Tín dụng ngắn hạn với vai trò không thể phủ nhận được của nó đã đangphát huy được vai trò quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu bức thiết về số vốnlưu động, đổi mới trang thiết bị…nâng c
Trang 1MỤC LỤC
Trang
LỜI MỞ ĐẦU 3
CHƯƠNG I: TÍN DỤNG NGẮN HẠN ĐỐI VỚI CÁC DANH NGHIỆP XÂY LẮP 5
1.1 Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây lắp: 5
1.1.1 Khái niệm 5
1.1.2 Vai trò của ngành xây lắp 6
1.1.2.1 Ngành công nghiệp xây lắp phát triển là điều kiện khai thác và sử dụng tối đa nguồn lực của đất nước 6
1.1.2.2 Khuyến khích sự phát triển của ngành xây lắp là cơ hội thu hút lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp trong xã hội 7
1.1.2.3 Ngành xây lắp được thành lập theo quy định của pháp luật, giữ một vai trò quan trọng trong việc hoàn thiện hơn các mục tiêu kinh tế vĩ mô của đất nước 7
1.1.2.4 Sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước cần có sự đóng góp không nhỏ của ngành xây dựng cơ bản 7
1.1.3 Đặc điểm của ngành nghề xây lắp 8
1.1.3.1 Đặc điểm về các loại hình tổ chức sản xuất 8
1.2.2.2 Đặc điểm về sản phẩm của ngành xây lắp 9
1.1.2.3 Đặc điểm về tổ chức thi công công trình 10
1.1.2.4 Vốn và vấn đề chu chuyển vốn tại doanh nghiệp xây lắp 10
1.2 Chất lượng tín dụng ngắn hạn đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây lắp 12
1.2.1 Chất lượng tín dụng ngắn hạn trong các Ngân hàng thương mại: 12
1.2.2 Chất lượng tín dụng ngắn hạn đối với doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây lắp: 14
1.2.2.1 Sự cần thiết khách quan phải nâng cao chất lượng tín dụng ngắn hạn trong lĩnh vực xây lắp 15
1.2.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng ngắn hạn đối với doanh nghiệp xây lắp 18
1.2.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng ngắn hạn đối với doanh nghiệp xây lắp 21
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG NGẮN HẠN TRONG LĨNH VỰC XÂY LẮP TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN CẦU GIẤY 27
2.1 Tổng quan về Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Cầu Giấy 27
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Cầu Giấy 27
2.1.2 Chức năng và nhiệm vụ của Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Cầu Giấy 27
2.1.3 Các sản phẩm tín dụng đang được triển khai tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Cầu Giấy 28
2.1.4 Cơ cấu tổ chức 29
Trang 22.1.5 Tình hình hoạt động tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển
Cầu Giấy 31
2.2 Thực trạng chất lượng tín dụng ngắn hạn trong lĩnh vực xây lắp tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Cầu Giấy 36
2.2.1 Những yêu cầu chung, thống nhất về tín dụng ngắn hạn trong lĩnh vực xây lắp tại hệ thống Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam 37
2.2.2 Thực trạng chất lượng tín dụng ngắn hạn trong lĩnh vực xây lắp tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Cầu Giấy 40
2.2.2.1 Chỉ tiêu về quy mô và cơ cấu tín dụng ngắn hạn 41
2.2.2.2 Các chỉ tiêu về nợ quá hạn 48
2.3 Đánh giá chung về chất lượng tín dụng ngắn hạn và những nhân tố ảnh hưởng đến việc tăng, giảm chất lượng tín dụng ngắn hạn trong lĩnh vực xây lắp tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Cầu Giấy 50
CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG NGẮN HẠN TRONG LĨNH VỰC XÂY LẮP TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN CẦU GIẤY 57
3.1 Định hướng cho hoạt động tín dụng ngắn hạn trong lĩnh vực xây lắp tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Cầu Giấy 57
3.2 Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng ngắn hạn trong lĩnh vực xây lắp tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Cầu Giấy 58
3.2.1 Đổi mới chính sách tín dụng ngắn hạn phù hợp trong lĩnh vực thi công xây lắp 59
3.2.2 Tăng cường đánh giá năng lực các doanh nghiệp xây lắp 62
3.2.3 Thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc thẩm định trong cho vay 64
3.2.4 Tăng cường các biện pháp xử lý nợ quá hạn trong hoạt động tín dụng ngắn hạn đối với các doanh nghiệp xây lắp 65
3.2.5 Kiểm tra và giám sát chặt chẽ quá trình vay và sử dụng vốn vay cũng như quá trinh trả nợ vay của các doanh nghiệp xây lắp 67
3.2.6 Tăng cường trao đổi, đúc rút kinh nghiệm đối với từng khoản vay, từng doanh nghiệp 67
3.2.7 Nâng cao năng lực và chất lượng cán bộ tín dụng 68
3.3 Kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng tín dụng ngắn hạn trong lĩnh vực xây lắp 69
3.3.1 Với cơ quan Nhà nước 69
3.3.2 Với Ngân hàng Nhà nước 70
3.3.3 Với Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam 72
3.3.4 Với các doanh nghiệp xây lắp 73
KẾT LUẬN 75
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
Trang 3Là một nước còn nghèo, điểm xuất phát thấp, để không bị tụt hậu, chúng
ta không còn con đường nào khác là phải tăng cường đầu tư để đẩy nhanh quátrình công nghiệp hoá - hiện đại hoá, tạo điều kiện phát triển kinh tế xã hội Đây
là quá trình đòi hỏi có nhu cầu vốn rất lớn bao gồm cả nguồn vốn ngắn, trung vàdài hạn Trong khi vốn ngân sách Nhà nước cấp hạn hẹp, việc thực hiện mụctiêu tăng trưởng, phát triển đất nước, với tốc độ đô thị hoá cao, cơ sở hạ tầngđang được củng cố và phát triển, nhiều khu đô thị mới, khu công nghiệp đangdần dần được hình thành, thì toàn bộ nguồn vốn sản xuất, vốn lưu động, vốn
cố định đều cần những nguồn tài trợ khác từ việc đi vay
Trước những tín hiệu về sự sôi động của một nền kinh tế đang phát triển,nhiều Ngân hàng thương mại đã thực sự vào cuộc và thực hiện nhiều lĩnh vựchoạt động kinh doanh khác nhau Và việc đầu tư cho việc phát triển thi công cáccông trình xây dựng đang giành được rất nhiều sự quan tâm của các nhà quản lý
Đối với hệ thống Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam nói chung vàChi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Cầu Giấy nói riêng thì việc triển khaicho vay hỗ trợ vốn đối với tất cả các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xâylắp đang được xem là một hoạt động đặc thù từ khi còn là Ngân hàng cấp phátvốn xây dựng cơ bản Trong nhiều năm qua, Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư vàPhát triển Cầu Giấy đã triển khai cho vay, hỗ trợ vốn rất lớn đối với các đơn vịhoạt động thi công xây lắp, góp phần quan trọng trong việc đảm bảo tiến độ thi
Trang 4Tín dụng ngắn hạn với vai trò không thể phủ nhận được của nó đã đangphát huy được vai trò quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu bức thiết về số vốnlưu động, đổi mới trang thiết bị…nâng cao chất lượng sản phẩm và tăng sứccạnh tranh của doanh nghiệp.
Quá trình thực tập tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển CầuGiấy đã hướng sự quan tâm đặc biệt của tôi về vấn đề này, về tầm quan trọng, vềnhững thuận lợi, khó khăn và thách thức đang đặt ra đối với Ngân hàng và cácdoanh nghiệp trước cửa ngõ của quá trình hội nhập và phát triển Chính vì vậy
mà tôi đã tự lựa chọn cho mình đề tài “Nâng cao chất lượng tín dụng ngắn hạn trong lĩnh vực xây lắp tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Cầu Giấy”
Chuyên đề được kết cấu theo 3 chương lớn:
Chương I: Tín dụng ngắn hạn đối với các doanh nghiệp xây lắp
Chương II: Thực trạng chất lượng tín dụng ngắn hạn trong lĩnh vực xây lắp tại
Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Cầu Giấy
Chương III: Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng ngắn hạn trong lĩnh vực xây
lắp tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Cầu Giấy
Trang 5CHƯƠNG I: TÍN DỤNG NGẮN HẠN ĐỐI VỚI CÁC
DOANH NGHIỆP XÂY LẮP
Tín dụng ngắn hạn là một nghiệp vụ kinh doanh của Ngân hàng vànâng cao chất lượng tín dụng ngắn hạn trong thi công xây lắp được xác đinh
là một chiến lược kinh doanh quan trọng đối với hệ thống Ngân hàng Đầu tư
và Phát triển Việt Nam nói chung và đối với Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư vàPhát triển Cầu Giấy nói riêng
Các doanh nghiệp hình thành và hoạt động trên nhiều lĩnh vực kinhdoanh khác nhau, với những chức năng, nhiệm vụ và vai trò đối với nền kinh
tế cũng rất khác nhau Các Ngân hàng đã tự phân loại đối tượng khách hàngtheo các lĩnh vực: thi công xây lắp, kinh doanh thương mại và hoạt động sảnxuất để theo dõi việc vay vốn và sử dụng vốn của từng thành phần doanhnghiệp
1.1.1 Khái niệm
Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây lắp là doanh nghiệp thuộcmọi thành phần kinh tế, được thành lập theo quy định của pháp luật, đượchoạt động trong lĩnh vực thi công xây lắp khi có đăng ký kinh doanh về xâydựng
Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây lắp phải đăng ký hoạt độngxây dựng theo đúng quy định,chịu trách nhiệm trước pháp luật về các nộidung đã ký kết trong các hợp đồng Đồng thời phải thực hiện chế độ bảo hiểmcông trình xây dựng, thực hiện an toàn lao động, bảo vệ môi trường sinh tháitrong khi công trình đang thi công Các doanh nghiệp xây lắp phải công khairộng rãi những thông tin về năng lực hoạt động của doanh nghiệp cho các chủđầu tư biết trước khi đưa ra quyết định lựa chọn
Trang 6Các doanh nghiệp xây lắp đảm nhiệm một nhiệm vụ quan trọng là xâymới, mở rộng, khôi phục và sửa chữa tài sản cố định của nền kinh tế quốc dânđặc biệt khi đất nước đang trong quá trình xây dựng.
