyếtđịnh số 165/2003/QĐ-BCN ngày 14/10/2003 của Bộ Công Nghiệp về việc
cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước Công ty may Thăng Long trực thuộcTổng công ty Dệt may Việt Nam Công ty may Thăng Long chuyển sanghình thức cổ phần với Nhà nước nắm giữ 51% vốn điều lệ và 49% đượcbán cho các cán bộ công nhân viên trong công ty
Bộ máy tổ chức quản lý của công ty đựơc tổ chức như sơ đồ sau:
Trang 27Bảng 4:Bộ máy tổ chức quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty.
Phòng kế toán tài vụ chuẩn bịPhòng
sản xuất
Phòng kinh doanh nội
địa
Trung tâm thơng mại
& giới thiệu sản phẩm
Cửa hàng thời trang
Xí nghiệp dịch vụ
đời sống
Các phân xởng
Trang 28Từ sơ đồ ta có thể thấy hệ thống bộ máy quản lý của công ty như sau:
Ở cấp công ty có:
+ Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ): là cơ quan quyền lực cao nhất củacông ty, quyết định các vấn đền liên quan đến chiến lược phát triển dài hạncủa công ty Các vấn đề do ĐHĐCĐ quyết định thường được thực hiệnthông qua biểu quyết, nghị quyết được thông qua khi có trên 51% số phiếutham gia cuộc họp ĐHCĐ đồng ý Các vấn đề về ĐHCĐ được quy định tạiLuật Doanh nghiệp và chi tiết theo điều lệ của công ty
+ Hội đồng quản trị (HĐQT): là cơ quan quản lý của công ty, đứngđầu là Chủ tịch HĐQT Thay mặt HĐQT điều hành công ty là Tổng giámđốc Tổng giám đốc chịu trách nhiệm trước HĐQT về mọi hoạt động củacông ty HĐQT hoạt động hoạt động tuân thủ theo quy định của LuậtDoanh nghiệp và điều lệ của công ty
+ Ban kiểm soát: là cơ quan giám sát hoạt động của ĐHĐCĐ, đứngđầu là trưởng ban kiểm soát
+ Tổng giám đốc: là người điều hành mọi hoạt động sản xuất kinhdoanh hàng ngày của công ty Tổng giám đốc do HĐQT bổ nhiệm hay bãinhiệm Tổng giám đốc chịu trách nhiệm trước HĐQT về việc thực hiện cácquyền và nhiệm vụ được giao
Giúp việc cho tổng giám đốc có các Phó Tổng giám đốc do HĐQT bổnhiêm hay bãi nhiệm theo đề nghị của Tổng giám đốc, gồm có các PhóTổng giám đốc sau:
- Phó Tổng giám đốc điều hành kỹ thuật: có trách nhiệm giúp việccho Tổng giám đốc về mặt kỹ thuật sản xuất và thiết kế của công ty
-Phó Tổng giám đốc sản xuất: có trách nhiệm giúp Tổng giám đốctrực tiếp chỉ đạo hoạt động kinh doanh
-Phó Tổng giám đốc điều hành nội chính: có nhiệm vụ giúp Tổnggiám đốc về mặt đời sống nhân viên và điều hành các dịch vụ đời sống
Còn các chức năng có các phòng ban như sau:
Trang 29-Văn phòng công ty: có trách nhiệm quản lý về mặt nhân sự, các mặt
tổ chức của công ty: quan hệ đối ngoại, giải quyết các chế độ chính sáchvới người lao động
-Phòng kỹ thuật chất lượng: quản lý, phác thảo, tạo mẫu các mặthàng theo đơn đặt hàng của khách hàng và nhu cầu của công ty, kiểm trachất lượng sản phẩm trước khi đưa vào nhập kho thành phẩm
