1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm đồ gỗ việt nam trên thị trường nhật bản

85 789 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm đồ gỗ Việt Nam trên thị trường Nhật Bản
Tác giả Lưu Đình Đại
Người hướng dẫn Th.s. Ngô Thị Tuyết Mai
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh tế Quốc tế, Quản trị Kinh doanh
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 572 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nguyên nhân chính là do năng lực cạnh tranh hàng Việt Namtrên thị trường thế giới còn chưa cao, còn nhiều bất cập, chưa tạo được niềm tinvới khách hàng, thị trường không ổn định....mặt h

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính tất yếu của đề tài

Hiện nay, xu hướng toàn cầu hóa, quốc tế hóa đang diễn ra một cách mạnh

mẽ, tác động đến mọi quốc gia, các lĩnh vực và các ngành Theo xu thế đó, cácquốc gia đã và đang tiến hành các hoạt động mở cửa, hội nhập vào xu hướng này.Việt Nam thực sự đã đạt được nhiều thành tựu nổi bật đặc biệt là thành tựu vềxuất khẩu Việt Nam đã xác định cho mình những mặt hàng chủ lực như gạo, càphê, may mặc, đồ gỗ Trong đó sản phẩm đồ gỗ ngày càng có vị trí quan trọngtrong nền kinh tế quốc dân Nó không chỉ góp phần tạo ra công ăn việc làm chomột số lượng lớn lao động mà giá trị xuất khẩu của ngành còn chiếm tỉ lệ lớntrong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước Đặc biệt tại một số thị trường lớnnhư Nhật Bản, Hoa Kỳ, EU sản phẩm đồ gỗ Việt Nam đã có được một chỗđứng, vị thế quan trọng trên thị trường, chiếm một tỷ lệ thị phần đáng kể đặc biệt

là thị trường Nhật Bản với tốc độ tăng thị phần khá nhanh, với kim ngạch xuấtkhẩu ngày càng tăng qua các năm, sản phẩm chủng loại khá đa dạng

Tuy đã đạt được những thành tựu nổi bật về xuất khẩu nhưng nếu so sánhvới các đối thủ trên thị trường có cùng mặt hàng xuất khẩu thì kim ngạch xuấtkhẩu của Việt Nam vẫn còn khá khiêm tốn Thị phần chiếm lĩnh so với các đốithủ còn quá nhỏ Nguyên nhân chính là do năng lực cạnh tranh hàng Việt Namtrên thị trường thế giới còn chưa cao, còn nhiều bất cập, chưa tạo được niềm tinvới khách hàng, thị trường không ổn định mặt hàng sản phẩm đồ gỗ cũngkhông phải là một ngoại lệ, chúng ta gặp rất nhiều khó khăn về khả năng cạnhtranh với các đối thủ khác trên thị trường mà điển hình ở đây là thị trường NhậtBản - một thị trường lớn, tiềm năng Vì vậy em đã chọn đề tài " Nâng cao nănglực cạnh tranh của sản phẩm đồ gỗ Việt Nam trên thị trường Nhật Bản" đểnghiên cứu

2 Mục tiêu nghiên cứu

Hệ thống hoá một số vấn đề lý luận về năng lực cạnh tranh của sản phẩm vànâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm Phân tích thực trạng năng lực cạnhtranh của sản phẩm đồ gỗViệt Nam trên thị trường xuất khẩu ( Nhật Bản ) để từ

Trang 2

đó đề xuất các giải pháp đối với các doanh nghiệp và các cơ quan quản lý Nhànước nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành.

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp duy vật biện chứng

Trong quá trình nghiên cứu và viết đề tài này do trình độ, thời gian, kinhnghiệm còn hạn chế và nguồn tài liệu còn hạn hẹp nên chắc chắn em khôngtránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được sự đóng góp, chỉ bảo củathầy cô giáo Và em xin chân thành cảm ơn cô giáo Th.s.Ngô Thị Tuyết Mai đãtận tình giúp đỡ em để em hoàn thành bài viết này

Trang 3

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CHUNG VỀ CẠNH TRANH VÀ

SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA SẢN PHẨM ĐỒ GỖ VIỆT NAM

1.1 Tổng quan chung về cạnh tranh

1.1.1 Khái niệm, phân loại và vai trò của cạnh tranh

1.1.1.1 Khái niệm cạnh tranh và năng lực cạnh tranh

* Khái niệm cạnh tranh

Cạnh tranh là một phạm trù kinh tế khách quan, là quan hệ kinh tế giữanhững người cùng sản xuất kinh doanh một loại sản phẩm, nó vừa là môi trường,vừa là động lực phát triển kinh tế

Trong kinh tế học, cạnh tranh được định nghĩa là sự giành giật thị trường để

tiêu thụ sản phẩm giữa các doanh nghiệp Theo C.Mác: "cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa để thu được những lợi nhuận siêu ngạch" Đây là định nghĩa khái quát nhất về cạnh tranh, nó đã nói lên được mục

đích của cạnh tranh, nhưng chưa nói lên cách thức để giành thắng lợi trong cạnhtranh

Cạnh tranh là sản phẩm của nền kinh tế hàng hóa, là sự đối chọi giữa nhữngngười sản xuất hàng hóa dựa trên thực lực kinh tế của họ Cơ sở của cạnh tranh làchế độ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất Chế độ này đẻ ra cạnh tranh, chèn

ép lẫn nhau, " cá lớn nuốt cá bé" Quan niệm đó về cạnh tranh được nhìn nhận từgóc độ tiêu cực Ngày nay, hầu hết các nước trên thế giới đều thừa nhận cạnhtranh và coi cạnh tranh vừa là môi trường vừa là động lực của sự phát triển kinhtế-xã hội Do vậy cạnh tranh có thể được hiểu như sau:

Cạnh tranh là sự ganh đua, là cuộc đấu tranh gay gắt, quyết liệt giữa những chủ thể kinh doanh với nhau trên một thị trường hàng hóa cụ thể nào đó nhằm giành giật khách hàng và thị trường, thông qua đó mà tiêu thụ được nhiều hàng hóa và thu được lợi nhuận cao.

Trang 4

* Khái niệm năng lực cạnh tranh

Năng lực cạnh tranh của hàng hóa được hiểu là tất cả những đặc điểm, yếu

tố, tiềm năng mà sản phẩm đó có thể duy trì và phát triển vị trí của mình trên thịtrường trong một thời gian dài

Năng lực cạnh tranh là khả năng chiếm lĩnh thị trường của một mặt hàng, làkhả năng mà doanh nghiệp có thể đạt được những điều kiện thuận lợi trong tiêuthụ hàng hóa của mình

Năng lực cạnh tranh của hàng hóa còn được thể hiện ở vị trí của mặt hàng

đó trên thị trường, hay nói cách khác đó là sức mua đối với hàng hóa trên thịtrường, là mức độ chấp nhận của người tiêu dùng

Tóm lại: Năng lực cạnh tranh của sản phẩm là sự biểu hiện “tính trội” của sản phẩm về chất lượng, giá cả và hình thức lưu chuyển của nó trên thị trường, tạo nên sự hấp dẫn và thuận tiện cho khách hàng trong việc tiếp cận và sử dụng nó Năng lực cạnh tranh có thể được hiểu là khả năng giành lợi thế, chiếm ưu thế trong cạnh tranh của sản phẩm so với các sản phẩm cùng loại trên cùng đoạn thị trường tại cùng thời điểm

Cần phân biệt " năng lực cạnh tranh của sản phẩm " và " năng lực cạnhtranh của doanh nghiệp " Hai khái niệm này liên quan mật thiết với nhau Nănglực cạnh tranh của sản phẩm là một trong những nhân tố cấu thành năng lực cạnhtranh của doanh nghiệp Năng lực cạnh tranh của sản phẩm thể hiện năng lựccạnh tranh của doanh nghiệp Năng lực cạnh tranh của của sản phẩm thể hiệnnăng lực của sản phẩm đó thay thế một sản phẩm khác đồng nhất hoặc khác biệt,

có thể do đặc tính, chất lượng hoặc giá cả sản phẩm Trên thực tế, hai khái niệmnày có thể sử dụng thay thế cho nhau

Các yếu tố cấu thành

Các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của sản phẩm bao gồm: sự khácbiệt (vượt trội) về chất lượng, số lượng, giá cả, mẫu mã, độc đáo hay kiểu dáng,tính tiện dụng, hình thức phân phối sản phẩm đến tay người tiêu dùng, dịch vụsau bán hàng, lòng tin của khách hàng đối với sản phẩm… so với sản phẩm củađối thủ cạnh tranh trên cùng một phân đoạn thị trường vào cùng một thời điểm

Trang 5

Năng lực cạnh tranh còn thể hiện qua mức độ chiếm lĩnh thị trường (thị phần củanó) tốc độ tăng thị phần, khả năng gây ấn tượng đối với người sử dụng…

Các chỉ tiêu đo lường năng lực cạnh tranh của sản phẩm

Như vậy, năng lực cạnh tranh của sản phẩm là cái hiện hữu trong sản phẩm.Việc phân tích, đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm thường được tiếnhành đồng thời bằng 3 phương pháp: (1) đánh giá trực tiếp trên sản phẩm (tínhnăng, chất lượng, giá cả, sự tiện ích, mẫu mã ); (2) đánh giá trực tiếp thị trường(doanh số bán, thị phần, tốc độ tăng thị phần, hệ thống phân phối ); (3) điều tra

xã hội học - chủ yếu qua phiếu thăm dò khách hàng (sự thoả mãn nhu cầu, sựnhận biết tên sản phẩm, sự trung thành với nhãn hiệu ) Sau đó so sánh các tiêuchí đó với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh trên cùng thị trường tại cùng thờiđiểm để xác định năng lực cạnh tranh của sản phẩm

Nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm là tìm ra những biện pháp tác

động vào quá trình sản xuất và lưu thông sản phẩm, làm cho nó có “tính vượttrội” so với sản phẩm cùng loại của đối thủ cạnh tranh (nếu nó chưa có năng lựccạnh tranh) hoặc làm tăng thêm sức mạnh cho sản phẩm, làm cho “tính trội” của

nó ở mức tốt hơn, cao hơn trên thị trường tiêu thụ (nếu sản phẩm đã có năng lựccạnh tranh nhưng năng lực cạnh tranh còn yếu) Nói cách khác: nâng cao sứccạnh tranh cho sản phẩm là sử dụng một số yếu tố tác động nhằm khắc phụcnhững tồn tại được coi là trở ngại làm giảm sức cạnh tranh của sản phẩm đồngthời hoàn thiện những nhân tố làm tăng tính trội của nó so với đối thủ khác (chứkhông phải so với chính nó), nhằm làm cho thị phần của sản phẩm tăng lên sovới thị phần của đối thủ cạnh tranh của nó

Quá trình nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm khác với việc hoànthiện sản phẩm ở chỗ: hoàn thiện sản phẩm chỉ là quá trình làm cho sản phẩm đótrở nên tốt hơn, có tính mới hơn so với chính nó ở những thời điểm khác nhau Vìvậy, có trường hợp sản phẩm không hoàn thiện nhưng lại có có sức cạnh tranh do

nó có tính trội hơn tương đối khi so sánh một cách tương đối với sản phẩm khác

Trang 6

1.1.1.2 Phân loại cạnh tranh

Căn cứ vào chủ thể tham gia

- Cạnh tranh giữa người bán với người mua:

Đây là cuộc cạnh tranh diễn ra theo quy luật mua rẻ bán đắt, người bánluôn mong muốn bán sản phẩm của mình với giá cao nhất, ngược lại người mualại muốn mua sản phẩm đó với mức giá thấp nhất Sự cạnh tranh này được thựchiện qua quá trình " mặc cả ", kết thúc quá trình này, người bán sẽ chỉ đồng ý bánsản phẩm của mình và người mua sẽ chỉ chấp nhận mua sản phẩm với giá chấpnhận là giá thỏa thuận giữa người bán và người mua

- Cạnh tranh giữa những người mua

Đây là cuộc cạnh tranh trên cơ sở quy luật cung cầu Loại cạnh tranh nàyxảy ra khi mức cầu đối với một hàng hóa hay dịch vụ nào đó trên thị trường lớnhơn lượng hàng hóa, dịch vụ nào đó mà người bán có thể cung cấp Do đó, cạnhtranh sẽ trở nên gay gắt hơn khi càng có ít người bán nhưng lại nhiều ngườimuốn mua và giá cả hàng hóa, dịch vụ sẽ được người bán đẩy lên cao Kết quảcuối cùng là người bán thu được lợi nhuận cao, sang người mua phải chịu thiệt thòi