1.1.2 Vai trò của ngành xây lắp
Một cơ sở hạ tầng vững chắc, hiện đại là điều kiện tiên quyết quyếtđịnh cho sự phát triển kinh tế, là nhân tố quyết định làm thay đổi cơ cấu kinh
tế quốc dân của mối nước Kinh nghiệm cho thấy những quốc gia có nền kinh
tế phát triển đều đi lên từ một nền móng hạ tầng rất tốt Ngành công nghiệpxây dựng đã góp phần quan trọng trong việc biến đổi cơ sở hạ tầng và vai tròcủa nó ngày càng được khẳng định qua từng thời kỳ phát triển của đất nướcgiúp đạt được mục tiêu công nghiệp hoá - hiện đại hoá và tăng trưởng kinh tế
1.1.2.1 Ngành công nghiệp xây lắp phát triển là điều kiện khai thác và
sử dụng tối đa nguồn lực của đất nước
Là ngành sản xuất vật chất nên các yếu tố về cơ sở vật chất cần phảivững mạnh, đặc biệt yếu tố về sức lao động, tư liệu lao động và đối tượng laođộng để đáp ứng trước nhiệm vụ được đặt ra đối với ngành xây dựng
Quá trình đổi mới của nước ta đã trải qua một thời gian khá dài, đó làmột quá trình mà ngành công nghiệp xây lắp phát huy hết khả năng của nó vàmang lại những kết quả rất đáng ghi nhận trong việc khai thác, sử dụng nguồnlực đất nước cùng với việc mở ra một sự hứa hẹn cho một tiềm năng pháttriển kinh tế lớn bởi sự phát triển của ngành công nghiệp xây dựng là một cơhội để tận dụng nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư, một cơ hội để con ngườiphát huy trình độ, tay nghề và tính sáng tạo vì lợi ích của chính cá nhân họ và
vì lợi ích cộng đồng Đó là động lực kích thích sự phát triển của lực lượng sảnxuất, thúc đẩy xã hội phát triển theo kịp với tốc độ tăng trưởng của khu vực
và thế giới
Trang 71.1.2.2 Khuyến khích sự phát triển của ngành xây lắp là cơ hội thu hút lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp trong xã hội
Một lợi thế lớn của Việt Nam là một lực lượng lao động đông đảo vớisức khỏe, sức trẻ, nhiều đối tượng được qua những lớp đào tạo chính quy, cótrình độ tri thức và tay nghề cao Bước sang nền kinh tế thị trường, tính đadạng của loại hình xây lắp được phát huy trên tất cả các ngành nghề, có mặttại tất cả các khu vực từ nông thôn đến thành thị với nhiều loại hình doanhnghiệp khác nhau từ doanh nghiệp Nhà nước đến các doanh nghiệp ngoàiquốc doanh hoạt động ngày càng hiệu quả Ngành xây lắp là ngành nghề tạoviệc làm nhanh và dễ dàng hơn so với các ngành nghề khác qua việc tiếp nhận
và điều chuyển lực lượng công nhân tới rất nhiều vị trí lao động khác nhau tạitất cả các công trình xây dựng được trải dài trên khắp đất nước
1.1.2.3 Ngành xây lắp được thành lập theo quy định của pháp luật, giữ một vai trò quan trọng trong việc hoàn thiện hơn các mục tiêu kinh tế
vĩ mô của đất nước
Sự hoạt động có hiệu quả của ngành xây lắp nhanh chóng làm tăng chỉtiêu GDP, tăng thu cho ngân sách Nhà nước và thúc đẩy quá trình tái sản xuất
mở rộng, tăng nhanh doanh số và chất lượng sản phẩm xây dựng trên thịtrường Điều này giúp cho các ngành nghề khác cũng như bị cuốn theo vàoquá trình phát triển không ngừng của ngành xây lắp và cùng kéo nền kinh tếcủa đất nước đi lên Các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây lắp đãthực sự làm sống lại nhịp độ phát triển của đất nước và nó đã tự khẳng địnhlại vai trò quan trọng không thể phủ nhận trong việc nâng cao chất lượng cơ
sở hạ tầng - tiền đề cho công cuộc đổi mới kinh tế, phát triển đất nước
1.1.2.4 Sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước cần có sự đóng góp không nhỏ của ngành xây dựng cơ bản
Bên cạnh việc cung cấp một lượng sản phẩm lớn cho thị trường, tích tụvốn cho xã hội, các doanh nghiệp còn thông qua hoạt động sản xuất kinhdoanh để tự tích tụ nguồn vốn giúp các doanh nghiệp này chủ động hơn trong
Trang 8sản xuất kinh doanh bằng nhiều hình thức khác nhau như các quỹ phát triểnsản xuất, quỹ khấu hao cơ bản…Công nghệ sản xuất, máy móc thiết bị đangđược hiện đại hoá, trình độ công nhân đang được nâng cao để phù hợp vớinhu cầu phát triển của ngành nghề xây lắp Đồng thời ngành xây lắp cũng cầntiến hành những cuộc cách mạng hoá trong kỹ thuật và công nghệ để theo kịpvới sự phát triển nhanh chóng của thị trường
1.1.3 Đặc điểm của ngành nghề xây lắp
Đầu tư xây dựng cơ bản là một ngành sản xuất vật chất đặc biệt, cónhững điểm riêng so với các ngành sản xuất vật chất khác như việc sản xuấtthi công thường phải được thực hiện tương đối lâu, quy mô công trình (quy
mô của sản phẩm được sản xuất ra) rất lớn, sản phẩm hình thành không thuộctài sản lưu động mà gắn liền ngay với địa điểm thực hiện thi công và sảnphẩm có thể đựơc sử dụng trong một thời gian rất dài
1.1.3.1 Đặc điểm về các loại hình tổ chức sản xuất
Xây dựng cơ bản là một trong những ngành nghề sản xuất vật chất lớnnhất của cả nước, có khả năng tái sản xuất các tài sản cố định Lĩnh vực củahoạt động xây lắp rất rộng có thể được phân loại theo các công trình xâydựng:
* Công trình dân dụng: Bao gồm các công trình công cộng (văn hoá,giáo dục, y tế, thương nghiệp, dịch vụ, khách sạn, nhà phục vụ giao thông,thông tin liên lạc), các công trình về nhà ở chung cư, nhà riêng…
* Công trình công nghiệp: bao gồm các công trình khai thác (khai thácthan, quặng, dầu khí, công trình kho xăng dầu, công trình luyện kim…); cáccông trình cơ khí, chế tạo; công trình công nghiệp vật liệu xây dựng; côngtrình công nghiệp nhẹ…
* Các công trình giao thông đường bộ, đường thuỷ, đường sắt, hầm, sânbay…
Trang 9* Các công trình thuỷ lợi như giếng, đường ống dẫn nước, kênh, hồchứa đập,…
* Các công trình hạ tầng kỹ thuật như cấp thoát nước, xử lý chất thải,công trình chiếu sáng đô thị,…
1.2.2.2 Đặc điểm về sản phẩm của ngành xây lắp
- Sản phẩm xây lắp thường không đồng bộ, luôn biến đổi theo địa điểm
và giai đoạn xây dựng; quy mô lớn, kết cấu phức tạp, giá trị lớn, thời gian sảnxuất và sử dụng lâu dài
- Chất lượng của sản phẩm xây lắp nhiều khi quyết định đến chất lượngcủa các ngành sản xuất khác có liên quan
- Vì sản phẩm xây lắp rất đa dạng, giá trị mỗi dự án là khác nhau nên
để hoàn thành sản phẩm trong lĩnh vực thi công xây lắp yêu cầu phải có nhiềuchủng loại nguyên vật liệu, máy móc và những công nhân theo các ngànhnghề khác nhau Các sản phẩm này cũng có thể là những mạch máu nối liềncác ngành, vùng địa phương như các đường giao thông, cảng biển…nên cầncân nhắc tập trung vốn và nhân lực hợp lý khi triển khai dự án
Sản phẩm của ngành xây lắp được thiết kế riêng về kỹ thuật Mỗi côngtrình đều có những yêu cầu, những tiêu chuẩn riêng cần được thực hiện vềthiết kế, kỹ thuật, công nghệ, mỹ quan và sự an toàn…và đảm bảo những giátrị riêng vào thời điểm nghiệm thu sản phẩm Việc thực hiện một qui trình xâydựng lâu dài, nhiều công đoạn, nhiều kẽ hở sẽ làm cho quá trình quản lý điềuhành hoạt động đầu tư phức tạp hơn trong việc đảm bảo thi công công trìnhdiễn ra được lành mạnh, mức độ phát sinh các tiêu cực là tối thiểu Đó là vấn
đề đặt ra cho các nhà quản lý về việc xây dựng cơ chế chính sách trong điềuhành hoạt động đầu tư xây dựng đảm bảo những sản phẩm của quá trình sảnxuất là những công trình có đủ điều kiện đưa vào sử dụng
Trang 101.1.2.3 Đặc điểm về tổ chức thi công công trình
Các sản phẩm xây lắp thường được hình thành khắp nơi và gắn liền vớiđịa điểm sản xuất nên việc tổ chức xây dựng một công trình như thế nào cần
có những kế hoạch riêng đối với từng địa phương, và từng dự án cụ thể
Để hạn chế việc ứ đọng vốn trong thi công xây lắp, các nhà đầu tư cầnlựa chọn những phương án có thời gian hợp lý cho việc tổ chức thi công xâydựng các công trình ở từng thời điểm khác nhau
Yêu cầu trong công tác tổ chức xây dựng là phải có sự phối hợp chặtchẽ giữa các tổ chức xây dựng, giữa thầu chính hay thầu phụ
Các công trình xây dựng là những công trình được thực hiện và hìnhthành chịu ảnh hưởng rất lớn của thời tiết, khí hậu là một bất lợi lớn cho việc
dự trữ vật liệu và thi công công trình Vì vậy việc lập kế hoạch xây dựng, đảmbảo tiến độ thi công luôn cần được tính toán kỹ trong công tác tổ chức thựchiện
1.1.2.4 Vốn và vấn đề chu chuyển vốn tại doanh nghiệp xây lắp
Quá trình thực hiện một dự án xây dựng bắt đầu từ việc các dự án đượcđem ra đấu thầu và được các chủ đầu tư lựa chọn Các chủ đầu tư luôn biết tựtìm cho mình những dự án tốt nhất, ký kết hợp đồng với các đơn vị xây lắp có
đủ tư cách pháp nhân, năng lực hành nghề xây Chủ đầu tư (bên A) sẽ chịutrách nhiệm trong việc huy động, tìm nguồn vốn cho công trình được thi côngđúng tiến độ, các đơn vị xây lắp bao thầu (bên B) sẽ chịu trách nhiệm trongvấn đề xây dựng các công trình theo thiết kế của chủ đầu tư Các doanhnghiệp xây lắp có uy tín, có năng lực trong kỹ thuật thi công cùng với nănglực tài chính sẽ ngày càng được đánh giá cao
Doanh nghiệp xây lắp thực hiện việc hoàn thành công trình cũng cần cónhững giá trị đầu vào cơ bản đáp ứng nhu cầu sản xuất ra thành phẩm
Những đối tượng lao động của doanh nghiệp được chia thành:
Trang 11- Vật tư dự trữ chuẩn bị cho quá trình sản xuất được liên tục (nguyên,nhiên vật liệu….)
