1 MỞ ĐẦU 1 Lý do chọn đề tài EQ là viết tắt của cụm từ “Emotional Quotient” – chỉ số cảm xúc, là một danh từ tâm lý học rất thịnh hành trên thế giới từ khoảng những năm 1995 thường được gọi là chỉ số cảm xúc, bắt nguồn từ cuốn sách “EQ” do một nhà tâm lý học nổi tiếng của trường đại học Havard, Mỹ tên là Gorman viết Sự xuất hiện của chỉ số cảm xúc không chỉ có giá trị lí luận quan trọng đối với sự phát triển của giáo dục hiện đại mà còn có ý nghĩa hiện thực rất lớn Chỉ số cảm xúc khiến con người.
Trang 11
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
EQ là viết tắt của cụm từ “Emotional Quotient” – chỉ số cảm xúc, là một danh từ
tâm lý học rất thịnh hành trên thế giới từ khoảng những năm 1995 thường được gọi
là chỉ số cảm xúc, bắt nguồn từ cuốn sách “EQ” do một nhà tâm lý học nổi tiếng của trường đại học Havard, Mỹ tên là Gorman viết Sự xuất hiện của chỉ số cảm xúc không chỉ có giá trị lí luận quan trọng đối với sự phát triển của giáo dục hiện đại mà còn có ý nghĩa hiện thực rất lớn Chỉ số cảm xúc khiến con người bắt đầu được giải phóng khỏi những sai lầm trong giáo dục truyền thống
Ngày nay, trên thế giới các chuyên gia tâm lý và giáo dục cho rằng “Những người
có chỉ số thông minh (IQ) cao nhất làm việc tốt hơn 20% so với những người có chỉ
số IQ trung bình, trong khi những người có chỉ số IQ trung bình lại hoàn thành công việc tốt hơn những người có chỉ số IQ cao đến 70% “Theo nghiên cứu chứng minh yếu tố quan trọng giúp họ thành công là trí tuệ cảm xúc (EQ) Đánh giá “chỉ số cảm xúc” EQ của trẻ đang được sử dụng nhiều và được coi là chỉ số báo hiệu đáng tin cậy nhất cho sự thành công trong tương lai của trẻ Những chỉ số này dự báo trẻ có những phẩm chất để tự hoàn thiện và ý chí phấn đấu để đạt được những mục tiêu trong đời
Cùng với sự phát triển và hội nhập nền giáo dục trên thế giới, giáo dục Việt Nam cũng đang quan tâm đến việc phát triển chỉ số cảm xúc (EQ) cho trẻ mầm non, chỉ
số EQ được xem như là một kỹ năng sống cần thiết cho đứa trẻ và được đưa vào
“Bộ chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi” cho trẻ mầm non Chỉ số EQ cao sẽ giúp trẻ phát triển tốt khả năng giao tiếp, diễn đạt, hòa đồng với bạn bè, giúp trẻ thích ứng nhanh với cuộc sống Điều này sẽ tạo cho trẻ một nền tảng tốt về nhân cách cũng như những kỹ năng cần thiết trong cuộc sống giúp trẻ có thể thành công vững chắc trong tương lai[20]
Hiện nay trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh các trường mầm non cũng đưa chương trình giáo dục cảm xúc dựa trên “Bộ chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi” để phát
Trang 22 Mục đích nghiên cứu
Khảo sát thực trạng kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc của trẻ mẫu giáo 5-6
tuổi ở trường mầm non 19/5 thành phố Hồ Chí Minh Từ đó, tìm ra nguyên nhân
của thực trạng trên
3 Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu
3.1.Đối tượng nghiên cứu
Kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi
3.2.Khách thể nghiên cứu
Khách thể chính: Trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi
Khách thể bổ trợ: Giáo viên mầm non đang trực tiếp chăm sóc giáo dục trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi
4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
4.1.Giới hạn nội dung nghiên cứu: Đề tài chỉ nghiên cứu thực trạng kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi đối với bản thân trẻ, đối với người khác (giáo viên mầm non đang trực tiếp chăm sóc- giáo dục trẻ và bạn trong lớp) trong các hoạt động giáo dục (giờ học, giờ chơi, giờ sinh hoạt ngoại khóa, các
sự kiện của lớp) của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi và thông qua các tình huống cụ thể 4.2.Giới hạn địa bàn nghiên cứu: Lớp lá 3, lá 4, lá 5 trường mầm non 19/5 thành phố Hồ Chí Minh
4.3.Giới hạn thời gian nghiên cứu: 10/2013 đến 5/2014
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 36 Giả thuyết nghiên cứu
Thực trạng kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở trường mầm non 19/5 thành phố Hồ Chí Minh ở mức độ chưa cao Có thể do một số nguyên nhân:
- Trẻ chưa có kinh nghiệm về kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc
- Giáo viên chưa thấy rõ vai trò, ảnh hưởng của mình trong việc dạy kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc cho trẻ
- Việc dạy kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc gặp nhiều khó khăn và cần nhiều thời gian
- Số lượng trẻ quá đông nên việc áp dụng các phương pháp dạy kỹ năng cảm xúc không thể tác động một cách hiệu quả đối với tất cả các trẻ trong lớp
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận
Đọc tìm hiểu các tài liệu liên quan đến đề tài Nghiên cứu phân tích tổng hợp, chọn lọc các tài liệu và xây dựng cơ sở lí luận cho đề tài
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
a.Phương pháp quan sát
Mục đích nghiên cứu:
- Quan sát các biểu hiện về kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc của trẻ với cô, của trẻ với bạn, với bản thân trẻ qua các bài tập, các hoạt động của trẻ trong trường mầm non 19/5 thành phố Hồ Chí Minh, từ đó thu thập các dữ liệu về kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc của trẻ
Đối tượng nghiên cứu: 30 mẫu giáo trẻ 5-6 tuổi lớp lá ở trường mầm non 19/5 thành phố Hồ Chí Minh
Trang 44
Cách thực hiện:
- Quan sát các biểu hiện về kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc của trẻ đối với bản thân trẻ, đối với cô, đối với bạn cùng lớp ở các hoạt động trong ngày (giờ học, giờ chơi, giờ sinh hoạt ngoại khóa, các sự kiện của lớp), các bài tập tình huống Trong quá trình quan sát ghi chép lại thông tin vào phiếu quan sát
b.Phương pháp đàm thoại
Mục đích nghiên cứu
- Trò chuyện với giáo viên về một số vấn đề có liên quan đến kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở trường mầm non 19/5 thành phố Hồ Chí Minh
- Trò chuyện với trẻ thông qua các bài tập khảo sát trên trẻ Qua đó biết được thực trạng kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở trường mầm non 19/5 thành phố Hồ Chí Minh
- Đối tượng nghiên cứu: Trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi, giáo viên trực tiếp chăm sóc- giáo dục trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi
- Trong quá trình trò chuyện ghi chép đầy đủ thông tin
c.Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Trang 55
Cách thực hiện:
- Xây dựng mẫu phiếu hỏi (gồm hệ thống câu hỏi trắc nghiệm và tự luận) cho giáo viên trực tiếp chăm sóc giáo dục trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở trường mầm non 19/5 thành phố Hồ Chí Minh
- Xử lý và phân tích kết quả
7.3 Phương pháp toán học
Tính phần trăm (%) kết quả nghiên cứu
Trang 6Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về cảm xúc của con người Đặc
biệt là các công trình nghiên cứu về trí tuệ cảm xúc hay còn gọi là thông minh cảm
xúc trong đó có đề cập nhiều đến kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc
Trong lĩnh vực tâm lý học, lý thuyết về trí tuệ cảm xúc đã có từ khi bắt đầu đo lường trí thông minh
E.I.Thorndike (1970)- giáo sư tâm lý giáo dục ở trường Đại học tổng hợp Columbia là một trong những người đầu tiên tìm cách nhận dạng trí tuệ cảm xúc mà lúc đó ông gọi là trí tuệ xã hội Theo ông, trí tuệ xã hội là “Năng lực hiểu và kiểm soát của một người dùng để hành động một cách khôn ngoan trong các mối quan hệ của con người” E.I Thorndike đề nghị một số phương pháp đánh giá trí tuệ xã hội trong phòng thí nghiệm nhưng đó là một quá trình đơn giản làm cho có sự phụ hợp giữa những khuôn mặt biểu lộ cảm xúc khác nhau với việc nhận biết, mô tả đúng những cảm xúc đó
Robert Thorndike và Saul Stern (1937) đã xem xét những cố gắng đo lường về trí tuệ xã hội của E.I Thorndike đưa ra Nhưng Robert Thorndike và Saul Stern kết luận rằng những cố gắng đo lường năng lực ứng xử với mọi người đã ít nhiều thất bại Điều này có thể do trí tuệ xã hội là một phức hợp gồm một số các năng lực khác nhau hoặc một số phức hợp của một số lớn các thói quen và thái độ xã hội cụ thể Nửa thế kỷ tiếp theo, các nhà tâm lý học hành vi và trào lưu đo lường IQ đã quay lại ý tưởng đo lường EI
David Wechster (1952), mặc dù vẫn tiếp tục phát triển trắc nghiệm IQ của mình vốn lúc đó đã được sử dụng rộng rãi, nhưng ông cũng phải thừa nhận rằng các năng lực xúc cảm như là một phần trong vô số các năng lực của con người
Trang 77
Howard Gardner (1983) là người có công lớn trong việc xem xét lại lý thuyết trí tuệ trong tâm lý học Mô hình đa trí tuệ nổi tiếng của ông cho rằng, trí tuệ cá nhân gồm hai loại: Trí tuệ nhân cách và trí tuệ liên nhân cách
Nhà tâm lý học Isarel (quốc tịch Mỹ) Reuven Bar – On là người đầu tiên đưa ra thuật ngữ EQ ( Emotinal Intelligence Qoutient) trong luận án tiến sỹ của mình năm
1985 Ông đặt trí tuệ cảm xúc trong phạm vi lý thuyết nhân cách, đưa ra mô hình Well-being (1997) với ý định trả lời câu hỏi “Tại sao một người nào đó lại có khả năng thành công trong cuộc sống hơn người khác” Ông đã nhận diện được 5 khu vực bao quát về mặt chức năng phù hợp với thành công trong cuộc sống:
Daiel Goleman, tiến sĩ tâm lý học của Đại học Havard – người phụ trách chuyên mục khoa học trí tuệ cảm xúc và trí tuệ xã hội của tờ New York Times: Khoa học mới của mối quan hệ con người, ông tập hợp những kết quả nghiên cứu về trí tuệ cảm xúc và đã viết cuốn sách gây tiếng vang lớn ở Mỹ với nhan đề “Trí tuệ cảm xúc: Tại sao nó lại có thể quan trọng hơn IQ đối với tính cách, sức khỏe và sự thành công trong suốt cuộc đời?”
