Em xin chân thành cảm ơn!CHƯƠNG 1 CHẤT LƯỢNG THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN VAY VỐN SẢN XUẤT KINH DOANH XUẤT NHẬP KHẨU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1.Khái quát chung về các dự án vay vốn sản x
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh toàn cầu hoá nền kinh tế, Việt Nam đã và đang từngbước thực hiện hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế Hoạt động SXKDXNK của doanh nghiệp ngày càng được đẩy mạnh dẫn tới nhu cầu về vốnđầu tư cho các dự án SXKD XNK ngày càng tăng
Với thế mạnh về nguồn vốn của mình, Ngân hàng Ngoại thương HàNội đã mở rộng tiếp cận và thẩm định các dự án đầu tư SXKD XNK khảthi, có hiệu quả Tuy nhiên, công tác thẩm định nói chung và thẩm định tàichính dự án nói riêng của Ngân hàng vẫn còn hạn chế đòi hỏi phải có sựnghiên cứu toàn diện để đưa ra được các giải pháp thiết thực nhằm nângcao cả về số lượng cũng như chất lượng thẩm định tài chính dự án vay vốnSXKD XNK
Từ những cơ sở lý luận và thực tiễn đó, em đã chọn đề tài “Nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án vay vốn sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu tại Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội” làm đề tài nghiên
cứu
Nội dung chính của chuyên đề gồm 3 chương:
Chương 1: Chất lượng thẩm định tài chính dự án vay vốn SXKDXNK của ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng chất lượng thẩm định tài chính dự án vay vốnSXKD XNK tại Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội
Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự ánvay vốn SXKD XNK tại Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội
Trong quá trình thực hiện chuyên đề tốt nghiệp em đã nhận được sựchỉ đạo tận tình của thầy giáo hướng dẫn PGS.TS.Vũ Duy Hào và toàn thểcác cô chú, anh chị cán bộ Phòng Tín dụng – chi nhánh Ngân hàng Ngoạithương Hà Nội
Trang 2Em xin chân thành cảm ơn!
CHƯƠNG 1 CHẤT LƯỢNG THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN VAY VỐN SẢN XUẤT KINH DOANH XUẤT NHẬP KHẨU CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.Khái quát chung về các dự án vay vốn sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu
1.1.1.Dự án vay vốn vay vốn SXKD XNK
Theo “Quy chế đầu tư và xây dựng” theo Nghị định 52/1999/NĐ-CPngày 08 tháng 07 năm 1999 của Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủnghĩa Việt Nam: Dự án là một tập hợp những đề xuất có liên quan đến việc
bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất địnhnhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng hoặc duy trì, cải tiến, nâng caochất lượng của sản phẩm hoặc dịch vụ trong khoảng thời gian xác định (chỉbao gồm hoạt động đầu tư trực tiếp)
Tín dụng ngân hàng là một nguồn tài trợ quan trọng cho các dự án cóthể đi vào hoạt động Khi chủ đầu tư đệ trình dự án của mình lên ngân hàngxin vay vốn thì dự án đó trở thành dự án vay vốn của ngân hàng Dự án vayvốn của ngân hàng có thể thuộc nhiều nghành nghể lĩnh vực khác nhau nhưlĩnh vực xuất nhập khẩu, xây dựng, dầu mỏ, bưu chính viễn thông…
Đối với dự án vay vốn SXKD XNK đây là dự án xin vay vốn củangân hàng để tiến hành hoạt động SXKD XNK Doanh nghiệp XNK vayvốn của ngân hàng để:
- Nhập khẩu máy móc thiết bị, dây chuyền sản xuất
- Thu mua, chế biến, sản xuất hàng xuất khẩu
- Đáp ứng nhu cầu về vốn lưu động ròng trong sản xuất
Trang 3Dự án vay vốn SXKD XNK có thể là dự án vay vốn ngắn hạn nếuthời hạn sử dụng tiền vay dưới 12 tháng và chủ yếu để bù đắp sự thiếu hụtvốn lưu động và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của doanh nghiệp, hoặc là
dự án vay vốn dài hạn nếu thời hạn sử dụng vay vốn trên 12 tháng và tiềnvay chủ yếu để thực hiện mua sắm tài sản cố định, xây dựng cơ sở hạtầng…
Các dự án vay vốn SXKD XNK ngắn hạn ngân hàng chỉ thẩm địnhđánh giá về tính khả thi và mức lợi nhuận đơn thuần Các dự án vay vốnSXKD XNK trung và dài hạn chứa đựng nhiều rủi ro hơn đòi hỏi phải có
sự thẩm định đánh giá nhiều mặt với những đặc trưng riêng có của nó Vìvây, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả chỉ đề cập đến chất lượngthẩm định tài chính đối với các dự án vay vốn SXKD XNK trung và dàihạn
1.1.2.Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với các dự án vay vốn SXKD XNK
Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với các dự án vay vốn SXKDXNK được thể hiện qua các mặt sau:
Thứ nhất, giống như các nguồn tài trợ khác tín dụng ngân hàng làmột nguồn vốn quan trọng đối với các doanh nghiệp XNK để thu mua dựtrữ, sản xuất, tiêu thụ hàng hoá, nhập khẩu, mua sắm máy móc thiết bị…khi dự án vay vốn SXKD XNK đã đi vào hoạt động
Thứ hai, tín dụng ngân hàng góp phần năng cao hiệu quả hoạt độngcủa các dự án vay vốn SXKD XNK trên thị trường
Kinh doanh có hiệu quả là yêu cầu của hạch toán kinh tế đồng thờicùng là một trong những điều kiện cung cấp tín dụng của ngân hàng Do
đó, tín dụng ngân hàng thúc đẩy các doanh nghiệp quan tâm hơn đến hiệuquả kinh doanh, phát triển được quy mô sản xuất, tăng năng suất lao động,
hạ giá thành sản phẩm từ đó nâng cao mức doanh lợi của dự án Bên cạnh
Trang 4đó, với khả năng linh hoạt về thời hạn và lãi suất của tín dụng ngân hàng sẽkhuyến khích sự chủ động và sáng tạo của các doanh nghiệp trong việc sửdụng vốn sao cho phù hợp với nhu cầu về vốn trong mỗi thời kỳ khác nhaucủa dự án
Thứ ba, xuất phát từ tính rủi ro trong sản xuất kinh doanh XNK cao
và do việc thiếu hiểu biết lẫn nhau giữa người mua và người bán của ngânhàng sẽ là một đảm bảo cho cả hai bên, nhà xuất khẩu sẽ hạn chế đượcnhững rủi ro không thanh toán khi ngân hàng đứng ra đảm bảo cung cấp tíndụng cho nhà nhập khẩu thực hiện được những nhập khẩu quan trọng trongkhi khả năng tài chính của họ chưa đáp ứng được
Thứ tư, ngân hàng là một đầu mối tiếp nhận các nguồn tài trợ củanước ngoài cho các dự án SXKD XNK Bởi vì hiện nay phần lớn cácnguồn tài trợ của các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế cho một quốc gia nào
đó được thực hiện qua các ngân hàng nước sở tại
Thứ năm, đối với một nước đang phát triển như Việt Nam hiện nay,tín dụng ngân hàng là không thể thiếu với việc huy động hết các nguồn lựcđẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá Đặc biệt là đối với các dự ánXNK lớn cần nhập khẩu thiết bị hiện đại, tín dụng ngân hàng thường chiếm
70 - 80% tổng mức vốn đầu tư
Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với hoạt động tài trợ dự án vayvốn SXKD XNK càng có ý nghĩa hơn khi ngân hàng thực hiện các chínhsách của Nhà nước, trong đó có chính sách hướng về xuất khẩu và thay thếnhập khẩu Ngân hàng sẽ cung cấp cho các nhà xuất khẩu những khoản tíndụng lớn với lãi suất ưu đãi mà nhờ đó họ có thể giải quyết vấn đề thiếuvốn đầu tư của dự án SXKD XNK
1.1.3.Rủi ro trong tín dụng tài trợ cho các dự án SXKD XNK
Rủi ro trong tín dụng là khả năng xảy ra những tổn thất mà ngânhàng phải chịu do khách hàng vay trả không đúng hạn, không trả hoặc trảkhông đầy đủ vốn và lãi Khi thực hiện hoạt động tài trợ cụ thể, ngân hàng
Trang 5cố gắng phân tích các yếu tố của người vay sao cho độ an toàn là cao nhất.