- Vật tư đang trong quá trình chế biến (bán thành phẩm)
Hai bộ phận này hình thành nên tài sản lưu động của doanh nghiệptrong quá trình xản xuất, tài sản lưu động này sẽ vận động không ngừng cùngtài sản lưu động trong lưu thông (tức là các tài sản này sẽ thay thế nhau trongquá trình chọn lọc, xuất giao sản phẩm và thanh toán) và đảm bảo cho quátrình tái sản xuất diễn ra thuận lợi và liên tục
Về phía các doanh nghiệp xây lắp, vốn lưu động được chia thành:
- Vốn nằm trong quá trình dự trữ
- Vốn đang trong quá trình sản xuất
- Vốn đang trong quá trình lưu thông
Đặc điểm của sản phẩm xây lắp là được thi công và hình thành ngay tạichỗ, không phải nhập kho và vận chuyển đi tiêu thụ, công trình được thựchiện theo những hợp đồng đặt hàng nên sản phẩm xây lắp có thể được bánngay sau khi hoàn thành và không bị gây khó khăn trong vấn đề tiêu thụ.Ngay khi kết thúc việc thi công một công trình xây dựng thì công trình đó sẽđược bàn giao cho người giao thầu và được lập biên bản kiểm nghiệm theoyêu cầu chi trả sau khi việc nghiệm thu công trình hoàn tất, doanh nghiệp xâylắp khi tham gia vào việc bao thầu cũng cần có một số vốn ban đầu, tức làcũng cần có một năng lực tài chính cần thiết cho việc đầu tư vào các tài sảnlưu động ấy, nhu cầu về vốn xuất phát từ sản lượng xây lắp phải bàn giao kếttoán trong kỳ kế hoạch và thời gian cần thiết để làm thủ tục và các giấy tờthanh toán
Trang 121.2 Chất lượng tín dụng ngắn hạn đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây lắp
1.2.1 Chất lượng tín dụng ngắn hạn trong các Ngân hàng thương mại:
* Vai trò của tín dụng ngắn hạn trong các Ngân hàng thương mại
- Tín dụng ngắn hạn có tác động tích cực trong việc đáp ứng nhu cầubức thiết về số vốn lưu động cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp
Các Ngân hàng đóng một vai trò đáng kể trong việc tạo ra tiền, khôngphải vì việc in những tờ tín phiếu có mênh giá lớn nhỏ, những tờ tiền giấy haytiền xu mà do việc cho vay, khơi những nguồn vốn trong dân cư, các tổ chứckinh tế để sinh lợi
Hoạt động Tín dụng ngắn hạn tại các Ngân hàng thương mại đáp ứngnhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh và góp phần tái sản xuất mở rộng nềnkinh tế thông qua việc thực hiện quá trình huy động các nguồn vốn nhàn rỗithúc đẩy nền kinh tế năng động và hiệu quả Tỷ trọng tín dụng ngắn hạn (từ
12 tháng trở xuống và có thể được chia nhỏ thành các kỳ hạn 3 tháng, 6 tháng,
9 tháng và 12 tháng) thường cao hơn tỷ trọng của tín dụng trung và dài hạntrong các Ngân hàng thương mại vì các ngân hàng chủ yếu tài trợ cho tài sảnlưu động của khách hàng
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, luôn có sự chênh nhau về lượngtiền và thời gian cần thiết để dự trữ vật tư hàng hoá cho chu trình hoạt độngtiếp theo với thời gian và lượng tiền thu được từ việc tiêu thụ và sản xuất kinhdoanh của chu trình hoạt động trước đó, từ đó có thể làm cho các báo cáo lưuchuyển tiền tệ của doanh nghiệp lúc âm, lúc dương, nguồn vốn lúc dư thừa,lúc thiếu hụt, không được sử dụng có hiệu quả Tín dụng ngắn hạn xuất hiệnnhư một phương tiện giúp các doanh nghiệp sửa chữa được khiếm khuyết tất
Trang 13vận hành, lưu thông thông suốt, liên tục, nguồn vỗn xã hội được sử dụng cóhiệu quả Bên cạnh đó tín dụng ngắn hạn còn giúp các doanh nghiệp mở rộngsản xuất kinh doanh, đổi mới thiết bị công nghệ, nâng cao chất lượng sảnphẩm, tăng khả năng cạnh tranh và chiếm lĩnh thị trường
- Tín dụng ngắn hạn giúp các doanh nghiệp thực hiện quản lý vốn và sửdụng vốn có hiệu quả:
Ngân hàng trước khi giải ngân sẽ tự đánh giá khả năng thu hồi khoảnvay qua các phương án sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và sẽ đảm bảocho những doanh nghiệp có năng lực với những dự án khả thi, cân đối đượcnguồn vốn trả nợ đúng hạn cho ngân hàng mới được cấp tín dụng
Hoạt động tín dụng ngắn hạn yêu cầu doanh nghiệp phải hoàn trả nợ(gốc và lãi) sau một thời gian ngắn (dưới 12 tháng) Chính động lực này đãđôn đốc các doanh nghiệp sử dụng vốn có hiệu quả, quay vòng vốn nhanh vàđảm bảo có tỷ suất lợi nhuận lớn Doanh nghiệp muốn nhận được tài trợ từnguồn tín dụng ngắn hạn đòi hỏi phải thuyết trình năng lực tài chính của mìnhtrước các cán bộ thẩm định và tín dụng của Ngân hàng Khi hợp đồng đã được
ký, ngân hàng sẽ thực hiện quá trình kiểm tra, giám sát quá trình sử dụng vốncủa doanh nghiệp, đảm bảo nguồn vốn đựơc sử dụng đúng mục đích và đúngthoả thuận trong hợp đồng Bên cạnh đó, ngân hàng còn có thể giúp đỡ chodoanh nghiệp các hoạt động về tư vấn, hợp tác với doanh nghiệp tháo gỡ khókhăn tiến hành sản xuất kinh doanh có hiệu quả
- Tín dụng ngắn hạn giúp doanh nghiệp nâng cao chất lượng sản phẩm
và tăng sức cạnh tranh trên thị trường:
Cạnh tranh là một quy luật kinh tế khách quan trong nền kinh tế thịtrường Doanh nghiệp muốn đảm bảo đứng vững trong cạnh tranh thì phảiđảm bảo đạt hiệu quả kinh tế nhất định theo những tiêu chuẩn, những yêu cầukhắt khe của thị trường Những yêu cầu này đòi hỏi doanh nghiệp phải nângcao chất lượng lao động, cơ chế quản lý, chế độ hạch toán kế toán, không
Trang 14ngừng cải tiến, mua mới máy móc thiết bị, dây chuyền công nghệ, tìm tòi sửdụng vật liệu mới, mở rộng sản xuất một cách thích hợp Vốn tự có của doanhnghiệp nhiều khi không đủ sức để trang trải cho nhu cầu khối lượng vốn lớnnhư vậy Khách hàng có thể tìm đến các dịch vụ của ngân hàng để hỗ trợ chohoạt động kinh doanh của mình Thông qua hoạt động tín dụng, ngân hàng làcầu nối từ doanh nghiệp đến thị trường, nhịp độ phát triển lại tăng trưởng nhịpnhàng, đều đặn, theo kịp nhịp độ phát triển chung của ngành, của nền kinh tế.Nguồn vốn tín dụng giúp doanh nghiệp giải quyết các khó khăn trước mắt,những nhu cầu vốn tạm thời, nâng cao chất lượng mọi mặt của quá trình sảnxuất kinh doanh, đảm bảo số lượng đáp ứng yêu cầu thị trường và doanhnghiệp tìm được một vị trí vững chắc trong môi trường cạnh tranh ngày càngsôi động.
