1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

thực trạng triển khai chế độ trợ cấp thai sản trong bhxh ở việt nam hiện nay

86 1,8K 11
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng triển khai chế độ trợ cấp thai sản trong BHXH ở Việt Nam hiện nay
Tác giả Nguyễn Thị Thanh Uyên
Người hướng dẫn Th.S Nguyễn Hải Đường
Trường học Trung tâm Nghiên cứu Khoa học – BHXH Việt Nam
Chuyên ngành Bảo hiểm xã hội
Thể loại Chuyên đề thực tập
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 715 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó, BHXH cần phải được thực hiện đối với mọi người lao động.Trong những điều kiện khác nhau của đất nước, chính sách BHXH cũng có sựthay đổi góp phần to lớn giúp cho người lao động ổn

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

BHXH là một chính sách lớn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm tổchức thực hiện ngay từ những ngày đầu thành lập nước BHXH đã được Liênhợp Quốc thừa nhận và coi đó là một trong những quyền lợi cơ bản của conngười Do đó, BHXH cần phải được thực hiện đối với mọi người lao động.Trong những điều kiện khác nhau của đất nước, chính sách BHXH cũng có sựthay đổi góp phần to lớn giúp cho người lao động ổn định cuộc sống khi họgặp phải những sự kiện bảo hiểm

Với tỷ lệ chiếm 51,48% dân số, 52% lực lượng lao động xã hội của đấtnước, phụ nữ là nguồn nhân lực quan trọng đã và đang tham gia trên mọi lĩnhvực của đời sống cả về chính trị, kinh tế và xã hội Thực tế cho thấy phụ nữViệt Nam đã có những đóng góp không nhỏ cho sự nghiệp cách mạng giảiphóng dân tộc và ngày nay là công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Ngoàiđóng góp cho xã hội, phụ nữ còn phải đảm đương công việc gia đình với thiênchức là người vợ, người mẹ Chính bởi vậy, ngay từ khi thành lập nước, Đảng

và Nhà nước ta luôn quan tâm đến lao động nữ được thể hiện: ngay khiBHXH Việt Nam đi vào hoạt động chế độ trợ cấp thai sản là một trong số ítchế độ được triển khai thực hiện ngay lúc đó Chế độ thai sản đã góp phầngiảm bớt những gánh nặng cho người lao động đặc biệt là lao động nữ trong

xã hội

Chế độ trợ cấp thai sản có vị trí quan trọng trong hệ thống chính sáchBHXH và là một chế độ không thể thiếu đối với người lao động không chỉ bởitính nhân văn, nhân đạo sâu sắc mà còn bởi chính tính chất nội tại của nó làsản xuất ra sức lao động xã hội Trong những năm qua, chế độ thai sản đã bảo

vệ cho hàng vạn lao động nữ và hàng vạn trẻ em Tuy nhiên, với sự phát triểncủa nền kinh tế thị trường cũng như sự phát triển và tiến bộ xã hội thì hiện tạichế độ thai sản cũng còn một số điểm chưa phù hợp

Vấn đề đặt ra cho BHXH Việt Nam là: làm thế nào để cải thiện, nângcao hơn nữa hiệu quả của việc thực hiện chế độ thai sản, từ đó sẽ nâng cao

Trang 2

được đời sống vật chất của lao động nữ trong thời kỳ họ gặp sự kiện thai sản.Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề trên, bằng hiểu biết hạn chế củamình với mong muốn được đóng góp một số ý kiến, quan điểm trong lĩnh vựcnày, trong thời gian thực tập tại Trung tâm Nghiên cứu Khoa học – BHXH

Việt Nam em đã lựa chọn đề tài: “Thực trạng triển khai chế độ trợ cấp thai sản trong BHXH ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài nghiên cứu của mình.

Mục đích của đề tài là nghiên cứu, xem xét, đánh giá thực trạng chế độthai sản ở nước ta qua các thời kỳ Từ đó đề xuất một số giải pháp hoàn thiệnchế độ thai sản vho phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội hiện nay của ViệtNam

Để phục vụ mục đích đó, chuyên đề được kết cấu thành 3 chương(không kể mở đầu và kết luận) như sau:

Chương I: Lý luận chung về BHXH và chế độ trợ cấp thai sản

Chương II: Thực trạng triển khai và quản lý chế độ trợ cấp thai sản

trong BHXH ở Việt Nam.

Chương III: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện chế độ thai sản ở Việt

Nam

Trong quá trình viết chuyên đề do còn nhiều hạn chế về lý luận và thựctiễn nên không thể tránh khỏi những sai sót Em rất mong nhận được sự chỉdẫn của các thầy cô giáo trong bộ môn Kinh tế Bảo hiểm, đặc biệt là Giáoviên hướng dẫn: Thạc sỹ Nguyễn Hải Đường cùng toàn thể cán bộ tại Trungtâm Nghiên cứu Khoa học - BHXH Việt Nam và các bạn để đề tài của emđược hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Sinh viên

Nguyễn Thị Thanh Uyên

Trang 3

NỘI DUNG

CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ BHXH VÀ CHẾ ĐỘ TRỢ CẤP THAI SẢN

I/ SỰ CẦN THIẾT KHÁCH QUAN CỦA BHXH

Con người muốn tồn tại và phát triển trước hết phải ăn, mặc, ở …Đểthoả mãn nhu cầu tối thiểu này, con người phải lao động làm ra những sảnphẩm cần thiết Khi sản phẩm được tạo ra ngày càng nhiều thì đời sống conngười ngày càng đầy đủ và hoàn thiện, xã hội ngày càng văn minh hơn Nhưvậy, việc thoả mãn những nhu cầu sinh sống và phát triển của con người phụthuộc vào chính khả năng lao động của họ Nhưng trong thực tế cuộc sống,không phải lúc nào con người cũng chỉ gặp thuận lợi, có đầy đủ thu nhập vàmọi điều kiện sinh sống bình thường Trái lại, có rất nhiều trường hợp khókhăn bất lợi, ít nhiều ngẫu nhiên phát sinh làm cho người ta bị giảm hoặc mấtthu nhập hoặc các điều kiện sinh sống khác Chẳng hạn, bất ngờ bị ốm đau,tai nạn hay già, yếu, chết hoặc thiếu công việc làm do những ảnh hưởng của

tự nhiên, của những điều kiện sống và sinh hoạt cũng như các tác nhân xã hộikhác … khi rơi vào những trường hợp này, các nhu cầu cần thiết trong cuộcsống không vì thế mà mất đi Trái lại, có cái còn tăng lên, thậm chí còn xuấthiện thêm một số nhu cầu mới như: Cần được khám chữa bệnh và điều trị khi

ốm đau; tai nạn thương tật nặng cần phải có người chăm sóc nuôi dưỡng Bởivậy, muốn tồn tại và ổn định cuộc sống, con người và xã hội loài người phảitìm ra và thực tế đã tìm ra nhiều cách giải quyết khác nhau như: san sẻ, đùmbọc lẫn nhau trong nội bộ cộng đồng, đi vay, đi xin hoặc dựa vào sự cứu trợcủa Nhà nước Rõ ràng, những cách đó là hoàn toàn thụ động và không chắcchắn

Khi nền kinh tế hàng hoá phát triển, việc thuê mướn công nhân trở nênphổ biến thì mối quan hệ kinh tế giữa người lao động làm thuê và giới chủcũng trở nên phức tạp Lúc đầu người chủ chỉ cam kết trả công lao động,

Trang 4

nhưng về sau đã phải cam kết cả việc bảo đảm cho người làm thuê có một sốthu nhập nhất định để họ trang trải những yêu cầu thiết yếu khi không may bị

ốm đau, tai nạn, thai sản Trong thực tế, nhiều khi các trường hợp trên khôngxảy ra và người chủ không phải chi ra một đồng nào Nhưng cũng có khi xảy

ra dồn dập, buộc họ phải bỏ ra một lúc nhiều khoản tiền lớn mà họ khôngmuốn Vì thế, mâu thuẫn chủ - thợ phát sinh, giới thợ liên kết đấu tranh buộcgiới chủ thực hiện cam kết Cuộc đấu tranh này diễn ra ngày càng rộng lớn và

có tác động nhiều mặt đến đời sống kinh tế - xã hội Do vậy, Nhà nước đãphải đứng ra can thiệp và điều hoà mâu thuẫn Sự can thiệp này một mặt làmtăng được vai trò của Nhà nước, mặt khác buộc cả giới chủ và giới thợ phảiđóng góp một khoản tiền nhất định hàng tháng được tính toán chặt chẽ dựatrên cơ sở xác suất rủi ro xảy xa đối với người làm thuê Số tiền đóng góp của

cả chủ và thợ hình thành một quỹ tiền tệ tập trung trên phạm vi toàn quốc gia

- được gọi là quỹ BHXH Quỹ này còn được bổ sung từ Ngân sách Nhà nước(NSNN) khi cần thiết nhằm đảm bảo đời sống cho người lao động khi gặpphải những biến cố bất lợi Chính nhờ những mối quan hệ ràng buộc đó màrủi ro, bất lợi của người lao động được dàn trải, cuộc sống của người lao động

và gia đình họ ngày càng được đảm bảo ổn định Giới chủ cũng thấy mình cólợi và được bảo vệ, sản xuất kinh doanh diễn ra bình thường, tránh đượcnhững xáo trộn không cần thiết Vì vậy, nguồn quỹ tiền tệ tập trung được thiếtlập ngày càng lớn và nhanh chóng, khả năng giải quyết các phát sinh lớn củaquỹ ngày càng đảm bảo

Sự xuất hiện của BHXH là một tất yếu khách quan khi mà mọi thànhviên trong xã hội đều cảm thấy sự cần thiết phải tham gia hệ thống BHXH và

sự cần thiết phải tiến hành bảo hiểm cho người lao động Vì vậy, BHXH đãtrở thành nhu cầu và quyền lợi của người lao động và được thừa nhận là mộtnhu cầu tất yếu khách quan BHXH đã được pháp luật nhiều quốc gia ghinhận, đã trở thành một trong những quyền con người và được Đại Hội đồngLiên hợp quốc thừa nhận và ghi vào Tuyên ngông Nhân quyền ngày

Trang 5

10/12/1948 như sau: “Tất cả mọi người với tư cách là thành viên của xã hội

có quyền hưởng BHXH Quyền đó được đặt cơ sở trên sự thoả mãn các quyền

về kinh tế, xã hội và văn hoá cần cho nhân cách và tự do phát triển của conngười”

II/ LỊCH SỬ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA BHXH

1 BHXH trên thế giới

Ở thời cổ đại, con người vừa tự lực, vừa biết hợp đoàn để đi săn bắn,lao động nhằm kiếm sống, vật lộn với thiên nhiên Khi gặp rủi ro tai biến thì

họ vừa tự mình chịu đựng khắc phục, vừa được các thành viên của cộng đồng

hỗ trợ, cưu mang Ở thời kỳ này, sự tương trợ lẫn nhau mang tính tự phát,theo bản năng và mới được thể hiện trong phạm vi cộng đồng nhỏ: giữa anhchị em cùng gia đình, thân tộc, giữa các thành viên cùng bộ lạc, thôn xóm