- Cạnh tranh giữa những người bán

Đây là cuộc cạnh tranh gay go và quyết liệt nhất Trong cuộc cạnh tranhnày, các doanh nghiệp phải tìm mọi biện pháp khác nhau để tạo cho mình thếmạnh nhằm vượt lên trên đối thủ hoặc thôn tính lẫn nhau để tranh giành kháchhàng và thị trường Kết quả để đánh giá doanh nghiệp nào thắng trong cuộc cạnhtranh là việc tăng doanh số tiêu thụ và tăng tỉ lệ thị phần, theo đó tăng lợi nhuận,tăng đầu tư chiều sâu, mở rộng sản xuât

Căn cứ vào phạm vi cạnh tranh

- Cạnh tranh trong nội bộ ngành

Đây là sự cạnh tranh giữa các xí nghiệp trong nội bộ ngành, cùng sản xuất

ra một loại hàng hóa nhằm mục đích tiêu thụ hàng hóa có lợi hơn để thu lợinhuận siêu ngạch Để cạnh tranh cùng với đối thủ cùng ngành, các doanh nghiệpphải thường xuyên cải tiến kỹ thuật, nâng cao cấu tạo hữu cơ của tư bản, nângcao năng xuất lao động nhằm làm cho giá trị cá biệt của hàng hóa doanh nghiệpsản xuất ra thấp hơn giá trị xã hội để thu lợi nhuận siêu ngạch

Trang 7

Căn cứ vào mức độ, tính chất cạnh tranh thị trường

- Cạnh tranh hoàn hảo

Đây là hình thức cạnh tranh mà trên thị trường có nhiều người bán vàngười mua độc lập với nhau, không có người nào có ưu thế để có thể ảnh hưởngtới giá cả Các sản phẩm làm ra được người mua xem là đồng nhất tức là ít có sựkhác biệt về quy cánh phẩm chất mẫu mã Tất cả người mua và bán đều có hiểubiết đầy đủ về thông tin liên quan đến việc trao đổi Thị trường cạnh tranh hoànhảo đòi hỏi tất cả người mua và người bán đều có liên hệ với tất cả những ngườitrao đổi tiềm năng, biết tất cả các đặc trưng của các mặt hàng trao đổi, biết tất cảgiá người bán đòi bán và giá người mua trả Không có gì ngăn cản việc gia nhập

và rút khỏi thị trường Người bán tham gia trên thị trường chỉ có cách thích ứngvới giá cả trên thị trường, họ chủ yếu tìm cách giảm chi phí và sản xuất một mứcsản phẩm đến mức giới hạn mà tại đó chi phí cận biên bằng doanh thu cận biên

- Cạnh tranh không hoàn hảo

Đây là trạng thái cạnh tranh trên thị trường mà phần lớn sản phẩm làkhông đồng nhất với nhau, mỗi sản phẩm có thể có nhiều nhãn hiệu khác nhau,mỗi nhãn hiệu đều mang hình ảnh và uy tín khác nhau mặc dù khác biệt giữa cácsản phẩm là không đáng kể Trong môi trường cạnh tranh không hoàn hảo, mức

độ cạnh tranh gay gắt và các hình thức cạnh tranh cũng hết sức đa dạng Bằngnhiều hình thức khác nhau của cạnh tranh, người bán lợi dụng uy tín của mình,hay sử dụng các biện pháp khuếch trương sản phẩm, khuyến mại, các dịch vụ đặcbiệt sau bán hàng có thể có những lợi thế hơn, có được những điều kiện bánhàng tốt hơn, cạnh tranh tốt hơn so với các đối thủ cạnh tranh, đáp ứng tối ưu cácnhu cầu của khách hàng, duy trì và ngày càng mở rộng hơn thị trường tiêu thụ

Trang 8

sản phẩm của mình kết quả của cạnh tranh là dẫn đến cuộc chiến về giá cả giữangười bán với nhau Đây là hình thức cạnh tranh được coi là phổ biến trong giaiđoạn hiện nay.

- Cạnh tranh độc quyền

Đây là trạng thái cạnh tranh trên thị trường mà ở đó chỉ có một hay một số

ít người bán cung cấp một loại sản phẩm đồng nhất hoặc chỉ có một hay một số ítngười mua một loại sản phẩm đó Số ít người này có thể kiểm soát gần như toàn

bộ số lượng sản phẩm bán ra hay mua vào thị trường

Thị trường có sự pha trộn giữa độc quyền và cạnh tranh được gọi là thịtrường cạnh tranh độc quyền Trong thị trường này không có cạnh tranh về giánhư ở thị trường cạnh tranh không hoàn hảo mà các nhà độc quyền quyết định vềgiá cả Việc định giá này nhằm tối đa hóa lợi nhuận cho các nhà độc quyền

1.1.1.3 Phân loại khả năng cạnh tranh

Khả năng cạnh tranh quốc gia

Đây là một khái niệm phức tạp, bao gồm các yếu tố ở tầm vĩ mô, đồngthời cũng bao gồm khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trong cả nước Khảnăng cạnh tranh quốc gia được định nghĩa là khả năng của một nền kinh tế đạtđược tăng trưởng bền vững, thu hút được đầu tư ,bảo đảm ổn định kinh tế xã hội,nâng cao đời sống của người dân Một số tổ chức quốc tế (như diễn đàn kinh tếthế giới (WEF), Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), viện phát triểnquản lý (IMD) ở Lausanne, Thụy Sĩ ) tiến hành điều tra, so sánh và xếp hạngkhả năng cạnh tranh của các nền kinh tế thế giới Các xếp hạng đó áp dụng cácphương pháp luận tương tự như nhau và đi đến kết quả giống nhau về xu thế, tuykhông hoàn toàn giống nhau về xếp hạng do có những khác biệt trong phươngpháp luận (thí dụ như về trọng số cho từng yếu tố, về cơ sở dữ liệu ) Các nhàđầu tư quốc tế thường tham khảo các xếp hạng này như một căn cứ để lựa chọnđịa điểm đầu tư, vì vậy, các xếp hạng đó có ý nghĩa quan trọng đối với các chínhphủ và doanh nghiệp

Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp

Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp được đo bằng khả năng duy trì và

Trang 9

trong nước và ngoài nước Một doanh nghiệp có thể kinh doanh một hay nhiềusản phẩm và dịch vụ, vì vậy cần phân biệt khả năng cạnh tranh của doanh nghiệpvới khả năng cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ.

Khả năng cạnh tranh của sản phẩm - dịch vụ

Khả năng cạnh tranh của sản phẩm dịch vụ thường được đo bằng thị phầncủa sản phẩm hay dịch vụ cụ thể trên thị trường Giữa ba cấp độ khả năng cạnhtranh có mối quan hệ mật thiết qua lại với nhau, tạo điều kiện cho nhau, chế định

và phụ thuộc lẫn nhau Một nền kinh tế có khả năng cạnh tranh quốc gia cao phải

có nhiều doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh, ngược lại để tạo điều kiện chodoanh nghiệp có điều kiện nâng cao khả năng cạnh tranh thì môi trường kinhdoanh của nền kinh tế phải thuận lợi, các chính sách kinh tế vĩ mô phải rõ ràng,

có thể dự báo được, nền kinh tế phải ổn định; bộ máy nhà nước phải trong sạch,hoạt động có hiệu quả, có tính chuyên nghiệp Đồng thời, khả năng cạnh tranhcủa doanh nghiệp cũng thể hiện qua khả năng cạnh tranh của các sản phẩm vàdịch vụ mà doanh nghiệp kinh doanh Doanh nghiệp có thể kinh doanh một haymột số sản phẩm và dịch vụ có khả năng cạnh tranh cao

1.2 Các lý thuyết lợi thế cạnh tranh

Thuyết thương mại quốc tế cổ điển sử dụng lợi thế của năng suất lao động

để định nghĩa lợi thế cạnh tranh, chúng ta xem xét lý thuyết của học thuyết lợithế so sánh qua mô hình đơn giản sau đây:

Trên thế giới khi một quốc gia có thể sản xuất ra một loại sản phẩm có giáthấp hơn quốc gia khác thì số hàng hóa này có thể được xuất khẩu để bù đắp choviệc nhập các loại hàng hóa có giá trị cao hơn nhằm đem lại lợi ích cao nhất.Adam smith ( 1723- 1790) đã dẫn chứng ví dụ về lợi điểm tuyệt đối mà cả 2 quốcgia có thể thu được lợi nhuận từ thương mại:

Số lượng trên mỗi đơn vị lao động đầu vào

Trang 10

xuất gạo còn Nhật Bản có lợi điểm tuyệt đối về sản xuất xe hơi Như vậy Hoa Kỳxuất khẩu gạo, nhập khẩu xe hơi còn Nhật Bản xuất khẩu xe hơi và nhập khẩugạo Hoa kỳ nên chuyên môn hóa sản xuất gạo và Nhật Bản nên chuyên môn hóasản xuất xe hơi.

Sau khi đã chuyên môn hóa sản xuất, Hoa Kỳ và Nhật Bản tiến hành traođổi thặng dư sản phẩm của mình cho đến khi nào sự trao đổi ấy còn hiệu quả hơntrao đổi nội địa, kết quả trao đổi:

Hàng hóa Hoa Kỳ Nhật Bản

Số tần gạo 3 3

Xe hơi 3 3

Như vậy lý thuyết của Adam smith đã sử dụng yếu tố năng xuất lao động

để định nghĩa lợi thế cạnh tranh,theo ông thì một quốc gia nên lựa chọn nhữngngành sản xuất mà có lợi thế so sánh về năng suất lao động thì sẽ có được lợi thếcạnh tranh trên thị trường và thu được hiệu quả cao nhất

Lý thuyết về lợi thế cạnh tranh thuyết truyền thống của David Ricardo và

lý thuyết của hai nhà kinh tế học Scandinavian, Heckscher và Ohlin Cả haingười, đều dựa trên một loạt các giả định được minh hoạ dưới đây

Giả sử chỉ có hai nước (Phần Lan và Ấn Độ) và hai mặt hàng (dệt và giấy).Lấy K=vốn ($); L=lao động(giờ); r=giá thuê vốn ($); và w=giá đơn vị lao độnghoặc mức lương ($/giờ) Tương tự, lấy Lhàng dệt= số giờ lao động cần để sản xuất ra

1 m hàng dệt và Lgiấy=số giờ cần để sản xuất ra 1 tấn giấy

Mô Hình Lợi Thế Giá Cạnh Tranh Truyền Thống: Như đã so sánh với Ấn

Độ và xem xét lý thuyết giá trị của lao động truyền thống, Phần Lan có lợi thếgiá trị cạnh tranh về sản xuất giấy và Ấn Độ về ngành dệt nếu:

Phần Lan > Ấn Độ hoặc >

Thậm chí nếu Phần Lan có hiệu quả hơn đối với mỗi mặt hàng mà, theo nghĩa:

Ldệt Phần Lan Ldệt Ấn Độ và L giấy Phần Lan < Lgiấy Ấn Độ

Khi trao đổi thương mại diễn ra, Phần Lan nên xuất khẩu giấy sang Ấn Độ

để đổi lấy mặt hàng dệt

Trang 11

Ví dụ: Công nghệ sản xuất hàng dệt và giấy ở Phần Lan và Ấn Độ (tính theo giờquy định để sản xuất ra một mặt hàng)

Vì 15/10 < 20/40 (nói cách khác 10/40 < 15/20, Phần Lan có lợi thế cạnh tranh

về sản xuất giấy và ấn Độ về dệt may)

*Mô Hình Lợi Thế Cạnh Tranh Của Heckscher-Ohlin:

Theo Heckscher - Ohlin thì lợi thế cạnh tranh khác nhau giữa các nước là

do sự khan hiếm tương đối của các yếu tố sản xuất khác nhau, sự khan hiếm khanhiếm khác nhau đó còn do cơ cấu các nguồn lực sẵn có và các giai đoạn pháttriển khác nhau Xem xét mô hình cạnh tranh dưới đây:

Ngành dệt cần nhiều lao động hơn trong sản xuất và giấy cần nhiều vốnhơn nếu:

đối với giấy > đối với ngành dệt

Và Phần Lan nhiều vốn hơn còn Ấn Độ nhiều lao động hơn nếu:

Phần Lan < Ấn ĐộĐiều này có nghĩa là Phần Lan (nơi giá vốn khá rẽ) có lợi thế cạnh tranh vềsản xuất những hàng hoá cần nhiều vốn (như giấy) và ấn Độ (nơi vốn khá đắt vàhiếm) lại có lợi thế cạnh tranh về những mặt hàng cần nhiều lao động Khi traođổi thương mại diễn ra, Phần Lan nên xuất khẩu giấy sang ấn Độ và nhập khẩuhàng dệt

*Cả hai đều cần được minh hoạ bằng mô hình giá cả hàng hoá như bảngdưới đây Từ đó, có thể thấy rằng cứ mỗi 4 tấn giấy Phần Lan xuất bằng đườngbiển sang ấn Độ, họ sẽ thu về hơn 1m vải (và có thể gần 2m), trong khi đó, nếukhông trao đổi cứ mỗi 4 tấn giấy được dùng trong nước sẽ chỉ mua được 1m vải.Tương tự, cứ mỗi m vải ấn Độ xuất sang Phần Lan sẽ thu về được 2 tấn giấy (có

Trang 12

thể lên tới 4 tấn) mà nếu không trao đổi mỗi mét vải bán đi chỉ thu về được 2 tấngiấy.