Năm 1995 trong tác phẩm Emotional intelligence, nhà tâm lý học Daniel Goleman
đã đề cập đến chỉ số cảm xúc, gọi đó là “Sự thông minh của tâm hồn” hoặc “Thông minh trong cảm xúc”
Cuốn sách gần đây khác Goleman “Não và tình cảm: Insights” mới tập hợp lại
với nhau phát hiện gần đây từ nghiên cứu não bộ và các nguồn khác về các chủ đề
Trang 88
khác nhau, từ sự sáng tạo và hiệu suất tối ưu, kết nối não để não trong sự điều hành
và làm thế nào để nâng cao trí tuệ cảm xúc bản thân
Mô hình trí tuệ cảm xúc do Daniel Goleman đề xuất là mô hình kiểu hỗn hợp coi trí tuệ cảm xúc là sự kết hợp giữa các năng lực trí tuệ và các nét nhân cách không thuộc năng lực trí tuệ, gồm 5 lĩnh vực:
- Hiểu biết về cảm xúc của mình
- Quản lý cảm xúc
- Tự thúc đẩy, động cơ hóa mình
- Nhận biết cảm xúc của người khác
- Xử lý các mối quan hệ
Những người có công trong nghiên cứu và đưa ra chỉ số EQ tiếp đó là hai nhà tâm lý học người Mỹ: Peter Salovey và John Mayer vào năm 1996 Nhưng trước đó hai nhà tâm lý đã chính thức công bố lý thuyết trí tuệ cảm xúc trong bài báo “Trí tuệ cảm xúc” (1990) Bài báo này đã có ảnh hưởng mạnh nhất đến lý thuyết trí tuệ cảm xúc tại thời điểm đó Trong mô hình nguyên thủy của hai tác giả này, trí tuệ cảm xúc được nhận diện như là năng lực làm chủ, điều khiển, kiểm soát xúc cảm, tình cảm của mình và của người khác để sử dụng thông tin này định hướng cách suy nghĩ và hành động của một cá nhân
Năm 1997, John Mayer và Salovey chính thức định nghĩa: “Trí tuệ cảm xúc là năng lực nhận biết, bày tỏ cảm xúc, hòa cảm xúc vào suy nghĩ, hiểu, suy luận với xúc cảm, điều khiển, kiểm soát xúc cảm của mình và của người khác” với mô hình cấu trúc trí tuệ cảm xúc thuần năng lực do John Mayer và Peter Salovey đề xuất (1997)
Mô hình của hai tác giả này đã nhấn mạnh đến mặt nhận thức (đối tượng nhận thức ở đây là các xúc cảm, tình cảm) và họ đã chứng minh nó đáp ứng ba tiêu chuẩn sau đây của mô hình trí tuệ nói chung:
- Đó phải là một mô hình phù hợp về mặt khái niệm (tức là nó phải phản ánh các năng lực trí tuệ hơn là chỉ mô tả hành vi)
Trang 9- Khả năng sử dụng các xúc cảm để hỗ trợ, tích cực hoá tư duy
- Khả năng hiểu nguyên nhân và tiến trình phát triển của các xúc cảm
- Khả năng quản lý các xúc cảm
Tóm lại, có ba đại biểu tiêu biểu nghiên cứu về trí tuệ cảm xúc:
1 Reuven Bar – On đưa ra lý thuyết phân cách và mô hình kiểu hỗn hợp bằng cách hòa trộn trí tuệ cảm xúc những đặc tính phi năng lực, mô hình của ông dự đoán thành công với tư cách là “Sản phẩm cuối cùng của cái nhà mà một người cố gắng đạt được, cố gắng hoàn thành …”
2 Daniel Goleman đề xuất lý thuyết hiệu quả thực hiện công việc trong đó đưa
ra kiểu mô hình hỗn hợp mô tả trí tuệ cảm xúc bao gồm các năng lực tâm lý và các phẩm chất nhân cách Ông cho rằng mô hình hỗn hợp này có độ hiệu lực dự đoán rất cao Đặc biệt mô hình này giúp cho dự đoán và phát triển những năng lực vượt trội của những cá nhân xuất sắc trong công việc của từng loại nghề nghiệp, ở từng cấp độ
3 Peter Salovey và John Mayer: Trong lý thuyết của mình đã “Giới hạn trí tuệ cảm xúc là một năng lực tâm lý và tách trí tuệ cảm xúc ra khỏi những nét tích cực quan trọng” của nhân cách Vì vậy, mô hình của Peter Salovey và John Mayer là kiểu mô hình thuần nhất năng lực chú ý vào khái niệm hạt nhân của trí tuệ cảm xúc,
đó chính là các cảm xúc và sự tương tác giữa cảm xúc và ý nghĩ
Các công trình nghiên cứu của tác giả nêu trên đã đặt nền tảng cho việc nghiên cứu trí tuệ cảm xúc cả về lý luận cũng như đưa ra các thang đo để nghiên cứu về thực tiễn năng lực trí tuệ cảm xúc của cá nhân Trong khuôn khổ của đề tài này
Trang 1010
chúng tôi kế thừa những nghiên cứu của tác giả nước ngoài để xây dựng hệ thống lý luận của đề tài nghiên cứu đặc biệt là các định nghĩa, vai trò cũng như những biểu hiện của trí tuệ cảm xúc
1.1.2 Những nghiên cứu về kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc ở Việt Nam Trí tuệ cảm xúc là vấn đề khá mới mẻ với các nhà tâm lý học Việt Nam Tài liệu
chủ yếu được dịch từ các tác phẩm của các tác giả nước ngoài Khoảng 10 năm trở lại đây bắt đầu có những công trình nghiên cứu về trí tuệ cảm xúc với các cấp độ
khác nhau và đạt được những bước tiến nhất định
Trên các tạp chí Tâm lý học và Giáo dục học những năm gần đây đã đăng nhiều bài viết về trí tuệ cảm xúc
Đề tài KX-05-06, các tác giả Trần Kiều, Nguyễn Huy Tú, Nguyễn Công Khanh và nhiều tác giả đã tiến hành đo lường cả 3 chỉ số trí tuệ: trí tuệ thông minh; trí tuệ cảm xúc và chỉ số sáng tạo Trong đó trí tuệ cảm xúc được xem là một trong 3 thành tố của trí tuệ
Công trình nghiên cứu của Nguyễn Thị Dung (2002) đã tiến hành đo lường trí tuệ cảm xúc của giáo viên trung học cơ sở để xem IQ hay EQ đóng vai trò quan trọng hơn trong công tác chủ nhiệm
Năm 2004, tác giả Dương Thị Hoàng Yến đã tìm hiểu trí tuệ cảm xúc của giáo viên chủ nhiệm các lớp tiểu học Hà Nội trong khuôn khổ luận văn thạc sĩ Tâm lý học được thực hiện tại trường Đại học sư phạm Hà Nội Năm 2010 tác giả đã phát triển đề tài này thành luận án tiến sĩ Tâm lý học thực hiện tại Viện Tâm lý học, Viện khoa học xã hội Việt Nam Trên các tạp chí Tâm lý học sau này, tác giả Dương Thị Hoàng Yến đã xây dựng quy trình phát triển trí tuệ cảm xúc của cá nhân dựa trên
mô hình trí tuệ cảm xúc của J.Mayer và P Salovey và mô hình EI của D Caruso Những công trình nghiên cứu của tác giả này có khả năng ứng dụng cao trong việc xây dựng các biện pháp giúp cá nhân phát triển trí tuệ cảm xúc Đặc biệt trong bài viết mới đây, tác giả Dương Thị Hoàng Yến đã đánh giá cao việc xây dựng nội dung phát triển trí tuệ cảm xúc trong trường học và coi đó như là “Sứ mệnh của nhà trường hiện đại”
Trang 1111
Năm 2005, đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ của trường Đại học sư phạm Hà Nội do tác giả Trần Trọng Thủy chủ nhiệm đã sử dụng công cụ trắc nghiệm để đo chỉ số cảm xúc của sinh viên hai trường Đại học: Sư phạm Hà Nội và Sư phạm Thái Nguyên Bộ công cụ này được nhiều tác giả khác sử dụng trong quá trình nghiên cứu mức độ biểu hiện trí tuệ cảm xúc của các nhóm khách thể khác nhau
Năm 2007 tác giả Nguyễn Thị Hiền nghiên cứu ảnh hưởng của trí tuệ cảm xúc đến việc hình thành kỹ năng làm công tác chủ nhiệm lớp của sinh viên, trong đó tác giả kết luận: Những sinh viên có chỉ số cảm xúc trí tuệ cao hơn là những sinh viên thành công hơn trong việc hình thành kỹ năng làm công tác chủ nhiệm lớp
Năm 2007 tác giả Phan Trọng Nam trong bài viết “Mức độ trí thông minh và trí tuệ cảm xúc của sinh viên trường Đại học Sư phạm Đồng Tháp” (Tạp chí Tâm lý học số 4 tháng 4/2007) kết luận: Sinh viên làm tốt những bài tập trắc nghiệm liên quan đến các năng lực nhận biết cảm xúc và hiểu cảm xúc, còn bài tập thể hiện năng lực xúc cảm hóa ý nghĩ và điều khiển quản lý cảm xúc kết quả đạt được chưa cao Năm 2008 tác giả Đỗ Thị Hiền đã nghiên cứu mức độ biểu hiện trí tuệ cảm xúc của sinh viên trường Đại học Công nghiệp Hà Nội, trong đó tác giả đã đề cập đến bản chất của trí tuệ cảm xúc và cho rằng: Trí tuệ cảm xúc là một cấu trúc phức hợp của nhiều năng lực khác nhau liên quan đến lĩnh vực cảm xúc Trí tuệ cảm xúc có biên độ rộng hơn trí thông minh và dễ thay đổi hơn trí thông minh Trí tuệ cảm xúc
là một dạng siêu trí tuệ, siêu năng lực Trong đề tài này tác giả cũng đã nêu ra các bước giúp cá nhân nâng cao trí tuệ cảm xúc Như vậy, theo tác giả Đỗ Thị Hiền, trí tuệ cảm xúc có thể thay đổi theo thời gian và cá nhân có thể rèn luyện để nâng cao trí tuệ cảm xúc
Năm 2010 tác giả Võ Hoàng Anh Thư đã nghiên cứu trí tuệ cảm xúc của học sinh Trung học phổ thông thành phố Bảo Lộc trong khuôn khổ luận văn thạc sĩ Tâm
lý học thực hiện tại trường Đại học Sư phạm Tp Hồ Chí Minh Tác giả đã tiến hành thực nghiệm một số biện pháp tác động sư phạm nhằm nâng cao mức độ trí tuệ cảm xúc cho học sinh trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Bảo Lộc – Lâm Đồng
Trang 1212
Như vậy đã có khá nhiều tác giả nghiên cứu về trí tuệ cảm xúc của nhiều nhóm khách thể khác nhau, trong đó các tác giả chủ yếu tập trung vào nghiên cứu mức độ ảnh hưởng của trí tuệ cảm xúc đến một số lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, trí tuệ cảm xúc trong một số hoạt động nghề nghiệp… Tuy nhiên, hầu như các tác giả chưa nghiên cứu về kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc (hay trí tuệ cảm xúc) của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi
1.2.Cơ sở lý luận về kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc của trẻ mẫu giáo
Theo từ điển Oxford định nghĩa “Skill”- là khả năng tìm ra giải pháp cho một vấn
