1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tiểu luận triết học

22 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 127,69 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN Viện Quản trị Kinh doanh Tiểu luận Triết học Mác Lênin Đề 3 Phân tích quan niệm duy vật biện chứng về ý thức và vai trò của ý thức trong thực tiễn Từ đó liên hệ với thự[.]

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

Viện Quản trị Kinh doanh

Tiểu luậnTriết học Mác Lênin

Đề 3: Phân tích quan niệm duy vật biện chứng về

ý thức và vai trò của ý thức trong thực tiễn Từ đó liên hệ với thực tiễn đổi mới ở Việt Nam hiện nay.

Họ và tên: Phùng Yến Nhi

Mã sinh viên:

11206451Lớp: Quản trị kinh doanh E-BBA 12.2Khóa: K62

Hà Nội, ngày 24/12/2020

Trang 2

I Quan niệm duy vật biện chứng về ý thức

Quan niệm về ý thức

- Ý thức theo định nghĩa của triết học Mác - Lênin là mộtphạm trù được quyết định với phạm trù vật chất, theo đó ýthức là sự phản ánh thế giới vật chất khách quan vào bộ

óc con người và có sự cải biến và sáng tạo Ý thức có mốiquan biện chứng với vật chất

- Ý thức là một trong hai phạm trù cơ bản được các trườngphái triết học quan tâm nghiên cứu, nhưng tùy theo cách

lý giải khác nhau mà có những quan niệm rất khác nhau,

là cơ sở để hình thành các trường phái triết học khác nhau,hai đường lối cơ bản đối lập nhau là chủ nghĩa duy vật vàchủ nghĩa duy tâm Đứng vững trên lập trường của chủnghĩa duy vật biện chứng, khái quát những thành tựu mớinhất của khoa học tự nhiên và bám sát thực tiễn xã hội,triết học Mác – Lênin đã góp phần làm sáng tỏ vấn đề ýthức

2 Kết cấu của ý thức

 Ý thức là một hiện tượng tâm lý - xã hội có kết cấu rấtphức tạp bao gồm nhiều thành tố khác nhau có quan hệvới nhau Có thể chia cấu trúc của ý thức theo hai chiều:

 Theo chiều ngang: Bao gồm các yếu tố như tri thức, tìnhcảm, niềm tin, lý trí, ý chí , trong đó tri thức là yếu tố

cơ bản, cốt lõi

 Theo chiều dọc: Bao gồm các yếu tố như tự ý thức, tiềmthức, vô thức

a Theo chiều ngang :

- Tri thức là nhân tố cơ bản, cốt lõi nhất Cần phải cóhiểu biết sâu sắc về sự vật mới có thể cải tạo được sựvật đó, vì vậy, tri thức là phương thức tồn tại cơ bảncủa ý thức Theo C.Mác, phương thức mà theo đó ýthức tồn tại và theo đó một cái gì tồn tại đối với ýthức là tri thức…, cho nên một cái gì đó nảy sinh rađối với ý thức, chừng nào ý thức biết cái đó Tri thức

có nhiều lĩnh vực và cấp độ khác nhau Tích cực tìmhiểu, tích lũy tri thức về thế giới xung quanh là yêucầu thường xuyên của con người trên bước đường cảitạo thế giới Tuy nhiên không thể đồng nhất ý thứcvới sự hiểu biết, tri thức về sự vật

Trang 3

- Tình cảm là một hình thái đặc biệt của sự phản ánhtồn tại, nó phản ánh quan hệ giữa người với người vàquan hệ giữa người với thế giới khách quan Tình cảmtham gia và trở thành một trong những động lựcquan trọng của hoạt động con người Sự hòa quyệngiữa tri thức với tình cảm và trải nghiệm thực tiễn đãtạo nên tính bền vững của niềm tin thôi thúc conngười hoạt động vươn lên trong mọi hoàn cảnh.

