Xuất phát từ thực tế này, trong thời gian thực tập tại ngân hàng Công Thương Hà Tây, em đã lựa chọn đề tài: “Nâng cao chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa tại Hộ
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU Vốn là chìa khoá, là nguồn lực hết sức quan trọng đối với phát triểnkinh tế Tín dụng ngân hàng là “kênh vốn” chính cung ứng cho nền kinh tếnước ta trong điều kiện hiện nay Vì vậy, hoạt động tín dụng ngân hàng cóđảm bảo hiệu quả, an toàn và bền vững thì mới có thể đảm bảo cho sự lưuthông tuần hoàn của mạch máu kinh tế
Mấy năm gần đây, Đảng và Nhà nước ta chủ trương đẩy mạnh việc sắpxếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước Cổphần hoá là giải pháp nhằm làm cho sở hữu trong doanh nghiệp nhà nước từ
“ảo” đến “thực”, chuyển từ kiểm soát bằng chế độ quan liêu sang tự kiểm soátthông qua lợi ích của các chủ sở hữu thực Nhưng trên chặng đường này đãxuất hiện một số doanh nghiệp cố ý chây ỳ không nhận nợ hoặc đòi ngânhàng khoanh nợ, giãn nợ, xoá nợ Vì vậy ngân hàng phải đối mặt với nguy cơmất vốn, chất lượng tín dụng giảm sút
Xuất phát từ thực tế này, trong thời gian thực tập tại ngân hàng Công
Thương Hà Tây, em đã lựa chọn đề tài: “Nâng cao chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa tại Hội sở chính Ngân hàng Công thương Hà tây”
Ngoài lời mở đầu và phần kết luận, bố cục của chuyên đề gồm ba phầnchính:
Chương 1: Chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp nhà nước cổ
phần hoá
Chương 2: Thực trạng chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp nhà
nước cổ phần hoá tại Hội sở chính Ngân hàng Công thương Hà tây
Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối với doanh
nghiệp nhà nước cổ phần hoá tại Hội sở chính Ngân hàng Công thương Hàtây
Do thời gian có hạn cũng như khả năng hiểu biết còn hạn chế, nênchuyên đề tốt nghiệp này không tránh khỏi những thiếu sót, em kính mongđược thầy giáo cũng như các các cô chú trong phòng khách hàng doanhnghiệp góp ý
Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo
PGS-TS Vũ Duy Hào, và các cô chú trong phòng khách hàng doanh nghiệp- ngân
Trang 2hàng công thương Hà Tây đã tạo điều kiện để em hoàn thành chuyên đề tốtnghiệp.
Em xin chân thành cảm ơn!
Thân Thị Mỹ Hoà
Trang 3Chương 1 CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
CỔ PHẦN HOÁ.
1.1 Tín dụng ngân hàng đối với các doanh nghiệp nhà nước
cổ phần hoá.
1.1.1 Đặc trưng các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hoá.
1.1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp nhà nước.
Theo luật doanh nghiệp nhà nước ngày 26/11/2003, tại điều 1: “Doanhnghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệhoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức công ty nhànước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn”
Khái niệm này đã bao quát những đặc điểm nổi bật về doanh nghiệpnhà nước:
hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối Là một tổ chứckinh tế, cho nên doanh nghiệp nhà nước khác với các tổ chức phi kinh tế khác(như tổ chức chính trị, tổ chức xã hội, tổ chức chính trị - xã hội) ở mục đíchhoạt động Mục đích của doanh nghiệp nhà nước là thực hiện các hành vi kinhdoanh để tìm kiếm lợi nhuận, trong khi đó mục đích hoạt động của các tổchức phi kinh tế lại không vì mục đích lợi nhuận
Vốn điều lệ của doanh nghiệp do Nhà nước đầu tư toàn bộ hoặc là docác thành viên đóng góp nhưng trong đó nhà nước giữ cổ phần hoặc vốn gópchi phối chiếm trên 50% vốn điều lệ
chịu trách nhiệm về hoạt động của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn điều lệcủa doanh nghiệp
nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn
vào trong doanh nghiệp, tuy vậy có sự tách biệt rõ ràng giữa chức năng quản
lý nhà nước với chức năng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Doanh nghiệp nhà nước có thể coi là “xương sống” của nền kinh tếViệt Nam Các DNNN Việt Nam hình thành từ năm 1954 ở miền Bắc và từ
Trang 4năm 1975 ở miền Nam DNNN đã thực hiện được vai trò chủ đạo, ổn định
và phát triển kinh tế - xã hội, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng sản phẩm trongnước, trong tổng thu ngân sách, kim ngạch xuất khẩu và công trình hợp tácđầu tư với nước ngoài DNNN là lực lượng quan trọng trong việc thực hiệncác chính sách xã hội, khắc phục hậu quả thiên tai và bảo đảm nhiều sảnphẩm, dịch vụ công ích thiết yếu cho xã hội, quốc phòng, an ninh
Tuy nhiên, khi bước sang nền kinh tế thị trường cùng với sự cạnhtranh khốc liệt, DNNN đã bộc lộ những mặt tồn tại như:
Quy mô doanh nghiệp phần lớn nhỏ bé, cơ cấu phân tán, biểu hiện
ở số lượng lao động và mức độ tích luỹ vốn Theo báo cáo của Bộ tài chính
về các chỉ tiêu chủ yếu năm 1992, thì cả nước có trên 2/3 tổng số doanhnghiệp nhà nước có số lượng lao động dưới 200 người
Trình độ kỹ thuật, công nghệ lạc hậu Phần lớn các DNNN đã đượcthành lập khá lâu, có trình độ kỹ thuật thấp Theo báo cáo điều tra bộ khoahọc – công nghệ và môi trường thì trình độ công nghệ trong các DNNN củaViệt Nam kém các nước từ 3-4 thế hệ Mặt khác, đại bộ phận DNNN đượcxây dựng bằng kỹ thuật của nhiều nước khác nhau nên tính đồng bộ củadoanh nghiệp thấp Vì vậy, các DNNN Việt Nam khó có khả năng cạnhtranh cả trên thị trường nội địa và quốc tế
Trình độ quản lý còn yếu kém, chưa thực sự tự chủ, tự chịu tráchnhiệm trong sản xuất kinh doanh, kết quả sản xuất kinh doanh còn chưacao Các DNNN là con đẻ của nhà nước, được nhận sự bao cấp theo cơ chếxin cho nên hiệu quả sản xuất kinh doanh thấp, năng suất lao động thấp
Hiện nay, DNNN đang đứng trước thách thức gay gắt của yêu cầu đổimới, phát triển và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế Cổ phần hoá chính làgiải pháp tối ưu để nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp nhànước, đáp ứng yêu cầu của kinh tế thị trường
1.1.1.2 Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước.
Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước là chuyển doanh nghiệp nhà nước
từ sở hữu Nhà nước sang hình thức sở hữu nhiều thành phần, trong đó tồn tạihoặc không tồn tại sở hữu nhà nước Thực chất cổ phần hoá doanh nghiệp nhànước là chuyển doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần (theo nghị định187/2004/NĐ-CP) Về hình thức, cổ phần hoá là việc nhà nước bán một phần
Trang 5hay toàn bộ giá trị tài sản của mình trong doanh nghiệp cho các tổ chức hoặc
cá nhân trong và ngoài doanh nghiệp bằng đấu giá công khai hay thông quathị trường chứng khoán Về bản chất, cổ phần hóa chính là hình thức thựchiện xã hội hoá sở hữu, chuyển hình thái kế hoạch một chủ sở hữu nhà nướcthành doanh nghiệp nhiều chủ sở hữu để vừa tạo động lực cho các cá nhân có
sở hữu có thêm lợi nhuận từ sản xuất kinh doanh, làm cho họ không ngừngphát huy lao động sáng tạo, vừa huy động được vốn cho doanh nghiệp
1.1.1.3 Đặc trưng của doanh nghiệp nhà nước cổ phần hoá.
diện Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, bao gồm: các tổng công ty nhànước (kể cả ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính nhà nước); công
ty nhà nước độc lập, công ty thành viên hạch toán độc lập của tổng công ty doNhà nước quyết định đầu tư và thành lập; đơn vị hạch toán phụ thuộc củacông ty nhà nước
Danh mục công ty nhà nước thuộc diện Nhà nước nắm giữ 100% vốnđiều lệ do Thủ tướng Chính phủ quyết định trong từng thời kỳ
+ Các công ty nhà nước nêu ở trên được tiến hành cổ phần hoá khi cònvốn nhà nước ( chưa bao gồm giá trị quyền sử dụng đất ) sau khi giảm trừ giátrị tài sản không cần dùng, tài sản chờ thanh lý; các khoản tổn thất do lỗ, giảmgiá tài sản, công nợ không có khả năng thu hồi và chi phí cổ phần hoá
+ Đối với các đơn vị hạch toán phụ thuộc chỉ được tiến hành cổ phầnhoá khi :
hạch toán độc lập
kinh doanh của doanh nghiệp hoặc các bộ phận còn lại của doanh nghiệp
phiếu thu hút thêm áp dụng đối với những doanh nghiệp cổ phần hóa có nhucầu tăng thêm vốn điều lệ Mức vốn huy động thêm tuỳ thuộc vào quy mô và
Trang 6nhu cầu vốn của công ty cổ phần Cơ cấu vốn điều lệ của công ty cổ phầnđược phản ánh trong phương án cổ phần hoá
vừa bán bớt một phần vốn nhà nước vừa phát hành thêm cổ phiếu để thu hútvốn
vừa bán toàn bộ vốn nhà nước vừa phát hành thêm cổ phiếu để thu hút vốn
Thông tư 126/2004/TT-BTC hướng dẫn thực hiện nghị định 187/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của chính phủ về chuyển công ty nhà nước thànhcông ty cổ phần, đã có hướng dẫn quy trình chuyển đổi doanh nghiệp nhànước thành công ty cổ phần như sau:
Bước 1: Xây dựng phương án cổ phần hóa
Hàng năm các Bộ, cơ quan ngang Bộ và uỷ ban nhân dân cấp tỉnh ràsoát, đánh giá, phân loại và lựa chọn các công ty nhà nước thuộc diện cổphần hoá, tổ chức lại để trình thủ tướng chính phủ xem xét, phê duyết Việctiến hành cổ phần hoá thực hiện theo các bước công việc cụ thể sau:
- Thành lập Ban chỉ đạo cổ phần hóa và tổ giúp việc ban chỉ đạo
- Chuẩn bị các hồ sơ tài liệu
- Xử lý những vấn đề về tài chính và tổ chức xác định giá trị doanhnghiệp
- Hoàn tất phương án cổ phần hóa
Bước 2: Tổ chức bán cổ phần
- Bán cổ phần
- Điều chỉnh phương án cổ phần hóa
Bước 3: Hoàn tất việc chuyển doanh nghiệp thành công ty cổ phần
- Tổ chức đại hội đồng cổ đông và đăng ký kinh doanh
- Tổ chức bàn giao giữa doanh nghiệp và công ty cổ phần
Các bước công việc trên phải hoàn tất trong thời gian tối đa 9 tháng
Với đề tài này, em sẽ đi sâu nghiên cứu hơn về xử lý tài chính khi cổ
phần hoá, đặc biệt là việc xử lý nợ ngân hàng:
Điều 12 Nghị định 187 quy định “Doanh nghiệp phải huy động cácnguồn để thanh toán các khoản nợ đến hạn trả trước khi cổ phần hoá hoặc
Trang 7thoả thuận với các chủ nợ để xử lý hoặc chuyển thành vốn góp cổ phần.Trong quá trình cổ phần hoá, nếu doanh nghiệp có khó khăn về khả năngthanh toán các khoản nợ qúa hạn do kinh doanh thua lỗ thì xử lý nợ theo quyđịnh hiện hành của Nhà nước về xử lý nợ tồn đọng” (Nghị định 69/2002/NĐ-
CP về quản lý và xử lý nợ tồn đọng đối với doanh nghiệp nhà nước Ngânhàng nhà nước đã ban hành thông tư 05/2003/TT-NHNN về việc xử lý nợ tồnđọng của DNNN tại các ngân hàng thương mại nhà nước và thông tư05/2005/TT-NHNN hướng dẫn một số nội dung liên quan đến hoạt động ngânhàng theo quy định tại Nghị định số 187/2004.)