Giá cạnh tranh của hàng dệt may và giấy ở Phần Lan và ấn Độ trước khi

có trao đổi thương mại

Phần Lan

Nhận xét: trước khi đem trao đổi, vải giá cao hơn ở Phần Lan so với giácủa nó ở Ấn Độ, tức là Phần Lan có lợi thế cạnh tranh về sản xuất giấy và Ấn

Độ về sản xuất hàng dệt may

*Nguốn Gốc hay Cơ Sở Cho Lợi Thế Cạnh Tranh:

-Lợi thế về kỹ thuật: Một nước có thể có lợi thế về kỹ thuật trong sản xuất

cả hai sản phẩm hơn nước kia nhưng sự khác nhau về lợi thế có thể lớn hơn trongmột mặt hàng

-Các khoản thiên phú: Một nước (như Ấn Độ) có thể được thiên phú nhiều

hơn các nước khác (như Phần Lan) về nguồn lực (như lao động) , tài nguyênthiên nhiên sẵn có, đất đai, khí hậu đó là những lợi thế so sánh sẵn có, nhưngkhông hẳn là đó là những lợi thế cạnh tranh nếu như không biết khai thác, biếncái lợi thế so sánh đó thành lợi thế cạnh tranh của mình, ví dụ, như Việt Nam cólợi thế về nguồn lao động dồi dào, tài nguyên thiên nhiên, địa hình 3/4 là đồi núi,đấy là điều kiện, lợi thế rất có lợi cho việc sản xuất các mặt hàng chế biến từ gỗ,nhưng chúng ta phải biết sử dụng lợi thế so sánh đấy như thế nào cho hợp lý, đểbiến thành lợi thế cạnh tranh

Từ cơ sở các học thuyết trên, thấy rằng việc sử dụng lợi thế cạnh tranh

trong một nền kinh tế là quá trình lựa chọn cơ cấu nghành phù hợp, phát huyđược những lợi thế hiện có thành lợi thế cạnh tranh Các hàng hóa khác nhau đòi

Trang 13

hỏi sự kết hợp các yếu tố sản xuất khác nhau, mỗi nước phải lựa chọn một cơ cấungành phù hợp với cơ cấu nguồn lực hiện có.

Cơ cấu các nguồn lực của một quốc gia luôn luôn thay đổi, do đó cách thứckhai thác các nguồn lực cũng phải thay đổi theo Một nền kinh tế khai thác tốt lợithế cạnh tranh sẽ nhanh chóng nhận ra sự thay đổi đó Theo các học thuyết cổđiển, các yếu tố đầu vào của sản xuất bao gồm đất đai, tài nguyên khoáng sản,kết cấu hạ tầng, lao động, vốn trong đó, đất đai hoặc tài nguyên khoáng sản lànhững yếu tố có giới hạn bởi vậy phải " sử dụng như thế nào " Tìm ra một tỉ lệ

sử dụng các nguồn lực và phân bố sản xuất như thế nào cho từng giai đoạn pháttriển của nền kinh tế để khai thác lợi thế cạnh tranh một cách tốt nhất

1.3 Các tiêu chí đánh giá khả năng cạnh tranh

1.3.1 Các tiêu chí thuộc sản phẩm (tính năng, chất lượng, giá cả, sự tiện ích, mẫu mã )

- Tính năng của sản phẩm đó có phù hợp với yêu cầu của khách hàng hay không: Sản phẩm có tính năng, công dụng phù hợp hơn với yêu cầu của khách hàng sẽ có năng lực cạnh tranh cao hơn

- Mức độ hấp dẫn của sản phẩm đó về mẫu mã kiểu cách so với các đối thủ

cạnh tranh Trong quá trình quyết định mua của mình khách hàng thường xemxét mẫu mã, kiểu dáng của sản phẩm có phù hợp với yêu cầu và thị hiếu củamình hay không trước khi tìm hiểu những thông tin khác về sản phẩm

- Mức chênh lệch về giá của mặt hàng đó so với các đối thủ cạnh tranh Rõ

ràng giá cả là một trong những yếu tố quan trọng nhất thể hiện năng lực cạnhtranh của sản phẩm Với hai sản phẩm tương tự nhau, khách hàng sẽ lựa chọn sảnphẩm nào có giá thấp hơn Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của marketing vàquá trình khác biệt hoá sản phẩm hiện nay hầu như không thể tìm thấy hai sảnphẩm hoàn toàn giống nhau trên thị trường Tuy nhiên doanh nghiệp hoàn toàn

có thể định giá cho sản phẩm của mình tùy theo mục đích kinh doanh cụ thể

Doanh nghiệp có thể đi theo chiến lược giá cao hoặc theo chiến lược giá thấp chỉ cần mức giá đó bù đắp được chi phí, bù đắp được chi phí, đạt được mục

Trang 14

ra sự chênh lệch cao hơn so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường đồng thờiđem lại lợi ích cho người tiêu dùng lớn hơn so với các đối thủ cạnh tranh thì sảnphẩm sẽ có sức cạnh tranh lớn hơn trên thị trường, sản phẩm sẽ ngày càng chiếmđược lòng tin của người tiêu dùng, thu hút được nhiều khách hàng, qua đó tăngdoanh số bán hàng và sẽ có được thị trường lớn trên thị trường.

Hay để có thể cạnh tranh bằng chiến lược giá thấp thì doanh nghiệp cần

phải xem xét khả năng hạ giá sản phẩm của đơn vị mình Doanh nghiệp càng cónhiều khả năng hạ giá thì sẽ có nhiều lợi thế hơn so với đối thủ cạnh tranh, tấtnhiên còn nhiều yếu tố liên quan đến như, chất lượng sản phẩm Tuy nhiên khảnăng hạ giá thành còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: chi phí sản xuất, chi phíquản lý, tiềm lực tài chính của doanh nghiệp, khả năng bán hàng, phân phối sảnphẩm Việc hạ giá thành để nâng cao khả năng cạnh tranh sẽ ảnh hưởng trực tiếpđến lợi nhuận của doanh nghiệp Bởi vậy việc định giá cao, giá thấp, giá thế giới,phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố, đặc tính của sản phẩm so với các sản phẩm cùngloai, hay mục đích của doanh nghiệp, cũng như trên từng phân đoạn thị trườngliên quan đến chu kỳ sống của sản phẩm Vì vậy, để đánh giá năng lực cạnhtranh chính xác cần phải đánh giá thêm tiêu chí khác thể hiện năng lực cạnh tranhcủa sản phẩm như

- Mức chênh lệch về chất lượng của sản phẩm so với sản phẩm cùng loại của đối thủ cạnh tranh Ngày nay chất lượng sản phẩm là yếu tố được quan tâm

hàng đầu sản phẩm được coi là có năng lực cạnh tranh nếu các tính năng của sảnphẩm đó vượt trội hơn so với sản phẩm cạnh tranh trên thị trường Yếu tố này cóthể đánh giá thông qua so sánh hai sản phẩm với nhau về chất lượng, độ bền tiệních trong sử dụng…Đây là một trong những yếu tố tương đối dễ so sánh đối với

đa số những sản phẩm đơn giản Tuy nhiên, nhiều sản phẩm phức tạp khách hàngkhông thể đánh giá ngay được chất lượng của sản phẩm Do đó khách hàng sẽđánh giá chất lượng sản phẩm gián tiếp thông qua uy tín của người sản xuất, củanước sản xuất…vì vậy xây dựng uy tín về

Trang 15

1.3.2 Các tiêu chí trên thị trường (doanh số bán, thị phần, tốc độ tăng thị phần, hệ thống phân phối )

- Mức doanh thu của sản phẩm đó trong từng năm: Năng lực cạnh tranh

cũng biểu hiện qua doanh thu của sản phẩm trên thị trường Nếu sản phẩm códoanh thu cao, tốc độ tăng doanh thu cao so với đối thủ cạnh tranh chứng tỏ sảnphẩm có năng lực cạnh tranh cao Chỉ tiêu này thể hiện khả năng chiếm lĩnh thịtrường của sản phẩm so với đối thủ cạnh tranh

Doanh thu = số lượng hàng hóa tiêu thụ * giá cả hàng hóa ( trong một khoảng thời gian nhất định )

- Thị phần của sản phẩm trên thị trường: Thị phần của một hàng hóa trên

thị trường là tỷ lệ phần trăm mà một mặt hàng chiếm lĩnh được trên thị trường đó.Thị phần của hàng hóa A trên thị trường = mA / M

mA: Số lượng hàng hóa A được tiêu thụ trên thị trường

M: Tổng số lượng được tiêu thụ trên thị trường

Độ lớn của chỉ tiêu này nói lên mức độ chiếm lĩnh thị trường của một sảnphẩm Thông qua chỉ tiêu này có thể đánh giá mức độ cạnh tranh của một sảnphẩm so với sản phẩm cùng loại khác

Tuỳ theo loại mặt hàng, thị trường và theo quy mô của thị trường có thểxem xét năng lực cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường, thông qua đánh giá thịphần của sản phẩm đó Một sản phẩm được coi là có năng lực cạnh tranh cao trênthị trường khi chúng chiếm thị phần lớn so với sản phẩm cùng loại được bán trênthị trường Tuy nhiên, cũng phải vận dụng chỉ tiêu này một cách linh hoạt Vớimột số sản phẩm mới ra đời, chưa chiếm lĩnh được thị trường thì không thể sửdụng chỉ tiêu này để đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm đó trên thịtrường vì khi đó phân tích sẽ có sự sai lệch nhất định Đây cũng chính là cơ sở đểhình thành chỉ tiêu thứ 2 nhằm đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm là tốc

độ tăng thị phần của sản phẩm

- Tốc độ tăng thị phần của sản phẩm đó có thể so sánh theo tính lịch sử, tức

Trang 16

Nếu sản phẩm có tốc độ tăng thị phần cao thì sản phẩm có năng lực cạnh tranhcao Và ngược lại nếu thị phần của sản phẩm cạnh tranh tăng nhanh hơn thì sảnphẩm có năng lực cạnh tranh thấp hơn so với sản phẩm cạnh tranh

- Hệ thống phân phối: Hệ thống phân phối cho sản phẩm càng hợp lý thì thị

phần do hàng hoá chiếm lĩnh sẽ càng lớn Hệ thống phân phối được thiết kế hợp

lý so với cách thức phân phối của sản phẩm cạnh tranh khác, vùng với việc đẩymạnh xúc tiến bán hàng sẽ tăng thêm năng lực cạnh tranh của sản phẩm do đápứng được kịp thời yêu cầu của thị trường về số lượng và chất lượng

Một hệ thống phân phối hợp lý bao gồm mạng lưới các cơ sở giúp doanhnghiệp đẩy nhanh tốc độ lưu thông hàng hoá với mọi hình thức bán buôn, bán lẻvừa thích hợp với phong tục, tập quán địa phương, tiện lợi cho người tiêu dùngđồng thời phù hợp với khả năng thanh toán của khách hàng

Kênh phân phối còn giúp khách hàng tiếp cận với các dịch vụ của nhà sảnxuất dễ dàng hơn như dịch dụ trước trong và sau khi bán hàng

1.3.3 Các tiêu chí liên quan đến quan điểm của khách hàng (sự thoả mãn nhu cầu, sự nhận biết tên sản phẩm, sự trung thành với nhãn hiệu )

