1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

một số giải pháp và kiến nghị nhằm thu hút đầu tư nước ngoài vào tk - td - kt dầu khí

86 328 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số giải pháp và kiến nghị nhằm thu hút đầu tư nước ngoài vào ngành dầu khí
Tác giả Lê Vũ Sao Mai
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Hồng Minh
Trường học Trường Đại Học
Chuyên ngành Ngành Dầu khí
Thể loại Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 1,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặc biệt là với việc tăng nhanh sản lượng khai thác của mỏ Bạch Hổ và các phát hiện dầu khí mới của các Nhà thầu đã và đang đưa vào khai thác đã khẳng định vai trò quan trọng của ngành D

Trang 1

CHƯƠNG 1: THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI VÀO

TÌM KIẾM – THĂM DÒ – KHAI THÁC DẦU KHÍ 1.1 NGÀNH CÔNG NGHIỆP DẦU KHÍ VÀ CÔNG NGHIỆP DẦU KHÍ VIỆT NAM.

1.1.1 Ngành Công nghiệp Dầu khí.

b) Vốn lớn.

Để ứng dụng được những công nghệ cao thì cần phải có một khối lượng vốn đầu tư khá lớn Mọi nhà đầu tư vào lĩnh vực dầu khí đều phải tính đến khả năng sử dụng lượng vốn lớn và ứng dụng công nghệ tiên tiến nhất hiện có

c) Nhiều rủi ro nhưng lợi nhuận cao.

 Nhiều rủi ro.

Các rủi ro trong hoạt động Dầu khí có thể kể đến như: rủi ro về tỉ giá hối đoái, rủi ro về tỉ lệ lạm phát, rủi ro chính trị, giá cả, rủi ro địa chất, địa lí, rủi

ro về kĩ thuật, rủi ro về thị trường cũng như chất lượng dầu khí… Có những quốc gia sau vài chục năm thăm dò dầu khí mới phát hiện được các mỏ dầu khí có giá trị công nghiệp (Canada mất 40 năm, Việt Nam sau gần 30 năm tìm kiếm thăm dò dầu khí mới phát hiện ra các mỏ dầu có giá trị công nghiệp)

Trang 2

Các loại rủi ro đó xuất hiện bất cứ lúc nào, trong bất cứ giai đoạn nào của hoạt động Dầu khí Ví dụ như có mỏ khai thác có triển vọng chứa dầu khí, có các biểu hiện dầu khí nhưng không có giá trị công nghiệp; cũng có thể dầu thô khai thác được lại có hàm lượng lưu huỳnh, phốt pho cao (S, P lớn hơn 0,1%)

… Rủi ro lớn nhất trong hoạt động dầu khí là rủi ro trong Tìm kiếm – thăm

dò Trong đó, rủi ro về trữ lượng và khả năng khai thác là lớn nhất Các hoạt động trong các khâu khác (lọc, hóa dầu, xử lí, vận chuyển, phân phối, kinh doanh sản phẩm dầu khí…) ít chịu rủi ro hơn trong chính bản thân khâu đó, nhưng lại gián tiếp chịu rủi ro do khâu Tìm kiếm – thăm dò mang lại Rủi ro trong Tìm kiếm – thăm dò có thể làm mất toàn bộ vốn đầu tư, còn rủi ro trong các khâu khác của hoạt động đầu tư (lĩnh vực lọc, hoá dầu và chế biến kinh doanh) chỉ có thể làm giảm lợi nhuận của quá trình đầu tư đó

Có thể tạm chia chúng ra làm 4 loại: rủi ro địa chất, rủi ro thương mại, rủi ro kỹ thuật, rủi ro khác, trong đó rủi ro địa chất và rủi ro thương mại là các rủi ro chủ yếu

- Rủi ro địa chất: là những rủi ro liên quan đến địa chất mỏ khai thác, có thể do xác định sai cấu tạo địa chất, xác định sai xác suất tồn tại một tích tụ dầu khí và có khả năng khai thác

- Rủi ro thương mại: Để đánh giá hiệu quả từ việc khai thác dầu khí, thường sử dụng chỉ tiêu NPV:

NPV =

trong đó: R1, R2, R3, Rn – thu nhập ròng nhận được vào cuối năm

1,2,3 (đây là thu nhập sau khi đã trừ thuế và các khoản thu khác)

i – lãi suất chiết khấu (%)

n - số năm đầu tư xác định theo thời hạn đầu tư trong hợp đồng

Việc khai thác dầu khí không đạt được hiệu quả kinh tế, tức là NPV âm, thì được coi là rủi ro thương mại

Trang 3

- Rủi ro kỹ thuật: Việc xác định các tham số cần thiết cho việc khai thác dầu sẽ gây ra các rủi ro kỹ thuật Các tham số (yếu tố) đó là: độ bão hoà dầu, hiệu suất thu hồi, chiều dầy vỉa sản phẩm, hệ số co

- Rủi ro khác: đó là các rủi ro do sự cố xảy ra có tác động tiêu cực đến thu chi tài chính gồm các rủi ro về thiên tai, hoả hoạn, thời tiết và các vấn đề

có liên quan đến chính trị

 Lợi nhuận lớn.

Khi các phát hiện dầu, khí có tính thương mại và đưa vào phát triển, khai thác thì sẽ thu được một khoản lợi nhuận lớn Thông thường, nếu có phát hiện thương mại, chi phí cho một thùng dầu chỉ bằng khoảng 1/3 giá bán Chẳng hạn, khu vực Trung Đông là khu vực có tiềm năng dầu khí lớn, chi phí sản xuất chỉ khoảng 1USD/thùng; trong khi đó giá bán có lúc đạt trên 30 USD/thùng, thậm chí tại thời điểm sốt dầu, giá bán đạt trên 70 USD/thùng

Có thể nói nhờ đặc trưng rất hấp dẫn này mà các nhà đầu tư đã chấp nhận rủi ro để bỏ vốn đầu tư vào hoạt động dầu khí

d) Hợp tác quốc tế.

Xuất phát từ các đặc thù trên: nhiều rủi ro và sử dụng vốn đầu tư lớn cho nên hợp tác quốc tế trở thành một đặc thù mang tính phổ biến của ngành Dầu khí Rất khó có thể tìm thấy một công ty hay quốc gia nào có hoạt động dầu khí lại không có hợp tác quốc tế

Hợp tác quốc tế nhằm mục đích san sẻ rủi ro và tạo ra một khối lượng vốn đầu tư đủ lớn cho hoạt động của mình Tuỳ thuộc điều kiện cụ thể của mỗi nước hay mỗi công ty mà chú ý nhiều hơn tới từng mục tiêu cụ thể Với các nước có tiềm lực lớn về vốn và mạnh về công nghệ thì hợp tác quốc tế chủ yếu nhằm mục đích san sẻ rủi ro Với Việt Nam, do hoạt động dầu khí còn non trẻ nên hợp tác quốc tế vừa để san sẻ rủi ro, vừa để huy động vốn, công nghệ và học tập kinh nghiệm của nước ngoài

Tóm lại : Với quốc gia có nền kinh tế đang phát triển và ngành Dầu khí

mới được hình thành như Việt Nam thì những đặc trưng trên càng được thể

Trang 4

hiện khá rõ nét Khi quyết định đầu tư cho bất kì dự án dầu khí nào, nhà đầu

tư trước hết phải xem xét tới các đặc trưng trên và lượng hóa được các đặc trưng đó (lượng hoá mức độ rủi ro, trình độ công nghệ, vốn đầu tư và lợi nhuận có thể có…)

1.1.1.2 Các công đoạn chính của hoạt động Dầu khí.

Hoạt động dầu khí được chia thành 3 lĩnh vực chính:

 Hoạt động Tìm kiếm - thăm dò - khai thác : Còn gọi là lĩnh vực

Thượng nguồn, hoặc khâu đầu, hoặc UPSTREAM: được tính từ khi bắt đầu các hoạt động khảo sát địa vật lý, xử lí tài liệu địa chấn, khoan thăm dò… cho tới khi đưa dầu hoặc khí lên tới miệng giếng

 Hoạt động vận chuyển – tàng trữ dầu khí : Còn gọi là lĩnh vực

Trung nguồn, hoặc khâu giữa, hoặc MIDSTREAM: là khâu nối liền khai thác với chế biến và tiêu thụ Quá trình phát triển của nó gắn liền với quá trình khai thác dầu khí, bao gồm các kho chứa, các hệ thống vận chuyển bằng đường ống và tàu dầu