đề nào đó và có được nhờ rèn luyện [2]
Theo từ điển giáo dục học, “Kỹ năng là khả năng thực hiện đúng hành động, hoạt động phù hợp với những mục tiêu và điều kiện cụ thể để tiến hành hành động ấy cho dù đó là hành động cụ thể hay hành động trí tuệ”
Theo từ điển tâm lí học do tác giả Vũ Dũng biên soạn: “Kỹ năng là năng lực vận dụng có kết quả những tri thức về hành động đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện những nhiệm vụ tương ứng Ở mức độ kỹ năng công việc được hoàn thành trong điều kiện hoàn cảnh không thay đổi, chất lượng chưa cao, thao tác chưa thuần thục
và còn phải tập trung chú ý căng thẳng, kỹ năng được hình thành qua luyện tập” [6] Trong từ điển tâm lí học của A.M Colman, “Kỹ năng là sự thông thạo, hiểu biết chuyên môn sâu, là khả năng đạt được thành tích cao trong một lĩnh vực nhất định;
cụ thể là một cách thức thực hiện hành vi có sự phối hợp, có tổ chức, đạt được thông qua sự huấn luyện và thực hành” [ 7]
Từ điển tâm lí học của Mĩ do J.P Chaplin chủ biên (1968) định nghĩa: “Kỹ năng là thực hiện một trật tự cao cho phép chủ thể tiến hành hành động một cách trôi chảy
và đúng đắn”
Trang 1313
Các quan niệm về kỹ năng:
Quan niệm thứ nhất xem kỹ năng là mặt kỹ thuật của thao tác, hành động, hoạt động
Tác giả N.D Levitovxam xem xét kỹ năng gắn liền với hành động Theo ông, người có kỹ năng hành động là người phải nắm được và vận dụng đúng đắn cách thức hành động nhằm thực hiện hành động có kết quả Ông nhấn mạnh muốn hình thành kỹ năng con người vừa phải nắm vững lý thuyết về hành động, vừa phải vận dụng lý thuyết đó vào thực tế
Tác giả Trần Trọng Thủy quan niệm rằng kỹ năng là mặt kỹ thuật của hành động,
có kỹ năng [ 19]
Các tác giả Nguyễn Hữu Nghĩa, Triệu Xuân Quýnh, Bùi Ngọc Oánh cho rằng: “
Kỹ năng là những hành động được hình thành do sự bắt chước trên cơ sở của tri thức mà có, chúng đòi hỏi sự tham gia thường xuyên của ý thức, sự tập trung chú ý, cần tiêu tốn năng lượng của cơ thể” Các tác giả cũng đã cho biết, kỹ năng có những đặc điểm khác nữa là hành động chưa được khái quát, do thao tác chưa chính xác nên vai trò kiểm soát của thị giác là quan trọng”
Tác giả Huỳnh Văn Sơn cho rằng, theo quan niệm trên thì kỹ năng được hiểu là sự
mô tả chính xác chỉ đối với những kỹ năng đơn giản mà thao tác có thể quan sát được Riêng các kỹ năng phức tạp thì luôn đòi hỏi phải có sự nổ lực của trí tuệ căng thẳng và khó có thể tự động hóa được Kỹ năng đơn giản chưa có thể được xem là năng lực, nó chỉ là điều kiện đủ của năng lực [17]
Quan điểm thứ hai xem kỹ năng là biểu hiện của năng lực con người
Tác giả A.V Petrovxki cho rằng: “Kỹ năng là cách thức cơ bản để chủ thể thực hiện hành động, thể hiện bởi tập hợp những kiến thức thu lượm được, những thói quen và kinh nghiệm” Cụ thể hơn tác giả viết: “Năng lực sử dụng các sự kiện, các tri thức và kinh nghiệm đã có, năng lực vận dụng chúng để phát hiện những bản chất của các sự vật và giải quyết thành công những nhiệm vụ lí luận hay thực hành xác định, được gọi là kỹ năng” [13]
Trang 1414
Các tác giả Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Thị Ánh Tuyết, Trần Thị Quốc Minh cũng cùng quan điểm trên cho rằng kỹ năng là một mặt của năng lực con người thực hiện một công việc có kết quả
Tác giả Huỳnh Văn Sơn cho rằng: “Kỹ năng là khả năng thực hiện có kết quả một hành động nào đó bằng cách vận dụng những tri thức, những kinh nghiệm đã có để hành động phù hợp với những điều kiện cho phép” [16, tr 6]
Theo các quan điểm trên chúng tôi nhận thấy kỹ năng không chỉ đơn thuần là mặt
kỹ thuật của hành động mà còn là biểu hiện của năng lực con người Việc hình thành kỹ năng bao hàm cả việc thông hiểu mối quan hệ qua lại giữa mục đích hành động, các điều kiện và cách thức hành động nhằm thực hiện hành động có hiệu quả
* Đặc điểm của kỹ năng:
- Ý thức đóng vai trò tích cực và thường trực Trong quá trình thực hiện một hành động, chủ thể thực hiện một kỹ năng nào đó thì chính chủ thể luôn sử dụng ý thức để nhận biết được các thao tác và hành động cụ thể
- Khi thực hiện kỹ năng, chủ thể phải sử dụng các tri thức khác nhau để kiểm tra các thao tác thực hiện
- Tùy vào từng mức độ kỹ năng của mỗi chủ thể mà các thao tác được thực hiện đầy đủ, chính xác đến mức độ nào Tuy nhiên, khi thực hiện kỹ năng, thường những động tác thừa, động tác phụ chưa được loại trừ
- Trong kỹ năng có sự thống nhất giữa tính ổn định và tính linh hoạt: có nghĩa là
kỹ năng không nhất thiết phải gắn liền với một đối tượng nhất định, mà trong trường hợp kỹ năng ở mức độ cao thì chủ thể có khả năng di chuyển linh hoạt và dễ dàng sang những đối tượng mới
Trang 1515
STT Các mức
1 Mức độ 1 Có kỹ năng sơ đẳng, hành động được thực hiện theo cách thử và
sai, dựa trên vốn hiểu biết và kinh nghiệm
2 Mức độ 2 Biết cách thực hiện hành động nhưng không đầy đủ
3 Mức độ 3 Có những kỹ năng chung nhưng còn mang tính chất rời rạc,
riêng lẽ
4 Mức độ 4 Có những kỹ năng chuyên biệt để hành động
5 Mức độ 5 Vận dụng sáng tạo những kỹ năng trong các tình huống khác
nhau
Theo quan điểm của V.B Bexpalko, có 5 mức độ kỹ năng: Từ những kỹ năng ban đầu đến những kỹ năng đạt mức độ hoàn hảo:
- Mức độ 1: Kỹ năng ban đầu
Người học đã có những kiến thức về nội dung một dạng kỹ năng nào đó và trong những tình huống cụ thể khi cần thiết sẽ có thể tái hiện thành những thao tác, hành động nhất định Tuy nhiên, ở mức độ kỹ năng ban đầu này người học chỉ thực hiện yêu cầu của kỹ năng này dưới sự hướng dẫn của người dạy
- Mức độ 2: Kỹ năng thấp
Khác với mức độ 1, ở mức độ kỹ năng thấp, người học có thể tự thực hiện các thao tác, hành động cần thiết theo một trình tự đã biết Song ở mức độ kỹ năng này, người học chỉ thực hiện được những thao tác, hành động trong những tình huống quen thuộc và chưa di chuyển được sang tình huống mới
- Mức độ 3: Kỹ năng trung bình
Người học tự thực hiện thành thạo các thao tác trong tình huống quen thuộc Tuy vậy, việc di chuyển các kỹ năng sang tình huống mới còn hạn chế
Trang 1616
- Mức độ 4: Kỹ năng nâng cao
Một sự khác biệt thể hiện ở mức độ cao là người học đã tự lựa chọn hệ thống các thao tác, các hành động cần thiết trong các tình huống khác nhau Bên cạnh đó, người học đã biết di chuyển kỹ năng trong phạm vi nhất định
- Mức độ 5: Kỹ năng hoàn hảo
Đây là mức độ cao nhất của kỹ năng Người học nắm được đầy đủ hệ thống các thao tác, hành động khác nhau, biết chọn lựa những thao tác, hành động cần thiết và ứng dụng chúng một cách thành thạo trong các tình huống khác nhau mà không gặp khó khăn gì [17, tr.20-21]
1.2.1.2 Kỹ năng sống
Theo tác giả Huỳnh Văn Sơn “Sống là một quá trình đòi hỏi con người phải có những kỹ năng nhất định” Khó có thể liệt kê một cách đầy đủ những kỹ năng con người cần có trong quá trình sống nhưng thuật ngữ “ Sống” ở đây được nhìn dưới góc độ tâm lí và tâm lí học- xã hội Nói khác đi, những kỹ năng nghề nghiệp, những
kỹ năng chuyên môn không được đề cập và phân tích như kỹ năng sống dù rằng nó
có mối quan hệ rất chặt chẽ để con người có thể sống, tồn tại và phát triển Hơn nữa nếu hiểu theo nghĩa hẹp của kỹ năng sống thì sống có nghĩa là tồn tại cho nên những kỹ năng sống được phân tích ở đây là những kỹ năng giúp cho con người tồn tại về mặt thể chất và mặt tâm lí [16,Tr.6]
Quan niệm của UNSESCO (Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hợp Quốc) cho rằng: “Kỹ năng sống là năng lực cá nhân giúp cho việc thực hiện đầy đủ chức năng và tham gia vào cuộc sống hàng ngày”
Theo UNICEP (Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc), kỹ năng sống là những hành vi
cụ thể, thể hiện khả năng chuyển đổi kiến thức và thái độ thành hành động thích ứng trong cuộc sống Kỹ năng sống phải dựa trên nhận thức, thái độ và chuyển biến thành hành vi như một nhu cầu liên hoàn và có định hướng Giáo dục dựa trên kỹ năng sống cơ bản là sự thay đổi hành vi hay một sự phát triển hành vi nhằm tạo ra
sự cân bằng giữa kiến thức, thái độ và hành vi
Trang 1717
Theo WHO (Tổ chức Y tế Thế giới), kỹ năng sống là năng lực tâm lý- xã hội thể hiện khả năng ứng phó một cách có hiệu quả yêu cầu và thách thức của cuộc sống
Đó cũng chính là khả năng của một cá nhân để duy trì một trạng thái sức khỏe mạnh
về tinh thần, biểu hiện qua các hành vi phù hợp và tích cực khi tương tác với người khác, với nền văn hóa và môi trường xung quanh Năng lực tâm lí xã hội có vai trò quan trọng trong việc phát huy sức khỏe theo nghĩa rộng nhất về thể chất, tinh thần