Trong quá trình phân tích, đánh giá sẽ rất khó khăn cho việc lượng hoá toàn

bộ các yếu tố thể hiện năng lực cạnh tranh của sản phẩm Vì vậy, chúng ta phảikết hợp vừa định lượng vừa định tính nhằm xác định năng lực cạnh tranh thực sựcủa sản phẩm hàng hoá trên thị trường Nếu như trước kia hai yếu tố chất lượng,giá cả có tính chất quyết định đến năng lực cạnh tranh của sản phẩm thì ngày naycùng với quá trình toàn cầu hoá, phạm vi đánh giá các tiêu chí thể hiện năng lựccạnh tranh cần phải được mở rộng hơn Trong quá trình đánh giá cũng cần đưathêm các yếu tố định tính khác như hình ảnh của các doanh nghiệp tham gia thịtrường, hình ảnh của quốc gia, lòng tin của khách hàng đối với sản phẩm, sự thoảmãn của khách hàng đối với sản phẩm, thương hiệu của sản phẩm…

1.3.4 Một số tiêu chí khác

- Tăng trưởng xuất khẩu của sản phẩm: Việc tăng trưởng xuất khẩu sản

phẩm nhanh cho thấy năng lực cạnh tranh của sản phẩm tăng Ngược lại nếu tốc

Trang 17

độ tăng trưởng giảm hoặc đình trệ cho thấy năng lực cạnh tranh của sản phẩmthấp Với những yếu tố khác không đổi, những sản phẩm xuất khẩu tăng trưởngnhanh, dù được thể hiện bằng những con số tuyệt đối nhỏ, cho thấy những sảnphẩm này có năng lực cạnh tranh cao

- Các cơ hội cung: Một số nhân tố quyết định các điều kiện cung và năng

lực cạnh tranh sản phẩm là năng lực của các ngành phụ trợ, khả năng tiếp cậnnguyên liệu thô, công nghệ, năng suất lao động, năng lực cạnh tranh nội địa v.v.Các điều kiện cung và năng lực cạnh tranh càng cao thì tiềm năng xuất khẩu càngcao, với điều kiện các yếu tố khác không đổi

- Ưu tiên quốc gia: Chính phủ các nước đều đề ra các ưu tiên trong hầu hết

các chiến lược xuất khẩu của mình Những ưu tiên này phần nào phản ánh nhữngnhận định kinh tế, như tốc độ tăng trưởng, hình thái cầu thế giới và tình hìnhcung sản phẩm đó trên thị trường Tuy nhiên, những ưu tiên này cũng phản ánhnhững mối quan tâm khác như an ninh lương thực, cung của thị trường nội địa,tạo việc làm, ưu tiên vùng, tiến bộ công nghệ v.v Đối với những sản phẩm màChính phủ ưu tiên, Chính phủ cũng sẽ có những hình thức hỗ trợ đặc biệt như cácchính sách khuyến khích, ưu tiên đầu tư Do đó, nếu những yếu tố khác khôngđổi, khi sản phẩm càng được ưu tiên thì năng lực xuất khẩu càng lớn

- Chất lượng môi trường và xã hội của sản phẩm xuất khẩu: Giá trị của sản

phẩm xuất khẩu có thể được phản ánh không chính xác nếu chỉ xét trên yếu tốkinh tế vì nó còn có những tác động phụ và/hay những tác động ngoại lai tích cựchoặc tiêu cực Những ví dụ rõ rệt nhất là những tác động ngoại lai liên quan đếnmôi trường, sản phẩm xuất khẩu có thể có những tác động tiêu cực lớn hoặc nhỏđối với môi trường tuỳ theo công nghệ được áp dụng Những chi phí này xã hộiphải gánh chịu, chứ không phải là người nhập khẩu hay thị trường Những tácđộng tích cực bao gồm tạo việc làm, trực tiếp hỗ trợ những nhóm người nghèo,nâng cao hơn sự tham gia và tầm quan trọng của phụ nữ Do đó, xuất khẩu sảnphẩm có tiềm năng tạo ra nhiều việc làm, không gây ra hoặc chỉ gây ra nhữnghậu quả thấp đối với môi trường, mang lại những lợi ích đặc biệt cho phụ nữ vàngười nghèo, đặc biệt ở vùng nông thôn, cần được chú ý nhiều hơn, với điều kiện

Trang 18

những yếu tố khác không đổi Hiện nay nhiều thị trường nhập khẩu đã sử dụngtiêu chí này để áp dụng các rào cản thương mại đối với một số sản phẩm như sảnphẩm dệt may phải áp dụng tiêu chuẩn SA8000…Nếu sản phẩm của nước nào đóđáp ứng được tốt hơn các tiêu chuẩn về môi trường và xã hội sẽ có năng lực cạnhtranh cao hơn

1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh

Có hàng loạt nhân tố có tính chất lịch sử, kinh tế - xã hội chi phối năng lựccạnh tranh của sản phẩm Tuỳ theo bản sắc dân tộc, thói quen tiêu dùng, cơ chếquản lý, mức thu nhập dân cư…để có cách xác định chỉ tiêu biểu hiện năng lựccạnh tranh của sản phẩm Nếu như mức thu nhập thấp, khi mua hàng vấn đềngười mua hàng quan tâm đầu tiên là giá cả Chẳng hạn ở Việt Nam trong nhữngnăm qua, mặc dầu người tiêu dùng đều biết sản phẩm dệt may giá rẻ của TrungQuốc có chất lượng thấp hơn nhiều so với sản phẩm dệt may của Việt Namnhưng hàng dệt may Trung Quốc vẫn tràn ngập thị trường Việt Nam Tuy nhiên,khi thị trường đã phát triển, người tiêu dùng lại quan tâm nhiều hơn đến kiểudáng, mẫu mã mầu sắc và độ bền của sản phẩm

Trong điều kiện thu nhập thấp người tiêu dùng thường quan tâm tới độ bềncủa sản phẩm, song khi thu nhập tăng thêm (tuy không tăng nhiều) thì cách đánhgiá và nhìn nhận tiện ích của sản phẩm cũng thay đổi Ví dụ, khi có mứcGDP/người 200 USD, người Việt Nam thích mặc áo pha nilon vì nó bền Đến khiGDP/người tăng lên 300 USD, người tiêu dùng lại ưa thích sử dụng các loại quần

áo có 100% cotton hơn

Cũng có nhiều quan điểm cho rằng việc tổ chức tiêu thụ theo các kênh phânphối có ảnh hưởng nhiều đến năng lực cạnh tranh của sản phẩm Điều này chỉđúng với các quốc gia có mạng lưới siêu thị tốt và người tiêu dùng thường lui tới

để mua hàng Còn ở Việt Nam, người tiêu dùng lại thích mua hàng ở các chợ cóc,chợ xanh hơn là mua hàng ở các siêu thị Do đó khó có thể tiêu thụ với khốilượng lớn Sự phát triển của khoa học kỹ thuật cũng có ảnh hưởng lớn đến hìnhthức tiêu thụ sản phẩm Khi mà thương mại điện tử phát triển, người tiêu dùng

Trang 19

mua hàng theo dịch vụ internet thì việc cung cấp trên mạng và dịch vụ manghàng đến tận nhà có thể trở thành phương thức tiêu thụ tốt hơn…

Qua sự phân tích nói trên có thể thấy rằng, có rất nhiều yếu tố chi phối đếnnăng lực cạnh tranh của sản phẩm-hàng hoá-dịch vụ như: giá cả; chất lượng; nhucầu thị trường; lao động; công nghệ; môi trường kinh doanh…Vì thế, muốn nângcao năng lực cạnh tranh bất cứ một sản phẩm nào cũng cần phải kết hợp tất cảnhững yếu tố nói trên trong điều kiện có thể Đồng thời, phải thực hiện hàng loạtcác biện pháp và duy trì ở mức tối ưu các mối quan hệ đa tầng và đa chiều Tuynhiên, xem xét tất cả những yếu tố và điều kiện nói trên, chúng ta có thể nhậnthấy rằng việc áp dụng chúng đều hướng tới mục tiêu: nâng cao chất lượng và hạthấp giá thành sản phẩm nhằm mở rộng thị trường Ngược lại khi sản phẩm-hànghoá-dịch vụ có năng lực cạnh tranh tốt thì mới có khả năng vật chất và kỹ thuật

để tái đầu tư cho hoạt động sản xuất, nâng cao chất lượng và hạ giá thành

Chất lượng sản phẩm và giá cả hàng hoá là hai yếu tố quan trọng hàng đầu.Hai yếu tố này gắn liền với những thuộc tính vốn có của hàng hoá góp phần tạonên giá trị của sản phẩm Đây có thể nói là hai yếu tố có ảnh hưởng lớn đến nănglực cạnh tranh của sản phẩm đặc biệt là trong điều kiện tự do hoá thương mại.Quá trình tự do hoá thương mại đang tiến lại rất gần thì vấn đề còn lại của cácsản phẩm xuất khẩu là: chất lượng và giá cả, khả Nhưng giá cả sản phẩm cũngphụ thuộc vào các yếu tố công nghệ, mẫu mã, chi phí đầu vào, cơ sở hạ tầng… Phân tích trên cho thấy có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnhtranh của sản phẩm Trong đó, ngoài các yếu tố được coi là căn bản và cổ điểnnhư chất lượng, giá cả… còn nhiều yếu tố khác ảnh hưởng đến năng lực cạnhtranh của sản phẩm như năng lực cạnh tranh của ngành, năng lực cạnh tranh quốc gia

1.4.1 Các nhân tố thuộc ngành

a Các nhân tố bên trong

- Các yếu tố sản xuất, đó là những yếu tố đầu vào cần thiết cho quá trình

sản xuất Nó bao gồm lao động, đất đai, tài nguyên, vốn, cơ cấu, cơ sở hạ tầng…Các yếu tố sản xuất được chia thành hai loại là các yếu tố chủ yếu và những yếu

Trang 20

nghề, vốn, công nghệ, cơ sở hạ tầng đây là những yếu tố được do con người tạo

ra Những yếu tố không chủ yếu hay những yếu tố thông dụng như lao động phổthông và những nguyên vật liệu mà mọi ngành đều có thể sở hữu, do đó khôngthể tạo nên một năng lực cạnh tranh bền vững được Vì vậy những yếu tố chủ yếucần phải được đầu tư và duy trì

- Kinh nghiệm của người lao động hoặc trình độ chuyên môn của họ sẽ

quyết định đến năng suất, chất lượng của sản phẩm

- Đầu tư vào công nghệ: Nếu đầu tư vào công nghệ cao sẽ tạo ra những sản

phẩm có chất lượng phù hợp hơn với yêu cầu của người tiêu dùng hiện tại, đây làmột phương pháp hữu hiệu để sản phẩm chiếm được lòng tin của khách hàng trênphạm vi rộng

- Đầu tư vào con người: Con người được đầu tư cùng lúc với đầu tư công

nghệ sẽ tăng khả năng sáng tạo, nâng hàm lượng chất xám làm cho sản phẩm cótính độc đáo, chiếm lĩnh thị trường ở mức độ cao hơn Nói cách khách nếu đầu tưvào con người sẽ làm tăng năng lực cạnh tranh của sản phẩm

b Nhóm nhân tố bên ngoài

Các nhân tố tác động đến năng lực cạnh tranh của sản phẩm bao gồm nhữngyếu tố bên ngoài như nhu cầu thị trường, liên kết ngành, môi trường cạnh tranh

và những công cụ tác động đến năng lực cạnh tranh của sản phẩm và các biệnpháp nhằm xây dựng “sức mạnh” hay “tính vượt trội” cho hàng hoá so với đối thủ khác

- Về nhu cầu thị trường, khi thị trường khó tính các doanh nghiệp sẽ tiếp

xúc với những khách hàng khó tính từ đó hiểu rõ hơn về nhu cầu và sở thíchngười tiêu dùng Nếu muốn tăng năng lực cạnh tranh thì các doanh nghiệp sảnxuất cần phải trực tiếp tiếp xúc với khách hàng tinh tế và khó tính Phân tích vànghiên cứu đầy đủ về quy mô và thị phần của nhu những khách hàng thông thạoInternet, những người mua hàng di động, phải có năng lực quan sát và đáp ứng

xu hướng thị trường

- Vấn đề liên kết ngành, đặc biệt là hợp tác liên kết quốc tế bao gồm

những nhà cung cấp và các ngành liên quan thường xảy ra ở cấp độ khu vực hơn

Trang 21

là cả nước Khả năng duy trì các liên kết quốc tế có tầm quan trọng ngày cànglớn đối với các nước đang phát triển (UNCTAD, 1999) Do quá trình toàn cầuhoá, tự do hoá thương mại và quá trình hội nhập diễn ra ngày càng sâu rộng, vịthế cạnh tranh của các sản phẩm của các nước đang phát triển ngày càng xoayquanh khả năng thiết lập các liên kết quốc tế của các doanh nghiệp và các ngành,