Và nhìn chung ngân hàng chỉ quyết định cho vay khi thấy rằng rủi ro tíndụng là không xảy ra Tuy nhiên, rất khó để một nhà kinh doanh ngân hàng
có thể dự đoán các vấn đề xảy ra Khả năng hoàn trả tiền của khách hàng cóthể thay đổi do nhiều nguyên nhân Hơn nữa, nhiều cán bộ ngân hàngkhông có khả năng phân tích tín dụng thích đáng Do vậy, trên quan điểmquản lý toàn bộ ngân hàng, rủi ro tín dụng là không thể tránh khỏi, là kháchquan
Đối với tín dụng tài trợ cho các dự án SXKD XNK, rủi ro tín dụngxảy ra là rất đa dạng và khó quản lý Bởi vì khác với hoạt động tín dụngthông thường, hoạt động tín dụng tài trợ dự án SXKD XNK chịu tác độngcủa nhiều yếu tố ngẫu nhiên, bất ngờ khó nắm bắt như: tình hình kinh tế, sựthay đổi về chính sách ngoại thương, thuế quan của các quốc gia, các cúsốc về chính trị, xã hội các ảnh hưởng về thiên tai, chiến tranh tác động rấtlớn đến các quan hệ kinh tế đối ngoại, ảnh hưởng trực tiếp đến tâm lý, nhucầu cũng như nguồn cung cấp các mặt hàng nhập khẩu Bên cạnh đó, theo
xu hướng toàn cầu hóa và quan hệ thương mại quốc tế ngày càng được mởrộng thì hoạt động tín dụng tài trợ XNK cũng ngày càng phát triển với quy
mô tăng dần Điều này, một phần phát huy lợi thế của quốc gia trong quan
hệ kinh tế đối ngoại với các quốc gia khác, một phần đòi hỏi vai trò ngàycàng cao của ngân hàng trong việc hỗ trợ cho các doanh nghiệp hoạt độngXNK và do vậy rủi ro đối với tín dụng tài trợ dự án vay vốn SXKD XNKcủa ngân hàng cũng ngày càng lớn hơn
Một trong những nguyên nhân quan trọng gây ra rủi ro tín dụng là dothông tin tín dụng không đầy đủ, khi một bên không nắm vững khả năng tàichính, uy tín khả năng thanh toán của đối tác, không am hiểu không kiểmtra được các thông số kỹ thuật và hiệu quả của dự án mà mình tài trợ.Trong tín dụng tài trợ XNK, nguyên nhân gây rủi ro này diễn ra khá thườngxuyên, bởi vì các ngân hàng rất khó nắm bắt được đầy đủ và chính xác các
Trang 6thông tin liên quan đến đối tác để có thể tiến hành thẩm định tín dụng đảmbảo chất lượng Do đó, khả năng xảy ra rủi ra đã xảy ra thì tổn thất làkhông thể tránh khỏi đối với doanh nghiệp cũng như ngân hàng Mặc dù,
về nguyên tắc giữa ngân hàng và đơn vị được tài trợ luôn có những điềukhoản quy định rõ ràng quyền hạn của ngân hàng cũng như trách nhiệmcủa doanh nghiệp về việc sử dụng vốn đúng mục đích, đảm bảo hiệu quảnhằm tăng khả năng trả nợ của doanh nghiệp Đồng thời, đơn vị nhận tàitrợ cũng thường được yêu cầu về tài sản cầm cô, thế chấp cho khoản vay.Tuy nhiên, những tài sản thế chấp này lại chính là các lô hàng XNK đó.Hoặc ngay cả khi hợp đồng XNK là hoàn hảo thì rủi ro vẫn có thể xảy ra do
sự vi phạm các điều khoản trong hợp đồng tín dụng, hoặc do quá trình thẩmđịnh tín dụng của cán bộ ngân hàng còn những nhận định thiếu chính xác
Ngoài ra, khi tiến hành tài trợ cho các dự án SXKD XNK, do đặcđiểm của các dự án là nhu cầu vay vốn lớn, có thời hạn dài, môi trườngtriển khai dự án thường xuyên thay đổi, chứa đựng nhiều yếu tố bất địnhnên rủi ro cho vay dự án là rất lớn và nguy cơ xảy ra cao
Nhìn chung, đối với một ngân hàng, việc tài trợ cho các dự án SXKDXNK thường hứa hẹn đem lại một khoản lợi nhuận cao trong tương lai,nhưng kèm theo đó xác suất xảy ra rủi ro gây tổn thất lớn cũng rất cao Vìvậy, đòi hỏi ngân hàng phải có những biện pháp phòng ngừa cụ thể, đặcbiệt cần chú trọng hơn đến chất lượng thẩm định các dự án vay vốn SXKDXNK nói chung và chất lượng thẩm định tài chính dự án vay vốn SXKDXNK nói riêng nhằm hạn chế tối đa rủi ro và thiệt hại có thể xảy ra
Trang 71.2.Thẩm định tài chính dự án vay vốn sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu của ngân hàng thương mại
1.2.1.Sự cần thiết thẩm định tài chính dự án vay vốn SXKD XNK của NHTM
Thẩm định tài chính dự án là rà soát, đánh giá một cách khoa học vàtoàn diện mọi khía cạnh tài chính của dự án trên giác độ của nhà đầu tư:doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế khác, các cá nhân Đối với dự án vay vốnSXKD XNK của NHTM, thẩm định tài chính dự án được coi là quá trình ràsoát, đánh giá lại, xác định tính hợp lý hay chính xác của những thông tintài chính mà khách hàng cung cấp trong dự án đệ trình lên ngân hàng
Để đưa ra quyết định chấp nhận hay từ chối cho vay dự án vay vốnSXKD XNK thì việc tiến hành thẩm định dự án nói chung và thẩm định tàichính nói riêng là thực sự cẩn thiết Điều này xuất phát từ những đặc trưngriêng có của các dự án vay vốn SXKD XNK và xuất phát từ vai trò quantrọng của thẩm định tài chính dự án trong hoạt đông cho vay của ngânhàng
Nói chung, các dự án vay vốn SXKD XNK thuờng chịu tác động củarất nhiều yếu tố về kinh tế, chính trị, xã hội trong và ngoài nước, do vậy rấtkhó cho ngân hàng trong việc thu thập và kiểm tra tính chính xác củanhững thông tin được khách hàng cung cấp Đồng thời các dự án vay vốnSXKD XNK cũng mang những đặc trưng của dự án nói chung như là nhucầu vay vốn lớn, thời gian sử dụng vốn vay dài, thường được gây dựng theohướng có lợi cho khách hàng Do vậy, các dự án vay vốn SXKD XNKthường chứa đựng rất nhiều rủi ro và khi rủi ro xảy ra thường gây tổn thấtnghiêm trọng đòi hỏi ngân hàng phải quan tâm, xem xét kỹ lưỡng truớc khiquyết định cho vay
Trang 8Xét về vai trò của thẩm định tài chính dự án, thẩm định tài chính đốivới ngân hàng có ý nghĩa vô cùng quan trọng, thể hiện trên những khíacạnh sau:
*Ra các quyết định đầu tư đúng đắn, có cơ sở đảm bảo hiệu quả củavốn đầu tư
*Đánh giá tính khả thi, hiệu quả tài chính, khả năng trả nợ vốn,những rủi ro tiềm tàng của dự án
*Xác định các điều kiện của món vay như: xác định giá trị khoản vaycăn cứ vào mức độ rủi ro của dự án, thời hạn cho vay, xác định thời hạnnợ
*Tạo ra căn cứ để kiểm tra việc sử dụng vốn đúng mục đích, đốitượng và tiết kiệm vốn trong quá trình thực hiện
*Góp ý, tư vấn cho chủ đầu tư để thực hiện đầu tư có hiệu quả nhất.Ngược lại, thẩm định tài chính dự án vay vốn SXKD XNK nếukhông được thực hiện tốt hoặc không được quan tâm đầy đủ sẽ ảnh hưởngđến tính đúng đắn của quyết định chấp nhận hay từ chối cho vay dự án, từ
đó có thể làm mất đi những cơ hội nhận được một khoản thu nhập trongtưong lai của ngân hàng từ các dự án đầu tư có hiệu quả nhưng kết quảthẩm định bị sai lệch hoặc có thể gây những tổn thất cho ngân hàng nhưmất vốn, kéo dài thời hạn thu hồi vốn ảnh hưởng đến kế hoạch nguồn vốn,gây mất uy tín, giảm tính cạnh tranh trong hoạt động của ngân hàng
Như vậy, thẩm định tài chính dự án vay vốn SXKD XNK là thực sựcần thiết, là quan trọng và có ý nghĩa quyết định nhất trong quá trình thẩmđịnh dự án vay vốn SXKD XNK để cán bộ tín dụng có thể đưa ra quyếtđịnh có lợi nhất cho ngân hàng
Trang 91.2.2.Nội dung thẩm định tài chính dự án vay vốn SXKD XNK của NHTM
Thẩm định thẩm định tài chính dự án vay vốn SXKD XNK bao gồmnhiều nội dung liên quan chặt chẽ với nhau nội dung chủ yếu cần được chútrọng là:
1.2.2.1 Thẩm định tổng vốn đầu tư của dự án vay vốn SXKD XNK
Trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư, chủ dự án phải ước tính số vốn đầu
tư cần thiết để xây dựng mới, mở rộng, cải tạo cơ sở hiện có nhằm đạt đượcmục tiêu của dự án Số vốn đầu tư dự kiến này chính là tổng mức vốn đầutư
Ngân hàng cần tiến hành thẩm định tổng mức vốn đầu tư của dự ánvay vốn SXKD XNK mà khách hàng đệ trình để có thể xác định mức chovay hợp lý Vì vậy việc thẩm định chỉ tiêu này vô cùng quan trọng Nó giúpngân hàng ra quyết định tài trợ sao cho vốn đầu tư dự tính không quá thấpkhíến dự án có thể bị đổ vỡ nhưng cũng không dự tính quá cao dẫn đếnphản ánh sai hiệu quả tài chính của dự án
Tổng mức vốn đầu tư bao gồm những chi phí dự tính cho việc chuẩn
bị đầu tư, chi phí thực hiện đầu tư xây dựng, chi phí thực hiện sản xuất, lãixuất ngân hàng của chủ đầu tư trong thời gian thực hiện đầu tư, vốn lưuđộng ban đầu cho sản xuất đối với dự án sản xuất, chi phí bảo hiểm, chi phí
dự phòng và là giới hạn chi phí tối đa của dự án được xác định trong quyếtđịnh dt Có thể chia tổng mức vốn đầu tư thành hai loại: vốn đầu tư vào tàisản cố định và vốn đầu tư vào tài sản lưu động (vốn lưu động ban đầu)
- Vốn đầu tư vào tài sản cố định bao gồm chi phí chuẩn bị, chi phíxây lắp và mua sắm thiết bị
- Vốn đầu tư vào tài sản lưu động (vốn lưu động ban đầu) gồm cácchi phí để tạo ra các tài sản lưu động ban đầu (cho một chu kỳ sản xuất xây
Trang 10dựng đầu tiên) nhằm đảm bảo cho dự án có thể đi vào hoạt động bìnhthường theo các điều kiện kinh tế, kỹ thuật đã dự tính.