Theo hướng dẫn của thông tư 126 về việc xử lý nợ vay ngân hàng khidoanh nghiệp thực hiện cổ phần hoá:
- Trường hợp bị lỗ, không thanh toán được các khoản nợ quá hạn,doanh nghiệp làm thủ tục đề nghị khoanh nợ, giãn nợ, xoá nợ theo quy địnhcủa pháp luật hiện hành
- Đối với khoản nợ lãi vay chưa thanh toán (bao gồm cả lãi đã nhậpgốc) được ngân hàng thương mại nhà nước xem xét, xoá nợ với mức khôngvượt quá số lỗ còn lại (sau khi đã xử lý nợ tồn đọng về thuế và các khoản phảinộp ngân sách nhà nước)
Trong thời gian tối đa 20 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơcủa doanh nghiệp, ngân hàng thương mại cho vay phải có ý kiến xử lý bằngvăn bản thông báo cho doanh nghiệp Trường hợp đến thời điểm công bố giátrị doanh nghiệp mà vẫn chưa nhận được ý kiến xử lý của bên cho vay, doanhnghiệp được tạm loại khoản nợ lãi vay đề nghị xoá khỏi giá trị doanh nghiệp
để cổ phần hoá
- Khoản nợ gốc quá hạn không được xóa xử lý như sau:
+ Doanh nghiệp làm đầy đủ thủ tục để chuyển giao cho công ty cổ phần
Trang 8Cổ phần hoá có vai trò to lớn trong việc đổi mới doanh nghiệp nhànước, nhất là ở những nền kinh tế chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hoá tậptrung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Tác dụng của
cổ phần hoá thể hiện ở một số khía cạnh sau:
đổi mới, DNNN được hưởng chính sách tài trợ tràn lan đến mức bao cấp,không tính đến lỗ lãi, không quan tâm đến tiết kiệm Có một di hại trong thờibao cấp đó là tài sản của DNNN là “ tài sản chung’’ “ Của cải chung” đồngnghĩa với “ không phải của ai”, mọi người đều tuỳ tiện sử dụng mà khôngphải bận tâm Tình trạng này gây nên thói vô trách nhiệm, lãng phí gây hậuquả xấu trong hoạt động sản xuất kinh doanh của DNNN
được nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội:
Nhà nước là người mẹ đỡ đầu cho các DNNN nên ngân sách nhà nướcluôn phải rót xuống cho các DNNN Trước sức ép lớn về nhu cầu vốn đầu tưphát triển kinh tế xã hội, cổ phần hoá sẽ là giải pháp giúp chính phủ thực hiệnđược thực tiễn đó Tài sản DNNN nhờ cổ phần hoá thu hồi lại sẽ được phân
bố cho những dự án quốc gia giàu tính khả thi hoặc đầu tư vào những ngànhmang lại nhiều lợi ích kinh tế, xã hội quan trọng nhằm thúc đẩy tăng trưởngkinh tế bền vững
Sự tồn tại của công ty cổ phần với cơ chế lưu chuyển cổ phần thôngqua thị trường chứng khoán tạo ra quá trình luân chuyển vốn từ nơi không cóhiệu quả hoặc hiệu quả thấp sang nơi có hiệu quả cao Cũng thông qua việcphát hành cổ phần, các doanh nghiệp sẽ dễ dàng thu hút các nguồn vốn trong
xã hội cho phát triển kinh tế
DNNN đã biến doanh nghiệp thành có chủ, những người chủ trực tiếp điềuhành và lao động trong chính doanh nghiệp Quyền lợi của họ gắn liền với sựthành bại của doanh nghiệp, vì thế tất cả các thành viên dều rất quan tâm đếncông việc của mình, lao động tích cực với tinh thần trách nhiệm cao và ócsáng tạo lao động Trong công ty cổ phần người lao động đồng thời là các cổđông có quyền yêu cầu lãnh đạo doanh nghiệp trình bày trước Đại hội cổđông những vấn đề về nguyên tắc thu chi của doanh nghiệp, có quyền thắc
Trang 9mắc về hiệu quả quản lý… Vì vậy có sự tách biệt giữa quản lý và sở hữu thúcđẩy hiệu quả quản lý doanh nghiệp
Việc chuyển đổi từ DNNN sang công ty cổ phần, nhờ vào những lợi thếsẵn có của mình và những hộ trỡ ban đầu về cơ chế, chính sách của nhà nước,nếu biết tận dụng tốt thì các công ty này sẽ làm ăn hiệu quả, nhanh chóngvươn lên khẳng định vị thế và chiếm lĩnh thị trường Chính nó sẽ tạo ra áp lựccạnh tranh mạnh mẽ đối với các doanh nghiệp khác trong nền kinh tế, từ đótạo thành một vòng xoáy thúc đẩy sự tăng trưởng của toàn bộ nền kinh tế
tham nhũng: Sự bao cấp của nhà nước đối với DNNN, cơ chế xin cho là mảnhđất tốt lành cho những hành động lãng phí, tham nhũng Trong quá trình thựcthi quyền hạn được Nhà nước trao, cơ quan chủ quản vừa có quyền ban hànhcác cơ chế, chính sách riêng áp dụng cho doanh nghiệp, đặc biệt là các loạigiấy phép con, vừa có quyền ban phát cho doanh nghiệp những ưu ái trongphê duyệt dự án đầu tư, cấp phát vốn, bổ sung vốn điều lệ Đổi lại để đượcban phát những ưu ái đó, các DNNN thường phải chi “hoa hồng” cho những
cơ quan và cá nhân có thẩm quyền quyết định Cổ phần hoá sẽ là giải pháptích cực để hạn chế tình trạng tham nhũng, nâng cao dân chủ và công bằng xãhội Các DNNN sau cổ phần hoá sẽ trở thành công ty cổ phần, khi đó khôngtồn tại cơ quan chủ quản và không còn cơ chế “xin-cho” đối với doanh nghiệpnữa Mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sẽ bị chi phối bởicác quy luật thị trường và pháp luật, từ đó sẽ nâng cao hiệu quả sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp
1.1.2 Tín dụng ngân hàng đối với các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hoá.
1.1.2.1 Tín dụng ngân hàng.
Ngân hàng là một trong các tổ chức tài chính quan trọng nhất của nềnkinh tế Với chức năng huy động vốn, cung ứng vốn cho nền kinh tế cũng nhưcung cấp phương tiện thanh toán, ngân hàng thương mại góp phần quyết địnhcho sự lưu thông của mạch máu tài chính - tiền tệ của mỗi quốc gia Luật các
tổ chức tín dụng của Việt Nam ghi “Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinhdoanh nghiệp tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận
Trang 10tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanhtoán”.
Tín dụng là hoạt động chủ yếu của ngân hàng, hơn 70% thu nhập củangân hàng là từ hoạt động tín dụng Như vậy có thể hiểu thuật ngữ tín dụngngân hàng như thế nào?