1.2.2 Chất lượng tín dụng ngắn hạn đối với doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây lắp:
* Các khái niệm:
Về quan điểm chung: Tín dụng phục vụ thi công xây lắp được hiểu lànhững khoản tài trợ trực tiếp liên quan và phục vụ cho Doanh nghiệp thựchiện các hợp đồng, thi công các công trình xây lắp Chỉ số dư nợ này bao gồm
dư nợ cho vay ngắn hạn (Vốn lưu động), dư nợ cho vay trung, dài hạn Có thểhiểu:
- Dư nợ cho vay trung và dài hạn giúp Doanh nghiệp đầu tư mua sắmmáy móc, thiết bị, phương tiện thực hiện thi công xây lắp
- Dư nợ cho vay ngắn hạn để Doanh nghiệp thanh toán chi trả tiềnnguyên vật liệu, vật tư, nhân công, thuê máy móc thiết bị phương tiện thicông và các chi phí hợp lý khác cấu thành trong giá trị công trình nhận thầu
Để hiểu chất lượng của Tín dụng, chúng ta đi từ khái niệm cơ bản từchất lượng của một sản phẩm hàng hoá, dịch vụ Chất lượng của một sản
Trang 15các chức năng của mình Hoặc đơn giản hơn có thể hiểu là giá trị sử dụng củasản phẩm hàng hoá, dịch vụ đó dựa trên cơ sở mức độ thoả mãn nhu cầungười tiêu dùng
Để đạt tới chất lượng tín dụng, theo quan điểm của nhiều nhà kinh tếthì con đường đó là liên tục, năng động, không ngừng được cải thiện và đổimới, điểm mốc là vô cùng mà không có điểm tận cùng Chất lượng tín dụngngắn hạn theo nghĩa rộng được hiểu là sự đáp ứng yêu cầu của khách hàng,bảo đảm sự tồn tại và phát triển của Ngân hàng, phù hợp với mục tiêu pháttriển kinh tế - xã hội của Quốc gia Sản phẩm tín dụng luôn là những đốitượng giành được sự quan tâm nhiều nhất của các Ngân hàng thương mại vìnhững khoản thu nhập đáng kể mà chúng mang lại nếu không nói là lớn nhấtđược thể hiện trong bảng quyết toán tài sản ở mỗi Ngân hàng, đặc biệt là cácNgân hàng tại Việt Nam khi mà các sản phẩm dịch vụ khác còn chưa nhiều.Chính vì vậy mà khái niệm về chất lượng tín dụng cần phải được hiểu mộtcách thấu đáo giúp cho việc phát triển các sản phẩm tín dụng ngày càng gầngũi hơn với khách hàng mà vẫn đảm bảo chỉ tiêu lợi nhuận Ngân hàng, nóphản ánh mức độ thích nghi của Ngân hàng với sự thay đổi của môi trườngbên ngoài, thể hiện sức mạnh của Ngân hàng trong quá trình cạnh tranh để tồntại
1.2.2.1 Sự cần thiết khách quan phải nâng cao chất lượng tín dụng ngắn hạn trong lĩnh vực xây lắp
Quá trình đổi mới và xây dựng Đất nước đang bước vào giai đoạn rấtmau lẹ và sôi động, các công trình xây dựng cơ bản đang được xúc tiến vớitiến độ khẩn trương và gấp rút Tín dụng ngắn hạn đang là chiếc chìa khoácho các nhà đầu tư huy động được lượng vốn lớn cần thiết trong khoảng thờigian ngắn đáp ứng cho nguồn vốn lưu động
Chất lượng sản phẩm luôn là mục tiêu của khách hàng, là mối quan tâmcủa doanh nghiệp hoạt động sản xuất chân chính Với tư cách là một doanh
Trang 16chạy đua nhau thu hút khách hàng bằng việc tung ra các sản phẩm hấp dẫnnhất, chính vì vậy mà chất lượng của hàng hoá, trực tiếp ở đây là chất lượngtín dụng nói chung, tín dụng ngắn hạn nói riêng phải luôn được chú ý nângcao.
- Đối với các Ngân hàng thương mại
Việc lựa chọn dự án để đầu tư các khoản tín dụng ngắn hạn vào một vịtrí an toàn và hiệu quả nhất sẽ giúp Ngân hàng có được rất nhiều lợi thế: Đầutiên là uy tín trong kinh doanh, các Ngân hàng sẽ tìm kiếm được những nguồnvốn lớn đa dạng, người gửi tiền sẽ thực sự yên tâm, hài lòng về giá cả và chấtlượng khi tiền của mình đang được đầu tư vào những công trình được đảmbảo về tính hiệu quả trong tương lai Đồng thời Ngân hàng sẽ thu hút đượcnhiều doanh nghiệp với những hợp đồng tín dụng hấp dẫn Thứ hai: Chấtlượng tín dụng còn là điều kiện giúp Ngân hàng bảo toàn vốn, thu hồi được cảgốc và lãi, Ngân hàng sẽ không phải dùng quỹ dự phòng rủi ro để bù đắp choviệc mất vốn, mất lãi hoặc cả hai, điều đó giúp lợi nhuận Ngân hàng tăng lên,duy trì được khả năng thanh toán, sự ổn định tài chính và bảo vệ quyền lợicủa khách hàng Ngân hàng sẽ tìm kiếm được những khoản lợi tức cao nhất
có thể có từ những khoản tín dụng ngắn hạn này Chất lượng tín dụng đượcnâng cao giúp Ngân hàng giảm thiểu được những rủi ro và tạo ra được nhữngkhoản vay có đủ tiêu chuẩn, có mối quan hệ tốt hơn với những khách hàng cũ,tìm kiếm được những khách hàng mới trong công tác huy động và sử dụngvốn Thứ 3: Việc nâng cao chất lượng tín dụng ngắn hạn trong xây lắp sẽ giúpNgân hàng tạo được những mối quan hệ lâu dài với khách hàng, đặc biệt lànhững khách hàng lớn trong ngành xây dựng giúp cho quá trình sàng lọc vàgiám sát của Ngân hàng thêm phần hiệu quả và ít tốn kém mà vẫn bảo đảmcác nguyên tắc tín dụng
- Đối với các doanh nghiệp xây lắp
Trang 17Nâng cao chất luợng tín dụng đối với doanh nghiệp xây lắp là một cơhội giúp các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này hoạt động có hiệuquả hơn rất nhiều Trước hết, với áp lực của nguồn vốn đi vay phải hoàn trảgốc và lãi trong thời gian ngắn (dưới 1 năm) buộc các nhà đầu tư phải gấp rúttiến hành thi công các dự án một cách hiệu quả nhất nhằm đưa công trình vàohoạt động trong thời gian nhanh nhất Việc đi vay yêu cầu khách hàng phải cónhững cam kết ràng buộc với phía Ngân hàng những điều khoản thoả thuậntrong hợp đồng và việc thực hiện hợp đồng sẽ được Ngân hàng giám sát mộtcách chặt chẽ bảo đảm cho công trình được thực hiện đúng tiến độ và đúngchất lượng Việc này cũng là điều kiện để doanh nghiệp củng cố chế độ hạchtoán và kế toán theo đúng các quy định hiện hành, những chuẩn mực kế toánkhắt khe Những mối quan hệ thường xuyên với Ngân hàng có thể tạo điềukiện cho khách hàng tiết kiệm được các chi phí như giảm giá thành, tăng tínhcạnh tranh của hàng hoá, dễ dàng hơn trong việc ký kết các hợp đồng tín dụngngắn hạn với lãi suất kỳ hạn hợp lý, thủ tục đơn giản đáp ứng nhu cầu vay vốncấp thiết để duy trì, mở rộng và nâng cao hiệu qủa hoạt động thi công xây lắp,hoặc nhận được các dịch vụ tiện ích quan trọng khác từ phía Ngân hàng như
tư vấn miễn phí, nâng cao hạn mức tín dụng, dễ dàng được Ngân hàng xemxét bảo lãnh…
- Đối với toàn bộ nền kinh tế
Khi các Ngân hàng hay các doanh nghiệp xây lắp làm ăn có hiệu quả,tức là một bộ phận kinh doanh của Đất nước đang đẩy nền kinh tế đi lên.Nâng cao chất lượng tín dụng ngắn hạn đối với doanh nghiệp hoạt động tronglĩnh vực xây lắp sẽ giúp cho quá trình xây dựng Đất nước, quá trình côngnghiệp hoá - hiện đại hoá được tiến hành nhanh chóng với cơ sở hạ tầng đượcđảm bảo về số lượng và chất lượng Ngân hàng sẽ giúp cho nhu cầu vốn lưuđộng của tất cả các doanh nghiệp xây lắp được đáp ứng, góp phần giải quyếtcông ăn việc làm, nâng cao khả năng cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường.Các Ngân hàng thương mại làm ăn có hiệu quả sẽ giúp nền tài chính được
Trang 18lành mạnh hoá, góp phần ổn định tiền tệ và giảm lạm phát Tín dụng ngắn hạntrong cho vay xây lắp cũng góp phần thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trungvốn sản xuất, giải quyết tốt giữa tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng kinh tế,đảm bảo cho nền kinh tế thị trường luôn luôn thoả mãn nhu cầu về vốn
1.2.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng ngắn hạn đối với doanh nghiệp xây lắp
Không thể tiến hành kiểm soát hoạt động tín dụng khi không đưa rađược những chỉ tiêu định lượng Chất lượng tín dụng biểu hiện chất lượnghoạt động của Ngân hàng là tốt hay xấu nên việc đánh giá chất lượng tín dụngtrở thành một công việc thường xuyên và hết sức quan trọng tại các Ngânhàng Kiểm soát các chỉ tiêu về chất lượng tín dụng giúp các Ngân hàng nhậnbiết được tình hình hoạt động tại đây và kịp thời đưa ra các biện pháp, chínhsách phù hợp với mục tiêu của thời kỳ mới, nhiệm vụ mới để có thể quản lýtín dụng tốt, kiểm soát được rủi ro và đảm bảo an toàn trong kinh doanh
* Chỉ tiêu về quy mô tín dụng ngắn hạn
Chỉ tiêu này phản ánh tổng lượng vốn lưu động Ngân hàng cung cấpcho khách hàng với thời hạn từ 12 tháng trở xuống Để bao quát hết về quy
mô tín dụng ngắn hạn được thể hiện trong báo cáo kết quả kinh doanh củadoanh nghiệp như thế nào, chúng ta thông qua các chỉ tiêu cụ thể như doanh
số cho vay, doanh số thu nợ, dư nợ tín dụng…
- Doanh số cho vay ngắn hạn trong kỳ được hiểu là tổng số tiền màNgân hàng đã cho vay ra trong kỳ Doanh số cho vay ngắn hạn càng lớn cũngđồng nghĩa với việc quy mô hoạt động của Ngân hàng đang tăng trưởng Đây
là một tín hiệu tốt lành đối với bản thân Ngân hàng, và đối với chính kháchhàng khi nhận thấy mìn đang thực hiện giao dịch với một Ngân hàng ngàymột lớn mạnh Đó là kết quả của cả một quá trình cố gắng, nỗ lực hết mìnhtrong việc phát huy những tiềm lực nội bộ và khai thác những điều kiện bênngoài cho sự phát triển