- Muốn vượt qua khó khăn để đạt được mục đích, chủthể nhận thức phải có ý chí, quyết tâm cao Ý chí lànhững cố gắng, nỗ lực, khả năng huy động mọi tiềmnăng trong mỗi con người vào hoạt động để có thểvượt qua mọi trở ngại đạt mục đích đề ra

b Theo chiều dọc :

- Tự ý thức là ý thức hướng về nhận thức bản thânmình trong mối quan hệ với ý thức về thế giới bênngoài Đây là một thành tố rất quan trọng của ý thức,đánh dấu trình độ phát triển của ý thức Con người tự

ý thức về bản thân mình như một thực thể hoạt động

có cảm giác, đang tư duy: tự đánh giá năng lực vàtrình độ hiểu biết của bản thân về thế giới cũng nhưcác quan điểm, tư tưởng, tình cảm, nguyện vọng,hành vi, đạo đức và lợi ích của mình Qua đó xác địnhđúng vị trí, mạnh yếu của mình, ý thức về mình nhưmột cá nhân – chủ thể có ý thức đầy đủ về hành độngcủa mình Tự ý thức không chỉ là tự ý thức của cánhân, mà còn là tự ý thức của các nhóm xã hội khácnhau

- Tiềm thức là những hoạt động tâm lý diễn ra bênngoài sự kiểm soát của ý thức Về thực chất, tiềmthức là những tri thức mà chủ thể đã có được từ trướcnhưng đã gần như thành bản năng, thành kỹ năngnằm trong tầng sâu ý thức của chủ thể, là ý thức dướidạng tiềm tang Do đó tiềm thức có thể tự động gây

ra các hoạt động tâm lý và nhận thức mà chủ thểkhông cần kiểm soát chúng một cách trực tiếp Tiềmthức có vai trò quan trọng trong đời sống và tư duykhoa học Tiềm thức gắn bó rất chặt chẽ với loại hình

tư duy chính xác, được lặp lại nhiều lần Khi tiềm thức

Trang 4

hoạt động sẽ góp phần giảm bớt sự quá tải của đầu

óc, khi công việc lặp lại nhiều lần, mà vẫn đảm bảo

độ chính xác cao và chặt chẽ cần thiết của tư duykhoa học

- Vô thức là những hiện tượng tâm lý không phải do lýtrí điều khiển, nằm ngoài phạm vi của lý trí mà ý thứckhông kiểm soát được trong một lúc nào đó Chúngđiều khiển những hành vi thuộc về bản năng, thóiquen… trong con người thông qua phản xạ khôngđiều kiện Con người là một thực thể xã hội có ý thức,nhưng không phải hành vi nào của con người đều do

lý trí chỉ đạo Vô thức là những trạng thái tâm lý ởtầng sâu điều chỉnh sự suy nghĩ, hành vi, thái độ ứng

xử của con người mà chưa có sự can thiệp của lý trí

3 Bản chất của ý thức:

- Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng về bản chất, ýthức là sự phản ánh khách quan vào trong bộ óc con ngườimột cách năng động, sáng tạo

- Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan: Thểhiện rằng nội dung của ý thức do thế giới khách quan quyđịnh Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan

vì nó nằm trong bộ não con người Ý thức là cái phản ánhthế giới khách quan nhưng nó là cái thuộc phạm vi chủquan, là thực tại chủ quan Ý thức không có tính vật chất,

nó chỉ là hình ảnh tinh thần, gắn liền với hoạt động kháiquát hóa, trừu tượng hóa, có định hướng, có lựa chọn ýthức là sự phản ánh thế giới bởi bộ não con người

- Ý thức là sự phản ánh sáng tạo thế giới: Ý thức là sự phảnánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc con người, làhình ảnh chủ quan của thế giới khách quan Tuy nhiên,không phải cứ thế giới khách quan tác động vào bộ ócngười là tự nhiên trở thành ý thức Ngược lại, ý thức là sựphản ánh năng động, sáng tạo về thế giới, do nhu cầu củaviệc con người cải biến giới tự nhiên quyết định và đượcthực hiện thông qua hoạt động lao động “Ý thức chẳngqua chỉ là vật chất được đem chuyển vào trong đầu óc conngười và được cải biến đi trong đó” - Các Mác