và xã hội Kỹ năng sống là khả năng thể hiện, thực thi năng lực tâm lý xã hội này Tác giả Xkomni thì cho rằng: “Kỹ năng sống là khả năng con người thực hiện hành vi thích ứng với những đòi hỏi và thách thức trong cuộc sống Kỹ năng sống thể hiện năng lực sống của con người trong cuộc sống cá nhân, trong mối quan hệ
xã hội”
Từ góc độ tâm lý học tác giả Nguyễn Quang Uẩn khẳng định: “Kỹ năng sống là một tổ hợp phức tạp của một hệ thống kỹ năng nói lên năng lực sống của con người, giúp con người thực hiện công việc và tham gia vào cuộc sống hằng ngày có kết quả trong những điều kiện xác định của cuộc sống”[ 23]
Có nhiều quan niệm khác nhau về kỹ năng sống nhưng các quan niệm trên có những điểm chung về nhận định kỹ năng sống là những kỹ năng xã hội của con người giúp duy trì và thích ứng với những điều kiện sống cá nhân- mối quan hệ xã hội trong cuộc sống Từ đó, chúng tôi đưa ra quan niệm sống như sau:
Kỹ năng sống là những năng lực tâm lý- xã hội cơ bản giúp cá nhân thích ứng và tồn tại trong cuộc sống Những kỹ năng này giúp cá nhân thể hiện khả năng của mình để thích nghi với những thách thức trong cuộc sống và phát triển
* Phân loại kỹ năng sống:
Tùy theo quan niệm khác nhau về kỹ năng sống mà số lượng cũng như tên gọi những kỹ năng sống sẽ khác nhau, chúng ta có thể đề cập tới các cách phân loại sau:
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO)
Theo quan niệm của WHO, có thể nhận thấy có ba nhóm kỹ năng sống dưới đây:
- Nhóm một: Nhóm kỹ năng nhận thức
Trang 1818
Nhóm này bao gồm những kỹ năng cơ bản sau: Tự nhận thức bản thân, tự đặt mục tiêu và xác định giá trị, kỹ năng tư duy, kỹ năng sáng tạo, kỹ năng ra quyết định và giải quyết vấn đề
- Nhóm hai: Nhóm kỹ năng liên quan đến kỹ năng cảm xúc
Nhóm này bao gồm một số kỹ năng sau: Kỹ năng nhận biết và chịu trách nhiệm
về cảm xúc của mình, kỹ năng kiềm chế và kiểm soát được cảm xúc, kỹ năng tự giám sát – tự điều chỉnh cảm xúc của cá nhân
- Nhóm ba: Nhóm kỹ năng xã hội
Ở nhóm kỹ năng này bao gồm một số kỹ năng cụ thể như kỹ năng giao tiếp- truyền thông, kỹ năng cảm thông, kỹ năng chia sẻ, kỹ năng hợp tác, kỹ năng gây thiện cảm, kỹ năng thích ứng với cảm xúc của người khác,…
Theo Tổ chức Giáo dục - Khoa học và văn hóa Liên Hiệp Quốc (UNESCO) Theo Tổ chức UNESCO thì kỹ năng sống phải được phân chia dựa trên những kỹ năng nền tảng và những kỹ năng chuyên biệt trong đời sống cá nhân của con người
ở những mối quan hệ khác nhau cũng như ở những lĩnh vực khác nhau Trên cơ sở
đó, có thể có những nhóm kỹ năng sống như sau:
- Nhóm một: Nhóm kỹ năng chung
Ở nhóm kỹ năng chung này bao gồm những kỹ năng cơ bản mà mỗi cá nhân đều
có thể có nhằm thích ứng với cuộc sống chung bao gồm: Kỹ năng nhận thức, kỹ năng liên quan đến cảm xúc và các kỹ năng cơ bản về xã hội
- Nhóm hai: Nhóm kỹ năng chuyên biệt
Nhóm kỹ năng này bao gồm một số kỹ năng sống được thể hiện trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội như: các kỹ năng về sức khỏe và dinh dưỡng, các kỹ năng liên quan đến thế giới và giới tính, các kỹ năng về những vấn đề xã hội như rượu, ma túy, thuốc lá, HIV-AIDS, các kỹ năng liên quan đến môi trường thiên nhiên, các kỹ năng liên quan đến vấn đề bạo lực- rủi ro, các kỹ năng liên quan đến cuộc sống gia đình, các kỹ năng liên quan đến môi trường cộng đồng,…
Theo Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc ( UNICEF)
Trang 1919
Tổ chức này cũng có những nghiên cứu sâu về kỹ năng sống dưới góc độ tồn tại
và phát triển của cá nhân Cách phân loại này cũng đề cập đến ba nhóm kỹ năng cơ bản dưới đây:
- Nhóm một: Nhóm kỹ năng tự nhận thức và sống của chính mình
Nhóm này bao gồm một số kỹ năng như: tự nhận thức và đánh giá bản thân, kỹ năng xây dựng mục tiêu cuộc sống, kỹ năng bảo vệ bản thân,…
- Nhóm hai: Nhóm kỹ năng tự nhận thức và sống với người khác
Nhóm này bao gồm một số kỹ năng như: kỹ năng thiết lập quan hệ, kỹ năng hợp tác, kỹ năng làm việc nhóm
- Nhóm ba: Nhóm kỹ năng ra quyết định và làm việc hiệu quả
Nhóm kỹ năng này bao gồm một số kỹ năng như: phân tích vấn đề, nhận thức thực tế, đưa ra quyết định, ứng xử, giải quyết vấn đề,…
Ở mỗi góc độ khác nhau, cách phân loại kỹ năng sống có thể khác nhau và mang tính tương đối Tuy nhiên, dù có phân loại trên góc nhìn nào đi nữa thì kỹ năng sống phải là những khả năng thuộc về năng lực cá nhân, giúp bản thân tồn tại và làm chủ cuộc sống của mình cũng như đạt được những mục tiêu sống một cách hiệu quả Với trẻ mầm non việc rèn luyện những kỹ năng sống là rất cần thiết cho cuộc sống sau này của trẻ Những kỹ năng sống cần thiết cho cá nhân- cho mối quan hệ xã hội
ở giai đoạn trẻ mẫu giáo 5 -6 tuổi giúp trẻ phát triển một cách toàn diện: Kỹ năng phát triển thể chất, kỹ năng phát triển nhận thức, kỹ năng phát triển ngôn ngữ, kỹ năng phát triển thẩm mỹ- tình cảm xã hội Kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc cũng là một kỹ năng cần rèn luyện cho trẻ
1.2.1.3 Cảm xúc
a Định nghĩa
Cảm xúc hay tình cảm là một hình thức trải nghiệm cơ bản của con người về thái
độ của chính mình đối với sự vật, hiện tượng của hiện thực khách quan, với người khác và với bản thân Sự hình thành cảm xúc là một một điều kiện tất yếu của sự phát triển con người như là một nhân cách [29]
Trang 2020
Cảm xúc là dòng năng lượng chuyển động (e- motion: energy- motion), ngụ ý
năng lượng vận hành bên trong cơ thể Năng lượng thay đổi sẽ truyền tín hiệu đến não Khi não tiếp nhận thông tin này nó có khả năng chuyển cảm xúc thành cảm giác và ra lệnh cho cơ thể phản ứng [1]
Theo từ điển “Random House Dictionary of the English Language” định nghĩa:
“Cảm xúc chính là những phản ứng mạnh mẽ của ý thức được thể hiện bằng sự vui mừng, đau khổ, sợ hãi, yêu, ghét và khác biệt với những phản ứng của ý chí và tư duy”[ 27, tr 19]
Theo nhà tâm lý học người Mỹ John Mayer “Cảm xúc là một trạng thái tinh thần (bao gồm những quá trình và phản ứng tâm lý) truyền tải những thông điệp từ phía các mối quan hệ xã hội của cá nhân’’[ 27, tr 20]
Theo từ điển Tâm lý học của tác giả Nguyễn Khắc Viện định nghĩa về cảm xúc như sau: Cảm xúc là phản ứng rung chuyển của con người trước một kích động vật chất hoặc một sự việc gồm hai mặt: những phản ứng sinh lý do thần kinh thực vật như tim đập nhanh, toát mồ hôi, nội tiết tăng hay giảm, cơ bắp co thắt hoặc run rẩy, rối loạn tiêu hóa Phản ứng tâm lý qua những thái độ, lời nói, hành vi và cảm giác
dễ chịu, khó chịu, vui sướng, buồn khổ, có tính bộc phát, chủ thể kiềm chế khó khăn” [ 24, tr 30]
Theo tác giả Nguyễn Xuân Thức, Nguyễn Quang Uẩn đều có chung một nhận định về cảm xúc: “Đó là những thái độ thể hiện sự rung cảm của con người đối với những sự vật - hiện tượng của hiện thực, phản ánh ý nghĩa của chúng trong mối liên
hệ giữa nhu cầu và động cơ của con người” [21, tr 53]
Như vậy, cảm xúc là một khái niệm thuộc lĩnh vực tình cảm đó là những hiện tượng tâm lý biểu thị thái độ rung cảm của con người đối với sự vật, hiện tượng có liên quan tới nhu cầu và động cơ của họ Những rung cảm này là những phản ứng xúc cảm của con người đối với sự vật - hiện tượng trong quá trình nhận thức cuộc sống và được lặp đi lặp lại, phát triển trong điều kiện xã hội trở thành thái độ ổn định và thuộc tính của nhân cách, mang tính chủ thể cao
Trang 2121
Tóm lại trong đề tài nghiên cứu này, thuật ngữ “Cảm xúc” có thể hiểu như sau:
“Cảm xúc là những thái độ biểu hiện sự rung động của con người với thế giới xung quanh có liên quan tới nhu cầu và động cơ của chủ thể”
- Chức năng động cơ có nghĩa chỉ cảm xúc là nguồn gốc của các động cơ
- Chức năng tổ chức nghĩa là cảm xúc có vai trò điều tiết hoặc phá hoại các hoạt động tâm lý
- Chức năng tín hiệu đóng vai trò quan trọng trong quá trình giáo tiếp xã hội (giúp nhận ra những mối nguy hiểm hay thể hiện yêu cầu, nhu cầu,…) Còn theo L.S Greenberg, những cảm xúc của con người có tính trí tuệ và làm cho
họ thành công hay không là nhờ vào những chức năng sau:
Chức năng thông tin
Cảm xúc là những dấu hiệu đáng giá để được lắng nghe Chúng gửi thông tin đến
để báo hiệu cho con người đang bị nguy hiểm, báo hiệu ranh giới người đó đang bị xâm phạm Cảm xúc cũng nói cho con người biết rằng sự việc có thể diễn ra theo hướng của chúng không và sắp xếp tổ chức chúng lại nhằm nhanh chóng trả lời các tình huống để đảm bảo cho việc đi đúng theo con đường đó Chức năng sắp xếp cho con người hoạt động
Cảm xúc chỉ cho chúng ta làm thế nào để điều khiển cuộc sống Khi chúng ta trải qua cảm giác khó chịu, có nghĩa là có một điều gì sai sót trong công việc mình đang thực hiện Vì vậy, trên cơ sở đọc được những thông điệp phản ứng của cơ thể và nhận thức vấn đề, chúng ta có khả năng hành động sửa chữa phù hợp hơn
