Bằngphương pháp mô tả thống kê, sử dụng số liệu điều tra Mức sống hộ gia đình và số liệu điều tra Doanh nghiệp, chương này mô tả một số đặc điểm cơ bản về tiền lương của người lao động t
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được Chuyên đề tốt nghiệp này, em đã nhận được sự hướngdẫn tận tình của TS.Cao Xuân Hòa và sự giúp đỡ của các anh chị tại Trungtâm Thông tin, Phân tích và Dự báo Chiến lược – Viện Khoa học Lao động và
Xã hội
Em xin chân thành cảm ơn
Trang 2Đối với nước ta, trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung bao cấp trướcđây, do không thừa nhận sức lao động là hàng hóa, không thừa nhận có thịtrường lao động, và do vậy tiền lương không được coi là giá cả của hàng hóasức lao động Lúc này tiền lương được coi là một phần của thu nhập quốc dânđược nhà nước phân phối có kế hoạch cho người lao động tương ứng với sựđóng góp của họ Bản chất tiền lương trong nền kinh tế này khác căn bản vớitiền lương trong nền kinh tế thị trường Mặc dù tiền lương cũng có chức năng
là thước đo giá trị, đòn bẩy kinh tế kích thích sản xuất phát triển, nhưngkhông triệt để và đúng nghĩa của nó Chủ nghĩa phân phối bình quân, càobằng, chia nhau cái nghèo có thể làm cho tiền lương thực hiện được chứcnăng xã hội rất tốt là tạo được sự bình đẳng xã hội, nhưng lại triệt tiêu độnglực kích thích người lao động
Khi chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, chính sách tiềnlương khu vực có quan hệ lao động được cải cách, đổi mới theo định hướngthị trường Khi đó, tiền lương từng bước thực hiện đúng các chức năng của nótrong điều kiện kinh tế thị trường, có sự hoạt động của thị trường lao động
Trang 3Nhưng việc trả lương cho người lao động phải dựa trên những căn cứ xácđịnh như vào mức độ đóng góp lao động cụ thể của từng người, như vào cungcầu lao động, …
Chính vì lẽ đó nên em chọn đề tài “Một số yếu tố ảnh hưởng đến tiềnlương của người lao động ở Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2004 đến năm2006” cho Chuyên đề tốt nghiệp của mình
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát của nghiên cứu là đánh giá thực trạng tiền lương củangười lao động và chỉ ra một số yếu tố ảnh hưởng đến tiền lương của họ tronggiai đoạn từ năm 2004 đến năm 2006
Kết cấu của đề tài
Ngoài phần Lời mở đầu, Đề tài gồm ba chương chính:
Chương Một làm rõ về cơ sở lý thyết của đề tài Đặc biệt chương này sẽđưa ra mô hình cho cơ sở lý thuyết Đây là những khung khổ lý thuyết chínhđược dùng để phân tích trong phần phân tích định lượng của báo cáo
Chương Hai của đề tài tập trung phân tích thực trạng tiền lương của ngườilao động ở Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2004 đến năm 2006 Bằngphương pháp mô tả thống kê, sử dụng số liệu điều tra Mức sống hộ gia đình
và số liệu điều tra Doanh nghiệp, chương này mô tả một số đặc điểm cơ bản
về tiền lương của người lao động theo một số chỉ tiêu nhất định
Chương Ba của đề tài là chương chính trong nghiên cứu này Bằng phươngpháp định lượng, cụ thể là sử dụng phương pháp mô tả toán học, đề tài sẽ tậptrung vào tìm hiểu một số yếu tố ảnh hưởng đến tiền lương của người laođộng trong giai đoạn từ năm 2004 đến năm 2006
Trên cơ sở của những phân tích của các Chương Một, Hai và Ba, Kết luậncủa đề tài sẽ tóm lược lại những phát hiện chính trong quá trình nghiên cứu
Trang 4 Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phân tích định lượng kết hợp vớitổng quan tài liệu
Sử dụng các phầm mềm hỗ trợ trong tính toán như: SPSS, Stata, Eviews
Trang 5Kinh tế học cho rằng quá trình sản xuất là sự kết hợp các yếu tố đầu vào(vốn, lao động, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên, …) để tạo ra các sản phẩm,dịch vụ đầu ra Vốn và lao động là hai yếu tố đâu vào cơ bản Vốn thuộcquyền sở hữu của một bộ phận dân cư trong xã hội, còn bộ phận dân cư khác,
do không có vốn, chỉ có sức lao động phải đi làm thuê cho những người cóvốn và đổi lại, họ nhận được một khoản tiền gọi là tiền lương
