1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tác động của quá trình đô thị hoá tới việc làm và thu nhập của người lao động nông nghiệp nông thôn tỉnh vĩnh phúc

89 2,4K 15
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tác động của quá trình đô thị hoá tới việc làm và thu nhập của người lao động nông nghiệp nông thôn tỉnh Vĩnh Phúc
Người hướng dẫn PGS.TS Phạm Văn Vận
Trường học Trường đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Kinh tế & Quản lý
Thể loại đề tài nghiên cứu
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 648,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm: Đô thị là nơi dân cư tập trung với một mật độ cao, chủ yếu là lao độngphi nông nghiệp, cơ sở hạ tầng thích hợp, là trung tâm tổng hợp hay trung tâmchuyên ngành, có vai trò th

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Đất nước ta đang đi trên con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá vớimục tiêu đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp.Khắp nơi trên mọi miền đất nước đều đang chuyển mình theo con đường màĐảng và Nhà nước đã chọn Tỉnh Vĩnh Phúc cũng không nằm ngoài xu thếchung đó

Trong những năm qua, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đã đem lại chotỉnh một màu sắc mới, phát triển hơn, giàu đẹp hơn Nhưng bên cạnh đó cũngcòn không ít những vấn đề còn tồn tại, đặc biệt là vấn đề đô thị hoá đã làmgiảm quỹ đất nông nghiệp dẫn đến một bộ phận dân cư nông thôn trình độthấp thiếu việc làm, giảm thu nhập gây nguy hại cho mục tiêu phát triển bềnvững, xoá đói giảm nghèo của tỉnh Điều này đã thôi thúc em nghiên cứu đề

tài: “Tác động của quá trình đô thị hoá tới việc làm và thu nhập của người lao động nông nghiệp nông thôn tỉnh Vĩnh Phúc”.

Kết cấu chuyên đề bao gồm:

Chương 1: Cơ sở lý luận về đô thị hoá và tác động của đô thị hoá đến việc

làm và thu nhập của lao động nông nghiệp nông thôn

Chương 2: Thực trạng lao động việc làm và thu nhập của lao động nông

nghiệp nông thôn trong quá trình đô thị hoá ở tỉnh Vĩnh Phúc

Chương 3: Các giải pháp tạo việc làm tăng thu nhập cho lao động nông

nghiệp nông thôn trong quá trình đô thị hoá ở tỉnh Vĩnh Phúc đếnnăm 2010

Trang 2

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÔ THỊ HOÁ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA ĐÔ THỊ HOÁ ĐẾN VIỆC LÀM VÀ THU NHẬP CỦA LAO ĐỘNG

NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN

1.1 Những vấn đề lý luận chung về đô thị

1.1.1 Khái niệm:

Đô thị là nơi dân cư tập trung với một mật độ cao, chủ yếu là lao độngphi nông nghiệp, cơ sở hạ tầng thích hợp, là trung tâm tổng hợp hay trung tâmchuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của một huyện,tỉnh hoặc vùng, miền lãnh thổ,cả nước

- Trung tâm tổng hợp: là những đô thị có vai trò và chức năng nhiều mặt

về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội…

- Trung tâm chuyên ngành: là những đô thị có vai trò, chức năng chủ yếu

về một mặt nào đó như: công nghiệp cảng, du lịch - nghỉ dưỡng, đầu mối giaothông…

Một đô thị là trung tâm tổng hợp của một vùng hay của một tỉnh cũng cóthể là trung tâm chuyên ngành của một vùng liên tỉnh hoặc toàn quốc tùythuộc vào vị trí của đô thị đó trong một vùng lãnh thổ nhất định

- Lãnh thổ đô thị gồm: nội thành hoặc nội thị và ngoại ô Các đơn vịhành chính của nội thị gồm: quận, phường, còn các đơn vị hành chính củangoại ô gồm: huyện và xã

- Quy mô dân số: quy mô dân số tối thiểu của một đô thị không nhỏ hơn

4000 người Riêng ở miền núi, quy mô dân số tối thiểu của một đô thị khôngnhỏ hơn 2000 người Quy mô này chỉ tính trong nội thị

Trang 3

- Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp: tỷ lệ lao động phi nông nghiệp của một

đô thị không nhỏ hơn 60% Tỷ lệ này chỉ tính trong nội thị

Lao động phi nông nghiệp gồm:

+ Lao động công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp

+ Lao động xây dựng cơ bản

+ Lao động giao thông vận tải, bưu điện, tín dụng, ngân hang

+ Lao động thương nghiệp, dịch vụ, du lịch

+ Lao động trong các cơ quan hành chính, văn hóa, giáo dục, y tế, phục

vụ nghiên cứu khoa học, kỹ thuật

+ Các lao động khác… ngoài khu vực sản xuất nông nghiệp

- Cơ sở hạ tầng đô thị: cơ sở hạ tầng đô thị gồm hạ tầng kỹ thuật ( giaothông, thông tin – liên lạc, cấp nước, cấp năng lượng, thoát nước, xử lý rácthải, vệ sinh môi trường) và hạ tầng xã hội ( nhà ở, các công trình thươngnghiệp, dịch vụ công cộng, ăn uống, nghỉ dưỡng, y tế, văn hóa, giáo dục, đàotạo, nghiên cứu khoa học, thể dục thể thao, công viên, cây xanh và các côngtrình phục vụ lợi ích công cộng khác)

Cơ sở hạ tầng đô thị phản ánh trình độ phát triển, mức tiện nghi sinh hoạtcủa người đô thị và được xác định theo các tiêu chí sau:

+ Chỉ tiêu cấp nước sinh hoạt: lít/ người- ngày

+ Chỉ tiêu cấp điện sinh hoạt: Kwh/ người

+ Mật độ đường phố: Km/ Km2 và đặc điểm hệ thống giao thông

+ Tỷ lệ tầng cao trung bình

Trang 4

+ Mật độ dân cư Mật độ dân cư là chỉ tiêu phản ánh mức tập trung dân

cư của đô thị được xác định trên cơ sở quy mô dân số nội thi và diện tích xâydựng trong giới hạn nội thị của đô thị Đơn vị đo: người/ km2

1.1.2 Đặc trưng của đô thị:

- Đô thị là nơi sinh sống và làm việc của cộng đồng dân cư bao gồm mộttập hợp các tầng lớp: công nhân, trí thức, công chức, tiểu thương tiểu chủ, thợthủ công và các doanh nghiệp… là vùng phát triển công nghiệp, thương mạidịch vụ, là trung tâm phát triển kinh tế văn hoá chính trị

- Đô thị có cơ sở hạ tầng kinh tế, xã hội, trình độ khoa học công nghệcao hơn nông thôn Tự do, dân chủ, công bằng cũng cao hơn nông thôn

- Một số ngành của nông thôn vẫn tồn tại ở đô thị nhưng có sự phát triển

ở cấp độ cao hơn, các sản phẩm có giá trị kinh tế cao, kỹ thuật sản xuất cũngcao hơn…

1.1.3 Vai trò của đô thị:

- Đô thị tượng trưng cho thành quả kinh tế, văn hóa của một quốc gia làsản phẩm mang tính kế thừa của nhiều thế hệ cả về cơ sở vật chất kỹ thuật vàvăn hóa

- Đô thị là một bộ phận của nền kinh tế quốc dân có vai trò thúc đẩy sựphát triển kinh tế xã hội của cả nước Đô thị có vai trò to lớn trong việc tạo rathu nhập quốc dân của cả nước Sự đóng góp của các đô thị vào ngân sáchchiếm tỷ trọng là chủ yếu Chỉ tính riêng 4 thành phố lớn của nước ta là HàNội, Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng đã đóng góp trên 80% ngân sách cảnước Đô thị sẽ có những ảnh hưởng mạnh mẽ đến nông thôn và trực tiếp làcác khu vực ngoại thành

1.1.4 Chức năng của đô thị:

Trang 5

- Chức năng chính trị, quân sự, tôn giáo: đô thị Việt Nam chỉ thực sựphát triển mạnh hơn từ thế kỷ XVIII trở lại đây Đô thị cũng là sự kết hợp 2chức năng: Đô là thành quách để bảo vệ cư dân và thị là nơi diễn ra các hoạtđộng kinh tế, thương mại

- Chức năng quản lý: Sự phát triển đô thị, một mặt được điều chỉnh bởicác nhu cầu, trong đó nhu cầu kt là chủ yếu tác động qua cơ chế thị trường;mặt khác chịu sự điều chỉnh do hoạt động quản lý của chính quyền và hoạtđộng của các đoàn thể xã hội Tác động của quản lý nhằm hướng nguồn lựcvào mục tiêu kinh tế, xã hội, sinh thái và kiến trúc, bảo vệ bản sắc văn hóadân tộc, vừa nâng coa khả năng đáp ứng nhu cầu công cộng, vừa quan tâmđến những nhu cầu chính đáng của cá nhân

- Chức năng sản xuất, thương mại và dịch vụ: Trong những giai đoạnphát triển kinh tế thị trường vừa qua, chức năng kinh tế là chức năng chủ yếucủa đô thị Sự phát triển kinh tế thị trường đã đưa đến xu hướng tập trung sảnxuất có lợi hơn là phân tán Chính yêu cầu kinh tế ấy đã tập trung các loạihinh xí nghiệp thành khu công nghiệp và cơ sở hạ tầng tương ứng, trước hết làthợ thuyền và gia đình của họ tạo ra bộ phận chủ yếu của dân cư đô thị

- Chức năng văn hoá: Ở tất cả các đô thị đều có nhu cầu giáo dục và giảitrí cao Do đó ở đô thị cần có hệ thống trường học, du lịch, viện bảo tang, cáctrung tâm nghiên cứu khoa học ngày càng có vai trò lớn hơn

Chức năng văn hóa của đô thị càng phát triển hơn vào thời kỳ kinh tếphồn vinh, mức sống được nâng cao, thời gian dành cho việc hường thụ vănhóa của mỗi người dân được tăng lên Chức năng này càng có vị trí đặc biệttrong giai đoạn chuyển tiếp từ nền văn minh công nghiệp lên nền văn minhhậu công nghiệp hiện nay, sự phát triển bền vững cần đến nguồn nhân lực cóchất lượng cao hơn Trong lĩnh vực kinh tế, những “ công nhân áo trắng” hay

