1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại công ty cổ phần ô tô khách hà tây

37 792 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại công ty cổ phần ô tô khách Hà Tây
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Quản Trị Kinh Doanh
Thể loại Chuyên đề
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 556,94 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI NÓI ĐẦUTrước kia trong thời kỳ nền kinh tế tập trung, quan liêu bao cấp, đại bộ phận là các doanh nghệp quốc doanh ra đời và hoạt động trong điều kiện nhà nước giao vốn, bao cấp về g

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Trước kia trong thời kỳ nền kinh tế tập trung, quan liêu bao cấp, đại bộ phận là các doanh nghệp quốc doanh ra đời và hoạt động trong điều kiện nhà nước giao vốn, bao cấp về giá sau đó sản xuất theo phương thức tự cung tự cấp, cung cấp theo đơn đặt hàng, lãi nhà nước thu, lỗ nhà nước bù ….Do đó nhà nước chẳng mấy quan tâm đến hiệu quả sử dụng vốn như thế nào, thậm chí có những doanh nghiệp làm ăn có chuyện lỗ giả lãi thật để được nhà nước bù lỗ chênh lệch, chạy đua thành tích …Do vậy tình trạng các doanh nghiệp quốc doanh sử dụng vốn kém hiệu quả so với những các thành phần kinh tế khác.Vì các thành phần kinh tế khác nó thể hiện rất rõ khi sử dụng vốn trong sản xuất kinh doanh của nền kinh tế thị trường nhất là trong môi trường cạnh tranh khốc liệt như hiện nay.

Ngày nay khi mà đất nước ta đang chuyển mình trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN có sự quản lý của nhà nước, các doanh nghiệp không còn được bao cấp về giá, vốn nữa, nó đòi hỏi các doanh nghiệp phải chủ động trong hoạt động sản xuất kinh doanh, tiêu thu sản phẩm của mình, tự chủ về vốn cũng như trong lĩnh vực quản lý sao cho tốt.

Do đó các chủ doanh nghiệp, các nhà quản trị phải quan tâm đến vấn đề như làm thế nào để tìm kiếm được lợi nhuận trong kinh doanh khi hội nhập với nền kinh tế thị trường nhất là khi đất nước ta ra nhập WTO.Tuy nhiên trước

sự canh tranh khốc liệt cua nền kinh tế thị trương va sự hội nhập toàn cầu hóa như hiện nay khiến các doanh nghiệp gặp không ít khó khăn và những thách thức phức tạp.Vì vậy buộc các doanh nghiệp phải xác định đúng đắn thực lực, khả năng về vốn và biện pháp quản lý, sử dụng vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh để sao cho có lãi, từng bước phát triển, đứng vững trên thị trường

Vốn là một trong những tiền đề quan trọng nhất khi bất cứ một doanh nghiệp nào đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh Vốn nó như là nguồn sinh lực, nó quyết định đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Đặc biệt như các doanh nghiệp kinh doanh vận tải bằng ô tô thì nhu cầu về vốn là rất lớn

và cần thiết Các doanh nghiệp này luôn phải đảm bảo nhu cầu về vốn để đầu tư cho các phương tiện máy móc, đáp ứng nhu hoạt động sản xuất kinh doanh nhưng đồng thời phải có biện pháp quản lý, sử dụng vốn sao cho có hiệu quả, chống thất thoát, lãng phí Do vậy việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn la vấn đề cấp bách hàng đầu với các doanh nghiệp vì nó là yếu tố đầu vào cho quá trinh hoạt động sản xuất kinh doanh, nó quyết định yếu tố đầu ra của sản phẩm như quyết định giá thành của sản phẩm Với nguồn vốn tài chính giới hạn mà doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển với quy mô ngày cang được mở rộng thỉ doanh nghiệp đó đã sử dụng có hiệu quả về vốn Ngược lại nếu như với số vốn kinh doanh như vậy trong thời gian doanh nghiệp không

Trang 2

có khả năng phát triển đồng vốn đó lên thì có nghĩa là doanh nghiệp đó lam

ăn không hiệu quả hay nói cách khác là doanh nghiệp đó sử dụng vốn chua hiệu quả Do vậy sử dụng vốn hợp lý hay không hợp lý sẽ mang lại kết quả tốt hay xấu cho doanh nghiệp Nhung vấn đề đặt ra ở đây là đối với các doanh nghiệp làm thế nào quản lý vốn, đảm bảo quá trinh tuần hoàn vốn để duy trì sản xuất kinh doanh đều đặn và tạo ra khả năng sinh lời của đông vốn Nhận thưc được vai trò và tầm quan trong vốn trong kinh doanh, em manh dan chọn

đề tài: “Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty cổ phần ô tô khách Hà Tây”

Chuyên đề gồm 3 chương :

Chương I: hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp

Chương II: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh tại Công ty cổ phần ô tô khách Hà Tây

Chương III: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ở Công ty cổ phần ô tô khách Hà Tây

Chương I:Hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp

1.1 : Vốn trong sản xuất kinh doanh

Vốn là điều kiện không thể thiếu để một doanh nghiệp được thành lập và tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh Qúa trình sản xuất kinh doanh là một quá trình kết hợpcác yếu tố :tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao động để tạo ra sản phẩm Vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được biểu hiện băng thước đo giá trị ( tiền) của toàn bộ các tài sản như ( máy móc thiết bị nha xưởng ….) các loại tài sản lưu động và tài sản dự trữ (nguyên vật liệu , công cụ lao động nhỏ, thành phẩm tồn kho ) các khoản đầu tư xây dựng cơ bản dở dang Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh vốn thường xuyên chuyển hóa từ hình thái này ( tiền tệ ban đầu) sang hình thái hiện vật như: máy móc thiết bị, tư liệu sản xuất, thành phẩm ….và cuối cùng lại chuyển hóa ngượclai( tái sản xuất )

1.1.1: Khái niệm về vốn của doanh nghiệp

Vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản được đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh với mục đích thu lợi

1.1.2 Vai trò của vốn đối với doanh nghệp

Như chúng ta đã biết trong thời kỳ cơ chế tập chung bao cấp, hầu hết các doanh nghiệp được cấp vốn từ ngân sách nhà nước và số vốn đó được giao cho tập thể doanh nghiệp quản lý và sử dụng nên vốn trong thời kỳ này không có hiệu quả, do sức ỳ của bộ máy quản lý thời kỳ bao cấp đó Nhưng khi chuyển sang nền kinh tế thị trường thì các doanh nghiệp có điều kiện thuận lợi hơn trong việc huy động vốn Họ có thể huy động vốn

từ nhiều nguồn khác nhau Tuy nhiên ở đây họ vẫn vấp phải những khó khăn đó là lam thế nào quản lý và sử dụng vốn sao cho có hiệu quả

Một doanh nghiệp muốn tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh thì doanh nghiệp

đó cần phải có một lương vốn nhất định Mà mỗi doanh nghiệp là một cơ sở sản xuất, là một phần tử quan trọng trong nền kinh tế quôc dân Do vậy sự hoạt động của vốn có ảnh hưởng rất lớn đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp nói riêng và của nền kinh tế nói

Trang 3

Vốn là nguồn tài chính quan trọng, chẳng hạn để sản xuất, tiêu thụ một hàng hóa nào