Cùng với sự phát triển của xã hội loài người, khái niệm tiền lương đã dầnđược mở rộng và bao hàm đầy đủ ý nghĩa kinh tế và xã hội Đầu tiên là lýthuyết tiền lương đủ sống (sau này trở thành lý thuyết về tiền lương tối thiểu)xuất hiện từ cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19, cho rằng mức tiền lương của laođộng phổ thông (không có tay nghề) sẽ được xác định ở mức bằng hoặc caohơn rất ít so với mức chi phí tối thiểu cần thiết cho người lao động và gia đình
họ Tiếp theo là lý thuyết “tổng quỹ tiền lương”, cho rằng tiền lương là một
bộ phận của vốn ứng trước và được hình thành trước khi bắt đầu quá trình sảnxuất
Trang 6Với sự phát triển của thị trường lao động và thị trường cạnh tranh hoànhảo vào đầu thế kỷ 20, dựa trên cạnh tranh tự do và quan hệ cung cầu đã xuấthiện lý thuyết năng suất cận biên Lý thuyết này cho rằng người sử dụng laođộng sẽ tiếp tục thuê thêm lao động đến một mức mà giá trị của sản phẩm dongười công nhân cuối cùng mang lại lớn hơn hoặc bằng chi phí tiền lương choanh ta Từ những năm 30 của thế kỷ 20 trở lại đây, với sự ra đời của họcthuyết tiền lương linh hoạt, tiền lương co giãn, tiền lương được coi là yếu tốđạt được trên cơ sở cân bằng cung - cầu lao động Sự ra đời của học thuyếtthỏa ước lao động tập thể, tiền lương được hiểu là kết quả thương thuyết củacác bên có liên quan.
Có thể thấy rằng các lý thuyết về tiền lương đều có ý nghĩa trong nhữnghoàn cảnh nhất định và góp phần lý giải các khía cạnh khác nhau của kháiniệm tiền lương Tuy nhiên, không một lý thuyết nào có thể giải thích đượcmọi tình huống của tiền lương Giá trị lớn nhất của các lý thuyết này là gópphân thiết lập nguyên tắc “trả lương như nhau cho công việc có giá trị nhưnhau”
Tiền lương của người lao động trong doanh nghiệp là sự trả công cho dịch
vụ lao động đã được thực hiện, thể hiện mối quan hệ giữa chủ sử dụng laođộng và người lao động Về nguyên tắc, tiền lương phải trả đúng giá trị dịch
vụ lao động đã được cung ứng (giá cả sức lao động) Trong kinh tế thị
trường, tiền lương trong doanh nghiệp còn chịu tác động của các mức tiềnlương thịnh hành trên thị trường Điều này có nghĩa là tiền lương cần đuợc trả
dựa theo quan hệ cung cầu trên thị trường lao động Tuy nhiên, tại các quốc gia áp dụng hệ thống tiền lương tối thiểu, các doanh nghiệp không được trả lương cho người lao động thấp hơn mức tiền lương tối thiểu theo luật định
(luật về tiền lương tối thiểu) Ngoài ra, trong việc hình thành các mức tiềnlương trong doanh nghiệp, ngoài người lao động và người sử dụng lao động
Trang 7còn có vai trò của tổ chức đại diện người lao động (công đoàn) trong việc
đàm phán và thương thảo tiền lương (thông qua cơ chế thỏa thuận) Trong
khi quy luật cung - cầu lao động chi phối nhiều đến mức tiền lương trongngắn hạn, thì khả năng thương thuyết của các bên lại quyết định mức tiềnlương trong dài hạn Bên cạnh đó, mức lương còn chịu sự tác động điều chỉnhcủa chính phủ như luật thuế thu nhập cá nhân, luật bảo hiểm xã hội và quyếtđịnh của trọng tài Lúc này, tiền lương không chỉ đơn thuần mang ý nghĩakinh tế mà còn có nội dung xã hội Trong một số trường hợp, tiền lương cònđược dùng trong các cuộc vận động chính trị, tranh cử và thu hút cử tri
Tiền lương của người lao động trong doanh nghiệp là số tiền (hoặc hiệnvật) mà người sử dụng lao động trả cho người lao động về sự cung ứng dịch
vụ lao động cho doanh nghiệp Tiền lương có thể được trả theo thời gian haytheo sản phẩm Tiền lương thời gian trả cho công nhân trên cơ sở số giờ, ngày, tuần hay tháng làm việc, còn tiền lương sản phẩm trả theo khối lượng côngviệc hoàn thành Dù trả theo thời gian hay theo sản phẩm thì tiền lương cũngcần được xem xét trên hai khía cạnh: tiền lương danh nghĩa và tiền lương thựctế:
- Tiền lương danh nghĩa là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho
người lao động vì những đóng góp lao động của họ
- Tiền lương thực tế là giá trị lượng các loại hàng hóa tiêu dùng và dịch vụ
mà người lao động có thể mua được bằng lượng tiền danh nghĩa nhận được Tiền lương thực tế không chỉ phụ thuộc vào tiền lương danh nghĩa mà cònphụ thuộc vào giá cả các hàng hóa tiêu dùng và dịch vụ Tiền lương danhnghĩa tăng không có nghĩa là tiền lương thực tế tăng nếu tốc độ tăng giá caohơn tốc độ tăng tiền lương
1.2 CÁC CĂN CỨ XÁC ĐỊNH TIỀN LƯƠNG
Các căn cứ chủ yếu bao gồm:
Trang 8 Các quy định về tiền lương của Nhà nước.