“ công nhân trí thức” và những nhà khoa học ngày càng quan trọng hơn so với

Trang 6

thiết bị công nghệ và tài chính Kể cả trong lĩnh vực xã hội và chính trị cũngngày càng đòi hỏi một trình độ dân trí cao hơn Do đó vai trò của văn hóa,khoa học giáo dục sẽ được phát huy từ điểm bắt đầu đến điểm kết thúc của bất

kỳ quá trình vận động nào trong một thế giới phát triển bền vững

- Chức năng xã hội: Chức năng này ngày càng có phạm vi lớn dần cùngvới tăng quy mô dân cư đô thị Những nhu cầu về nhà ở, y tế, đi lại… lànhững vấn đề gắn liền với yêu cầu kinh tế, với cơ chế thị trường Nhìn chungcác đô thị, chức năng xã hội ngày càng nặng nề không chỉ vì tăng dân số đôthị, mà còn vìchính những nhu cầu về nhà ở, y tế, đi lại có thay đổi

1.2 Những vấn đề lý luận chung về đô thị hóa

1.2.2 Đặc điểm của đô thị hoá

- Đô thị hoá là sự phát triển về quy mô, số lượng, nâng cao vai trò của đôthị trong khu vực và hình thành các chùm đô thị

Trang 7

- Đô thị hoá gắn liền với một thể chế kinh tế xã hội nhất định, gắn liềnvới sự biến đổi về kinh tế xã hội của đô thị và nông thôn, sự biến đổi ấy thểhiện ở sự phát triển công nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng, dịch vụ…Phương hướng, điều kiện phát triển của đô thị hoá phụ thuộc vào trình độ pháttriển của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất.

+ Ở các nước phát triển, đô thị hoá đặc trưng cho sự phát triển các nhân

tố theo chiều sâu, tạo điều kiện để điều tiết và khai thác tối đa các ích lợi, hạnchế bất lợi của quá trình đô thị hoá, nâng cao điều kiện sống và làm việc,công bằng xã hội, xoá bỏ khoảng cách thành thị và nông thôn…

+ Ở các nước đang phát triển, như Việt Nam, biểu hiện của đô thị hoá là

sự bùng nổ về dân số, sự phát triển công nghiệp tỏ ra yếu kém, sự gia tăngdân số không dựa trên cơ sở phát triển công nghiệp và phát triển kinh tế Mẫuthuẫn giữa thành thị và nông thôn có biểu hiện gia tăng do sự mất cân đốitrong các cơ hội phát triển…

+ Công nghiệp hoá là cơ sở cho sự phát triển của đô thị hoá Đô thị hoátrên thế giới bắt đầu từ cách mạng thủ công nghiệp ( tượng trưng là cái saquay ); sau đó là cách mạng công nghiệp ( tượng trưng là máy hơi nước ) đãthay thế lao động thủ công bằng lao động máy móc với năng suất lao độngcao hơn và đã phân công lại lao động xã hội, làm thay đổi cơ cấu lao động xãhội, đồng thời, cách mạng công nghiệp đã tập trung hoá lực lượng sản xuất ởmức độ cao dẫn đến hình thành đô thị mới, mở rộng quy mô đô thị cũ Ngàynay, với cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật ( tượng trưng cho nó là những cỗmáy vi tính, những siêu xa lộ thông tin và điện thoại di động ) thì sự phát triển

đô thị hoá đã và sẽ mạnh mẽ hơn bao giờ hết

Như vậy, mỗi nền văn minh đều tạo ra một phong cách sống, làm việcthích hợp, một hình thái phân bố dân cư, một cấu trúc đô thị thích hợp

Trang 8

1.2.3 Các hình thức đô thị hoá

- Đô thị hoá nông thôn: là xu hướng bền vững có tính quy luật Là quátrình phát triển nông thôn và phổ biến lối sống thành phố cho nông thôn( cách sống, hình thức nhà cửa, phong cách sinh hoạt…), đây là sự tăngtrưởng đô thị theo xu hướng bền vững

- Đô thị hoá ngoại vi: là quá trình phát triển mạnh vùng ngoại vi củathành phố do kết quả phát triển công nghiệp, cơ sở hạ tầng … tạo ra các cụm

đô thị, liên đô thị… góp phần đẩy nhanh đô thị hoá nông thôn

- Đô thị hoá giả tạo: là sự phát triển thành phố do tăng quá mức dân cư

đô thị và do dân cư từ các vùng khác đến, đặc biệt là nông thôn … dẫn đếntình trạng thất nghiệp, giảm chất lượng cuộc sống…

1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình đô thị hóa

- Điều kiện tự nhiên: trong thời kỳ kinh tế chưa phát triển mạnh mẽ thì

đô thị hóa phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên Những vùng có khí hậuthời tiết tốt, có nhiều khoáng sản, giao thông thuận lợi và những lợi thế khác

sẽ thu hút dân cư mạnh hơn và do đó sẽ được đô thị hóa sớm hơn, quy mô lớnhơn Ngược lại những vùng khác sẽ đô thị hóa chậm hơn, quy mô nhỏ hơn

Từ đó dẫn đến sự phát triển không đồng đều hệ thống đô thị giữa các vùng

- Điều kiện xã hội: mỗi phương thức sản xuất sẽ có một hình thái đô thịtương ứng và do đó quá trình đô thị hóa có những đặc trưng riêng của nó.Kinh tế thị trường đã mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển mạnh Sựphát triển của lực lượng sản xuất là điều kiện để công nghiệp hóa, hiện đạihóa và là tiền đề cho đô thị hóa Công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong khu vựcnông, lâm nghiệp, thủy sản của nền kinh tế sẽ tạo ra quá trình đô thị hóa nôngthôn và các vùng ven biển

Trang 9

- Văn hóa dân tộc: mỗi dân tộc có một nền văn hóa riêng của mình vànền văn hóa đó có ảnh hưởng đến tất cả các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội…nói chung và hình thái đô thị nói riêng.

- Trình độ phát triển kinh tế: phát triển kinh tế là yếu tố có tính quyếtđịnh trong quá trình đô thị hóa Bởi vì nói đến kinh tế là nói đến vấn đề tàichính Để xây dựng, nâng cấp, cải tạo đô thị đòi hỏi nguồn tài chính lớn.Nguồn đó có thể từ trong nước hay từ nước ngoài Trình độ phát triển kinh tếthể hiện trên nhiều phương diện: quy mô, tốc độ tăng trưởng GDP, cơ cấungành của nền kinh tế, sự phát triển các thành phần kinh tế, luật pháp kinh tế,trình độ hoàn thiện của kết cấu hạ tầng, trình độ văn hóa giáo dục của dân cư,mức sống dân cư

- Tình hình chính trị: ở Việt Nam từ sau năm 1975, tốc độ đô thị hóangày càng cao, các khu đô thị mới mọc lên nhanh chóng… Đặc biệt trong thời

kỳ đổi mới, với các chính sách mở cửa nền kinh tế, thu hút đầu tư nước ngoài,phát triển nền kinh tế nhiều thành phần thì đô thị hóa đã tạo ra sự phát triểnkinh tế vượt bậc

1.2.5 Hình thái biểu hiện của đô thị hóa

- Mở rộng quy mô diện tích các đô thị hiện có trên cơ sở hình thành cáckhu đô thị mới, các quận, phường mới là hình thức phổ biến với các đô thịcủa Việt Nam trong điều kiện kinh tế còn nhiều hạn chế Việc hình thành cáckhu đô thị mới, các quận, phường mới được xem là hình thức đô thị hóa theochiều rộng và là sự mở đường của quan hệ sản xuất cho lực lượng sản xuấtphát triển Với hình thức này dân số và diện tích đô thị tăng nhanh chóng Sựhình thành các đô thị mới để phát triển đồng đều các khu vực, các đô thị mớiđược xây dựng trên cơ sở xây dựng các khu công nghiệp và các vùng kinh tế

là xu hướng tất yếu của sự phát triển

Trang 10

- Hiện đại hóa và nâng cao trình độ các đô thị hiện có là quá trình thườngxuyên và tất yếu cảu quá trình tăng trưởng và phát triển Các nhà quản lý đôthị và các thành phần kinh tế trên địa bàn đô thị thường xuyên vận động nhằmlàm giàu thêm cho đô thị của mình Quá trình đó đòi hỏi họ phải điều tiết, tậndụng tối đa những tiềm năng sẵn có và hoạt động có hiệu quả cao trên cơ sởhiện đại hóa trong mọi lĩnh vực kinh tế xã hội ở đô thị.

1.2.6 Các tiêu chí đánh giá trình độ đô thị hoá

1.2.6.1 Tiêu chí đánh giá trình độ đô thị hoá theo chiều sâu

- Các chỉ tiêu định lượng

+ Diện tích cây xanh trên đầu người, diện tích nhà ở trên đầu người, diệntích các công trình công cộng trên đầu người, diện tích nhà ở trên đầungười…

+ GDP( GO ) bình quân đầu người

+ Trình độ dân trí

+ Số giường bệnh trên 1000 dân

+ Các công trình văn hoá trên 1000 dân

+ Tổng số máy điện thoại trên 100 dân

+ Môi trường sinh thái

1.2.6.2 Tiêu chí đánh giá theo chiều rộng

- Các chỉ tiêu định lượng

+ Quy mô diện tích đô thị

Trang 11

+ Quy mô dân số đô thị, tỷ lệ dân số đô thị

+ Quy mô cơ cấu GDP ( GO )

+ GDP ( GO ) bình quân đầu người

+ Diện tích đường giao thông trên đầu người

+ Trình độ dân trí

+ Số giường bệnh trên 1000 dân

+ Tổng số máy điện thoại trên 100 dân

+ Trình độ văn minh đô thị

1.3 Tính tất yếu của đô thị hoá hiện nay

- Sự phát triển kinh tế của mỗi nước gắn liền với sự hình thành và pháttriển của hệ thống ngành công nghiệp, nông nghiệp, thương mại, dịch vụ Sựphát triển của hệ thống các ngành này thúc đẩy quá trình đô thị hoá diễn ranhanh hơn và đô thị hoá lại tác động ngược trở lại sự phát triển của các ngànhnày