- Môi trường cạnh tranh Sự phát triển của năng lực cạnh tranh của sản

phẩm chịu ảnh hưởng bởi các chính sách của chính phủ Chính phủ đóng vai tròthen chốt trong việc tạo ra môi trường cạnh tranh, tính cạnh tranh Cụ thể là tácđộng đến nội dung và phạm vi của các hoạt động xuất nhập khẩu, các yếu tố vềmôi trường thể chế, chính sách, các mối liên kết xuyên quốc gia Các chính sách

và biện pháp của chính phủ đóng vai trò quan trọng, đặc biệt ở các nước đangphát triển Cần xác xây dựng các chương trình và sử dụng các công cụ nhằm tạođiều kiện thuận lợi cho các ngành nâng cao năng lực cạnh tranh cho sản phẩmcủa mình Tuy nhiên, việc phân tích các chương trình cụ thể này phải xem xétcác điều kiện và khuôn khổ kinh tế tổng thể, bằng cách kiểm soát ảnh hưởng củacác nhân tố như ổn định kinh tế vĩ mô, sự cởi mở trong chính sách thương mại vàchế độ đầu tư

- Năng lực tiếp thị ở tầm vĩ mô: Khả năng thu thập, phân tích thông tin của

các cơ quan đại diện chính phủ ở nước ngoài, các cơ quan nghiên cứu tầm cỡquốc gia Các chiến lược phối hợp quốc gia, chính sách thương mại trong việc hỗtrợ sản phẩm thâm nhập thị trường nước ngoài như chính sách thuế, chương trìnhtín dụng, hỗ trợ thông tin cho doanh nghiệp trong xúc tiến thương mại- tìm kiếmkhách hàng, khuyến khích và ưu đãi đầu tư ra nước ngoài

- Năng lực tổ chức tiếp thị ở tầm vi mô phụ thuộc vào trình độ nghiệp vụ,

khả năng thu thập và phân tích thông tin của nhân viên nghiệp vụ marketing Khảnăng khám phá thị trường và tiếp cận thị trường với phí tốn thấp nhất Cách thựclựa các chiến lược, kỹ thuật phù hợp với loại sản phẩm để áp dụng vào công táctiếp thị như quảng cáo, phân phối tài liệu, hội chợ, khuyến mãi nhằm tăng thịphần hàng hoá

Trang 22

Sản phẩm sẽ thực sự có giá trị, có năng lực cạnh tranh khi bản thân nó cóthương hiệu vì trong thực tế khách hàng thường chọn một loại sản phẩm mangthương hiệu thoả mãn với mong muốn của họ trong hàng trăm thương hiệu củacác sản phẩm cùng loại trên thị trường Do nhãn hiệu này đã in đậm trong tâm trícủa họ tạo nên sự trung thành của khách hàng đối với sản phẩm Vì vậy, vớinhững sản phẩm mới tham gia thị trường chưa có uy tín, tiếng tăm thường ápdụng chiến lược “sản xuất dán nhãn” hay “mượn” thương hiệu của những hànghoá mang đẳng cấp quốc tế để “dán” vào hàng hoá do mình sản xuất nhằm nângcao năng lực cạnh tranh

Ngày nay, cùng với xu hướng toàn cầu hoá, việc xác định, đo lường nănglực cạnh tranh quốc tế của sản phẩm đang ngày càng thu hút được sự quan tâmcủa các nhà kinh tế, đặc biệt trong việc phân tích kinh tế quốc tế Tuy nhiên, dotính phức tạp, đa phương diện, đa chiều của lĩnh vực nghiên cứu, cho nên rất khó

có sự thống nhất giữa các nhà nghiên cứu kinh tế ngay từ các khái niệm về nănglực cạnh tranh sản phẩm trong thương mại quốc tế Vì vậy, trên thực tế có rấtnhiều cách tiếp cận khi tiến hành phân tích, đo lường năng lực cạnh tranh sảnphẩm theo các góc độ khác nhau

1.4.2 Mô hình về lợi thế cạnh tranh ngành ( mô hình 5 nhân tố của M.Porter )

Theo quan điểm của M.porter các nhân tố ảnh hưởng tới sức cạnh tranh củahàng hóa có thể tổng hợp thành 5 nhóm nhân tố cơ bản và được coi là năm sứcmạnh tác động đến cạnh tranh của hàng hóa trên thị trường Và thông qua năm

Trang 23

nhóm nhân tố này chúng ta có thể đánh giá được thực trạng sức cạnh tranh hàng

Mô hình 1.1 Mô hình cạnh tranh 5 nhân tố của M.Porter

Các đối thủ cạnh tranh hiện tại

Các đối thủ cạnh tranh hiện tại là những công ty, doanh nghiệp đang hoạtđộng sản xuất kinh doanh trong một ngành nhất định, những công ty, doanhnghiệp này đã vượt qua những rào cản để xâm nhập vào ngành hoặc những hãngmuốn rút lui nhưng chưa có cơ hội

Các đối thủ cạnh tranh hiện tại của trong ngành quyết định mức độ và tínhchất tranh đua nhằm giành giật lợi thế trong ngành mà mục đích cuối cùng là giữvững và phát triển thị phần hiện có, đảm bảo có thể có được mức lợi nhuận caonhất Chúng ta có thể đánh giá sức cạnh tranh hàng hóa của doanh nghiệp qua đốithủ cạnh tranh hiện tại bằng cách so sánh tương quan giữa doanh nghiệp ta và đốithủ hiện tại về thị phần hàng hóa chiếm lĩnh hiện tại, về môi trường sản xuất, vềtiềm năng Nếu mọi yếu tố trên mà đối thủ cạnh tranh hiện tại tốt hơn thì sảnphẩm của doanh nghiệp kém sức cạnh tranh hơn và ngược lại

Nhiệm vụ của mỗi doanh nghiệp là tìm kiếm thông tin, phân tích đánh giáchính xác mục đích tương lai, các nhận định, các tiềm năng và chiến lược hiện tại

Sản phẩm thay thế

Nhà cung ứng Các đối thủ cạnh

tranh hiện tại

Đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn

Khách hàng

Trang 24

của những đối thủ cạnh tranh hiện tại, đặc biệt là đối thủ cạnh tranh hiện tại chính

để là cơ sở đánh giá được sức cạnh tranh của mình trên thị trường để xây dựngchiến lược cạnh tranh thích hợp với môi trường chung

Trang 25

Đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn

Khi một ngành có sự tăng thêm về số lượng các đối thủ cạnh tranh mới thì

hệ quả có thể là tỷ suất lợi nhuận bị giảm và tăng thêm mức độ cạnh tranh Cácđối thủ cạnh tranh mới tham gia vào thị trường sau, nên họ có khả năng ứng dụngnhững thành tựu mói của khoa học, công nghệ Sự xuất hiện của một đối thủcạnh tranh mới trong ngành thường thông qua việc mua lại các doanh nghiệpđang hoạt động, nhưng đang có ý định rút lui khỏi ngành

Không phải bao giờ cũng gặp phải các đối thủ cạnh tranh tiềm tàng, nhưngkhi đối thủ mới xuất hiện thì vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp sẽ thay đổi Vìvậy, doanh nghiệp cần tự tạo một hàng rào ngăn cản sự xâm nhập của đối thủmới Những hàng rào này là lợi thế sản xuất theo quy mô, đa dạng hóa sản phẩm,dịch vụ, chi phí chuyển đổi mặt hàng cao, khả năng hạn chế xâm nhập các kênhtiêu thụ

Các nhà cung ứng

Các nhà cung ứng bao gồm các nhà cung cấp các yếu tố đầu vào cho hoạtđộng của một công ty, như các nhà cung cấp vốn, nguyên liệu Các nhà cungứng có thể gây áp lực khá mạnh tới hoạt động của công ty Cho nên, việc phântích và tìm hiểu các nhà cung ứng là vấn đề quan trọng trong quá trình phân tíchcạnh tranh

Trong điều kiện cạnh tranh gay gắt thì vai trò của khách hàng càng trở nênquan trọng và cần được ưu tiên hơn Một doanh nghiệp không thể thỏa mãn đượctất cả nhu cầu của các loại khách hàng cho nên nhất thiết các doanh nghiệp phảiphân loại khách hàng thành các nhóm khác nhau Trên cơ sở đó mới tiến hành

Trang 26

phân tích và đưa ra các chính sách thích hợp để thu hút ngày càng nhiều kháchhành về phía mình.

Sản phẩm thay thế

Sức ép do xuất hiện sản phẩm thay thế làm hạn chế lợi nhuận tiềm năng củangành do mức giá cao nhất bị khống chế Nếu không chú ý tới các sản phẩm thaythế tiềm ẩn, doanh nghiệp có thể bị tụt lại ở các thị trường nhỏ bé Vì vậy, cáchãng không ngừng nghiên cứu và tung ra các mặt hàng thay thế Muốn đạt thànhcông thì phải luôn cập nhật các công nghệ mới của nhân loại vào sản xuất và hoạtđộng kinh doanh

1.4.3 Mô hình phân tích SWOT

SWOT viết tắt của 4 từ: Thế mạnh ( Strenghts ); điểm yếu ( Weaknesses );

cơ hội ( Opportunities ); đe dọa ( Threats )

Là mô hình được dùng phổ biến trong thực tế để đánh giá hoạt động củamột công ty, một ngành từ đó rút ra được những chiến lược hợp lý cho hoạt độngcủa công ty hoặc cho ngành đó trong thời gian tới

Mô hình này bao gồm 2 mảng: S-W, là các nhân tố bên trong, chủ quannhư nhân sự, tài chính, công nghệ, uy tín, tiếng tăm, mối quan hệ, văn hóa,truyền thống của tổ chức,

O-T, là nhân tố đến từ môi trường bên ngoài vì những nhân tố đó đến từmôi trường khách quan Những khía cạnh liên quan đến cơ hội và mối đe dọa cóthể do sự biến động của nền kinh tế ( tăng trưởng hay suy thoái ), sự thay đổitrong chính sách của Nhà nước, cán cân cạnh tranh thay đổi Nếu như việc phântích này được thực hiện một cách kỹ lưỡng và sáng suốt, các chiến lược cấpngành đề ra có thể nắm bắt được các cơ hội và sẵn sàng đối phó với các đe dọa

có thể xảy ra

1.5 Sự cần thiết phải nâng cao khả năng cạnh tranh

Nâng cao khả năng cạnh tranh sản phẩm xuất khẩu là yêu cầu khách quan

và sống còn của các nhà kinh doanh quốc tế Ngày nay với xu hướng quốc tế hóa,hội nhập hóa dường như thị trường thế giới đã trở thành một thể thống nhất, cácrào cản thương mại ngày càng giảm thiểu, bởi vậy các công ty muốn tồn tại và

Trang 27

phát triển, đặc biệt trong hoạt động xuất khẩu thì việc nâng cao khả năng cạnhtranh của hàng hóa là một tất yếu, đem lại ý nghĩa hết sức to lớn.