Thông thường các quy định của nhà nước là yêu cầu bắt buộc và là giớihạn tối thiểu mà các doanh nghiệp cần phải tuân thủ Các quy định của nhànước về tiền lương bao gồm tiền lương tối thiểu, cơ chế thỏa thuận tiền lương,thỏa ước lao động tập thể, các quy định về tiền lương khác mang tính bắtbuộc
Hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một biến số quan trọng của tiền lương, thểhiện khả năng trả lương của doanh nghiệp Các biến số quan trọng nhất vềhiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp liên quan đến tiền lương lànăng suất lao động, lợi nhuận, thị phần Một số nghiên cứu cho thấy lợi nhuậntăng lên 10% thì sẽ làm cho tiền lương tăng lên 1% Trong phân phối tiềnlương và thu nhập tại doanh nghiệp, việc căn cứ vào hiệu quả sản xuất kinhdoanh là nhằm đảm bào hài hòa lợi ích giữa người lao động với lợi ích củadoanh nghiệp
Cung cầu lao động và các mức lương trên thị trường lao động
Trong nền kinh tế thị trường, tiền lương là biều hiện của giá cả sức laođộng Tiền lương chịu sự chi phối của quan hệ cung cầu lao động, chi phí laođộng trong doanh nghiệp, cũng như các loại chi phí đầu vào khác Quan hệcung cầu lao động ảnh hưởng trực tiếp đến tiền lương của doanh nghiệp vàđược thể hiện như sau:
- Khi cung cầu lao động trên thị trường lao động đạt mức cân bằng thì tiềnlương có xu hướng dừng lại ở mức tiền lương cân bằng
- Khi cầu lao động tăng lên và mức cung không tăng lên tương ứng thìmức tiền lương sẽ có xu hướng tăng lên, ngược lại tiền lương sẽ có xu hướnggiảm xuống
Trang 9Trong thực tế, các mức lương đang thịnh hành trên thị trường đối với từngloại lao động là căn cứ quan trọng để các doanh nghiệp quyết định của mình.Trong điều kiện thị trường lao động ngày càng phát triển, việc xác định cácmức lương cạnh tranh ngày càng có ý nghĩa quan trọng đối với các doanhnghiệp.
Mức độ đóng góp lao động của người lao động
Trong thực tế, việc trả lương cho người lao động phải căn cứ vào mức độđóng góp lao động cụ thể của từng người Yêu cầu này xuất phát từ nguyêntắc cơ bản trả lương như nhau cho lao động có giá trị như nhau Giá trị/kếtquả lao động có thể được đo lường thông qua thời gian làm việc thực tế (sốgiờ công hay ngày công), khối lượng (nhiệm vụ) công việc hoàn thành (lượngsản phẩm/công việc hoàn thành), chất lượng công việc hoàn thành theo cácquy định về quy cách, tiêu chuẩn, thời hạn, … Mức độ đóng góp còn phụthuộc vào trình độ chuyên môn, trình độ tay nghề, thâm niên và kinh nghiệmcông tác
Để xác định tiền lương dựa vào mức độ đóng góp (kết quả lao động) của
cá nhân thì 2 việc sau đây cần thiết phải làm: thứ nhất, chức danh phải được
xác định rõ ràng bằng phương pháp đánh giá nghề và công việc; mục tiêu cánhân trong kỳ hạn tiền lương phải được xác định rõ ràng và phải đo đếm
được; thứ hai, phải có hệ thống thẩm định kết quả lao động và phương pháp
xếp lương theo hiệu quả
Một số yếu tố có tính chất khuyến khích
Trong nhóm này có thể kể đến thái độ lao động, tinh thần trách nhiệm và
sự gắn bó đối với doanh nghiệp; tình hình thực hiện an toàn lao động, thâmniên công tác, sự đóng góp đối với doanh nghiệp Một số doanh nghiệp ápdụng các loại phụ cấp thu hút, phụ cấp khuyến khích, tạo điều kiện làm việc,đào tạo, phát triển và thăng tiến nhằm tuyển mộ và giữ chân người tài
Trang 10 Những căn cứ khác.