Tín dụng (credit) xuất phát từ chữ la tinh là credo (tin tưởng, tínnhiệm) Thuật ngữ tín dụng được hiểu theo những cách khác nhau khi đứngtrên nhiều giác độ:
kiệm sang chủ thể thiếu hụt tiết kiệm thì tín dụng được coi là phương phápchuyển dịch quỹ từ người đi vay sang người cho vay
tài sản (tiền hoặc hàng hoá) giữa bên cho vay (ngân hàng và các định chế tàichính khác), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụngtrong một thời gian nhất định theo thoả thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàntrả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho vay khi đến hạn thanh toán
Như vậy có thể hiểu tín dụng là quan hệ vay mượn dựa trên nguyên tắc
có hoàn trả, gồm cả cho vay và đi vay Bài nghiên cứu của em gắn liền vớichủ thể là ngân hàng nên tín dụng ngân hàng chỉ bao hàm là ngân hàng chovay
Các nguyên tắc tín dụng ngân hàng:
xác định Các khoản tín dụng của ngân hàng chủ yếu có nguồn gốc từ cáckhoản tiền gửi của khách hàng và các khoản ngân hàng vay mượn Ngân hàngphải có trách nhiệm hoàn trả gốc và lãi như đã cam kết Vì vậy, ngân hàngluôn yêu cầu người nhận tín dụng phải thực hiện cam kết này Đây là điềukiện để ngân hàng tồn tại và phát triển
thuận với ngân hàng, không trái với các quy định của pháp luật và các quyđịnh khác của ngân hàng cấp trên
hiện nguyên tắc này là điều kiện để thực hiện nguyên tắc thứ nhất Phương án
Trang 11hoạt động có hiệu quả thì khả năng trả nợ mới cao Các khoản tài trợ của ngânhàng phải gắn liền với việc hình thành tài sản của người vay
Căn cứ vào các tiêu thức khác nhau có thể phân loại tín dụng thành cácloại sau:
yếu từ quá trình mua bán chịu hàng hoá và dịch vụ giữa khách hàng với nhau,bao gồm hối phiếu (giấy nhận nợ của người mua) và lệnh phiếu (giấy đòi nợcủa người bán) Người thụ hưởng có thể giữ thương phiếu đến hạn để đòi tiềnngười phải trả hoặc đem đến ngân hàng để xin chiết khấu trước hạn
+ Thấu chi: là nghiệp vụ cho vay qua đó ngân hàng cho phép người vayđược chi trội trên số dư tiền gửi thanh toán của mình đến một giới hạn nhấtđịnh và trong khoảng thời gian xác định Giới hạn này được gọi là hạn mứcthấu chi
+ Cho vay trực tiếp từng lần: là hình thức cho vay tương đối phổ biếncủa ngân hàng đối với khách hàng không có nhu cầu vay thường xuyên, hoặc
là đối với những khách hàng mà vốn từ ngân hàng chỉ tham gia vào một sốgiai đoạn nhất định của chu kỳ sản xuất kinh doanh
+ Cho vay theo hạn mức: là hình thức cho vay mà ngân hàng thoảthuận cấp cho khách hàng hạn mức tín dụng (là số dư tối đa tại thời điểm tínhhạn mức)
+ Cho vay luân chuyển: là nghiệp vụ cho vay dựa trên luân chuyển củahàng hoá Ngân hàng cho khách hàng vay vốn để mua hàng và sẽ thu nợ khidoanh nghiệp bán hàng
+ Cho vay gián tiếp: Phần lớn ngân hàng cho vay trực tiếp Cho vaygián tiếp là hình thức cho vay thông qua các tổ chức trung gian Ngân hàng chvay qua các tổ, đội, nhóm như hội phụ nữ, hộ nông dân… Ngân hàng có thểchuyển một vài khâu của hoạt động cho vay sang các tổ chức trung gian nhưthu nợ, phát tiền vay… Hoặc ngân hàng có thể cho vay thông qua người bán
lẻ các sản phẩm đầu vào của quá trình sản xuất
Trang 12 Cho thuê tài sản: Ngân hàng đã mua các tài sản theo yêu cầu củakhách hàng để cho khách hàng thuê Cho thuê có hai hình thức chủ yếu là chothuê nghiệp vụ và cho thuê tài chính Cho thuê nghiệp vụ đáp ứng nhu cầuthuê trong thời gian ngắn, người đi thuê không có dự định “mua” tài sản đó để
sử dụng lâu dài, như cho thuê xe ô tô ngắn ngày Cho thuê tài chính đáp ứngnhu cầu thuê trong thời gian dài và người đi thuê có thể mua lại tài sản khi hếthợp đồng thuê Hoạt động cho thuê của ngân hàng chủ yếu là cho thuê tàichính
hình thức bảo lãnh về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàngcủa ngân hàng khi khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ như cam kết
nhằm tài trợ cho tài sản lưu động hoặc nhu cầu sử dụng vốn ngắn hạn của Nhànước, doanh nghiệp, hộ sản xuất Ngân hàng có thể áp dụng cho vay trực tiếphoặc gián tiếp, cho vay theo món hoặc theo hạn mức, có hoặc không cần đảmbảo , dưới hình thức chiết khấu, thấu chi hoặc luân chuyển
tín dụng trung hạn có thời gian trên 12 tháng đến 5 năm, tín dụng dài hạn cóthời hạn trên 5 năm Tín dụng trung, dài hạn nhằm đáp ứng nhu cầu mua sắmtài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuấtkinh doanh nghiệp của doanh nghiệp; đáp ứng nhu cầu vay vốn của nhà nước
để đầu tư phát triển; thoả mãn nhu cầu mua sắm hàng tiêu dùng lâu bền củangười tiêu dùng
chấp, cầm cố hoặc sự bảo lãnh của người thứ ba, mà việc cho vay chỉ dựa vào
uy tín của bản thân khách hàng Đối với những khách hàng trung thực trongkinh doanh nghiệp, có khả năng tài chính mạnh, quản trị có hiệu quả thì ngânhàng có thể cấp tín dụng dựa vào uy tín của bản thân khách hàng mà khôngcần một nguồn thu nợ thứ hai bổ sung
như thế chấp hoặc cầm cố, hoặc phải có sự bảo lãnh của người thứ ba Sự bảo
Trang 13đảm này là căn cứ pháp lý để ngân hàng có thêm nguồn thứ hai, bổ sung chonguồn thu nợ thứ nhất thiếu chắc chắn.
1.1.2.2 Vai trò tín dụng ngân hàng đối với các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hoá.
a Đặc trưng của tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp nhà nước:
chủ trong việc đàm phán, thoả thuận và thực hiện các thủ tục liên quan đếnhợp đồng tín dụng và hợp đồng đảm bảo tiền vay Các DNNN được nhậnnhững ưu đãi trong việc tiếp cận nguồn vốn của ngân hàng như là vay khôngphải thế chấp, cầm cố tài sản; mở thư tín dụng miễn ký quý để nhập khẩuhàng hoá và được cho vay bắt buộc khi không trả được nợ đến hạn cho bênnước ngoài (bên bán hàng)… Cụ thể hơn điều kiện cho vay không cần tài sảnthế chấp đối với DNNN được giảm nhẹ: “Đối với DNNN chưa đáp ứng đượcđiều kiện” có kết quả sản xuất, kinh doanh có lãi 2 năm liền kề với thời điểmcho vay “nhưng không thuộc diện yếu kém theo phương án sắp xếp (cổ phầnhoá, giao, bán, khoán kinh doanh nghiệp …) của chính phủ, của các bộ,ngành, địa phương, có dự án đầu tư, phương án sản xuất, kinh doanh có hiệuquả, khắc phục được lỗ trong thời hạn nhất định và có khả năng trả nợ vay, thìđược các tổ chức tín dụng xem xét cho vay không có bảo đảm bằng tài sản”(theo TT10/2000/TT-NHNN1 ngày 31/8/2000) Có sự phân biệt đối xử củangân hàng đối với các loại hình kinh tế Kết quả khảo sát điều tra của Việnkhoa học tài chính - Bộ tài chính cho thấy 90% công ty cổ phần khẳng định cóbiểu hiện của sự phân biệt đối xử của ngân hàng trong lĩnh vực tín dụng Nhưvậy khi ngân hàng cấp tín dụng cho DNNN không có tài sản thế chấp nếu DNlàm ăn thua lỗ thì khả năng thu hồi vốn và lãi rất khó khăn, sẽ làm giảm chấtlượng tín dụng
Các DNNN thường vay vốn của ngân hàng thương mại nhànước Cả hai đối tượng này đều cùng thuộc một chủ sở hữu Với chủ trươngkinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, các DNNN đã được chính phủ chú trọngđầu tư phát triển Điều đó đã làm cho các ngân hàng chỉ quan tâm đến hoạtđộng cho vay các doanh nghiệp này trong khoảng thời gian dài trước kia.Nhiều khi ngân hàng phải cho vay theo chỉ định của chính phủ hoặc thực hiệnkhoanh nợ, giãn nợ cho các DNNN, làm cho ngân hàng có nguy cơ mất vốn
Trang 14b Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp nhà nước cổ phần hoá
Một doanh nghiệp khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, điềukiện tiên quyết đầu tiên cần có đó là vốn Để phục vụ cho một dự án khôngchỉ sử dụng vốn tự có của doanh nghiệp mà việc huy động vốn từ các kênhkhác là rất cần thiết, đặc biệt là từ ngân hàng
Về chính sách tín dụng đối với các DNNN, Luật các tổ chức tín dụng ,điều 6 ghi “ Nhà nước có chính sách tín dụng về vốn, điều kiện vay vốn đốivới doanh nghiệp nhà nước, tạo điều kiện để các doanh nghiệp này đổi mớithiết bị, hiện đại hoá công nghệ, mở rộng quy mô sản xuất, kinh doanh cóhiệu quả, giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân, góp phần phát triểnkinh tế - xã hội của đất nước”
Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với các DNNN cổ phần hoá thể hiện
ở các điểm sau:
bù đắp cho sự thiếu hụt vốn lưu động, đáp ứng các nhu cầu dài hạn như muasắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng sảnxuất kinh doanh nghiệp,…
doanh bằng việc tài trợ vốn đáp ứng nhu cầu đầu tư các dây truyền công nghệhiện đại, mua sắm máy móc thiết bị để có thể thích ứng với sự thay đổi nhucầu của thị trường trong và ngoài nước Việc đổi mới công nghệ, trang thiết bị
sẽ giúp cho các DNNN nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng khả năng cạnhtranh giữ vững được thị phần trong nước đồng thời mở rộng ra nước ngoài.Đặc biệt trong điều kiện nền kinh tế thị trường - sự cạnh tranh diễn ra gay gắt,việc tăng cường năng lực kinh doanh sẽ quyết định sự sống còn của doanhnghiệp
của DNNN Để có được khoản vốn do ngân hàng cấp, doanh nghiệp phải cóphương án kinh doanh hiệu quả cũng như năng lực tài chính tốt,…Vì vậy, đòihỏi các DNNN được vay vốn phải tìm cách để sử dụng vốn vay hiệu quả, đảmbảo tỷ suất lợi nhuận lớn hơn lãi suất ngân hàng để có thể hoàn trả vốn và lãiđồng thời thu được lợi nhuận
Trang 15Trong quá trình cổ phần hoá DNNN, vai trò của ngân hàng có ý nghĩacực kỳ quan trọng, nhất là trong bối cảnh hiện tại khi mà vốn của ngân hàngchiếm tỷ trọng lớn trong toàn bộ tài sản DNNN, có trường hợp vốn tín dụngngân hàng chiếm tới 80% tài sản của doanh nghiệp Mặt khác các DNNN cổphần hoá cũng có nhu cầu vốn để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh,đặc biệt là trong giai đoạn đầu khi mới thực hiện chuyển đổi
Mà theo chỉ đạo của Hội nghị trung ương 9 thì ngân hàng được thamgia xây dựng và quyết định phương hướng sắp xếp lại DNNN có vay vốn củangân hàng thì vai trò lại càng nổi bật hơn bao giờ hết Vì thế hoạt động ngânhàng lại càng quan trọng hơn trong việc phân bố lại các nguồn lực nhằm lànhmạnh và tối ưu hoá các hoạt động kinh tế của loại hình doanh nghiệp này
1.2 Chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp nhà nước cổ phần hoá.
1.2.1 Khái niệm chất lượng tín dụng.
Trong bất cứ nền kinh tế cạnh tranh nào doanh nghiệp muốn đứng vữngtrên thương trường thì việc cải thiện chất lượng là điều tất yếu Các ngân hàngthương mại cũng là những doanh nghiệp trong nền kinh tế chỉ có khác ở điểmmặt hàng kinh doanh đặc biệt là tiền tệ Vì vậy các ngân hàng cũng phải quantâm đến chất lượng sản phẩm dịch vụ của mình
Tín dụng lại là xương sống của ngành ngân hàng, nó đóng góp phần lớnvào thu nhập của ngân hàng, đồng thời nó cũng là lĩnh vực chứa đựng rủi rocao nhất Vì vậy, chất lượng tín dụng là mối quan tâm ưu tiên hàng đầu củacác ngân hàng nói riêng cũng như các cơ quan quản lý nhà nước nói chung Vậy chất lượng tín dụng được hiểu như thế nào?