Đối với các doanh nghiệp, sản phẩm có sức cạnh tranh hơn thì đồng nghĩavới doanh thu và thị phần sẽ tăng trưởng, việc thâm nhập và chiếm lĩnh thịtrường mới sẽ dễ dàng hơn, đồng thời củng cố được vị thế của mình ở thị trượnghiện tại

Việc nâng cao khả năng cạnh tranh góp phần đem lại cho người tiêu dùngnhiều cơ hội hơn trong việc lựa chọn những sản phẩm cùng loại, với mức giá rẻ hơn

1.6 Kinh nghiệm nâng cao khả năng cạnh tranh sản phẩm đồ gỗ của Trung Quốc và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

1.6.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc

Trung Quốc là thị trường cung cấp lớn nhất về sản phẩm đồ gỗ cho các thịtrường nhập khẩu, các sản phẩm đồ gỗ của Trung Quốc có khả năng cạnh tranhlớn Đây là kết quả điều chỉnh của Chính phủ Trung Quốc mang lại nhằm nângcao khả năng cạnh tranh sản phẩm đồ gỗ Trung Quốc trên thị trường thế giới.Trung Quốc hầu như đã giải quyết được vấn đề đảm bảo nguyên liệu gỗ, do tậndụng nguồn tài nguyên rừng phong phú sẵn có Một trong những biện pháp quantrọng nhất mà Chính phủ Trung Quốc đã làm thành công là không ngưng khuyếnkhích và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có cơ hội trực tiếp tham gia quátrình sản xuất nguyên liệu (trồng rừng, mua rừng ở cả trong nước và nước ngoài).Hiện nay, nguồn nguyên liệu trong nước đã đáp ứng khoảng 70% nhu cầu gỗnguyên liệu của Trung Quốc

Bên cạnh với việc đảm bảo nguồn nguyên liệu, việc tận dụng nguồn nhâncông rẻ dồi dào cũng là một bước đi quan trọng góp phần nâng cao năng lực cạnhtranh của sản phẩm gỗ nội thất trên thị trường thế giới Trung Quốc là quốc gia

có tới hơn một tỷ dân, và hầu như có thể đáp ứng mọi nhu cầu về nguồn nhâncông cho các ngành nghề Để tận dụng lợi thế, Trung Quốc đã chủ động xâydựng các doanh nghiệp đồ gỗ lớn mạnh Tập trung thu hút các nhà đầu tư nướcngoài cũng như không ngừng đổi mới công nghệ để có thể sử dụng các máy móchiện đại, nó cho phép các doanh nghiệp chế biến Trung Quốc có thể tiến hành

Trang 28

sản xuất hàng loạt Đây có lẽ là điều mà các doanh nghiệp Việt Nam nên học tậpTrung Quốc.

Có thể nói việc Trung Quốc có được vị thế và nâng cao năng lực cạnhtranh sản phẩm đồ gỗ đó là do, Trung Quốc đã tận dụng được các lợi thế so sánhnhư về: nguồn lao động dồi dào, tài nguyên thiên nhiên phong phú và đã biếncác lợi thế so sánh đó thành lợi thế cạnh tranh, Trung Quốc bên cạnh việc cónguồn nhân lực dồi dào, đồng thời tiến hành đào tạo nâng cao tay nghề cho laođộng, bên cạnh việc khai thác nguồn tài nguyên rừng phong phú đồng thời tiếnhành việc sản xuất vùng nguyên liệu để đảm bảo đáp ứng được nhu cầu vềnguyên liệu sản xuất, cắt giảm được chi phí mua nguyên liệu từ bên ngoai Bởivậy hàng hóa trung Quốc có giá thưởng rẻ hơn các sản phẩm khác cùng loại màchất lượng lại cao, nên các đối thủ khác rất khó cạnh tranh với hàng hóa TrungQuốc về giá

Một trong những thành công của việc hàng hóa Trung Quốc có sức cạnhtranh cao đó là việc, Trung Quốc xây dựng được các mối quan hệ quan trọng vớicác đối tác trên thị trường từ đó thiết lập được các hệ thống phân phối rộng khắptrên thị trường Đó là kết quả của việc hình thành các cục xúc tiến xuất khẩu cácsản phẩm gỗ, cung cấp thông tin thường xuyên tại các thị trường này

1.6.2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Việt Nam là một nước có nhiều lợi thế so sánh cạnh tranh, có nguồn laođộng dồi dào, nguồn tài nguyên đất, rừng, phong phú, khí hậu thuận lợi nhưngchúng chúng ta chưa khai thác được hết các lợi thế đó mà thậm chí nhiều khi cònlàm mất đi các lợi thế cạnh tranh đó Bởi vậy chúng ta cần phải học hỏi từ TrungQuốc, một nước đã biết tận dụng rất tôt các lợi thế sẵn có, và đã đạt được nhữngthành công nhất định Bên cạnh đó Việt Nam cũng cần phải thu hút đầu tư từnước ngoài để thu hút vốn, công nghệ mới, hiện đại Để nâng cao được sức cạnhtranh trên thị trường thì các doanh nghiệp trong ngành gỗ phải liên kết lại vớinhau để tăng khả năng cạnh tranh với các đối thủ trên thị trường, đây cũng làđiều mà Trung Quốc đã thực hiện rất tốt và chúng ta cần phải học hỏi

Trong những năm gần đây, ngành chế biến gỗ xuất khẩu Việt Nam đã có

Trang 29

VIệt Nam với kim ngạch xuất khẩu đạt trên 1 tỷ USD Kim ngạch xuất khẩu tăngtrưởng liên tục qua các năm (thường là 30 - 40 % / năm), sản phẩm gỗ Việt Nambắt đầu có chỗ đứng trên thị trường thế giới, có khả năng cạnh tranh lớn so vớicác nước khác (như: Trung Quốc, Thái lan, Inđônêsia, Malaysia, Philippines).Tuy nhiên, khả năng cạnh tranh sản phẩm đồ gỗ Việt Nam trên thị trường thếgiới nói chung và thị trường Nhật Bản nói riêng vẫn còn nhiều hạn chế.

Trang 30

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA SẢN PHẨM ĐỒ GỖ VIỆT NAM TRÊN THỊ TRƯỜNG

NHẬT BẢN

2.1 Tổng quan về thị trường Nhật Bản

2.1.1 Khái quát về nền kinh tế Nhật Bản

Với dân số 127,2 triệu người, GDP đạt 545,5 ngàn tỷ yên ( 4.326,4 tỷUSD), GDP bình quân đầu người đạt 34.012 USD (2003), Nhật bản là thị trườngtiêu thụ lớn thứ 2 trên thế giới sau Hoa Kỳ, đồng thời cũng là nước nhập khẩu lớnvới kim ngạch xuất khẩu hàng năm lên tới 350 - 400 tỷ USD Trong nền kinh tếNhật Bản, dịch vụ có vai trò quan trọng nhất, hàng năm các ngành dịch vụ chiếmtới trên 60% GDP của Nhật Bản, tiếp theo là các ngành công nghiệp, nôngnghiệp chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ hơn nhiều trong GDP Tỷ trọng các ngành kinh tếtrong cơ cấu GDP của Nhật Bản như sau: công nghiệp chiếm 30,9%, nôngnghiệp chỉ chiếm 1,4%, dịch vụ chiếm 67,7% ( 2005) Cán cân thương mại củaNhật Bản luôn nghiêng về xuất khẩu Nhật Bản xuất khẩu chủ yếu là các loạithiết bị điện, điện tử, máy móc thiết bị, phương tiện vận tải trong khi nhập khẩulớn nguyên, nhiên liệu và nông sản

Sản xuất công nghiệp của Nhật Bản chủ yếu phụ thuộc vào nguyên liệunhập khẩu ( khoảng 90% nhu cầu năng lượng của Nhật Bản phải nhập từ nướcngoài, đặc biệt là dầu mỏ) Thành tựu kinh tế Nhật Bản chủ yếu tập trung trongngành chế tạo Nhật Bản đứng đầu thế giới về sản xuất ô tô, xe máy và là mộttrong những nước hàng đầu về đóng tầu, sản xuất sắt thép, sợi tổng hợp, hóachất, xi măng

Các đối tác thương mại lớn của Nhật Bản là các nước Châu Á, Bắc Mỹ( chủ yếu là Hoa Kỳ) và EU Nhật Bản xuất khẩu chủ yếu sang Châu Á ( chiếm45% - 50% kim ngạch xuất khẩu của nước này ) , nhất là sang các nước và vùnglãnh thổ Đông Á gồm các nền kinh tế mới công nghiệp hóa ( Hàn Quốc, HồngKông, Đài Loan, Singapore ) và Trung Quốc, trong khi cũng nhập khẩu chủ yếu

từ các nguồn này ( Hoa Kỳ, Trung Quốc, EU ) và từ Trung Đông

Trang 31

2.1.2 Khái quát mối quan hệ thương mại Việt Nam-Nhật Bản

Sau khi thiết lập quan hệ ngoại giao từ năm 1973, Việt Nam và Nhật Bản đãphát triển các mối quan hệ trên mọi lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực kinh tế Hiệnnay Nhật Bản là đối tác thương mại lớn thứ hai của Việt Nam sau Hoa Kỳ, là mộttrong ba nhà đầu tư nhiều nhất vào Việt Nam Năm 2002, lãnh đạo cấp cao hainước thống nhất xây dựng quan hệ Việt Nam-Nhật Bản theo phương châm "đốitác tin cậy, ổn định lâu dài" Trong chuyến thăm Việt Nam 7/2004 của Ngoại

trưởng Nhật Bản, hai bên đã ký Tuyên bố chung "Vươn tới tầm cao mới của đối tác bền vững".

Điểm nổi bật trong mối quan hệ song phương ấy chính là viện trợ ODA.Liên tục nhiều năm liền, Nhật đứng đầu danh sách các nhà tài trợ ODA cho ViệtNam Tại Hội nghị nhóm tư vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam (CG) mới đây, mộtlần nữa, Nhật lại khẳng định vị trí đứng đầu của mình với cam kết tài trợ ODAtrong năm 2006 trị giá 835,6 triệu USD Nhờ nguồn vốn ODA này, nhiều côngtrình trọng điểm góp phần phát triển kinh tế xã hội của VN đã và đang được tiếnhành, tiêu biểu như dự án Quốc lộ 1A, Nhà máy điện Phú Mỹ 2-1, Đại lộ Đông -Tây (Tp HCM), cầu Bãi Cháy, cầu Thanh Trì, đường hầm xuyên đèo Hải Vân Bước sang năm 2007, một năm được đánh giá là năm tăng tốc của ViệtNam trong quá trình hội nhập khu vực và hội nhập quốc tế, chúng ta hy vọng,quy mô quan hệ kinh tế, thương mại giữa Việt Nam và Nhật Bản sẽ được mởrộng hơn nữa, để Nhật có thể trở thành một trong những đối tác thương mại hàngđầu của Việt Nam

2.1.3 Khái quát về thị trường Nhật Bản

Nhật Bản là một trong những nước có nền công nghiệp phát triển mạnh vàđứng hàng đầu thế giới Nhưng do đặc điểm về địa lý, Nhật Bản là một trong sốnhững nước rất hiếm về tài nguyên thiên nhiên, ngoại trừ nguồn hải sản, do đóhầu hết các sản phẩm gia dụng, trang trí nội ngoại thất đều phải nhập khẩu

Xu hướng tiêu dùng và sính đồ ngoại của người Nhật Bản ngày càng giatăng và sức tiêu thụ của thị trường này rất lớn, vào khoảng 3,000 tỷ Yên, baogồm cả hàng gia dụng, trong đó đồ gỗ nhập khẩu chiếm 37% thị phần tại thịtrường Nhật Nhật Bản là thị trường tiêu thụ sản phẩm gỗ lớn nhất trên thế giới,

Trang 32

đặc biệt trong xã hội công nghiệp với mức độ rất cao như hiện này, người Nhậtngày càng có nhu cầu sử dụng đồ vật bằng chất liệu gỗ thay thế các vật liệu sắt,nhôm… Nhập khẩu các mặt hàng đồ gỗ nội thất có xu hướng tăng trưởng khánhanh ở Nhật còn do qúa trình chuyển sản xuất các đồ gỗ giá rẻ sang khu vựcĐông Nam Á là nơi có nhân công rẻ, nguồn nguyên liệu dồi dào, chi phí nhậpkhẩu thấp và đặc biệt là nỗ lực của các nhà nhập khẩu Nhật Bản giảm chi phítrong khâu phân phối đã cho phép giảm giá bán đồ gỗ nhập khẩu.