 Các hoạt động thuộc lĩnh vực chế biến dầu khí, kinh doanh, phân phối sản phẩm…: Còn gọi là lĩnh vực Hạ nguồn, hoặc khâu sau,

hoặc DOWNSTREAM: Bao gồm các hoạt động lọc, hóa dầu, chế biến dầu và khí Nó được tính từ khi nhận dầu (hay khí) từ nơi xuất của khu khai thác đến quá trình lọc, chế biến, hoá dầu và kinh doanh, phân phối các sản phẩm dầu, khí đó

Tìm kiếm –

thăm dò –

khai thác

Vận chuyển – Tàng trữ

Chế biến – kinh doanh phân phối sản phẩm

Trang 5

Trên thế giới, mỗi công đoạn có sức hấp dẫn riêng của nó; có quan hệ phụ thuộc hoặc quyết định chi phối lẫn nhau Tuy vậy, hoạt động trong lĩnh vực Thượng nguồn có sức hấp dẫn cao nhất (mặc dù có rủi ro lớn) vì thu được nhiều lợi nhuận nhất Trong lĩnh vực Hạ nguồn, đầu tư vào hoạt động kinh doanh, bán lẻ có thể thu được lợi nhuận lớn; còn đầu tư vào lọc dầu ít có sức hấp dẫn và lợi nhuận không cao (đôi khi còn bị lỗ), nhưng người ta vẫn đầu tư vào khâu này vì nhiều mục đích khác nhau, trong đó quan trọng nhất là vì chiến lược an toàn năng lượng và làm tiền đề cho các ngành công nghiệp khác phát triển (ví dụ công nghiệp hoá chất, phân bón…).

Biểu đồ 1: Tỉ trọng thu nhập bình quân từ các khâu của các Tập

đoàn dầu khí lớn (giai đoạn 1985 – 2003)

1.1.2 Ngành Công nghiệp Dầu khí Việt Nam.

1.1.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển.

So với các ngành công nghiệp khác trong nước, ngành Dầu khí được coi

là phát triển sau Tuy nhiên với sự hấp dẫn của nó và sự quan tâm ưu tiên đặc biệt của Đảng và Chính phủ, trong vòng 30 năm trở lại đây, ngành Công nghiệp đặc thù này đã phát triển rất mạnh và trở thành một trong những ngành

có vai trò quan trọng nhất trong nền kinh tế quốc dân hiện nay

Trải qua 30 năm xây dựng và phát triển, ngành Dầu khí Việt Nam đã không ngừng lớn mạnh và trưởng thành, vượt qua nhiều khó khăn thử thách lập nên những thành tựu trên chặng đường tìm kiếm, thăm dò và khai thác

Khai thác65.0%

Hoá dầu6,4%

Lọc dầu28,6%

Trang 6

nguồn tài nguyờn vụ cựng quý giỏ này, phục vụ cụng cuộc phỏt triển kinh tế -

xó hội của đất nước

Cú thể tạm phõn chia tiến trỡnh phỏt triển của ngành Dầu khớ Việt Nam theo cỏc giai đoạn như sau:

 Thời kỳ trước 1975:

Trong giai đoạn này, trong điều kiện đất nước cũn chia cắt, cỏc hoạt động thăm dũ dầu khớ đi theo hai hướng khỏc nhau:

- Ở miền Bắc, với sự giỳp đỡ về tài chớnh và kỹ thuật của Liờn-xụ

và một số nước XHCN Đụng Âu (cũ), Tổng cục Địa chất đó tiến hành một số hoạt động thăm dũ địa vật lý, địa chất tại vựng trũng sụng Hồng Công tác thăm dò đã đợc triển khai tơng đối rộng rãi ở khu vực miền võng Hà nội bao gồm khảo sát địa vật lý và khoan thăm dò Trong khảo sỏt địa vật lý đó ỏp dụng hầu như toàn bộ cỏc kỹ thuật mà Liờn Xụ cú lỳc bấy giờ Thời kỳ đầu (1962-1970) chủ yếu chỉ khoan nông (khoảng dới 150m) nhng sau đó (1974-1975) tiến hành khoan một số giếng khoan sâu (trờn 3000m) ở Thái Bình và