đó, doanh nghiệp thuê nhà, mua sắm các yếu tố vật chất cần thiết như máy móc, thiết bị, dựtrữ, đất đai và lao động Điều đó là doanh nghiêp đã đầu tư vào các tài sản, các tài sản này được phân bổ chủ yếu vào tài sản lưu động và tài sản cố định và nó quyết định ra của cải vật chất , những tiến bộ xã hội Nó là nhân tố vô cùng quan trọng để thực hiện quá trình ứng dụng khoa học kỹ thuật, phát triển cơ sở hạ tầng, chuyển dịch cơ cấu, đẩy nhanh tốc

độ tăng trưởng kinh tế Qua đó nâng cao được mức sống của người lao động , các nguồn vềcon người, tài nguyên được khai thác và đạt hiệu quả cao.Từ đó tác động mạnh đến cơ cấu kinh tế của đất nước, chuyển dịch nhanh chóng theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa, làm cho các ngành công nghiệp dịch vụ chiếm tỷ trọng cao và hướng mạnh vào xuất khẩu Chính vì vậy sẽ mang lại một nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao và ổn định

Vốn đóng vai trò trong việc đặt nền móng cho sự phát triển của doanh nghiệp,tùy theo mỗi doanh nghiệp có quy mô hoạt động kinh doanh nhỏ hay to thi nhu cầu về vốn cũng khác nhau do vậy những phương thức huy động vốn cũng khác nhau.Vốn là yếu tô vật chất cần thiết nhất, vốn dùng để dự trữ vật tư, dùng để mua sắm máy móc thiết bị để chi phí cho quá trình sản xuất kinh doanh

Trong quá trình kinh doanh do vốn có sự tác động cua lao động vào đối tượng lao động thông qua tư liệu lao động thì hang hóa, dịch vụ được chuyển đổi và đem lại gia trị thặng dư (T-H-T’) Bên cạnh đó vốn còn đóng vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất

và lưu thông hàng hóa Như vậy mỗi doanh nghiệp cần phải có đủ một lượng vốn cần thiết dưới dạng tiền tệ, vật chất hoặc một số nhất định sở hữu trí tuệ, bản quyền phát minh … Ngày nay nguồn vốn có thể chuyển hóa cho nhau và biến thanh tiền mặt trong điều kiện nhất đinh đồng thời dựa vào khả năng của vốn các doanh nghiệp mới có khả năng thưc hiện vai tró của mình cà hoạt động sản xuất kinh doanh đem lại hiệu quả kinh tế cao

1.1.3: Các loại vốn của doanh nghiệp:

1.1.3.1: Phân loại vốn theo nguồn gốc hình thành:

Vốn của doanh nghiệp về cơ bản được hình thành từ hai nguồn: Vốn chủ sở hữu và vốn nợ:

a, Vốn ở hữu của doanh nghiệp: Đối với mọi loại hình doanh nghiệp, vốn chủ sở

hữu doanh nghiệp bao gồm các bộ phận :

Đối với doanh nghiệp nhà nước ( thuộc sở hữu nhà nước ) nguồn vốn tự có ban đầu chính là vốn đầu tư của ngân sách nhà nước Chủ sở hữu doanh nghiệp là nhà nước

Đối với doanh nghiệp theo luật doanh chủ doanh nghiệp phải có đủ số vốn ban đầu (vốn pháp định) cần thiết để xin đăng ký thành lập doanh nghiệp Vốn pháp định là số vốn tối thiểu phải có theo quy định của pháp luật để thành lập doanh nghiệp Chẳng hạn đối với công ty cổ phần nguồn vốn do các cổ đông đóng góp là yếu tố quyết định để hình thành công ty và vốn góp ban đầu do các cổ đông và chủ sở hữu góp và họ chịu trách nhiệm hữu hạn với số vốn góp của mình

+Nguồn vốn từ lợi nhuận không chia

Nếu nói đến nguồn vốn từ lợi nhuận không chia ta phải nói đến quy mô số vốn ban

Trang 4

đầu của doanh nghiệp nó là một yếu tố quan trọng vì quy mô này nó tăng trưởng theo quy

mô phát triển của doanh nghiệp trong quá trình hoạt đông sản xuất kinh doanh Nguồn vốn

từ lợi nhuận không chia là nguồn vốn được sử dụng để tái đầu tư, mở rộng sản xuất Nguồnvốn này là một phương thức khá hấp dẫn vì doanh nghiệp giảm được chi phí, giảm được bớt sự phụ thuộc ở bên ngoài Nguồn vốn từ lợi nhuận để lại chỉ có thể thực hiện được là doanh nghiệp đó làm ăn co lợi nhuận, được phép tiếp tục đầu tư Đối với các doanh nghiệp nhà nước thì việc tái đầu tư phụ thuộc không chỉ vào khả năng sinh lợi của bản than mà còn phụ thuộc vào chính sách khuyến khích đầu tư của nhà nước Tuy nhiên đối với công

ty cổ phần thì việc để lại lợi nhuận liên quan đến các yếu tố rất nhạy cảm Khi công ty để lại một phần lợi nhuận cho tái đầu tư, tức là không dùng số lợi nhuận đó để chia lãi tức là lợi tức các cổ đông không đươc nhận đủ thì sẽ kéo theo sự giảm giá của cổ phiếu nhưng ngược lại họ lại có quyền sở hữu số vốn cổ phần tăng thêm lên của công ty

+ Nguồn vốn phát hành từ cổ phiếu: Phát hành cổ phiếu là kênh rất quan trọng để huy động vốn nhất là nguồn vốn dài hạn cho công ty một cách rộng rãi thông qua mối liên

hệ với thị trường chứng khoán Nguồn vốn này nó phụ thuộc vào sự tin cậy của doanh nghiệp làm ăn có sự tăng trưởng đều đặn thì kênh huy động mới có hiệu quả

b, Vốn nợ của doanh nghiệp (vốn vay của doanh nghiệp)

+Khoản vay ngân hàng: co thể nói răng vốn vay của ngân hàng là nguồn vốn quan trọng, không chỉ đối với sự phát triển của bản thân doanh nghiệp mà còn đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân Sự hoạt động và phát triển của công ty, doanh nghiệp đều gắn liền với hoạt động dịch vụ tài chính do các ngân hàng thương mại cung cấp, trong đó có việc cung ứng các nguồn vốn tín dụng Đối với doanh nghiệp, tài trợ bằng nguồn vốn tín dụng thương mại là nguồn tài trợ rẻ, tiện dụng và linh hoạt trong kinh doanh nhưng nguồn vốn vay ngân hàng cung có những hạn chế như về điều kiện tín dụng, sự kiểm soát của ngân hàng và chi phí sử dụng vốn Mặt khác nó còn tạo khả năng mở rộng các quan hệ hợp tác kinh doanh một cách lâu bền Chúng ta thấy hầu như khong một doanh nghiệp nào đi vào hoạt động kinh doanh lại không có vay vốn ngân hàng hay sử dụng tín dụng thương mại nếu doanh nghiệp đó muốn tồn tại trên thương trường Trong quá trình sản xuất kinh doanhcác doanh nghiệp cần phải đảm bảo đủ vốn cho các dự án hoặc đầu tư vào tài sản cố định, tài sản lưu động Tuy nhiên sử dụng loai vốn vay này cần phải xét đến tính hợp lý của hệ

số nợ trong doanh nghiệp để đảm bảo sự chi trả Sự kết hợp giữa nguồn vốn chủ sở hữu và

nợ tạo nên kết cấu chính của doanh nghiệp, thành công hay thất bại còn phụ thuộc vào ngành mà doanh nghiệp hoạt động và hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