Trang 19- Doanh số thu nợ ngắn hạn: Quan hệ tín dụng kết thúc khi Ngân hàngthu hồi hết gốc và lãi, các khoản tín dụng đảm bảo hoàn trả đầy đủ và đúnghạn là các khoản tín dụng an toàn Có các khoản tín dụng không được hoàntrả hoặc được hoàn trả không đủ, không đúng hạn, việc thanh toán nợ khôngđúng hạn cho Ngân hàng cho thấy các trục trặc trong hoạt động của kháchhàng, tìm ra nguyên nhân và kịp thời đưa ra các quyết định mới liên quan đếntính an toàn của tín dụng nói chung và tín dụng ngắn hạn nói riêng là việc rấtquan trọng nhằm đảm bảo chất lượng tín dụng của Ngân hàng Ngân hàngthống kê số tiền thu nợ của các doanh nghiệp trong một thời kỳ hình thànhnên chỉ tiêu doanh số thu nợ ngắn hạn Nếu doanh số thu nợ ngắn hạn caochứng tỏ Ngân hàng đang có các khoản tín dụng ngắn hạn chất lượng tốt Đểtìm được các khoản tín dụng này một mặt phụ thuộc vào chính sách kháchhàng, một mặt đòi hỏi Ngân hàng phải có một đội ngũ các cán bộ tín dụng có
kỹ năng, kinh nghiệm, linh động trong việc thẩm định và đánh giá phương ánkinh doanh, tài sản đảm bảo, đánh giá năng lực tài chính của khách hàng cũngnhư có những dự đoán và phản ứng nhanh nhạy trước những biến động củathị trường, của nền kinh tế
- Dư nợ tín dụng ngắn hạn phản ánh số tiền mà Ngân hàng hiện đangcòn cho khách hàng vay vào thời điểm tính hay vào thời điểm cuối kỳ Nếuchỉ tiêu này tăng ổn định qua các năm chứng tỏ Ngân hàng đang có chiếnlược mở rộng thị phần hợp lý
* Các chỉ tiêu về cơ cấu tín dụng
Đây là các chỉ tiêu mà các Ngân hàng đang sử dụng để đánh giá chấtlượng tín dụng ngắn hạn đối với doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xâylắp thông qua việc xác định xem Ngân hàng đã đáp ứng được bao nhiêu phầntrăm so với nhu cầu vốn của doanh nghiệp, kèm theo là việc so sánh với cơcấu tín dụng mà Ngân hàng đang thực hiện đối với các loại doanh nghiệpkhác với mức chênh lệch là bao nhiêu
Trang 20Rủi ro tín dụng là không thể loại bỏ, vì vậy Ngân hàng phải quản lý rủi
ro tín dụng nhằm hạn chế tới mức thấp nhất các tổn thất có thể xảy ra Ngânhàng đã thực hiện cụ thể hoá thành các chỉ tiêu:
- Nợ quá hạn: Là khoản nợ (gốc hoặc lãi) khách hàng không trả đượckhi đã đến hạn thanh toán thoả thuận trên hợp đồng tín dụng mà không đượcNgân hàng đồng ý gia hạn Đây là khoản làm cho các Ngân hàng phải đau đầutrong việc quản lý và thu nợ, liên quan đến tính an toàn các khoản tín dụngnên việc đánh giá chính xác chỉ tiêu này là việc cần thiết và rất quan trọng.Tuy rằng nợ quá hạn được xem là một chỉ tiêu quan trọng nhất trong việc xemxét tình hình chất lượng tín dụng nhưng các cán bộ tín dụng vẫn phải xem xét
nó trong mối quan hệ với các số liệu thống kê khác, tức là xem xét đến các chỉtiêu tỷ lệ có liên quan vì khi một khoản vay được đánh giá là một khoản nợquá hạn thực sự thì đều gây bất lợi cho khách hàng cũng như Ngân hàng.Khách hàng sẽ phải chịu một mức lãi phạt cao hơn mức lãi suất thông thường,gây khó khăn nhiều hơn trong kinh doanh, Ngân hàng đứng trước nguy cơ củamột khoản nợ khó đòi, nguy cơ mất vốn cao, tính an toàn thấp và làm giảmthu nhập
+ Tỷ lệ nợ quá hạn/Tổng dư nợ
Tỷ lệ nợ quá hạn ngắn hạn = Tổng dư nự quá hạn ngắn hạn/Tổng dư nợcho vay ngắn hạn
Trang 21Chỉ tiêu nợ quá hạn và tỷ lệ nợ quá hạn ngắn hạn cũng như tốc độ tănggiảm của chúng qua mỗi thời kỳ cần được theo dõi thường xuyên giúp tìm rabiện pháp hữu hiệu để giải quyết Tỷ lệ nợ quá hạn ngắn hạn càng thấp thìchất lượng tín dụng càng cao và việc xem xét biến động của tỷ lệ này qua cácthời kỳ có thể thấy được hiệu quả của công tác quản lý tín dụng ngắn hạn tạiNgân hàng đó
1.2.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng ngắn hạn đối với doanh nghiệp xây lắp
* Nhân tố chủ quan
- Từ phía Ngân hàng: Chất lượng tín dụng bị ảnh hưởng bởi chính sáchtín dụng, việc phân tích tín dụng, quy trình tín dụng, thông tin tín dụng, việchuy động vốn và chất lượng cán bộ tín dụng tại Ngân hàng
+ Chính sách tín dụng phản ánh cương lĩnh tài trợ của một Ngân hàng,trở thành hướng dẫn chung cho cán bộ tín dụng và các nhân viên Ngân hàng,tăng cường tính chuyên môn hoá trong phân tích tín dụng, tạo sự thống nhấtchung trong hoạt động tín dụng nhằm hạn chế rủi ro và nâng cao khả năngsinh lời, có ý nghĩa quyết định đến thành công hay thất bại của Ngân hàng.Chính sách tín dụng đã được xây dựng và hoàn thiện qua nhiều năm Chínhsách tín dụng càng hoàn thiện tức là chất lượng tín dụng càng được bảo đảm,
cơ hội thu hút nhiều khách hàng mới càng tăng lên, mối quan hệ với các
Trang 22khách hàng cũ càng được thắt chặt, đó là điều mà tất cả các Ngân hàng đềuđang phấn đấu.
+ Quy trình tín dụng ngắn hạn: Mỗi nghiệp vụ tại các Ngân hàng đềuphải tiến hành lần lượt theo từng bước quy định Sự tôn trọng và sự kết hợpnhịp nhàng trình tự của quy trình tín dụng ngắn hạn sẽ giúp các Ngân hàng cócái nhìn xuyên suốt, chi tiết diễn biến của các khoản tín dụng, nhận biết đượccác khiếm khuyết của quá trình thực hiện để sớm hạn chế rủi ro có thể xảy ra
và hoàn thiện công tác tín dụng cho những khoản tín dụng khác Đây là tậphợp tất cả các bước cho một quá trình cấp tín dụng trọn vẹn bắt đầu từ khiphân tích nhu cầu cho đến khi thu hồi được hết cả gốc và lãi Tuy vậy khithực hiện các công đoạn này cán bộ tín dụng không thể cứng nhắc một cáchmáy móc mà phải có những phản ứng linh hoạt trong từng trường hợp để chắcchắn rằng lợi ích cho các bên tham gia đều được đảm bảo
+ Tình hình huy động vốn: Các Ngân hàng thương mại huy động vốn
để tiến hành hoạt động kinh doanh và hoạt động kinh doanh lớn nhất luôn lànhững khoản tín dụng Đối với Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam thìhuy động vốn cho việc đầu tư vào các khoản tín dụng ngắn hạn trong lĩnh vựcxây lắp đang rất được coi trọng khi mà những khoản tín dụng này ngày cànglớn và trở thành thế mạnh của cả hệ thống Nguồn vốn ổn định và chính sáchlãi suất được cân đối một cách hợp lý với nhu cầu vốn và lãi của các khoản tíndụng ngắn hạn đảm bảo cho hoạt động này có chất lượng ngày càng cao, sốlượng ngày càng lớn
+ Thông tin tín dụng: Một hợp đồng tín dụng luôn được đánh giá vàphân tích cẩn thận Việc thu thập các thông tin liên quan có nhanh, kịp thời vàchính xác hay không là một căn cứ quan trọng để xác định chất lượng củakhoản tín dụng là tốt hay tiềm ẩn nhiều rủi ro Công tác thu thập thông tinhiệu quả sẽ tạo cơ hội giúp các Ngân hàng thực hiện được mục tiêu đẩy mạnhviệc mở rộng tín dụng ngắn hạn
Trang 23+ Chất lượng cán bộ tín dụng: Nhân tố con người phải thường xuyênđược quan tâm và coi trọng hàng đầu, là nhân tố quyết định tới thắng lợi tớibất kỳ một hoạt động kinh doanh nào Trình độ về nghiệp vụ, giao tiếp,marketing, ngoại ngữ, vi tính, sự tận tình chu đáo cẩn thận và trung thực đượccoi là những nhân tố hàng đầu cần có của một cán bộ tín dụng Nhờ trình độcủa các cán bộ tín dụng mà các khoản tín dụng sẽ được phân tích với nhữngchỉ tiêu đáng tin cậy giúp Ngân hàng đưa ra được quyết định chính xác vàkhách hàng sẽ nhận được một số vốn hợp lý nhất Chất lượng các khoản vayđương nhiên được bảo đảm bởi những nhân viên tín dụng chuyên nghiệp,khách hàng sẽ thực sự yên tâm khi được giao dịch tại Ngân hàng và các mốiquan hệ được mở rộng, các hợp đồng tín dụng luôn sẵn sàng được ký kết
- Từ phía doanh nghiệp xây lắp: Chất lượng của khoản tín dụng cònphụ thuộc vào chính doanh nghiệp đang tiếp nhận việc sử dụng nguồn vốn từphía Ngân hàng Cơ chế quản lý và các biện pháp quản lý thi công, việcnghiệm thu và đạo đức trong kinh doanh sẽ quyết định mức độ hiệu quả củaviệc sử dụng vốn vay của doanh nghiệp
+ Cơ chế quản lý và các biện pháp quản lý thi công công trình củadoanh nghiệp: Trong hoạt động kinh doanh hiện đại, cụ thể trong lĩnh vực xâylắp - một lĩnh vực đòi hỏi một đội ngũ quản lý có trình độ, trách nhiệm caovới công việc, một hệ thống quản lý có trật tự nhằm thuận tiện cho việc điềuđộng những vị trí khác nhau trong khi tiến hành thi công một công trình xâydựng cơ bản nhiều hạn ngạch, nhiều công đoạn Tính hiệu quả của dự án là cơ
sở cho đánh giá hiệu quả của việc sử dụng vốn Những sự thay đổi của thịtrường đầu vào, đầu ra, của công nghệ, thị hiếu…trong từng giai đoạn cụ thểkhông được tính toán trước có thể gây ra những sự cố bất ngờ cho kế hoạchthi công và là nguyên nhân chính làm giảm chất lượng sử dụng vốn vay Chấtlượng tín dụng ngắn hạn đã bị giảm sút do việc không đưa ra được những dựđoán đúng và những tính toán trên cơ sở khoa học Tìm kiếm một cơ chế quản
lý phù hợp, một biện pháp quản lý linh hoạt, có khoa học trong việc thi công
Trang 24xây lắp các công trình sẽ đảm bảo khá chính xác hiệu quả của dự án khi thẩmđịnh, khi quyết định đầu tư và ngược lại.