Tổng mức vốn đầu tư dự kiến của dự án cần được xem xét theo từnggiai đoạn của quá trình thực hiện dự án Đặc biệt đối với ngân hàng, việcxác định tiến độ giải ngân phù hợp với từng giai đoạn của dự án sẽ giúpcho quá trình điều hành vốn của ngân hàng được thuận lợi trong khâu lập
kế hoạch nguồn vốn và sử dụng vốn, đồng thời còn giúp ngân hàng theodõi tốt hơn các hoạt động của đầu tư, từ đó đánh giá được mức độ hiệu quảcủa những đồng vốn bỏ ra
Ngoài ra, trong việc thẩm định, ngân hàng cần phải quan tâm đến cơcấu vốn đầu tư bằng ngoại tệ, nội tệ để từ đó xác định nguồn ngoại tệ nào
sẽ đảm bảo cho dự án được thực hiện
1.2.2.2 Thẩm định nguồn tài trợ của dự án
Dự án có thể được tài trợ bằng nhiều nguồn khác nhau, ngân hàngcần thẩm định khả năng đảm bảo và tính khả thi của từng nguồn đó để làmcăn cứ đưa ra quyết định tài trợ cho dự án hay không và nếu tài trợ thì mứccho vay là bao nhiêu Các nguồn tài trợ cho dự án có thể bao gồm:
-Nguồn vốn tự có của doanh nghiệp: đây là nguồn có được từ pháthành cổ phiếu, thặng dư vốn, lợi nhuận để lại …mà khách hàng có thể dùng
để tài trợ cho dự án Ngân hàng cần phải phân tích, đánh giá tình hình tàichính, tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, từ đó cânđối xác định nguồn vốn tự có tham gia của doanh nghiệp Tuy nhiên, trongthực tế hiện nay việc xác định phần vốn tự có của doanh nghiệp trong dự án
là rất khó khăn Nhiều doanh nghiệp lấy tài sản đang sử dụng để làm vốn tự
có nên khó có thể xác định giá trị phần tài sản này góp vào dự án
-Nguồn vốn vay tổ chức tín dụng khác: Nếu khách hàng sử dụng cácnguồn vốn vay khác thì ngân hàng cần kiểm tra độ tin cậy về khả năng chovay, số lượng, điều kiện và thời hạn cho vay của các nguồn vay đó
Trang 11-Nguồn tài trợ khác: Ngoài các nguồn tài trợ trên doanh nghiệp còn
có thể được tài trợ bằng các nguồn như vay nợ của viện trợ của nước ngoài,đầu tư nước ngoài, vốn ngân sách cấp…để triển khai dự án và doanhnghiệp chỉ được dùng số vốn này để thực hiện dự án Khi đó, ngân hàngcần xem xét các bảo đảm của cấp có thẩm quyền về việc tiếp nhận cácnguồn tài trợ này
Sau khi xem xét, đánh giá các nguồn vốn khả thi với nhu cầu vốn dự
án, ngân hàng xác định được số vốn mà doanh nghiệp cần tài trợ và quyếtđịnh mức tài trợ hợp lý cũng như kế hoạch tài trợ cụ thể về thời hạn, lãisuất, tiến độ giải ngân Theo quy định hiện hành thì mức vốn tự có tốithiểu doanh nghiệp cần phải có tham gia vào dự án là 15% Các ngân hàngthường coi tỷ lệ vốn tự có tham gia dự án này như môt yếu tố thể hiện tính
an toàn của đầu tư dự án
1.2.2.3.Thẩm định doanh thu, chi phí, lợi nhuận và xác định dòng tiền hàng năm của dự án
Thẩm định doanh thu, chi phí, lợi nhuận và xác định dòng tiền hàngnăm của dự án là một nội dung không thể thiếu trong thẩm định tài chính
dự án Các ngân hàng thương mại tài trợ vốn cho dự án cần đặc biệt quantâm dến doanh thu, chi phí sản xuất và dòng tiền hàng năm để có thể đánhgiá được khả năng trả nợ của dự án, đồng thời xác định được thời hạn trả
nợ, hình thức tín dụng thích hợp nhất cho khoản tài trợ
*Doanh thu của dự án: Được dự tính cho từng năm hoạt động và
bao gồm: Doanh thu từ sản phẩm chính, doanh thu từ sản phẩm phụ, doanhthu từ dịch vụ cung cấp cho bên ngoài
Trong quá trình thẩm định tài chính dự án, để đảm bảo tính hợp lýcủa doanh thu, cần kiểm tra hai yếu tố: giá bán và sản lượng sản xuất hàngnăm Giá bán phải dựa trên cơ sở chi phí thực tế, phù hợp với giá của cácsản phẩm cùng loại trên thị trường Sản lượng sản xuất phải căn cứ chủ yếu
Trang 12vào việc phân tích, dự báo cung -cầu thị trường sản phẩm trong tương lai
và việc xác định công suất thực tế của máy móc thiết bị
*Chi phí của dự án: Được dự tính cho từng năm trong suốt cả đời
dự án Các chi phí này cũng được xác định dựa trên công suất thực tế của
dự án Căn cứ vào kế hoạch sản xuất kinh doanh hàng năm, kế hoạch khấuhao, kế hoạch trả nợ, chi phí hoạt động bao gồm chi phí cố định và chi phíbiến đổi Trong đó:
- Chi phi cố định gồm có: Chi phí bảo dưỡng máy móc thiết bị, nhàxưởng, chi phí khấu hao (khấu hao máy móc thiết bị, dụng cụ, nhà xưởng,phương tiện vận tải…), chi phí quản lý chung, chi phí tiêu thụ sản phẩm, lãivay…
- Chi phí biến đổi gồm có: Nguyên nhiên vật liệu, năng lượng, lương
và bảo hiểm của công nhân…
Chi phí cố định được tính theo phần trăm doanh thu còn chi phí biếnđổi được tính theo sản lượng sản xuất và định mức tiêu hao, do đó cần phảikiểm tra định mức tiêu hao qua tình hình thực tế của các dự án cùng loạihoặc tiêu chuẩn của ngành
*Thẩm định lợi nhuận hàng năm: Trên cơ sở số liệu dự tính về
doanh thu và chi phí hàng năm có thể tiến hành dự tính lợi nhuận hàng nămcủa dự án theo công thức sau đây:
Lợinhuậntrước
thuế hàng năm =
Doanhthuhàng năm -
Chi phíhàngnăm +
Lợi nhuận trước thuếkhác hàngnăm
*Thẩm định dòng tiền của dự án
Dòng tiền của dự án được hiểu là các khoản chi và thu được kỳ vọngxuất hiện tại các mốc thời gian khác nhau trong suốt chu kỳ của dự án.Ngân hàng cần xác định dòng tiền của dự án phát sinh tại các thời điểm
Trang 13khác nhau để làm cơ sở đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng, xây dựng
kế hoạch trả nợ hợp lý và tính toán các chỉ tiêu tài chính của dự án
Việc thẩm định dòng tiền cần dựa trên các nguyên tắc cơ bản sau:Thứ nhất, dòng tiền của dự án phải là dòng tiền phù hợp Dòng tiềnphù hợp là một sự thay đổi trong tổng dòng tiền trong tương lai của doanhnghiệp mà được coi là hệ quả trực tiếp của việc thực hiện dự án Do đó,dòng tiền chênh lệch trong đánh giá dự án là bất cứ sự thay đổi nào trongdòng tiền của doanh nghiệp trong tương lai mà được coi là hậu quả trựctiếp của việc thực hiện dự án Vì vậy, để có dòng tiền chênh lệch phù hợpchúng ta cần phải tính toán những chi phí cần thiết và loại bỏ các dòng tàichính mà sự xuất hiện của nó không liên quan đến việc thực hiện haykhông thực hiện dự án
Thứ hai, cần loại bỏ chi phí chìm ra khỏi phân tích Chi phí chìmđược coi là chi phí xuất hiện từ trước mà doanh nghiệp phải bỏ ra khôngthể bù đắp cho dù dự án có được thực hiện hay không, chẳng hạn như chiphí thuê tư vấn, thuê người thẩm định dự án đầu tư…Do đó khi tiến hànhthẩm định dòng tiền dự án ta cần loại bỏ chi phí này