Đến gia đình có phân công lao động, sản xuất xã hội phát triển hơn,quan hệ xã hội, quan hệ tác động lẫn nhau giữa các cá nhân, giữa các cộngđồng cũng phát triển hơn Tôn giáo xuất hiện, các thánh địa, hội nhà chùa,nhà thờ, trại bảo dưỡng … được thiết lập, trong đó có mục đích từ thiện, trợgiúp các tín đồ, các con chiên gặp phải nghịch cảnh, trước hết là người nghèo,trẻ mồ côi Những hoạt động nhân ái của người dân cũng làm thức tỉnh giớicầm quyền Để ngăn chặn rối loạn xã hội có thể nảy sinh làm lung lay địa vịthống trị, không ít vua quan đã tham gia hoạt động từ thiện Nhiều triều đạivua đã coi việc hỗ trợ các gia đình giảm thiểu nghèo khó không chỉ là nghĩa

vụ nhân đạo, mà còn là một trong những nguyên tắc quan trọng bậc nhất đểlàm yên dân thịnh nước

Ngành công nghiệp hình thành, hàng loạt người dân nông thôn di cư rathành thị Trong khoảng từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVII, một số nghiệp đoànthợ thủ công ra đời Tình đoàn kết tương thân giữa những người làm thuê nảy

nở dần Ở một số nước Châu Âu, nhiều quỹ tương trợ được thành lập: ở Anhnăm 1973 có hội “Bằng hữu” giúp hội viên trong các trường hợp bị ốm đau,thương tật …

Trang 6

Nền công nghiệp và kinh tế hàng hoá phát triển đã xuất hiện việc thuêmướn công nhân:

- Lúc đầu giới chủ cam kết sẽ trả công lao động cho giới thợ dựa vàokết quả lao động Có làm thì có hưởng, không làm thì không hưởng

- Dần dần giới chủ đã cam kết sẽ trợ cấp cho giới thợ một khoản thunhập nhất định khi họ gặp những rủi ro như ốm đau, tai nạn Trong thực tếnhiều khi các trường hợp rủi ro không xảy ra nên giới chủ không chi mộtkhoản tiền nào Tuy nhiên có những lúc, những nơi rủi ro xảy ra dồn dập vànếu thực hiện đúng cam kết thì giới chủ phải trợ cấp số tiền lớn Vì vậy, họ đãkhông thực hiện đúng cam kết Mâu thuẫn giữa giới thợ liên kết lại với nhau

để đấu tranh đòi quyền lợi Các hành động công nghiệp như lãng công, bếxưởng, đập phá máy móc, đình công đã xảy ra Cuộc đấu tranh diễn ra càngngày càng rộng lớn đã tác động đến nhiều mặt của đời sống kinh tế xã hội.Dần dần, trong cơ chế thị trường đã xuất hiện một bên thứ 3 đóng vai tròtrung gian giúp thực hiện những cam kết giới chủ và giới thợ bằng hoạt độngthích hợp của nó Nhờ vậy, thay vì cho việc phải chi trực tiếp những khoảntiền lớn khi người lao động làm thuê bị ốm đau, tai nạn, giới chủ có thể trích

ra hàng tháng một khoản tiền nho nhỏ được tính toán chặt chẽ dựa trên cơ sởxác suất những biến cố của tập hợp những người lao động làm thuê Số tiềnnày được giao cho bên thứ 3 tồn tích dần thành một quỹ tiền tệ Khi người laođộng bị ốm đau, tai nạn thì cứ theo cam kết chi trả , không phụ thuộc vào giớichủ có muốn hoặc không Như vậy, một mặt giới chủ đỡ bị thiệt hại về kinh tế

do không phải chi một lúc những khoản tiền lớn, mặt khác, người lao độnglàm thuê được bảo đảm chắc chắn một phần thu nhập khi bị ốm đau, tai nạn.Trong lĩnh vực kinh tế - xã hội, nhiều trường hợp rủi ro xảy ra vượt quá khảnăng khắc phục của một ông chủ Giới thợ luôn luôn mong muốn phải chi íthơn, nên tranh chấp giữa chủ - thợ lại tiếp diễn Trước tình hình đó, Nhà nước

đã phải can thiệp, điều chỉnh Sự can thiệp này, một mặt làm tăng vai trò củaNhà nước, giới chủ buộc phải đóng góp thêm, đồng thời giới thợ cũng phải

Trang 7

đóng góp một phần vào sự bảo đảm cho chính mình, cả giới chủ và giới thợđều thấy mình có lợi và được bảo vệ Mặt khác, Nhà nước lại tăng chi tiêungân sách Chính nhờ những mối quan hệ ràng buộc đó mà rủi ro, bất lợi củangười lao động được dàn trải theo nhiều chiều, một quỹ tiền tệ tập trung trênphạm vi quốc gia nhằm bảo đảm đời sống cho người lao động khi bị ốm, tainạn, tuổi già … được thiết lập Nhờ vậy, đã tạo ra khả năng giải quyết cácphát sinh rủi ro, bất lợi lớn nhất với một tổng dự trữ nhỏ nhất Trên cơ sở xácsuất phát sinh rủi ro của cả tập hợp người lao động trong phạm vi bao quátcủa quỹ Điển hình là:

+ Vào năm 1850 dưới thời tổng thống Bis-mác, nhiều bang củanước Đức đã giúp các địa phương lập quỹ bảo hiểm ốm đau, do các côngnhân đóng góp để được bảo hiểm Năm 1884, xuất hiện chế độ rủi ro nghềnghiệp Năm 1889, xuất hiện chế độ bảo hiểm tuổi già và bảo hiểm tàn tật

+ Trong khoảng thời gian từ năm 1883 đến 1889 một hệ thốngBHXH lớn lần đầu tiên đã ra đời áp dụng nguyên tắc người được BHXH phảiđóng phí BHXH Theo gương nước Đức, năm 1918, Pháp thực hiện BHXHphổ cập trong cả nước nhưng không thành công Đến năm 1930, Pháp thôngqua đạo luật thứ 2 về BHXH áp dụng chủ yếu cho ngành công nghiệp vàthương mại

+ Từ thập kỷ 30 của thế kỷ XX, liên tiếp các nước Mỹ latinh, Hoa Kỳ,Canada, đều áp dụng, từ sau đại chiến thế giới lần thứ hai và sau khi giànhđộc lập, nhiều nước châu Phi, châu Á và vùng Caribê cũng lần lượt áp dụng

cơ chế BHXH tương tự Tuy vậy, tuỳ theo đặc điểm kinh tế, xã hội riêng cócủa mỗi nước mà họ áp dụng các chế độ BHXH khác nhau Nội dung cụ thểcủa từng chế độ cũng không thống nhất

Trên cơ sở thực tiễn áp dụng các chế độ đa dạng bảo vệ người lao độnggiảm thiểu những rủi ro, khó khăn Hội nghị toàn thể Tổ chức Lao động quốc

tế (ILO) đã thông qua công ước số 102 (1952) tổng hợp kinh nghiệm áp dụngcác cơ chế trong hệ thống an toàn xã hội (trong đó BHXH là một cơ chế chủ

Trang 8

yếu trụ cột thứ nhất của hệ thống của các nước trên thế giới đã nêu ra 9 chế độbảo vệ người lao động:

1930 – 1945 dưới sự lãnh đạo của Đảng, giai cấp công nhân đã đấu tranh vàgiành được một số quyền lợi về đời sống cho người lao động Nghị quyếtTrung ương Đảng tháng 11/1940 có ghi: “…Khi thiết lập được chính quyềncách mạng thì đặt luật BHXH, có quỹ hưu bổng cho thợ thuyền già, đặt quỹcứu tế thất nghiệp và ban bố Bộ luật lao động” Trong tuyên ngôn 10 điểmChương trình Điều lệ Việt Minh (25/10/1941) cũng bao gồm nội dung trên vàghi thêm “Người già, kẻ tàn tật được Chính phủ chăm nom và cấp dưỡng”

Ngay sau khi giành được chính quyền và suốt trong thời kỳ khángchiến chống Pháp, chống Mỹ cho đến nay, Nhà nước đã ban hành nhiều vănbản nói về BHXH, chế độ BHXH đã trải qua nhiều giai đoạn, nhiều lần bổsung, sửa đổi và cải tiến, từng bước phát triển thành một hệ thống chế độBHXH tương đối hoàn chỉnh

Trang 9

Quá trình hình thành và phát triển của BHXH ở Việt Nam có thể đượcphân chia thành các giai đoạn như sau:

 Từ năm 1961 trở về trước

Năm 1945 cuộc cách mạng của dân tộc ta đã giành được thắng lợi đángdấu sự kiện này Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc Tuyên ngôn độc lập tại quảngtrường Ba Đình, dù với một nền tài chính hết sức eo hẹp, kinh tế nghèo nàn

và lạc hậu, nhưng Đảng và Nhà nước ta vẫn quan tâm đến chế độ chính sáchBHXH Khởi đầu là sự ra đời của sắc lệnh số 54/SL ngày 01/11/1945 đã quyđịnh trợ cấp hưu bổng đối với công chức (phải đủ 55 tuổi hoặc sau khi làmviệc được 30 năm), tiếp đó là sắc lệnh số 105/SL ngày 14/6/1946 đã hoànthiện thêm về mức trợ cấp hưu bổng cho công chức Ở hai sắc lệnh này Chínhphủ đã quy định rõ mức đóng góp của các bên vào quỹ hưu bổng

Sau đó, sắc lệnh số 29/SL ngày 12/3/1947; sắc lệnh số 76/SL và số77/SL ngày 22/5/1950 đã quy định cụ thể về các chế độ: ốm đau, thai sản,hưu trí, chăm sóc y tế, tai nạn lao động và tiền tuất đối với cán bộ, công nhânviên chức

- Hoà bình được lập lại (1954), miền Bắc nước ta bước vào thời

kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, chế độ BHXH có những bước phát triển mới.Tháng 11/1954, chế độ lương hưu thương tật được hình thành và đến ngày27/7/1956 Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định số 980/TTg kèm theoĐiều lệ ưu đãi thương binh, quân nhân, du kích, Thanh niên xung phong bịthương tật và Điều lệ ưu đãi gia đình liệt sỹ Ngày 6/12/1958 Thủ tướngChính phủ ban hành Nghị định số 523/TTg, quy định chế độ trợ cấp dài hạncho quân nhân tình nguyện đã phục viên từ ngày hoà bình lập lại mang bệnhkinh niên tái phát yếu ốm, không còn khả năng lao động được Hội đồng Giámđịnh Y khoa xác nhận trợ cấp do ngân sách đài thọ

Chính sách BHXH và việc tổ chức thực hiện các chính sách đó thực sự

là nguồn cổ vũ lớn lao đối với công nhân viên chức làm cho họ yên tâm hănghái lao động sản xuất, góp phần xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và tiếp

Trang 10

tục đấu tranh giải phóng miền Nam Tuy nhiên, nó cũng bộc lộ những điểmkhông phù hợp:

+ Đối tượng tham gia còn hạn hẹp, đối tượng được hưởng chế độBHXH chỉ có cán bộ công nhân viên chức, chưa mở rộng đến các thành phầnkinh tế khác do đó đã làm mất đi tính tích cực, tính ưu việt của chủ nghĩa xãhội đối với người lao động, chưa xác lập được sự công bằng giữa nhữngngười lao động trong việc thực hiện nghĩa vụ và quyền lợi về BHXH

+ Việc thực hiện các chính sách BHXH còn phân tán không cóhiệu quả Vì thế nó chưa thực sự trở thành chính sách xã hội lớn Chính phủ

đã ban hành điều lệ tạm thời về BHXH kèm theo Nghị định số 218/CP ngày25/12/1961 trên cơ sở xây dựng hệ thống BHXH mới

 Từ năm 1962 đến năm 1994

Trong giai đoạn này điều lệ tạm thời về các chế độ BHXH đối với côngnhân viên chức Nhà nước ban hành ngày 27/12/1961 được bắt đầu áp dụng từngày 1/1/1962, gồm 6 chế độ:

Bộ Nội vụ quản lý 3 chế độ: mất sức lao động, hưu trí, tử tuất

Trong thời gian thực hiện Điều lệ tạm thời này các chế độ, chính sáchBHXH đã không ngừng được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với từng thời kỳ,được thể hiện qua sự ra đời của các Nghị định ngày 30/10/1964, Hội đồng

Trang 11

Chính phủ ban hành Nghị định số 161/CP; Nghị định số 164/CP (ngày14/7/1979) về sửa đổi bổ sung một số chế độ Chế độ trợ cấp mất sức laođộng được tính trên cơ sở thời gian công tác liên tục tương ứng là 6-8-10năm Chế độ trợ cấp tiền tuất được sửa đổi từ 4 mức thành 1 mức, không phânbiệt theo số lượng người phải nuôi dưỡng, nếu gia đình có nhiều người phảinuôi dưỡng thì được hưởng trợ cấp đến mức ngang với tiền lương của ngườicông nhân viên chức trước khi chết.

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất nước, Nhànước đã ban hành nhiều văn bản để áp dụng BHXH ở vùng mới giải phóng(miền Nam) lúc này BHXH đã được thực hiện trong phạm vi cả nước

Các nghị định số 10/NĐ-76 ngày 18/6/1976 của Chính phủ cách mạnglâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam; Nghị định số 186/CP ngày25/9/1976 đã quy định rõ hơn về chính sách BHXH khu vực miền Nam

Bước vào những năm đầu của thập kỷ 80, tình hình kinh tế - xã hội củanước ta gặp nhiều khó khăn, nền kinh tế suy giảm, lạm phát lớn, tình trạng dưthừa lao động phổ biến, đời sống cán bộ công nhân viên gặp nhiều khó khăn.Chính sách BHXH đã được sửa đổi, bổ sung kịp thời cho phù hợp với tìnhhình thực tiễn Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành Nghịquyết 16/HĐBT ngày 8/2/1982, trong đó quy định giảm điều kiện nghỉ hưu.Sau đó, cùng với việc cải tiến chế độ tiền lương ngày 18/9/1985, Hội đồng Bộtrưởng tiếp tục ban hành Nghị định số 236/HĐBT, bổ sung, sửa đổi một sốchế độ chính sách về thương binh và xã hội Mục tiêu của Nghị định là nhằm

ưu đãi những người có thời gian hoạt động cách mạng nhưng vẫn còn tồn tạimột số vấn đề sau:

+ Chưa tách bạch rõ ràng giữa chế độ BHXH với chế độ ưu đãi và cácchính sách xã hội khác Việc đưa các loại ưu đãi vào hệ thống BHXH làkhông hợp lý, dễ làm lẫn lộn chức năng của mỗi cơ chế và trong thực tế đãphát sinh không ít tiêu cực Ưu đãi xã hội phải được thực hiện theo tiêuchuẩn, điều kiện và các nguồn tài chính khác Một trong những biểu hiện của

Trang 12

sự đan xen này là việc giảm tuổi đời và việc quy đổi thời gian công tác đểhưởng các chế độ BHXH dẫn đến tình trạng phổ biến là trong số người nghỉhưu thì đa số là người nghỉ hưu trước tuổi quy định.

+ Trong giai đoạn này, sự nghiệp BHXH do nhiều cơ quan quản lý,quỹ BHXH bị phân tán, không tập trung như giai đoạn trước Do đó, chưaphân định rõ ràng chức năng quản lý nhà nước và chức năng hoạt động sựnghiệp BHXH, do đó tiến hành bị chồng chéo làm cho hoạt động BHXH rấtkhó quản lý, gây ra sự lạm dụng hoặc thực hiện không đúng quy định

+ Để khắc phục tình hình này, ngày 10/9/1994, Chủ tịch nước đã công

bố Pháp lệnh số 28 về chính sách ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sỹ

và gia đình liệt sỹ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến,người có công với cách mạng để dần tách chính sách ưu đãi xã hội ra khỏichính sách BHXH

- Quyết định số 60/HĐBT ngày 1/3/1990 của Hội đồng Bộ trưởng vềsửa đổi chế độ trợ cấp đối với công nhân viên chức nghỉ hưu vì mất sức laođộng

- Nghị định số 299/HĐBT ngày 15/8/1992 ban hành điều lệ Bảo hiểm

Y tế (BHYT), mở ra một loại hình bảo hiểm bắt buộc và loại hình bảo hiểm tựnguyện

- Ngày 22/6/1993, Chính phủ ban hành Nghị định số 43/CP quy địnhtạm thời chế độ BHXH Nội dung trước hết nhằm xoá bỏ tư duy bao cấp, ỷ lạitrong lĩnh vực BHXH, mở ra loại hình xã hội bắt buộc và loại hình BHXH tựnguyện, thực hiện cơ chế đóng góp phí BHXH đối với người được bảo hiểm.Nghị định quy định 5 chế độ trợ cấp: ốm đau, TNLĐ & BNN, thai sản, hưutrí, tử tuất, xoá bỏ chế độ trợ cấp mất sức lao động vốn đã bộc lộ nhiều biểuhiện tiêu cực và bất hợp lý, thống nhất hoá tổ chức quản lý BHXH trong cảnước

Trang 13

 Từ năm 1995 đến nay

Trên cơ sở thực tiễn thực hiện BHXH từ trước, nhất là căn cứ vào nhữngkinh nghiệm thực hiện Nghị định 43/CP và để hoàn thiện chính sách BHXH,ngày 26/1/1995 Chính phủ ban hành Nghị định 12/CP về Điều lệ BHXH đốivới người lao động làm việc trong các thành phần kinh tế

Điều lệ BHXH mới có sửa đổi, bổ sung một số quy định cụ thể chủ yếu

là điều kiện và mức hưởng trợ cấp BHXH

Điều lệ BHXH mới được ban hành đã mở ra một trang mới trong lịch sử

ra đời của BHXH nước ta, với cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, vận động theo

cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủnghĩa Để phù hợp với quá trình phát triển và hội nhập, từ năm 1998 đến naychính sách BHXH đã được tu chỉnh, bổ sung Đặc biệt nhất là sự tu chỉnh, bổsung Bộ luật Lao động trong đó chương nói về BHXH cũng có một số thayđổi Sự thay đổi chính sách BHXH được cụ thể hoá tại Nghị định 01/2003/NĐ-CP ngày 09/01/2003 của Chính phủ

Hiện nay ở Việt Nam theo quy định của pháp luật có các chế độ BHXHsau đây:

Trang 14

III/ NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ BHXH

1 Đối tượng, bản chất, chức năng của BHXH

1.1 Đối tượng BHXH

Nói đến đối tượng BHXH ta phải nói đến 2 loại đối tượng đó là đốitượng của BHXH và đối tượng tham gia BHXH

1.1.1 Đối tượng của BHXH

Chúng ta đều biết, BHXH là một hệ thống đảm bảo khoản thu nhậpthay thế cho người lao động trong trường hợp bị giảm hoặc bị mất đi do ngườilao động bị giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm vì các nguyênnhân như ốm đau, tai nạn, già yếu … Chính vì vậy, đối tượng của BHXHchính là thu nhập của người lao động bị biến động giảm hoặc mất đi do bịgiảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm của những người lao độngtham gia BHXH

1.1.2 Đối tượng tham gia BHXH

Đối tượng tham gia BHXH là người lao động và người sử dụng laođộng Tuy vậy, tuỳ theo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước màđối tượng tham gia BHXH là khác nhau Đối tượng này có thể là tất cả hoặcmột bộ phận những người lao động nào đó

Hầu hết các nước khi mới có chính sách BHXH, đều thực hiện BHXHđối với các viên chức Nhà nước, những người làm công hưởng lương

Nếu xem xét trên mối quan hệ ràng buộc trong BHXH, ngoài người laođộng còn có người sử dụng lao động và cơ quan BHXH, dưới sự bảo trợ củaNhà nước Người sử dụng lao động đóng góp vào quỹ BHXH là trách nhiệmcủa họ để bảo hiểm cho người lao động mà họ sử dụng Còn cơ quan BHXHnhận sự đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động phải cótrách nhiệm quản lý, sử dụng quỹ để thực hiện mọi công việc về BHXH đốivới người lao động Mối quan hệ ràng buộc này chính là đặc trưng riêng cócủa BHXH Nó quyết định sự tồn tại và phát triển của BHXH một cách ổnđịnh và bền vững

Trang 15

Định nghĩa thế nào là BHXH vẫn là vấn đề còn nhiều tranh luận vì đượctiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau Sau đây là một trong những khái niệmphản ánh khá rõ nét về mục tiêu, bản chất và chức năng của BHXH: “BHXH

là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với người lao độngkhi họ gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mấtviệc làm trên cơ sở hình thành và sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung nhằm đảmbảo đời sống cho người lao động và gia đình họ góp phần bảo đảm an toàn xãhội”

Theo đó, bản chất của BHXH được thể hiện ở những nội dung chủ yếusau đây:

Một là: BHXH là nhu cầu khách quan, đa dạng và phức tạp của

xã hội, nhất là trong xã hội mà sản xuất hàng hoá hoạt động theo cơ chế thịtrường, mối quan hệ thuê mướn lao động phát triển đến một mức độ nào đó.Kinh tế càng phát triển thì BHXH càng đa dạng và hoàn thiện Do đó có thểnói kinh tế là nền tảng của BHXH hay BHXH không vượt quá trạng thái kinh

tế của mỗi nước

Hai là: Mối quan hệ giữa các bên trong BHXH phát sinh trên cơ

sở quan hệ lao động và diễn ra giữa 3 bên: Bên tham gia BHXH, bên BHXH

và bên được BHXH Bên tham gia BHXH có thể chỉ là người lao động hoặc

cả người lao động và người sử dụng lao động Bên BHXH (bên nhận nhiệm

Trang 16

vụ BHXH) thông thường là cơ quan chuyên trách do Nhà nước lập ra và bảotrợ Bên được BHXH là người lao động và gia đình họ khi có đủ điều kiệnràng buộc cần thiết.