- Sự phản ánh sáng tạo của ý thức biểu hiện ở sự cải biếncái vật chất di chuyển vào trong bộ não con người thànhcái tinh thần, thành những hình ảnh tinh thần Sáng tạo

Trang 5

của ý thức là sáng tạo của phản ánh, dựa trên cơ sở củaphản ánh, trong khuôn khổ và theo tính chất, quy luật củaphản ánh.

- Tính sáng tạo của ý thức được thể hiện ra rất phong phú.Trên cơ sở những cái đã có, ý thức có thể tạo ra tri thứcmới về sự vật, có thể tưởng tượng ra những cái không cótrong thực tế Ý thức có thể tiên đoán, dự báo về tương lai,

có thể tạo ra những ảo tưởng, huyền thoại, những giảthuyết, lý thuyết khoa học hết sức trừu tượng và có tínhkhái quát cao

- Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ

óc người, song đây là sự phản ánh đặc biệt – phản ánhtrong quá trình con người cải tạo thế giới Quá trình ý thức

là quá trình thống nhất của 3 mặt là: trao đổi thông tingiữa chủ thể và đối tượng phản ánh Tiếp đến là mô hìnhhóa đối tượng trong tư duy dưới dạng hình ảnh tinh thần

và cuối cùng là chuyển mô hình từ tư duy ra hiện thựckhách quan

- Ý thức là sự phản ánh sáng tạo, vì phản ánh đó dù trựctiếp hay gián tiếp, dù dười dạng ý tưởng thì bao giờ củngphải dựa vào những tiền đề vật chất, dựa trên hoạt độngthực tiễn nhất định Sự sáng tạo của ý thức không đối lập,loại trừ, tách rời sự phản ánh mà ngược lại thống nhất vớiphản ánh, trên cơ sở của phản ánh

- Phản ánh và sáng tạo là hai mặt thuộc bản chất của ýthức Ý thức – trong bất kỳ trường hợp nào cũng là sự phảnánh và chính thực tiễn xã hội của con người tạo ra sự phảnánh phức tạp, năng động, sáng tạo của bộ óc

- Ý thức là sản phẩm lịch sử của sự phát triển xã hội nên vềbản chất là có tính xã hội: Ý thức không phải là một hiệntượng tự nhiên thuần túy mà là một hiện tượng xã hội ýthức bắt nguồn từ thực tiễn lịch sử-xã hội, phản ánh nhữngquan hệ xã hội khách quan “Ngay từ đầu, ý thức đã làmột sản phẩm xã hội, và vẫn như vậy đến chừng nào conngười còn tồn tại” - Các Mác và Engels

- Theo Lênin thì nếu coi tư tưởng (ý thức) là có tính vật chấttức là một bước sai lầm đến chỗ lẫn lộn chủ nghĩa duy vậtvới chủ nghĩa duy tâm

4 Nguồn gốc của ý thức

Trang 6

 Theo quan điểm của chủ nghĩa Lênin thì trong lịch sử triếthọc, vấn đề nguồn gốc, bản chất của ý thức là một trongnhững vấn đề trung tâm của cuộc đấu tranh giữa chủnghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm Triết học duy vật biệnchứng khẳng định, ý thức của con người có nguồn gổc tựnhiên và nguồn gốc xã hội.

a Mặt tự nhiên

Theo quan điểm của triết học Mác - Lênin, ý thức là mộtthuộc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ ócngười, là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ nãongười Nếu không có sự tác động của thế giới khách quanvào bộ não người và không có bộ não người với tính cách

là cơ quan vật chất của ý thức thì sẽ không có ý thức Bộnão người và sự tác động của thế giới khách quan vào bộnão người là nguồn gốc tự nhiên của ý thức Các nhân tốbao gồm:

- Bộ óc:

Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định rằng ý thức

là thuộc tính của một dạng vật chất sống có tổ chứccao là bộ óc người Bộ óc người hiện đại là sản phẩmcủa quá trình tiến hoá lâu dài về mặt sinh vật - xã hội

và có cấu tạo rất phức tạp, gồm khoảng 14 - 15 tỷ tếbào thần kinh Các tế bào này tạo nên nhiều mối liên

hệ nhằm thu nhận, xử lý, dẫn truyền và điều khiểntoàn bộ hoạt động của cơ thể trong quan hệ với thếgiới bên ngoài thông qua các phản xạ có điều kiện vàkhông điều kiện

- Sự phản ánh:

Cũng theo chủ nghĩa Mác - Lênin, hoạt động ý thứccon người diễn ra trên cơ sở hoạt động sinh lý thầnkinh của bộ óc người Sự phụ thuộc của ý thức vàohoạt động của bộ óc thể hiện ở chỗ khi bộ óc bị tổnthương thì hoạt động ý thức sẽ bị rối loạn Tuy nhiên,nếu chỉ có bộ óc người mà không có sự tác động củathế giới bên ngoài để bộ óc phản ánh lại tác động đóthì cũng không thể có ý thức Phản ánh là thuộc tínhchung, phổ biến của mọi đối tượng vật chất Phản

Trang 7

ánh là năng lực giữ lại, tái hiện lại của hệ thống vậtchất này những đặc điểm của hệ thống vật chấtkhác.

Trong quá trình phát triển lâu dài của thế giới vật chất, thuộctính phản ánh của vật chất cũng phát triển từ thấp đến cao, từđơn giản đến phức tạp:

 Phản ánh vật lý: Là hình thức phản ánh đơn giản nhất ởgiới vô sinh, thể hiện qua các quá trình biến đổi cơ, lý,hoá

 Phản ánh sinh học: Là những phản ánh trong sinh giớitrong giới hữu sinh cũng có nhiều hình thức khác nhau ứngvới mỗi trình độ phát triển của thế giới sinh vật

 Phản ánh ý thức: là hình thức cao nhất của sự phản ánhthế giới hiện thực, ý thức chỉ nảy sinh ở giai đoạn pháttriển cao của thế giới vật chất, cùng với sự xuất hiện củacon người

“Lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống loài người, và như thế đến một mức độ và

Trang 8

trên một ý nghĩa nào đó, chúng ta phải nói: Lao động

đã sáng tạo ra bản thân con người” - Engels

Việc chế tạo ra công cụ lao động có ý nghĩa to lớn làcon người đã có ý thức về mục đích của hoạt độngbiến đổi thế giới Thực chất của hoạt động lao động làtác động vào thế giới khách quan, làm biến đổi thếgiới nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người Nhờ cólao động, bộ não con người được phát triển và ngàycàng hoàn thiện, làm cho khả năng tư duy trừu tượngcủa con người ngày càng cao Cũng là lao động ngay

từ đầu đã liên kết con người lại với nhau trong mốiliên hệ tất yếu, khách quan Mối liên hệ đó khôngngừng được củng cố và phát triển đến mức làm nảysinh ở họ một nhu cầu "cần thiết phải nói với nhaumột cái gì đó" Và ngôn ngữ xuất hiện

- Ngôn ngữ:

Theo quan điểm của triết học Mác - Lênin thì ngônngữ là phương tiện để con người giao tiếp trong xãhội, là hệ thống tín hiệu thứ hai, là cái vỏ vật chấtcủa tư duy, là hình thức biểu đạt của tư tưởng Ngônngữ là yếu tố quan trọng để phát triển tâm lý, tư duycủa con người và xã hội loài người