-Phòng kế hoạch thị trường: có nhiệm vụ nghiên cứu, khảo sát thịtrường và lập kế hoạch sản xuất kinh doanh tháng, quý, năm Tổ chức vàquản lý công tác xuất nhập khẩu hàng hoá, đàm phán, soạn thảo hợp đồngvới khách hàng trong và ngoài nước
-Phòng kế hoạch tài vụ: tổ chức quản lý, thực hiện công tác tài chính
kế toán theo chính sách của Nhà nước Đảm bảo đầy đủ nguồn vốn cho sảnxuất kinh doanh theo yêu cầu phát triển của công ty Phân tích và tổng hợp
số liêụ để đánh giá kết quả sản xuất kinh doanh, đề xuất các biện pháp đảmbảo hoạt động của công ty đạt hiệu quả cao
-Phòng chuẩn bị sản xuất: tổ chức tiếp nhận, bảo quản hàng hoátrong kho cũng như vận chuyển, cấp phát nguyên vật liệu đến từng đơn vịtheo lệnh sản xuất Ngoài ra, phòng còn chịu trách nhiệm kiểm tra sốlượng, chất lượng của nguyên phụ liệu phục vụ cho sản xuất
- Phòng kinh doanh nội địa: tổ chức tiêu thụ hàng hoá nội địa, quản
lý hệ thống bán hàng, các đại lý bán hàng cho công ty và theo dõi tổng hợp,báo cáo tình hình kết quả kinh doanh và tiêu thụ hàng hoá của đại lý
- Trung tâm thương mại và giới thiệu sản phẩm: các sản phẩm đượctrưng bày, gới thiệu và bán các loại sản phẩm của công ty Đồng thời, trungtâm còn tiếp nhận các ý kiến đóng góp, phản hồi từ người tiêu dùng
- Cửa hàng thời trang: tại đây các sản phẩm dược trưng bày mangtính giới thiệu là chính, ngoài ra còn có nhiệm vụ cung cấp các chiến lượctìm kiếm thị trường
Trang 30- Xí nghiệp dịch vụ đời sống: làm công tác dịch vụ, phục vụ thêmcho đời sống của công nhân viên: quản lý lớp mẫu giáo, trông xe, nhàăn….
4.2 Cơ cấu tổ chức sản xuất
Với dây truyền công nghệ hiện đại, công ty bố trí chuyên môn hoá sảnxuất cho từng xí nghệp cụ thể Mỗi đơn vị sản xuất đều được tiến hành theocông nghệ khép kín Hiện nay, cơ cấu tổ chức sản xuất của công ty đượcsắp xếp như sau:
+ Có 5 xí nghiệp may trong đó có 3 xí nghiệp: XN I, XN II, XN IIIđóng tại Hà Nội, một xí nghiệp may Nam Hải đóng tại Nam Định, xínghiệp may Hà Nam đóng tại Hà Nam, một xí nghiệp phụ trợ bao gồmphân xưởng thêu và phần xưởng mài đồng thời có nhiệm vụ cung cấp điệnnước, sửa chữa máy móc, thiết bị cho toàn công ty
+ Một cửa hàng thời trang chuyên nghiên cứu mẫu mốt và sản xuấtnhững đơn đặt hàng nhỏ với số lượng khoảng 1000 sản phẩm
Các cấp xí nghiệp:
- Trong các xí nghiệp thành viên ban giám đốc Xí nghiệp gồm Giámđốc xí nghiệp Giúp việc cho các giám đốc xí nghiệp có các nhân viênthống kê xí nghiệp và nhân viên thống kê phân xưởng
Dưới các trung tâm và các cửa hàng thời trang có cửa hàng trưởng vàcác nhân viên của cửa hàng
II Thực trạng xuất khẩu của hàng dệt may của công ty cổ phần may Thăng Long giai đoạn vừa qua.