Ba là: Những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động,

mất việc làm trong BHXH có thể là những rủi ro ngẫu nhiên trái với ý muốnchủ quan của con người như: ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp …Hoặc cũng có thể là những trường hợp xảy ra không hoàn toàn ngẫu nhiênnhư: tuổi già, thai sản … Đồng thời những biến cố đó có thể diễn ra cả trong

và ngoài quá trình lao động

Bốn là: Phần thu nhập của người lao động bị giảm hoặc mất đi

khi gặp phải những biến cố, rủi ro sẽ được bù đắp hoặc thay thế từ một nguồnquỹ tiền tệ tập trung được tồn tích lại Nguồn quỹ này do các bên tham giaBHXH đóng góp là chủ yếu, ngoài ra còn được sự hỗ trợ từ phía Nhà nước

Năm là: Mục tiêu của BHXH là nhằm thoả mãn những nhu cầu

thiết yếu của người lao động trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập,mất việc làm Nó được tổ chức lao động quốc tế cụ thể hoá:

+ Đền bù cho người lao động những khoản thu nhập bị mất để đảm bảonhu cầu sinh sống thiết yếu của họ;

Trang 17

nhiên, do tính đặc thù của mình, BHXH không những có tính kinh tế mà còn

có tính xã hội rất cao Vì vậy, về tổng quát, BHXH có những chức năng sau:

Thứ nhất: Bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động được bảo hiểm khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm theo những điều kiện xác định

Nói là bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người laođộng là nói sự thay thế hoặc bù đắp đó nhất định phải xảy ra khi người laođộng bị rơi vào các trường hợp nói trên và hội tụ các điều kiện quy định Sở

dĩ như vậy vì giữa người lao động với cơ quan BHXH có mối quan hệ hết sứcchặt chẽ Quan hệ này phát sinh trên cơ sở quan hệ lao động và quan hệ tàichính BHXH Quan hệ đó diễn ra giữa 3 bên: bên tham gia bảo hiểm, bênnhân bảo hiểm và bên được bảo hiểm Bên tham gia trước hết là người sửdụng lao động có trách nhiệm phải đóng phí để bảo hiểm cho người lao động

mà mình sử dụng, đồng thời người lao động cũng phải có trách nhiệm đóngphí để tự bảo hiểm cho mình Sự đóng góp này là bắt buộc, đều kỳ và theonhững mức quy định cho bên nhận bảo hiểm, đó là cơ quan BHXH chuyênnghiệp Khi người lao động hội đủ các điều kiện cần thiết thì nhất định họphải được hưởng trợ cấp với mức hưởng, thời điểm và thời hạn hưởng phảiđúng quy định, dù cho người sử dụng lao động hoặc người lao động có muốnnhư thế hay không

Thứ hai: Phân phối lại thu nhập

BHXH là bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho ngườilao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn laođộng, thất nghiệp, tuổi già, bằng cách hình thành và sử dụng một quỹ tàichính tập trung được tồn tích dần bởi sự đóng góp của những người sử dụnglao động và có sự hỗ trợ thêm của Nhà nước

Như vậy những người sử dụng lao động bắt buộc phải đóng góp vàoquỹ BHXH là để bảo hiểm nhưng không phải trực tiếp cho mình mà cho

Trang 18

người lao động do mình sử dụng nên không được quyền hưởng trợ cấp, nhữngngười lao động có đóng góp vào quỹ BHXH mới có quyền hưởng trợ cấpnhưng do còn khoẻ mạnh, có việc làm và có thu nhập bình thường nên cũngkhông được hưởng trợ cấp bảo hiểm Số lượng những người không đượchưởng trợ cấp như vậy thường chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng số nhữngngười tham gia đóng góp Chỉ những người lao động bị giảm hoặc mất thunhập trong những trường hợp xác định và có đủ các điều kiện cần thiết mớiđược hưởng trợ cấp từ quỹ BHXH Số lượng những người này thường chiếm

tỷ trọng nhỏ trong tổng số những người tham gia đóng góp nêu trên Như vậy,BHXH đã lấy số đông bù số ít và thực hiện chức năng phân phối lại thu nhậptheo cả chiều dọc và chiều ngang giữa những người lao động có thu nhập thấphơn, giữa những người khoẻ mạnh đang làm việc với những người ốm yếuphải nghỉ việc và khái quát hơn là giữa số ít người hưởng trợ cấp theo nhữngchế độ xác định Điều đó cũng góp phần vào việc thực hiện công bằng xã hội

Thứ ba: Góp phần kích thích, khuyến khích người lao động hăng hái lao động sản xuất.

Người lao động có việc làm, khi khoẻ mạnh làm việc bình thường sẽ cótiền lương, tiền công, khi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, tuổi già hoặckhông may bị chết đã có BHXH bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thunhập quan trọng, do đó đời sống của bản thân và gia đình họ luôn luôn có chỗdựa luôn luôn được đảm bảo Chính vì thế, họ sẽ gắn bó với công việc, vớinơi làm việc và yên tâm, tích cực lao động sản xuất góp phần tăng năng suấtlao động cũng như tăng hiệu quả kinh tế Nói cách khác, tiền lương (tiềncông) và BHXH là những động lực thúc đẩy hoạt động lao động của ngườilao động

Thứ tư: Phát huy tiềm năng và gắn bó lợi ích.

BHXH dựa trên cơ sở đóng góp ít nhưng đều kỳ của mọi người sửdụng lao động, người lao động và Nhà nước cho bên thứ 3 là cơ quan BHXH,

để tồn tích dần thành một quỹ tập trung, quỹ này lại huy động phần nhàn rỗi

Trang 19

tương đối vào hoạt động sinh lợi làm tăng thêm nguồn thu Do đó, BHXHhoàn toàn có thể bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho ngườilao động khi họ gặp rủi ro, khó khăn theo những chế độ xác định, góp phầnbảo đảm ổn định và an toàn đời sống cho người lao động và gia đình họ.

Trên giác độ xã hội, bằng phương thức dàn trải rủi ro thiệt hại theo cảthời gian và không gian, BHXH đã giúp giảm thiểu thiệt hại cho số đôngngười trong xã hội, đồng thời làm tăng khả năng giải quyết rủi ro, khó khăncủa những người lao động tham gia bảo hiểm với một tổng dự trữ ít nhất Đốivới Nhà nước, chi cho BHXH đối với người lao động là cách thức phải chi ítnhất nhưng vẫn giải quyết tốt những rủi ro, khó khăn về đời sống của ngườilao động và gia đình họ, góp phần làm cho sản xuất ổn định, kinh tế, chính trị

và xã hội ổn định và an toàn Đối với người sử dụng lao động và người laođộng cũng như vậy Cả hai giới này đều thấy nhờ BHXH mà mình có lợi vàđược bảo vệ

BHXH đã phát huy tiềm năng của số đông và ưu điểm của nhiềuphương thức hoạt động trong kinh tế thị trường để bảo đảm an toàn đời sốngcho người lao động cũng như cho xã hội Đồng thời BHXH cũng tạo ra sựgắn bó chặt chẽ về lợi ích, cả lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài của các bêntham gia BHXH, cũng như của các bên đó đối vơi Nhà nước

2 Quỹ BHXH

2.1 Khái niệm và đặc điểm

Trong đời sống kinh tế - xã hội, người ta thường nói đến rất nhiều loạiquỹ khác nhau như: quỹ tiêu dùng, quỹ sản xuất, quỹ dự phòng, quỹ tiềnlương, quỹ tiền thưởng, quỹ phúc lợi, quỹ tiết kiệm … Tất cả các loại quỹ nàyđều có một điểm chung là tập hợp các phương tiện tài chính hay vật chất kháccho những hoạt động nào đó theo mục tiêu định trước với những quy định,quy chế nhất định Quỹ lớn hay nhỏ biểu thị khả năng về mặt phương tiện vàvật chất để thực hiện mục tiêu đề ra

Trang 20

Tất cả các loại quỹ đều không chỉ tồn tại với một khối lượng tĩnh tại mộtthời điểm mà còn luôn biến động theo hướng tăng lên ở đầu vào với cácnguồn thu và giảm đi ở đầu ra với các khoản chi như một dòng chảy liên tục.Tương tự như vậy, quỹ BHXH cũng được hình thành từ các nguồn thu khácnhau và được sử dụng để chi trả các trợ cấp BHXH cho người thụ hưởng vàcác chi phí quản lý khác theo quy định của pháp luật Vì vậy, quỹ BHXH phảitính toán sao cho nguồn thu phải đủ lớn và phải liên tục để đảm bảo các chiphí đầu ra của BHXH không chỉ hiện tại mà cả trong tương lai.

Theo đó ta có khái niệm về quỹ BHXH: “Quỹ BHXH là tập hợp nhữngđóng góp bằng tiền của những người tham gia BHXH (có thể bao gồm ngườilao động, người sử dụng lao động và Nhà nước trong một số trường hợp) vàcác nguồn thu hợp pháp khác, hình thành một quỹ tiền tệ tập trung để chi trảcho những người được BHXH và gia đình họ khi họ bị giảm hoặc mất thunhập do bị giảm, mất khả năng lao động hoặc bị mất việc làm và chi phí chocác hoạt động nghiệp vụ BHXH”

Như vậy, quỹ BHXH là một quỹ tiêu dùng, đồng thời là một quỹ dựphòng; nó vừa mang tính kinh tế, vừa mang tính xã hội rất cao và là điều kiệnhay cơ sở vật chất quan trọng nhất đảm bảo cho toàn bộ hệ thống BHXH tồntại và phát triển

Quỹ BHXH là quỹ tài chính độc lập, tập trung nằm ngoài NSNN Từ đó

ta thấy quỹ BHXH có những đặc điểm chủ yếu sau:

 Quỹ ra đời và phát triển gắn với mục đích đảm bảo ổn định cuộcsống cho người lao động và gia đình họ khi gặp các biến cố, rủi ro làm giảmhoặc mất thu nhập từ lao động Hoạt động của quỹ không nhằm mục đíchkinh doanh kiếm lời Vì vậy, nguyên tắc quản lý quỹ BHXH là: Cân bằng thu– chi

 Phân phối quỹ BHXH vừa mang tính chất hoàn trả, vừa mangtính chất không hoàn trả Tính chất hoàn trả thể hiện: người lao động là đốitượng tham gia và đóng góp BHXH đồng thời họ cũng là đối tượng được

Trang 21

nhận trợ cấp, được chi trả từ quỹ BHXH cho dù chế độ, thời gian trợ cấp vàmức trợ cấp của mỗi người sẽ khác nhau, tuỳ thuộc vào những biến cố hoặcrủi ro mà họ gặp phải, cũng như mức đóng góp và thời gian đóng góp BHXHcủa họ Tính không hoàn trả thể hiện: cùng tham gia và đóng góp BHXH,nhưng có người được hưởng trợ cấp nhiều lần và nhiều chế độ khác nhau,nhưng cũng có những người được ít lần hơn, thậm chí không được hưởng.Chính từ đặc điểm này nên một số đối tượng được hưởng trợ cấp từ quỹBHXH thường lớn hơn nhiều so với mức đóng góp của họ và ngược lại Điều