Chất lượng được các tác giả nói đến bằng nhiều cách: Xuất phát từngười tiêu dùng thì chất lượng là sự phù hợp với yêu cầu (theo PhilipCrosby), xuất phát từ mặt giá trị thì chất lượng là cái mà khách hàng phải trảđúng với cái họ nhận được, theo ISO 9000 thì chất lượng là mức độ thoả mãncủa một tập hợp các thuộc tính đối với các yêu cầu
Trên cơ sở đó có thể hiểu, chất lượng tín dụng là sự đáp ứng yêu cầucủa khách hàng phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội và đảm bảo sự tồn tại,phát triển của ngân hàng
Đứng trên các giác độ khác nhau từ phía ngân hàng, khách hàng, và nềnkinh tế có thể hiểu rõ hơn về chất lượng tín dụng như sau:
Trang 16Đối với ngân hàng: Chất lượng tín dụng phản ánh mức độ an toàn tín dụng,
khả năng sinh lơi của ngân hàng do hoạt động tín dụng mang lại cũng như khảnăng đáp ứng nhu cầu vốn hợp lý của khách hàng phù hợp với khả năng, thựclực của ngân hàng
Mức độ an toàn tín dụng thể hiện ở khả năng thu hồi đầy đủ đúng hạn
cả vốn gốc và lãi (hoặc phí) theo dự định Khả năng thu nợ càng lớn thì chấtlượng tín dụng càng cao
Tuy nhiên, các khoản cho vay có độ an toàn cao, song khả năng sinh lờicủa các khoản cho vay thấp thì chất lượng tín dụng của ngân hàng đó khôngđược gọi là cao Vì hoạt động tín dụng là hoạt động chủ yếu tạo ra lợi nhuậncho ngân hàng nên chất lượng tín dụng là rất quan trọng, đóng vai trò quyếtđịnh trong việc khả năng sinh lời của ngân hàng Chất lượng tín dụng tốt sẽgóp phần tăng quy mô tín dụng, từ đó tăng thu nhập từ hoạt động tín dụng.Như vậy phải kết hợp giữa tăng trưởng tín dụng và an toàn tín dụng mới đảmbảo chất lượng tín dụng cao
Trong phạm vi luận văn, em chỉ đi sâu hơn về chất lượng tín dụng từgiác độ ngân hàng
Đối với khách hàng: Chất lượng tín dụng là khả năng đáp ứng nhu cầu của
khách hàng về lãi suất, kỳ hạn, quy mô, phương thức giải ngân và phươngthức thu nợ … đối với mỗi khoản vay mà ngân hàng cung cấp
Đối với nền kinh tế: Thông qua các khoản cho vay mà ngân hàng cung cấp
cho các chủ thể kinh tế khác nhau trong nền kinh tế, các hoạt động tái sảnxuất mở rộng, đầu tư phát triển…sẽ góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển.Đứng trên góc độ nền kinh tế, chất lượng tín dụng được thể hiện ở việc tíndụng phục vụ sản xuất, lưu thông hàng hoá, góp phần giải quyết công ăn việclàm cho người lao động, thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung sản xuất, giảiquyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng và phát triểnkinh tế
Qua đó có thể rút ra:
Chất lượng tín dụng là một khái niệm vừa cụ thể (thể hiện qua các chỉtiêu có thể tính toán được như tỷ lệ nợ quá hạn, cơ cấu vốn tín dụng,…) vừatrừu tượng (thể hiện qua khả năng thu hút khách hàng, tác động đến nền kinhtế, )
Trang 17Chất lượng tín dụng là một chỉ tiêu tổng hợp, nó phản ánh mức độ thíchnghi của ngân hàng với sự thay đổi của môi trường bên ngoài, nó thể hiện sứcmạnh của một ngân hàng trong quá trình cạnh tranh để tồn tại
Hiểu đúng bản chất chất lượng tín dụng, phân tích và đánh gía đúngchất lượng tín dụng hiện tại cũng như xác định chính xác các nguyên nhâncủa những tồn tại sẽ giúp cho ngân hàng tìm được biện pháp quản lý thíchhợp để có thể đứng vững trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh gay gắt
1.2.2 Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng tín dụng.
1.2.2.1 Chỉ tiêu định tính.
a Đối với ngân hàng
Chất lượng tín dụng của một ngân hàng được coi là tốt khi ngân hàng
có khả năng đáp ứng kịp thời và đầy đủ nhu cầu vay vốn hợp lý của kháchhàng Để làm được điều đó ngân hàng phải có hệ thống phân tích, đánh gía,
dự báo nhu cầu tín dụng của khách hàng chính xác và nhanh chóng
Các quy định và các nguyên tắc tín dụng được xây dựng nhằm giảmthiểu rủi ro, đảm bảo an toàn trong hoạt động tín dụng ngân hàng Chính vìvậy, việc tuân thủ nghiêm ngặt các quy định và nguyên tắc này phản ánh chấtlượng tín dụng của ngân hàng càng cao do ngân hàng có thể hạn chế đượcphần nào rủi ro tín dụng Ngược lại nếu ngân hàng buông lỏng trong việc tuânthủ các nguyên tắc về tín dụng thì có thể gây cho ngân hàng những rủi rotrong cho vay, từ đó hạn chế chất lượng tín dụng của ngân hàng
Uy tín và thị phần cho vay của ngân hàng trên địa bàn
Chất lượng tín dụng cũng làm tăng uy tín của ngân hàng trên thị trường, giúpngân hàng thu hút được ngày càng nhiều khách hàng, mở rộng hoạt động chovay…Chính vì vậy thông qua uy tín và thị phần cho vay của ngân hàng sẽphản ánh phần nào chất lượng tín dụng của ngân hàng Bởi đối với bất kỳngân hàng nào, để tăng uy tín của mình trên thị trường đều buộc họ phải tìmcách mở rộng thị phần và không ngừng nâng cao chất lượng tín dụng củangân hàng mình
b Đối với khách hàng:
Trang 18Để được vay vốn ngân hàng, các khách hàng phải đáp ứng các điềukiện tối thiểu về năng lực pháp lý, năng lực dân sự, cũng như năng lực tàichính nhất định Một số điều kiện mà khách hàng cần phải có khi vay vốn:Phải có phương án sử dụng vốn vay, nêu mục đích, hiệu quả, tính khả thi, vàkhả năng hoàn trả vốn vay; phải có tài sản đảm bảo nếu ngân hàng yêu cầu…
hàng có thể đưa ra được các quyết định cho vay một cách chính xác, khoảncho vay đạt chất lượng cao đòi hỏi trước hết khách hàng phải cung cấp thôngtin cho ngân hàng trung thực, chính xác với thực trạng sản xuất kinh doanhcủa mình
1.2.2.2 Chỉ tiêu định lượng.
a Chỉ tiêu phản ánh an toàn tín dụng:
xấu) trên tổng dư nợ của ngân hàng tại một thời điểm nhất định
Tỷ lệ nợ quá hạn =
“Hoàn trả” là nguyên tắc đầu tiên trong hoạt động tín dụng, do đó tính
an toàn là yếu tố quan trọng bậc nhất cấu thành chất lượng tín dụng Khi mộtkhoản vay có một khoản nợ gốc hoặc lãi không được hoàn trả đúng hạn như
đã cam kết, mà không có lý do chính đáng thì sẽ bị chuyển sang nợ qúa hạnvới lãi phạt cao hơn lãi suất bình thường Nếu một ngân hàng có nhiều mónvay quá hạn sẽ gặp nhiều khó khăn trong hoạt động kinh doanh vì sẽ có nguy
cơ mất vốn Một ngân hàng có nhiều khoản nợ quá hạn và tỷ lệ nợ qúahạn/tổng dư nợ cao sẽ bị đánh giá là chất lượng tín dụng thấp
Định kỳ các ngân hàng phải tiến hành phân loại và đánh giá các món vay vàtrích lập dự phòng rủi ro theo quyết định 493/2005/QĐ-NHNN Tỷ lệ dựphòng rủi ro/Tổng dư nợ phản ánh khả năng bù đắp cho các khoản tổn thấtcủa hoạt động tín dụng Tỷ lệ này cao thì hoạt động của ngân hàng sẽ an toànhơn nhưng cũng hàm ý chất lượng tín dụng không tốt
b Chỉ tiêu phản ánh tăng trưởng tín dụng:
Tổng dư nợ
Nợ quá hạn
Trang 19 Tổng doanh số cho vay: Là tổng doanh số của tất cả các món vay củangân hàng thường trong khoảng thời gian một năm Nó phản ánh quy mô cấptín dụng của ngân hàng đối với nền kinh tế Ngân hàng có doanh số cho vaylớn chứng tỏ ngân hàng có mối quan hệ với rất nhiều khách hàng hoặc cóquan hệ với nhiều khách hàng lớn Khối lượng cấp tín dụng lớn chỉ có thể đạtđược thông qua việc áp dụng chính sách tín dụng năng động và phù hợp.Vàkhi doanh số cho vay lớn mới có thể giúp nâng cao khả năng sinh lời củangân hàng.