+ Quá trình nghiệm thu và thanh toán khi khối lượng xây lắp hoànthành
Theo trình tự đầu tư và chi phí xây dựng, quá trình đầu tư được chiathành ba giai đoạn: chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư và kết thúc việc xâydựng dự án đầu tư Nghiệm thu là một công đoạn trong quá trình thi công mộtcông trình xây dựng để sau đó công trình được khai thác và đưa vào sử dụng
Ở mỗi giai đoạn đều cần những giải pháp quản lý tốt nhằm đảm bảo hiệu quảtối đa của một đồng vốn được đưa ra để thực hiện đầu tư Nghiệm thu nghiêmtúc một công trình xây dựng là yêu cầu quan trọng vì đó là những đánh gíacuối cùng đảm bảo rằng các công đoạn trước đạt hiệu quả tốt nhất Nhữngnhân tố gây lãng phí, thất thoát, tiêu cực trong hoạt động đầu tư có thể bị pháthiện trong giai đoạn này, vì vậy công tác nghiệm thu được kiểm soát chặt chẽ
về việc đảm bảo lãi trong thi công, việc sử dụng nguồn lực, chất lượng thicông, độ an toàn khi sử dụng…là căn cứ đánh giá mức độ hoàn thành côngtrình từng công đoạn, từng hạng mục Công tác nghiệm thu có những ảnhhưởng trực tiếp đến chất lượng của nguồn tín dụng ngắn hạn mà doanh nghiệpđang sử dụng
+ Đạo đức của doanh nghiệp trong kinh doanh: thể hiện trong việcdoanh nghiệp có trung thực trong các báo cáo tài chính, trong các phương ánđầu tư hay không, có sử dụng vốn đúng mục đích, có thiện chí trả nợ choNgân hàng hay không Nếu khách hàng không thiện chí trong việc hợp tác vớiNgân hàng, thì Ngân hàng đang gặp phải trường hợp rủi ro về đạo đức và chấtlượng các khoản tín dụng của Ngân hàng có thể không được đảm bảo Chính
vì vậy mà đứng trước một hợp đồng tín dụng đòi hỏi các cán bộ tín dụngNgân hàng phải thật tỉnh táo và có những đánh giá, phân tích thật chính xác
Trang 25* Nhân tố khách quan: Liên quan đến các môi trường về kinh tế, pháp
lý và chính trị xã hội
+ Môi trường kinh tế gây ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động tín dụngcủa Ngân hàng thương mại Quá trình diễn biến và những biến động tronghoạt động thi công đòi hỏi Ngân hàng phải theo dõi sát sao và nắm bắt nhanh
để đưa ra được những dự đoán kịp thời vì một sự thay đổi trong môi trườngnày như: Lạm phát, sự giảm giá tiền tệ, sự suy giảm về sức mạnh tài chínhcủa người vay do tác động của môi trường kinh tế có thể gây ra những rủi ro,gây ra sự hao mòn vô hình của những khoản tiền mà Ngân hàng cho vay, làmgiảm chất lượng tín dụng của Ngân hàng Môi trường kinh tế thay đổi làm ảnhhưởng đến tất cả các thành phần kinh tế, đến mọi hoạt động kinh doanh củadoanh nghiệp và Ngân hàng cũng không được xem là ngoại lệ vì Ngân hàngcũng đóng vai trò là một doanh nghiệp đặc biệt trong lĩnh vực kinh doanh củanền kinh tế
+ Môi trường pháp lý: Mỗi chủ thể trong nền kinh tế khi tiến hành hoạtđộng sản xuất kinh doanh đều phải đáp ứng những yêu cầu tối thiểu theo quyđịnh của pháp luật hiện hành vì pháp luật xây dựng một hành lang pháp lýlành mạnh cho mọi hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp Đồng thờimôi trường pháp luật còn là cơ sở giải quyết các mối quan hệ giữa Ngân hàng
và khách hàng và đảm bảo lợi ích cho cả hai bên Trong hoạt động tín dụngtại Ngân hàng vẫn chưa đồng bộ và đầy đủ, an toàn tín dụng đôi khi chưa thực
sự được bảo đảm, hiệu lực của các cơ quan hành pháp chưa đáp ứng được nhucầu về giải quyết các tranh chấp, tố tụng về hợp đồng kinh tế, hợp đồng dânsự… đó là kẽ hở có thể ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng của các khoản tíndụng mà Ngân hàng đang sở hữu
+ Môi trường xã hôi chính trị: Môi trường chính trị xã hội luôn đượcgiới kinh doanh quan tâm và đánh giá rất tỷ mỷ vì một môi trường ổn định sẽtạo lòng tin cho các khách hàng, các doanh nghiệp và tạo cảm giác yên tâm
Trang 26Môi trường không ổn định sẽ hạn chế các khoản đầu tư mới, hạn chế nhữnghợp đồng tín dụng hấp dẫn và tác động xấu đến các hợp đồng tín dụng cũ củanhững khách hàng đang có quan hệ thường xuyên với Ngân hàng, trực tiếp tácđộng đến hoạt động của chính các doanh nghiệp và làm giảm chất lượng củacác khoản tín dụng Khi môi trường chính trị xã hội ổn định sẽ thu hút sự chú
ý của những nhà đầu tư tiềm năng, Ngân hàng có thể mở rộng quy mô tíndụng và tăng doanh thu của Ngân hàng Môi trường chính trị rất đáng đượcquan tâm vì những biến động quá lớn ảnh hưởng đến toàn bộ các khoản tíndụng mà các doanh nghiệp cũng như các Ngân hàng không thể phản ứng kịp
và có thể đẩy họ tới bờ vực của sự phá sản
Trang 27CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG NGẮN HẠN TRONG LĨNH VỰC XÂY LẮP TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG
ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN CẦU GIẤY
2.1 Tổng quan về Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Cầu Giấy
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Cầu Giấy
Ngày 16 tháng 09 năm 2004 Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triểnCầu Giấy được nâng cấp lên chi nhánh cấp I thông qua quyết định số0254/QĐ-HĐQT của Chủ tịch Hội đồng quản trì Ngân hàng Đầu tư và Pháttriển Việt Nam Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Cầu Giấy hìnhthành trên cơ sở chi nhánh cấp II - Ngân hàng Đầu tư và Phát triển khu vực
Từ Liêm trực thuộc Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Hà Nội sau 43năm hoạt động Và ngay sau khi được nâng cấp, Ngân hàng Đầu tư và Pháttriển Trung ương đã đặt sự quan tâm và giúp đỡ toàn diện tới những hoạtđộng tại đây và Chi nhánh được giao những nhiệm vụ, mục tiêu, định hướngphát triển cụ thể cho thời kỳ mới, giúp quá trình phát triển của Chi nhánhđược xúc tiến nhanh chóng hơn
Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Cầu Giấy được thành lập vàphát triển trên cơ sở đáp ứng nhu cầu kinh doanh và cạnh tranh trên thịtrường, trực tiếp kinh doanh và chịu sự quản lý của Ngân hàng Đầu tư và Pháttriển Việt Nam
2.1.2 Chức năng và nhiệm vụ của Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Cầu Giấy
Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Cầu Giấy thực hiện chứcnăng và nhiệm vụ sau:
Trang 28- Chi nhánh thực hiện nhiệm vụ Trung ương giao, thực hiện nghĩa vụ
sử dụng có hiệu quả, bảo toàn và phát triển vốn cùng các nguồn lực khác củaNgân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, cụ thể là thực hiện cho vay ngắn,trung và dài hạn bằng VNĐ, ngoại tệ, bảo lãnh cho các khách hàng theo cácchế độ tín dụng hiện hành, đảm bảo tính an toàn và hiệu quả của đồng vốn
- Thực hiện các dịch vụ tư vấn trong hoạt động tín dụng và uỷ thác đầu
tư theo quy định, hoàn trả đầy đủ đúng hạn tiền vốn cho khách hàng gửi tiềntheo thoả thuận
- Huy động vốn (VNĐ hoặc USD) từ mọi nguồn hợp pháp của cáckhách hàng
- Tổ chức việc lập kế hoạch kinh doanh hàng tháng, quý, năm của từngphòng tại Chi nhánh và tham gia xây dựng kế hoạch kinh doanh của Ngânhàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
- Thực hiện các báo cáo thống kê cho trụ sở về chiến lược kinh doanh,chính sách khách hàng, tín dụng, lãi suất của Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư vàPhát triển Cầu Giấy theo chuyên đề định kỳ hoặc đột xuất, đặc biệt là các hoạtđộng về tín dụng và bảo lãnh theo quy định của toàn hệ thống BIDV
- Tổ chức lập, lưu trữ, bảo quản hồ sơ, tài liệu, thu chi kiểm đếm, vậnchuyển, bảo quản tiền mặt, ngân phiếu thanh toán, ngoại tệ, vàng bạc, đá quý,
in ấn giấy tờ có giá tại quỹ nghiệp vụ theo đúng quy định
- Công tác khách hàng phải được thực hiện chu đáo và kiểm soátthường xuyên, nâng cao tính hiệu quả, thực hiện việc khai thác các kháchhàng truyền thống và mở rộng, phát triển số lượng cũng như chất lượng cáckhách hàng tiềm năng