Chức năng xây dựng và sắp xếp các mối quan hệ
Cảm xúc nói cho con người biết bản chất các mối quan hệ xã hội mà mình đang
có và cách thức kiểm soát chúng Chúng thông báo cho chúng ta biết mối quan hệ
Trang 2222
họ đạt đỉnh cao hay bị phá vỡ hoặc trong tình trạng cần vun đắp thêm Cảm xúc có thể được nhận thấy trên khuôn mặt và giọng nói của một người và bằng cách đó chúng điều chỉnh bản thân người đó hay người khác
Mỗi cảm xúc xác định mối quan hệ của cá nhân và người khác với môi trường xung quanh
Cảm xúc làm cho cuộc sống thêm màu sắc, có giá trị và ý nghĩa
Con người không thể trải nghiệm cảm xúc thì họ sẽ thiếu định hướng, không biết cái gì là quan trọng đối với mình Hơn nữa, nó là cách thức biểu đạt và bộc lộ trạng thái tâm lý của cá nhân cho người khác biết
c Vai trò của cảm xúc
Vai trò của cảm xúc đối với sinh lý cơ thể
Cảm xúc có mối quan hệ mật thiết đối với sự hưng phấn của các nơ- ron thần kinh Tomskin đã chứng minh rằng: “ Sự hoạt hóa thần kinh của mọi cảm xúc đều
có thể được mô tả nhờ nguyên tắc mật độ hưng phấn thần kinh” Ông đã chứng minh rằng “một vài cảm xúc thần kinh” Ông đã chứng minh rằng: “Một vài cảm xúc thường xuyên xuất hiện nhờ nâng cao kích thích nơ- ron, một số cảm xúc khác nhờ giảm kích thích, một số cảm xúc thứ ba nhờ các kích thích đạt độ bền vững” [3,
tr 76]
Khi một cảm xúc xảy ra, nó làm nảy sinh một quá trình thần kinh trên vỏ não, gây nên một hưng phấn thần kinh của chất dưới vỏ não và được chuyển hoàn toàn xuống hệ thần kinh thực vật Do đó hoạt động của các tuyến nội tiết thay đổi, chiều sâu và nhịp độ làm việc của hệ thống hô hấp và tim mạch bị rối loạn [9, tr 107] Các đáp ứng nội tiết trong cảm xúc giúp cơ thể đối phó với những tình huống khẩn cấp Song nếu đáp ứng ấy diễn ra qua một thời lượng nào đó thì hoạt tính của một
số chất nội tiết cũng tạo điều kiện thuận lợi cho một cảm xúc nào đó dễ dàng xảy ra Tác động lên hệ thần kinh và nội tiết, cảm xúc có ảnh hưởng đến các cơ quan và toàn bộ cơ thể Khi có cảm xúc, trong các cơ của mặt diễn ra những biến đổi sinh lý Khi căm giận hay khiếp sợ quá mức nhịp tim có thể tăng lên 40 lần đập trong một phút Những biến đổi mạnh của các chức năng trong cơ thể trong lúc cảm xúc mạnh
Trang 23Bên cạnh những cảm xúc tích cực có tác dụng thúc đẩy cuộc sống và hoạt động của cá nhân còn những cảm xúc tiêu cực, ảnh hưởng xấu đến các cơ quan tổ chức
mô, hậu quả làm giảm sức làm việc của con người Sợ hãi làm tim đập nhanh hơn, mạch máu hẹp lại, da xanh xao, sự khiếp sợ quá mức có thể dẫn đến tử vong nhanh hơn do bệnh đau tim mạch, vỡ động mạch, tiêu hóa giảm [5, tr 25], [3, tr 23]
Cảm xúc ảnh hưởng đến tri giác
Cảm xúc cũng như các trạng thái động cơ khác, ảnh hưởng đến sự tri giác của con người Một con người đang vui có khuynh hướng tri giác thế giới qua “Lăng kính màu hồng” Còn nét đặc trưng con người đang đau buồn, buồn phiền là khuynh hướng lí giải những nhận xét người khác như những lời chê bai, trách cứ Một người đang sợ hãi có khuynh hướng chỉ nhìn thấy đối tượng gây khiếp đảm (hiệu ứng “Nhãn quang thu hẹp”)
Cảm xúc ảnh hưởng đến trí nhớ, tư duy, tưởng tượng
Trong các nghiên cứu của McClelland, Atkinson (1960) có thấy dự thay đổi trong nội dung tưởng tượng, làm xuất hiện tâm trạng, động cơ khác nhau như những thay đổi trong nội dung tưởng tượng vê những tình huống cần giải quyết bài tập khó hoặc trong cuộc tranh đua làm xuất hiện những mong muốn hoàn thành công việc tốt hơn,…
Trang 2424
Các nhà tâm lí học ở phương Tây cũng như các nhà tâm lý học Macxit ở các thế
kỉ trước đã nghiên cứu và cho thấy rằng cảm xúc ảnh hưởng đến hoạt động nhận thức và trí tuệ của con người Các cảm xúc tiêu cực làm rối loạn quá trình tâm lý Khi buồn rầu, đau khổ, con người tiếp nhận thông tin hay lĩnh hội tri thức kém hơn, hứng thú với ngoại cảnh giảm đi và suy nghĩ trở nên hời hợt…những phản ứng trí tuệ trở nên chậm chạp hơn và các đam mê thường chi phối lý trí
L.X Vugotxki cho rằng: “Cảm xúc không chỉ thể hiện qua nét mặt, điệu bộ cơ thể tác động qua tim mạch mà còn lưu giữ trong các biểu tượng của trí nhớ, trong tưởng tượng của con người Cường độ cảm xúc có ảnh hưởng trực tiếp đến độ bền của trí nhớ Cảm xúc có các ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động trí nhớ của con người
nó có thể làm giảm hoặc tăng tính tích cực của hoạt động này, làm sáng tỏ hoặc lu
mờ, đầy đủ, đúng hoặc biến dạng đi đối tượng, điều đó phụ thuộc vào tính chất, nội cung của các đối tượng tác động” [8, tr 51- tr 52]
Piagie nói đến vai trò của cảm xúc thì ông quan niệm: “Mỗi ứng xử bao gồm hai mặt: mặt năng lượng và mặt nhận thức- cấu trúc Mặt năng lượng là do cảm xúc con người tạo ra, còn cấu trúc hay nhận thức là kết quả của trí tuệ Như vậy cảm xúc và nhận thức không tách rời nhau mặc dù chúng khác biệt nhau”
Cảm xúc và hành động
Theo Daniel Goleman, về bản chất, tất cả những cảm xúc điều xuất phát từ kích thích hành động, đó là những phản ứng tức thì để đối phó với những phản ứng sinh tồn mà sự tiến hóa đã dành cho con người Các nhà nghiên cứu cũng nhận ra rằng, mỗi kiểu cảm xúc chuẩn bị cho thân thể một vài kiểu phản ứng khác nhau như thế nào Ví dụ, sự giận dữ làm máu nổi lên bàn tay, khiến cho một người chiếm lấy nhanh hơn một vũ khí hay đánh kẻ thù và những hormon như adrenalin tiết ra rất mạnh để giải thoát năng lượng cần cho một hành động quyết liệt, sự sợ hãi đưa máu tới các cơ chỉ huy sự vận động của thân thể như các cơ bắp chân, chuẩn bị cho việc chạy trốn và làm cho mặt tái đi do máu được truyền đi nơi khác [2, tr.26- 29]
Các tác giả Nguyễn Xuân Thức, Nguyễn Quang Uẩn đều có chung một cách nhìn rằng cảm xúc chính là động lực thúc đẩy con người hành động, là nhân tố điều
Trang 2525
khiển hành vi và hành động cá nhân Cảm xúc có khả năng làm nảy sinh ra một năng lượng tinh thần mạnh mẽ, thúc đẩy con người hoạt động tích cực hoạt động để thực hiện mục đích Từ lâu con người đã thấy rằng, hiệu quả của bất cứ công việc nào phần lớn và trước hết phụ thuộc vào thái độ của người đó đối với công việc ấy Nếu con người có thái độ tốt đúng với hoạt động thì hiệu quả của hoạt động đó sẽ cao, ngược lại nếu thái độ không tốt thì hiệu quả công việc hạn chế
Các nhà nghiên cứu điều cho rằng những cảm xúc tích cực có ảnh hưởng tốt đến thao tác nhận thức, giúp con người có nhiều năng lượng và hoạt động có hiệu quả hơn, giải quyết vần đề một cách sáng tạo hơn Đồng thời cảm xúc tích cực giúp con người vượt qua khó khăn thử thách, giải quyết vấn đề sáng suốt hơn
1.2.1.4 Trí tuệ cảm xúc
a Định nghĩa trí tuệ cảm xúc
Peter Salovey và Jonh Mayer là những người đầu tiên đưa ra định nghĩa về trí tuệ cảm xúc Theo đó trí tuệ cảm xúc được hiểu là khả năng hiểu rõ cảm xúc bản thân, thấu hiểu cảm xúc của người khác, phân biệt được chúng và sử dụng chúng để hướng dẫn suy nghĩ và hành động của bản thân
Trong cuốn sách “Sự phát triển cảm xúc và trí tuệ cảm xúc”, P Salovey đã nêu lại định nghĩa về trí tuệ cảm xúc như sau: Trí tuệ cảm xúc bao gồm khả năng tiếp nhận đúng, đánh giá và thể hiện cảm xúc, khả năng đánh giá và phân loại những cảm xúc giúp định hướng cảm xúc nhằm gia tăng sự phát triển cảm xúc và trí tuệ
Tác giả Daniel Golemam đưa ra định nghĩa về trí tuệ cảm xúc: “Trí tuệ cảm xúc là năng lực nhận biết các cảm xúc của mình và người khác, năng lực tự thúc đẩy và năng lực điều hành tốt các cảm xúc trong bản thân mình và trong các mối quan hệ với người khác” Ông quan niệm rằng: “Trí tuệ cảm xúc bao gồm năng lực tự kiềm chế, kiểm soát lòng nhiệt tình, sự kiên trì và năng lực tự thôi thúc bản thân mình” Trí tuệ cảm xúc là khả năng nhận thức và thấu hiểu những cảm xúc của bản thân cũng như những người xung quanh và khả năng vận dụng nhận thức này để kiểm soát hành vi và những mối quan hệ của bạn [22]
b Biểu hiện của trí tuệ cảm xúc:
Trang 2626
Có nhiều quan niệm khác nhau về biểu hiện của trí tuệ cảm xúc
Theo tác giả P Salovey, trí tuệ cảm xúc biểu hiện ở:
- Khả năng thấu hiểu những cảm xúc của chính mình
- Khả năng phát hiện và đặt tên từng cảm xúc riêng của mình và của người khác; khả năng phân tích, phê phán và truyền đạt rõ ràng các cảm xúc
- Khả năng thấu cảm đồng cảm, đánh giá đúng thúc đẩy và truyền cảm hứng, khuyến khích và an ủi người khác
- Khả năng đưa ra quyết định thông minh, tạo ra sự cân bằng giữa cảm xúc
và lý trí, không quá nghiêng về bên nào; làm chủ các mối quan hệ người, dễ dàng tiếp xúc với người khác; tức là khả năng đặc biệt để quản
người-lý các cảm của mình
Theo H.Steve, có ba dấu hiệu để nhận dạng loại trí tuệ này:
- Biết cảm xúc của bản thân cũng như của người khác và biết hành động sẽ xảy ra khi có cảm xúc đó