1 Hoạt động xuất khẩu trong thời gian qua.
1.1 Thực trạng thị trường xuất khẩu của công ty giai đoạn 2003 -2005
Được thành lập từ năm 1958, trải qua gần 50 năm hoạt động chuyểnmình theo những bước đi lên của nền kinh tế Từ giai đoạn miền Bắc đi lênchủ nghĩa xã hội, miền Nam tiến hành cuộc cách mạng dân chủ dân tộc rồi
Trang 31tới khi cả nước thống nhất Trong giai đoạn kế hoạch hóa tập trung, sự giaolưu kinh tế chỉ gói gon trong khối XHCN trong đó các bạn hàng chủ yếu làcác nước Cộng hòa dân chủ Đức, Tiệp Khắc, Liên Xô… Sau khi đại hộiĐảng VI năm 1986 với chủ trương xây dựng một nền kinh tế tuân theo cácquy luật kinh tế thị trường và trong các Đại hội gần đây xây dựng một nềnkinh tế thị trường theo định hướng XHCN là một vấn đề được quan tâm.Ngày nay, quan hệ với các nước ngày càng được mở rộng, các bận hàngkhông chỉ bó hẹp trong phạm vi các nước có cùng thể chế chính trị vớichúng ta mà còn hợp tác với tất cả các nước trên cơ sở bình đẳng cả hai bênđều có lợi thì các khách hàng của Công ty ngày càng được mở rộng Ngoàinhững khách hàng truyền thống từ trước tới nay công ty đã thiết lập đượccác khách hàng mới ở các thị trường lớn như: Mỹ, EU, Đức, Nhật Bản,Israel với các Công ty như: OTTO, WINMARK, WANHIN, ITOCHU…Cùng với sự phát triển và trưởng thành của mình, công ty đã có đượcnhững khách hàng truyền thống Đặc biệt, với các sản phẩm của mình,công ty cổ phần may Thăng Long đã thu hút được khách hàng từ những thịtrường khó tính như Mỹ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc… trong đó thì thịtrường Mỹ chiếm tỷ trọng lớn nhất tới 75% tổng doanh thu xuất khẩu trongkim ngạch xuất khẩu của toàn công ty Tỷ trọng hàng xuất khẩu trên tổngdoanh thu thường là rất lớn mỗi năm tới 90% Trong hạn ngạch dệt may thìcông ty sản xuất và tiêu thụ các mã hàng như CAT 4,5,6,7,8,15,73,83 EU
và CAT 1,2,3,5 Canada điều này được thể hiện rõ ràng thông qua bảng sốliệu sau:
Trang 32Bảng 5:Tình hình xuất khẩu sản phẩm qua các thị trường.
Lượng (1000sp)
Giá trị (1000US)
Lượng (1000sp)
Giá trị (1000USD) Tồng kim ngạch 51015 9457 5421 11317 7102 14146 Châu Âu 269,5 353,25 269,5 377,95 269,5 404,4 Châu Mỹ 4585,79 8790,52 4876,36 10608,61 6517,6 13394,6 Châu Á 245,71 314,23 275,14 330,44 288,9 346,962
Nguồn: Phòng kế hoạch thị trường
Từ biểu đồ ta thấy tốc độ tăng của hàng xuất khẩu qua mỗi thị trườngtăng cả về số lượng và giá trị Tuy nhiên tại thị trường Châu Mỹ trọng tâm
là Mỹ và Mêhycô tốc độ tăng nhanh nhất về mặt sản lượng xuất khẩu tăng
là 33,65% về mặt giá trị là 26,3% Các thị trường khác như Châu Âu (cácnước EU, Nga, Thổ Nhĩ Kỳ), thị trường Châu Á (Nhật Bản, Đài Loan, HànQuốc) tốc độ tăng cũng tương đối Tuy nhiên, nếu xét trên tổng cơ cấuhàng dệt may thì tỷ lệ này còn quá bé Nhưng hiện tại doanh nghiệp vẫnchưa phát triển thị trường tại khu vực Châu Phi và Châu Úc Điều này đượcthể hiện khi không hề có giá trị xuất khẩu qua các thị trường này trong khichúng ta đang có những kế hoạch hợp tác giao lưu kinh tế với các khu vựcnày