đó thể hiện tính xã hội của toàn bộ hoạt động BHXH

 Quá trình tích luỹ để bảo tồn giá trị và bảo đảm an toàn về tàichính đối với quỹ BHXH là một vấn đề mang tính nguyên tắc Đặc điểm nàyxuất phát từ chức năng cơ bản nhất của BHXH là bảo đảm an toàn về thunhập cho người lao động Vì vậy, đến lượt mình, BHXH phải tự bảo vệ mìnhtrước nguy cơ mất an toàn về tài chính Nhiều nhà kinh tế cho rằng: QuỹBHXH là “Của để giành” của người lao động phòng khi ốm đau, tai nạn hoặctuổi già… Nguồn quỹ này được đóng góp và tích luỹ lại trong suốt quá trìnhlao động Nếu xem xét tại một thời điểm cụ thể nào đó, quỹ BHXH luôn tồntại một lượng tiền tạm thời nhàn rỗi để chi trả trong tương lai Lượng tiền này

có thể biến động tăng và cũng có thể biến động giảm do mất an toàn, giảm giátrị do yếu tố lạm phát Do đó, bảo tồn giá trị và tăng trưởng quỹ BHXH đã trởthành yêu cầu mang tính nguyên tắc trong quá trình hoạt động của BHXH

 Quỹ BHXH là hạt nhân, là nội dung vật chất của tài chínhBHXH Nó là khâu tài chính trung gian cùng với NSNN và tài chính doanhnghiệp hình thành nên hệ thống tài chính quốc gia Tuy nhiên mỗi khâu tàichính được tạo lập, sử dụng cho một mục đích riêng và gắn với một chủ thểnhất định, vì vậy chúng luôn độc lập với nhau trong quản lý và sử dụng Thếnhưng tài chính BHXH, NSNN và tài chính doanh nghiệp lại có quan hệ chặtchẽ với nhau và đều chịu sự chi phối của pháp luật Nhà nước

Trang 22

 Sự ra đời, tồn tại và phát triển quỹ BHXH phụ thuộc vào trình

độ phát triển kinh tế - xã hội của từng quốc gia và điều kiện lịch sử trong từngthời kỳ nhất định của đất nước Kinh tế - xã hội càng phát triển thì càng cónhiều điều kiện thực hiện đầy đủ các chế độ BHXH, nhu cầu thoả mãn vềBHXH đối với người lao động càng được nâng cao Đồng thời khi kinh tế - xãhội phát triển, người lao động và người sử dụng lao động sẽ có thu nhập caohơn, do đó họ càng có điều kiện tham gia và đóng góp BHXH …

2.2 Nguồn hình thành quỹ BHXH

Quỹ BHXH được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, tuỳ thuộc vàopháp luật BHXH và tuỳ thuộc vào mục đích của hệ thống BHXH của mỗinước Nhìn chung, quỹ BHXH được hình thành chủ yếu từ các nguồn sau:

- Người sử dụng lao động đóng góp

- Người lao động đóng góp

- Nhà nước đóng và hỗ trợ thêm

- Các nguồn khác (như cá nhân và các tổ chức từ thiện ủng

hộ, lãi do đầu tư phần quỹ nhàn rỗi)

Trong nền kinh tế hàng hoá, trách nhiệm tham gia đóng góp BHXH chongười lao động được phân chia cho cả nguời sử dụng lao động và người laođộng trên cơ sở quan hệ lao động Điều này không phải là sự phân chia rủi ro,

mà là lợi ích giữa hai bên Về phía người sử dụng lao động, sự đóng góp mộtphần BHXH cho người lao động sẽ tránh được thiệt hại kinh tế do phải chi ramột khoản tiền lớn khi có rủi ro xảy ra đối với người lao động mà mình thuêmướn Đồng thời nó còn góp phần giảm bớt tình trạng tranh chấp, kiến tạođược mối quan hệ tốt đẹp giữa chủ - thợ Về phía người lao động, sự đónggóp một phần để BHXH cho mình vừa biểu hiện sự tự gánh chịu trực tiếp rủi

ro của chính mình, vừa có ý nghĩa ràng buộc nghĩa vụ và quyền lợi một cáchchặt chẽ

Mối quan hệ chủ - thợ trong BHXH thực chất là mối quan hệ lợi ích Vìthế, cũng như nhiều lĩnh vực khác trong quan hệ lao động, BHXH không thể

Trang 23

thiếu được sự tham gia đóng góp của Nhà nước Trước hết các luật lệ của Nhànước về BHXH là những chuẩn mực pháp lý mà cả người lao động và người

sử dụng lao động đều phải tuân theo, những tranh chấp chủ thợ trong lĩnh vựcBHXH có cơ sở vững chắc để giải quyết Ngoài ra, bằng nhiều hình thức, biệnpháp và mức độ can thiệp khác nhau, Nhà nước không chỉ tham gia đóng góp

và hỗ trợ thêm cho quỹ BHXH, mà còn trở thành chỗ dựa để đảm bảo chohoạt động BHXH chắc chắn và ổn định

Ở một số quốc gia phát triển quỹ BHXH phần lớn là thu từ các khoảnthuế, nhất là các khoản thuế đặc biệt như rượu, thuốc lá đuợc dùng để chi trảcác dịch vụ y tế và chăm sóc sức khoẻ Quỹ BHXH được hình thành trên cơ

sở thuế thường được áp dụng cho hệ thống BHXH toàn dân, cho cả nhữngngười tham gia lực lượng lao động và không tham gia lực lượng này Phầnlớn các nước trên thế giới, quỹ BHXH đều được hình thành từ các nguồn nêutrên Tuy nhiên, phương thức đóng góp và mức đóng góp của các bên thamgia BHXH có khác nhau

Về phương thức đóng góp BHXH của người lao động và người sử dụnglao động hiện có hai quan điểm Quan điểm thứ nhất cho rằng: phải căn cứvào mức lương cá nhân và quỹ lương của cơ quan, doanh nghiệp Quan điểmthứ hai: phải căn cứ vào mức thu nhập cơ bản của người lao động được cânđối chung trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân để xác định mức đóng góp

Về mức đóng góp BHXH, một số nước quy định người sử dụng lao độngphải chịu toàn bộ chi phí cho chế độ tai nạn lao động, Chính phủ trả chi phí y

tế và trợ cấp gia đình, các chế độ còn lại cả người lao động và người sử dụnglao động cùng đóng góp mỗi bên một phần bằng nhau Một số nước khác lạiquy định, Chính phủ bù thiếu cho quỹ BHXH hoặc chịu toàn bộ chi phí quản

lý BHXH …

Trang 24

Bảng 1: Mức đóng góp BHXH ở một số nước trên thế giới c trên th gi i ế giới ớc trên thế giới

Tên nước Chính phủ

Tỷ lệ đóng gópcủa người laođộng so với tiềnlương (%)

Tỷ lệ đóng góp củangười sử dụng laođộng so với quỹlương (%)CHLB Đức

ốm đau, thai sản

8 , 18 8 ,

82 11 0 , 3 25 , 9 85 ,

5 , 9

6 , 22 3 ,

16  68 , 19 5 , 6 05 , 8 85 ,

75 , 12

Nguồn: BHXH ở một số nước trên thế giới - Xuất bản năm 1993

Ở nước ta, từ 1962 đến 1987, quỹ BHXH chỉ được hình thành từ 2nguồn: Các xí nghiệp sản xuất vật chất đóng góp 4,7% quỹ lương của xínghiệp, phần còn lại do NSNN đài thọ Thực chất là không tồn tại quỹ BHXHđộc lập Từ năm 1988 đến nay, các đơn vị sản xuất kinh doanh đóng góp 15%quỹ lương của đơn vị Sau khi nền kinh tế nước ta chuyển sang cơ chế thịtrường, Chính phủ đã ban hành Nghị định 43/CP ngày 22/6/1993 và Điều lệBHXH Việt Nam ban hành kèm theo Nghị định 12/CP ngày 26/01/1995,trong các văn bản này đều quy định quỹ BHXH được hình thành từ các nguồnsau đây:

- Người sử dụng lao động đóng bằng 15% so với tổng quỹ tiềnlương của những người tham gia BHXH trong đơn vị Trong đó, 10% để chitrả các chế độ hưu trí, tử tuất và 5% để chi các chế độ ốm đau, thai sản, tainạn lao động và bệnh nghề nghiệp

Trang 25

- Người lao động đóng bằng 5% tiền lương tháng để chi các chế

- Dựa vào tiền lương và thang lương để xác định mức trợ cấpBHXH, từ đó có cơ sở xác định mức phí đóng

- Quy định mức phí BHXH trước rồi từ đó xác định mức hưởng

- Dựa vào nhu cầu khách quan của người lao động để xác địnhmức hưởng, rồi từ mức hưởng BHXH này có thể xác định được mức phí phảiđóng

Mặc dù chỉ thuần tuý mang tính kỹ thuật nhưng xác định phí BHXH lạikhá phức tạp vì nó liên quan đến cả người lao động người sử dụng lao động

và Nhà nước Liên quan đến khả năng cân đối thu nhập của người lao động vàđiều kiện phát triển kinh tế xã hội của đất nước Tuy nhiên, khi xác định phíBHXH vẫn phải đảm bảo các nguyên tắc: Cân bằng thu chi, lấy số đông bù số

ít và có dự phòng Mức phí xác định phải được cân đối với mức hưởng, vớinhu cầu BHXH và điều chỉnh sao cho tối ưu nhất

Trang 26

f2 - Phí dự phòng

f3 - Phí quản lýPhí thuần tuý trợ cấp BHXH cho cả các chế độ ngắn hạn và dài hạn Đốivới các chế độ BHXH ngắn hạn, việc đóng và hưởng BHXH xảy ra trong thờigian ngắn (thường là 1 năm) như: Ốm đau, thai sản, tai nạn lao động nhẹ …

Vì vậy, số đóng góp BHXH phải đủ cho số phát sinh chi trả trong năm Đốivới các chế độ BHXH dài hạn như: Hưu trí, trợ cấp mất người nuôi dưỡng, tainạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp nặng … quá trình đóng và quá trìnhhưởng BHXH tương đối độc lập với nhau và diễn ra trong khoảng thời giannhất định Cho nên, sự cân bằng giữa đóng góp và hưởng BHXH phải đượcdàn trải trong cả thời kỳ dài Vì thế, ngoài phí thuần tuý phải có phí dự phòng

để đảm bảo quỹ BHXH có dự trữ đủ lớn

Như vậy, để xác định được mức phí phải đóng và mức hưởng BHXHphải dựa vào nhiều yếu tố và nhiều thông tin khác nhau về nguồn lao động, cơcấu nguồn lao động theo độ tuổi, giới tính, ngành nghề … Ngoài ra còn phảixác định và dự báo được tuổi thọ bình quân của quốc gia, xác suất ốm đau, tainạn, tử vong của người lao động …

Quỹ BHXH hình thành và hoạt động đã tạo ra khả năng giải quyết nhữngrủi ro của tất cả những người tham gia với tổng dự trữ ít nhất, giúp cho việcdàn trải rủi ro được thực hiện theo cả hai chiều không gian và thời gian, đồngthời giúp giảm tối thiểu thiệt hại kinh tế cho người sử dụng lao động, tiếtkiệm chi cho cả Ngân sách Nhà nước và ngân sách gia đình

IV/ CHẾ ĐỘ THAI SẢN TRONG HỆ THỐNG BHXH

Trang 27

hội ngày càng nâng cao Chính vì thế mà Nhà nước cần phải đề ra nhữngchính sách đối với đối tượng quan trọng này với mục đích thay thế hoặc bùđắp một phần thu nhập khi người lao động nữ phải nghỉ việc trong thời giansinh con nhằm đảm bảo cho họ có một cuộc sống bình thường để chăm con vàhồi phục sức khoẻ.