- Biết nguyên nhân dẫn đến các cảm xúc tích cực và tiêu cực Biết cách chuyển các cảm xúc tiêu cực thành tích cực
- Nhận thức được cảm xúc, sự nhảy cảm và những kỹ năng quản lý cảm xúc, giúp con người tăng tối đa hạnh phúc trong cuộc sống
Theo Daniel Golemam, trí tuệ cảm xúc bao gồm năm năng lực xã hội và cảm xúc
cơ bản:
- Tự nhận thức: Hiểu được những điều chúng ta đang cảm nhận ở hiện tại
và vận dụng những cảm nhận đó để định hướng cho các quyết định của chúng ta; có một sự đánh giá thực chất về năng lực bản thân và có ý thức rất cơ bản về sự tự tin
- Tự điều chỉnh: Làm chủ cảm xúc để chúng ta thuận lợi chứ không phải ngăn cản công việc săp tiến hành; tận tâm và tạm ngưng sự tự thỏa mãn
để đeo đuổi các mục tiêu; hồi phục kịp thời sau khi bị khủng hoảng về tình cảm
Trang 2727
- Động cơ thúc đẩy: Sử dụng những điểm yêu thích nhất của bản thân để làm việc hướng chúng đến mục tiêu của mình, nhằm giúp chúng ta đưa ra sáng kiến và cố gắng cải thiện và duy trì trước những nổi thất vọng, thất bại
- Thấu cảm: Hiểu được những điều mà mọi người đang cảm nhanh thấy, có khả năng nhìn nhận được triển vọng của họ, nuôi dưỡng mối quan hệ và hòa hợp với nhiều kiểu người khác nhau
- Kỹ năng xã hội: Làm chủ cảm xúc tốt trong các mối quan hệ và hiểu chính xác tình hình xã hội và hệ thông xã hội; tạo ảnh hưởng lẫn nhau thật trôi chảy; vận dụng các kỹ năng này để theo đuổi và dẫn dắt, thương lượng và giải quyết các mối tranh chấp; vì sự hợp tác và nhóm làm việc Theo Travis Bradberry và Jean Greaves thì biểu hiện của trí tuệ cảm xúc gồm bốn
kỹ năng và chia thành hai nhóm: năng lực cá nhân (kỹ năng tự nhận thức và kỹ năng làm chủ bản thân), năng lực xã hội (kỹ năng nhận thức xã hội và kỹ năng làm chủ mối quan hệ) [22]
- Tự nhận thức (hay còn gọi là Nhận thức về bản thân): là khả năng bạn nhận biết một cách chính xác về cảm xúc của mình ngay khi nó xảy ra và hiểu mình có khuynh hướng làm gì trong tình huống đó Tự nhận thức bao gồm việc kiểm soát được những phản ứng thông thường của bản thân đối với những sự việc, thách thức và đối tượng cụ thể
- Làm chủ bản thân: là khi bạn quyết định hành động hay không hành động Nó phụ thuộc vào sự tự nhận thức của bạn và là yếu tố thứ hai trong năng lực cá nhân Làm chủ bản thân là khả năng vận dụng nhận thức về cảm xúc của chính bạn để luôn linh hoạt và hành động đúng đắn
Nó còn có nghĩa là khả năng kiểm soát được những phản ứng cảm tính của bạn trước những trường hợp và con người cụ thể
- Nhận thức xã hội: là yếu tố đầu tiên trong năng lực xã hội, nhận thức xã hội là kỹ năng nền tảng Nhận thức xã hội là khả năng nhận biết chính
Trang 28Nhận biết cảm xúc là yếu tố quan trọng để phát triển trí tuệ cảm xúc Nếu không nhận biết chính xác những trạng thái cảm xúc đang diễn ra, con người sẽ không biết được mình cần làm gì, kiểm soát cái gì, xử lý cảm xúc của mình ra sao Theo lý thuyết về sự thông minh cảm xúc cần quan tâm đến hai đối tượng sau: nhận biết cảm xúc của chính bản thân và nhận biết cảm xúc của người khác
Cảm xúc bao giờ cũng có lý do của nó, cảm xúc phản ánh những trải nghiệm trong cuộc sống của bạn và chúng luôn bắt nguồn từ một nguyên do nào đó Nhận biết cảm xúc - gọi tên được cảm xúc - hiểu và mô tả chính xác cảm xúc là cơ sở để
từ đó có những phương cách xử lý đối với các cảm xúc
Nhận biết cảm xúc chính xác giúp con người thể hiện được nhu cầu, động cơ của mình ra bên ngoài để người khác hiểu Ngoài ra nhận biết chính xác cảm xúc giúp chúng ta có những cách hành xử phù hợp
Vậy trong nghiên cứu này khái niệm nhận biết cảm xúc được hiểu như sau: “Nhận biết cảm xúc là khả năng nhận diện - hiểu cảm xúc của chính bản thân và người khác để có những ứng xử phù hợp với những cảm xúc ấy trong mọi tình huống cuộc sống”
1.2.1.6 Thể hiện cảm xúc
Trang 2929
Theo từ điển Tiếng Việt thể hiện là làm cho thấy rõ nội dung trừu tượng nào đó bằng một hình thức cụ thể Ví dụ được tặng quà trong ngày sinh nhật thể hiện sự vui
vẻ ra bên ngoài qua khuôn mặt tươi cười
Những trạng thái cảm xúc như vui, buồn, tức giận, xấu hổ, ngạc nhiên, sợ hãi mà chúng ta thấy ở một người nào đó chính là sự thể hiện cảm xúc ra bên ngoài bằng những phương tiện khác nhau
Theo Damiel Golemam, ông cho rằng cảm xúc thúc đẩy hành động, đặc biệt là ở trẻ em Những điều diễn ra bên trong thân thể và não cho thấy mỗi trạng thái cảm xúc chuẩn bị cho thân thể một kiểu phản ứng khác nhau:
- Sự giận dữ làm cho máu dồn tới bàn tay, khiến người ta thể hiện một hành động nào đó rất quyết liệt Ví dụ: có thể đánh người
- Sự sợ hãi đưa máu tới các cơ quan chỉ huy sự vận động của thân thể, như bắp chân khiến người sợ bỏ chạy, làm cho mặt tái đi do máu dồn đi nơi khác, khiến thân thể tê liệt trong một khoảnh khắc
- Sự vui sướng được đặc trưng bằng sự hoạt động tăng lên của trung tâm não nhằm ức chế những tình cảm tiêu cực và làm tăng lên năng lượng hiện có, cũng như làm chậm lại hoạt động của trung tâm gây lo lắng
- Sự ngạc nhiên làm lông mày nhướn lên, tầm nhìn mở rộng luồn ánh sáng lọt tới võng mạc tăng lên
- Sự căm ghét luôn gây ra bực mình Biểu hiện của khuôn mặt là môi trề xuống ở hai cạnh còn mũi hơi nhăn lại
- Sự buồn rầu giúp người ta chịu sự tổn thất đau đớn làm năng lượng suy sút và giảm niềm hứng khởi đối với mọi người trong cuộc sống Khi buồn thường làm cho con người dễ bị tổn thương và suy sụp
Vậy mỗi trạng thái cảm xúc có những biểu hiện và cách thể hiện ra bên ngoài bằng những hành động khác nhau Vậy trong nghiên cứu này cụm từ thể hiện cảm xúc được định như sau: “Thể hiện cảm xúc là những biểu hiện hành động ra bên ngoài của những rung động, những phản ứng cảm xúc đơn giản của con người trong một tình huống cụ thể và tương ứng với trạng thái cảm xúc mà chủ thể đang có”
Trang 3030
1.2.1.7 Kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc
Kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc là một kỹ năng sống vô cùng quan trọng đối với con người Cảm xúc được kết nối với hành vi, khi nhận diện được cảm xúc bản thân hay của người khác chính xác giúp ta hiểu và thể hiện cảm xúc, điều chỉnh cảm xúc cho phù hợp với hành vi
Kỹ năng nhận biết và thể hiên cảm xúc chính là biểu hiện của trí tuệ cảm xúc Từ
đó chúng tôi đi sâu phân tích những biểu hiện của kỹ năng cảm nhận và thể hiện cảm xúc như sau:
Kỹ năng nhận biết cảm xúc
Nếu như không nhận biết được các loại cảm xúc - tên gọi cảm xúc của chính bản thân và người khác cho thật đúng với bản chất của nó, có nghĩa là làm mất đi chức năng thông tin của cảm xúc thì những kỹ năng khác nếu có được cũng không đem lại lợi ích gì
Kỹ năng nhận biết cảm xúc bao gồm: kỹ năng nhận biết cảm xúc của bản thân và
kỹ năng nhận biết cảm xúc của người khác
Biểu hiện của kỹ năng nhận biết cảm xúc bản thân:
- Hiểu được bản thân đang có cảm xúc gì (vui, buồn, tức giận, sợ hãi…)
- Có thể mô tả trạng thái cảm xúc của bản thân cho người khác hiểu
- Ý thức rất rõ những thay đổi trong trạng thái cảm xúc của bản thân, từ đó
có thể điều khiển kiểm soát cảm xúc bản thân
- Thấy được những thay đổi của cơ thể trong những tình huống bản thân có cảm xúc
- Biết được nguyên nhân hay thấy được khi nào bản thân sắp có cảm giác thất vọng, sợ hãi, giận dữ,…
Biểu hiện của kỹ năng nhận biết cảm xúc của người khác:
- Có thể nhận ra cảm xúc của người khác như vui, buồn, tức giận, sợ hãi, ngạc nhiên, xấu hổ
- Có thể nhận ra các dấu hiệu cho thấy người khác sắp nổi giận
- Nhạy cảm với những tình huống liên quan đến cảm xúc
Trang 3131
- Nhạy cảm với bầu không khí cảm xúc của nhóm
Kỹ năng hiểu cảm xúc của bản thân và người khác
Đây là khả năng hiểu được cảm xúc: Hiểu thấu đáo những xúc cảm- nguyên nhân, hậu quả, quá trình phát triển và thay đổi như thế nào qua thời gian
Biểu hiện của kỹ năng hiểu cảm xúc:
- Hiểu những nguyên nhân dẫn đến những trạng thái cảm xúc của bản thân
- Hiểu những nguyên nhân cảm xúc của người khác
- Hiểu được hậu quả của những cảm xúc bản thân
- Hiểu được hậu quả của những cảm xúc người khác
Kỹ năng làm chủ cảm xúc bản thân và điều khiển, kiểm soát cảm xúc của mình và người khác
Đây là khả năng bản thân có thể làm chủ cảm xúc bản thân và điều khiển, kiểm soát cảm xúc cho phù hợp với hoàn cảnh nhất định hay qua đó có thể điều khiển cảm xúc của người khác theo chiều hướng tích cực,…
Biểu hiện của kỹ năng làm chủ cảm xúc bản thân, điều khiển và kiểm soát cảm xúc bản thân:
- Thành thạo trong việc kiểm soát những cảm xúc mạnh mẽ của bản thân
- Có thể giữ cho tâm trạng được vui vẻ ngay cả khi công việc không thuận lợi
- Không để cho trạng thái cảm xúc chi phối hành vi của bản thân