Thứ ba, chi phí cơ hội cần được đưa vào phân tích: Chi phí cơ hội làchi phí của cơ hội sinh lợi tốt nhất bị bỏ qua khi thực hiện dự án Chi phínày cần được đưa vào dòng tiền của dự án vì đó là dòng tiền mà doanhnghiệp phải từ bỏ và là hệ quả khi trực tiếp của việc thực hiện dự án
Thứ tư, tác động phụ: trong nhiều trường hợp, việc thực hiện dự án
có thể gây ra những tác động phụ bao gồm cả tốt lẫn xấu làm thay đổi dòngtiền của doanh nghiệp Tác động này cần được tính vào dòng tiền của dựán
Thứ năm, đầu tư vào tài sản lưu động ròng Tài sản lưu động ròngđược tính bằng tổng tài sản trừ đi nợ ngắn hạn Các dự án bên cạnh việcđầu tư vào tài sản cố định cũng cần đầu tư vào vốn lưu động ròng Phầnvốn này được tài trợ trong những năm đầu và sẽ thu hồi khi dự án kết thúc
Trang 14Do đó, sự thay đổi vốn lưu động ròng cũng cần được đưa vào dòng tiền của
dự án
Thứ sáu, phân bổ chi phí quản trị chung Chi phí quẩn trị chung lànhững chi phí hoạt động không liên quan trực tiếp tới bất kì sản phẩm haydịch vụ cụ thể nào như chi phí quản lý, hành chính, văn phòng…Sự chênhlệch của những chi phí này trước và sau thời điểm có dự án mới nên đượctính vào chi phí dự án
Một cách tổng quát, dòng tiền của dự án bao gồm: Dòng chi phí đầu
tư, dòng tiền từ hoạt động kinh doanh, dòng tiền thu hồi sau đầu tư
Dòng chi phí đầu tư = Chi phí mua TSCĐ + Chi phí lắp đặt, vậnchuyển, vận hành máy móc thiết bị…+ Chi phí cơ hội (nếu có) + Đầu tưvào vốn lưu động ròng
Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh = Lợi nhuận ròng + khấu hao,(hoặc) = Doanh thu – Chi phí - Thuế, (hoặc) = (Doanh thu – Chi phí không
kể khấu hao) * (1-T) + Khấu hao*T
Dòng tiền thu hồi sau đầu tư = Thu hồi vốn lưu động ròng + Thu hồi
từ thanh lý tài sản cố định
Thu hồi thanh lý TSCĐ=Thu thanh lý – (Thu thanh lý – GTCL)*TTuy nhiên, việc dự tính dòng tiền hàng năm của dự án có thể làkhông giống nhau tuỳ thuộc vào quan điểm của người thẩm định Điềuquan trọng là khi tiến hành thẩm định cần đảm bảo được tính nhất quángiữa xác định dòng tiền hoạt động hàng năm và lãi suất chiết khấu của dựán
1.2.2.5 Thẩm định lãi suất chiết khấu
Một yếu tố rất quan trọng cần được thẩm định trong quá trình thẩmđịnh tài chính dự án đó là lãi suất chiết khấu của dự án Đối với chủ đầu tư,
họ thường xác định lãi suất chiết khấu nhỏ dẫn đến NPV lớn dể làm tănghiệu quả tài chính của dự án, vì vậy ngân hàng cần thẩm định lại lãi suất
Trang 15chiết khấu để làm cơ sở tính toán chính xác chỉ tiêu hiệu quả tài chính của
dự án
Lãi suất chiết khấu là lãi suất sinh lời cần thiết mà nhà đầu tư yêucầu đối với một dự án, là cơ sở để chiết khấu các dòng tiền trong việc xácđịnh giá trị hiện tại ròng của dự án
Trong trường hợp dự án được tài trợ hỗn hợp bằng vốn tự có củadoanh nghiệp và vốn vay ngân hàng, lãi suất chiết khấu hợp lý của dự án làchi phí trung bình của vốn – WACC
WACC = Wd x Kd + Wc x KsTrong đó : Wd là tỷ trọng của vốn vay trong tổng mức vốn đầu tư
Wc là tỷ trọng của vốn tự có của doanh nghiệp
Kd là chi phí của nợ vay ngân hàng
Ks là chi phí vốn tự có
1.2.2.6.Thẩm định các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tài chính của dự án
Trên cơ sở thẩm định dòng tiền hàng năm và thẩm định lãi suất chiếtkhấu của dự án, ngân hàng cần tiếp tục thẩm định các chỉ tiêu hiệu quả tàichính của dự án để có thể đánh giá tính chính xác hợp lý của các chỉ tiêu đãđược khách hàng tính toán, đồng thời lựa chọn những chỉ tiêu tốt nhất choviệc đánh giá và ra quyết định của minh
Các chỉ tiêu thường được các ngân hàng lựa chọn và sử dụng đểđánh giá hiệu quả tài chính của dự án là:
*Giá trị hiện tại ròng ( NPV )
NPV của dự án là chênh lệch giữa tổng giá trị hiện tại của các dòngtiền hàng năm dự tính mang lại trong thời gian kinh tế của dự án với vốnđầu tư bỏ ra được hiện tại hóa ở năm 0
Thông qua chỉ tiêu này ngân hàng có thể dự tính được quy mô tiềnlãi ròng thu được của cả đời dự án đã tính đến giá trị thời gian của tiền Nếulãi suất chiết khấu hợp lý, chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ hiệu quả tài chínhcủa dự án càng cao, khả năng trả nợ của dự án càng cao Tuy nhiên kết quả
Trang 16tính toán chỉ tiêu này phụ thuộc nhiều vào lãi suất chiết khấu được sử dụng.Hơn nữa, điều ngân hàng cần quan tâm hơn cả là việc đảm bảo thu hồi nợvay đúng thời hạn chứ không phải là dòng tiền ròng suốt cả đời dự án nhưchủ đầu tư quan tâm.
Vì vậy chỉ tiêu này chưa phải là yếu tố quyết định đối với việc tài trợcho dự án Nhiều trường hợp, dự án có NPV không cao nhưng ngân hàngvẫn cho vay khi xét thấy dự án sẽ trả nợ đầy đủ
*Tỷ lệ hoàn vốn nội bộ (IRR)
Tỷ lệ hoàn vốn nội bộ của dự án là tỷ lệ lãi suất chiết khấu mà tại đógiá trị hiện tại ròng của dự án bằng 0
Từ tỷ lệ này ngân hàng có thể dự tính mức lãi suất tối đa mà dự án cóthể còn hiệu quả hay mức lãi suất cho vay cao nhất mà dự án có khả năngthanh toán Ngân hàng có thể so sánh IRR với lãi suất chiết khấu, lãi suấtcho vay hoặc tỷ suất sinh lời trong hoạt động kinh doanh hàng năm củakhách hàng để có những đánh giá về dự án
Tuy nhiên, chỉ tiêu này chỉ mang tính tương đối, nó chỉ phản ánh tỷ
lệ hoàn vốn nội bộ của dự án là bao nhiêu chứ không cung cấp quy mô của
số lỗ hay lãi của dự án bằng tiền Do vậy, trong quá trình thẩm định, ngânhàng cần kết hợp chỉ tiêu này với các chỉ tiêu tài chính khác để có đánh giáchính xác nhất
*Tỷ lệ hoàn vốn nội bộ có điều chỉnh ( MIRR )
Tỷ lệ hoàn vốn nội bộ có điều chỉnh là tỷ lệ chiết khấu mà tại đó giátrị hiện tại của chi phí dự án bằng với giá trị hiện tại của tổng giá trị tươnglai của những luồng tiền vào tại chi phí của vốn
Chỉ tiêu này khắc phục nhược điểm của chỉ tiêu IRR khi giả định tỷ
lệ lãi suất tái đầu tư nhằm đưa lại kết quả chính xác hơn Với ngân hàngchỉ tiêu này có vai trò tương tụ như chỉ tiêu IRR
*Thời gian hoàn vốn đầu tư ( PP )
Trang 17Thời gian hoàn vốn đầu tư của dự án là thời gian để chủ đầu tư thuhồi được số vốn đã đầu tư vào dự án.