+Tăng vốn từ việc phát hành trái phiếu:Trước hết ta hiểu trái phiếu là một công cụ nợđối với doanh nghiệp, đó là một loại giấy vay nợ trung và dài hạn của doanh nghiệp Nguồn vốn này rất là quan trọng trong việc bổ sung số vốn không ngừng tăng lên đối với doanh nghiệp muốn tăng quy mô, mở rộng lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh khi nguồn vốn nội bộ trong doanh nghiệp còn eo hẹp không đáp ứng đủ Do vậy doanh nghiệp cần phải huy động vốn từ công chúng, các nhà đầu tư bằng cách phát hành trái phiếu Nhưng cũng không phải doanh nghiệp nào cũng có thể thu hút được công chúng mua trái phiếu vì nhà đầu tư cũng phải đánh giá sự uy tín, khả năng chi trả doanh nghiệp thì mới quyết định mua hay không mua Tuy nhiên khi thu hút vốn bằng việc phát hành tráiphiếu để dùng cho hoạt động sản xuất kinh doanh trong quá trình mở rộng quay mô thì doanh nghiệp cần phải tính toán trước khi phát hành là phải lựa chọn loại trái phiếu nào phù hợp đối với điều kiện cụ thể và tình hình tài chính trên thị trường Vì việc lựa chọn tráiphiếu thích hợp là rất quan trọng vì nó liên quan đến việc chi phí trả lãi , khả năng lưu hành và tính hấp dẫn của trái phiếu như lãi xuất của trái phiếu, kỳ hạn của trái phiếu, đây làyếu tố quan trọng không những đối với doanh nghiệp mà còn cả đối với những nhà đầu

Trang 5

+Các khoản phải thanh toán: Là khoản tiền mà doanh nghiêp phải trả cho các tác nhân kinh tế khi doanh nghiệp sử dụng để hoạt động cho sản xuất kinh doanh như khoản phải trả nhà cung cấp, phải trả công nhân viên, nộp ngân sách, nợ từ việc vay vốn … Sau

đó nghĩa vụ doanh nghiệp có trách nhiệm phải thanh toán nhưng những khoản phải trả nhà cung cấp, cong nhân viên, số nộp ngân sách là số vốn doanh nghiệp chiếm dụng đặc điểm của loại vốn này là chi phai sử dụng bằng không nên đòn bẩy tài chính luôn ở trạng thai dương do vậy doanh nghiệp cần huy động cao độ trong thời gian được phép vào đáp ứng nhu cầu vốn lưu động trên nguyên tắc hoàn trả đúng hẹn

1.1.3.2: Phân loại theo tính chất chu chuyen của vốn:

a, Vốn cố định :

- Khái niệm :Vốn cố định của doanh nghiệp là một bộ phận của vốn đầu tư ứng trước

để mua sắm, xây dựng, lắp đặt các tài sản cố định hữu hình và vô hình của doanh nghiệp.Một tư liệu được xếp vào tài sản cố định phải đủ điều kiện sau:

-Thơi gian sử dụng là từ 1 năm trở lên

- Có giá trị tối thiểu ở mức theo quy dịnh của nhà nước phù hợp với tình hình kinh tế

ở từng thời kỳ (hiện nay là có giá trị 5 triệu đồng trở lên)

+Đặc điểm của vốn cố định: Tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất sản phẩm và nhìn chung là không bị thay đổi về hình thái hiện vật nhưng năng lưc sản xuất là kem theo đó là giá trị hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình của dưới dạng bị giảm dần trong các chu kỳ sản xuất kinh doanh hao mòn hữu hình phụ thuộc vao mức độ sử dụng tài sản cố định và các điều kiện ảnh hưởng tới độ bền của tài sản cố đinh như chế độ quản ly, sửa chũa bảo dưỡng, điều kiện về môi trường….còn về hao mòn vô hình thì chủ yếu là do tiến bộ khoa hoc mới và năng xuất lao động xã hội tăng lên

Vốn cố định là một khoản đầu tư ứng trước hình thành lên TSCĐ của doanh nghiệp nên quy mô của vốn cố định sẽ quyết định đến quy mô của TSCĐ Song đặc điểm vận động của TSCĐ lại quyết định đến đặc điểm tuần hoàn và chu chuyển gia tri của vốn cố định

Sau mỗi chu kỳ sản xuất kinh doanh phần vốn cố định đầu tư ban đầu vào tài sản cố định,hết thời gian sử dụng thì giá trị của chúng được chuyển dịch vào giá trị của sản phầm Khi đó vốn cố đinh đã hoàn thanh một vòng luân chuyển

*Phân loại tài sản cố định: Trong doanh nghiệp có nhiêu loai tài sản cố định khác

nhau, để đáp ứng yêu cầu quản lý người ta phân tài sản cố định ra thanh nhiều loại khác nhau theo những tiêu thức khác nhau:

- Phân theo hình thức biểu hiện và công dụng kinh tế: Toàn bộ tài sản của doanh nghiệp được chia lam 2 loại là tài sản cố đinh hữu hình và tài sản cố định vô hình :

-Tài sản cố định hữu hình là những tài sản có hình thái vật chất cụ thể, có giá trị thời gian sử dụng theo chế độ quy định bao gồm : nhà cửa, vật kiến trúc, máy moc thiết bị, phương tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn, thiết bị dụng cụ quả lý, vườn cây lâu năm …

- Tài sản cố định vô hình là những tài sản không có hình thái vật chất thể hiện một lượng giá trị lớn để đầu tư có liên quan trực tiếp đến chu kỳ kinh doanh và tài sản cố định

vô hình gôm: Quyền sử dụng đất, quyên phát minh, bản quyền sáng chế, nhãn hiệu hàng hóa, phần mêm vi tính và các loại giấy phép khác…

+ Phân loại theo tình hình sử dụng: có thể chia toàn bộ tài sản của doanh nghiệp thành các loại sau:

-TSCĐ đang dùng

- TSCĐ chưa dùng

- TSCĐ không cần dùng đến và chờ thanh lý nhượng bán

Dựa theo phân loại này nhà quản lý tổng quát được tình hình sử dụng tài sản cố định trong doanh nghiệp Trên cơ sở đó đề ra biện pháp sử dụng tối đa các TSCĐ hiện có, giải phóng nhanh những tài sản không cần dung và thanh lý nó

Trang 6

b, Vốn lưu động

-Khái nệm: Vốn lưu động là số tiền ứng trước về tài sản lưu động nhăm đảm bảo choquá trình sản xuất kinh doanh diễn ra một cách thường xuyên và liên tục

* Đặc điểm của vốn lưu động

- Vốn lưu động trong doanh nghiệp thương xuyên vận động và chuyển hóa nhiều hình thái khác nhau( tiền, hang tồn kho, sản phẩm do dang , thành phẩm )

- Trong quá trình tham gia vào hoạt động kinh doanh vốn lưu động chuyển toàn bộ ngay giá trị ngay trong một lần và được hoàn lại toàn bộ sau khi doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm, thu được tiền bán hang Như vậy, vốn lưu động hoàn thành một vòng tuần hoàn sau chu kỳ sản xuất kinh doanh Nó được coi là điều kiện vật chất không thể thiếu của quá trình sản xuất

- Trong quá trình kinh doanh, tài sản lưu động thay đổi hình thái không ngừng , do

đó tại một thời điểm nhất định vốn lưu động tồn tại dưới các hình thái khác nhau , trong các giai đoạn khác nhau mà vốn đi qua

*Giai đoạn I: Doanh nghiệp dùng tiền để mua hang hóa, nguyên vật liệu nhằm để dự

trữ lúc này vốn lưu động chuyển từ hình thái tiền tệ sang hình thái vật tư hang hóa(T-H)