- Những trạng thái cảm xúc của bản thân, người khác khó nhận ra được Biểu hiện điều khiển, kiểm soát cảm xúc của người khác:
- Khi người khác nổi giận có thể làm cho họ bình tĩnh lại
- Khi người khác buồn phiền, chán nản có thể làm cho họ vui vẻ
- Có thể an ủi, xoa dịu những căng thẳng của người khác
- Khi người khác thất vọng, chán nản có thể khích lệ, động viên, tạo động
cơ làm việc cho họ
Từ những biểu hiện của kỹ năng cảm nhận và thể hiện cảm xúc ở trên chúng ta kết luận: “Kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc là khả năng nhận diện - hiểu cảm xúc
Trang 32* Biểu lộ cảm xúc: Một trong các quá trình liên quan đến phát triển cảm xúc là
biểu lộ cảm xúc Ở giai đoạn rất sớm của cuộc sống, trẻ sơ sinh có khả năng biểu lộ một mức độ cảm xúc rộng rãi khác nhau bao gồm: thích thú, mỉm cười, khó chịu và đau đớn Vào khoảng 2 hay 3 tháng tuổi trẻ biểu hiện được sự buồn rầu và giận dữ, ngược lại sự sợ hãi xuất hiện vào lúc trẻ được 6-7 tháng tuổi Cùng với sự phát triển gia tăng về nhận thức sau năm đầu đời, trẻ có thể biểu lộ được những cảm xúc phức tạp hơn như là sự khinh rẻ, xấu hổ, e thẹn và tội lỗi Sự biểu lộ cảm xúc xuất hiện bị ảnh hưởng nhiều bởi người chăm sóc Trẻ nhũ nhi bắt chước trực tiếp cảm xúc của người chăm sóc và ngược lại người chăm sóc củng cố một cách có chọn lọc đối với những biểu lộ trên khuôn mặt trẻ nhỏ, ví dụ: Trẻ cười theo kiểu này thì nét mặt của người chăm sóc thay đổi theo một kiểu nào đó và lặp lại nhiều lần, các bà mẹ đáp ứng một cách khác nhau đối với sự biểu lộ giận dữ ở những trẻ nhũ nhi trai và gái
* Ghi nhận cảm xúc (Emotion recognition): Trẻ em có thể thăm dò khuôn mặt
của người chăm sóc nhằm có được các gợi ý về ý nghĩa của các sự kiện xảy ra xung quanh chúng: “Điều này an toàn hay nguy hiểm?” Trẻ nhỏ thường nhìn xem việc biểu lộ cảm xúc của những người xung quanh chúng để diễn giải thậm chí đối với
cả trải nghiệm nội tâm của chính trẻ Ví dụ: Trẻ nhỏ bị ngã, tùy theo sự biểu lộ cảm xúc của cha mẹ là báo động hay bình tĩnh mà trẻ bắt đầu khóc nhè hay bỏ qua mà chơi tiếp Ghi nhận cảm xúc đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển các quan hệ xã hội khỏe mạnh và là điều kiện tiên quyết để có được sự thấu cảm và
hành vi tiền xã hội
Trang 3333
* Hiểu đƣợc cảm xúc (Emotion understanding ): Đây là phần tương tác giữa
phát triển nhận thức và phát triển cảm xúc Nhiệm vụ quan trọng của phát triển là có khả năng nhận dạng, hiểu được và lí giải được cảm xúc của chính bản thân mình và
về người khác Hiểu được cảm xúc là tâm điểm đối với sự phát triển trong bối cảnh
cá nhân bao gồm: Quan điểm về bản thân và có vai trò trung tâm trong việc phát triển về đạo đức và quan hệ với người khác, bao gồm sự thấu cảm và thành thạo về
xã hội Chỉ khi việc biểu lộ cảm xúc được gia tăng qua kiểm soát có ý thức trong quá trình phát triển, trẻ lớn hơn có khả năng phản phản ánh và hiểu được cảm xúc của mình với mức độ phức tạp và sâu sắc hơn, ví dụ: Trẻ ở tuổi đi học hiểu được rằng có thể trải nghiệm nhiều hơn một loại cảm xúc ở cùng một thời điểm, cảm xúc xuất hiện bên ngoài các tình huống đặc biệt, trải nghiệm giống nhau có thể gợi lên
những cảm xúc khác nhau ở những người khác nhau
* Điều chỉnh cảm xúc (Emotion regulation): Là khả năng theo dõi, đánh giá và
bổ trợ đáp ứng cảm xúc của chính mình nhằm để hoàn thành một nhiệm vụ (Thompson, 1994) Điều chỉnh cảm xúc cần phải có khả năng để định dạng, hiểu được và làm nhẹ đi cảm xúc của mình khi thích hợp Điều chỉnh cảm xúc có thể liên quan đến việc ức chế hoặc làm dịu bớt các phản ứng cảm xúc, ví dụ: Trẻ có thở sâu, đếm đến 10 nhằm giúp trẻ bình tĩnh khi đối mặt với cảm xúc khó chịu Điều chỉnh cảm xúc cũng có thể liên quan đến việc gia tăng cường độ thức tỉnh cảm xúc nhằm
để đạt được một mục tiêu Ví dụ: Trẻ có thể gia tăng sự tức giận nhằm để có được can đảm đứng trước một kẻ bắt nạt, hoặc trẻ có thể gia tăng các cảm xúc tích cực bằng cách nhớ lại hoặc tái diễn lại một kinh nghiệm vui vẻ Thực chất, điều chỉnh cảm xúc cho phép trẻ là “Ông chủ của chính mình” – theo cách nói của một thân
chủ trẻ em [30]
Cha mẹ góp phần vào các kỹ năng điều chỉnh cảm xúc của trẻ bằng cách đáp ứng
một cách nhạy bén với sự khó chịu của trẻ và giữ được cảm xúc ở mức độ có thể chấp nhận được vì thế cảm xúc có thể xử lí được (Kopp, 2002 ) Qua quá trình phát triển, trẻ có thể tiếp tục các chức năng điều chỉnh này nhằm để tham gia vào việc tự
Trang 3434
xoa dịu (self –soothing) và điều hòa cảm xúc của chính trẻ Khi cùng với các dạng
tự điều chỉnh khác, các chức năng mà trẻ dựa vào cha mẹ lúc khởi đầu trở thành nội
hóa nhờ thế mà trẻ có thể thực hiện những kỹ năng này cho chính trẻ
Theo H.Steve, dấu hiệu để nhận dạng loại trí tuệ cảm xúc là:
- Biết cảm xúc của bản thân cũng như cảm xúc của người khác và biết hành động
- Hiểu được cảm xúc: Trẻ có khả năng hiểu và thấu cảm được các loại cảm xúc, đồng thời biết nguyên nhân và hậu quả của các loại cảm xúc ấy
- Tạo ra cảm xúc :Trẻ có khả năng diễn tả và đáp lại cảm xúc của người khác Thông qua đó, trẻ biết lắng nghe, thông cảm và chia sẻ với người khác
- Quản lí cảm xúc: Trẻ có khả năng tự quản lí được cảm xúc của mình, cư xử hợp lí để dễ dàng hòa đồng với tập thể Không để những trạng thái cảm xúc chi phối hành vi bản thân, có thể giữ vững tâm trạng vui vẻ khi công việc không thuận lợi [4]
1.2.3 Kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi
1.2.3.1 Đặc điểm tình cảm cấp cao của trẻ mẫu giáo
Trang 3535
Trong lứa tuổi mẫu giáo, cũng như trong lứa tuổi vườn trẻ, tình cảm thống trị tất
cả các mặt trong cuộc sống của đứa trẻ, khiến cho chúng có một màu sắc và một bộ mặt riêng Đứa trẻ nhỏ vẫn chưa biết điều khiển những tình cảm của mình, nó hầu như luôn luôn là tù nhân của tình cảm xâm chiếm nó
Đến 3 tuổi, thời gian đầu, tình cảm và cảm xúc của trẻ chưa có tính ổn định, mau thay đổi Trẻ có thể rất thích thú một thứ gì đó nhưng cũng rất dễ dàng chán Các
em có thể khóc rồi cười nhanh chóng Sự biểu hiện bên ngoài của các tình cảm ở trẻ mang tính chất mạnh mẻ hơn, trực tiếp và không chủ định hơn, tâm trạng của trẻ không kéo dài, dễ bộc phát nhưng cũng dễ tiêu tan Tình cảm của trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi mặc dù bộc lộ rõ ràng, nhưng còn phụ thuộc rất nhiều hoàn cảnh và không ổn định Đứa trẻ vẫn chưa có khả năng thông cảm và lo lắng lâu dài tới người khác ngay cả đối với người thân thiết
Tình cảm của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi đã mang tính ổn định, phong phú và sâu sắc hơn rất nhiều so với những lứa tuổi trước Trẻ trải nghiệm nhiều trạng thái cảm xúc, tình cảm, hướng tình cảm của mình tới nhiều đối tượng khác nhau Trẻ luôn thèm khát sự yêu thương, trìu mến của cha mẹ, dễ tủi thân nếu không được quan tâm Trẻ cũng bộc lộ tình cảm của mình mạnh mẽ và rõ ràng hơn đối với mọi người, luôn tỏ
ra thông cảm, an ủi người khác Đứa trẻ đã ý thức được những hành vi nào là đúng, hành vi nào là sai, biết thông cảm và lo lắng cho những người thân [12]
Nét đặc biệt trong đời sống tình cảm của trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi là sự hình thành tương đối rõ nét của các bậc tình cảm như: tình cảm trí tuệ, tình cảm đạo đức, tình cảm thẩm mỹ…
- Tình cảm trí tuệ: Trẻ có tính tò mò, ham hiểu biết Trẻ muốn đi sâu tìm hiểu sự vật, nhưng do hiểu biết còn hạn chế không lường trước được hậu quả của hành động nên trẻ có biểu hiện tàn ác với động vật như dẫm chân lên bọ dừa, xé rách cánh bướm, bóp cổ mèo con Dưới sự hướng dẫn của người lớn, sự tò mò của trẻ được thể hiện đúng đắn hơn, hợp lí hơn
Trang 3636
- Tình cảm thẩm mỹ:
Tình cảm hài hước: Trẻ cảm thấy buồn cười khi gặp sự việc vô lí, bất ngờ, trái
với diễn biến bình thường của sự vật Ở trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi, trẻ cười vui vẻ khi nghe câu pha trò, phát hiện ra sự không phù hợp ở bên ngoài, bản thân trẻ cũng pha trò bằng cách nhăn mặt, nói câu pha trò, đặt tên khác cho đồ vật Đến trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi, trẻ cười cả khi thấy sự không phù hợp trong hành vi của người khác, những thiếu sót trong các tri thức kỹ năng của ai đó Chẳng hạn trẻ thấy buồn cười khi bạn hát sai, trả lời sai, đọc thơ sai, sự ngu ngốc của chó sói hay cười người hậu đậu
Do hạn chế về hiểu biết cho nên trẻ có thể có phản ứng không phù hợp, trẻ cười cả khi không nên cười như khi thấy người đứng tuổi bị ngã
Khả năng cảm nhận cái đẹp: Trẻ mẫu giáo 3- 4 tuổi cảm nhận vẻ đẹp bằng vẻ