đã có một số phát hiện dầu khí

- Trong khi đú ở miền Nam, hoạt động thăm dũ diễn ra mạnh mẽ hơn: từ khi chớnh quyền Nam Việt Nam ban hành Luật khuyến khớch đầu tư nước ngoài (Luật số 011/70), một loạt cỏc cụng ty của Mỹ, Nhật, Canada đó đầu tư dưới dạng Hợp đồng Nhượng địa để thăm dũ dầu khớ trờn thềm lục địa Nam Việt Nam, và kết quả là một loạt cỏc giếng đó cú phỏt hiện dầu, trong đú giếng cao nhất cho lưu lượng khoảng 2.400 thựng dầu/ngày Năm 1974 công

ty dầu khí Mỹ Mobil đã ký kết với chính quyền miền Nam cũ thăm dò và phát hiện thấy dầu tại các mỏ Bạch Hổ và mỏ Rồng (sau này Xí nghiệp liên doanh dầu khí Vietsovpetro tiếp nhận)

 Giai đoạn từ 1975 đến 1987:

Đõy là giai đoạn từ sau khi thống nhất đất nước đến khi Luật Đầu tư Nước ngoài tại Việt Nam được ban hành

Trang 7

Trong giai đoạn này, hoạt động thăm dũ dầu khớ được đẩy lờn ở mức cao hơn trờn toàn lónh thổ Việt Nam, đặc biệt là về tổ chức, quy mụ, chiều sõu kỹ thuật sau khi Tổng cục Dầu khớ được thành lập vào thỏng 9/1975.

Tiếp theo đú cỏc cụng ty chuyờn ngành đó được thành lập: Cụng ty Dầu khớ I, Cụng ty Dầu khớ II, Cụng ty Địa Vật lý, Viện Dầu khớ, Trường Cụng nhõn Kỹ thuật Dầu khớ, Đoàn Đồng bằng Cửu Long, Cụng ty Vật tư Thiết bị…

Quy mụ và phạm vi hợp tỏc đó được mở rộng: ngoài việc Liờn Xụ giỳp đầu tư thăm dũ mạnh mẽ hơn ở vựng trũng sụng Hồng, ở phớa Nam ta cũng tự đầu tư khoan giếng thăm dũ ở đồng bằng sụng Cửu Long Nhịp độ đầu tư thăm dũ tăng dần với việc gọi vốn đầu tư nước ngoài từ cỏc cụng ty dầu khớ quốc tế (ngoài Mỹ) dưới dạng Hợp đồng Dịch vụ Các hoạt động dầu khí đợc triển khai ra toàn quốc Trong thời gian này, một số công ty t bản nớc ngoài

nh Deminex (Đức), BowValley (Canada), Agip (ý) đã vào thăm dò dầu khí ở thềm lục địa phía nam Mặc dù có một vài phát hiện dầu khí nhng do nhiều lý

do khác nhau các công ty này đều đã hoàn trả diện tích và rút lui

Đỉnh điểm của giai đoạn này là việc ra đời của Xớ nghiệp Liờn doanh Vietsovpetro (1981) với việc phỏt hiện mỏ dầu lớn cho Việt Nam, mỏ Bạch

Hổ (1986) Tấn dầu thụ đầu tiờn đó được khai thỏc tại mỏ Bạch Hổ vào thỏng 6/1986 Đõy là một cỏi mốc đặc biệt quan trọng đỏnh dấu sự phỏt triển của ngành Dầu khớ Việt Nam

Bờn cạnh cỏc hoạt động sản xuất, sự nghiệp hợp tỏc quốc tế trong tư vấn, đào tạo và nghiờn cứu, mặc dự cú sự cấm vận của Mỹ, đó được chỳ trọng và đẩy mạnh Nhờ cú Luật Đầu tư Nước ngoài tại Việt Nam (1987) và chớnh sỏch mở cửa kinh tế của Đảng và Nhà nước, ngành Dầu khớ Việt Nam đó bước vào một thời kỳ phỏt triển mạnh mẽ, đặc biệt là đối với cụng tỏc thăm

dũ khai thỏc

Trang 8

 Giai đoạn từ 1987 đến nay:

Tổng cục Dầu khí được chuyển đổi thành Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam, với tư cách là một Công ty Dầu khí Quốc gia, đã tiến hành ký hàng chục hợp đồng hợp tác kinh doanh thăm dò dầu khí với các công ty dầu khí có danh tiếng trên thế giới