Chế độ thai sản là sự đảm bảo thu nhập và ổn định cuộc sống đối vớilao động nữ khi họ mang thai, sinh đẻ hoặc nuôi con trong một thời gianngắn Nó có vị trí quan trọng đối với người lao động nữ, nhằm động viên,khuyến khích và hỗ trợ người mẹ khi họ mang thai, sinh đẻ và nuôi con sơsinh

Người phụ nữ ngày nay đã tự lao động để đảm bảo cuộc sống và cốnghiến cho xã hội qua đó họ ngày càng khẳng định được vị trí quan trọng củabản thân trong xã hội, họ đã có mặt trong hầu hết các ngành nghề và đã thểhiện một cách xuất sắc năng lực của mình Khác với nam giới họ còn cónhiệm vụ quan trọng là tái sản xuất con người, do đó khi mang thai và sinhcon là giai đoạn khó khăn nhất của họ nên họ cần được sự quan tâm ngược lại

từ phía xã hội Đó chính là khoản tiền trợ cấp phù hợp với công sức mà họ đãđóng góp trong suốt quá trình lao động

Như vậy, chế độ thai sản là một chế độ mang tính xã hội hoá cao, nóđược thực hiện thường xuyên và đều đặn, kế tiếp từ thế hệ này sang thế hệkhác Nói cách khác, nó diễn ra một cách liên tục vì sự sống luôn phát triển vìvậy, nó tạo ra sự ràng buộc và đoàn kết giữa các thế hệ, làm cho mọi ngườitrong xã hội quan tâm và gắn bó với nhau hơn, thể hiện mối quan tâm sâu sắcgiữa người với người

1.2 Vai trò của chế độ thai sản trong hệ thống chính sách BHXH

Hệ thống BHXH của mỗi quốc gia thường bao gồm nhiều chế độ khácnhau, số lượng các chế độ BHXH được xây dựng và thực hiện phụ thuộc vàotrình độ phát triển và mục tiêu cụ thể của hệ thống BHXH từng thời kỳ củamỗi nước

Trang 28

Chế độ thai sản có một vị trí đặc biệt quan trọng trong hệ thống BHXHcủa mỗi quốc gia vì chế độ này ảnh hưởng đến một bộ phận lớn lao độngtrong xã hội và đến tương lai của một đất nước Một đất nước muốn tồn tại vàphát triển phải chăm lo chu đáo đến thế hệ tương lai Chế độ thai sản là mộtchế độ ngắn hạn trong hệ thống các chế độ BHXH nhưng đó là một trong nămchế độ được thực hiện sớm nhất trong lịch sử phát triển của BHXH ở nước ta.Cùng với các chế độ BHXH khác, chế độ trợ cấp thai sản đã góp phần rất tolớn vào việc ổn định đời sống của hàng triệu người lao động và gia đình họ,khuyến khích người lao động hăng hái, yên tâm lao động sản xuất, thực hiệnthắng lợi các nhiệm vụ chính trị của đất nước trong mỗi giai đoạn lịch sử.

BHXH đã được thực hiện hàng trăm năm nay và chế độ trợ cấp thai sản

là một trong những chế độ được thực hiện sớm nhất Theo quy định của ILO,một quốc gia được coi là có hệ thống BHXH chỉ khi có ít nhất 1 trong 3 chế

độ là ốm đau, thai sản TNLĐ và BNN được thiết lập Theo thống kê, trongtổng số 173 nước tính đến năm 2002 có hệ thống BHXH thì có 112 nước thựchiện chế độ thai sản (chiếm 64%)

Chế độ thai sản là chế độ có vai trò to lớn trong hệ thống BHXH củamỗi quốc gia, bởi lẽ đó là chế độ có ảnh hưởng rất lớn đến cuộc đời củanhững người tham gia BHXH Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, khinguồn thu nhập chính của người lao động là thu nhập từ các hoạt động tunghiệp Khi nghỉ thai sản, nguồn thu nhập chủ yếu của họ lại là khoản trợ cấpBHXH

Trong hệ thống chính sách xã hội có những loại chính sách xã hội phổbiến, có ảnh hưởng, có tác động đến đại bộ phận các tầng lớp dân cư trong xãhội Đồng thời, có những laọi chính sách xã hội có tính đặc thù, chỉ có nhữngảnh hưởng, những tác động đến một bộ phận, một giai tầng xã hội nào đó màthôi Nói cách khác, mỗi một loại chính sách xã hội có một loại đối tượng tácđộng nhất định nhằm đạt một mục tiêu nhất định Là một bộ phận của chínhsách xã hội, chính sách thai sản đối với người lao động giữ một vai trò rất to

Trang 29

lớn Thứ nhất, đối tượng của chính sách là những người lao động nữ, chiếmmột tỷ lệ đáng kể trong dân cư và trong lực lượng lao động của xã hội Nhữngngười này đã có những đóng góp quan trọng cho sự phát triển của đất nước.Thứ hai, mục tiêu của chính sách đối với người nghỉ thai sản là nhằm gópphần đảm bảo cuộc sống vật chất và tinh thần cho họ trong thời gian nghỉ sinhcon không có nguồn thu nhập nào khác.

Thực hiện tốt chính sách thai sản sẽ góp phần đảm bảo sự ổn định xãhội, đảm bảo thực hiện thắng lợi các chính sách xã hội khác của quốc gia.Thực hiện tốt chính sách đối với người nghỉ thai sản sẽ góp phần tạo ra độnglực mới để thực hiện các chính sách kinh tế; khuyến khích người lao độnghăng hái sản xuất, nâng cao năng suất và chất lượng lao động Thực tế chothấy, ở các nước thực hiện tốt chính sách thai sản đối với người lao động đãtạo ra một cơ sở xã hội bền vững Ngược lại, ở những nước chưa thực hiện tốtchính sách này thì xã hội luôn ở vào trạng thái bất ổn định, người lao độngluôn luôn phải đối mặt trước những khó khăn khi phải nghỉ việc mà không cónhững đảm bảo trong cuộc sống ở phía trước Điều này luôn dẫn đến nhữngnguy cơ bất ổn định về chính trị ở các quốc gia này Chính vì vậy, các nướcluôn chú trọng xây dựng và hoàn thiện chính sách, chế độ thai sản đối vớingười lao động, nhằm đảm bảo sự ổn định về chính trị và phát triển xã hội

Ở nước ta, ngay từ khi mới thành lập nước, Đảng và Nhà nước ta đãchú trọng xây dựng hệ thống chính sách BHXH, trong đó chế độ BHXH đượcđặc biệt quan tâm Cùng với sự phát triển chung của đất nước, chế độ thai sảnngày càng được hoàn thiện hơn và đã góp phần rất tích cực trong việc đảmbảo cuộc sống cho người lao động, góp phần giữ vững ổn định chính trị, tăngtrưởng kinh tế và phát triển xã hội bền vững theo mục tiêu dân giầu, nướcmạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

1.3 Quy định của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) về chế độ thai sản Công ước 03: Đây là công ước đầu tiên về thai sản được Tổ chức Lao

động quốc tế (ILO) thông qua ngày 29/10/1919 quy định trợ cấp thai sản đối

Trang 30

với lao động nữ trong các ngành công nghiệp Nội dung chủ yếu của công ước

là quy định thời gian nghỉ thai sản cũng như những quyền lợi mà người laođộng nữ được hưởng khi mang thai và sinh con Cụ thể:

- Người lao động nữ tuyệt đối không được quay trở lại làm việc trongthời gian 6 tuần sau khi sinh

- Người lao động nữ được quyền nghỉ việc nhận trợ cấp thai sản trongvòng 6 tuần trước khi sinh

- Được quyền nhận trợ cấp chăm sóc y tế đối với cả mẹ và con

Mức trợ cấp, thời gian nghỉ việc nhận trợ cấp cụ thể tuỳ thuộc vào luậtpháp, quy định cũng như điều kiện của từng quốc gia

Công ước 102: Năm 1952, Viện nghị của ILO đã thông qua công ước

102 quy định những tiêu chuẩn tối thiểu về Bảo đảm xã hội Đây là Côngước có nội dung đầy đủ nhất, phát triển những tiêu chuẩn quốc tế về Bảo đảm

- Trợ cấp chôn cất và mất người nuôi dưỡng

Công ước quy định: một quốc gia được gọi là có hệ thống bảo hiểm xãhội phải thiết lập ít nhất 3 chế độ, trong đó ít nhất phải có 1 trong các chế độ:trợ cấp tuổi già, trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp tai nạn lao động, trợ cấp tàn tật,trợ cấp chôn cất và mất người nuôi dưỡng

Trang 31

Đối với trợ cấp TNLĐ-BNN và trợ cấp thai sản có thể vừa thực hiệntrợ cấp bằng tiền vừa thực hiện trợ cấp bằng hiện vật.

Tài chính để thực hiện trợ cấp chủ yếu do sự đóng góp của các bêntham gia Nhà nước có trách nhiệm quản lý chung về BHXH

Điều kiện nhận trợ cấp thai sản: Tất cả những người phụ nữ khi mangthai, sinh đẻ đều được quyền hưởng trợ cấp thai sản

Mức trợ cấp thai sản: Những người phụ nữ khi thai nghén, sinh đẻđược hưởng chăm sóc y tế và còn được nhận trợ cấp định kỳ trong khoảng từ

45 – 75%

Công ước 103: Ngày 28/6/1952, Tổ chức lao động quốc tế đã thông

qua công ước số 103 Nội dung của công ước lần này là quy định nội dung trợcấp thai sản đối với người lao động nữ trong các ngành công nghiệp cả nhànước và tư nhân Những quy định này đã mang tính chất cụ thể hơn so vớicông ước 03 thông qua năm 1919 Cụ thể:

- Thời gian nghỉ thai sản trước và sau khi sinh đối với lao động nữ ítnhất là 20 tuần

- Lao động nữ có quyền nghỉ việc hưởng trợ cấp thai sản 6 tuần trướckhi sinh

- Thời gian nghỉ tối thiểu sau khi sinh tuỳ thuộc vào quy định cụ thểcủa từng quốc gia nhưng không được ít hơn 6 tuần kể từ ngày sinh Trongnhững trường hợp có chứng nhận của y tế về bệnh tật phát sinh sau khi sinh

họ được quyền kéo dài thời gian nghỉ sau khi sinh

- Trong thời gian nghỉ thai sản, lao động nữ được quyền nhận trợ cấpbằng tiền và chăm sóc y tế:

+ Mức trợ cấp bằng tiền được quy định cụ thể theo luật pháp, quy địnhcủa từng quốc gia nhưng nó phải đảm bảo duy trì sức khoẻ cho người mẹ vàđứa trẻ theo tiêu chuẩn mức sống tối thiểu

Đối với những nước thực hiện trợ cấp thai sản theo hệ thống bảo hiểm

xã hội bắt buộc thì mức trợ cấp được tính trên cơ sở mức thu nhập trước đó

Trang 32

Mức trợ cấp không được thấp hơn 2/3 mức thu nhập trước đó của người laođộng nữ.