bề ngoài của sự vật, hiện tượng Chẳng hạn, trẻ cho các vật có màu sắc sặc sỡ, lấp lánh là đẹp Trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi có thể hiểu được cái đẹp tinh tế hơn Trẻ có thể cảm nhận được cái đẹp của sự hài hòa về màu sắc, đường nét, sự mềm mại của điệu múa, nhịp điệu, giai điệu của bản nhạc Các hiện tượng thiên nhiên, phong cảnh, ngày hội, ngày lễ gây ra cho trẻ các rung động mạnh mẽ
Tình cảm thẩm mỹ thể hiện ở chỗ trẻ biết yêu thích cái đẹp xung quanh, mong muốn làm ra cái đẹp để mang đến niềm vui cho chính mình và cho mọi người Ở tuổi này, trẻ rất thích những loại hình nghệ thuật, những bức tranh đẹp, những bài hát hay, những câu chuyện đầy chất huyền thoại đều rất dễ cuốn hút lòng say mê của trẻ và để lại những ấn tượng sâu đậm trong tâm hồn Do vậy, giáo dục bằng nghệ thuật đối với lứa tuổi này là phương pháp giáo dục có hiệu quả nhất
- Tình cảm đạo đức: Trẻ mẫu giáo 3- 4 tuổi phấn khởi khi được người lớn khen,
buồn khi bi người lớn quở trách Tuy nhiên trẻ buồn hay tự hào không phải vì bản thân hành vi, cử chỉ của trẻ mà vì nội dung lời đánh giá của người lớn Ở trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi, trên cơ sở lĩnh hội được các chuẩn mực đạo đức, các quy tắc hành vi,
Trang 3737
hình thành khả năng tự ý thức, bản thân việc trẻ có thực hiện hay không các chuẩn mực đạo đức cũng bắt đầu gây cho trẻ niềm vui sướng, tự hào hay xấu hổ ngay cả khi trẻ chỉ có một mình, không một ai biết đến cử chỉ của nó [12]
1.2.3.2 Biểu hiện kỹ năng nhận biết và thể hiện của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi
a Biểu hiện kỹ năng nhận biết cảm xúc của trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi
Kỹ năng nhận biết và hiểu cảm xúc của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi biểu hiện như sau: Trẻ bắt đầu nhận thức thế giới xung quanh tìm hiểu những hậu quả từ những hành
vi của mình, hiểu được cái gì là xấu, cái gì là tốt Ngoài ra ở trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thường thấy những biểu hiện của thái độ quan tâm thực sự đối với những người thân, thấy những cử chỉ nhằm tránh cho họ mọi sự lo lắng và buồn rầu Ví dụ: Một đứa trẻ hiểu rằng nếu nó không biết vâng lời ba mẹ, cô giáo thì sẽ làm cho họ buồn Khi đứa trẻ gặp một sự việc vô lí, bất thường, những điều không phù hợp trong hành vi, những thiếu xót trong các tri thức của bản thân hoặc người khác nó bắt đầu hiểu ra và cảm thấy buồn cười, đây chính là tình cảm hài hước của trẻ Ví dụ: Khi đứa trẻ thấy bạn trai đội nón của bạn gái, nó nhận ra sự bất hợp lí và cảm thấy buồn cười
Trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi đã xuất hiện những tình cảm tự hào và xấu hổ Trẻ bắt đầu lĩnh hội các chuẩn mực, các quy tắc hành vi, sự hình thành tự ý thức ở lứa tuổi mẫu giáo dẫn tới chỗ bản thân việc thực hiện hay không thực hiện các chuẩn mực này bắt đầu được đứa trẻ thể nghiệm, bắt đầu gây ra niềm vui sướng, tự hào hay ngược lại, sự đau khổ, sự xấu hổ ngay cả khi chỉ có một mình đứa trẻ và không một ai biết
cử chỉ của nó Ví dụ: Đứa trẻ cảm thấy tự hào khi mình là người làm toán nhanh nhất lớp [12]
Trong “Chương trình giáo dục mầm non” và “Bộ chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi” cũng
đề cập đến kỹ năng nhận biết và hiểu cảm xúc của trẻ: Nhận biết một số cảm xúc (
Trang 38b Biểu hiện kỹ năng thể hiện cảm xúc của trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi
Kỹ năng diễn tả và bộc lộ cảm xúc của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi biểu hiện như sau: Trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi thể nghiệm một cách mạnh mẽ sự âu yếm, sự khen ngợi, mặc khác nó cũng thể nghiệm mạnh mẽ sự buồn rầu mà người ta gây ra cho nó, sự bất công đối với nó Ví dụ: Trẻ thường thể hiện những tình cảm âu yếm, sự quan tâm thông cảm đối với người thân Chính vì lòng yêu mến và thái độ âu yếm đối với người thân mà trẻ thường tức giận và phẫn nộ chống lại những người xúc phạm họ Đứa trẻ vô tình đặt mình vào địa vị của người mà nó gắn bó, thể nghiệm sự đau đớn bất công mà người này phải chịu như là đau đớn của chính mình vậy Đứa trẻ còn
có những cử chỉ nhằm tránh cho họ mọi sự lo lắng và buồn rầu Ngoài ra trẻ còn thể hiện lòng yêu mến và sự thông cảm đối với những đứa trẻ khác Ví dụ: Khi trẻ thấy bạn thân khóc, nó sẽ an ủi và tỏ ra thông cảm với bạn
Trẻ biết thông cảm với tất cả những người bất hạnh khi nghe những câu truyện, trẻ tức giận vì những hành động của các nhân vật tiêu cực, mong muốn bảo vệ nhân vật mà chúng yêu thích
Trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi đã biết thể hiện sự lo lắng và sợ hãi Ví dụ: Trẻ sợ sấm sét,
sợ chuột, sợ bóng tối, sợ những lời dọa nạt Sự sợ hãi của trẻ không chỉ dừng ở đó, trẻ bắt đầu biết sợ hãi thay cho người khác Sự sợ hãi cho người khác xuất hiện khi không có gì đe dọa đứa trẻ, nhưng nó sợ hãi thay cho những người mà nó yêu mến Đây chính là sự thông cảm, đồng cảm của đứa trẻ đối với người khác
Trang 3939
Trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thể hiện tình cảm hài hước khi nó gặp một sự việc vô lý, bất ngờ nào đó trái với sự diễn biến bình thường của sự vật, hay là chúng thấy những điều không phù hợp trong hành vi của người khác, những thiếu sót trong những tri thức và kỹ năng của họ
Trong lứa tuổi mẫu giáo, biểu hiện bên ngoài của các tình cảm của trẻ em cũng
có những biến đổi căn bản Thứ nhất, đứa trẻ dần dần nắm được kỹ năng kiềm chế những biểu hiện mạnh mẽ và đột ngột của các tình cảm ở một mức độ nào đó Khác với trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi, trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi có thể kiềm nước mắt, không thể hiện sự sợ hãi…Thứ hai, trẻ nắm được “ngôn ngữ” của tình cảm- nắm được những hình thức thể hiện những sắc thái tinh tế nhất của các tình cảm bằng ánh mắt, nụ cười, nét mặt, điệu bộ, tư thế, cử động, ngữ điệu của giọng nói [12]
Trong “Chương trình giáo dục mầm non” và “Bộ chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi” cũng
đề cập đến kỹ năng thể hiện cảm xúc của trẻ: Biết bộc lộ cảm xúc: Vui, buồn, sợ hãi, tức giận, ngạc nhiên và xấu hổ; biết an ủi và chia vui với người thân và bạn bè; thay đổi hành vi và thể hiện cảm xúc phù hợp với hoàn cảnh; biết kiềm chế cảm xúc tiêu cực
Qua những biểu hiện trên chúng tôi thấy trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi đã biết diễn tả và bộc lộ cảm xúc của bản thân, biết an ủi chung vui với người khác Trẻ dần biết kiềm chế các cảm xúc tiêu cực
1.2.4 Kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi trong
“Chương trình giáo dục mầm non” và trong “ Bộ chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi” 1.2.4.1 Nội dung kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc của trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi trong “Chương trình giáo dục mầm non”
Trong “Chương trình giáo dục mầm non”, kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc được thể hiện trong lĩnh vực “Giáo dục phát triển tình cảm và kỹ năng xã hội”, bao gồm những nội dung sau:
Trang 4040
- Nhận biết được một số trạng thái cảm xúc: Vui, buồn, sợ hãi, tức giận, ngạc nhiên, xấu hổ qua tranh; qua nét mặt, cử chỉ giọng nói của người khác
- Biết biểu lộ cảm xúc: Vui, buồn, sợ hãi, tức giận, ngạc nhiên, xấu hổ
- Biết an ủi và chia vui với người thân và bạn bè
- Biết cách để giải quyết mâu thuẫn (dùng lời, nhờ sự can thiệp của người khác, chấp nhận nhường nhịn) [26]
1.2.4.2 Nội dung kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi trong “Bộ chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi”
Kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc thuộc chuẩn 9 trong “Bộ chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi”, bao gồm những nội dung cụ thể như sau:
* Kỹ năng nhận biết các trạng thái cảm xúc vui, buồn, ngạc nhiên, sợ hãi, tức giận
và xấu hổ của người khác
- Trẻ gọi tên và giải thích được cảm xúc vui, buồn, ngạc nhiên, xấu hổ của cô giáo, bạn bè
- Nói lên được các trạng thái cảm xúc vui, buồn, ngạc nhiên, sợ hãi, tức giận và xấu
hổ khi xem tranh hoặc nghe hát, kể truyện
- Nhận ra các sắc thái cảm xúc vui, buồn, ngạc nhiên, sợ hãi, tức giận, xấu hổ qua
sự thể hiện của cô giáo
* Biết bộc lộ cảm xúc vui, buồn, tức giận, sợ hãi, ngạc nhiên, xấu hổ;
- Biết cách chia sẻ cảm xúc của bản thân qua lời nói như: “Con rất vui”, “Con đang buồn” với cô giáo, bạn bè
- Thể hiện thái độ cảm xúc của bản thân qua cử chỉ như khi sợ thì thu mình lại
- Thể hiện thái độ cảm xúc của bản thân qua nét mặt như cười, nhíu mày, mặt đỏ…
- Biết biểu lộ cảm xúc ra bên ngoài thông qua các hoạt động một cách thường xuyên