thu nợ cao Nếu doanh số thu nợ thấp cũng sẽ hàm ý có những khoản nợ quáhạn nên khả năng thu hồi vốn và lãi thấp, chất lượng tín dụng kém
c Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của hoạt động tín dụng:
lời từ hoạt động tín dụng đem lại Chỉ tiêu này càng cao thì vai trò của hoạtđộng tín dụng càng lớn trong các hoạt động của ngân hàng Cần phải xem xéttốc độ tăng trưởng của chỉ tiêu này qua các thời kỳ so với tốc độ tăng trưởngcủa dư nợ cho vay
Tỷ lệ thu từ lãi cho vay/tổng doanh thu=
Tuy nhiên, xu hướng phát triển của các ngân hàng là giảm dần lãi thu
từ hoạt động tín dụng, tăng phí thu từ các hoạt động dịch vụ khác Nên đểđánh giá chính xác hơn thường sử dụng chỉ tiêu tỷ lệ thu từ lãi cho vay/dư nợbình quân
đồng doanh thu cho vay ra thu về được bao nhiêu đồng lãi vay Tỷ lệ nàycàng cao chứng tỏ hoạt động cho vay càng có hiệu quả
Tỷ lệ thu từ lãi cho vay/Dư nợ bình quân=
d Chỉ tiêu phản ánh khả năng đáp ứng nhu cầu của khách hàng phù hợp vớithực lực của ngân hàng
Thu lãi từ hoạt động cho vayTổng dư nợ bình quânThu lãi từ cho vayTổng doanh thu
Trang 20 Cơ cấu vốn đầu tư: Việc phân tích cơ cấu tín dụng theo thời gian, cácchủ thể vay vốn…chính là việc xem xét đánh giá tỷ trọng cho vay đã phù hợpvới khả năng đáp ứng của bản thân ngân hàng cũng như đòi hỏi về vốn củanền kinh tế chưa Trên cơ sở đó, các ngân hàng có thể quyết định quy mô, tỷtrọng đầu tư vào các lĩnh vực một cách hợp lý để vừa đảm bảo an toàn vốncho vay vừa có thể thu lại lợi nhuận cao
Mặt khác yêu cầu của cơ cấu vốn đầu tư là phải đảm bảo nguyên tắcphân tán rủi ro và phải có cơ cấu hợp lý để đảm bảo khả năng thanh khoản Vìvậy ngân hàng nhà nước cũng đã có những quy định về các yêu cầu về cơ cấuvốn đầu tư như:
- Tỷ lệ sử dụng nguồn ngắn hạn để cho vay trung, dài hạn (Hiện nay ngânhàng nhà nước quy định tỷ lệ này tối đa là 40%)
- Mức cho vay tối đa đối với một khách hàng, một nhóm khách hàng
quản lý vốn tín dụng và chất lượng tín dụng trong việc đáp ứng nhu cầu củakhách hàng
Vòng quay vốn tín dụng =
Hệ số này phản ánh số vòng chu chuyển của vốn tín dụng Vòng quayvốn tín dụng càng cao chứng tỏ nguồn vốn ngân hàng luân chuyển càngnhanh, sẽ tham gia vào được nhiều chu kỳ sản xuất và lưu thông hàng hoá Hệ
số này tăng phản ánh tình hình quản lý vốn tín dụng tốt, chất lượng tín dụngcao Nếu “Dư nợ bình quân” thấp sẽ làm cho vòng quay vốn tín dụng lớn lạikhông phản ánh chất lượng tín dụng tốt vì thực tế là khả năng cho vay kém
Vì vậy cần phải xem xét với chỉ tiêu “Hiệu suất sử dụng vốn”
tổng nguồn vốn huy động Qua đó để đánh giá tỷ trọng cho vay đã phù hợpvới khả năng đáp ứng về vốn của bản thân ngân hàng cũng như của nền kinh
Trang 21Tỷ lệ này dao động từ 30% đến 100% Thông thường vào khoảng trên80% là tốt, nếu dưới hoặc trên mức đó sẽ gây ảnh hưởng không tốt cho ngânhàng.
Trên cơ sở tính toán các chỉ tiêu trên có thể đánh giá được chất lượngtín dụng của một ngân hàng Giữa các chỉ tiêu có mối quan hệ rất logic, chặtchẽ Vì vậy, để đánh giá chất lượng tín dụng không chỉ dựa vào chỉ riêng mộtchỉ tiêu nào mà phải đánh giá phối hợp một hệ thống nhiều chỉ tiêu
1.2.3 Chất lượng tín dụng đối với các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hoá.
Như đã phân tích ở trên, chất lượng tín dụng là mức độ an toàn tíndụng, khả năng sinh lời của hoạt động tín dụng và mức độ đáp ứng nhu cầucủa khách hàng
Đối với các DNNN trong quá trình đổi mới sắp xếp lại hoạt động kinhdoanh nghiệp đã xuất hiện một số khách hàng cố ý chây ỳ, không nhận nợhoặc đòi ngân hàng khoanh nợ, giãn nợ, xoá nợ Vì vậy vấn đề trọng tâm củachất lượng tín dụng đối với DNNN cổ phần hoá là an toàn tín dụng - nợ ngânhàng được xử lý như thế nào trong tiến trình cổ phần hoá DNNN
Theo số liệu thống kê của Cục tài chính doanh nghiệp, hiện nay, số nợphải trả của các DNNN thường cao gấp 1.2 – 1.5 lần vốn nhà nước tại doanhnghiệp, thậm chí nhiều doanh nghiệp nợ từ vài lần đến hàng chục lần vốn chủ
sở hữu Số nợ này chủ yếu nợ các ngân hàng thương mại, chiếm khoảng 70%.Đến cuối năm 2002, nợ phải thu quá hạn của ngân hàng thương mại quốcdoanh là 15.225 tỷ đồng Chính phủ và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền
đã ban hành các văn bản luật về việc xử lý nợ đối với DNNN như thông tư số05/2003/TT-NHNN về hướng dẫn xử lý nợ tồn đọng của các DNNN tại cácngân hàng thương mại nhà nước, ngân hàng xử lý nợ cho các DNNN thựchiện chuyển đổi theo hướng: giãn, khoanh nợ, xoá nợ lãi vay, bán lại nợ chocác tổ chức có chức năng mua bán nợ, hoặc chuyển thành vốn góp cổ phần.Mặc dầu đã có những văn bản hướng dẫn xử lý nợ nhưng các ngân hàngthương mại vẫn đối mặt với rủi ro tín dụng, có nguy cơ bị mất vốn, cụ thểtrong các trường hợp sau:
trong doanh nghiệp cũ lợi dụng thời gian pháp nhân cũ không còn tồn tại,pháp nhân mới đã có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh nghiệp nhưng chưa
Trang 22có con dấu mới, cố ý dùng các chứng từ ký trước theo tên chủ tài khoản cũ vàcon dấu cũ để rút tiền ra khỏi tài khoản tiền gửi của doanh nghiệp cũ tại ngânhàng hoặc thông đồng với bên thứ ba để làm các thủ tục nhận tiền vay ngânhàng Điều này làm cho giao dịch bị vô hiệu, khi xảy ra tranh chấp, ngân hàngkhông có đủ căn cứ pháp lý để thu hồi lại số tiền đã chuyển đi hoặc giải ngân.
cũng như hình thái tài sản của tiền vay nên trong trường hợp: khi xác định giátrị doanh nghiệp, DNNN cổ phần hoá loại trừ nợ phải thu không có khả năngthu hồi, tài sản không cần dùng, ứ đọng, chờ xử lý; vốn đầu tư dài hạn màdoanh nghiệp cổ phần hoá không kế thừa; chi phí xây dựng cơ bản dở dang
của công trình bị đình hoãn thi công, …ra khỏi giá trị doanh nghiệp, thì nợ vay của ngân hàng có nguy cơ cũng bị gạt ra ngoài giá trị doanh nghiệp cùng với các tài sản đó Một trường hợp khác là ngân hàng cho vay vốn lưu
động đối với đơn vị chính mà người sử dụng vốn vay là đơn vị hạch toán phụthuộc, nhưng không quản lý được nguồn tiền về để thu nợ kịp thời, tạo khe hởcho đơn vị chính chiếm dụng tiền ngân hàng vào các mục đích khác, rồi đẩykhó khăn tài chính về phía ngân hàng Việc này thể hiện rõ khi doanh nghiệpnhà nước có tình hình tài chính yếu kém, nhưng được Ban chỉ đạo đổi mớidoanh nghiệp cho phép cổ phần hoá dần các đơn vị hạch toán phụ thuộc, cácđơn vị cổ phần hoá được nhận các ưu đãi về tài sản, về vị trí kinh doanhnghiệp… còn nợ vay ngân hàng, cùng các khoản phải thu khó đòi, nguyên vậtliệu hàng hoá tồn kho, ứ đọng mất phẩm chất, tài sản không sử dụng chờthanh lý… bị gạt dần về đơn vị chính Khi đơn vị chính mất khả năng thanhtoán, thì thực hiện giải thể, hoặc phá sản doanh nghiệp Về phía mình, mặc dùthấy được nguy cơ mất vốn nhưng ngân hàng không thể can thiệp vào quátrình chuyển đổi hoặc yêu cầu công ty cổ phần nhận nợ
nợ cho ngân hàng mà ngân hàng không thể khởi kiện được Trường hợp nàythường xảy ra khi doanh nghiệp sau chuyển đổi có khó khăn về tài chính, cóthay đổi nhân sự chủ chốt; phải nhận sáp nhập 1 DNNN yếu kém khác; hoặc
có các vấn đề pháp lý; trong khi hồ sơ tín dụng tại ngân hàng cho vay khôngtuân thủ theo đúng quy định (không đầy đủ, không đảm bảo tính pháp lý)
Trang 23hoặc cho vay theo hạn mức tín dụng mà không nắm được hình thái tài sản củavốn vay.
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng.