*Giai đoạn II: là giai đoạn sản xuất hàng hóa, nguyên vật liệu trải qua quá trình bảo

quản sơ chế được đưa vào dây truyền công nghệ Trong quá trình này, vốn chuyển từ hình thái hàng hóa, vật tư dự trữ sang hình thái sản phẩm dở dang, bán thành phẩm, thành phẩm (H-SX-H’)

*Giai đoạn III:Doanh nghiệp bán hàng thu được tiền Vốn chuyển từ hình thái thành phẩm sang hình thái tiền tệ, tức là chuyển về hình thái ban đầu (H’-T’)

+ Phân loại TSLĐ: TSLĐ trong doanh nghiệp thì thương chia ra làm 2 loại là TSLĐ sản xuất và TSLĐ lưu thông

- TSLĐ sản xuất bao gồm các loại nguyên vật liệu, phu tùng thay thế, sản phẩm dở dang … đang trong quá trình dự trữ sản xuất hoặc chế biến

- TSLĐ lưu thông bao gồm các sản phẩm, thành phẩm chờ tiêu thụ, các loại vốn bằng tiền, vốn trong thanh toán

+Phân loại vốn lưu động: trong doanh nghiệp dựa theo nhiều tiêu thức khác nhau, có thể chia thành các loại khác nhau

- Dựa theo hình thái biểu hiện:Vốn lưu động được chia thành

*Vốn băng tiền và các khoản phai thu gồm tiền mặt tại quỹ , tiền gửi ngân hàng, tiềnđang chuyển, các khoản nợ, phải thu của khách hàng, cung cấp …và các khoản phải thu khác

* Vốn vật tư hàng hóa (hàng tồn kho ) gồm :

+ Nguyên liệu vật liệu công cụ dụng cụ

+Sản phẩm dở dang

+ Thanh phẩm

* Vốn về chi phí trả trước : là các khoản chi phí thưc tế đã phát sinh nhưng có tác dụng cho nhiều kỳ kinh doanh nhưng chưa thể tính hết vào giá thành sản phẩm trong kỳ và còn được tính vào giá thành sản phẩm của kỳ tiếp theo như: chi phí nghiên cứu thí nghiệm,cải tiến kỹ thuật, chi phí sửa chữa lớn …

* Dưa theo vai trò VLĐ rong quá trình sản xuất kinh doanh

+VLĐ trong khâu dự trữ sản xuất gồm: nguyên vật liệu chính, phụ vốn nhiên liệu, vốn thay thế, vốn dụng cụ

+VLĐ trong khâu sản xuất gồm: vốn về sản phẩm dở dang và vốn về chi phí trả trước

+VLĐ trong khâu lưu thông gồm :các khoản vốn thành phẩm, vốn bằng tiền, vốn đầu

tư ngắn hạn về chứng khoán và các loại khác như vốn trong thanh toàn (phải thu, tạm ứng )

Trang 7

1.2 Hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp:

1.2.1 Quan niệm về hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp

Trong điều kiện sản xuất kinh doanh theo cơ chế thị trương, để tồn tại và phát triển đòi hỏi doanh nghiệp khi kinh doanh là phải đem lại lợi nhuận và đạt hiệu quả cao nhất đó

là mục đích chính Để đạt được mục đích kết quả cao nhất trong hoạt động kinh doanh, các doanh nghiệp cần phải đưa ra phương hướng mục tiêu trong đầu tư biện pháp sử dụng các điều kiện có sẵn như vốn, các nguồn lực, nhân tài, vật lực muốn vậy các doanh nghiệp cần nắm được tố ảnh hưởng mức độ và xu hướng tác động từng nhân tố đến kết quảkinh doanh

Nắm được các nhân tố ảnh hưởng, mưc đọ và xu hướng tác động của từng nhân tố đến kết quả kinh doanh Điều này chỉ thực hiện trên cơ sở phân tích và sử dụng hợp lý các nguồn sẵn có trong hoạt động sản xuất kinh doanh

Như chúng ta biêt mọi hoạt động kinh tế của hoạt động sản xuất của doanh nghiệp đều nằm trong thế liên hoàn với nhau Bởi vậy, chỉ có tiến hành phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh một cách toàn diện mới có thể giúp cho các nhà doanh nghiệp đánh giá đầy đủ và sâu sắc trong hoạt động kinh tế, trong trạng thái thức của chúng Trên cơ sở đó, nêu nên một cách tong hợp về trình độ hoàn thành các mục tiêu nó được biểu hiện bằng các chỉ tiêu kinh tế-kỹ thuật-tài chính của doanh nghiệp Đồng thời phân tích các nguyên nhân hoàn thành và không hoàn thành các chỉ tiêu đó trong sự tác động lẫn nhau giữa chúng Từ đó có thể đánh giá đầy đủ mặt mạnh , mặt yếu trong công tác quản lý doanh nghiệp Tuy nhiên các doanh nghiệp muốn hoạt động và sử dụng các nguồn vốn có hiệu quả thì phải đảm bảo nhiều yếu tố quan trọng

Phải khai thác các nguồn vốn một cách triệt để ( tức là đồng vốn phải luôn chuyển trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

-Phải sử dụng hợp lý và tiết kiệm

Phải có phương pháp quản lý vốn (không để nguồn vốn bị chiếm dụng và sử dụng saimục đích )

Ngoài ra doanh nghiệp cần phải thường xuyên phân tích và đánh giá hiệu quả sử dụng vốn để nhanh chóng có biện pháp khắc phục những hạn chế và phát huy những ưu điểm của doanh nghiệp trong công tác quản lý và sử dụng vốn Có hai phương pháp để phân tích tài chính cũng như hệu quả sử dụng vốn, đó là phương pháp tỷ lệ và phương pháp so sánh

* Phương pháp so sánh :

so sánh là một trong hai phương pháp được sử dụng phổ biến trong hoạt động phân tích để xác định xu hướng, mức độ biến động của chỉ tiêu phân tích Vì vậy để tiến hành sosánh và phân tích, giải quyết những vấn đề cơ bản như xác định gốc để so sánh và mục tiêu

so sánh đồng thời cần thỏa mãn một số điều kiện như thống nhất về không gian, thời gian, nội dung, tính chất và đơn vị tính …Khi so sánh thưc hiện giữa kỳ này với số thực hiện kỳ trước ( năm nay so vơi năm trước…)để thấy rõ được xu hướng phát triển tài chính của doanh nghiệp Nhằm đánh giá chính xác sự tăng, giảm về tài chính cao hay thấp để kịp đưa

*Phương pháp tỷ lệ: Phương pháp này dựa trên ý nghĩa chuẩn mực các tỷ lệ của đại

Trang 8

lượng tài chính Về nguyên tắc thì phương pháp tỷ lệ đòi hỏi phải xác định được các ngưỡng, các định mức để nhận xét, để đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp, trên

cơ sở so sánh các tỷ lệ của doanh nghiệp với tỷ lệ tham chiếu Trong phân tích tài chính, tỷ

lệ tài chính được phân thành các nhóm tỷ lệ về khả năng thanh toán, nhóm tỷ lệ về cơ cấu vốn và nguồn vốn, nhóm tỷ lệ về năng lực hoạt động kinh doanh, nhóm tỷ lệ về khả năng sinh lời Mỗi nhóm tỷ lệ lại bao gồm nhiều nhóm tỷ lệ phản ánh rieng lẻ, từng hoạt động của từng bộ phận tài chính, trong mỗi trường hợp khác nhau , tùy theo giác độ phân tích, người phân tích sử dụng những nhóm chỉ tiêu chỉ tieu khác nhau Để dánh giá hiệu quả sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp người ta thường sử dụng các chỉ tiêu sau:

1.2.2 :Các chỉ tiêu biểu hiện hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp

1.2.2.1:Chỉ tiêu biểu hiện hiệu quả sử dụng vốn cố định:

Để đánh giá tính hiêu quả và sử dụng vốn cố định của doanh nghiệp người ta thường đánh giá lại tài sản cố định qua các chỉ tiêu sau:

Doanh thu thuần HiÖu suÊt sö dông TSC§=

Nguyªn gi¸ TSC§ b×nh qu©n trong kú

Trang 9

Chỉ tiêu này cho biết đuợc một đồng nguyên giá bình quân tài sản cố định

đem lại bao nhiêu đồng doanh thu thuần.