Hệ thống luật pháp điều chỉnh hoạt động dầu khí trong nền kinh tế thị trường đã được hoàn thiện, đảm bảo cho việc đầu tư được ổn định (Luật Dầu khí, Luật Thuế, Luật Lao động…)

Việc hợp tác thăm dò được mở rộng ra với các công ty Mỹ sau khi hết cấm vận đã tạo điều kiện cho việc áp dụng các công nghệ cao trong thăm dò khai thác

Các hình thức hợp đồng được đa dạng hóa với việc ra đời các Liên doanh Điều hành chung

Tháng 4/1995, khí đồng hành từ mỏ Bạch Hổ đã được đưa vào bờ để phát điện tại nhà máy nhiệt điện Bà Rịa, đánh dấu sự ra đời của ngành công nghiệp khí Việt Nam với nhiều triển vọng to lớn

Đặc biệt là với việc tăng nhanh sản lượng khai thác của mỏ Bạch Hổ và các phát hiện dầu khí mới của các Nhà thầu đã và đang đưa vào khai thác đã khẳng định vai trò quan trọng của ngành Dầu khí Việt Nam trong nền kinh tế quốc dân

Khối lượng công tác thăm dò thực hiện được trong vòng 18 năm trở lại đây đã gấp hàng chục lần so với toàn bộ hoạt động trước đó với tổng số vốn đầu tư ước chừng 7,2 tỷ USD

Hiện nay, toàn bộ dầu thô Việt Nam được xuất bán cho các công ty nước ngoài (Nhật, Singapor, Mỹ, Hàn Quốc ) nhưng sau này một phần sẽ được đưa vào chế biến tại nhà máy lọc dầu số 1 ở Việt Nam với công suất 6,5 triệu

Trang 9

tấn/năm, tiếp theo là nhà máy lọc dầu số 2 cũng sẽ được xây dựng, làm cơ sở cho công nghệ hoá dầu ở Việt Nam ngày càng phát triển.

Để xây dựng nền công nghiệp dầu khí Việt Nam phát triển một cách toàn diện, ngoài những dự án có sự đầu tư trực tiếp của nước ngoài trong khâu tìm kiếm thăm dò khai thác và chế biến dầu khí, Tổng công ty dầu khí Việt Nam cũng sẽ chú trọng những dự án phát triển năng lực dịch vụ kỹ thuật cao để nâng cao tỷ trọng doanh thu từ dịch vụ dầu khí của chính Tổng công ty dầu khí Việt Nam và các doanh nghiệp trong nước, mở rộng kinh doanh ở khâu phân phối sản phẩm, tăng cường nghiên cứu khoa học công nghệ phục vụ sản xuất, chú trọng công tác đào tạo cán bộ, mở rộng hợp tác với các cơ sở khoa học và doanh nghiệp trong nước, từng bước có sự lựa chọn tham gia đầu tư ở nước ngoài, xây dựng Tổng công ty Dầu khí Việt Nam ngày càng hoàn thiện

và phát triển, góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

1.1.2.2 Vai trò vị trí của ngành Dầu khí trong tiến trình phát triển và đổi mới nền kinh tế đất nước

Với mức đóng góp đáng kể vào Ngân sách Nhà nước nói chung và kim ngạch xuất khẩu nói riêng, ngành Dầu khí được biết đến là một ngành có đóng góp lớn vào sự phát triển kinh tế chung của đất nước Đến tháng 6/2005, toàn ngành Dầu khí Việt Nam đã khai thác 200 triệu tấn dầu quy đổi Với sản lượng khai thác như vậy, Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam đã thu được 34 tỷ USD từ xuất khẩu dầu thô, đem lại nguồn thu cho ngân sách Nhà nước (NSNN) hơn 18 tỷ USD Chỉ tính riêng 5 năm (2001 – 2005), tổng doanh thu đạt 330 nghìn tỷ đồng, nộp NSNN 200 nghìn tỷ đồng Tính bình quân mỗi năm, ngành Dầu khí đóng góp khoảng 25% NSNN, đứng thứ 3 trong khu vực Đông Nam Á về xuất khẩu và đứng thứ 4 về khai thác dầu thô Hàng năm, thu nhập do khai thác và xuất khẩu dầu thô đứng ở vị trí hàng đầu và chiếm khoảng gần 1/4 trong tổng thu nộp NSNN

Ngành Dầu khí được Đảng và Chính phủ xếp là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn trong tiến trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước,

Trang 10

Tổng công ty Dầu khí cũng được xếp hạng là doanh nghiệp Nhà nước hạng đặc biệt Điều đó phần nào cho thấy vai trò và vị trí của ngành Dầu khí đối với tiến trình phát triển và đổi mới nền kinh tế đất nước.