Ngoài những căn cứ chính nêu trên, tùy theo tình hình cụ thể mà các doanhnghiệp có thể căn cứ vào những yếu tố khác nhau để xây dựng cơ chế tiềnlương như tỷ lệ giữa chi phí lao động so với tổng chi phí sản xuất; các loại kỹnăng mà doanh nghiệp cần có; mức năng suất cá nhân cần có để đạt đượcmức sản lượng đầu ra dự kiến; sự thích hợp của các phương pháp trả lương;những tiến bộ của khoa học công nghệ có ảnh hưởng đến tổ chức và bố trí laođộng; mức độ ổn định kinh doanh và tuyển dụng lao động; tương lai pháttriển của doanh nghiệp; quy mô thị trường lao động; xu hướng biến động củagiá cả sinh hoạt; phong trào công đoàn
1.3 PHÂN PHỐI TIỀN LƯƠNG – MỐI QUAN HỆ GIỮA NGƯỜI LAO ĐỘNG VÀ NGƯỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG
Phân phối tiền lương là nội dung rất quan trọng trong hệ thống quản lý laođộng của doanh nghiệp, nó thể hiện mối quan hệ giữa “làm” và “ăn”, giữa
“đóng góp” và “hưởng thụ” Phân phối tiền lương có mối quan hệ chặt chẽvới phân công, bố trí và sử dụng lao động trong doanh nghiệp Phân phối tiềnlương không chỉ thể hiện mối quan hệ giữa người sử dụng lao động và ngườilao động, mà còn thể hiện mối quan hệ giữa những người lao động với nhau
Nó không chỉ thể hiện mối quan hệ tiền lương trong nội bộ doanh nghiệp, màcòn thể hiện mối quan hệ giữa doanh nghiệp với phần còn lại của xã hội, giữacác doanh nghiệp với nhau, giữa các ngành, các khu vực, các vùng và cácquốc gia với nhau
Phân phối tiền lương có quan hệ chặt chẽ với mức độ đóng góp lao động
và kết quả lao động (trả lương theo thời gian hay theo sản phẩm) Như vậy,phân phối tiền lương có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với cả người lao động
và cả doanh nghiệp
Phân phối tiền lương không chỉ quan trọng đối với người lao động, mà cảđối với người sử dụng lao động và chính phủ
Trang 11- Đối với người lao động: Tiền lương là nguồn thu nhập chính hay duy
nhất, là sự hoàn trả toàn bộ đầu tư vào vốn nhân lực (giáo dục và đào tạo) và
là thước đo phản ánh địa vị xã hội của mỗi người Ở nhiều nước phát triển,nơi mà số người làm công ăn lương chiếm đa số trong lực lượng lao động,tiền lương trả cho người lao động có thể đến 60% thu nhập quốc dân (nationalincome) Người lao động và gia đình họ chủ yếu dựa vào tiền lương để trangtrải các chi phí cho cuộc sống như ăn, ở, mặc và các nhu cầu thiết yếu kháccho cuộc sống Tại các nước đang phát triển, mặc dù còn hiện tượng tiềnlương thấp, tiền lương “không đủ sống”, song tiền lương luôn là vấn đề trungtâm trong mọi cuộc thảo luận về quan hệ lao động;
- Đối với người sử dụng lao động: Chi phí tiền lương nói riêng và chi phí
lao động nói chung là một cấu phần quan trọng của chi phí sản xuất Tiềnlương trong chi phí sản xuất là yếu tố quan trọng để nâng cao hiệu quả sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp Trong mối quan hệ này, tiền lương (chiphí lao động) được so sánh với giá trị gia tăng, hay nói cách khác là tiềnlương phải được so sánh với năng suất lao động Đối với doanh nghiệp, mức
độ chi phí tiền lương (chi phí lao động) thể hiện khả năng tuyển dụng và duytrì lực lượng lao động cần thiết và là chỉ số quan trọng về chính sách quản lýnguồn nhân lực Vấn đề tiền lương luôn là trọng tâm trong các chính sách củadoanh nghiệp;
Đối với chính phủ: Tiền lương là một trong những chính sách kinh tế
-xã hội quan trọng nhằm phân phối và điều tiết thu nhập, phân bố và sử dụng