1.3.1 Nhân tố từ phía ngân hàng:
Đây là những nhân tố chủ quan bởi nó là yếu tố nội tại trong ngân hàng
và có tác động trực tiếp đến chất lượng hoạt động tín dụng
điểm, chủ trương, định hướng, quy định chỉ đạo hoạt động tín dụng và đầu tưcủa ngân hàng phù hợp với những quy định pháp lý hiện hành Chính sách tíndụng đề cập đến toàn bộ các vấn đề liên quan đến hoạt động tín dụng: kháchhàng, quy mô, lãi suất, kỳ hạn, các loại đảm bảo, phạm vi, các khoản tín dụng
có vấn đề và các nội dung khác Đó chính là kim chỉ nam đảm bảo cho hoạtđộng tín dụng đi đúng quỹ đạo, nó có ý nghĩa quyết định đến sự thành cônghay thất bại của một ngân hàng Một chính sách tín dụng đúng đắn sẽ thu hútđược nhiều khách hàng, đảm bảo khả năng sinh lời của ngân hàng trên cơ sởphân tán rủi ro
Trong quy trình tín dụng, bước chuẩn bị cho vay là rất quan trọng, là cơ
sở để lượng định rủi ro trong quá trình cho vay Ở bước này, chất lượng tíndụng phụ thuộc vào chất lượng công tác thẩm định dự án, thẩm định về kháchhàng
Giám sát trong quá trình cho vay giúp cho ngân hàng kiểm soát được việc sửdụng vốn vay của khách hàng, sẽ sớm phát hiện ra những bất trắc khi có sự cố
từ đó để ngân hàng có những điều chỉnh kịp thời Việc lựa chọn và áp dụng có
Trang 24hiệu quả các hình thức kiểm tra sẽ thiết lập được một hệ thống phòng ngừa rủi
ro tín dụng hữu hiệu, nhằm nâng cao chất lượng tín dụng
Thu nợ và thanh lý nợ là khâu quan trọng quyết định đến sự tồn tại củangân hàng Sự phối hợp nhịp nhàng giữa các bước trong quy trình tín dụng sẽtạo điều kiện cho vốn tín dụng được luân chuyển bình thường và hiệu quả,nhờ đó đảm bảo chất lượng tín dụng
Chất lượng cán bộ ngân hàng là nhân tố quyết định đến sự thành bạitrong hoạt động kinh doanh của ngân hàng nói chung và trong hoạt động tíndụng nói riêng Cán bộ tín dụng là người trực tiếp tham gia vào mọi khâu củaquá trình tín dụng, từ bước tiếp nhận hồ sơ vay vốn của khách hàng đến bướcthu nợ cuối cùng Trong môi trường gặp gỡ trực tiếp với nhiều loại kháchhàng, đối mặt với nhiều cám dỗ, có nhiều cơ hội để thực hiện hành vi vụ lợi…
Vì vậy cán bộ tín dụng cần được tuyển chọn cẩn trọng, bố trí hợp lý, đượcquan tâm giáo dục, rèn luyện…
Cán bộ tín dụng có đạo đức nghề nghiệp sẽ có ý thức hoàn thành tốtcông việc chuyên môn của mình, nghiêm chỉnh chấp hành các quy định củapháp luật Cộng với chuyên môn nghiệp vụ giỏi (có năng lực phân tích và xử
lý đơn xin vay, đánh giá tài sản thế chấp, giám sát số tiền cho vay …) sẽ giúpcho ngân hàng có thể ngăn ngừa được những sai phạm có thể xảy ra khi thựchiện chu kỳ khép kín của một khoản tín dụng
Thông tin tín dụng có vai trò quan trọng trong quản lý chất lượng tíndụng Thông qua việc thu thập và xử lý thông tin, người quản lý có thể đưa racác quyết định về cho vay, theo dõi và quản lý tài khoản cho vay… Thông tintín dụng có thể thu được từ các nguồn sẵn có ở ngân hàng (trung tâm côngnghệ thông tin quốc gia CIC, thông tin giữa các tổ chức tín dụng, hồ sơ vềkhách hàng trong các nghiệp vụ tín dụng trước, …), từ khách hàng (hồ sơ vayvốn, chế độ báo cáo định kỳ cho ngân hàng,…), từ các nguồn thông tin khác(các cơ quan thông tấn, báo chí, toá àn) Thông tin càng đầy đủ, nhanh nhạy,chính xác và toàn diện thì khả năng phòng ngừa rủi ro có thể phát sinh từkhách hàng hoặc biến động của thị trường, chất lượng tín dụng càng cao
Trang 25Công nghệ được xác định là nền tảng, là bộ phận cấu thành của hệthống quản trị ngân hàng hiện đại Ngày nay, các ngân hàng không chỉ cạnhtranh bằng lãi suất, khuyến mại, mở rộng mạng lưới mà công nghệ còn được
sử dụng như một vũ khí để tạo ra lợi thế so sánh của ngân hàng mình với đốithủ cạnh tranh Hệ thống công nghệ thông tin tốt có thể cho phép ngân hàngđánh giá chính xác về một khách hàng để đưa ra quyết định đúng đắn
Trong lĩnh vực tín dụng, hoạt động kiểm soát bao gồm:
- Kiểm soát chính sách tín dụng và các thủ tục có liên quan đến khoản vay(thẩm quyền về điều hành, quản lý, giám sát các khoản cho vay, hồ sơ, thủ tụccho vay…)
- Kiểm tra định kỳ do kiểm toán viên nội bộ thực hiện, báo cáo các trườnghợp ngoại lệ, những vi phạm chính sách, thủ tục, kiểm soát kế toán và cácnghiệp vụ có liên quan đến cho vay
- Kiểm tra đột xuất việc sử dụng vốn vay, tài sản thế chấp của khách hàng đểđánh gía hiệu quả sử dụng vốn và các khoản đảm bảo vốn vay
Chất lượng tín dụng tuỳ thuộc vào mức độ phát hiện kịp thời các saiphạm và nguyên nhân để từ đó có biện pháp khắc phục kịp thời Vì vậy côngtác kiểm tra, kiểm soát càng chặt chẽ sẽ càng làm cho hoạt động tín dụngđúng hướng, thực hiện đúng các nguyên tắc, các yêu cầu thể lệ trong quy chế
về tín dụng cũng như quy trình tín dụng
1.3.2 Nhân tố từ phía khách hàng:
ra dự án sản xuất kinh doanh của mình Dự án sản xuất kinh doanh nghiệp làmột tập hợp những đề xuất về nhu cầu vốn, cách sử dụng vốn, kết quả tươngứng thu được trong một khoảng thời gian xác định đối với hoạt động cụ thể đểsản xuất kinh doanh nghiệp, dịch vụ đầu tư phát triển hoặc phục vụ đời sống.Trên cơ sở dự án kinh doanh mà khách hàng lập, ngân hàng sẽ tiến hành thẩmđịnh lại hiệu quả của dự án, đánh giá tính khả thi Đây là cơ sở để cán bộ tíndụng đưa ra quyết định cho vay Vì thế nếu dự án kinh doanh được kháchhàng lập một cách cẩn thận, chính xác sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho công tácthẩm định có thể thu được kết quả chính xác và hiệu quả, từ đó sẽ nâng caotính an toàn cho khoản vay
Trang 26 Năng lực của người vay: Chất lượng tín dụng phụ thuộc rất lớn vàonăng lực, kinh nghiệm quản lý kinh doanh của khách hàng vì đây là cơ sở đểkhách hàng thực hiện cam kết hoàn trả đúng hạn cả gốc lẫn lãi cho ngân hàng.Năng lực của khách hàng bao gồm năng lực về tài chính, năng lực quản lýdoanh nghiệp, năng lực thị trường … là yếu tố quyết định sự thành công củamột doanh nghiệp.
Năng lực về tài chính của khách hàng được xác định qua các chỉ tiêunhư: tỷ suất tài trợ cao (tỷ lệ vốn tự có trên tổng nguồn vốn) thể hiện mức độđộc lập tài chính của doanh nghiệp lơn; các chỉ số về khả năng thanh toán như
hệ số thanh toán hiện hành (tỷ lệ tài sản lưu động trên nợ ngắn hạn) phản ánhkhả năng đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn,…; các chỉ tiêu về lợi nhuận về lợinhuận như hệ số doanh lợi doanh thu (tỷ lệ thu nhập sau thuế trên doanhnghiệp thu thuần), hệ số doanh lợi tài sản,…là chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạtđộng kinh doanh của doanh nghiệp Đánh giá những chỉ tiêu về khả năngthanh toán, chỉ tiêu về lợi nhuận sẽ giúp ngân hàng tiên liệu được việc kháchhàng có thể làm ăn có hiệu quả, có khả năng trả nợ cho ngân hàng hay không
giám đốc, cán bộ, nhân viên trong việc quản lý doanh nghiệp Nó thể hiện ở
sự gọn nhẹ, linh hoạt, năng động của bộ máy tổ chức, ở khả năng thích nghicủa bộ máy quản lý với sự biến động của cơ chế thị trường Khi khả năngquản lý của doanh nghiệp tốt, hoạt động sản xuất kinh doanh sẽ diễn ra thôngsuốt, phương án sản xuất kinh doanh sẽ có tính khả thi cao, phù hợp với thực
tế, do đó khả năng trả nợ của doanh nghiệp được đảm bảo, đảm bảo an toàntín dụng
Hoạt động của ngân hàng dựa trên cơ sở sự tín nhiệm và niềm tin Ngânhàng luôn phải đối mặt với nguy cơ “lựa chọn đối nghịch” và “rủi ro đạođức” “Lựa chọn đối nghịch” xảy ra khi có những người sẵn sàng mạo hiểmvới kỳ vọng thu được lợi nhuận cao Để đạt được mục đích của mình, họ sẵnsàng tìm mọi thủ đoạn ứng phó với ngân hàng như cung cấp thông tin sai,mua chuộc cán bộ ngân hàng, gian lận số liệu, … “Rủi ro đạo đức ” xảy ra khikhách hàng đã nhận được vốn vay của ngân hàng mà sử dụng không mụcđích, không đúng với phương án kinh doanh
Trang 27Uy tín của khách hàng cũng là một nhân tố góp phần nâng cao chấtlượng tín dụng Uy tín của khách hàng thể hiện ở nhiều khía cạnh như: chấtlượng, giá cả của hàng hoá dịch vụ, mức độ chiếm lĩnh thị trường, chu kỳsống của sản phẩm, các quan hệ kinh tế tài chính, vay vốn, trả nợ với ngânhàng, bạn hàng và khách hàng Uy tín của khách hàng càng được đánh giá quathời gian càng dài càng chính xác.