+ Chăm sóc y tế bao gồm: chăm sóc trước sinh, trong khi sinh và saukhi sinh bởi một bác sĩ đủ năng lực và trong một bệnh viện tuỳ theo sự lựachọn của người mẹ

Công ước 183: Đây là công ước có nội dung cụ thể nhất về chế độ trợ

cấp thai sản đối với tất cả mọi người lao động nữ được Tổ chức ILO thôngqua ngày 15/6/2000 Trong đó quy định cụ thể:

- Thời gian nghỉ việc nhận trợ cấp thai sản của lao động nữ tuỳ thuộcvào luật pháp và quy định của từng quốc gia nhưng không dưới 14 tuần

- Thời gian nghỉ tối thiểu sau khi sinh là 6 tuần

- Lao động nữ nghỉ sinh con được nhận trợ cấp cả bằng tiền và chămsóc y tế Mức trợ cấp tuỳ thuộc vào quy định của từng quốc gia, nhưng phảiđảm bảo duy trì được sức khoẻ của người mẹ và đứa trẻ theo mức sống tốithiểu Đối với những nước thực hiện trợ cấp trên cơ sở mức thu nhập trước đóthì mức trợ cấp không được thấp hơn 2/3 mức thu nhập trước khi nghỉ sinhcon

+ Trợ cấp y tế được thực hiện đối với cả người mẹ và đứa trẻ, bao gồm:chăm sóc trước sinh, trong lúc sinh và sau khi sinh

2 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới

Nhìn chung, ở hầu hết các nước trên thế giới, chế độ thai sản thườngđược quản lý như một phần trong chế độ ốm đau, thường được gọi chung làchế độ trợ cấp ốm đau – thai sản

Trang 33

- Phải có thời gian đóng góp tối thiểu trước khi sinh, thông thường cácnước yêu cầu thời gian đóng góp tối thiểu trong khoảng từ 6 tháng đến 12tháng cuối cùng trước khi sinh.

Bảng 2: Điều kiện về thời gian đóng góp tối thiểu trước khi sinh

ở một số nước trên thế giới

1 Áchentina 10 tháng đóng góp liên tục trước khi nghỉ thai sản

hoặc đã có 6 tháng đóng góp trong 12 tháng trước khisinh trong đó có 1 tháng làm việc ngay trước khisinh

2 Trung Quốc Không quy định thời gian tham gia tối thiểu

3 Pháp Có 200 giờ làm việc trong 3 tháng cuối cùng trước

khi sinh

4 Đức Có 12 tuần tham gia bảo hiểm hoặc có thời gian làm

việc liên tục từ 4 đến 10 tháng trước khi sinh

5 Nhật Bản Tất cả những người có việc làm trong diện tham gia

bảo hiểm

6 Mêhicô Có 30 tuần đóng góp trong 12 tháng cuối cùng trước

khi sinh

7 Balan Những người hiện tại đang làm việc ở những nơi

thuộc phạm vi tham gia bảo hiểm xã hội

8 Nga Không quy định thời gian đóng góp tổi thiểu

9 Nam Phi Có 13 tuần đóng góp trong 52 tuần trước khi sinh

10 Thái Lan 7 tháng đóng góp trong 15 tháng trước khi sinh (chỉ

giới hạn trong 2 lần sinh)

2.2 Thời gian và mức hưởng trợ cấp thai sản

Trang 34

Trợ cấp thai sản có hai phương thức thực hiện là trợ cấp bằng tiền vàchăm sóc y tế.

- Đối với chăm sóc y tế: Hầu hết các nước trên thế giới đều bắtbuộc người phụ nữ trong thời gian mang thai và sinh con phải sử dụng dịch

vụ chăm sóc y tế trước và sau khi sinh Dịch vụ y tế thông thường bao gồm:chăm sóc ban đầu, một số dịch vụ và thuốc men thiết yếu, những dịch vụ đặcbiệt, phẫu thuật, chăm sóc thai sản Đặc biệt ở một số nước có thực hiện cả trợcấp chi phí đi lại, dịch vụ chăm sóc tại nhà

Việc chi trả chi phí chăm sóc y tế, hiện nay đang tồn tại 3 phương pháp

cơ bản: chi trả trực tiếp cho người thực hiện cung cấp dịch vụ trong các cơ sở

y tế của Nhà nước; hoàn trả chi phí cho bệnh nhân; chi trả theo các điềukhoản trực tiếp về chăm sóc y tế

- Đối với trợ cấp thai sản bằng tiền: Mức trợ cấp và thời gian trợ cấpthai sản của các nước rất khác nhau Thông thường mức trợ cấp thai sản là100% lương và thời gian trợ cấp thường là 6 tuần trước khi sinh và từ 6 đến 8tuần sau khi sinh Ngoài trợ cấp kể trên thì mỗi lần sinh con người mẹ cònđược cấp nuôi con với mức từ 20 đến 25% mức trợ cấp thai sản trong thờigian từ 6 tháng trở lên Cũng có một số nước thực hiện hỗ trợ tiền sắm sửa tãlót và trợ cấp thai sản một lần

Bảng 3: Thời gian và mức hưởng trợ cấp thai sản ở một

Trang 35

số nước trên thế giới c trên th gi i ế giới ớc trên thế giới

1 Áchentina Thời gian nhận trợ cấp cho một lần sinh là 90 ngày với

mức 100% thu nhập của tháng trước khi sinh (ngườilao động có thể tự lựa chọn thời gian nghỉ thích hợp:

30 ngày trước khi sinh và 60 ngày sau khi sinh hoặc 45ngày trước khi sinh và 45 ngày sau khi sinh)

2 Trung Quốc Mức trợ cấp bằng 100% thu nhập trong thời gian 90

ngày (chi phí này do chủ sử dụng lao động chịu tráchnhiệm) Những trường hợp nạo, phá thai được nhận trợcấp trong vòng 42 ngày với mức trợ cấp bằng 100%thu nhập

3 Pháp Mức trợ cấp bằng 100% thu nhập ròng Thời gian nhận

trợ cấp là 6 tuần trước khi sinh và 10 tuần sau khi sinhđối với đứa con thứ nhất và thứ hai Đối với đứa conthứ ba được nghỉ 8 tuần trước khi sinh và 18 tuần saukhi sinh Trường hợp song thai, người mẹ được nghỉ

12 tuần trước khi sinh và 22 tuần sau khi sinh Nếu thai

ba, người mẹ được nghỉ 24 tuần trước khi sinh và 22tuần sau khi sinh

4 Đức 100% thu nhập ròng Thời gian nhận trợ cấp là 6 tuần

trước khi sinh và 8 tuần sau khi sinh

Đối với những người không đủ điều kiện nhận trợ cấpnhư trên thì nhân trợ cấp một lần bằng 150 DM chomột lần sinh

5 Nhật Bản Mức trợ cấp bằng 60% mức lương bình quân ngày

trong 42 ngày trước khi sinh (98 ngày trong những

Trang 36

trường hợp đa thai) và 56 ngày sau khi sinh.

6 Mêhicô Mức trợ cấp bằng 100% mức lương bình quân Thời

gian nhận trợ cấp là 42 ngày trước khi sinh và 42 ngàysau khi sinh (nếu sau khi sinh 42 ngày mà người mẹkhông thể trở lại làm việc bình thường được thì họ sẽđược nhận trợ cấp ốm đau)

7 Balan Mức trợ cấp bằng 100% thu nhập Thời gian nhận trợ

cấp thai sản là 16 tuần đối với lần sinh thứ nhất, 18tuần đối với lần sinh thứ hai trở đi và 26 tuần đối vớinhững trường hợp sinh đôi, sinh ba trở lên

8 Nga Mức trợ cấp bằng 100% thu nhập trong thời gian từ 10

– 12 tuần trước khi sinh và 10 – 16 tuần sau khi sinh.Những người nghỉ việc để trông con dưới 18 thángtuổi được nhận mức trợ cấp hàng tháng bằng 200%mức lương tối thiểu

9 Nam Phi Mức trợ cấp bằng 45% thu nhập tuần trong thời gian

18 tuần trước khi sinh và 8 tuần sau khi sinh

10 Thái Lan Mức trợ cấp bằng 50% lương trước khi nghỉ trong

vòng 90 ngày cho một lần sinh Chỉ thực hiện trợ cấpcho những người lao động nữ có tham gia bảo hiểm.Thực hiện trợ cấp một lần là 4 000 bạt cho một lầnsinh

Nguồn: Bảo đảm xã hội của các nước trên thế giới - Xuất bản năm 1999

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI CHẾ ĐỘ TRỢ CẤP THAI SẢN CỦA CƠ QUAN BHXH VIỆT NAM

I/ CHẾ ĐỘ THAI SẢN Ở VIỆT NAM QUA CÁC THỜI KỲ

1 Trước năm 1995

Trang 37

Chế độ BHXH là sự cụ thể hóa chính sách BHXH, là hệ thống các quyđịnh cụ thể và chi tiết, là sự bố trí, sắp xếp các phương tiện để thực hiệnBHXH đối với người lao động Nói cách khác, đó là hệ thống các quy địnhđược pháp luật hoá về đối tượng hưởng, điều hiện để được hưởng, mứchưởng, thời hạn hưởng, nghĩa vụ và mức đóng góp cho từng trường hợpBHXH cụ thể Chế độ BHXH còn được biểu hiện dưới dạng các văn bản phápluật và dưới luật, điều lệ …

Như vậy, thực hiện BHXH là trực tiếp thực hiện các chế độ và qua đó,chính sách BHXH mới được thực hiện Khi xem xét BHXH của một nướcngười ta thường chú ý xem xét thiết chế về BHXH chứ không phải là cácchính sách BHXH Tuy nhiên, thực tế cuộc sống hết sức phong phú nên cácthiết chế về BHXH dù chi tiết đến đâu cũng khó có thể bao hàm được đầy đủmọi chi tiết cụ thể Vì vậy, trong quá trình thực hiện các chế độ BHXHthường phải nắm vững những vấn đề cốt lõi của chính sách BHXH thì mới cóthể vận dụng thực hiện các chế độ một cách đúng đắn và nhất quán

Ở nước ta, Đảng và Chính phủ luôn xác định chính sách BHXH

là chính sách có tính chất nhân văn sâu sắc, có tầm quan trọng và vai trò tolớn đối với cuộc sống con người Đảng và Chính phủ đã luôn quan tâm đếnviệc hình thành và phát triển chính sách BHXH Ngay từ khi thành lập (năm1929), trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản Đông Dương (tiền thân của