Từ bảng trên ta thấy khối lượng xuất khẩu của công ty tập trung chủyếu ở tại các thị trường Châu Mỹ mà trọng tâm trong đó là thị trường Mỹ.Trong khi việc tập trung thúc đẩy hoạt động tiêu thụ sang thị trường EU làkhó khăn, chỉ chiếm khoảng 4% so với tổng kim ngách xuất khẩu Nhưvậy, việc tập trung vào thị trường Châu Âu để tăng lượng xuất khẩu là rấtkhó khăn và Mỹ vẫn là thị trường hứa hẹn đầy tiềm năng cần khai thác
Không những thế, mặc dù có những lợi thế do là một doanh nghiệpkinh doanh lâu năm, có nhiều kinh nghiệm Nhưng trong giai đoạn hiện naysau khi nước ta tiến hành cải cách kinh tế, công nhận nền kinh tế thị trường
Trang 33thì ngày càng xuất hiện nhiều doanh nghiệp may mặc trên thị trường dotrong ngành may mặc không cần đòi hỏi vốn lớn mà khả năng quay vòngvốn lại nhanh hơn các ngành khác Chính điều này đã tạo ra những tháchcho những doanh nghiệp may nói chung và công ty cổ phần may ThăngLong noi riêng Chỉ xét riêng trong khu vực Hà Nội công ty đã chịu sựcạnh tranh của các công ty may lớn trong Tổng công ty dệt may Việt Nam(VINATEX) như: Tổng công ty dệt may Hà Nội (HANOISIMEX), Công tymay Việt Tiến, May Đức Giang, May 10…ngoài ra còn có sự cạnh tranhcủa các doanh nghiệp may măc của Trung Quốc, Ấn Đô…cả về giá cả vàquy mô tốc độ cung ứng cũng như sự đa dạng về mặt hàng sản xuất Sựcạnh tranh này càng thúc đẩy công ty cần có những chiến lược kinh doanhđúng đắn, các chính sách thị trường cho phù hợp Quan trong đó là vấn đề
sử dụng các yếu tố phi giá cả như một công cụ Marketing phù hợp, tậptrung các yếu tố như tốc độ, chất lượng, sự phù hợp về mặt pháp lý, hệthống giao nhận… nhằm củng cố lượng khách hàng truyền thống đồng thời
mở rộng thị trường
1.2 Các sản phẩm chủ yếu.
Ngay từ khi mới thành lập công ty đã xác định sản phẩm sản xuấtchủ yếu phục vụ xuất khẩu.Công ty cổ phần may Thăng Long sản xuấtkhoảng 6 triệu sản phẩm/ năm Và sản phẩm chủ yếu là thế mạnh củacông ty là các sản phẩm áo sơ mi Trong quá trình phát triển của mìnhcông ty không ngừng cái tiến, đa dạng mẫu mã và các sản phẩm nagỳcàng phong phú đáp ứng yêu cầu về số lượng, mẫu mã kiếu dáng Hiệnnay, Công ty sản xuất các sản phẩm chủ yếu sau:
- Quần áo bò
- Quần, áo sơ mi nam nữ
- Bộ complê
- Bộ đồng phục trẻ em, người lớn
Trang 34- Áo jacket các loại.
- Quần áo thể thao
Các sản phẩm của công ty chủ yếu được dùng cho xuất khẩu Điều đóđược thể hiện qua 80% sản phẩm của công ty được dùng cho xuất khẩu.Sản phẩm của công ty xuất hiện trên 30 quốc gia trên thế giới Đặc biệt, sảnphẩm của công ty có mặt trên những thị trường khó tính như Mỹ, Châu Âu,Nhật… Mỗi năm số lượng xuất khẩu qua mỗi thị trường của từng sản phẩmkhông ngừng tăng cao Các dòng sản phẩm được mở rộng, ngoài các sảnphẩm truyền thống Các mặt hàng mới này cũng là nguyên nhân cho tỷ lệtăng về số lượng cũng như doanh thu từ xuất khẩu của công ty Tính tớitháng 12/2005 các sản phẩm của công ty đã đạt được kết quả như bảng sau:
Nguồn: Phòng kế hoạch thị trường.