có hiệu quả nguồn nhân lực Các chính phủ rất quan tâm đến tiêu chuẩn tiềnlương vì chúng có ảnh hưởng lớn đến sự ổn định và bầu không khí trong xãhội Ngoài ra, chính phủ còn là một người sử dụng lao động lớn Ở nhiềunước đang phát triển, chính phủ là người sử dụng lao động lớn nhất, do đóchính phủ rất quan tâm đến các mức lương trên thị trường
Trang 12Mục đích của phân phối tiền lương trong doanh nghiệp là đảm bảo sự côngbằng giữa cống hiến và hưởng thụ Lao động ngang nhau thì hưởng thụ ngangnhau Về mặt kinh tế, mọi quan hệ trao đổi được coi là công bằng khi chúngđược thực hiện theo nguyên tắc ngang giá Sự công bằng trong phân phốihoàn toàn không đồng nghĩa với phân phối bình quân Thực tế, sự phân phốibình quân trong nhiều năm trước đây (ngay cả hiện nay vẫn chưa khắc phụcđược) là một sai lầm và hậu quả của nó là triệt tiêu động lực và phấn đấu củacác cá nhân và tập thể Chính vì thế mà Đảng và Nhà nước ta đã khẳng địnhphải thực hiện nguyên tắc phân phối “Áp dụng hình thức trả lương gắn chặtvới kết quả lao động và hiệu quả kinh tế” Như vậy, để đảm bảo công bằngtrong phân phối tiền lương cần thực hiện nguyên tắc làm công việc gì thìhưởng lương theo công việc đó.
Trang 13CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TIỀN LƯƠNG CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN 2004 - 2006
Chương này mô tả một số đặc điểm cơ bản về tiền lương của người laođộng trong giai đoạn từ năm 2004 đến năm 2006 theo một số chỉ tiêu sau:+ Giới tính của người lao động
+ Nhóm tuổi của người lao động
+ Trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật và số năm đi học củangười lao động
+ Địa bàn cư trú của người lao động
+ Vùng kinh tế của người lao động
+ Ngành kinh tế của người lao động
+ Kinh nghiệm làm việc của người lao động
Chương này tập trung trả lời các câu hỏi sau:
- Ở từng năm tiền lương của người lao động trong các nhóm là bao nhiêu
và biến động như thế nào qua các năm?
- Sự biến động này nói lên điều gì?
Trả lời những câu hỏi này sẽ cung cấp những thông tin rất hữu ích cho việcđánh giá ảnh hưởng của nó đến tiền lương của người lao động ở Việt Namtrong giai đoạn từ năm 2004 đến năm 2006
2.1 ĐẶC ĐIỂM CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG LÀM CÔNG ĂN LƯƠNG
2.1.1 Giới tính
Trang 14Biểu 2.1a Tiền lương bình quân của người lao động chia theo thành thị nông thôn và theo giới tính
Nguồn: Tính toán từ số liệu điều tra Mức sống 2004-2006
Biểu 2.1b Cơ cấu lao động làm công ăn lương chia theo thành thị nông thôn và theo giới tính
Trang 15 Xét tiền lương bình quân của người lao động chia theo thành thị nôngthôn và theo giới tính.
Tiền lương bình quân của người lao động nói chung khu vực nông thônluôn thấp hơn so với khu vực thành thị Năm 2004 tiền lương bình quân thángcủa lao động nữ khu vực nông thôn là 627.51 nghìn đồng, năm 2006 là 838.73nghìn đồng, trong khi đó ở khu vực thành thị tương ứng là: 1,014.91 nghìnđồng và 1,297.04 nghìn đồng Như vậy tiền lương bình quân của lao động nữnông thôn năm 2004 chỉ bằng 61.83 % tiền lương bình quân của lao động nữthành thị, năm 2006 tỷ lệ này tiếp tục tăng lên còn 64.67 %
Năm 2004 tiền lương bình quân tháng của lao động nam khu vực nôngthôn là 748.76 nghìn đồng, năm 2006 là 1,006.92 nghìn đồng, trong khi đó ởkhu vực thành thị tương ứng là: 1,258.43 nghìn đồng và 1,562.04 nghìn đồng.Như vậy tiền lương bình quân của lao động nam nông thôn năm 2004 chỉbằng 59.50 % tiền lương bình quân của lao động nam thành thị, năm 2006 tỷ
lệ này tiếp tục tăng lên còn 64.46 %
Tốc độ tăng tiền lương bình quân của lao động nữ nông thôn cao hơn sovới lao động nữ thành thị Bình quân mỗi năm tốc độ tăng tiền lương bìnhquân của lao động nữ khu vực thành thị giai đoạn 2004-2006 là 13.05 %/năm