- Quy mô dân số ngày càng tăng, đòi hỏi phải đáp ứng cả vể mặt vật chất

và tinh thần như: nâng cao thu nhập, cơ sở hạ tầng, vui chơi giải trí… gópphần đẩy nhanh tốc độ đô thị hoá

- Nhu cầu vật chất ngày càng tăng lên tỷ lệ với mức tăng thu nhập, đòihỏi cơ sở hạ tầng phải đáp ứng đủ Từ đó nảy sinh nhu cẩu đô thị hoá, pháttriển kinh tế đáp ứng nhu cầu cuộc sống con người

- Quá trình phát triển kinh tế mỗi nước là quá trình phát triển lực lượngsản xuất, tăng năng suất lao động xã hội, tăng thu nhập và tích luỹ Quá trình

Trang 12

đó tạo ra những điều kiện vật chất thúc đẩy và thực hiện nhanh quá trình đôthị hoá Đó cũng là xu thế vận động mang tính khách quan Quá trình này dẫntới sự biến đổi cơ cấu của nền kinh tế quốc dân từ nông nghiệp là chủ yếuchuyển sang công nghiệp là chủ yếu và cả sự biến đổi ngay trong khu vựccông nghiệp Kéo theo đó là tập trung dân cư tại các khu công nghiệp, cácvùng kinh tế để đáp ứng sự thay đổi về nhu cầu sản xuất, sự phát triển kinh tế;

từ đó hình thành nên các trung tâm công nghiệp, đô thị lớn

1.4 Tác động của đô thị hoá đến việc làm và thu nhập của lao động nông nghiệp nông thôn

1.4.1 Tác động tích cực

- Thúc đẩy kinh tế đô thị tăng trưởng nhanh hơn: phải nói rằng đóng gópvào GDP của các địa phương chủ yếu là của các đô thị Cùng với quá trình đôthị hóa, các đô thị ngày càng đóng góp nhiều hơn vào tổng thu nhập của tỉnh,huyện Với cơ cấu ngành nghề ngày càng đa dạng, trong đó các ngành sửdụng nhiều chất xám, vốn tăng lên tạo ra nhiều giá trị gia tăng hơn, cùng vớiviệc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất làm nâng cao năng suấtlao động, gia tăng khối lượng sản phẩm làm ra thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

- Nâng cao trình độ quản lý: cùng với việc dân cư tăng lên, cũng như quytrình sản xuất cũng được cải tiến, nhiều ngành nghề mới xuất hiện, thị trườnghàng hóa, lao động, đất đai, khoa học công nghệ, vốn phát triển đòi hòi cũngnhư là một điều tất yếu là trình độ quản lý từ cấp trung ương đến địa phương,trong từng doanh nghiệp, nhà máy tăng lên

- Có tác động lan toả tích cực đến các vùng lân cân: đô thị với tính cách

là một thực thể kinh tế mở cửa, nó có mối liên hệ kinh tế rộng rãi với khu vựcxung quanh Đô thị cùng với khu vực xung quanh không chỉ hình thành chỉnh

Trang 13

quanh, đô thị do điều kiện kinh tế ưu việt của mình, nó có tác dụng thu hút vàtác dụng khuyếch tán to lớn với khu vực xung quanh Ví dụ, huyện Mê Linhtỉnh Vĩnh Phúc tiếp giáp với thủ đô Hà Nội, chịu sự khuyếch tán về lao độngcủa thủ đô, sự khuyếch tán về công nghiệp và thương mại của thủ đô; hiệnnay, huyện Mê Linh có tốc độ đô thị hóa mạnh mẽ nhất trong tỉnh Vĩnh Phúc,với các khu công nghiệp Quang Minh, khu công nghiệp Tiền Phong, tổ hợpthương mại Mê Linh Plaza Khu công nghiệp Quang Minh hiện nay không chỉthu hút và giải quyết việc làm cho lao động trong tỉnh mà còn tạo nhiều việclàm cho lao động Hà Nội và một số tỉnh khác, đặc biệt với sinh viên vừa tốtnghiệp đại học.

Một ví dụ khác về tác động lan tỏa của đô thị, nằm kề thủ đô Hà Nội, làmột thuận lợi cho tỉnh Vĩnh Phúc trong công tác giáo dục đào tạo, nhiều giáoviên các trường đại học của Hà Nội được thuê giảng dạy tại các trường trungcấp, cao đẳng ở tỉnh, các giáo viên, giảng viên trong tỉnh rất thuận lợi trongviệc nâng cao trình độ bằng các khóa học tại chức, cao học, chứng chỉ ở HàNội

Gần với thủ đô Hà Nội, tỉnh luôn luôn tiếp cận được với nguồn hang hóadồi dào đặc biệt là về giáo trình sách, văn phòng phẩm, về các hàng điện tửđiện lạnh, hiện nay nhiều cửa hàng ở tỉnh là đại lý bán các hàng nhập từ HàNội về

Hơn nữa, Hà Nội có dân cư đông, đời sống cao, nhu cầu về giải trí cuốituần là rất lớn, tỉnh Vĩnh Phúc có nhiều điểm nghỉ mát cuối tuần lý tưởng đãthu hút được lượng khách du lịch ở Hà Nội ngày một đông, đóng góp vàodoanh thu của ngành du lịch hàng năm…

- Nâng cao thu nhập mức sống dân cư các vùng đô thị hoá: ở khu vựcthành thị nền kinh tế với cơ cấu công – nông nghiệp do đó sản xuất đòi hỏilao động phải có trình độ Vì thế, tiền lương và thu nhập thường được trả cao

Trang 14

hơn để tương xứng với giá trị sức lao động mà họ bỏ ra Do đó, nhìn chungthu nhập của dân cư tại các thành phố lớn, đô thị thường cao hơn so với cácvùng khác.

Đô thị với đặc điểm là vùng kinh tế, xã hội rất phát triển, cơ sở vậtchất, kỹ thuật hạ tầng phục vụ nhu cầu vật chất và tinh thần của con ngườikhá đầy đủ, hiện đại và đa dạng Vì vậy, có thể nói đô thị là nơi có điều kiệnsống và làm việc thuận lợi hơn so với khu vực nông thôn Mặt khác, cùng với

sự phát triển kinh tế - xã hội, các điều kiện phục vụ đời sống và sinh hoạt nhưnơi vui chơi giải trí, học tập ngày càng phát triển làm cho trình độ văn hóa,mức sống của con người tại các khu đô thị ngày càng tăng, thậm chí với việctăng này có khi còn tạo ra khoảng cách lớn về mức sống, thu nhập giữa khuvực thành thị và nông thôn

Nhìn chung, cuộc sống của người dân nông thôn đa số là tự túc, tựcấp, còn cuộc sống của người dân đô thị hầu như phụ thuộc hoàn toàn vào thịtrường theo phương thức mua bán Các nhu yếu phẩm phục vụ cho cuộc sốnghang ngày, từ những cái nhỏ nhất đều do thị trường cung cấp, bảo đảm cungcấp đủ nhu yếu phẩm cho cuộc sống hang ngày của người dân là trách nhiệmnặng nề của chính quyền các vùng đô thị nói chung Bên cạnh trách nhiệmbảo đảm cung cấp nhu yếu phẩm thì chính quyền của đô thị còn có tráchnhiệm giải quyết việc làm, tạo ra nguồn sống cho người dân đô thị Trong khi

đó chính quyền nông thôn cũng phải lo cuộc sống của người dân, song mức

độ phức tạp và gay gắt không thể bằng đô thị

Nói tóm lại, ở thành thị kinh tế phát triển và các công trình phúc lợi côngcộng như: y tế, giáo dục, cơ sở hạ tầng, điện, nước, giao thông cũng phát triểnhơn nông thôn Kéo theo đó là thu nhập và mức sống hơn hẳn

- Nâng cao năng suất, trình độ lao động: Khác với nông thôn, ở thành

Trang 15

phải có trình độ cao để có thể sử dụng các máy móc, thiết bị, công cụ laođộng hiện đại

Ở thành thị người lao động có thu nhập, mức sống, trình độ văn hóacao nên điều kiện, khả năng và mong muốn được học tập, nâng cao trình độlành nghề để có cơ hội tìm được công việc có mức lương cao hơn là tốt hơn.Ngoài ra, tại các vùng đô thị, sự phát triển kinh tế xã hội, cơ sở vật chất, kỹthuật hạ tầng giúp cho con người có nhiều điều kiện thuận lợi để trao đổithông tin, học tập, nâng cao trình độ lành nghề

Đối với lao động nông nghiệp, sản xuất phụ thuộc vào điều kiện tựnhiên, đòi hỏi phải có sự giúp đỡ của khoa học kỹ thuật nhằm giảm thiểu cáctác động của tự nhiên Trên thực tế hiện nay, ngành nông nghiệp dần được cơkhí hóa, điện khí hóa Khi tiến hành đô thị hóa, mặc dù quy mô sản xuất nôngnghiệp giảm nhưng các thành tựu về khoa học kỹ thuật lại được áp dụng mộtcách rộng rãi góp phần nâng cao năng suất, trình độ lao động

Còn đối với sản xuất công nghiệp ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật

là điều hết sức quan trọng Đối với vùng đô thị hóa với tỷ lệ cao, mà đặc thùcủa sản xuất công nghiệp hầu hết là sử dụng máy móc thiết bị, trên cơ sở đóyêu cầu lao động phải có kỹ năng nhất định, hay đúng hơn trình độ lao độngphải cao hơn những ngành khác

Hiện nay khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển, đòi hỏi phải có sự nhạybén trong tiếp cận Bên cạnh đó cùng với quá trình đô thị hóa, cơ sở vật chất

kỹ thuật hạ tầng ngày càng phát triển, máy móc thiết bị được hiện đại hóa,trình độ quản lý tổ chức sản xuất, kỹ thuật được nâng cao, điều kiện làm việcđược cải thiện… tại các khu đô thị Tất cả những thay đổi này cùng với việcnâng cao trình độ lành nghề góp phần nâng cao năng suất lao động của khuvực thành thị, từ đó làm tăng năng suất lao động và quy mô sản phẩm củatoàn quốc gia Ngoài ra ở thành thị trình độ quản lý, tổ chức sản xuất, kỹ thuật