Suất hao phí Nguyên giá bình quân tài sản cố định

tài sản cố định =

Doanh thu thuần

Chỉ tiêu này cho ta biết đợc để tạo ra một đồng doanh thu thuần thì cần phải bỏ ra bao nhiêu đồng nguyên giá tài sản cố định Hệ số này càng nhỏ càng tốt.

Sức sinh lợi của Lợi nhuận thuần

tài sản cố định =

Nguyên giá bình quân tài sản cố định Chỉ tiêu này cho biết một đồng nguyên giá bình quân tài sản cố định có thể cho chúng ta bao nhiêu đồng lợi nhuận Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ rằng việc sử dụng tài sản cố định có hiệu quả.

Bên cạnh đó thì việc đánh giá trực tiếp hiệu quả sử dụng vốn cố định, doanh nghiệp có thể sử dụng hai chỉ tiêu sau:

Hiệu suất sử dụng Doanh thu thuần

vốn cố định =

Vốn cố định bình quân

Chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng vốn cố định thì có thể tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu thuần.

Chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng vốn cố định bình quân thì có thể tạo

ra bao nhiêu đồng doanh thu thuần.

Hiệu quả sử dụng Lợi nhuận

vốn cố định =

Vốn cố định bình quân trong kỳ

Chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng vốn cố định bình quân trong kỳ sẽ tạo

ra bao nhiêu đồng lợi nhuận Nó phản ánh khả năng sinh lời của vốn cố định, chỉ tiêu này càng lớn thì hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp càng tốt.

1.2.2.2: Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lu động:

Trong kinh doanh thì chỉ tiêu luôn là một cơ sở vững chắc vì thông qua

đó các nhà doanh nghiệp áp dụng vào trong doanh nghiệp Cũng nh vốn cố

định, vốn lu động cũng đợc các nhà quản lý sử dụng nh một số chỉ tiêu sau:

Trang 10

Hệ số đảm nhiệm Vốn lu động bình quân trong kỳ

vốn lu động =

Doanh thu thuần

Chỉ tiêu này cho chúng ta biết cứ một đồng vốn lu động thì tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu thuần Hệ số này càng nhỏ chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn lu động càng cao, số vốn tiết kiệm đợc càng nhiều và ngợc lại.

- Chỉ tiêu sức sinh lợi của vốn lu động:

Sức sinh lợi của Lợi nhuận gộp

vốn lu động =

Vốn lu động bình quân trong kỳ

Chỉ tiêu này chỉ ra rằng cứ một đồng vốn lu động tham gia vào một chu

kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh thì tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận Chỉ tiêu này càng lớn càng tốt.

Trong hoạt động sản xuất hay trong một chu kỳ kinh doanh thì đồng vốn càng có sự luân chuyển tốt ở nhiều hình thái khác nhau càng chứng tỏ việc sử dụng đồng vốn có hiệu quả ở doanh nghiệp Góp phần vào việc nâng cao hiệu quả sử dụng đồng vốn thì các doanh nghiệp không thể sử dụng một số các chỉ tiêu cơ bản nh:

Số vòng quay của Doanh thu thuần

vốn lu động =

Vốn lu động bình quân trong kỳ Chỉ tiêu này còn chỉ ra đợc số luân chuyển của vòng vốn Nếu số luân chuyển càng lớn thì chứng tỏ lợi nhuận mà nó tạo ra đợc càng cao và đồng vốn

đó đợc doanh nghiệp sử dụng một cách có hiệu quả.

Thời gian của Thời gian của kỳ phân tích

một vòng luân chuyển =

Số vòng quay vốn lu động trong kỳ Chỉ tiêu này có thể chỉ ra một cách chi tiết về thời gian vòng vốn luân chuyển, vòng luân chuyển càng nhỏ thì tốc độ luân chuyển của vốn lu động càng lớn và làm ngắn chu kỳ kinh doanh, vốn quay vòng hiệu quả hơn

Mặt khác, do vốn lu động đợc biểu hiện dới nhiều dạng khác nhau nh: tiền mặt, các khoản phải thu, nên khi đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lu động ngời ta có thể dựa vào một số yếu tố, chỉ tiêu cơ bản phản ánh chất lợng công tác quản lý ngân quỹ và các khoản phải thu nh:

Trang 11

Tỷ xuất thanh toán Tổng số vốn bằng tiền

tức thời =

Tổng số vốn ngắn hạn

Trong hoạt động kinh doanh thì tỷ xuất thanh toán luôn đợc các doanh nghiệp quan tâm Nếu chủ động trong vấn đề này thì doanh nghiệp luôn tạo cho mình một chỗ đứng trên thơng trờng Trong thực tế nếu tỷ xuất này >= 0.5 thì tình hình thanh toán tơng đối khả quan còn ngợc lại nếu = < 0.5 thì doanh nghiệp có thể gặp khó khăn trong việc thanh toán công nợ điều này sẽ gây cho doanh nghiệp rất nhiều khó khăn Tuy nhiên, nếu tỷ xuất cao chứng tỏ doanh nghiệp đang bị ứ đọng vốn hay là doanh nghiệp đang trong tình trạng không biết tạo ra các cơ hội cho đồng vốn của mình.

Tỷ xuất thanh toán Tổng số tài sản luđộng

ngắn hạn =

Tổng số nợ ngắn hạn

Nếu nh khả năng này =1 thì chứng tỏ rằng doanh nghiệp rất chủ động trong việc hoàn lại số vốn do vay ngắn hạn vậy doanh nghiệp có một nền tài chính có khả quan.

Số vòng quay các Tổng doanh thu bán chịu

khoản phải thu =

Bình quân các khoản phải thu

Mức hợp lý của các khoản phải thu sẽ đợc biểu hiện qua nó Nếu doanh nghiệp không thu hồi vốn nhanh thì các nguồn vốn của doanh nghiệp đang bị chiếm dụng dẫn đến việc doanh nghiệp không chủ động trong các vấn đề đầu

t hay luân chuyển vòng vốn dẫn đến các thiệt thòi cho doanh nghiệp.