so với khu vực nông thôn_15.61 %/năm
Tốc độ tăng tiền lương bình quân của lao động nam nông thôn cao hơn sovới lao động nam thành thị Bình quân mỗi năm tốc độ tăng tiền lương bìnhquân của lao động nam khu vực thành thị giai đoạn 2004-2006 là 11.41
%/năm so với khu vực nông thôn_15.96 %/năm
Xét cơ cấu lao động làm công ăn lương chia theo thành thị nông thôn
và theo giới tính
Cơ cấu lao động làm công ăn lương khu vực nông thôn luôn cao hơn sovới khu vực thành thị Năm 2004 cơ cấu của lao động nữ khu vực nông thôn
Trang 16là 55.11 %, năm 2006 là 56.32 %; trong khi đó ở khu vực thành thị tương ứng
là 44.89 % và 43.68 %
Năm 2004 cơ cấu của lao động nam khu vực nông thôn là 62.99 %, năm
2006 là 62.12 %; trong khi đó ở khu vực thành thị tương ứng là 37.01 % và37.88 %
ở thành thị, đạt 16.43 %/năm
Từ 15-19 là nhóm tuổi có mức tiền lương bình quân tháng ở khu vực thànhthị luôn thấp nhất: từ 688.26 nghìn đồng năm 2004 lên 739.17 nghìn đồngnăm 2006 đồng thời là nhóm tuổi có tốc độ tăng tiền lương bình quân/nămthấp nhất ở thành thị-chỉ đạt 3.63 %/năm
Từ 45-49 là nhóm tuổi có mức tiền lương bình quân tháng ở khu vựcthành thị luôn cao nhất: từ 1,342.14 nghìn đồng năm 2004 lên 1,758.54 nghìnđồng năm 2006 Từ 60 trở lên là nhóm tuổi có mức tiền lương bình quântháng ở khu vực nông thôn luôn thấp nhất: từ 388.89 nghìn đồng năm 2004lên 508.10 nghìn đồng năm 2006
Trang 17Biểu 2.2 Tiền lương bình quân của người lao động chia theo thành thị nông thôn và theo nhóm tuổi
Trang 19Ở mỗi năm, tiền lương bình quân ở mỗi khu vực tăng dần lên theo cấp độhọc vấn từ Chưa đi học tới Từ cao đẳng, đại học trở lên Cá biệt năm 2004,Tốt nghiệp tiểu học có mức tiền lương bình quân ở khu vực thành thị thấphơn so với tiến trình “tăng dần lên” Đồng thời, đây cũng là cấp độ học vấn cómức tiền lương bình quân thấp nhất (719.86 nghìn đồng/tháng) Chênh lệchgiữa cấp độ học vấn có mức tiền lương bình quân cao nhất và thấp nhất ở khuvực nông thôn tăng dần song chậm hơn so với tốc độ tăng chênh lệch này ởthành thị Năm 2004, mức chênh lệch đó ở khu vực nông thôn là 2.56 lần, caohơn chênh lệch ở thành thị (2.19 lần) Đến năm 2006 chênh lệch tiền lươngbình quân ở khu vực nông thôn tăng lên còn 2.92 lần, trong khi chênh lệchtiền lương bình quân ở thành thị là 3.08 lần.
Cấp độ học vấn Tốt nghiệp tiểu học có mức tiền lương bình quân tháng ởkhu vực thành thị năm 2004 thấp nhất cả nước (719.86 nghìn đồng) nhưngnăm 2006 Chưa đi học lại thay thế với mức tiền lương bình quân tháng thấpnhất (679.44 nghìn đồng)
Chưa đi học là cấp độ học vấn có mức tiền lương bình quân tháng ở khuvực nông thôn luôn thấp nhất: từ 448.83 nghìn đồng năm 2004 lên 589.76nghìn đồng năm 2006 nhưng lại là cấp độ học vấn có tốc độ tăng tiền lươngbình quân/năm thấp nhất ở thành thị-đạt –5.78 %/năm Con số này chứng tỏrằng bình quân mỗi năm tiền lương ở khu vực thành thị với Chưa đi học giaiđoạn 2004-2006 giảm với tốc độ 5.78 %/năm
Từ cao đẳng, đại học trở lên là cấp độ học vấn có mức tiền lương bìnhquân tháng ở cả 2 khu vực luôn cao nhất: ở khu vực nông thôn, từ 1,148.39nghìn đồng năm 2004 lên 1,720.24 nghìn đồng năm 2006; ở khu vực thànhthị, từ 1,579.00 nghìn đồng năm 2004 lên 2,092.78 nghìn đồng năm 2006đồng thời là cấp độ học vấn có tốc độ tăng tiền lương bình quân/năm cao nhất
ở cả 2 khu vực (Nông thôn: 22.39 %/năm_Thành thị: 15.13 %/năm)
Trang 20Đã tốt nghiệp cấp 3 là cấp độ học vấn có tốc độ tăng tiền lương bình quântháng thấp nhất ở nông thôn, đạt 11.54 %/năm.