Trang 16

được nâng cao, điều kiện làm việc được cải thiện góp phần tăng năng suất laođộng

Tất cả những đặc điểm kể trên tại các vùng đô thị góp phần làm tăngtrình độ lao động, từ đó nâng cao năng suất trong khu vực thành thị nói riêng

và trong phạm vi một quốc gia nói chung

- Chuyển dịch cơ cấu ngành nghề, việc làm, tăng tỷ trọng việc làm cácngành công nghiệp, dịch vụ, giảm tỷ trọng việc làm ngành nông nghiệp: Mởrộng quy mô sản xuất, phát triển các ngành công nghiệp, dịch vụ và ra đờimột số ngành nghề, cơ hội kinh doanh mới trong quá trình đô thị hóa tạo ramột số lượng lớn việc làm cho người lao động trong các vùng đô thị Đô thịhóa sẽ tạo điều kiện giúp người lao động chuyển đổi cơ cấu việc làm, từ việclàm thuần nông thu nhập thấp sang việc làm mới, ổn định và có thu nhập cao

Sự chuyển đổi cơ chế quản lý và phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phầnkết quả là lao động và sức lao động trở thành hàng hóa Bên cạnh đó, cùngvới quá trình đô thị hóa các ngành công nghiệp – xây dựng và dịch vụ ngàycàng phát triển tạo ra nhiều việc làm ( lao động có tay nghề và lao động giảnđơn )

Ngoài ra còn phải kể đến một số việc làm mang tính chất lao động giúpviệc cho những gia đình có thu nhập cao song quá bận rộn Đô thị hóa với đặctrưng là kinh tế - xã hội phát triển kéo theo hàng loạt các việc làm dẫn tới việc

di dân từ nông thôn ra thành thị, đây là một nguồn bổ sung lao động cho khuvực thành thị Sự đa dạng trong cơ cấu kinh tế ngành cũng là một mặt phảnánh sự đa dạng việc làm do quá trình đô thị hóa mạng lại

1.4.2 Tác động tiêu cực

- Sự quá tải về dân số: Cùng với đô thị hóa, sức hút của quá trình này đối

Trang 17

nan giải đối với thành phố Hồ Chí Minh, thủ đô Hà Nội trong việc giải quyết

về nhà ở, mức sống cho người dân cũng như các dịch vụ sinh hoạt hàng ngàynhư điện, nước Ngoài những vấn đề đó ra, chính quyền của các khu vực này

cũng đang đau đầu với các vấn đề xã hội như trật tự, an ninh, tệ nạn…

- Mất cân đối về cơ hội việc làm và việc làm giữa các vùng: Đô thị hóathiếu bền vững như ở Việt Nam đang gây ra vấn đề mất cân đối về việc làmgiữa nông thôn, thành thị; chính vì vậy mới có sự di dân từ nông thôn ra thànhthị tìm kiếm việc làm, như các dòng dân cư đổ từ Bắc vào Nam, từ các vùngngoại thành vào thủ đô Có những nơi ở Việt Nam hiện nay vẫn còn sản xuất

tự cấp tự túc, sản xuất hàng hóa rất nhỏ không phát triển Các chính sách,trọng tâm phát triển của Chính phủ có vai trò rất to lớn trong việc quyết địnhvùng nào được phát triển và vùng nào không được phát triển

- Tăng sự chênh lệch về các cơ hội giáo dục đào tạo, phát triển nguồnnhân lực giữa các vùng: có thể dễ nhân thấy rằng hiện nay các trường đại họccao đẳng của cả nước, các trung tâm nghiên cứu, viện nghiên cứu tập trungchủ yếu ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh Hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuậtcho giáo dục ở các đô thị cũng được quan tâm đầu tư hơn các vùng nông thôn

- Làm giảm quỹ đất nông nghiệp dẫn đến tình trạng những người phảichuyển đổi mục đích sử dụng đất rơi vào tình trạng thiếu việc làm: lao độngnông nghiệp bị tác động rất nhiều khi tiến hành quá trình đô thị hóa, diện tíchđất sản xuất nông nghiệp không còn nhiều dẫn đến một số lượng lớn lao độngkhông có việc làm Lao động nông nghiệp với thói quen, tập quán sản xuấtnhỏ lẻ, manh mún sẽ gặp rất nhiều khó khăn khi đô thị hóa diễn ra Trình độlao động chưa qua đào tạo chiếm tỷ lệ lớn, trong khi đó các khu vực đô thịhóa lại chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp, dịch

vụ nên số lao động nông nghiệp khi tham gia vào lĩnh vực này sẽ gặp rấtnhiều khó khăn Do vậy, khi tiến hành đô thị hóa có thể sẽ làm gia tăng thêm

Trang 18

tỷ lệ thất nghiệp, khó khăn trong vấn đề việc làm và thu nhập, tăng thêmkhoảng cách giàu nghèo, đó là chưa kể đến các tệ nạn xã hội phát sinh

Đô thị hóa góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhândân, hình thành lối sống công nghiệp, xây dựng xã hội mới Tuy nhiên, khităng quy mô các đô thị hiện có bằng các giải pháp mở rộng không gian, hìnhthành các phường mới, các cụm đô thị mới, sẽ dấn đến tình trạng thất nghiêp

1.5 Tình hình phát triển đô thị, đô thị hóa

1.5.1 Xu hướng đô thị hóa ở Việt Nam

- Hình thành các trung tâm công nghiệp, thương mại, dịch vụ trong các

đô thị lớn

Sự hình thành các trung tâm có tính chất chuyên ngành trong những đôthị lớn là xu thế nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của đô thị, là biểu hiệncủa tính chuyên môn hóa cao trong sản xuất Tất cả các hoạt động sản xuất cócùng đặc điểm, tính chất được tập trung vào một khu vực tạo điều kiện đápứng các nhu cầu tốt hơn sản xuất với năng suất và hiệu quả cao hơn và tăngsức cạnh tranh của các sản phẩm của đô thị, thị trường lao động phong phúhơn…

- Hình thành các trung tâm công nghiệp, thương mại, dịch vụ ở các vùngngoại ô

Sự hình thành các trung tâm của mỗi vùng có tính chất khách quan nhằmđáp ứng các nhu cầu sản xuất và đời sống ngày càng tăng lên của chính vùng

đó Đó là biểu hiện của tính tập trung hóa trong sản xuất Tuy nhiên, quy môsản xuất và hoạt động thương mại dịch vụ sẽ phụ thuộc vào trình độ phát triểnkinh tế - xã hội và quy mô dân số của vùng để đảm bảo tính hoạt động có hiệuquả Đồng thời các trung tâm này còn là điểm nối, hay sự chuyển tiếp giữa

Trang 19

quá trình đô thị hóa, các trung tâm này sẽ trở thành những đô thị vệ tinh củacác đô thị lớn.

- Mở rộng các đô thị hiện có: mở rộng các đô thị hiện có theo mô hìnhlàn sóng là xu thế tất yếu khi nhu cầu về đất xây dựng đô thị tăng và khả năng

mở có thể thực hiện tương đối dễ Xu hướng này tạo sự ổn định tương đối vàgiải quyết các vấn đề quá tải cho đô thị hiện có

- Chuyển một số vùng nông thôn thành đô thị: đây là một xu hướng hiệnđại được thực hiện trong điều kiện có sự đầu tư lớn của Nhà nước Vấn đề cơbản là tạo nguồn tài chính để cải tạo đất, xây dựng kết cấu hạ tầng hiện đại, ví

dụ như khu đô thị Nam Sài Gòn chính là việc chuyển một vùng nông thônthành đô thị hiện đại

1.5.2 Tình hình phát triển đô thị của cả nước

Từ trước năm 2000, Việt Nam là quốc gia có tiến trình đô thị hóa chậmchạp và tỷ trọng đô thị thấp kém Quá trình hình thành và phát triển tuy lâudài nhưng luôn dao động, đứt gẫy, biến thiên thất thường do những điều kiệnlịch sử tạo ra Từ năm 2001 đến 2007 tiến trình đô thị hóa của Việt Nam đã cónhững dấu hiệu mới do những yêu cầu của thương mại, mở cửa, hợp tác…ngày càng mạnh mẽ hơn

Nếu so sánh với tiến trình đô thị hóa chung của thế giới thì Việt Nammới thoát khỏi thời kỳ sơ khai và đang trên chặng đường đầu của một tiếntrình có quy mô, có kế hoạch trước yêu cầu của chiến lược công nghiệp hóa

và hiện đại hóa Nền kinh tế nông nghiệp lúa nước, miệt vườn, kênh rạchtruyền thống xuyên suốt Bắc – Nam, mang nặng tính tự cấp tự túc đang dầnlùi bước trước một nền kinh tế thương thuyền hải ngoại, hàng hóa và thịtrường rộng mở bốn phương, hòa nhập cùng cộng đồng quốc tế thì sự xuấthiện một nền đô thị hóa với quy mô, kích thước mới, hiện đại là điều tất yếu

Trang 20

Trước 1954: Đô thị Việt Nam đóng vai trò trung tâm hành chính, giaolưu thương mại phục vụ cho sự cai trị của bọn thực dân; sản xuất công nghiệpnhỏ bé.