PP phản ánh thời gian thu hồi vốn đầu tư của dự án, nó cho phépngân hàng đánh giá dự án có thể hoàn vốn đầu tư trong bao lâu để đánh giámức độ rủi ro Nếu dự án có thời gian hoàn vốn càng dài thì khả năng xảy
ra rủi ro càng lớn; do vậy, ngân hàng phải cân nhắc kỹ lưỡng khi xem xétcho vay dự án
Đối với dự án có các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tài chính khác thấpnhưng thời gian thu hồi vốn đầu tư ngắn được ngân hàng ưu tiên hơn các
dự án có thời gian thu hồi vốn đầu tư dài dù các chi tiêu đánh giá hiệu quảtài chính khác tốt hơn
*Chỉ số doanh lợi (PI)
Chỉ số doanh lợi (PI) được tính bằng tổng giá trị hiện tại của cácdòng tiền trong tương lai chia cho vốn đầu tư bỏ ra ban đầu PI cho biếtmột đồng vốn đầu tư bỏ ra sẽ tạo ra bao nhiêu đồng thu nhập Thu nhập nàychưa tính đến chi phí vốn đầu tư đã bỏ ra
Chỉ tiêu này được sử dụng như là chỉ tiêu xếp hàng dự án khi bị giớihạn về nguồn vốn Chủ đầu thường thường tính toán chỉ tiêu này của dự án
và so sánh với các dự án khác; từ đó, lựa chọn dự án có khả năng tạo lợinhuận tối đa cho doanh nghiệp nhất là khi họ bị giới hạn về nguồn lực đầu
tư Tuy nhiên ngân hàng thường ít quan tâm đến chỉ tiêu này vì với tư cáchnhà tài trợ, ngân hàng không sợ thiếu vốn cho vay mà chỉ quan tâm đếnviệc đồng vốn của mình có đảm bảo thu hồi hay không
Một số dự án có vốn đầu tư ban đầu lớn nên dù thu nhập của dự áncao thì chỉ số PI vẫn thấp so với các dự án có thu nhập ít nhưng vốn đầu tưban đầu nhỏ Trong trường hợp đó, nếu mức độ rủi ro là như nhau, ngânhàng sẽ lựa chọn tài trợ dự án lớn vì sẽ thu được nhiều lợi nhuận hơn
Chỉ tiêu PI khắc phục được nhược điểm của những dự án có thời hạnkhác nhau hay vốn đầu tư khác nhau, tuy nhiên vì nó là số tương đối nên
Trang 18không phản ánh được quy mô gia tăng giá trị cho chủ đầu tư nên khi tiếnhành thẩm định ngân hàng cần kết hợp chỉ tiêu này với các chỉ tiêu khác.
*Chỉ tiêu cân đối lợi ích-chi phí (B/C )
Chỉ tiêu này được tính bằng tổng lợi ích thu được chia cho chi phí bỏ
ra tính về thời điểm hiện tại hoặc tương lai
Chỉ tiêu này chỉ mang tính bổ trợ trong viêc đánh giá hiệu quả tàichính của dự án Ngân hàng thường sử dụng kết hợp chỉ tiêu này với một
số chỉ tiêu khác để có thể đánh giá tổng quan hơn về hiệu quả tài chính của
dự án
*Chỉ tiêu lợi nhuận kế toán bình quân (APP)
Chỉ tiêu này là lợi nhuận kế toán thuần túy bình quân trong các nămcủa dự án, thường được dùng kết hợp với chỉ tiêu NPV
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng tạo ra lợi nhuận về mặt kế toán trongcác năm thực hiện dự án mà không tính đến giá trị thời gian của tiền nênkhông phản ánh chính xác khả năng sinh lời của dự án
*Điểm hòa vốn (BP)
Điểm hòa vốn là mức sản lượng mà tại đó nhà đầu tư thu hồi đủ vốnđầu tư Chỉ tiêu này giúp ngân hàng có cái nhìn trực quan hơn về khả nănghoàn vốn của dự án
1.2.2.7.Thẩm định về rủi ro của dự án
Các nhà đầu tư quan niệm rằng rủi ro của dự án xảy ra khi lợi tứcthực tế thấp hơn so với lợi tức dự kiến Có thể chia rủi ro của dự án thành
ba loại:
Rủi ro loại 1: Đây là rủi ro riêng của chính bản thân đự án, tức là rủi
ro của một tài sản khi nó là tài sản duy nhất của doanh nghiệp Rủi ro nàyđược đo bằng sự biến thiên của lãi suất dự kiến của dự án
Rủi ro loại 2: Rủi ro này thể hiện ở sự ảnh hưởng của dự án đối vớirủi ro của doanh nghiệp Rủi ro này được xác định dựa trên sự tác động của
dự án đối với sự biến thiên thu nhập của doanh nghiệp
Trang 19Rủi ro loại 3: Đây là rủi ro của dự án được đánh giá từ quan điểmcủa nhà đầu tư cổ phiếu Theo đó, rủi ro được coi là phần rủi ro của dự án
mà không thể loại bỏ bằng việc đa dạng hóa đầu tư Rủi ro này được đolường thông qua hệ số |3 của dự án
Các loại rủi ro của dự án vừa có tính độc lập tương đối vừa có mốiliên hệ chặt chẽ với nhau Để có những đánh giá về dự án, các nhà thẩmđịnh phải có phương pháp phân tích và đo lường những rủi ro này
Ngân hàng là người tài trợ cho dự án nên thường chỉ quan tâm đếnrủi ro loại 1 vì nó liên quan đến khả năng thu hồi nợ của ngân hàng Rủi ronày có thể khiến cho ngân hàng không thu hồi được vốn vay hay phải giahạn nợ khi dòng thu nhập của dự án thấp hơn mức dự kiến do nhữngnguyên nhân khách quan và chủ quan như biến động của tỷ giá, lạm phát,yếu tố quản lý, thiên tai, sự thay đổi của chính sách…:
Với rủi ro loại này, ngân hàng có thể áp dụng các phương pháp sau:
*Phân tích độ nhạy
Phân tích độ nhạy là xem xét sự thay đổi của các chỉ tiêu hiệu quả tàichính của dự án khi các yếu tố có liên quan đến chỉ tiêu đó thay đổi Cácyếu tố này bao gồm những yếu tố có ảnh hưởng và tác động đến dòng tiềncủa dự án Phân tích độ nhạy sẽ đánh giá được mức độ ảnh hưởng của cácyếu tố thông qua xem xét sự thay đổi các chỉ tiêu NPV, IRR
Trong phân tích độ nhạy người ta dự kiến một số tình huống thayđổi, những rủi ro trong tương lai làm cho giá nguyên vật liệu tăng, giá thuênhân công tăng, sản lượng giảm, doanh thu giảm…Các yếu tố này có thểđược xem xét một cách đơn lẻ hoặc xem xét sự tác động đồng thời củachúng tới các chỉ tiêu hiệu quả như: NPV, IRR…Từ đó, ngân hàng có thểđánh giá độ nhạy cảm của các chỉ tiêu này: nếu các chỉ tiêu này khi tính lạivẫn đạt yêu cầu thì dự án được coi là ổn định và được chấp nhận Ngược lại
dự án bị coi là có độ nhạy cảm, thiếu ổn định
*Phân tích tình huống
Trang 20Mặc dù, phân tích độ nhạy ở trên được dùng khá phổ biến đối vớicác nhà phân tích dự án tuy nhiên phương pháp này còn có những hạn chếnhư chưa dựa trên sự phân bố sác xuất nên khó có thể lượng hoá được cácchỉ tiêu hiệu quả tài chính trong trường hợp xấu nhất và tốt nhất so với cơ
sở Do đó trong thẩm định và phân tích rủi ro người ta còn sử dụng phươngpháp phân tích tình huống
Phân tích tình huống là kỹ thuật phân tích rủi ro kết hợp cả hai nhân
tố là tính đến xác suất xảy ra của các biến rủi ro và sự tác động của chínhbiến đó đối với dự án Tức là lập ra các tình huống tốt nhất và xấu nhất vàxác suất xảy ra Từ đó tính toán lại NPV hoặc IRR trong điều kiện tốt vàxấu sau đó so sánh với các giá trị làm chuẩn (giá trị cơ sở)
1.3.Chất lượng thẩm định tài chính dự án vay vốn sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu của ngân hàng thương mại
1.3.1 Khái niệm
Chất lượng thẩm định tài chính dự án vay vốn SXKD XNK được hiểu
là giá trị của việc thẩm định tài chính dự án, tức là việc thẩm định tài chính
dự án đó có ý nghĩa và ích lợi gì đối với những người quan tâm
Để có thể đưa ra một quyết định cho vay thì ngân hàng cần tiến hànhthẩm định tài chính dự án vay vốn SXKD XNK và để có thể có một quyếtđịnh cho vay đúng đắn thì thẩm định tài chính dự án phải đạt kết quả tốt,tức là phải đảm bảo chất lượng thẩm định Ngược lại, nếu chất lượng thẩmđịnh tài chính dự án vay vốn SXKD XNK không được đảm bảo thì có thểdẫn đến những quyết định sai lầm trong việc ra quyết định cho vay củangân hàng Chẳng hạn, ngân hàng có thể cho vay đối với những dự án córủi ro cao mà trong quá trình thẩm định tài chính dự án chưa đánh giá hếtđược, hoặc ngân hàng từ chối cho vay đối với những dự án hoạt động cóhiệu quả
Trang 21Chất lượng thẩm định tài chính dự án vay vốn SXKD XNK được phảnánh qua các chỉ tiêu thể hiện mức độ thoả mãn của cả ngân hàng và kháchhàng đối với kết quả thẩm định tài chính dự án Ngân hàng cần quan tâmđến các chỉ tiêu này để có thể tăng mức độ thoã mãn của khách hàng vàngân hàng, tức là nâng cao được chất lượng thẩm định tài chính dự án vayvốn SXKD XNK
1.3.2.Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư
Chất lượng thẩm định tài chính dự án vay vốn SXKD XNK được thểhiện thông qua nhiều chỉ tiêu khác nhau cả về mặt định tính và định lượng,trong đó các chỉ tiêu chủ yếu cần phải quan tâm là:
Một là, thời gian thẩm định.