II Vai trò của ý thức trong thực tiễn & liên hệ

Vai trò của ý thức trong đời sống xã hội

Tri thức là nhân tố cơ bản, cốt lõi nhất của ý thức Trithức đã và đang trở nên quan trọng đối với đời sống xãhội Nó tác động trực tiếp đến các lĩnh vực của xã hội:kinh tế, chính trị, văn hóa giáo dục

 Vai trò của tri thức đối với kinh tế (Kinh tế tri thức)

”Kinh tế tri thức là nền kinh tế mà việc sản sinh ra vàkhai thác tri thức có vai trò nổi trội trong quá trình tạo

ra của cải; là nền kinh tế trong đó sự sản sinh ra, phổcập và sử dụng tri thức giữ vai trò quyết định nhất đốivới sự phát triển kinh tế, tạo ra của cải, nâng cao chấtlượng cuộc sống.”

Kinh tế tri thức có nhiều đặc điểm cơ bản khác biệt sovới các nền kinh tế trước đó:

Trang 9

- Tri thức khoa học - công nghệ cùng với lao động kỹnăng cao là cơ sở chủ yếu và phát triển rất mạnh

- Nguồn vốn quan trọng nhất, quý nhất là tri thức,nguồn vốn trí tuệ

- Sáng tạo và đổi mới thường xuyên là động lực chủ yếunhất thúc đẩy sự phát triển

Vốn tri thức – vai trò của nó trong kinh tế tri thức Vốntri thức là tri thức được dùng vào hoạt động sản xuấtkinh doanh với mục đích sinh lợi (tăng thêm giá trị).Vốn tri thức là một yếu tố nổi bật nhất trong hàm sảnxuất Trong văn minh nông nghiệp thì sức lao động, đấtđai và vốn là những yếu tố của sản xuất công nghiệp,vốn, đất đai và nhất là sức lao động trở thành hàng hoávới tư cách là những yếu tố quan trọng trong sự pháttriển kinh tế - xã hội,góp phần chuyển xã hội phongkiến thành xã hội tư bản trong lịch sử Còn trong kinh tếtri thức, yếu tố của sự phát triển nền kinh tế - xã hộikhông chỉ bao gồm vốn tiền tệ, đất đai và dựa trên laođộng giản đơn mà chủ yếu dựa trên lao động trí tuệ gắnvới tri thức Như vốn tri thức trở thành yếu tố thứ nhấttrong hàm sản xuất thay vì yếu tố sức lao động vốn tiền

tệ và đất đai

Vốn tri thức thực sự trở thành nguồn gốc động lực cho

sự phát triển kinh tế - xã hội Nước Mỹ nói riêng và cácnước thuộc tổ chức OECD nói chung nhiều năm quatăng trưởng ổn định với tốc độ cao là nhờ có sự phát

Trang 10

triển của các ngành kinh tế dựa trên tri thức như cácngành công nghệ thông tin, viễn thông, vũ trụ, đầu tư,ngân hàng, tài chính, chứng khoán, bảo hiểm… Đồngthời chuyển đầu tư vốn tri thức từ các ngành truyềnthống sang các ngành có hàm lượng tri thức cao Ở cácnước có nền kinh tế đang phát triển,đầu tư càng nhiềuvốn tri thức thì mang lại giá trị gia tăng càng lớn,tỷ suấtlợi nhuận càng cao

Vốn tri thức trong kinh tế tri thức đóng vai trò quyếtđịnh sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp Vốntri thức ở đây bao gồm các công nhân tri thức,các nhàquản lý có trình độ cao,các công nghệ mới

Vốn tri thức đóng vai trò to lớn trong việc rút ngắnkhoảng cách phát triển giữa các nước đang phát triển

và các nước phát triển Sự xuất hiện kinh tế tri thức vừa

là cơ hội vừa là thách thức đối với các nước kém vàđang phát triển,trong đó có Việt Nam Các quốc gia kém

và đang phát triển phải nhanh chóng tiếp cận với kinh

tế tri thức, thông qua tri thức hoá các ngành côngnghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, đặc biệt sớm hình thànhcác công nghệ cao để nhanh chóng đưa nền kinh tế đấtnước đuổi kịp các nước phát triển