Từ 1954 đến 1975: Hai miền theo hai xu hướng chính trị khác nhau:miền Bắc theo con đường XHCN, miền Nam được sự đầu tư của Mỹ, các đôthị phát triển mạnh hơn

Sau 1975: Đất nước thống nhất, tốc độ đô thị hoá ngày càng cao, các khu

đô thị mới mọc lên nhanh chóng

* Đặc điểm kinh tế đô thị ở Việt Nam

- Xét về tính kinh tế và động lực kinh tế: thương mại trội hơn khá nhiềukinh tế công nghiệp Đặc điểm này chứng tỏ kinh tế đô thị Việt Nam vẫn ởgiai đoạn đầu, sơ khai của kinh tế thị trường Điều đó cho thấy tính tích lũycòn nhỏ bé, thị trường nội địa phát triển Sự phồn vinh ban đầu của đô thịthường thể hiện ở mặt thương mại, với vô số cửa hang mở ra khắp phốphường

+ Tính chất kinh tế thương mại của đô thị Việt Nam trong giai đoạn đầugắn liền với thời kỳ mở cửa, cũng là nhân tố tạo ra bộ mặt phồn vinh của đôthị Quá trình hợp tác đầu tư của nước ngoài vào Việt Nam, phần lớn xoayquanh các đô thị Quá trình này đã thúc đẩy việc mở rộng ngoại thương là mộttất yếu, với chiến lược hướng về xuất khẩu và tạo khả năng thay thế nhậpkhẩu một phần những sản phẩm sản xuất trong nước có chất lượng tốt Tuyvậy trong điều kiện hiện nay, ngoại thương cũng là nhân tố thúc đẩy phát triểnkinh tế thương mại, kìm hãm sản xuất nội địa Không ít ngành sản xuất trongnước bị phá sản do đặc điểm này gây ra Thị trường các đô thị phần lớn làhàng hóa nước ngoài, các cửa hàng lớn hầu như đóng vai trò đại lý bán hàng

Trang 21

+ Quy mô sản xuất và buôn bán ở các đô thị Việt Nam thuộc loại vừa vànhỏ Khác với các loại xí nghiệp vừa và nhỏ ở các nước công nghiệp, ở ViệtNam loại xí nghiệp này là di sản của nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu và nềnkinh tế kế hoạch hóa tập trung Do đó hầu hết các xí nghiệp vừa và nhỏ ở đôthị Việt Nam sản xuất với công nghệ truyền thống chưa được nâng cao vàchưa được hiện đại hóa Công nghệ truyền thống có giá trị là lĩnh vực tiểu thủcông nghiệp, đặc biệt là công nghệ chạm khắc đồ gỗ, công nghệ đồ gốm lưutruyền hàng ngàn năm nay…Loại công nghệ truyền thống này một thời giandài không được chú trọng, nay mới bắt đầu chú ý, có một số doanh nghiệpkhai thác hướng này đã đạt hiệu quả khá cao.

+ Đô thị Việt Nam sinh ra từ thời kỳ tiền công nghiệp, nên chưa có quátrình tập trung sản xuất như ở các nước đã trải qua công nghiệp hóa Pháttriển thương mại và trung tâm chính trị vẫn là hai nét nổi bật của đô thị ViệtNam Từ khi mở cửa nước ta mới bắt đầu xây dựng một số khu công nghiệp,sớm nhất là khu chế xuất Tân Thuận Sài Gòn Tuy vậy rút kinh nghiệm cácnước, quá trình công nghiệp hóa ở Việt Nam sẽ không lặp lại quy luật tậptrung sản xuất quy mô quá lớn như ở các đô thị ra đời trong thế kỷ XX Đây

là một vấn đề đặt ra từ bây giờ cho Nhà nước Việt Nam

+ Tình trạng đô thị Việt Nam kém phát triển còn do mối quan hệ giữathành thị và nông thôn Việt Nam Do điều kiện kinh tế hàng hóa chưa pháttriển, cơ sở hạ tầng yếu kém, do sự hạn chế về quản lý kinh tế của Nhà nướcnên công nghiệp chế biến nông – lâm - thủy sản chưa gắn liền với nguồnnguyên liệu như một cơ cấu tái sản xuất Các vùng phụ cận đô thị chưa phải làvùng nguyên liệu trù phú cho công nghiệp chế biến ở đô thị, hoặc chưa pháttriển công nghiệp chế biến nhỏ ở nông thôn như những chi nhánh cho côngnghiệp lớn ở thành phố Còn các vùng trung du miền núi hầu như còn táchbiệt quan hệ kinh tế với đô thị, nhiều nơi sản xuất tự cung tự cấp vẫn còn chủ

Trang 22

yếu Cho nên các đô thị ở nước ta phồn vinh hơn so với trước là do mở cửavới bên ngoài, do giao lưu kinh tế giữa đô thị này với đô thị khác, chứ khôngphải là mở rộng thị trường trong nước bao gồm thành thị và nông thôn Xuhướng phát triển một cách tự phát như vậy chứa đựng những nguy cơ lớn cho

cả nước vì sự phát triển phiến diện một bộ phận của đất nước, sự phân hóagiàu nghèo tăng nhanh giữa các vùng,… gây nhiều hậu quả cho các đô thị nhưmức tăng cơ học về dân số đô thị sẽ tăng nhanh do các dòng người thiếu việclàm ở nông thôn sẽ đi tìm việc làm ở đô thị, các tệ nạn xã hội và tội phạmtăng nhiều, làm mất an ninh xã hội và ổn định kinh tế Nguyên nhân chủ yếucủa tình trạng trên là cơ chế quản lý kinh tế - xã hội của Nhà nước còn dựachủ yêú theo địa giới hành chính tỉnh, theo bộ chủ quản, sở chủ quản Trong

đó chứa đựng tính chất phân tán, cục bộ địa phương khá nặng nề, do đó dẫnđến sự kìm hãm phát triển của thị trường và tính chủ động của các doanhnghiệp

+ Một đặc điểm khác của kinh tế đô thị Việt Nam là các cơ sở sản xuất

và cơ sở buôn bán của cư dân không tách rời với nhà ở của họ Đây là tìnhhình phổ biến nóí lên một đặc điểm của một kiểu đô thị tiền công nghiệp chưatách rời chức năng sản xuất kinh doanh với chức năng nhà ở

Nếu như ở Việt Nam ta, công nghiệp hóa diễn ra giống như ở các nước

đi trước, tách rời các chức năng của đô thị, trong khi các đô thị đã phát triểntrên thế giới lại đang tìm cách kết hợp các chức năng trên trình độ cao đã đạtđược Đây sẽ là một trong những vấn đề chủ yếu cần phải giải quyết trongviệc quy hoạch đô thị Việt Nam Nếu giải quyết tốt sẽ tạo khả năng cho đô thịViệt Nam phát triển theo con đường rút ngắn để đuổi kịp các đô thị tiên tiếntrên thế giới

Trang 23

tế, xã hội của cụm xã, là trung tâm dịch vụ môi giới và thương mại.

Mục tiêu chiến lược của tỉnh là phấn đấu trở thành tỉnh cơ bản là côngnghiệp vào năm 2015 và trở thành thành phố Vĩnh Phúc vào những năm 2020,phấn đấu trở thành trung tâm công nghiệp cơ khí sản xuất ô tô, xe máy ở khuvực phía Bắc Để đạt được mục tiêu đặt ra, Vĩnh Phúc đã và đang tập trungthu hút mọi nguồn lực và khơi dậy tiềm năng cho đầu tư và phát triển Tỉnh có

03 KCN đã được Chính phủ Việt Nam phê duyệt, một số khu và cụm côngnghiệp đã được lắp đầy Bên cạnh mỗi KCN, CCN tỉnh cũng quy hoạch các

Trang 24

khu đô thị lớn và khu du lịch đáp ứng nhu cầu về chỗ ở và vui chơi giải trí đạtchất lượng cao cho mọi đối tượng, đặc biệt là chỗ ở cho người nước ngoàilàm việc tại Vĩnh Phúc Nhiều nhà đầu tư từ Anh, Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc,Malaysia đã quan tâm tìm hiểu để lập quy hoạch và xây dựng khu đô thị vàkhai thác tiền năng du lịch của Vĩnh Phúc.

Trang 25

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG LAO ĐỘNG VIỆC LÀM VÀ ĐỜI SỐNG CỦA LAO ĐỘNG NÔNG NGHIỆP TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ

Phía Tây Bắc giáp tỉnh Tuyên Quang, phía Đông Bắc giáp tỉnh TháiNguyên, phía Đông Nam giáp thủ đô Hà Nội, phía Nam giáp tỉnh Hà TâyPhía Tây giáp tỉnh Phú Thọ

Tỉnh có 7 huyện và 2 thị xã, thị xã Vĩnh Yên là trung tâm kinh tế, chínhtrị, văn hoá của tỉnh, cách trung tâm thủ đô Hà Nội 50km, cách sân bay quốc

tế Nội Bài 30km, cách cảng biển Cái Lân - tỉnh Quảng Ninh, Hải thành phố Hải Phòng 150 km

Phòng Hệ thồng giao thông:

+ Đường bộ:

Vĩnh Phúc có mạng lưới giao thông đường bộ nhìn chung được phân bốđều khắp trên địa bàn tỉnh Có 04 tuyến quốc lộ chạy qua: QL2A (Hà Nội –HàGiang), QL2B (Vĩnh Yên- Tam Đảo), QL2C (Vĩnh Tường- Vĩnh Yên- TamDương –Tuyên Quang), QL23 (Hà Nội –Đô thị mới Mê Linh) Hiện nay, mộttuyến đường cao tốc từ sân bay quốc tế Nội Bài đi Vân Nam (Trung Quốc)

Trang 26

chạy qua Vĩnh Phúc đang được Chính phủ đầu tư xây dựng Đây là tuyếnđường đi thẳng đến Cảng nước sâu Cái Lân (Quảng Ninh) Tuyến đường này

sẽ giúp cho việc vận chuyền hàng hoá đến các sân bay, bến cảng trên thế giớiđược thuận lợi Ngoài ra, tỉnh Vĩnh Phúc còn đang xây dựng một số tuyếnđường tỉnh lộ đến tất cả các trung tâm Khu công nghiệp và đô thị Nhữngtuyến đường này sẽ có quy mô mặt cắt từ 36m trở lên

+ Đường sắt:

Tuyến đường sắt liên vận Hà Nội – Lào Cai đi Vân Nam (Trung Quốc)qua các huyện thị của tỉnh với m ột đoạn có chiều dài là 41km với 06 ga củatỉnh, trong đó ga Vĩnh Yên và ga Phúc Yên là hai ga chính

+ Đường sông:

Trên địa bàn tỉnh có hai tuyến sông chính sông Lô (đoạn qua tỉnh là35km) và sông Hồng (đoạn qua tỉnh 50km), đảm bảo được các phương tiệnvận tải, vận chuyển dưới 30 tấn Trên các sông này, tỉnh có 3 cảng là cảngChu Phan, Vĩnh Thịnh (trên sông Hồng) và Như Thuỵ (trên sông Lô)

- Về địa hình:

Tỉnh Vĩnh Phúc có địa hình rất đa dạng, có cả đồi núi, trung du vàđồng bằng

+ Vùng đồi núi:

Trang 27

Phân bố ở phía Bắc của tỉnh, thuộc địa bàn các huyện Lập Thạch, TamĐảo, Bình Xuyên, Tam Dương, phía Bắc thị xã Phúc Yên, gồm những dãynúi cao từ 300m - 1500m, chạy theo hướng Đông Bắc - Tây Nam Việc pháttriển mạng lưới cơ sở hạ tầng, thông tin liên lạc cũng như giao lưu phát triểnkinh tế giữa vùng với các vùng khác gặp nhiều khó khăn

+ Vùng trung du:

Chạy dài từ Tây Bắc xuống Đông Nam, các huyện có đất trung du là:Vĩnh Yên, Lập Thạch, Tam Dương, Bình Xuyên, Phúc Yên, Tam Đảo Đặcđiểm đất trung du là cao hơn đồng bằng nên không bị ngập, thời tiết thuậnhòa, thu ận lợi cho làm ăn và sinh sống của người dân, cũng rất thuận lợi đốivới phát triển công nghiệp Đất trung du còn giúp đa dạng cây trồng, chuyêncanh cây công nghiệp dài ngày, cây ăn quả

+ Vùng đồng bằng:

Gồm 2 tiểu vùng phù sa cũ và mới, tập trung ở các huyện Yên Lạc, VĩnhTường và phía Nam huyện Mê Linh Vùng đồng bằng thích hợp với sản xuấtnông nghiệp, là nơi dân cư tập trung, giao thông thuận lợi, cơ sở hạ tầng pháttriển hơn miền núi, vùng có điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế, tạo nhiềucông ăn việc làm cho lao động cả trong nông nghiệp, công nghiệp lẫn dịch vụ

- Tài nguyên thiên nhiên:

+ Khoáng sản:

Tài nguyên khoáng sản của tỉnh ít về trữ lượng, nghèo về hàm lượng Sốlượng các mỏ ít, không đa dạng Các khoáng sản chủ yếu của tỉnh mà có trữlượng tương đối đó là đá xây dựng, đá granit, than bùn, cao lanh giàu nhôm

Có thể nói, tỉnh Vĩnh Phúc rất nghèo khoáng sản Đây là một điều kiện bất lợicủa tỉnh

+ Tiềm năng du lịch:

Trang 28

Tỉnh có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch Tỉnh nằm trong vùng quyhoạch du lịch trọng điểm quốc gia với quần thể danh lam thắng cảnh tự nhiênnổi tiếng: Rừng quốc gia Tam Đảo, hồ Đại Lải, hồ Làng Hà, Đầm Và, ĐầmVạc Tỉnh cũng nằm trong quy hoạch phát triển tổng thể về du lịch của vùngBắc bộ, có tuyến du lịch đường bộ xuất phát từ Hà Nội là: khu du lịch hồ ĐạiLải, hồ Vân Trục, thị trấn Tam Đảo, các khu rừng nguyên sinh Không chỉ cóthế, tỉnh còn có nhiều di tích lịch sử, văn hoá đã được xếp hạng như: danhthắng Tây Thiên, đền thờ Hai Bà Trưng, đền thờ Trần Nguyên Hãn, tháp BìnhSơn Hạ tầng du lịch của Vĩnh Phúc đang được đầu tư xây dựng ví dụ nhưtỉnh đang xây dựng 2 sân golf đạt tiêu chuẩn quốc tế là sân golf Đầm Vạc, sângolf Xuân Hòa còn sân golf Tam Đảo đã đi vào hoạt động vào tháng 10/2005.Trong tương lai, ngành du lịch sẽ là một ngành giải quyết một lượng laođộng to lớn.

2.1.2 Đặc điểm kinh tế

Hiện nay cơ cấu kinh tế của tỉnh là công nghiệp xây dựng, dịch vụ thương mại, nông – lâm - thủy sản; cơ cấu kinh tế của tỉnh đang chuyển biếntheo hướng tích cực, tăng trưởng kinh tế bình quân 14,4 % / năm trong 10năm qua, với đà này, số việc làm trong tương lai sẽ còn gia tăng

Tỉnh có nhiều làng nghề truyền thống như nghề mộc Bích Chu, làngrèn Lý Nhân, làng gốm Hương Canh, làng đá Hải Lựu, … tạo cho tỉnh có cơcấu ngành nghề đa dạng, giải quyết được nhiều lao động trình độ trung bình,

mà có thu nhập lại cao hơn sản xuất nông nghiệp, nếu những làng nghề nàytâm hơn nữa sẽ tạo thêm nhiều việc làm và thu nhập nếu được quan tâm pháttriển đúng mức

2.1.3 Đặc điểm xã hội

- Về dân số:

Trang 29

Quy mô dân số vào loại trung bình so vớicả nước, tỷ lệ gia tăng dân số

tự nhiên thấp, dân số trong độ tuổi lao động chiếm 57,46%, đây là những điềukiện thuận lợi để phát triển kinh tế xã hội Tuy nhiên dân số ở độ tuổi dướituổi lao động còn lớn tạo ra sức ép về giáo dục, nuôi dưỡng làm giảm tiếtkiệm, giảm đầu tư, giảm nguồn vốn nội lực đểphát triển

Dân cư phân bố không đều, tập trung đông ở các huyện: thành phố VĩnhYên, huyện Yên Lạc, Vĩnh Tường, Mê Linh, Bình Xuyên, Tam Dương, thị xãPhúc Yên Mật độ dân cư ở 2 huyện miền núi là Tam Đảo, Lập Thạch và xãNgọc Thanh (thị xã Phúc Yên) thấp cộng với trình độ lao động thấp nên hạnchế khả năng khai thác các tiềm năng của tỉnh như du lịch sinh thái, khoángsản, tiềm năng rừng, hệ thực vật, đất đai, trong khi nhiều người ở độ tuổi laođộng lại không có hoặc thiếu việc làm

- Về lao động:

Nguồn nhân lực dồi dào, chiếm 61.6% trong tổng dân số Trên địa bàntỉnh có gần 20 trường đại học, trung học chuyên nghiệp, trường dạy nghề củatrung ương và địa phương, quy mô đào tạo hơn 20.000 học sinh, hàng năm cógần 10.000 học sinh tốt nghiệp Đây là nguồn nhân lực trẻ có kiến thức vănhóa, cơ bản đáp ứng nhu cầu về lao động của mọi thành phần kinh tế trongtỉnh

2.1.4 Đặc điểm cơ sở hạ tầng

- Cấp điện:

Hiện tại tỉnh đã có 6 trạm 110 KV (trong đó có 2 trạm cũ là trạm VĩnhYên và Phúc Yên còn lại 4 trạm mới đang xây dựng) với tổng dung lượng 375MVA và 01 trạm 220 KV đang chuẩn bị xây dựng tại Hương Canh để cấpriêng cho trạm biến áp 110 KV Thiện Kế

+ Trạm 110 KV Vĩnh Yên có công suất 103MVA với 01 máy 63 MVA

và 1 máy 40 MVA

Trang 30

+ Trạm 110 KV Vĩnh Yên có công suất 80MVA với 02 máy 40 MVA.+ Trạm 110KV Vĩnh Tường có công suất 50MVA với 02 máy 25 MVA.+ Trạm 110KV Lập Thạch có công suất 32MVA với 02 máy 16 MVA(giai đoạn 1 lắp 1 máy).

+ Trạm 110KV Quang Minh có công suất 126MVA với 02 máy 60MVA (giai đoạn 1 lắp 1 máy)

Với hệ thống chuyền tải điện trên 1000km (đường 22KV, 35KV) trải đềutrên toàn tỉnh 100% các xã trên địa bàn tỉnh đã được phủ điện lưới quốc gia.Tại các KCN, CCN, tỉnh đang lập kế hoạch xây dựng 2 trạm nguồn khác nhau

để đảm bảo điện sử dụng liên tục cho các KCN, CCN

- Cấp nước:

Vĩnh Phúc có 02 nhà máy nước lớn, xây dựng bằng nguồn vốn ODA củaChính phủ Đan Mạch và Chính phủ Italia: Nhà máy nước Vĩnh Yên với côngsuất 16.000m3/ngày đêm, sẽ được mở rộng là 36.000m3/ngày đêm, cung cấpcho khu vực phía Bắc tỉnh

Nhà máy nước Khu vực Phúc Yên và Bình Xuyên: Hiện tại đang hoànchỉnh và đưa vào nhà máy xử lý nước ngầm Phúc Yên công suất20.000m3/ngđ Kết hợp với nhà máy xử lý nước ngầm khu vực Tháp Miếucông suất 3.600m3/ngđ đảm bảo cung cấp đầy đủ cho khu vực Phúc Yên,Xuân Hoà, Đại Lải và các Khu công nghiệp lân cận và sẽ đầu tư xây dựngmới nhà máy xử lý nước ngầm khu vực Bình Xuyên với công suất10.000m3/ngđ

Khu vực Mê Linh: Hiện tại đã có Nhà máy nước ngầm KCN QuangMinh với công suất 14.000m3/ngđ Giai đoạn 2010 nguồn nước ngầmQ=34.000m3/ngđ, giai đoạn 2015-2020 nguồn nước ngầm Q=34.000m3/ngđ,nước mặt 40.000m3/ngđ- 100.000m3/ngđ

Trang 31

Việc cung cấp nước sạch cho các khu đô thị, khu công nghiệp, các cụmcông nghiệp là hoàn toàn được đảm bảo.