Thời gian thẩm định càng ngắn càng tốt vì nó liên quan đến chi phí
cơ hội của dự án Khách hàng đến ngân hàng bao giờ cũng chờ đợi câu trảlời sớm nhất và đầy đủ nhất về quyết định cho vay hay không cho vay củangân hàng Tuy nhiên đối với ngân hàng để có thể đưa ra quyết định cầnphải có một khoảng thời gian nhất định cho quá trình thu thập thông tin,phân tích và đưa ra kết luận…Vì vậy, vấn đề đặt ra là ngân hàng cần tổchức công tác thẩm định một cách hợp lý nhất để có thể vừa rút ngắn đượcthời gian thẩm định tài chính dự án và vừa đảm bảo được quy trình thẩmđịnh
Hai là, chi phí thẩm định.
Chi phí thẩm định bao gồm tất cả những chi phí cần thiết mà ngânhàng phải chi trả cho việc tiến hành thẩm định tài chính dự án vay vốnSXKD XNK như chi phí thu thập, xác định lại các thông tin, công tác phícủa cán bộ đi thẩm định và các chi phí khác, kể cả chi phí cơ hội đối vớiviệc xem xét các khoản vay khác của ngân hàng
Ngân hàng khi tiến hành thẩm định tài chính dự án vay vốn SXKDXNK cần quan tâm tới chi phí thẩm định bởi vì khoản chi phí này thường
là không nhỏ, do các dự án vay vốn SXKD XNK thường liên quan đến
Trang 22nhiều mối quan hệ phức tạp cả trong nước và quốc tế nên cán bộ thẩm địnhrất khó và rất tốn kém cả về thời gian và tiền của để có thể nắm bắt và kiểmsoát được hoàn toàn các thông tin về khách hàng, đồng thời khoản chi phínày tác động trực tiếp đến lợi nhuận cau ngân hàng Điều này đòi hỏi ngânhàng phải có biện pháp tích cực hơn trong việc cắt giảm chi phí thẩm định,đảm bảo một tỷ lệ hợp lý giữa chi phí thẩm định và thu nhập của ngân hàng
từ các dự án
Ba là, chất lượng báo cáo thẩm định
Kết quả cuối cùng của quá trình thẩm định tài chính dự án vay vốnSXKD XNK được thể hiện toàn bộ trên báo cáo thẩm định Dựa trên bảnbáo cáo này, ngân hàng mới có thể đưa ra quyết định cho vay hoặc làm cơ
sở cho tái thẩm định Vì vậy, các báo cáo thẩm định cần phải đảm bảo chấtlượng, tức cần được trình bày khoa hoc, chính xác, khách quan và toàn diệncác kết quả thẩm định tài chính dự án về tổng vốn đầu tư, nguồn tài trợ,doanh thu – chi phí và dòng tiền hàng năm của dự án, các chỉ tiêu tài chính
Trang 23SXKD XNK cũng vậy, con người được coi là một nhân tố quyết định trựctiếp đến chất lượng thẩm định tài chính dự án
Con nguời ở đây là kể cả những người quản lý của ngân hàng và cán
bộ thẩm định Nếu những người quản lý nhận thức đúng ý nghĩa của thẩmđịnh tài chính dự án vay vốn SXKD XNK thì họ mới tạo điều kiện thuậnlợi cho cán bộ thẩm định Nếu cán bộ thẩm định có năng lực chuyên môntốt, thực hiện tốt quy trình thẩm định chung, đồng thời có những hiểu biết
cơ bản về lĩnh vực XNK, về luật và thông lệ quốc tế, về những diễn biếntrên thị trường trong nước và quốc tế, có trình độ cơ bản về ngoại ngữ, vềnghiệp vụ kinh doanh đối ngoại để có thể nắm bắt và kiểm soát tốt cácthông tin về khách hàng và về dự án thì kết quả thẩm định tài chính dự ánvay vốn SXKD XNK mới đáng được tin cậy Ngoài ra, đội ngũ cán bộthẩm định cũng cần có phẩm chất đạo đức và tính kỷ luật cao, để tránh chongân hàng gặp phải những rủi ro đáng tiếc trong quá trình thẩm định
*Trang thiết bị, công nghệ
Đây là nhân tố ảnh hưởng tới thời gian và độ chính xác của kết quảthẩm định tài chính dự án vay vốn SXKD XNK Với trang thiết bị hiện đại,các phần mềm truyền thông, phần mềm thanh toán quốc tế và các phầnmềm tin học được ứng dụng thì việc thu thập và xử lý các thông tin sẽ đượctiến hành một cách nhanh chóng và chính xác, chất lượng thẩm định tàichính dự án đầu tư sẽ được đảm bảo
*Thông tin: Thẩm định tài chính dự án được tiến hành trên cơ sởphân tích các thông tin trực tiếp và gián tiếp liên quan đến dự án Đó là cácthông tin về thị trường trong nước và quốc tế; thông tin về kỹ thuật, quyhoạch phát triển kinh tế của Nhà nước v.v…Nếu những thông tin nàykhông được thu nhập một cách chính xác và đầy đủ thì kết quả thẩm địnhtài chính dự án sẽ bị hạn chế, quyết định đầu tư sai
*Tổ chức công tác thẩm định tài chính dự án vay vốn SXKD XNK :
Do thẩm định tài chính dự án vay vốn SXKD XNK được tiến hành theo
Trang 24nhiều giai đoạn nên tổ chức công tác thẩm định có ảnh hưởng không nhỏtới thẩm định tài chính dự án vay vốn SXKD XNK Nếu công tác này được
tổ chức một cách khoa học, hợp lý trên cơ sở phân công trách nhiệm cụ thểcho từng cá nhân, có kiểm tra giám sát chặt chẽ, kết quả thẩm định tàichính dự án sẽ cao
*Phương pháp thẩm định
Việc lựa chọn phương pháp thẩm định phù hợp và hiệu quả rất quantrọng trong quá trình thẩm định tài chính dự án vay vốn SXKD XNK, domỗi phương pháp thẩm định được thể hiện thông qua các hệ thống chỉ tiêukhác nhau Mỗi chỉ tiêu đều có những ưu nhược điểm nhất định trong việcphản ánh các góc độ tài chính khác nhau của các dự án khác nhau Điềunày, đòi hỏi ngân hàng phải biết lựa chọn và kết hợp các chỉ tiêu một cáchhiệu quả nhất khi tiến hành thẩm định tài chính dự án vay vốn SXKDXNK
1.4.2.Các nhân tố khách quan
Đây là các nhân tố thuộc môi trường bên ngoài, nằm ngoài phạm vikiểm soát của ngân hàng Các nhân tố này có ảnh hưởng nhất định tới quátrình thẩm định tài chính dự án vay vốn SXKD XNK
*Khách hàng vay vốn
Khách hàng ở đây là các chủ đầu tư, chủ thể vay vốn ngân hàng chocác dự án SXKD XNK Chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư phụthuộc rất lớn vào những thông tin mà khách hàng cung cấp trong hồ sơ và
dự án vay vốn đệ trình lên ngân hàng Đặc biệt đối với các dự án SXKDXNK thì những thông tin ngân hàng thu thập được là có giới hạn và việcxác minh, kiểm tra lại các thông tin do khách hàng cung cấp gặp khá nhiềutrở ngại Do đó, tính xác thực, khách quan, trình độ lập dự án và cung cấpnhững thông tin liên quan có vai trò khá quan trọng, có thể gây tác độngtiêu cực hoặc tích cực tới chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư vayvốn SXKD XNK
Trang 25*Môi trường pháp lý, chính sách của Nhà nước
Kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, xuất nhập khẩu là loại hình đòi hỏikhắt khe sự hoàn thiện môi trường pháp lý Nếu môi trường pháp lý thểhiện được sự đồng bộ, nhất quán, sự tương quan tương đối với thông lệquốc tế thì mới có thể tạo điều kiện thuân lợi cho các ngân hàng khi thẩmđịnh các yếu tố pháp lý của dự án
*Môi trường kinh tế - xã hội
Môi trường kinh tế - xã hội cũng là một nhân tố quan trọng, tác độngđến chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư vay vốn SXKD XNK Môitrường kinh tế - xã hội có ổn định và tăng trưởng mới đảm bảo cho các dự
án được thực thi hiệu quả như tính toán, mới giảm thiểu được các rủi ro cóthể xảy ra cho cả ngân hàng và chủ đầu tư của dự án
Trang 26Trải qua hơn 20 năm xây dựng và trưởng thành, chi nhánh NgânHàng Ngoại Thương Hà Nội đã không ngừng lớn mạnh, khẳng định được