Thời gian một vòng quay các Thời gian kỳ phân tích

khoản phải thu =

Số vòng quay các khoản phải thu

Trang 12

Đây là một chỉ tiêu khá quan trọng đối với các doanh nghiệp vì nếu các dòng vốn luân chuyển đi mà doanh nghiệp không biết bao giờ có thể thu lại đ-

ợc số vốn này thì nó sẽ không cho các nhà đầu t có điều kiện để phát huy hết khả năng sử dụng đồng vốn của mình đồng thời các điều kiện về tài chính sẽ không đợc duy trì Vậy đòi hỏi các nhà doanh nghiệp phải có các phơng pháp

sử dụng hợp lý để đồng vốn có thể quay lại tay các nhà đầu t trong thời gian ngắn nhất cùng với các lợi nhuận mà đồng vốn mang về, các nhà quản lý khi phân tích hiệu quả sử dụng vốn thì cần xem xét tới các nhân tố ảnh hởng trực tiếp hay gián tiếp tới hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp Nhằm mang lại hiệu quả cao cho doanh

1.2.2.3:Cỏc chỉ tiờu biểu hiện hiệu quả sử dụng tổng vốn

Để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp thì các nhà phân tích có thể sử dụng nhiều phơng pháp để kiểm tra, trong đó một số chỉ tiêu tổng quát nh hiệu suất sử dụng tổng tài sản, doanh lợi vốn, doanh lợi vốn chủ

sở hữu Trong đó:

Hiệu suất sử dụng Doanh thu

tổng tài sản =

Tổng tài sản

Chỉ tiêu này đợc gọi là vòng quay của toàn bộ vốn, nó cho ta biết một

đồng tài sản khi mang đi sử dụng sẽ đem lại bao nhiêu đồng doanh thu Chỉ tiêu này càng lớn thì càng tốt

Lợi nhuận

Doanh lợi vốn =

Tổng tài sản

Đây là chỉ tiêu tổng hợp dùng để đánh giá khả năng sinh lời của một

đồng vốn Chỉ tiêu này còn đợc gọi là tỷ lệ hoàn vốn đầu t, nó cho biết một

đồng vốn đầu t đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận.

Doanh lợi vốn Lợi nhuận

1.2.3 :Sự cần thiết phải nõng cao hiệu quả sự dụng vốn

Trong quỏ trỡnh sản xuất kinh doanh, vốn vận động liờn tục và những đặc điểm rất

Trang 13

khác nhau Việc đồng vốn được bảo toàn và phát triển hay không là vấn đề sống còn đối với mỗi doanh nghiệp Vì vậy tổ chức sử dụng vốn có hiệu quả hiện nay đang là yêu cầu khách quan và hết sức cần thiết Nói cách khác, việc tăng cường công tác tổ chức và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong các doanh nghiệp xuất phát từ những lý do sau:

Thứ nhất: Xuất phát từ mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận Bất kỳ một doanh nghiệp nào khi tiến hành sản xuất kinh doanh đều hướng tới mục tiêu này Lợi nhuận là khoản tiền chênh lệch giữa doanh thu và chi phí mà doanh nghiệ bỏ ra để đạt được thu nhập Đó là nguồn tích lũy cơ bản để tái sản xuất mở rộng Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường như hiện nay doanh nghiệp có tồn tại và phát triển được hay không thì điều kiện quyết định là doanh nghiệp có tạo ra được lợi nhuận hay không?

Để đạt được mục tiêu đó doanh nghiệp phải tính toán mọi chi phí trong sản xuất như thế nào để đảm bảo kinh doanh có lãi Điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải tổ chức sử dụng vốn một cách có hiệu quả , phải quản lý đồng vốn chăt chẽ nhưng vẫn phải đảm bảo cho đầu tư phát triển mở rộng sản xuất kinh doanh Nếu sử dụng vốn không có hiệu quả , không bảo toàn được vốn , không làm cho nó sinh lời thì doanh nghiệp sẽ không tồn tại và dẫn đến nguy cơ phá sản Vì thế , lợi nhuận được coi là mục tiêu kinh tế quan trọng Việc thực hiện được chỉ tiêu này là điều kiện quan trọng đảm bảo cho tình hình tổ chức của doanh nghiệp được vững chắc

Thứ hai: Xuất phát từ vai trò , tầm quan trọng của vốn đối với quá trình sản xuất kinh doanh Trong quá trình sản xuất kinh doanh , doanh nghiệp luôn cần thêm một lượng vốn tiền tệ để tăng them TSCĐ và TSLĐ để ứng với sự tăng trưởng của quy mô sản xuất kinh doanh, sự tiến bộ khoa học kỹ thuật

Thứ ba : X uất phát từ cơ chế nhà nước

Trước đây trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung bao cấp , các doanh nghiệp quốc doanh đều được ngân sách tài chợ vốn, nếu thiếu vốn sẽ được ngân hàng cho vay với lãi xuất ưu đãi Vì thế mà việc thu hút vốn cugn cấp cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trở lên thụ động Hơn nữa trong quá trình sử dụng vốn, các doanh nghiệp nhà nước ít hay thậm chí không quan tâm đến hiệu quả của đồng vốn đưa vào hoạt động Sử dụng tốt hay không tốt đã có nhà nước no, kinh daonh thua lỗ đã có nhà nước bù

Do đó nhận thức về vai trò của vốn có phần xem nhẹ, hiệu quả sử dụng vốn trong các doanh nghiệp nhà nước rất thấp

Khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, với nhiều thành phần kinh tế cùng huy động, các doanh nghiệp nhà nước chỉ là một bộ phận song song tôn tại với doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác Để tồn tại và phát triển được trong cơ chế mới tất yếu đòi hỏi các doanh nghiệp phải năng động nắm bắt nhu cầu thị trường Trong điều kiện đó, việc đầu tư phát triển những ngành nghề mới nhằm thu lợi nhuận cao đã trở thành động lực

và là một đòi hỏi với tất cả các doanh nghiệp trong nền kinh tế

Thứ tư : Từ thực tế các doanh nghiệp hiện nay

Hiện nay có rất nhiều có rất nhiều doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường đã không sử dụng có hiệu quả đồng vốn của mình Điều này có nhiều nguyên nhân : Từ cơ chế nhà nước chua tạo điều kiện và môi trường hoạt động thuận lợi cho các doanh nghiệp này từ khâu cấp phát vốn, phê duyệt, thanh tra, kiểm tra Điều đó tạo không ít khó khăn cho doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp hiện nay đang trong tình trạng thiếu vốn nên việc

sử dụng vốn phải hợp lý, tiết kiệm, tăng cường công tác quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là tất yếu trong điều kiện nên kinh tế thị trường thì mới có kết quả như trình bày

Trang 14

sản cố định, thuế lợi tức… đến chính sách cho vay bảo hộ và khuyên khích nhập một số loại công nghệ nhất định có thể làm tăng hay giảm hiệu quả sử dụng TSCĐ.

- Biến động của thị trường đầu vào, đầu ra: Những biến động về số lượng, giá cả, máy móc thiết bị, nuyên vật liệu nhất là đối với trường hợp phải nhập ngoại sẽ tác động rất lớn tới

kế hoạch VCĐ,VLĐ của doanh nghiệp bên cạnh đó không thể kể đến những biến động bất lợi của thị trường đầu ra như là khủng hoảng thừa, giảm đột ngột nhu cầu, sự mất uy tín của sản phẩm cùng loại

- Do sự phát triển mạnh mẽ của tiến bộ khoa học cho ra đời hàng loạt các tài sản cùng loại với các tài sản hiện có trong các doanh nghiệp với tính năng cao hơn đã làm cho tài sản cố định của doanh nghiệp bị hao mòn vô hình dẫn đến tình trạng doanh nghiệp bị mất vốn

Ngoài ra còn các nguyên nhân khác làm ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp như: tác động của nền kinh tế có lạm phát, những rủi ro không thể lường trước được Bên cạnh những nhân tố khách quan trên còn có các nhân tố chủ quan làm ảnh hưởng không tốt đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp

* Các nhân tố chủ quan:

- Do cơ cấu đầu tư vốn bất hợp lý: Đây là nhân tố ảnh hưởng tương đối lớn đến hiệu quả sử dụng vốn vì vốn đầu tư vào các tài sản không cần sử dụng chiếm tỷ trọng lớn thì không những nó phát huy được tác dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh mà còn bị haohụt mất mát dần làm giảm hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp

- Do việc xác định nhu cầu vốn thiếu chính xác dẫn đến tình trạng thừa hoặc thiếu vốn trong các giai đoạn của quá trình sản xuất kinh doanh đều ảnh hưởng không tốt đến hoạt động cũng như hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp thấp

- Do ảnh hưởng của chu kỳ sản xuất: Đây là một đặc điểm quan trọng trực tiếp tới hiệu quả sử dụng vốn Nếu chu kỳ ngắn, doanh nghiệp sẽ thu hồi vốn nhanh tái đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh Ngược lại nếu chu kỳ dài, doanh nghiệp sẽ có một gánh nặng là

ứ đọng vốn và lãi trả các khoản vay và các khoản phải trả

- Do trình đọ quản lý của doanh nghiệp còn yếu kém, hoạt động sản xuất kinh doanh thua lỗ kéo dài làm cho vốn bị thâm hụt dần sau mỗi chu kỳ sản xuất, làm hiệu quả sử dụngvốn giảm

- Do việc sử dụng lãng phí vốn, nhất là vốn lưu động trong quá trình sản xuất, trong quá trình mua sắm phải dự trữ như mua các loại vật tư không phù hợp với quy trình sản xuất không đúng tiêu chuẩn kỹ thuật và chất lượng quy định Đồng thời do không tận dụngđược hết các loại phế liệu, phế phẩm cũng tác động không nhỏ đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp

-Việc lựa chọn phương án đầu tư là một nhân tố cơ bản ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp đầu tư sản xuất ra các sản phẩm, lao

vụ dịch vụ chất lượng tốt, mẫu mã đệp, giá thành hạ, được thị trường chấp nhận thì tất yếu hiệu quả kinh tế thu được sẽ lớn Ngược lại sản phẩm hàng hóa doanh nghiệp sản xuất ra kém chất lượng, không phù hợp với nhu cầu thị hiếu người tiêu dùng dẫn đến tình trạng không tiêu thụ được, và đây chính là một trong những nguyên nhân gây nên tình trạng ứ đọng vốn, hiệu quả vốn thấp

Trang 15

Chương II : Thực trạng hiệu sử dụng vốn sản xuất kinh doanh tại Công ty cổ phần ô tô

khách Hà Tây

2.1: Khái quát chung Công ty cổ phần ô tô khách Hà Tây

2.1.1: Sự ra đời chức năng nhiệm vụ và bộ máy tổ chức của Công ty

a, Sự ra đời : Việc chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế từ kế hoạch hóa tập chung bao

cấp sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường dưới sự

quản lý của nhà nước Tại đại hội Đảng lần thứ VI năm 1989 được coi là mốc son lịch sử

trong quá trình phát triển nền kinh tế Việt Nam Hàng hóa phát triển mạnh, cơ sở hạ tầng

được nâng lên rõ rệt , việc giao lưu buôn bán của con người trở lên dễ dàng Cùng với đà

phát triển của nền kinh tế và đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế thị trường, ngày 12-9-1992

UB nhân dân tỉnh Hà Tây ra quyết định số 309 /QĐ-UB chính thức thành lập công ty ô tô

khách Hà Tây dưới sự hợp nhất từ ba đơn vị là trung đại tu ô tô khách và bến xe Sơn Tây

-Thực hiện chủ trương của Đảng và nhà nước dưới sự chỉ đạo của ủy ban nhân dân

tỉnh Hà Tây, sở giao thông vận tải Hà Tây Cán bộ công nhân viên công ty chuẩn bị bắt tay

vào công việc chuẩn bị chuyển đổi DNNN (Công ty ô tô khách Hà Tây ) sang công ty cổ

phần ô tô khách Hà Tây Việc cổ phần hóa các DNNN là chủ trương đúng đắn của Đang và

nhà nước ta nhằm huy động vốn của xã hội, để đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, đổi

mới công nghệ, nâng cao sự cạnh tranh Đông thời người lao động có cổ phần được làm

chủ, góp phần thay đổi phương thức quản lý, tạo động lực thúc đẩy cho doanh nghiệp hoạt

động có hiệu quả Đến ngày 12/12/1998 theo quyết định số 1335/QĐ-UB của ủy ban nhân

dân tỉnh Hà Tây quyết đinh chuyển giao thành Công ty cổ phần ô tô khách Hà Tây Đến

ngày 1/1/1999 Công ty cổ phần ô tô khách Hà Tây chính thức đi vào hoạt động Công ty

có trụ sở chính đóng tại 143 đường Trần Phú - phường Văn Mỗ - thành phố Hà Đông -Hà

Tây trên quốc lộ 6A

b, Chức năng , nhiệm vụ của Công ty

Công ty cổ phần ô tô khách Hà Tây là doanh nghiệp nhà nước trực thuộc sở giao

thông vận tải Hà Tây quản lý Là một đơn vị hạch toán kinh doanh độc lập, có tư cách

pháp nhân hoạt động trong cơ chế thị trường hiện nay với chúc năng, nhiệm vụ sau:

Kinh doanh đúng ngành nghề đã đăng ký trong giấy phép kinh doanh và muc đích

thành lập công ty

-Kinh doanh vận tải bằng ô tô(ngành kinh doanh chính)

-Sửa chữa, đóng mới, hoán cải các phương tiện cơ giới đường bộ

-Thiết kế, cải tạo phương tiện cơ giới đương bộ theo phân cấp của Bộ giao thông vận

tải

- Kinh doanh xăng dầu, vật tư, phụ tùng ô tô và các dịch vụ cơ khí khác

-Chịu trach nhiệm trước các cổ đông và về kết quả kinh doanh, chịu trach nhiệm

trước khách hàng và pháp luật về sản phẩm và dịch vụ do công ty cung cấp

-Đảm bảo vận chuyển và đưa đón hành khách nội , ngoại tỉnh an toàn

-Thực hiện nghĩa vụ đối với người lao động theo quy định của luật lao động

-Thực hiện các quy đinh của nhà nước về bảo vệ môi trường, phòng chống cháy nổ,

trận tự an toàn giao thông và xã hội

-Thực hiện báo cáo thống kê kế toán theo quy định của nhà nước

Bộ máy tổ chức của công ty

- Sơ đồ bộ máy của công ty cổ phần ô tô khách Hà Tây là một đơn vị kinh doanh vân tải là chủ yếu nên việc tổ chức quản lý tổ chức sản xuất kinh doanh của công ty có những đặc điểm chung trong ngành giao thông vận tải Song là một công ty cổ phần do vây việc tổ chức quản lý sản xuất của công ty

có những đặc điểm riêng sao cho phù hợp công với công ty cổ phần vận tải

Trang 16

+Chức năng, nhiệm vụ các phòng ban:

-Hôi đồng cổ đông gồm tất cả các cổ đông có quyền biểu quyết, là cơ quan quyết định cao nhất của công ty

Đại hội đồng cổ đông có quyền và nhiệm vụ sau:

Thông qua báo cáo tài chính hàng năm, thông qua quyết định chiến lợc phát triển của công ty, thông qua báo cáo của hội đồng quản trị, ban kiểm soát về kết quả hoạt

động kinh doanh và các vấn đề khác

Quyết định loại cổ phần và tổng số cổ phần đợc quyền chào bán của từng loại, quyết định cổ tức hàng năm của từng loại cổ phần