- Thông tin liên lạc:

Đảm bảo thông tin liên lạc trong nước và quốc tế nhanh chóng, chấtlượng cao Hệ thống thông tin và viễn thông hiện đại, đồng bộ Mạng cáp gốcđược xây dựng bằng cáp quang Tỉnh đang tập trung chỉ đạo nâng cấp đườngtruyền mạng internet băng thông rộng, tốc độ cao cho từng KCN, CCN

- Ngân hàng:

Hệ thống ngân hàng Vĩnh Phúc không ngừng đổi mới công nghệ, tăngcường cơ sở vật chất, thực hiện nối mạng thanh toán giữa các ngân hàng trongnước và quốc tế, đảm bảo vốn cho nhu cầu vay của các thành phần kinh tế

- Hải quan:

Mọi thủ tục xuất nhập được khai báo qua mạng Việc kiểm tra hải quan

và thông quan được thực hiện tại Vĩnh Phúc

Nh ư vậy có thể nói rằng điều kiện cơ sở hạ tầng của Vĩnh Phúc khá đầy

đủ và hiện đại để có thể đáp ứng được sự phát triển công nghiệp, thương mại, dịch vụ, tạo nhiều công ăn việc làm

2.2 Quá trình đô thị hóa ở tỉnh Vĩnh Phúc

2.2.1 Biến động đất đai của tỉnh giai đoạn 1997 – 2005

2.2.1.1 Về cơ cấu đất đai

Tính đến 1/1/2005, tỉnh Vĩnh Phúc có tổng diện tích đất tự nhiên khoảng

13722414 ha, tổng diện tích đất nông nghiệp của tỉnh năm 1997 là 63500 ha,

do sự biến động mạnh mẽ của quá trình đô thị hóa, trong giai đoạn 2000 –

2005, cơ cấu đất đai của tỉnh Vĩnh Phúc có nhiều thay đổi: diện tích đất nôngnghiệp và đất chưa sử dụng giảm tương ứng là 2,65% và 9,16%, đất chuyêndùng và đất ở tăng lên tương ứng là 7,5% và 2,33% Biểu 1 cho thấy sự biếnđộng cơ cấu đất đai trong quá trình phát triển đô thị ở tỉnh Vĩnh Phúc

Trang 32

Biểu 1: Biến động cơ cấu đất đai thời kỳ 2000 – 2005

Năm

2005 sovới năm2002

Năm

2005 sovới năm2000Tổng diện tích đất tự

nhiên Km2)

1372 1371.481 1372.2414 - 51.9 + 76.04 + 24.14

Đất nông nghiệp (%) 48.69 48.50 46.04 - 0.19 - 2.46 - 2.65Đất lâm nghiệp (%) 22.16 22.13 22.29 - 0.03 + 0.16 + 0.13Đất chuyên dùng (%) 13.63 13.80 21.13 + 0.17 + 7.33 + 7.5

Đất chưa sử dụng(%) 11.73 11.75 2.57 + 0.02 - 9.18 - 9.16Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Vĩnh Phúc các năm 2000, 2002, 2005

Trong cơ cấu đất chuyên dùng lại được chia ra các loại đất sau: đất xâydựng cơ bản, đất giao thông, thủy lợi, di tích lịch sử văn hóa, đất an ninh quốcphòng, đất khai thác nguyên vật liệu, nghĩa trang, nghĩa địa và các đất chuyêndùng khác Sau đây là bảng chi tiết về biến động các loại đất phi nông nghiệp:

Biểu 3: Cơ cấu đất chuyên dùng qua các năm

Trang 33

Qua bảng trên ta thấy, tổng đất chuyên dùng tăng mạnh nhất vào năm

2004, các loại đất xây dựng cơ bản, đất cho các di tích lịch sử văn hóa, đấtkhai thác nguyên vật liệu, và các đất chuyên dùng khác cũng tăng mạnh Năm

2005, tổng đất chuyên dùng tăng cao nhưng đã giảm so với năm 2004 Trong

cơ cấu đất chuyên dùng thì đất giao thông tăng mạnh nhất, sau đó đến đất xâydựng cơ bản, đất chuyên dùng khác và đất dành cho thủy lợi Đất xây dựng cơbản, đất thủy lợi và đất để khai thác nguyên vật liệu luôn giữ tỷ lệ lớn, còn tỷ

lệ đất chuyên dùng khác trong tổng đất chuyên dùng ( như: đất xây dựngchợ, khu thương mại, khu vui chơi giải trí…) mới tăng lên từ năm 2003 đếnnay Trong năm 2001, diện tích đất thủy lợi tăng mạnh nhất trong cơ cấu củađất chuyên dùng Nhìn chung các loại đất phi nông nghiệp đều tăng phục vụnhu cầu phát triển đô thị, phát triển nông thôn của tỉnh

Tóm lại, quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất của tỉnh là nhằmphục vụ phát triển ngành công nghiệp và dịch vụ của tỉnh, việc xây dựng cáckhu công nghiệp tập trung, các cụm công nghiệp để thu hút đầu tư trong vàngoài nước đã thúc đẩy quá trình đô thị hóa của tỉnh diễn ra nhanh hơn

2.2.1.2 Biến động đất đai ở khu vực nội thị

Có thể nói rằng theo đà phát triển kinh tế xã hội, quá trình đô thị hóa ởtỉnh Vĩnh Phúc trong những năm qua cũng đã mạnh hơn Năm 2000, cả tỉnhchỉ có Vĩnh Yên là thị xã tỉnh lỵ của tỉnh Vĩnh Phúc, được công nhân là đô thịloại III vảo cuối năm 2004, được công nhận là thành phố Vĩnh Yên vào ngày1/12/2006 theo nghị định 146/2000/ NĐ – TTg của thủ tướng Chính Phủ, thìđến năm 2004 tỉnh có thêm thị xã Phúc Yên là đô thị loại IV, như vậy nếunhư năm 2000 toàn tỉnh 7 đơn vị hành chính cấp huyện đó là thị xã Vĩnh Yên,

và các huyện Mê Linh, huyện Bình Xuyên, huyện Tam Dương, huyện LậpThạch, huyện Vĩnh Tường, huyện Yên Lạc, trong đó có 1 đô thị loại 4 đó làthị xã Vĩnh Yên với 13 đô thị loại V, đến năm 2004, tổng số đô thị loại V của

Trang 34

tỉnh là 17, tăng 4 so với năm 2000, số đô thị loại III tăng 1 so với năm 2000.Đến năm 2005, xã Khai Quang thuộc Thành Phố Vĩnh Yên được nâng lênthành phường Khai Quang, nâng tổng số đô thị loại V lên 18, tổng diện tích

đất đô thị năm 2005 tăng lên so với năm 2000 là hơn 1042,42 ha Dự kiến

đến năm 2008, xã Quang Minh thuộc huyện Mê Linh sẽ là thị trấn

2.2.1.3 Quy mô đất đai của một số khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu

- Khu công nghiệp Quang Minh (Mê Linh) có diện tích quy hoạch 706

ha, trong đó diện tích đất công nghiệp là 447,5 ha Tổng mức đầu tư giai đoạnmột là 532,725 tỷ đồng, vốn đã đầu tư đạt 485 tỷ đồng

- Khu công nghiệp Bình Xuyên (huyện Bình Xuyên) có diện tích quyhoạch 271 ha, trong đó diện tích đất công nghiệp là 175 ha Tổng mức đầu tư

là 586,3 tỷ đồng, vốn đã đầu tư đạt 110 tỷ đồng

- Khu công nghiệp Khai Quang (Vĩnh Yên) có diện tích quy hoạch262,14 ha, trong đó diện tích đất công nghiệp là 180 ha Tổng mức đầu tư là

274 tỷ đồng, vốn đã đầu tư đạt 106,5 tỷ đồng

- Khu công nghiệp Bá Thiện (Bình Xuyên) có diện tích quy hoạch 327

ha, trong đó diện tích đất công nghiệp là 226,5 ha Tổng mức đầu tư là 334 tỷđồng, vốn đã đầu tư đạt 18,3 tỷ đồng

- Khu công nghiêp Chấn Hưng (Vĩnh Tường) có diện tích quy hoạch

Trang 35

+ Khu công nghiệp đã được Uỷ ban nhân dân tỉnh trình Chính phủ xin chủ trương đầu tư:

- Khu công nghiệp Sơn Lôi (Bình Xuyên) có diện tích quy hoạch 417,5

ha, trong đó diện tích đất công nghiệp là 246,5 ha (Đã quy hoạch)

- Khu công nghiệp Hợp Thịnh (Tam Dương) có diện tích quy hoạch 146

ha, trong đó diện tích đất công nghiệp là 93 ha (Đã quy hoạch)

- Khu công nghiệp Phúc Yên (Thị xã Phúc Yên) có diện tích quy hoạch

230 ha, trong đó diện tích đất công nghiệp là 135 ha (Đang quy hoạch)

- Khu công nghiệp Tam Dương (huyện Tam Dương) có diện tích quy hoạch

300 ha, trong đó diện tích đất công nghiệp là 180 ha (Đang quy hoạch)

+ Các cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh đã được quy hoạch:

- Cụm công nghiệp Hương Canh (Bình Xuyên) có diện tích quy hoạch49,5 ha, trong đó đất công nghiệp là 38,2 ha

- Cụm công nghiệp Lai Sơn (Vĩnh Yên) có diện tích quy hoạch 63,92 ha,trong đó diện tích đất công nghiệp là 40,37 ha

- Cụm công nghiệp Tân Tiến (Vĩnh Tường) có diện tích quy hoạch 50

ha, trong đó diện tích đất công nghiệp là 22,1 ha

- Cụm công nghiệp Xuân Hoà (Phúc Yên) có diện tích quy hoạch 109,5

ha, trong đó diện tích đất công nghiệp là 61 ha

- Cụm công nghiệp Đạo Tú (Tam Dương) có diện tích quy hoạch 30 ha,trong đó đất công nghiệp 18 ha

2.2.2 Quá trình đô thị hóa với sự biến động về dân số

2.2.2.1 Về quy mô dân số:

Năm 2005, dân số trung bình toàn tỉnh là 1169067 người, tăng 1,08 lần

so với năm 1998, trong đó dân số thành thị năm 2005 là 165151 người, tăng

Trang 36

1,51 lần so với năm 1998, dân số nông thôn năm 2005 là 1003916 người, tăng1,03 lần so với năm 1998 Dưới đây là một số chỉ tiêu về dân số của tỉnh:

Biểu 4: Một số chỉ tiêu về dân số phân theo thành thị và nông thôn

1110,1 1

1125,4 5

1137,3 6

1148,7 1

1154,7 2

1169,06 7 Thành thị 109,72

1 115,94

119,82 9

122,03 7

124,71 4

137,51 8

160,21

6 165,151Nông thôn 973,33

9

979,64 9

990,28 2

1001,3 8

1012,6 2

1011,2 3

994,57 6

1003,91 6 Tốc độ tăng

(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Vĩnh Phúc)

Qua bảng trên ta thấy: Tốc độ tăng dân số thành thị: ở mức trung bình,cao nhất vào năm 1998, 2004, 2003 thấp nhất vào năm 2001, sau đó là năm

2002, ở mức trung bình vào các năm 1999, 2000 và 2005 Nguyên nhân dân

số thành thị tăng nhanh hơn dân số nông thôn là vì có dòng di chuyển dân cư

từ nông thôn ra thành thị sinh sống và mua đất làm nhà, do tăng tự nhiên và

do diện tích đô thị được mở rộng

Tốc độ tăng dân số nông thôn trung bình cả giai đoạn là hơn 1% thấphơn so với tỷ lệ tăng dân số tự nhiên nông thôn trung bình là 12.2% trong giai

Trang 37

đoạn 2000 - 2005, cho thấy dân cư nông thôn đã di chuyển ra thành thị, cácthành phố lớn làm ăn, sinh sống.