 Vai trò của tri thức đối với chính trị

Tri thức đem lại cho con người những sự hiểu biết, kiếnthức.Người có tri thức là có khả năng tư duy lý luận,khảnăng phân tích tiếp cận vấn đề một cách sát thực,đúngđắn.Điều này rất quan trọng,một đất nước rất cầnnhững con người như vây để điều hành công việc chínhtrị.Nó quyết định đến vận mệnh của một quốc gia.Đạihội VI của Đảng đã đánh dấu một sự chuyển hướngmạnh mẽ trong nhận thức về nguồn lực con ngươì.Đạihội nhấn mạnh:”Phát huy yếu tố con người và lấy việcphục vụ con người làm mục đích cao nhất của mọi hoạtđông”chiến lược phát triển con người đang là chiến lượccấp bách.Chúng ta cần có những giải pháp trong việcđào tạo cán bộ và hệ thống tổ chức : Tuyển chọn nhữngngười học rộng tài cao,đức độ trung thành với mục tiêu

Trang 11

xã hội chủ nghĩa,thuộc các lĩnh vực,tập trung đàotạo,bồi dưỡng cho họ những tri thức còn thiếu và yếu để

bố trí vào các cơ quan tham mưu hoạch định đường lốichính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước vớinhững qui định cụ thể về chế độ trách nhiệm quyền hạn

và lợi ích Sắp xếp các cơ quan nghiên cứu khoa học –công nghệ và giáo dục-đào tạo thành một hệ thống cómối liên hệ gắn kết với nhau theo liên ngành,tạo điềukiện thuận lợi tối đa cho hợp tác nghiên cứu và ứngdụng kết quả nghiên cứu vào thực tĩên Hợp nhất cácviện nghiên cứu chuyên ngành vào trường đại học vàgắn kết trường đại học và các công ty,xí nghiệp.Các cơquan nghiên cứu và đào tao được nhận đề tài, chỉ tiêuđào tạo theo chương trình,kế hoạch và kinh phí dựa trênluận chứng khả thi được trách nhiệm của người đứngđầu cơ quan Hàng năm theo định kỳ có những cuộcgặp chung giữa những người có trọng trách và các nhàkhoa học đầu nganh của các cơ quan giáo dục-đào tạo

và trung tâm khoa học lớn của quốc gia,liên hiệp cáchội khoa học Việt Nam…với sự chủ tri của đồng trí chủtịch,sự tham gia của các thành viên Hội đồng giáo dục -đào tạo và khoa học - công nghệ quốc gia về những ýkiến tư vấn, khuyến nghị của tập thể các nhà khoa họcvới Đảng và nhà nước về định hướng phát triển giáo dục

- đào tạo Phát triển khoa học - công nghệ,cách tuyểnchon và giao chương trình đề tài, giới thiệu những nhàkhoa học tài năng để viết giáo khoa, giáo trình, làm chủnhiệm chương trình, đề tài và tham gia các hội đồng xétduyệt, thẩm định nghiệm thu các chương trình, đề tàikhoa học cấp Nhà nước Liên hiệp các hội khoa học ViệtNam cần thường xuyên và phát huy trí tuệ của các nhàkhoa học,dân chủ thảo luận để đưa ra được những ýkiến tư vấn,những khuyến nghị xác thực có giá trị vớiĐảng, Nhà nước và động viên tập hợp lực lượng các hộiviên tiến quân mạnh mẽ vào các lĩnh vực khoa học vàcông nghệ mà đất nước đang mong chờ để sớm thoátkhỏi tình trạng nghèo và kém phát triển

 Vai trò tri thức đối với văn hoá - giáo dục

Ngày đăng: 19/04/2022, 22:22

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w