vị trí quan trọng của mình, trở thành một trong những chi nhánh hàng đầutrong hệ thống Ngân Hàng Ngoại Thương Việt Nam và có nhiều đóng gópvào công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô Hà Nội
Trong những năm gần đây, Ngân Hàng Ngoại Thương Hà Nội đã mởrộng tiếp cận và thẩm định các dự án đầu tư khả thi, có hiệu quả và đầu tưvốn tín dụng Hoạt động đầu tư của Ngân Hàng Ngoại Thương Hà Nội luônbám sát định hướng phát triển kinh tế xã hội và chuyển dịch cơ cấu kinh tếcủa thành phố, tập trung đầu tư vào các ngành kinh tế mũi nhọn của thủ đônhư: dịch vụ, thông tin, y tế, chuyển giao công nghệ, viễn thông, các ngànhcông nghiệp sử dụng công nghệ cao, giao thông vận tải … hàng loạt dự ánđầu tư của các doanh nghiệp đã được hoàn thành và đưa vào hoạt động.Hiện nay, Ngân Hàng Ngoại Thương Hà Nội đang trực tiếp cho vay vàđồng tài trợ hơn 80 dự án đầu tư trung dài hạn, hiện đại hoá máy móc thiết
bị, nâng cao năng suất lao động và giúp cho các doanh nghiệp của thủ đônắm bắt được thời cơ trong hoạt động sản xuất kinh doanh góp phần vàoquá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá Thủ đô và đất nước
Trang 27Hoạt động của Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội đang được mở rộngvới việc cung cấp các dịch vụ ngân hàng đa dạng như:
- Nhận tiền gửi
- Cho vay ngắn hạn, trung dài hạn
- Phát hành và thanh toán thẻ
- Thanh toán xuất nhập khẩu
- Thanh toán chuyển tiền trong nước
- Chi trả kiều hối
- Thu đổi ngoại tệ, thanh toán séc du lịch
- Các dịch vụ khác…
Ngân Hàng Ngoại ThươngViệt Nam được coi là ngân hàng đi đầutrong việc ứng dụng công nghệ hiện đại vào hoạt động ngân hàng Việctriển khai thành công hệ thống ngân hàng bán lẻ và việc nâng cấp, ứngdụng những tiện ích của nó giúp cho hoạt động dịch vụ của hệ thống NgânHàng Ngoại Thương trở nên đa dạng, hiệu quả và linh hoạt Khách hàngthực sự được tiếp cận và sử dụng nhiều dịch vụ ngân hàng hiện đại như:Các dịch vụ trực tuyến online, dịch vụ thẻ rút tiền tự động, dịch vụ thươngmại điện tử và rất nhiều tiện ích khác…Việc đi đầu trong ứng dụng côngnghệ ngân hàng hiện đại của hệ thống ngân hàng Ngoại Thương nói chung
và của chi nhánh Ngân Hàng Ngoại Thương Hà Nội nói riêng đã giúp chocác khách hàng được sử dụng những dịch vụ ngân hàng tiên tiến nhất, giaodiện với công nghệ hiện đại, an toàn, nhanh chóng và chính xác
Trang 28PHÒNG GIAO DỊCH
Trang 292.1.3.Kết quả các hoạt động cơ bản của Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội
Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội đã chú trọng đổi mới trong mọilĩnh vực hoạt động nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu ngày càng tăng của xãhội, vừa phát huy nghiệp vụ truyền thống của Ngân hàng, đồng thời mởrộng hoạt động kinh doanh trên nhiều lĩnh vực Tăng trưởng của chi nhánhNgân hàng Ngoại thương Hà Nội đặc biệt diễn ra mạnh mẽ trong nhữngnăm gần đây Từ năm 1999 đến nay tốc độ tăng huy động vốn bình quânhàng năm là 26,5%/năm, dư nợ cho vay tăng 64.25%, các mặt hoạt độngkhác như thanh toán xuất nhập khẩu, thanh toán trong hệ thống ngân hàng,kinh doanh ngoại tệ, kế toán, phát hành thẻ…đều đạt được sự tăng trưởngcao Cụ thể là:
Về huy động vốn
Công tác huy động vốn của Chi nhánh Ngân hàng Ngoại thương HàNội luôn được sự quan tâm chỉ đạo của Ban giám đốc và các phòng ban.Trong năm 2005, mặc dù có những biến động nhưng công tác huy độngvốn cua Ngân hàng vẫn duy trì được kết quả tốt Tổng nguồn vốn huy độngnăm 2005 đạt 8.254 tỷ đồng, tăng 28.8% so với năm 2004 Tính đến 2005,thị phần vốn huy động của Vietcombank chiếm 3.65% trên địa bàn Hà Nội.Huy động vốn ngoại tệ chiếm tỷ lệ cao hơn so với đông Việt Nam (Chiếm51%) Số liệu chi tiết được thể hiện trong biểu sau:
Trang 30Năm 2003
Trong đó: Tiền gửi tổ chức kinh tế 1.463 1.025 826
Trong đó: Tiền gửi tổ chức kinh tế 409 367 196 Tiền gửi tổ chức dân cư 3.542 3.02 2.707 Các nguồn khác 239 206 191
(Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh năm 2003, 2004, 2005 của Ngân
hàng Ngoại thương Hà Nội )
Về sử dụng vốn
Công tác điều hành vốn của Chi nhánh luôn tuân thủ quy chế quản lývốn do Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội ban hành và thực hiện tốt phươngchâm an toàn và hiệu quả Tỷ lệ sử dụng vốn sinh lời trong năm 2005 đạt98.6% tổng nguồn vốn huy động, trong đó, đầu tư tín dụng chiếm 43%,phần còn lại thực hiện điều chuyển vốn nội bộ Số liệu chi tiết được thểhiện trong biểu sau:
Trang 31Bảng 1: Tình hình sử dụng vốn
Đơn vị: Triệu đồng
TỔNG SỬ DỤNG VỐN 5,487,700.00 6,414,662.58 8,260,161.00 A/ Đồng việt nam 2,382,457.00 745,320.38 1,069,701.00
Dư nợ vốn trung & dài hạn 298,000.00 313,854.15 425,649.00
Tiền gửi có kì hạn tại vcbtw 1,188,355.00 1,024,735.92 2,044,963.00
(Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh năm 2003, 2004, 2005 của Ngân
hàng Ngoại thương Hà Nội )
Với lợi thế nguồn vốn huy động dồi dào, Chi nhánh đã đáp ứng tốtnhu cầu vốn lưu động và vốn cho các dự án sản xuất kinh doanh, đầu tưxây dựng cơ bản Công tác sử dụng vốn có hiệu quả của Ngân hàng đã gópphần thúc đẩy tốc độ tăng trưởng kinh tế của Thủ đô
Trang 322.2 Thực trạng chất lượng thẩm định tài chính dự án vay vốn sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu tại Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội
2.2.1.Quy trình thẩm định dự án vay vốn SXKD XNK
Theo tài liệu “Cẩm nang tín dụng” của Ngân hàng Ngoại thương HàNội, quy trình thẩm định dự án được tiến hành theo ba bước: Nhận và kiểmtra hồ sơ vay vốn của khách hàng, thẩm định dự án, quyết định cho vay
Bước 1: Nhận và kiểm tra hồ sơ vay vốn của khách hàng
Khi khách hàng đề nghị vay vốn, Ngân hàng thông báo cho kháchhàng về các chính sách cho vay hiện đang áp dụng, giải thích hướng dẫnkhách hàng lập hồ sơ vay vốn theo quy định
Hồ sơ vay vốn mà khách hàng phải xuất trình bao gồm:
- Hồ sơ pháp lý của khách hàng (áp dụng lần đầu khách hàng vayvốn hoặc khi có những thay đổi liên quan)
- Hồ sơ kinh tế khách hàng: Các báo cáo tài chính, hợp đồng kinh tế…
- Hồ sơ vay vốn: Giấy đề nghị vay vốn, báo cáo khả thi dự án
- Hồ sơ đảm bảo tiền vay
- Các hồ sơ khác có liên quan
Bước 2: Thẩm định dự án
Trên cơ sở các hồ sơ đề nghị vay vốn mà khách hàng cung cấp, cán
bộ tín dụng tiến hàng thẩm định cho vay, cụ thể:
- Kiểm tra hồ sơ nhằm đảm bảo hồ sơ của khách hàng đúng với cácquy định hiện hành của quy chế cho vay
- Tiến hành thẩm định các nội dung sau:
Trang 33+ Thẩm định năng lực pháp lý của khách hàng
+ Thẩm định tình hình sản xuất kinh doanh, năng lực tài chính hoạtđộng của khách hàng
+ Thẩm định dự án: Thẩm định dự án về mặt kỹ thuật, thẩm địnhphương án kinh doanh, thẩm định dự án về mặt tài chính
+ Thẩm định về biện pháp bảo đảm tiền vay
- Khảo sát thực tế để làm rõ hơn những vấn đề cần thẩm định
- Lập báo cáo thẩm định