2.1.3 Các sản phẩm tín dụng đang được triển khai tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Cầu Giấy
* Cho vay từng lần
Trang 29* Cho vay theo hạn mức tín dụng
* Cho vay theo dự án đầu tư
* Cho vay hợp vốn
* Cho vay trả góp
* Cho vay ngoại tệ
* Cho vay uỷ thác
* Cho vay theo hạn mức thấu chi
* Các hình thức cấp tín dụng khác như :
- cho thuê tài chính
- Bảo lãnh Ngân hàng
2.1.4 Cơ cấu tổ chức
Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Cầu Giấy được tổ chức theo
sơ đồ dưới đây:
Trang 303 PHÓ GIÁM ĐỐC
P giao dịch
P
Tín dụng
P
Tổ chứcHành chính
P
Khách hàng
cá nhân
P
Tiền tệ kho quỹ
P
Tài chính
Kế toán
P
Thẩm Định
P
Kế hoạch NV
P
Kiểmtra nội bộ
P Khách hàng DN
GIÁM ĐỐC
Trang 312.1.5 Tình hình hoạt động tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Cầu Giấy
Ngay sau khi được nâng cấp, Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Pháttriển Cầu Giấy đã thực hiện các nhiệm vụ, mục tiêu, định hướng phát triển cụthể được giao bởi Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Trung ương, thực hiện tái
cơ cấu hoạt động, phát triển mạng lưới nhất là đối với các vùng kinh tế độnglực cùng với sự phát triển của hệ thống các Ngân hàng thương mại trên địabàn quận Cầu Giấy Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Cầu Giấy đãlấy định hướng phát triển trở thành một Ngân hàng thương mại hiện đại, năngđộng, có sức cạnh tranh cao trên địa bàn cửa ngõ phía Tây của Thành phố làmmục tiêu Thế mạnh của Ngân hàng là các sản phẩm dịch vụ đa dạng, chấtlượng cao trên nền tảng ứng dụng công nghệ thông tin, phục vụ khách hàngthuộc về các thành phần kinh tế, chủ yếu là doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanhnghiệp ngoài quốc doanh hoạt động trong các lĩnh vực sản xuất, dịch vụ, đầu
tư phát triển đô thị
Mục tiêu tái cơ cấu hoạt động của chi nhánh được giao từ khi nâng cấplên chi nhánh cấp I là:
+ Có đầy đủ chức năng hoạt động của một Ngân hàng thương mại hiệnđại theo định hướng phát triển của Trung ương
+ Cơ cấu lại khách hàng, dư nợ tín dụng, phân định, xác định và đánhgiá đúng thực trạng dư nợ, tình hình khách hàng của Chi nhánh, từ đó lựachọn khách hàng tốt, có uy tín để tiếp tục duy trì quan hệ, củng cố nền kháchhàng…
Ngoài ra còn rất nhiều việc cần làm của một Chi nhánh ngay sau khiđược nâng cấp nhằm khẳng định được vị thế và năng lực vững mạnh của Chinhánh mình
* Chi nhánh được nâng cấp với khối lượng công việc lớn phải tập trung
xử lý, phải ổn định trên nhiều mặt hoạt động, triển khai thực hiện ngay kế
Trang 32hoạch kinh doanh đã được giao và sau một năm hoạt động, đến cuối năm
2005 Chi nhánh đã đạt được một số chỉ tiêu chính đáng chú ý:
+ Về tổng tài sản
Tổng tài sản tăng 550 tỷ so với cùng kỳ năm trước và đạt1500tỷ/1450tỷ, bằng 103% kế hoạch đặt ra
ROA đạt 0,8% xấp xỉ với mức bình quân của toàn ngành
+ Về công tác kế hoạch nguồn vốn
Xác định rõ nguồn vốn tự huy động đạt 1320 tỷ đồng, tăng 388 tỷ(41,6%) vượt 5,6% kế hoạch Mặc dù gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp thị,thu hút tiền gửi nhưng Chi nhánh đã nâng tỷ trọng tiền gửi các tổ chức kinh tếtrong tổng tài sản lên 224 tỷ đồng tăng 112 tỷ và chiểm 17% tổng nguồn vốn,nguồn vốn huy động từ dân cư tăng trưởng khá, đạt số dư 1096 tỷ đồng, tăng
276 tỷ Hoạt động huy động vốn được duy trì và tăng trưởng từ 13% lên16,4% Tỷ trọng nguồn vốn trung và dài hạn đạt 43,4% trong tổng nguồn vốnhuy động, đáp ứng các nhu cầu vốn trung và dài hạn đang khan hiếm trongnền kinh tế Cơ cấu nguồn vốn VNĐ và ngoại tệ (7/3) đã đảm bảo nguồn vốncho nhu cầu hoạt động và đóng góp đáng kể cho hệ thống, phù hợp với tìnhhình nguồn vốn trong nền kinh tế và mục tiêu đề ra Nguồn vốn huy động tạiChi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Cầu Giấy đáp ứng đủ cho việcphục vụ nhu cầu thanh toán hàng ngày, giải ngân tín dụng và đầu tư tiền gửitại Hội sở chính của Ngân hàng Đầu tư
+ Công tác tín dụng tại Chi nhánh
Chi nhánh đã thực hiện nghiêm túc tinh thần chỉ đạo của Ngân hàngĐầu tư và Phát triển Việt Nam, kiểm soát tăng trưởng tín dụng, tăng cườngkiểm tra, rà soát, chấn chỉnh lại hoạt động tín dụng, cơ cấu lại dư nợ theohướng tích cực, tỷ trọng cho vay có đảm bảo được nâng lên, tăng trưởng tíndụng và phát triển dịch vụ luôn đôi với nhau Chi nhánh còn sắp xếp và hoàn
Trang 33đối với khách hàng dư nợ trước đây chưa được quản lý tốt Phòng tín dụngđược sắp xếp tổ chức theo mô hình của sổ tay tín dụng Các quy trình nghiệp
vụ được triển khai áp dụng theo tiêu chuẩn ISO 9001 – 2000 Chi nhánh cũngthực hiện nghiêm túc cơ chế cho vay, quy trình cho vay và quản lý tiền vaytheo chế độ hiện hành của Nhà nước cũng như của ngành, thực hiện việcchuyển nợ quá hạn kịp thời và đúng chế độ Năm 2005, Chi nhánh Ngân hàngĐầu tư và Phát triển Cầu Giấy tiếp tục thực hiện đánh giá toàn diện về môitrường kinh doanh từng ngành, tình hình tài chính, sản xuất kinh doanh, quan
hệ tín dụng…của từng khách hàng, góp phần tích cực vào việc định dạngkhách hàng vay, triển khai phương thức quản lý tín dụng mới phù hợp ngaytrước, trong và sau khi giải ngân Chi nhánh cũng đã mở rộng được thêm 3khách hàng là doanh nghiệp thực hiện giao dịch tại đây
Theo quyết định 5645/QĐ-NHĐT của Tông giám đốc Ngân hàng Đầu
tư và Phát triển Việt Nam, các kết quả xếp loại khách hàng đã được sử dụngnhư một tiêu chí giúp thực hiện chính sách khách hàng phù hợp và hiệu quảnhất Những khách hàng tốt được được lựa chọn để duy trì và phát triển,những khách hàng có năng lực tài chính kém, không có khả năng phục hồidần bị loại bỏ Những quan hệ tín dụng mới được mở rộng tại Chi nhánh đều
là mối quan hệ vói các đơn vị, doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sảnxuất kinh doanh thương mại sử dụng tổng hợp các dịch vụ của Ngân hàng,các doanh nghiệp xây lắp quốc doanh có tình hình tài chính kém có dư nợgiảm đáng kể Chi nhánh đã hạn chế sự mất cân đối về cơ cấu loại tiền giữatài sản nợ và tài sản có, tức là hiệu quả sử dụng vốn được tăng lên Tài sản thếchấp cầm cố được rà soát đánh giá lại và bổ sung, nợ tồn đọng được tập trung
xử lý đảm bảo tính thanh khoản cao trên thị trường Tất cả dư nợ, nợ quá hạnkhó đòi tích cực được rà soát lại theo quyết định 488 mở rộng và quyết định
495 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Cơ cấu tín dụng tại Chi nhánh cũng được chuyển dịch mạnh theohướng tích cực song song với tăng trưởng tín dụng:
Trang 34Dư nợ tín dụng đạt 747 tỷ tăng 440 tỷ đồng và bằng 87,7% kế hoạch
Dư nợ cho vay ngoài quốc doanh tăng 23% (4% lên 27%)
Dư nợ có tài sản đảm bảo đạt 332 tỷ, tăng 230 tỷ, bằng 43%/ tổng dư nợPhục hồi về cơ bản các hồ sơ tín dụng của các khoản nợ xấu có nguy cơmất vốn là 11,6 tỷ đồng; thu hồi được 747 triệu nợ khó đòi, tỷ lệ nợ quá hạnđạt 2,25% (thấp hơn so với kế hoạch) và 8,9 tỷ được xử lý bằng dự phòng rủi
ro, và hiện tại những đơn vị này vẫn đang được Chi nhánh tích cực tìm biệnpháp thu hồi nợ
Nợ tồn đọng được tập trung xử lý, 700 triệu nợ tồn đọng của công tychuyển giao Công nghệ và 47 triệu nợ hạch toán ngoại bảng của Nhà máyQuy chế được thu hồi, thực hiện chuyển ngoại bảng 7,7 tỷ của Nhà máy quychế và 1,3 tỷ nợ tồn đọng của công ty chuyển giao Công nghệ Trong năm
2005 số nợ tồn đọng 7,4tỷ đồng của Nhà máy quy chế và Công ty xây lắp vàĐiện tử công nghiệp đã được lập hồ sơ chuyển ngoại bảng, góp phần làm lànhmạnh hoá tài sản Có
+ Về công tác dịch vụ và phát triển mạng lưới mở rộng hoạt động
Nhận thức được vị trí, vai trò của công tác dịch vụ trong hoạt động củaNgân hàng thương mại và để có được sự tăng trưởng vượt trội, ngay từ khiđược nâng cấp Chi nhánh đã rất quan tâm, chú trọng đến các hoạt động dịch