Đại hội đồng cổ đông bầu và miễn nhiện, bãi nhiệm thành viên hội đồng quản trị, thành viên hội đồng kiểm soát , xem xét xử lý các vi phạm của hội

đồng quản trị và quyết định việc tổ chức sản xuất , phơng án kinh doanh của công ty

-Hội đồng quả trị : là cơ quan quản lý của công ty, có toàn quyền nhân danh công ty để quyết định mọi vấn đề liên quan đến mục đích (mục tiêu), quyền lợi Hội đồng quản trị gôm 12 thành viên phụ trách mọi vấn đề sản xuất kinh doanh chính của công ty nh việc xây dựng chiến lợc phát triển, ph-

ơng pháp kinh doanh hiện thời và định hớng sự phát triển lâu dài của công ty, chịu trách nhiệm trực tiếp đối với các cổ đông và nghĩa vụ của chủ tịch hội

Trang 17

đồng quản trị

Hội đồng quản trị có quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các chức danh giám

đốc, phó giám đốc, kế toán trởng công ty, trởng các phòng ban, quản đốc phân xởng -Ban kiểm soát: Gồm 3 đồng chí trong đó có 1 kiểm soát viên đại diện vốn nhà n-

ớc, 1 kiểm soát viên do sở giao thông vận tải cử và một kiểm soát viên do đại hội đồng cổ

đông cử

Quyền và nhiệm vụ của ban kiểm soát : Ban kiểm soát kiểm tra tính hợp pháptrong quản ly, điều hành hoạt động kinh doanh, trong ghi chép sổ kế toán và báo cáotài chính của công ty Ban kiểm soát có nhiệm vụ thẩm định báo cáo tài chính hàngnăm của công t, kiểm tra từng vấn đề cụ thể liên quan đến quản lý điều hành hoạt

động của công ty theo yêu của đại hội cổ đông

- Giám đốc điều hành là ngời đại diện pháp nhân của công ty trong các quan hệhợp đồng kinh tế và các giao dịch khác liên quan đến hoạt động của công ty.Tổ chứcthực hiện các quyết định của hội đồng quản trị, thực hiện kế hoặch kinh doanh và ph-

ơng án đầu t nh xây dựng phơng án bố trí cơ cấu tổ chức, quy chế quản lý nộ bộ vàchịu trách nhiệm trớc hội đồng quản trị, các cổ đông cũng nh trớc pháp luật về mọi hoạt

động của mình trong hoạt động kinh doanh

- Phó giám đốc là ngời trợ lý, giúp việc cho giám đốc và do giám đốc uỷ quyền vàgiao nhiệm vụ

Phó giám đốc có trách nhiệm hoàn thành nhiệm vụ đợc giao Thay mặt giám đốcgiải quyết công việc của công ty khi đơc uỷ quyền

-Phòng tổ chức: Gồm 3 đồng chí có chức năng tham miu cho lãnh đạo về công tácquản lý và điều phối lao động phù hợp với nhiệm vụ kế hoạch sản xuất kinh doanh, đảmbảo cân đối đủ việc cho ngời lao động Làm công tác nhân sự, lao động, tiền lơng, kếhoặch đào tạo theo các quy định của nhà nớc và có tham mu về công tác thi đua khenthởng , kỷ luật

-Phòng hành chính: Gồm 5 thành viên có chức năng giúp giám đốc về công tácquản lý đảm bảo công tác văn th, đánh máy và giữ bí mật tài liệu, sắp xếp vị trí làmviệc và các công tác khác

-Phòng kế hoặch kinh doanh: Gồm 5 thành viên với nhiệm vụ xây dựng kế hoạchsản xuất kinh doanh của toàn công ty Có nhiệm vụ về công tác quản lý sản xuất, côngtác khoán trong vận tải, cùng các đơn vị có liên quan lập và chỉ đạo thắng lợi nhiệm vụ

kế hoạch tháng , quý , năm Xây dựng kế hoạch của công ty cùng đội khai thác hàng hoá,luồng tuýên vận tải , theo dõi thanh quyết toán với từng đầu xe theo phơng án khoán của

Trang 18

công ty và có nhiệm vụ nắm bắt chắc thị trửờng kết hợp thông tin để phân tích sử lýkịp thời để đa ra phơng án sản xuất tối u phù hợp với điều kiện trên các luồng tuyến sẵn

có và đồng thời khai thác các luồng tuyến mới

-Phòng kế toán tài vụ: Gồm 6 thành viên có nhiệm vụ làm công tác quản lý tài sản,hạch toán, lập kế hoạch thu chi tài chính tháng, quý, năm theo kế hoạch sản xuất Cùngphòng kinh doanh, đội xe xây dựng hoàn chỉnh phơng án khoán đến từng đội xe, từngxởng sửa chữa, báo cáo nhanh kết quả sản xuất kinh doanh của toàn công ty hàng tuần

để lãnh đạo có kế hoạch chỉ đạo sản xuất sát với thực tế Làm công tác nhiệm vụ, phục

vụ sản xuất, phục vụ cán bộ công nhân viên trong toàn công ty

-Phòng kỹ thuật: Gồm 3 thành viên có chức năng quản lý, và lập kế hoạch các phơngtiện tham gia hoạt động để đảm bảo chu trình sản xuất kinh doanh

Thờng xuyên xem xét tình trạng kỹ thuật nh sửa chữa khi hỏng hóc của xe khi thamgia giao thông, đảm bảo an toàn xã hội Phòng kỹ thuật có nhiệm vụ cung cấp số lợng xe

đảm bảo cho phòng kinh doanh để phòng kinh doanh lên phơng án điều động trong quátrình sản xuất kinh doanh

- -Các xởng sửa chữa: Có nhiệm vụ lập kế hoạch sửa chữa chi tiết từng công đoạn

nh sửa chữa máy móc, gầm, gò hàn và đại tu tổng thành,phù hợp với nhiệm vụ đợc giao,phân công chỉ đạo sản xuất cụ thể đến từng công đoạn sản xuất về ngời, vật t đảmbảo xe vào xởng khi ra có chất lợng tốt để đáp ứng xe tốt cho phòng kỹ thuật

-Đội xe là đơn vị trực tiếp sản xuất và cũng là đầu mối quan trọng trong quan hệcủa công ty với thị trờng bên ngoài Là bộ phận bị điều hành ở phòng kinh doanh Đợc sựphân công của phòng kinh doanh, các xe đợc phân đi các tuyến khác nhau để phục vụcho nhu cầu nhân dân đi lại

-Cửa hàng dịch vu xăng dầu la nơi cung cấp nhiên liệu cho các xe hoạt

động trong công ty, đảm bảo đủ nhiên liệu đồng thời cung câp cho các xe bên ngoài để tăng doanh thu thêm tạo

2.1.2 Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty một số năm vừa qua.

Công ty hoạt động kinh doanh với nhiều ngành nghề khác nhau nh kinh doanh vận tải bằng ô tô, sửa chữa, trung đại tu, đóng mới ô tô, cung ứng kinh doanh vật t phụ tùng Nhng ngành nghề kinh doanh chính là kinh doanh vận tải hành khách bằng ô tô.

Công ty hoạt động kinh doanh trên phạm vi 20 tỉnh thành phố , chủ yếu

là khu vực phía bắc (từ Thanh Hoá trở ra) với 58 tuyến luồng hành khách, trong đó có 18 tuyến nội tỉnh , 40 tuyến ngoại tỉnh Công ty hiện tại có 92 xe

Ngày đăng: 19/02/2014, 11:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w