Về cơ cấu mặt hàng nhập khẩu, mặt hàng ghế gỗ chiếm 28,6% tổng giá trị

đồ gỗ nhập khẩu, đồ gỗ sử dụng trong văn phòng, đồ gỗ sử dụng trong nhà bếp,

đồ gỗ sử dụng trong phòng ngủ và cho mục đích khác chiếm 71,4% (năm 2002).Trong các loại ghế gỗ, các loại ghế nệm khung gỗ bọc da, ghế nệm khung gỗ bọcvải chiếm tỷ trọng 94%

Đồ gỗ nhập khẩu vào thị trường Nhật Bản chủ yếu bao gồm đồ gỗ cao cấpnhập từ Châu Âu (Italia, Đức, Áo, Đan Mạch), Mỹ và một khối lượng từ cácnước ASEAN Đồ nội thất của Mỹ và Châu Âu (đặc biệt là Italia và Đức) thu hútngười tiêu dùng Nhật Bản do kiểu cách đẹp, chất lượng tốt và uy tín nhãn hiệuhàng hoá cao Nhiều sản phẩm nhập từ châu Á là sản phẩm sản xuất dưới dạngOEM (còn gọi là "mặt hàng nhập khẩu phát triển") từ các cơ sở của Nhật đónggói tại nước ngoài Các sản phẩm này thay đổi ít nhiều về thiết kế so với các sảnphẩm sản xuất tại Nhật

Trong những năm gần đây hàng đồ gỗ xuất xứ Trung Quốc và Mỹ tăngđáng kể ở Nhật Bản Đài Loan chuyển từ việc xuất khẩu đồ mây tre sang xuấtkhẩu đồ gỗ và đồ kim loại Philipine đã thay đổi việc xuất khẩu mây tre sangNhật bằng các hàng nội thất đắt tiền có chất lượng cao do nguồn mây tre trongnước giảm Thái Lan chủ yếu cung cấp hàng đồ gỗ cao su Các nước ASEAN đã

có tiến bộ rất nhiều về chất lượng và kiểu dáng, tuy nhiên các sản phẩm của cácnước ASEAN trước khi nhập khẩu vào thị trường Nhật Bản vẫn phải trải qua cáccuộc kiểm tra khắt khe

Nói chung, đồ gỗ giá rẻ được nhập khẩu từ Trung Quốc, Đài Loan và cácnước ASEAN, trong khi đó đồ gỗ cao cấp được nhập từ Châu Âu, Mỹ Nhậpkhẩu từ Trung Quốc tăng mạnh trong những năm gần đây Bắt đầu từ năm 2000,

Trang 33

Trung Quốc đứng đầu các nước xuất khẩu đồ gỗ sang Nhật Nhập khẩu từ TháiLan, Indonesia và các nước ASEAN khác cũng tăng Trong số các nước, lãnh thổxuất khẩu hàng đầu đồ gỗ vào Nhật Bản, chỉ có Đài Loan xuất khẩu giảm đáng

kể về trị giá (trung bình 15,7%/năm trong khoảng 5 năm gần đây) Điều này phảnánh thực tế rằng các nhà xuất khẩu gỗ Đài Loan cũng đang chuyển dần các cơ sởsản xuất sang Trung Quốc để xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản Trong số cácnước Châu Á xuất khẩu đồ gỗ sang Nhật, Trung Quốc chiếm 28,7%, Thái Lan20,3%, Malaysia 13,8% và Indonesia 11,8%

2.1.4 Một số điểm cần lưu ý khi thâm nhập vào thị trường Nhật Bản

2.1.4.1 Các quy định về pháp luật khi kinh doanh đồ gỗ

Tại thời điểm nhập khẩu không có quy định gì đặc biệt trừ những đồ đạc

sử dụng những nguyên liệu bằng da của một số loại động vật quý hiếm có thể bịhạn chế nhập theo các điều khoản của hiệp ước Washington (hiệp ước quốc tế vềbuôn bán động thực vật, thực vật quý hiếm)

Một số sản phẩm đồ gỗ muốn được kinh doanh trên thị trường Nhật Bản phải đáp ứng được yêu cầu của “Luật về nhãn hiệu chất lượng hàng hóa” và “Luật an toàn sản phẩm”.

Mã số HS Hàng hóa Các quy định liên quan

9403 Bàn và ghế Luật về nhãn hiệu chất lượng hàng hóa

9403 Ghế, Sofa Luật về nhãn hiệu chất lượng hàng hóa

9403 Tủ trẻ em Luật an toàn sản phẩm

9403 Củi trẻ em Luật an toàn sản phẩm

9403 Ghế trẻ em Luật an toàn sản phẩm

Luật về nhãn hiệu chất lượng hàng hoá yêu cầu nhà nhập khẩu phải đảm

bảo nhãn hiệu của sản phẩm (như bàn, ghế, chạn bát ) phải có đầy đủ các thôngtin cho người tiêu dùng Chẳng hạn mẫu nhãn hiệu hàng hóa cho mặt hàng ghếtựa như sau:

Kích thước

Trang 34

Chiều cao của ghế

Bộ phận kết cấu

Xử lý bề mặt

Vật liệu bề mặt

Vật liệu đệm

Chú ý khi sử dụng

Tên của nhà cung cấp nhãn hiệu

Luật an toàn sản phẩm : Một số sản phẩm tiêu dùng mà kết cấu, vật liệu hoặc

cách sử dụng đặt ra vấn đề an toàn đặc biệt được coi là "sản phẩm đặc biệt" có quyđịnh tiêu chuẩn cho từng sản phẩm đặc biệt

Luật quy định giường cho trẻ em là sản phẩm đặc biệt loại 1 Giường phảiđảm bảo các tiêu chuẩn này và phải có nhãn hiệu S đồng thời sẽ được tiến hànhkiểm tra xác nhận bởi các cơ quan chuyên trách của chính phủ dựa trên các tiêuchí chất lượng do luật đã đề ra Nhà sản xuất đã đăng ký có trách nhiệm tuân thủcác quy định về an toàn theo luật định, yêu cầu các cơ quan nhà nước kiểm tra,giữ kết quả kiểm tra và chịu trách nhiệm bồi thường cho ngưòi tiêu dùng nếuhàng hóa bị hư hỏng

Từ 1/7/2003, các quy định mới về việc thải các chất hoá học dễ bay hơi, vềtiêu chuẩn nhà của Bộ Đất đai, Cơ sở hạ tầng và Giao thông được ban hành và cóhiệu lực tác động mạnh tới đồ gỗ nhập khẩu Đồ gỗ nhập khẩu bắt buộc phảiđược kiểm tra formaldehyde theo luật JAS (quy định về sản phẩm gỗ), luật JIS(quy định về chất liệu công nghiệp) và luật BSL (đối với các sản phẩm khôngthuộc phạm vi điều chỉnh của luật JAS và luật JIS) Quy định mới này được banhành do mối lo ngại của người Nhật về chứng "nhà bệnh tật", là hội chứng rốiloạn sức khoẻ mà người mua phàn nàn là do đồ gỗ thải ra quá nhiều hoá chất dễbay hơi Nội dung chủ yếu của quy định mới này là:

* Quy định quản lý mới về chất chlorpyrifos và formaldehyde trong sảnphẩm (trong tương lai danh sách các chất có thể được mở rộng)

* Cấm tuyệt đối việc sử dụng chất chlorpyrifos

Trang 35

* Những hạn chế đối với việc sử dụng formandehyde về mức độ dẫn tớikhả năng gây ô nhiễm và các yêu cầu đối với kiểm định quy định cho cơ quankiểm nghiệm.

Các doanh nghiệp Việt Nam có thể truy cập website của Trung tâm Xâydựng Nhật Bản http:www.bcj.or.jp/sickhouseissue/introduction.html để tìm hiểuthông tin liên quan đến các quy định này

Tiêu chuẩn công nghiệp tự nguyện

- Nhãn hiệu căn cứ vào Luật An toàn hàng hóa: Hiệp hội sản phẩm an toàn

cho người tiêu dùng được thành lập theo Luật an toàn hàng hóa đã đề ra các tiêuchuẩn để đảm bảo tính an toàn của sản phẩm hàng hóa Đến nay, một số sảnphẩm đồ gỗ như giường tầng, tủ đựng cốc chén, chạn đựng bát đĩa, ghế tựa phảituân theo tiêu chuẩn hàng hoá an toàn (nhãn hiệu SG) Sản phẩm mang nhãn hiệu

SG có lỗi gây thương tích cho người tiêu dùng thì phải trả một khoản tiền bồithường là 100 triệu yên cho một đầu người

Nhãn hiệu theo tiêu chuẩn công nghiệp Nhật Bản JIS :

Tiêu chuẩn công nghiệp Nhật Bản JIS là một trong những tiêu chuẩn được

sử dụng rộng rãi ở Nhật, Tiêu chuẩn này dựa trên "Luật tiêu chuẩn hoá côngnghiệp" được ban hành vào tháng 6 năm 1949 và thường được biết tới dưới cáitên "dấu chứng nhận tiêu chuẩn công nghiệp Nhật Bản" hay JIS Hệ thống JIS đãgóp phần vào việc mở rộng tiêu chuẩn hoá trên phạm vi toànbộ nền công nghiệpNhật Bản

Theo quy định của điều 26 trong Luật tiêu chuẩn hoá công nghiệp, tất cảcác cơ quan của Chính phủ phải ưu tiên đối với sản phẩm được đóng dấu chấtlượng JIS khi mua hàng hoá để phục vụ cho hoạt động

Theo luật tiêu chuẩn hoá công nghiệp, các tiêu chuẩn được đặt ra để đảmbảo chất lượng hàng công nghiệp Các sản phẩm đạt được tiêu chuẩn JIS có thểđược đóng dấu JIS Trong hệ thống các mặt hàng nội thất, bàn sử dụng cho vănphòng sẽ được ký hiệu S1031-01, ghế văn phòng là S1032-01, tủ đựng hồ sơ vănphòng là S1033-01, giường thông dụng các sản phẩm nội thất S1102-01, bàn ghếcho trường học là S1021-01 Hơn nữa, khi được đóng dấu này, mỗi sản phẩmphải có các thông tin chi tiết đi kèm

Trang 36

2.1.4.2 Chính sách thuế quan

Đối với đồ gỗ xuất sang Nhật Bản, hàng hoá của Việt Nam không gặp nhiềurào cản trong việc đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe của Nhật Bản như những mặthàng khác do Nhật Bản khuyến khích nhập khẩu đồ gỗ nhằm đáp ứng nhu cầutiêu thụ lớn trong nước Thuế suất nhập khẩu đối với hầu hết các mặt hàng đồ gỗđều bằng 0%

2.1.4.3 Hệ thống phân phối

Các nhà bán lẻ đồ gỗ chủ yếu bán đồ gỗ gia dụng.Vì thế các nhà xuất khẩu

đồ gỗ gia dụng cần hướng tới các nhà bán lẻ của Nhật Hình thức đặt hàng có thểqua thư hay điện thoại với những đơn hàng nhỏ

Hiện có khoảng trên 6.290 cửa hàng chuyên bán đồ gỗ ở Nhật, trong đókhoảng 6.000 cửa hàng là cửa hàng dạng vừa và nhỏ, với diện tích bán hàng nhỏhơn 1.500 m2, 920 cửa hàng còn lại là các cửa hàng lớn có diện tích hơn 1500 m2.Đây là đối tượng mà các doanh nghiệp kinh doanh sản phẩm đồ gỗ cao cấp cầnquan tâm

Bên cạnh đó, doanh nghiệp Việt Nam cũng cần quan tâm tới các cửa hàngbách khoá tổng hợp cho các mặt hàng chất lượng vừa, hàng đại trà và kể cả hàngcao cấp Họ có những khách hàng trung thành, có thu nhập cao và cả khách bìnhdân nên mặt hàng bày bán khá đa dạng

2.1.4.4 Xu hướng tiêu dùng và các nguyên tắc khi thâm nhập thị trường Nhật Bản

Một số đặc điểm về nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng Nhật Bản

Mặc dầu hầu hết người Nhật truyền thống đã quen với việc ngồi trực tiếplên sàn nhà trải chiếu tatami (chiếu cói), việc sử dụng bàn ghế đã trở nên rấtthông dụng do việc phổ biến nhà theo phong cách phương tây từ hơn 50 năm nay.Bàn và ghế gỗ bắt đầu được sử dụng trong các gia đình Nhật Bản từ nhữngnăm 1955 - 1960 Theo báo cáo của Cục Kế hoạch Kinh tế Nhật bản về xu hướngtiêu thụ đồ gỗ trong gia đình, năm 1961 bàn ghế được sử dụng trong 6,2% giađình Nhật, trong khi bàn ghế phòng khách được sử dụng là 12% gia đình Nhật;năm 1992, 69,7% gia đình Nhật có bàn ghế ăn; năm 1995, 36,3% gia đình Nhật

có bàn ghế trong phòng khách Tỷ lệ này không thay đổi trong những năm gần đây

Trang 37

Đặc điểm của người tiêu dùng Nhật Bản là tính đồng nhất, 90% người tiêudùng cho rằng họ thuộc về tầng lớp trung lưu Người Nhật thường có những đặcđiểm chung sau:

Đòi hỏi cao về chất lượng: xét về mặt chất lượng, người tiêu dùng Nhật Bản

có yêu cầu khắt khe nhất Sống trong môi trường có mức sống cao nên người tiêu

dùng Nhật Bản đặt ra những tiêu chuẩn đặc biệt chính xác về chất lượng, độ bền,

độ tin cậy và sự tiện dụng của sản phẩm Họ sẵn sàng trả giá cao hơn một chút chonhững sản phẩm có chất lượng tốt Yêu cầu này còn bao gồm các dịch vụ hậu mãinhư sự phân phối kịp thời của nhà sản xuất khi một sản phẩm bị trục trặc, khả năng

và thời gian sửa chữa các sản phẩm đó Những lỗi nhỏ do sơ ý trong khi vậnchuyển, hay khâu hoàn thiện sản phẩm ví dụ như những vết xước nhỏ, mẩu chỉ cắtcòn sót lại trên mặt sản phẩm, bao bì xô lệch v.v cũng có thể dẫn đến tác hại lớn làlàm lô hàng khó bán, ảnh hưởng đến kế hoạch xuất khẩu lâu dài Bởi vậy cần có sựquan tâm đúng mức tới khâu hoàn thiện, vệ sinh sản phẩm, bao gói và vận chuyển hàng Nhạy cảm với giá cả tiêu dùng hàng ngày: Người tiêu dùng Nhật Bản khôngchỉ yêu cầu hàng chất lượng cao, bao bì đảm bảo, dịch vụ bán hàng và dịch vụ saubán hàng tốt mà còn muốn mua hàng với giá cả hợp lý Khi có sự tăng giá của mộtsản phẩm đã tồn tại trên thị trường, cần phải có những lời giải thích đầy đủ, nếukhông sẽ gây ra những sự hoài nghi dẫn đến giảm sức mua của người tiêu dùng.Thị hiếu về màu sắc: Có thời, người Nhật thích sắm những đồ đạc trong nhàgiống như đồ của các thành viên khác trong gia đình, trường học, câu lạc bộ haynơi làm việc Nhưng gần đây mọi thứ trở nên đa dạng hơn, xu hướng bây giờ làmua các hàng hoá khác nhau nhưng có cùng công dụng Thị hiếu về màu sắc phụthuộc rất nhiều vào lứa tuổi, giới thanh niên Nhật Bản ngày càng thiên về xuhướng căn cứ vào chất lượng và giá cả để mua hàng còn ở các gia đình truyềnthống, người ta thích mầu nâu đất của nệm rơm và sàn nhà Thị hiếu về màu sắccũng có sự thay đổi theo mùa Nhật Bản có 4 mùa rõ rệt: xuân, hạ, thu, đông,mùa hè nóng và ẩm ướt, mùa đông lạnh và khô Đặc điểm khí hậu ảnh hưởng đếnkhuynh hướng tiêu dùng và việc bao gói sản phẩm cũng phải đảm bảo bảo vệđược sản phẩm trong những điều kiện thời tiết khắc nghiệt nhất

Trang 38

Người tiêu dùng Nhật Bản ưa chuộng sự đa dạng của sản phẩm: Hàng hóa có

mẫu mã đa dạng phong phú thu hút được người tiêu dùng Nhật Bản Bởi vậy nhãnhiệu hàng có kèm theo những thông tin hướng dẫn tiêu dùng là rất quan trọng đểđưa hàng của bạn tới người tiêu dùng Tuy vậy, người Nhật lại thường chỉ mua sảnphẩm với số lượng ít vì không gian chỗ ở của họ tương đối nhỏ và còn để tiện thayđổi cho phù hợp mẫu mã mới Thường người Nhật giờ đây có sở thích rất đa dạng

Họ thích các kiểu đồ gỗ mở, tức là người sử dụng có thể tuỳ chọn bọc da hay bọcvải, có nệm hay không có nệm, kích cỡ có thể thay đổi to hay nhỏ để phù hợpvới sở thích cá nhân của mình, vì vậy các lô hàng nhập khẩu hiện nay qui mô có

xu hướng nhỏ hơn nhưng chủng loại lại phải phong phú hơn

Xu hướng về nhu cầu: Các doanh nghiệp cần lưu ý tới yếu tố ảnh hưởng tới thịtrường đồ gỗ nhập khẩu Nhật Bản để có chiến lược phát triển phù hợp Đó là:

* Tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế làm cắt giảm cả chi phí trong xâydựng của cả khu vực nhà nước và tư nhân dẫn đến xu hướng giảm xây dựng

* Tỷ lệ sinh giảm, dân số già hoá

* Nhu cầu đồ gỗ dùng cho đám cưới giảm do xu hướng sống độc thân tăng

và độ tuổi kết hôn muộn

* Khuynh hướng tiêu dùng sản phẩm cao cấp giảm, giá sản phẩm cao cấpgiảm, đặc biệt là giá các sản phẩm dùng trong gia đình Khuynh hướng tiêu thụsản phẩm chất lượng vừa, giá rẻ tăng

* Thị hiếu đối với các mẫu mã theo phong cách Châu Âu tăng

Sinh thái: Gần đây, mối quan tâm đến các vấn đề ô nhiễm môi trường ngàycàng cao đã nâng cao ý thức sinh thái và bảo vệ môi trường của người tiêu dùng.Các sản phẩm đồ gỗ tái sinh cũng như đồ gỗ có nguồn gốc xuất xứ đang chiếmđược thị phần lớn tại Nhật Nên cung cấp thông tin về các chất liệu hoá chất xử

lý gỗ để tăng độ tin cậy an tâm của khách hàng khi giao dịch

Đối với vật liệu gỗ tự nhiên sử dụng làm đồ đạc, do ảnh hưởng của độ ẩm

có thể nở ra hoặc co lại Do sự chênh lệch về độ ẩm giữa Việt Nam và Nhật Bảnkhá lớn, sản phẩm của Việt Nam thường bị nứt hay cong vênh khi gặp môitrường khô và lạnh tại Nhật Hơn nữa, hàng của Việt Nam còn gặp khó khăntrong khâu sử lý nguyên liệu để tránh mốc và chống mối mọt Vì thế nguyên liệu

Trang 39

gỗ cần được làm khô và xử lý thích hợp để chống mối mọt Chất liệu sử lý cũngcần cũng cần lưu ý dùng những hoá chất không gât độc hại đến môi trường vàcon người theo quy định hiện hành của Nhật Nên có những thông tin về chấtliệu, hoá chất xử lý để tăng độ tin cậy, an tâm của khách hàng khi giao dịch.Không nên ngần ngại mua công nghệ của Nhật Bản vì chỉ có người Nhật mớinắm được các yếu tố môi trường ảnh hưởng tới sản phẩm tiêu dùng Nhật Bản.Nếu sản phẩm có cả các bộ phận bằng kim loại cũng cần lưu ý để chống rỉ, tạo độbền chung cho toàn bộ sản phẩm.

Về thiết kế mẫu mã, các nhà sản xuất Việt Nam cần phải lưu ý cho các sảnphẩm phù hợp với căn buồng nhỏ của người Nhật Bản và với những sàn nhàbằng tatami (chiếu cói) và các yếu tố văn hoá truyền thống khác của Nhật, chú ý

sở thích của người tiêu dùng Nhật Bản về màu sắc, kích thước, chức năng sản phẩm

Đồ đạc gia đình phần nhiều cũng là những sản phẩm mang tính thời vụ bởivậy việc đảm bảo thời gian giao hàng đồng thời cũng đảm bảo quan hệ giao dịchlâu dài, giữ được khách hàng

Trong tương lai ngày càng nhiều nhà buôn và bán lẻ không có cơ sở sảnxuất riêng bắt đầu mua trực tiếp từ nước ngoài và nhập khẩu hàng bán sản phẩm

Vì thế các doanh nghiệp xuất khẩu vào Nhật cần áp dụng các biện pháp để phòngngừa một số vấn đề có thể xảy ra, chẳng hạn liên quan đến vấn đề nhãn hiệu hàng hoá.Nếu có thể, các nhà xuất khẩu cần gửi mẫu hàng cho khách hàng xem trước.Một trong những cách làm hữu hiệu nhất là đem sản phẩm trưng bày tại hội chợhàng tiêu dùng quốc tế Tokyo hoặc Hội chợ thương mại khác được tổ chức hàngnăm tại Nhật Bản

2.2 Tình hình xuất khẩu sản phẩm đồ gỗ Việt Nam sang thị trường Nhật Bản

2.2.1 Tổng quan về tình hình xuất khẩu đồ gỗ của Việt Nam

Các cơ chế và chính sách hỗ trợ của nhà nước

Với chủ trương tạo mọi điều kiện để phát triển ngành công nghiệp chế biến

gỗ xuất khẩu, Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản pháp quy liên quan đến rấtnhiều lĩnh vực như phát triển vùng nguyên liệu, giao đất giao rừng, khai thác, chế

Trang 40

Về xuất nhập khẩu, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 57/1998/NĐ-CPngày 31/7/1998, Quyết định 65/1998/QĐ-TTg ngày 24/3/1998 của Thủ tướngChính phủ và Thông tư 122/1999/TT-BNN-PTNT ngày 27/3/1998 của Bộ Nôngnghiệp và Phát triển Nông thôn nhằm quản lý việc xuất khẩu đồ gỗ sản xuất từrừng tự nhiên trong nước, đồng thời khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi choviệc nhập khẩu gỗ nguyên liệu cũng như xuất khẩu sản phẩm gỗ từ rừng trồng,

gỗ nhập khẩu Biểu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu đã xây dựng các mức thuếsuất cụ thể, có phân biệt đối với các sản phẩm xuất khẩu được làm từ nguyên liệu

gỗ có xuất xứ khác nhau Sản phẩm xuất khẩu được làm từ gỗ rừng tự nhiên chịuthuế suất cao hơn sản phẩm làm từ gỗ rừng trồng Gỗ rừng tự nhiên có mức thuếsuất bình quân là 5-10%, sản phẩm từ gỗ rừng trồng thuế suất 0%

Về nhập khẩu, trừ gỗ nhập khẩu từ Campuchia phải có giấy phép xuất khẩu,nhập khẩu của Bộ Thương mại hai nước, các doanh nghiệp được nhập khẩu theonhu cầu, không phải xin giấy phép của các cơ quan quản lý và được hưởng mứcthuế suất nhập khẩu thấp nhất hiện hành (0%)

Ngoài ra, các chính sách tín dụng hỗ trợ xuất khẩu thông qua Quỹ hỗ trợphát triển, chính sách thưởng xuất khẩu cũng là động lực thúc đẩy xuất khẩu cácmặt hàng gỗ của Việt Nam

Hiện nay cả nước có 1.200 doanh nghiệp chế biến gỗ kinh doanh gỗ, trong

đó trên 300 doanh nghiệp đã có hàng xuất khẩu (gồm doanh nghiệp Nhà nước,doanh nghiệp cổ phần, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nướcngoài, doanh nghiệp tư nhân)

Sản phẩm gỗ xuất khẩu cũng được cải tiến nhiều, tương đối đa dạng, baogồm 5 chủng loại sản phẩm: đồ gỗ nội thất; bàn ghế ngoài trời; đồ gỗ mỹ nghệ;

đồ gỗ kết hợp với vật liệu khác (gỗ với song mây, sắt thép, đệm mút ) và cácloại ván nhân tạo (ván dăm, ván sợi ) Những sản phẩm này của Việt Nam đã cómặt trên 120 quốc gia và vùng lãnh thổ trên toàn thế giới, tập trung vào ba thịtrường trọng điểm là Mỹ chiếm trên 20% tổng sản phẩm đồ gỗ xuất khẩu củaViệt Nam, EU chiếm gần 28% và Nhật Bản chiếm 24% Đồng thời các doanhnghiệp cũng đang đẩy mạnh xuất khẩu sang các thị trường Canada, Nga và một

số nước Đông Âu Các chuyên gia kinh tế cho rằng, sau khi Việt Nam gia nhập

Ngày đăng: 19/02/2014, 11:49

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Tình hình xuất khẩu sản phẩm gỗ sang một số thị trường - nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm đồ gỗ việt nam trên thị trường nhật bản
Bảng 2.1 Tình hình xuất khẩu sản phẩm gỗ sang một số thị trường (Trang 42)
Bảng 2.2: Kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ mã HS 9403 của Việt Nam sang  Nhật Bản - nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm đồ gỗ việt nam trên thị trường nhật bản
Bảng 2.2 Kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ mã HS 9403 của Việt Nam sang Nhật Bản (Trang 43)
Bảng 2.4: Thị phần của một số nước xuất khẩu sản phẩm đồ gỗ trên thị  trường Nhật Bản ( 1/2002 - 11/2005 ) - nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm đồ gỗ việt nam trên thị trường nhật bản
Bảng 2.4 Thị phần của một số nước xuất khẩu sản phẩm đồ gỗ trên thị trường Nhật Bản ( 1/2002 - 11/2005 ) (Trang 47)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w