2.1.3.2 Trình độ chuyên môn kỹ thuật
Trang 21Biểu 2.4 Tiền lương bình quân của người lao động chia theo thành thị nông thôn và theo trình độ chuyên môn kỹ thuật
Trình độ chuyên môn kỹ thuật
Tiền lương bình quân tháng (nghìn đồng)
Từ thạc sỹ, tiến sỹ trở lên 1,670.31 1,196.55 1,562.00 2,177.29 1,994.46 2,138.33
Nguồn: Tính toán từ số liệu điều tra Mức sống 2004-2006
Trang 22Không có bằng cấp là cấp độ CMKT có mức tiền lương bình quân tháng ở
cả 2 khu vực luôn thấp nhất: ở khu vực nông thôn, từ 524.91 nghìn đồng năm
2004 lên 682.14 nghìn đồng năm 2006; ở khu vực thành thị, từ 726.60 nghìnđồng năm 2004 lên 839.96 nghìn đồng năm 2006 đồng thời là cấp độ CMKT
có tốc độ tăng tiền lương bình quân/năm thấp nhất ở thành thị-đạt 7.52
%/năm
Từ thạc sỹ, tiến sỹ trở lên là cấp độ CMKT có mức tiền lương bình quântháng ở cả 2 khu vực luôn cao nhất: ở khu vực nông thôn, từ 1,196.55 nghìnđồng năm 2004 lên 1,994.46 nghìn đồng năm 2006; ở khu vực thành thị, từ1,670.31 nghìn đồng năm 2004 lên 2,177.29 nghìn đồng năm 2006 đồng thời
là cấp độ CMKT có tốc độ tăng tiền lương bình quân/năm cao nhất ở nôngthôn-đạt 29.11 %/năm
Đã tốt nghiệp cấp 3 là cấp độ CMKT có tốc độ tăng tiền lương bìnhquân/năm thấp nhất ở nông thôn, đạt 10.30 %/năm
Cao đẳng, đại học là cấp độ CMKT có tốc độ tăng tiền lương bìnhquân/năm cao nhất ở thành thị, đạt 19.78 %/năm
Ở mỗi năm, tiền lương bình quân ở mỗi khu vực tăng dần lên theo cấp độchuyên môn kỹ thuật từ Không có bằng cấp tới Từ thạc sỹ, tiến sỹ trở lên.Ngoại trừ năm 2006, Công nhân kỹ thuật nghề có mức tiền lương bình quân ở
cả hai khu vực đều thấp hơn so với tiến trình “tăng dần lên” (Nông thôn:1,143.88 nghìn đồng, Thành thị: 1,441.76 nghìn đồng) Chênh lệch giữa cấp
độ chuyên môn kỹ thuật có mức tiền lương bình quân cao nhất và thấp nhất ởkhu vực nông thôn tăng dần song nhanh hơn so với tốc độ tăng chênh lệchnày ở thành thị Năm 2004, mức chênh lệch đó ở khu vực nông thôn là 2.28lần, thấp hơn chênh lệch ở thành thị (2.30 lần) Đến năm 2006 chênh lệch tiềnlương bình quân ở khu vực nông thôn tăng lên còn 2.92 lần, trong khi chênhlệch tiền lương bình quân ở thành thị là 2.59 lần
Trang 232.2 VÙNG KINH TẾ
Trong giai đoạn 2004-2006, nếu Đông Nam Bộ là vùng kinh tế có mứctiền lương bình quân tháng ở cả 2 khu vực luôn cao nhất (Nông thôn, từ873.21 nghìn đồng năm 2004 lên 1,168.29 nghìn đồng năm 2006; Thành thị,
từ 1,367.23 nghìn đồng năm 2004 lên 1,679.53 nghìn đồng năm 2006) thìĐồng bằng sông Cửu Long lại là vùng kinh tế có mức tiền lương bình quântháng luôn thấp nhất (Nông thôn, từ 626.21 nghìn đồng năm 2004 lên 794.39nghìn đồng năm 2006; Thành thị, từ 875.09 nghìn đồng năm 2004 lên1,096.45 nghìn đồng năm 2006)
Tây Bắc là vùng kinh tế có tốc độ tăng tiền lương bình quân/năm ở nôngthôn thì cao nhất-đạt 23.14 %/năm, ở thành thị thì thấp nhất-đạt 7.17 %/năm.Trong khi thấp nhất ở nông thôn là vùng kinh tế Bắc Trung Bộ-đạt 8.79
%/năm, cao nhất ở thành thị là vùng kinh tế Đông Bắc-đạt 15.87 %/năm