Bởi vậy, việc thẩm định xem xét, phân tích mức độ tín nhiệm cũng nhưlịch sử về khách hàng và việc giám sát trong quá trình cho vay sẽ góp phầnhạn chế rủi ro đạo đức từ phía khách hàng và góp phần nâng cao chất lượngtín dụng
Nếu xác định giá trị doanh nghiệp theo phương pháp tài sản thì nhữngtài sản được hình thành từ vốn vay ngân hàng mà đã hết thời gian khấu hao sẽkhông được tính vào giá trị doanh nghiệp nên vốn của ngân hàng bị loại khỏigiá trị doanh nghiệp, có nghĩa là chất lượng tín dụng giảm sút
1.3.3 Các nhân tố thuộc về môi trường.
nhiều và khả năng thành công lớn là lý tưởng cho chất lượng tín dụng Nềnkinh tế ổn định với mức lạm phát vừa phải sẽ tạo điều kiện cho các doanhnghiệp làm ăn có hiệu quả, khả năng tạo lợi nhuận của họ là cao, từ đó họ cóthể hoàn trả vốn lẫn lãi cho ngân hàng đúng kỳ hạn đã thoả thuận Khi cácdoanh nghiệp làm ăn có hiệu quả sẽ góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển,tạo công ăn việc làm cho người lao động Khi đó ngân hàng đã góp phần thúcđẩy nền kinh tế tăng trưởng và phát triển Và ngược lại trong thời kỳ suy thoáikinh tế, sản xuất bị đình trệ, thì hoạt động tín dụng cũng sẽ gặp khó khăn vềmọi mặt – qui mô tín dụng giảm, rủi ro tín dụng cao
lý cho các doanh nghiệp cũng như ngân hàng hoạt động Đây là cơ sở để điềutiết các hoạt động trong nền kinh tế xã hội Một môi trường pháp lý ổn định,chặt chẽ cùng với hệ thống quản lý hành chính gọn nhẹ, đơn giản sẽ tạo cảmgiác an toàn và thúc đẩy các nhà đầu tư mở rộng hoạt động sản xuất, kinhdoanh nghiệp của mình Chỉ có trong điều kiện các chủ thể tham gia quan hệtín dụng tuân thủ pháp luật một cách nghiêm chỉnh thì quan hệ tín dụng mới
Trang 28đem lại lợi ích cho cả hai phía và chất lượng tín dụng mới được đảm bảo.Ngược lại môi trường pháp lý chưa hoàn chỉnh, thiếu tính đồng bộ, thống nhấtgiữa các luật, văn bản dưới luật… cùng với thủ tục hành chính sách phiền hàlàm cho các doanh nghiệp gặp khó khăn, rủi ro về vốn cao, sẽ khiến vốn củangân hàng bị “đóng băng” cũng như rủi ro tín dụng cao và nền kinh tế đixuống.
sở niềm tin Đó là lòng tin được thiết lập giữa ngân hàng và khách hàng Môitrường chính trị xã hội ổn định với những khách hàng có phẩm chất đạo đức,
có trình độ dân trí cao, hiểu biết về các hoạt động ngân hàng sẽ góp phầnnâng cao chất lượng tín dụng Ngược lại môi trường chính trị xã hội không ổnđịnh sẽ khiến các chủ thể kinh tế không dám mạnh dạn đầu tư, hiệu quả kinh
tế là không cao, làm cho chất lượng tín dụng sẽ suy giảm
trình độ phát triển của mỗi quốc gia Khoa học - kỹ thuật được áp dụng vào hệthống ngân hàng sẽ là sự hỗ trợ đắc lực cho các hoạt động ngân hàng Đặcbiệt trong bối cảnh hiện nay là thời đại của công nghệ thông tin, những ai nắmgiữ được thông tin nhanh nhất và chính xác sẽ nắm chắc phần quyết địnhthắng lợi trong tay Với sự trợ giúp từ công nghệ thông tin sẽ giúp cho ngânhàng xử lý kịp thời và chính xác những thông tin về khách hàng, giải quyếtnhanh và hiệu quả các hợp đồng tín dụng
Tóm lại: Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng, xuất phát
từ yếu tố chủ quan và khách quan Nhân tố cơ bản quyết định chất lượng tíndụng không phải do khách quan hay do lực lượng nào đó bên ngoài quyếtđịnh mà nó nằm ngay bên trong ngân hàng Vì vậy các ngân hàng ngoài việcbám sát khách hàng và các chính sách quy định của pháp luật, ngân hàng cần
có các giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động trong ngân hàng, để đảm bảochất lượng tín dụng cao
Trang 29Chương 2 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC CỔ PHẦN HOÁ TẠI HỘI SỞ CHÍNH NGÂN
HÀNG CÔNG THƯƠNG HÀ TÂY.
2.1 Khái quát về ngân hàng công thương Hà Tây và các doanh nghiệp
nhà nước cổ phần hoá trên địa bàn.
2.1.1 Khái quát về ngân hàng công thương Hà Tây.
2.1.1.1 Sự hình thành và quá trình phát triển.
Ngân hàng Công thương tỉnh Hà Tây là một chi nhánh của Ngân hàngCông thương Việt Nam Cùng nhịp với sự phát triển kinh tế xã hội của cảnước cũng như tỉnh Hà Tây, Ngân hàng Công thương Hà Tây đã trải qua cácgiai đoạn:
Chi nhánh NHCT Hà Tây là ngân hàng chuyên doanh được thành lậptheo Nghị định số 53/HĐBT của hội đồng bộ trưởng và chính thức hoạt độngvào tháng 7 năm 1988; hoạt động kinh doanh đối với các thành phần kinh tế
và dân cư trên địa bàn tỉnh Hà Tây và một số quận, huyện thuộc thành phố Hànội ngoài ra còn cho vay vốn tài trợ đối với khách hàng thuộc tỉnh Sơn La,Hoà Bình Ngày nay, trong điều kiện nền kinh tế thị trường, NHCT và các chinhánh trở thành ngân hàng thương mại đa năng
Tháng 10/1991, Quốc hội đã thông qua việc tách tỉnh Hà Sơn Bìnhthành hai tỉnh Hà Tây và Hoà Bình Khi đó chi nhánh Hoà Bình trực thuộcNgân hàng bàn giao cho tỉnh Hoà Bình Thống đốc ngân hàng có quyết địnhthành lập Ngân hàng Công thương Hà Tây
Đến tháng 4/1993: NHCT Hà Tây được thành lập các phòng giao dịch
và các tổ tiết kiệm Phòng giao dịch Xuân Mai được thành lập vào tháng2/2001 tại huyện Chương Mỹ tỉnh Hà Tây
Tháng 12/2001: Hội đồng quản trị NHCT Việt Nam quyết định thànhlập chi nhánh NHCT cấp II Sông Nhuệ Vào thời điểm này, NHCT Hà tâybao gồm một chi nhánh NHCT cấp II trực thuộc, bốn phòng giao dịch, bảyphòng ban nghiệp vụ ở Hội sở chính, 16 quỹ tiết kiệm trực thuộc các phònggiao dịch và chi nhánh NHCT cấp II
Trang 30Tháng 12/2003: Hội đồng quản trị NHCT Việt Nam có quyết định thànhlập 2 chi nhánh cấp II trực thuộc NHCT Hà Tây, đó là:
- Chi nhánh NHCT cấp II Quang Trung
- Chi nhánh NHCT cấp II Nguyễn Trãi
Tháng 8/2005: Thực hiện dự án hiện đại hoá NHCT Việt nam, Hội đồngquản trị NHCT Việt Nam đã có các quyết định về việc chuyển mới mô hình tổchức đối với chi nhánh NHCT Hà Tây và các chi nhánh cấp II trực thuôc Vàđến thơi điểm hiện tại, NHCT Hà Tây có 13 điểm tiết kiệm Từ 16 quỹ rútxuống còn 13 quỹ, có sự cắt giảm đó là do các quỹ đặt tại các vị trí chưa phùhợp hoặc là do địa điểm đi thuê người ta đòi lại trụ sở nên phải sát nhập cácquỹ Tại hội sở chính có 8 phòng chuyên môn nghiệp vụ (trong sơ đồ tổchức)
Trong điều kiện cơ chế thị trường - cạnh tranh ngày càng khốc liệt hơnđòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải tự thích nghi, tạo cho mình một chỗ đứngvững chắc trên thị trường Nhưng với lợi thế trụ sở nằm ngay tại trung tâm thị
xã Hà đông, nơi tập trung cơ quan đầu não của chính quyền địa phương vàcác doanh nghiệp lớn, sát nách Hà nội là trung tâm kinh tế - chính trị - vănhoá của cả nước, cho nên mọi thông tin về đường lối phát triển kinh tế - xãhội của Đảng và Nhà nước đến với NHCT Hà Tây rất nhanh chóng và có điềukhiển triển khai kịp thời
2.1.1.2 Cơ cấu tổ chức và quản lý.
a C
ơ cấu tổ chức:
Thực hiện chỉ đạo của NHCT Việt Nam, với mục đích mở rộng và nângcao vị thế hoạt động nhằm cung ứng tốt nhất các sản phẩm, dịch vụ cho bạnhàng, trong những năm qua NHCT tỉnh Hà Tây đã từng bước xây dựng vàphát triển nguồn nhân lực, tổ chức bộ máy và mạng lưới vững chắc NHCT
Hà Tây đã luôn xem công tác xây dựng và phát triển nguồn nhân lực ở vị tríthen chốt Hiện tại, tổng số cán bộ công nhân viên của NHCT Hà Tây gồm
216 người, có 1 tiến sỹ kinh tế, 3 thạc sỹ kinh tế, 112 người có trình độ đạihọc, 23 người trình độ cao đẳng, còn lại là trung học chuyên nghiệp
Mô hình cơ cấu tổ chức NHCT Hà Tây:
Trang 32b C ơ chế quản lý:
Kể từ tháng 8/2005 khi thực hiện dự án hiện đại hoá NHCT, NHCT HàTây cũng như các chi nhánh cấp II trực thuộc đều xử lý hạch toán trực tuyếnvới NHCT Việt Nam Sự thay đổi này đã phát huy tính tích cực trong việcquản lý điều hành trong toàn hệ thống và tính tập trung cao
Giai đoạn trước khi thực hiện hiện đại hoá: Các chi nhánh NHCT cấp IIgiao dịch trực tuyến với NHCT cấp I, chứ không phải là giao dịch trực tuyếnvới NHCT Việt Nam
2.1.1.3 Kết quả hoạt động chủ yếu của NHCT Hà Tây trong thời gian 2005.
2003-Hoạt động của ngân hàng luôn gắn liền với sự phát triển kinh tế và tìnhhình chính trị xã hội Tiến tới gần việc gia nhập WTO, NHNN đã có cácquyết định mới về tỷ lệ an toàn trong hoạt động tín dụng, quyết định về phânloại nợ và trích lập dự phòng rủi ro…, hướng các ngân hàng thương mại hoạtđộng theo các chuẩn mực quốc tế Trong bối cảnh đó, NHCT Hà Tây đã tiếptục mở rộng và hoàn thiện mạng lưới hoạt động nhằm nâng cao vị thế, đápứng tốt các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng theo trục thời gian Trong nhữngnăm gần đây NHCT Hà Tây đã thu được những kết quả tăng trưởng đáng kể
a Kết qu ả tài chính của NHCT
Bảng 1: Doanh thu, lợi nhuận, tổng tài sản của NHCT Hà Tây.
Đơn vị : Triệu đồng.