vụ, gắn mọi hoạt động với dịch vụ, thực hiện nâng cao chất lượng, hiệu quảcủa các sản phẩm dịch vụ truyền thống như bảo lãnh, thanh toán trong nước,thanh toán lương, cụ thể: Công tác bảo lãnh trong năm 2005 về cơ bản đảmbảo an toàn, không phát sinh rủi ro và các khoản phải thanh toán thay ngườiđược bảo lãnh, thu phí dịch vụ bảo lãnh đạt 1705 triệu (tăng hơn 1 tỷ), dịch vụthanh toán trong nước đạt 1283 triệu (tăng 20 triệu), phát triển thêm 7 kháchhàng sử dụng dịch vụ thanh toán lương tự động Bên cạnh đó Chi nhánh còn
mở rộng và phát triển các sản phẩm dịch vụ mới như thanh toán Quốc tế, dịch
Trang 35dựa trên nền công nghệ hiện đại hoá Dịch vụ ngân quỹ và các dịch vụ khácđạt 334 triệu (tăng 300 triệu đồng) Hoạt động thanh toán quốc tế và mua bánngoại tệ đáp ứng được yêu cầu kinh doanh ngày càng đa dạng và mở rộng củakhách hàng trong nền kinh tế thị trường, Chi nhánh đang ngày càng chuyênnghiệp trong việc giúp đỡ các doanh nghiệp hoàn thiện thủ tục thanh toánxuất nhập khẩu, tránh được các rủi ro, uy tín và thu nhập của Ngân hàng đượcnâng cao: thu dịch vụ thanh toán quốc tế 2005 đạt 1135 triệu (tăng 1135 triệuđồng)
Đặc biệt là Chi nhánh đã trở thành một trong những đơn vị phát hànhthẻ ATM lớn nhất trong hệ thống: 03 máy ATM đã được lắp đặt bổ sung tạinhững địa điểm mới nhằm phát triển công tác phát hành thẻ Đến nay bìnhquân đã có 600 giao dịch/máy/tháng Phát hành được 19000 thẻ ATM (tăng
19000 thẻ); công tác thanh toán được tập trung đảm bảo chính xác, kịp thời và
an toàn tài sản của Ngân hàng và khách hàng và mặc dù phí thu được chưanhiều song đã tạo cơ sở để mở ra những dịch vụ mới tạo nguồn thu sau này
Khi triển khai việc mở rộng mạng lưới hoạt động, 02 phòng giao dịch
đã được Chi nhánh chuyển đến địa điểm mới thuận lợi hơn, có điều kiện pháttriển với chi phí hợp lý Cán bộ có kinh nghiệm quản lý và trong nghiệp vụ tíndụng được cử về để nâng cao hiệu quả hoạt động, phát triển dịch vụ cho cácphòng giao dịch Đồng thời Chi nhánh đã lựa chọn mở thêm 03 điểm giaodịch mới và các điểm giao dịch đã khẳng định được vị thế sau hơn 03 tháng đivào hoạt động trước sự tâm huyết và nhiệt tình công tác của các cán bộ tíndụng
Các công tác khác tại Chi nhánh như: Công tác tổ chức, quản trị điềuhành, quản lý rủi ro, công tác hậu cần và xây dựng nội bộ cũng được chútrọng nâng cấp và cải thiện đáng kể
+ Về kết quả hoạt động kinh doanh:
Trang 36Từ những tích cực trong từng mặt hoạt động cụ thể, Chi nhánh đã thuđược hiệu quả kinh doanh đáng khích lệ: Chênh lệch thu chi đạt 16500 triệu(tăng gấp 20,6 lần so với cùng kỳ năm trước); Chênh lệch thu chi bình quânđầu người là 187 triệu đồng/người (tăng gấp 15 lần cuối năm 2004); Dựphòng rủi ro trích được 25 tỷ đồng, đạt 80,5% mức dự phòng phải trích theo
QĐ 493/QĐ-NHNN
* Những vần đề còn hạn chế trong cơ cấu hoạt động của Chi nhánh:
Tỷ trọng nguồn thu dịch vụ còn thấp (chiếm 5,5 tổng nguồn thu), cácdịch vụ dựa trên nền tảng hệ thống hiện đại hoá đã được triển khai nhưngchưa phát huy được hiệu quả rõ rệt và tín dụng vẫn là nguồn thu chủ yếu củaChi nhánh
Mặc dù Chi nhánh đã nỗ lực tìm biện pháp thu hồi và xử lý hạch toánngoại bảng nhưng việc thu hồi các khoản nợ tồn đọng vẫn còn nhiều khókhăn, trong khi QĐ 493/QĐ-NHNN yêu cầu dự phòng rủi ro phải được tríchcao để đảm bảo an toàn thì hiệu quả sinh lời của Chi nhánh sẽ giảm đi đáng
kể
So với 30% vốn huy động bằng ngoại tệ thì tỷ trọng dư nợ cho vaybằng ngoại tệ 22% còn chưa thực sự hợp lý và là nguyên nhân hạn chế khảnăng sinh lời
Tỷ trọng nguồn vốn thanh toán và vốn của các tổ chức kinh tế trongtổng nguồn vốn huy động còn thấp gây ảnh hưởng lớn đến giá đầu vào và làmhạn chế hiệu quả kinh doanh của Chi nhánh
2.2 Thực trạng chất lượng tín dụng ngắn hạn trong lĩnh vực xây lắp tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Cầu Giấy
Thực tế việc thi công và thanh quyết toán trong hoạt động đấu thầu thờigian gần đây cho thấy các đơn vị nhận thầu nhiều công trình với giá dưới giáthành, khó có khả năng đảm bảo cân đối tài chính và chất lượng thi công;
Trang 37nguồn vốn và kế hoạch bố trí vốn từng năm đã làm thời gian thanh quyết toán
bị kéo dài, các khoản phải thu của các đơn vị tăng nhanh, trong đó nhiềukhoản tồn đọng, không có khả năng thu hồi Trong tình hình mới, để đảm bảo
an toàn tín dụng cho vay thi công xây lắp Ngân hàng Đầu tư và Phát triểnViệt Nam đã chuyển những công văn yêu cầu các Chi nhánh quán triệt, thựchiện nghiêm túc về việc hỗ trợ, chấn chỉnh công tác tín dụng trong lĩnh vựcxây lắp
2.2.1 Những yêu cầu chung, thống nhất về tín dụng ngắn hạn trong lĩnh vực xây lắp tại hệ thống Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
Mặc dù Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam đã ban hành côngvăn số 925/CV-TDDV1 ngày 03/4/2003 với nội dung chỉ đạo “cho vay hỗ trợngắn hạn phục vụ thi công xây lắp”mục đích nâng cao chất lượng dư nợ vay,đảm bảo an toàn tín dụng cho vay xây lắp trong thời kì mới, nhưng cho đếnnay một số Chi nhánh vẫn chưa được quán triệt và thực hiện nghiêm túc Vìvậy Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam đã tiếp tục ban hành công văn
số 6676/CV-TD1 để tiếp tục chấn chỉnh, tháo gỡ những vướng mắc và thốngnhất hoạt động tín dụng trong lĩnh vực xây lắp
* Yêu cầu trong cho vay trung dài hạn:
- Những khách hàng có uy tín, có đủ điều kiện tín dụng (kết quả kinhdoanh có lãi, có đủ vốn tự có tham gia dự án, có tài sản đảm bảo theo quyđịnh hiện hành,…) mới được Chi nhánh xem xét cho vay
- Việc phân tích khả năng phát huy hiệu quả tài sản đầu tư (năng lựcquản lý vận hành tài sản, sự hợp lý của chủng loại và chất lượng của tài sảnđầu tư, khối lượng công việc…) là các chỉ tiêu quan trọng mà các Chi nhánhcần đặc biệt quan tâm khi thẩm định dự án cho vay
* Yêu cầu trong cho vay ngắn hạn
Trang 38Hoạt động cho vay vốn phục vụ thi công xây lắp phải được chuyển hẳn
từ cho vay theo hạn mức tín dụng sang cho vay theo phương thức hỗ trợ vốnngắn hạn tạm thời, trên cơ sở xem xét từng công trình, từng hợp đồng thi công
để ký Hợp đồng tín dụng cụ thể
Trường hợp nhiều công trình đang được thi công tại một đơn vị, Chinhánh phải mở sổ theo dõi vốn vay từng công trình, đảm bảo vốn vay được sửdụng đúng mục đích, đúng đối tượng, đúng hợp đồng thi công được thoảthuận
Các Ngân hàng chỉ cho vay đối với hợp đồng thi công đã xác định, đãchứng minh được nguồn vốn thanh toán và đảm bảo nguồn vốn này sẽ đượcchuyển về tài khoản của khách hàng tại Chi nhánh Phần khối lượng đã đượcphê duyệt thiết kế, dự toán được xác định rõ trong hợp đồng giao nhận thầu
và phần công việc có tiến độ thanh toán rõ ràng cũng mới được Chi nhánhthực hiện giải ngân cho vay
Căn cứ vào năng lực tài chính, mức độ tín nhiệm, nhu cầu phát sinhkhoản vay thường xuyên, tính ổn định và hiệu quả trong việc thực hiện kếhoạch sản xuất kinh doanh của khách hàng để Chi nhánh xác định và ký hợpđồng tín dụng hạn mức có hiệu lực theo năm kế hoạch Khách hàng không đủcác điều kiện để Ngân hàng thực hiện cho vay theo hạn mức, Chi nhánh sẽxem xét cho vay theo món theo quy định
Vốn cho vay đối với từng công trình phải bảo đảm được thu nợ trongvòng 12 tháng và mức cho vay không qúa giá trị vốn bố trí cho công trìnhtheo kế hoạch hàng năm
Để đạt được mức độ an toàn trong cho vay thực hiện thi công xây lắp,Chi nhánh cần chủ động tiếp cận từng công trình, dự án Việc cung cấp dịch
vụ, phát hành bảo lãnh và xác định căn cứ để quyết định cho vay đối với cáchợp đồng xây lắp được thực hiện xem xét ngay từ khi triển khai duyệt dự án,