Trang 24Biểu 2.5 Tiền lương bình quân của người lao động chia theo thành thị nông thôn và theo vùng kinh tế
Nguồn: Tính toán từ số liệu điều tra Mức sống 2004-2006
Trang 252.3 NGÀNH KINH TẾ
Nông, lâm nghiệp là ngành kinh tế có mức tiền lương bình quân tháng ở cả
2 khu vực luôn cao nhất (Nông thôn, từ 499.20 nghìn đồng năm 2004 lên653.16 nghìn đồng năm 2006; Thành thị, từ 540.26 nghìn đồng năm 2004 lên752.42 nghìn đồng năm 2006) Nếu Vận tải, kho bãi, thông tin liên lạc làngành kinh tế có mức tiền lương bình quân tháng ở khu vực nông thôn luôncao nhất (từ 991.51 nghìn đồng năm 2004 lên 1,368.97 nghìn đồng năm 2006)thì Công nghiệp khai thác mỏ lại là ngành kinh tế có mức tiền lương bìnhquân tháng luôn cao nhất ở khu vực thành thị (từ 1,957.36 nghìn đồng năm
2004 lên 2,402.10 nghìn đồng năm 2006)
Xét về tốc độ tăng tiền lương bình quân/năm, ngành kinh tế Sản xuất phânphối điện, khí đốt và nước thấp nhất ở khu vực nông thôn-đạt 3.21%/nămnhưng lại cao nhất ở khu vực thành thị-đạt 18.83 %/năm Trong khi cao nhất
ở khu vực nông thôn là ngành kinh tế Thủy sản-đạt 20.01 %/năm, thấp nhất ởkhu vực thành thị là ngành kinh tế Thương nghiệp- đạt 5.86 %/năm
Trang 26Biểu 2.6 Tiền lương bình quân của người lao động chia theo thành thị nông thôn và theo ngành kinh tế
Ngành kinh tế
Tiền lương bình quân tháng (nghìn đồng)
Thành thị Nông thôn Tổng số Thành thị Nông thôn Tổng số
Công nghiệp khai thác mỏ 1,957.36 893.43 1,186.52 2,402.10 1,166.93 1,589.38 Công nghiệp chế biến 1,105.99 698.22 867.65 1,338.36 959.52 1,109.58 Sản xuất phân phối điện, khí đốt và nước 1,244.36 779.71 1,045.50 1,757.04 830.50 1,479.59
Thương nghiệp 1,163.34 726.84 1,017.03 1,303.60 932.90 1,147.96 Khách sạn, nhà hàng 923.86 655.56 832.83 1,207.37 726.85 1,033.31 Vận tải, kho bãi, thông tin liên lạc 1,523.11 991.51 1,302.88 1,807.29 1,368.97 1,647.31Dịch vụ khác 1,170.81 782.16 980.88 1,586.11 1,049.24 1,328.49
Nguồn: Tính toán từ số liệu điều tra Mức sống 2004-2006
Trang 272.4 SỐ NĂM ĐI HỌC VÀ SỐ NĂM KINH NGHIỆM
2.4.1 Số năm đi học bình quân
Biểu 2.7 Số năm đi học bình quân của người lao động
Nguồn: Tính toán từ số liệu điều tra Mức sống 2004-2006
Số năm đi học ở khu vực nông thôn luôn thấp hơn so với khu vực thànhthị Năm 2004 số năm đi học bình quân của lao động nữ khu vực nông thôn là8.122 năm, năm 2006 là 8.491 năm, trong khi đó ở khu vực thành thị tươngứng là 11.307 năm và 11.541 năm Như vậy số năm đi học của lao động nữnông thôn năm 2004 bằng 71.83 % số năm đi học của lao động nữ thành thị,năm 2006 tỉ lệ này tiếp tục tăng lên còn 73.57 %
Năm 2004 số năm đi học bình quân của lao động nam khu vực nông thôn
là 8.372 năm, năm 2006 là 8.457 năm, trong khi đó ở khu vực thành thị tươngứng là 11.196 năm và 11.286 năm Như vậy số năm đi học của lao động namnông thôn năm 2004 bằng 74.78 % số năm đi học của lao động nam thành thị,năm 2006 tỉ lệ này tiếp tục tăng lên không đáng kể 74.93 %
2.4.2 Số năm kinh nghiệm bình quân