Trang 33mục 31/12/2003 31/12/2004 31/12/2005
So sánh 2004/2003
So sánh 2005/2004
(Nguồn: Phòng tổng hợp tiếp thị NHCT Hà Tây)
Xét trên loại tiền huy động được, hai năm gần đây có một sự đổi chiềurất rõ ràng (xem biểu đồ) Năm 2004 so với 2003 thì nguồn vốn huy động
Trang 34bằng VNĐ tăng rất ít 0.36%, trong khi nguồn vốn huy động bằng ngoại tệtăng cao 20.69% Năm 2005 thì hoàn toàn ngược lại nguồn vốn huy động từngoại tệ giảm 16.05%, còn nguồn vốn huy động từ VNĐ tăng cao 31.55% Cóthể lý giải điều này là vì năm 2004 nước ta có tỷ lệ lạm phát cao 9.5%, nênVNĐ bị mất giá, có hiện tượng đô la hoá, dân chúng nắm giữ nhiều USD.Bước sang năm 2005 Cục dự trữ liên bang Mỹ đã 5 lần trong năm tăng lãisuất đồng đôla Mỹ, làm cho đồng USD mất gía.
Biểu đồ 1: Huy động vốn tại NHCT Hà tây theo loại tiền
Như vậy, trước bao khó khăn thách thức đến từ nhân tố khách quan nhưng
NHCT Hà Tây vẫn đạt kết quả cao trong công tác huy động vốn, nguồn vốnvẫn tăng trưởng đều qua các năm
c Tình hình sử dụng vốn:
518.55 0
621.36 8
623.59 8
820.34 4
Năm 2003
Năm 2004
Năm 2005
Triệu
đồng
VNĐ Ngtệ quy
Trang 35Bảng 3: Cơ cấu doanh số cho vay, dư nợ theo thành phần kinh tế tại
Số tiền
Tỷ trọng
Tăng giảm(%)
Số tiền
Tỷ trọng
Tăng giảm(%)
(Nguồn: Phòng tổng hợp tiếp thị NHCT Hà Tây)
Dựa vào bảng 3 thấy rõ: Khách hàng là doanh nghiệp nhà nước vẫn làkhách hàng lớn của NHCT Hà Tây Tỷ trọng cho vay DNNN vẫn chiếm hơnnửa Nhưng mấy năm gần đây đã có sự chuyển dịch lớn trong việc cấp tíndụng Tỷ trọng cho vay DNNN ngày càng giảm xuống, nhường chỗ cho cácdoanh nghiệp ngoài quốc doanh (Tỷ trọng dư nợ đối với DNNN giảm từ81.2% năm 2003 xuống 52.3% năm 2005) Kể cả doanh số cho vay, dư nợ đốivới khu vực ngoài quốc doanh nghiệp cũng tăng trưởng qua các năm (Năm
2004 doanh số cho vay khu vực ngoài quốc doanh tăng hơn 300% so với năm2003) Còn doanh số cho vay cũng như dư nợ đối với khu vực quốc doanhdiễn biến theo chiều ngược lại, năm 2005 doanh số cho vay đối với khu vựcquốc doanh giảm 25.1% so với năm 2004
Mặc dù nguồn vốn VNĐ rất khó khăn, lãi suất huy động vốn khá cao nhưngNHCT Hà Tây đã luôn thoả mãn tất cả các nhu cầu vay vốn hợp lý, hiệu quả
Trang 36của các bạn hàng với lãi suất linh hoạt, hợp lý Dòng chảy vốn tín dụng củaNHCT Hà Tây phù hợp với xu hướng tất yếu của sự phát triển kinh tế nướcnhà, mở rộng khu vực kinh tế ngoài quốc doanh
Bảng 4 thể hiện rõ tình hình hoạt động cho vay của NHCT Hà Tây theothời gian Cho vay ngắn hạn chiếm tỷ trọng lớn (Tỷ trọng doanh số cho vayngắn hạn hàng năm đều trên 90%) Trong mấy năm gần đây xu hướng chovay ngắn hạn tăng lên (Tỷ trọng dư nợ tín dụng ngắn hạn năm 2003 là 43.2%,năm 2005 là 52.5%) Dư nợ tín dụng ngắn hạn cũng tăng lên năm 2004 tăng27.2% so với năm 2003
Biểu đồ 2: Cho vay theo thành phần kinh tế tại NHCT Hà
Tây 2003-2005
0200000
Trang 37Bảng 4: Tình hình sử dụng vốn theo thời gian tại NHCT Hà tây.
Đơn vị: Tỷ đồng.
Sốtiền
Tỷtrọng(%)
Sốtiền
Tỷtrọng
Tănggiảm(%)
trọng
Tănggiảm(%)
(Nguồn: Phòng tổng hợp tiếp thị NHCT Hà Tây)
Về chất lượng vốn đầu tư: Từ năm 2000 đến nay, do có sự phối hợp tốtvới bạn hàng nên Chi nhánh NHCT Hà Tây tuyệt đối không có nợ quá hạnkhó đòi mới phát sinh, không để nợ quá hạn kéo dài, tỷ lệ nợ quá hạn bìnhquân hàng năm ở mức dưới 0.5%/tổng dư nợ cho vay Chẳng hạn, đến31/12/2005 không có nợ xấu, nợ quá hạn chiếm tỷ lệ không đáng kể trên tổng
dư nợ cho vay: 0.3% Điều này thể hiện chất lượng vốn tín dụng ngân hàngcũng như chất lượng hoạt động kinh doanh nghiệp của các doanh nghiệp cóquan hệ tín dụng với NHCT tỉnh Hà Tây được nâng cao
Kết luận: Trong những năm qua, Chi nhánh NHCT Hà Tây đã đạt được
thành tích khả quan: hoạt động kinh doanh ổn định, an toàn, phát triển, hoànthành kế hoạch được giao, có nhiều chuyển biến mới tích cực trong các mặt
Trang 38công tác, nghiệp vụ trọng tâm Do vậy sức cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụcung cấp cho khách hàng được nâng lên đáng kể.
Năm 2005, NHCT Việt Nam đã ghi nhận những nỗ lực, thành tích củaNHCT Hà Tây và xếp loại NHCT Hà Tây là chi nhánh kinh doanh giỏi 3 nămliên tiếp trong toàn hệ thống NHCT Việt Nam Chi nhánh NHCT Hà Tây làđơn vị xuất sắc của khối thi đua doanh nghiệp nghiệp của tỉnh Hà Tây, được
uỷ ban nhân dân tỉnh tặng bằng khen
2.1.2 Thực trạng cổ phần hoá trên địa bàn tỉnh Hà Tây.
2.1.2.1 Tiến trình cổ phần hoá trên cả nước.
Đã có lúc, các DNNN giữ vai trò gần như độc tôn trong nền kinh tếquốc dân Vào thời điểm đó, những đóng góp của khối doanh nghiệp này vào
sự phát triển kinh tế - xã hội là rất lớn Nhưng khi chuyển sang nền kinh tế thịtrường, phần lớn các DNNN đã không thể thích ứng kịp với những thay đổicủa cơ chế mới Vì vậy chủ trương cổ phần hoá DNNN là một chủ trươngđúng đắn của Đảng và Nhà nước ta
Chặng đường 13 năm thực hiện cổ phần hoá đã qua bước đầu gặt háiđược những thành công, có thể chia thành 4 giai đoạn:
Trong thời kỳ này, các DNNN thuộc diện vừa và nhỏ, kinh doanh cóhiệu quả và không thuộc diện Nhà nước cần nắm giữ 100% vốn, tập thể côngnhân viên tự nguyện tham gia thí điểm cổ phần hoá được xem xét cho thíđiểm cổ phần hoá bằng Chỉ thị số 202/CT- TTg ngày 8/6/1992 và Chỉ thị84/TTg ngày 4/8/1993 của Thủ tướng chính phủ Qua 5 năm thực hiện chủtrương này, cả nước mới chuyển được 5 DNNN thành công ty cổ phần
Trên cơ sở đánh giá kết quả thí điểm sau 4 năm thực hiện (1992-1996),Chính phủ đã ban hành Nghị định 28/1996/NĐ-CP ngày 7/5/1996 về chuyểnmột số DNNN thành công ty cổ phần Kết quả đã có thêm 25 DNNN cổ phầnhoá thành công
Ngày 29/6/1998, Chính phủ ra Nghị định số 44/1998/NĐ-CP thay thếNghị định số 28/CP nhằm giải quyết chủ trương cổ phần hoá một cách thôngthoáng hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp tiến hành cổ phần
Trang 39hoá Nghị định 44/CP đã kết thừa, phát triển, bổ sung và sửa đổi nghị định 28nhằm đáp ứng yêu cầu mới mà thực tế công tác cổ phần hoá đặt ra Nghị định
44 đã quy định cụ thể các chính sách khuyến khích đối với các doanh nghiệp
và người lao động trong doanh nghiệp cổ phần hoá; đồng thời có sự phân cấpquản lý trong quá trình triển khai thực hiện cổ phần hoá Đến tháng 6/2002 cảnước đã chuyển được khoảng 1000 DNNN thành công ty cổ phần
mà Nhà nước vẫn giữ 100% vốn, những lĩnh vực mà Nhà nước phải giữ cổphần chi phối hoặc 100% vốn, quy định chi tiết đối với doanh nghiệp hoạtđộng kinh doanh và đối với doanh nghiệp hoạt động công ích
Trong tiến trình thực hiện cổ phần hoá, nghị định 64/CP đã bộc lộnhững hạn chế như việc bán cổ phần được tiến hành theo cách: phân chia –tính giá - hội đồng định giá và bán theo giá của cổ phần đã chia nên có thểxẩy ra tiêu cực Vì vậy nghị định 187/2004/NĐ-CP được ban hành đã khắcphục được những kẻ hỡ của nghị định 64
Cuộc cách mạng tại các DNNN - thực hiện cổ phần hoá đã luôn đượcĐảng và Nhà nước bám sát sườn, luôn có những chỉ đạo kịp thời để đẩynhanh tiến trình cổ phần hóa Các nghị định, thông tư của chính phủ luônđược hoàn thiện và sửa đổi để phù hợp với yêu cầu mới trong quá trình cổphần hoá Kết quả là trong những năm gần đây, tốc độ cổ phần hoá tăngnhanh đáng kể, năm 2002 có 164 DN được cổ phần hoá, đến năm 2003 con sốnày tăng lên tới 611 DN, chín tháng đầu năm 2004 cổ phần hoá 751 doanhnghiệp, năm 2005 cổ phần hóa 693 doanh nghiệp Đến hết năm 2005, cả nước
đã cổ phần hoá được 2996 doanh nghiệp (Số liệu: Viện nghiên cứu quản lýkinh tế trung ương)
Bên cạnh những điểm sáng còn những mảng tối: Số DNNN cổ phầnhoá tuy nhiều, nhưng số vốn chỉ chiếm khoảng 10% tổng vốn nhà nước tại