Dân số đô thị tăng lên là một xu thế tất yếu của quá trình đô thị hóa và sựphát triển kinh tế xã hội Dân số đô thị tăng lên một mặt cung cấp thêm nguồnlao động, tăng nhu cầu tiêu dùng, kích thích các ngành sản xuất phát triển,tăng năng suất lao động… nhưng một mặt lại làm tăng chi phí cho việc cungcấp các dịch vụ đô thị như: chi phí về nhà ở, chi phí cung cấp nước sạch, chiphí về y tế, giáo dục, chi phí về dịch vụ cung cấp lương thực, thực phẩm, vềgiao thông đô thị, về môi trường, về đảm bảo an ninh trật tư…

2.2.2.2 Mật độ dân số

Dân số của tỉnh phân bố không đều giữa các huyện thị:

Biểu 5: Mật độ dân số theo huyện thị năm 2006

(đơn vị: người/km2)Vĩnh

Yên

Phúc

Yên

LậpThạch

TamDương

TamĐảo

BìnhXuyên

MêLinh

YênLạc

VĩnhTường

Tổng

(nguồn Niên giám thống kê tỉnh Vĩnh Phúc)

Mật độ thấp nhấp là ở huyện Tam Đảo chỉ có 278 người/km2, mật độcao nhất là ở thành phố Vĩnh Yên 1605 người/km2 gấp 5,77 lần huyện TamĐảo, gấp 1,88 lần mật độ trung bình của cả tỉnh; trong từng huyện, thị xã,thành phố, dân cư lại tập trung đông ở câc trung tâm, thị tứ, thị trấn, ví dụ như

ở thị xã Phúc Yên, mật độ dân số cao nhất là ở phường Trưng Trắc, mật độthấp nhất ở xã miền núi Ngọc Thanh Dân số tập trung với mật độ cao ở VĩnhYên, Yên Lạc, Vĩnh Tường, Mê Linh tạo nhiều điều kiện thuận lợi phát triển

đô thị

Tỷ lệ dân số của huyện, thị trong tổng dân số của tỉnh như sau:

Trang 38

Biểu 6: Tỷ lệ dân số theo huyện thị năm 2005

(đơn vị: %)Vĩnh

Yên

Phúc

Yên

LậpThạch

TamDương

TamĐảo

BìnhXuyên

MêLinh

YênLạc

VĩnhTường Tổng6,97 7,41 18,11 8,07 5,78 9,05 15,57 12,48 16,55 100 (Nguồn Niên giám thống kê tỉnh Vĩnh Phúc)

Qua số liệu ở trên ta thấy: Tỷ lệ dân số của Vĩnh Yên, Tam Đảo vào loạithấp nhất trong tỉnh Kết hợp với số liệu về mật độ dân số như trên ta thấyrằng, đô thị Vĩnh Yên quy mô dân số ít nhưng mật độ lại cao nhất, từ đây dẫnđến kết luận: đô thị hóa mạnh mẽ ở Vĩnh Yên dẫn đến sự tập trung đông dân

cư trên một diện tích nhỏ bé Còn đô thị hóa ở Phúc Yên ở mức độ vừa phảinên chưa xảy ra hiện tượng tích tụ dân cư mạnh như ở Vĩnh Yên mặc dù vậymật độ dân số của Phúc Yên đã tăng từ 675 người/ km2 năm 2005 lên 721người/ km2, tăng 46 người/ km2, trong khi đó với tỷ lệ tăng tự nhiên của năm

2005 là 1% thì chỉ làm tăng lêm khoảng 6 người/ km2 Ở Bình Xuyên, TamDương, nếu như cuối năm 1997, mật độ dân số của cả 3 huyện Lập Thạch,Tam Dương, Bình Xuyên mới là 557 người/ km2, thì đến nay chỉ riêng BìnhXuyên mật độ đã là 726 người/km2, của Tam Dương là 880 người/km2, củaYên Lạc và Vĩnh Tường, mật độ dân số cũng tăng lên từ cuối năm 1997 là

1326 người/ km2, cuối năm 2006 đã lần lượt là 1367 người/km2, và 1365người/ km2, trong khi tỷ lệ gia tăng tự nhiên của các huyện này đều giảm

2.2.3 Quá trình đô thị hóa với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh

Sau 8 năm tái lập, nền kinh tế của tỉnh tăng trưởng cao và ổn định Tăngtrưởng kinh tế thời kỳ 1997-2000 là 19,8%, thời kỳ 2000-2003: 14,3% và2004: 14% cơ cấu kinh tế chuyển dịch mạnh theo hướng công nghiệp hoá,năm 2004: cơ cấu kinh tế là: Công nghiệp: 49,7%; Dịch vụ: 26,2%; Nông

Trang 39

nghiệp: 24,1% Giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh năm 2004 đứng vị trí thứ

7 trong cả nước

Tính đến hết tháng 10/2005, toàn tỉnh thu hút được hơn 400 dự án vớitổng vốn đầu tư đăng ký trên 2 tỷ USD Trong đó, vốn của các doanh nghiệpFDI chiếm trên 40%

Trong giai đoạn 2000 - 2005 cơ cấu các ngành kinh tế như sau: Ngànhcông nghiệp – xây dựng tăng 13.26%, từ 39% (2000) lên 52.26% (2005),ngành nông lâm thủy sản giảm tương ứng từ 31.2% xuống 21.2%, ngành dịch

vụ giảm từ 30.1% (2001) xuống 26.54% (2005) Tỷ trọng giá trị sản xuấtcông nghiệp của tỉnh so với cả nước tăng từ 0.25% (1996) lên 1.77 % (2000),đạt 2.06% (2003), đạt 2.37% (2005) Chỉ số phát triển giá trị sản xuất côngnghiệp của Vĩnh Phúc thuộc loại cao so với cả nước, năm 1997 chỉ số này là200,9 cao nhất trong cả nước, năm 2000 chỉ số này là 195,4 cao nhất trong cảnước, năm 2005 là 131,5 đứng thứ 5 cả nước Tình hình này cho thấy, nềnkinh tế của tỉnh đang chuyển dịch theo hướng phát triển kinh tế công nghiệp.Các ngành dịch vụ cũng được tăng nhanh cùng với quá trình phát triểnkinh tế xã hội Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theogiá thực tế năm 2005 gấp 2,97 lần năm 1997, kim ngạch xuất khẩu năm 2005đạt 189,32 triệu USD, năm 2002 kim ngạch xuất khẩu của tỉnh là 32,791 triệuUSD, năm 2003 là 89,7093 triệu USD, tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu năm

2003 đạt 173,6%, năm 2005 đạt 55,52%

Sản xuât nông, lâm, thủy sản tăng bình quân giai đoạn 2000 – 2005 đạt13,15% gấp đôi so với thời kỳ 1995 – 2000( 6,27%)

Trang 40

Biểu 7: Cơ cấu GDP trên địa bàn theo giá thực tế

(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Vĩnh Phúc)

Trong ngành công nghiệp xây dựng: Tỷ trọng của công nghiệp chế biếntăng lên qua các năm và luôn chiếm tỷ trọng lớn trong ngành công nghiệp.Sau đó là đến nhóm ngành xây dựng, tuy nhiên tỷ trọng của ngành này lại có

xu hướng giảm Công nghiệp khai thác mỏ chiếm tỷ trọng rất thấp, chưa đạt1% Tỷ trọng của ngành sản xuất và phân phối điện nước cũng rất khiêm tốn,chưa đạt 2 %

Biểu 8: Tỷ trọng các ngành trong công nghiệp của tỉnh

(đơn vị: %)

Công nghiệp khai

thác mỏ 0.531145 0.784853 0.782259 0.790209 0.311061Công nghiệp chế

biến 89.05829 88.85797 89.76637 89.75354 91.96339Sản xuất và phân

phối điện nước 1.968877 1.750172 1.794676 1.842505 1.696892Xây dựng 8.441687 8.607006 7.656692 7.613749 6.028661Trong năm 2006, cơ cấu kinh tế của tỉnh vẫn chuyển dịch theo xu hướng

Ngày đăng: 19/02/2014, 11:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Giáo trình: Kinh tế nông nghiệp và phát triển nông thôn Khác
2. Giáo trình: Kinh tế đô thị 3. Giáo trình: Quản lý đô thị Khác
4. Sách: Đô thị hóa và chính sách phát triển đô thị trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam – NXB CTQG – 1998 Khác
5. TS. Chu Tiến Quang - Thực trạng và giải pháp việc làm ở nông thôn – NXB – Nông Nghiệp – 2001 Khác
6. GS, TSKH. Lê Du Phong, TS, Nguyễn Văn Áng, TS. Hoàng Văn Hoa - Ảnh hưởng của đô thị hóa đến nông thôn ngoại thành Hà Nội, thực trạng và giải pháp – NXB CTQG – 2002 Khác
7. Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống đô thị, thị tứ tỉnh Vĩnh Phúc đến năm 2020 Khác
8. Báo cáo phát triển kinh tế - xã hội của các huyện, thị năm 2006 9. Báo Vĩnh Phúc Khác
11. Tài liệu đất đai, lao động, phát triển nông nghiệp của các sở Tài nguyên môi trường, sở Lao động thương binh và xã hội, sở nông nghiệp phát triển nông thôn tỉnh Vĩnh Phúc Khác
12. Cổng thông tin điện tử Vĩnh Phúc - vinhphuc.gov.vn Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng dự báo dân số trên dựa trên các giả thiết sau: - tác động của quá trình đô thị hoá tới việc làm và thu nhập của người lao động nông nghiệp nông thôn tỉnh vĩnh phúc
Bảng d ự báo dân số trên dựa trên các giả thiết sau: (Trang 70)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w