Như vậy, tính tới cuối năm 2005, tốc độ tăng trưởng các mặt hàng sảnxuất để xuất khẩu tăng so với năm 2004 là 31,76% Tuy nhiên tại từng mặthàng cụ thể lại có sự khác biệt về tốc độ tăng do nhu cầu về từng loại sảnphẩm là khac nhau và có sự thay đổi thị hiếu trên thị trường may mặc là rấtlớn Điển hình của sự thay đổi là các sản phẩm về dệt kim cụ thể là có sựsuy giảm mạnh của mặt hàng này so với năm 2004 giảm tới 67% Trongkhi đó, mặt hàng Jacket lai tăng mạnh tới 324%, cua sơ mi là 286,43% haycác mặt hàng khác đều có tốc độ tăng trưởng khá và cao Nguyên nhânchính của hiện tượng này cũng là do công ty tập trung phát triển sản xuấtchủ yếu theo hình thức làm hàng gia công, dẫn tới những đơn đặt hàng theo
Trang 35các năm là khác nhau Số lượng các sản phẩm phụ thuộc vào số đơn đặthàng, số lượng hợp đồng mà công ty nhận được của các bên đối tác Đâycũng chính là một điểm mà công ty đang lưu ý khi không chủ động đượctrong việc tiêu thụ sản phẩm của mình mà phải dựa vào công tác tìm kiếmcác hợp đồng gia công chứ không phải là tìm kiếm nhu cầu khách hàng tạicác thị trường.
Mặc dù vậy, với các sản phẩm của mình, công ty cổ phần may ThăngLong đã thu hút được khách hàng từ những thị trường khó tính như Mỹ,
EU, Nhật Bản, Hàn Quốc… trong đó thì thị trường Mỹ chiếm tỷ trọng lớnnhất tới 75% tổng doanh thu xuất khẩu trong kim ngạch xuất khẩu của toàncông ty Tỷ trọng hàng xuất khẩu trên tổng doanh thu thường là rất lớn mỗinăm tới 90% Trong hạn ngạch dệt may thì công ty sản xuất và tiêu thụ các
mã hàng như CAT 4,5,6,7,8,15,73,83 EU và CAT 1,2,3,5 Canada Đó lànhững kết quả mà công ty đạt được trong những năm vưa qua Cụ thể hơn
ta có thể xét qua phần kết quả hoạt động kinh doanh như sau
Trang 361.3 Kết quả sản xuất kinh doanh của công ty
Bảng 7:Tổng hợp tình hình sản xuất kinh doanh của toàn công ty.
76.271 42.148 34.123
107.182 57.647 49.508
119.579 63.342 56.237
4 Giá trị sản lượng Triệu đồng 55.683 71.530 91.743 106.200
Nguồn: tổng hợp từ phòng kế hoạch thị trường
Doanh thu công nghiệp trong toàn công ty chiếm tỷ trọng lớn trongtổng doanh thu điều này hoàn toàn phù hợp với một doanh nghiệp sản xuất.Năm 2004 là 194298 (triểu đồng) và năm 2004 tăng 0,17% nhưng tỷ trọngcủa hoạt động này lại giảm 0,02% Trong đó doanh thu quần chiếm tỷ trọnglớn nhất đạt 0,36% Trong đó tổng doanh thu và tỷ trọng này được giữvững không đổi từ 2004 Điều này khẳng định được đầu tư cho dây chuyềnvào năm 2003 đã mang lại hiệu quả Doanh thu công nghiệp qua hai năm2004- 2005 có sự tăng tuyệt đối điều này chứng tỏ việc đầu tư mày mócthiết bị mới có thu được hiệu quả như:
+ Doanh thu kinh doanh năm 2005 có sự tăng tuyệt đối là 5.287 (triệuđồng) về tỷ trọng tăng 0,02%