Bước 3: Quyết định cho vay
- Ra quyết định cho vay: Sau khi nhận được báo cáo thẩm định cùngvới toàn bộ hồ sơ vay vốn do phòng tín dụng trình, Giám đốc chi nhánhkiểm tra lại các thông tin nêu tại trờ trình, đánh giá tính thuyết phục củakhoản vay, căn cứ phạm vi quyền hạn được phân công ra quyết định và ghi
rõ các nội dung về đồng ý cho vay hay từ chối cho vay với lý do kèm theohoặc yêu cầu bổ sung thông tin
- Thực hiện quyết định cho vay: thực hiện các công việc như giảingân, lưu hồ sơ…
2.2.2 Nội dung thẩm định tài chính dự án tại Ngân hàng Ngoại thương
Hà Nội
Thẩm định tài chính dự án tại Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội baogồm những nội dung chính sau:
Thẩm định về nhu cầu vốn đầu tư:
Cán bộ tín dụng cần xem xét cơ cấu và quy mô tổng vốn đầu tư của
dự án và xem xét tính hợp lý của cơ cấu vốn đầu tư đó
Trang 34- Vốn vay Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội
- Vốn vay từ nguồn khác( vay thương mại, vay của ngân hàng khác…)
Thẩm định về tính khả thi, hiệu quả của kế hoạch SXKD của dự án
về mặt tài chính
Trên cơ sở các kết luận của quá trình thẩm định dự án về phươngdiện kỹ thuật như: công suất thiết kế, công suất thực tế, quy trình côngnghệ và căn cứ theo kết quả thẩm định về thị trường đầu vào, đầu ra của dự
án, xu hướng biến động của tỷ giá, lạm phát… cán bộ tín dụng thẩm địnhdoanh thu, chi phí và lợi nhuận của dự án Cụ thể:
- Thẩm định tính hợp lý của yêu tố doanh thu bán hàng dự kiến quacác kỳ của dự án
- Thẩm định tính hợp lý của yếu tố chi phí giá thành tương ứng vớicác kỳ của dự án
- Thẩm định tính hợp lý của yếu tố kết quả kinh doanh dự kiến quacác kỳ của dự án
Thẩm định chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tài chính của dự án
Trang 35Cán bộ thẩm định lựa chọn phương pháp thẩm định phù hợp nhất đểthẩm định dự án Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tài chính thường được lựachọn là:
- Giá trị hiện tại ròng của dự án
- Tỷ suất hoàn vốn nội bộ
- Thời gian thu hồi vốn của dự án
- Lợi nhuận bình quân
độ nhạy của các chỉ tiêu này đối với các biến
Thẩm định về kế hoạch trả nợ của dự án
- Tổng mức vốn vay đầu tư cơ bản:
+ Vay Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội
+ Vay Ngân hàng thương mại khác
- Thời hạn vay
- Thời gian ân hạn
- Lãi suất cho vay
- Biện pháp đảm bảo tiền vay
Trang 36*Ví dụ minh hoạ về thẩm định tài chính dự án vay vốn SXKD XNK tại Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội
A Tóm lược về dự án “Dây chuyền đồng bộ sản xuất mì phở ăn liền và nhà xưởng sản xuất" của công ty Sản xuất - Dịch vụ và Xuất nhập khẩu Nam Hà Nội.
- Tên dự án: Dây chuyền đồng bộ sản xuất mì phở ăn liền và nhàxưởng sản xuất
- Chủ đầu tư: Công ty Sản xuất - Dịch vụ và Xuất nhập khẩu Nam
Hà Nội
- Hình thức đầu tư: Đầu tư mới dây chuyền đồng bộ sản xuất mì phở
ăn liền và nhà xưởng sản xuất
- Thời gian thực hiện dự án: Thời gian khởi công Quý II/2004 Thờigian hoàn thành trong năm 2004
- Sản phẩm của dự án: mì ăn liền loại gói 80gr túi OPP và gói 80grtúi Graft, phở ăn liền gói 80gr túi OPP
- Tổng vốn đầu tư: 22.485.314.290 đồng
B Sự cần thiết phải đầu tư và mục tiêu của dự án
Sự cần thiết phải đầu tư
Những năm gần đây nền kinh tế nước ta có những khởi sắc đáng kể,đường lối kinh tế của Đảng và nhà nước đang thể hiện tính đúng đắn,chuyển đổi nền kinh tế nước ta theo hướng Công nghiệp hoá - Hiện đạihoá Cơ cấu kinh tế chuyển từ Nông nghiệp - Công nghiệp - Dịch vụ dầntừng bước sang cơ cấu kinh tế Công nghiệp - Dịch vụ - Nông nghiệp Nghịquyết Đại hội Đảng lần thứ IX, khẳng định đường lối kinh tế của Đảng ta
Trang 37là: “Phát triển công nghiệp, dịch vụ, các ngành nghề đa dạng, chú trọngcông nghiệp chế biến…vừa phát triển các ngành sử dụng nhiều lao động,vừa đi nhanh vào một số ngành có công nghiệp hiện đại, công nghiệp cao.
Phát triển mạnh công nghiệp phát triển nông sản, thuỷ sản…” Nghị quyếtđại hội đại biểu lần thứ XIII, Đảng bộ Thành phố Hà Nội về phát triển kinh
tế thủ đô giai đoạn 2001- 2005 cũng chỉ rõ: “các ngành công nghiệp chủlực được xác định theo thứ tự: điện - điện tử - thông tin, cơ - kim khí, dệt -may- da giày, chế biến thực phẩm, vật liệu mới” Như vậy, chế biến thựcphẩm là một trong năm ngành công nghiệp chủ lực của Hà Nội Trong côngnghiệp chế biến, bảo quản; ưu tiên đầu tiên cho việc hình thành và khaithác các cơ sở chế biến nông sản quy mô vừa và nhỏ, đa dạng hoá sảnphẩm Mở rộng thị trường cung cấp nguyên liệu và tiêu thụ sản phẩm Phấnđấu đạt tốc độ tăng giá trị sản xuất bình quân 14-15%/năm Thành phố HàNội có gần 2,7 triệu dân, trong đó dân số nội thành lên tới 1,5 triệu ngườinhưng công nghiệp bảo quản và chế biến nông sản phát triển chậm Hiệnnay toàn Hà Nội vẫn chưa có nhà máy giết mỗ và chế biến thực phẩm đúngquy mô công nghiệp với công nghệ hiện đại, tiên tiến, các cơ sở chế biếnthực phẩm hầu hết thiết bị đều cũ kỹ, lạc hậu nên chưa đáp ứng được nhucầu ngày càng cao của người tiêu dùng Hà Nội cũng như các vùng lân cận
Thực phẩm là một trong những nhu cầu tối cần thiết của cuộc sốngcon người Cùng với sự tiến bộ của nền kinh tế- xã hội, sự tiến bộ của khoahọc kỹ thuật và Công nghệ, xu hướng sử dụng thực phẩm của con ngườicũng chuyển dần từ các loại thực phẩm chế biến sẵn có chất lượng cao vàcác loại thức ăn nhanh
Trang 38Trong những năm gần đây, bên cạnh việc phát huy thế mạnh kinhdoanh xuất nhập khẩu Công ty sản xuất Dịch vụ và XNK Nam Hà Nộicũng chú trọng đến các dự án sản xuất các mặt hàng truyền thống nhằm tạocông ăn việc làm cho người lao động và ổn định nguồn hàng cho thị trườngxuất khẩu của Công ty Từ năm 2001 Công ty đã thực hiện một số dự ánxây dựng các xí nghiệp sản xuất như: Xí nghiệp Gốm Chu Đậu, xí nghiệpGiết mỗ và chế biến thực phẩm Các dự án của Công ty đi vào hoạt động vàsản phẩm của dự án đã từng bước tìm được chỗ đứng trên thị trường trongnước cũng như xuất khẩu như: Các sản phẩm gốm sứ, mặt hàng rượu, thịtnguội, chè …mang thương hiệu HAPRO Công ty được thành phố Hà Nộigiao cho 65ha đất của Nông trường Toàn Thắng tại xã Lê Chi- Gia Lâm-
Hà Nội từ năm 2002 và công ty đã triển khai các dự án nhằm xây dựng mộtCụm Công nghệ chế biến thực phẩm trên địa bàn thành phố Hà Nội Dự ánđầu tư xây dựng “Xí nghiệp chế biến mì, phở ăn liền” là một dự án thànhphần trong tổng thể dự án Cụm Công nghệ chế biến thực phẩm này
Mục tiêu đầu tư của dự án:
- Việc đầu tư xây dựng “ Xí nghiệp chế biến Mì phở ăn liền” vớimục tiêu trước mắt là tiêu dùng trong nước nhằm đáp ứng nhu cầu ngàycàng tăng của mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt là nhóm hàng thực phẩmthiết yếu
- Tiếp cận thị trường các nước, gia tăng cơ hội xuất khẩu, tăng nguồnthu ngoại tệ của công ty Tỷ lệ xuất khẩu được xác lập khoảng 20% sảnlượng sản xuất hàng năm