Đảng Cộng sản Việt Nam ngày nay) đã nêu: “Tổ chức tất cả vô sản giai cấp

và công hội thực hành bảo hiểm cho thợ thuyền; giúp đỡ thợ thuyền thất nghiệp…” Sau đó, tại Hội nghị Trung ương tháng 11/1941, Đảng ta đã ra Nghị quyết sẽ đặt ra Luật BHXH khi thiết lập được chính quyền cách mạng

và tạo lập quỹ hưu bổng cho người già Chính sách BHXH ở Việt Nam đã

hình thành từ những năm đầu thành lập nước được thể hiện qua việc ban hànhmột số Sắc lệnh:

- Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủCộng Hoà (nay là Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam) ra đời, mặc dù với

Trang 38

một nền tài chính hết sức eo hẹp, kinh tế nghèo nàn và lạc hậu, nhưng ngày03/11/1945 Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt Chính phủ ký Sắc lệnh số 54/

SL, ngày 14/6/1946 ký Sắc lệnh số 105/SL ấn định những điều kiện cho côngchức về hưu

- Sắc lệnh số 20/SL ngày 16/02/1947 quy định về “hưu bổngthương tật” và “tiền tuất cho thân nhân tử sĩ” đối với những quân nhân thuộccác ngành quân đội quốc gia Việt Nam”

- Sắc lệnh số 29/SL ban hành ngày 12/3/1947, trong đó quy định

vể “phụ cấp gia đình”, “phụ cấp thâm niên”, “lệ nghỉ của đàn bà đẻ và chocon bú”, chế độ ốm đau, tai nạn lao động đối với công nhân Việt Nam

- Sắc lệnh số 76/SL ban hành ngày 20 tháng 5 năm 1950, trong

đó có quy định một số chế độ trợ cấp BHXH đối với công chức Nhà nước

- Sắc lệnh số 77/SL ban hành ngày 22 tháng 5 năm 1950 quyđịnh chế độ trợ cấp đối với công nhân giúp việc Chính phủ trong thời kỳkháng chiến

Tại Sắc lệnh số 29/SL đã dành hẳn một tiết để quy định về chế độ thaisản Theo quy định tại tiết này, người phụ nữ nghỉ thai sản được nhận trợ cấptrong thời hạn 8 tuần với mức trợ cấp bằng 5% tiền công kể cả phụ cấp vàđựoc nghỉ 30 phút trong giờ làm buổi sáng và 30 phút trong giờ làm buổichiều để cho con bú trong thời hạn 1 năm kể từ ngày sinh

Điều 30 Sắc lệnh số 77/SL có quy định người lao động nữ trong thời kỳthai sản được nghỉ 2 tháng, một tháng trước khi sinh và một tháng sau khisinh với mức hưởng nguyên lương và phụ cấp Trong thời hạn 1 năm kể từngày sinh, người phụ nữ được phép nghỉ 1 tiếng cho con bú

Những quy định trên có nội dung và nguyên tắc về BHXH, nhưng dohoàn cảnh đất nước đang có chiến tranh, nền kinh tế còn nhiều khó khăn nênviệc thực hiện quyền lợi bảo hiểm xã hội nói chung và chế độ thai sản nóiriêng đối với người lao động trong giai đoạn này chưa đầy đủ và toàn diện,quỹ BHXH chưa được hình thành Tuy nhiên những chế độ trợ cấp mang tính

Trang 39

bảo hiểm xã hội trong giai đoạn đầu thành lập nước đã giải quyết được mộtphần những khó khăn trong đời sống của công nhân viên chức Nhà nước vàgia đình họ, củng cố thêm niềm tin của nhân dân vào Đảng, Chính phủ và làmcho mọi người an tâm, phấn khởi đẩy mạnh công tác.

Nhằm mục đích phục vụ yêu cầu xây dựng chủ nghĩa xã hội phù hợpvới điều kiện kinh tế, xã hội của đất nước sau ngày hoà bình lập lại ở MiềnBắc, đáp ứng yêu cầu không ngừng cải thiện đời sống của công nhân viênchức Nhà nước với số lượng ngày càng tăng lên và thực hiện Hiến pháp năm

1959, ngày 27 tháng 12 năm 1961, Hội đồng Chính phủ đã ban hành Nghị

định 218/CP kèm theo Điều lệ tạm thời về các chế độ BHXH đối với công nhân viên chức nhà nước và ngày 30/10/1964, ký Nghị định số 161/CP, ban

hành Điều lệ tạm thời về các chế độ đãi ngộ đối với quân nhân ốm đau, bịthương, mất sức lao động, về hưu hoặc chết; đối với nữ quân nhân khi có thai

va khi đẻ; đối với quân nhân dự bị và dân quân tự vệ ốm đau, bị thương hoặcchết trong khi làm nhiệm vụ quân sự” Nội dung cụ thể của Điều lệ tạm thời

về các chế độ BHXH đối với công nhân viên chức Nhà nước:

- Đối tượng áp dụng: công nhân, viên chức nhà nước ở các cơquan, xí nghiệp, công trường, nông trường, cán bộ, công nhân trong các đoànthể nhân dân; công nhân viên chức trong các xí nghiệp công tư hợp doanh đã

áp dụng chế độ trả lương như xí nghiệp quốc doanh; công nhân viên chứctrong các xí nghiệp công nghiệp địa phương đã có kế hoạch lao động, tiềnlương ghi trong kế hoạch nhà nước

- Các chế độ được quy định bao gồm 6 chế độ: ốm đau, thai sản,tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp, mất sức lao động, hưu trí, tử tuất

- Tổ chức quản lý thực hiện BHXH: Nhà nước thành lập quỹ bảohiểm xã hội độc lập thuộc Ngân sách Nhà nước và giao cho Tổng Công đoànViệt Nam (nay là Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam) quản lý

Đây là Điều lệ tương đối đầy đủ, nó đã cụ thể hoá nhiều nội dung chủyếu về BHXH đối với công nhân viên chức nhà nước

Trang 40

Đối với chế độ thai sản, Điều lệ dành hẳn tiết 2 (từ Điều 13 đến Điều22) để quy định, nội dung cụ thể như sau:

- Về thời gian trợ cấp: Thời gian nữ công nhân viên chức đượcnghỉ trước và sau khi đẻ là 60 ngày (kể cả ngày lễ và chủ nhật), nếu đẻ sinhđôi thì được nghỉ thêm 10 ngày, sinh ba thì được nghỉ thêm 20 ngày Đối với

nữ công nhân viên chức làm nghề đặc biệt nặng nhọc được nghỉ thêm 15ngày Những người sinh non có chứng nhận của thầy thuốc cũng được nghỉ

60 ngày

Những người bị sảy thai từ 3 tháng trở xuống được nghỉ từ 7 đến 15ngày, bị sảy thai trên 3 tháng được nghỉ 15 đến 30 ngày Những người làmnghề đặc biệt nặng nhọc được nghỉ thêm từ 3 đến 10 ngày Số ngày cần nghỉ

+ Những người bị sảy thai được điều trị và bồi dưỡng ở bệnh việntheo chế độ như khi ốm đau Nếu ở xa bệnh viện, bệnh xá phải nghỉ ở nhà thìđược trợ cấp tiền bồi dưỡng là 6 đồng

+ Khi sinh đẻ, sảy thai mà sức khoẻ suy nhược được thầy thuốcchứng nhận, sau khi nghỉ hết thời gian quy định mà không thể trở lại làm việcthì được nghỉ và nhận trợ cấp như khi ốm đau

+ Sau khi đẻ bị mất sữa hoặc không được cho con bú vì mắc bệnhtruyền nhiễm thì được trợ cấp mỗi tháng 10 đồng cho mỗi đứa con cho đếnkhi đủ 10 tháng tuổi Đối với những người sinh đôi, sinh ba, mặc dù có đủ sữacho con bú nhưng vẫn được nhận trợ cấp như trên cho đứa con thứ 2 trở đi

Ngày đăng: 19/02/2014, 11:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Giáo trình kinh tế bảo hiểm. Trường Đại học KTQD – NXB Thống kê, Hà Nội - 2004 Khác
2. Các quy định pháp luật về BHXH – NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội – 2003 Khác
3. Giáo trình Bảo hiểm xã hội – NXB Lao động - Xã hội, Hà Nội – 2004 Khác
4. Những điều cần biết về BHXH - Hệ thống các văn bản về BHXH – NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội – 2000 Khác
6. Bảo hiểm xã hội những điều cần biết - Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, năm 1999 Khác
7. Báo cáo tổng kết hoạt động của BHXH Việt Nam từ năm 1997 – 2005 Khác
8. Một số Công ước của Tổ chức lao động quốc tế (ILO), Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, Hà Nội – 2000 Khác
9. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB Chính trị Quốc gia, năm 2001 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Mức đóng góp BHXH ở một số nước trên thế giới - thực trạng triển khai chế độ trợ cấp thai sản trong bhxh ở việt nam hiện nay
Bảng 1 Mức đóng góp BHXH ở một số nước trên thế giới (Trang 24)
Bảng 2: Điều kiện về thời gian đóng góp tối thiểu trước khi sinh  ở một số nước trên thế giới - thực trạng triển khai chế độ trợ cấp thai sản trong bhxh ở việt nam hiện nay
Bảng 2 Điều kiện về thời gian đóng góp tối thiểu trước khi sinh ở một số nước trên thế giới (Trang 33)
Bảng 4: Tình hình thu BHXH giai đoạn 1997-2005 - thực trạng triển khai chế độ trợ cấp thai sản trong bhxh ở việt nam hiện nay
Bảng 4 Tình hình thu BHXH giai đoạn 1997-2005 (Trang 56)
Bảng 5 cho thấy: - thực trạng triển khai chế độ trợ cấp thai sản trong bhxh ở việt nam hiện nay
Bảng 5 cho thấy: (Trang 60)
Bảng 6: Tình hình chi trả chế độ trợ cấp thai sản giai đoạn 1997 - 2005 - thực trạng triển khai chế độ trợ cấp thai sản trong bhxh ở việt nam hiện nay
Bảng 6 Tình hình chi trả chế độ trợ cấp thai sản giai đoạn 1997 - 2005 (Trang 62)
Bảng 7: Đánh giá kết quả thực hiện chế độ trợ cấp thai sản tại BHXH Việt Nam giai đoạn 1997 - 2005 - thực trạng triển khai chế độ trợ cấp thai sản trong bhxh ở việt nam hiện nay
Bảng 7 Đánh giá kết quả thực hiện chế độ trợ cấp thai sản tại BHXH Việt Nam giai đoạn 1997 - 2005 (Trang 66)
Bảng 8: Nguồn thông tin về BHXH - thực trạng triển khai chế độ trợ cấp thai sản trong bhxh ở việt nam hiện nay
Bảng 8 Nguồn thông tin về BHXH (Trang 71)
Bảng 9: Hiểu biết về các chế độ BHXH - thực trạng triển khai chế độ trợ cấp thai sản trong bhxh ở việt nam hiện nay
Bảng 9 Hiểu biết về các chế độ BHXH (Trang 72)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w