Có thể tóm tắt một số đóng góp chính của ngành Dầu khí như sau:

- Mang lại nguồn thu ngoại tệ đáng kể cho Ngân sách Nhà nước thông qua việc chia sản phẩm và các loại thuế (thuế tài nguyên, thuế thu nh);

- Thu hút đầu tư nước ngoài vào các hoạt động dầu khí tại Việt Nam;

- Thu hút chuyển giao công nghệ và chuyển dịch kỹ thuật tiên tiến vào Việt nam;

- Tạo ra công ăn việc làm đáng kể cho bản thân cán bộ công nhân viên ngành Dầu khí cũng như một số ngành nghề dịch vụ cho Dầu khí;

- Phát triển mạnh quan hệ hợp tác quốc tế; chúng ta có quan hệ hợp tác với nhiều nước, các công ty, các viện nghiên cứu liên quan đến hoạt động dầu khí;

- Đội ngũ cán bộ của ngành Dầu khí, một bộ phận cấu thành của lực lượng lao động xã hội, được đào tạo, rèn luyện và trưởng thành đáng kể

30 năm qua, Ngành Dầu khí Việt Nam đã không ngừng lớn mạnh với sản lượng dầu khai thác ngày càng tăng, cung cấp năng lượng cho Đất nước

và xuất khẩu, góp phần rất quan trọng trong thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH ở nước ta Ngành Dầu khí Việt Nam đã đóng góp khoảng 400 tỷ đồng xây dựng các công trình phúc lợi công cộng, tu bổ các di tích lịch sử, tích cực tham gia ''Quỹ đền ơn đáp nghĩa'', ''Quỹ vì người nghèo'', ''Quỹ nạn nhân chất độc da cam'' và nhiều quỹ từ thiện khác

1.1.3 Giới thiệu về Tổng công ty Dầu khí Việt Nam.

1.1.3.1 Lịch sử hình thành và phát triển.

Ngành dầu khí Việt Nam có lịch sử hình thành và phát triển hơn 30 năm Trong những năm vừa qua đã đạt được những thành tựu đáng kể trong công tác thăm dò và khai thác dầu khí, trở thành một ngành Công nghiệp mũi

Trang 11

nhọn trong cơ cấu kinh tế nước ta Quá trình hình thành ngành Dầu khí nước

ta gắn liền với sự ra đời của Tổng công ty dầu khí Việt Nam, trải qua những mốc quan trọng như sau:

- Năm 1961: Thành lập Đoàn địa chất 36 trực thuộc Tổng cục Địa chất,

làm nhiệm vụ tìm kiếm - thăm dò dầu khí;

- Năm 1969: Chuyển Đoàn địa chất 36 thành Liên đoàn Địa chất 36;

- Năm 1975: Thành lập Tổng cục Dầu khí Việt Nam trên cơ sở Liên

đoàn Địa chất 36 của Tổng cục Địa chất và một số bộ phận của Tổng cục hoá chất;

- Năm 1977: Thành lập Công ty Dầu khí Việt Nam trực thuộc Tổng cục

Dầu khí làm nhiệm vụ hợp tác tìm kiếm - thăm dò - khai thác dầu khí với nước ngoài tại Việt Nam;

- Tháng 4/1990: Sát nhập Tổng cục dầu khí vào Bộ công nghiệp nặng;

- Tháng 6/1990: Thành lập Tổng công ty Dầu khí Việt Nam trên cơ sở

các đơn vị cũ của Tổng cục Dầu khí;

- Tháng 5/1992: Tổng công ty Dầu khí Việt Nam tách khỏi Bộ công

nghiệp nặng và trực thuộc Thủ tướng Chính phủ Tổng công ty Dầu khí Việt Nam có tên giao dịch quốc tế là PETROVIETNAM;

- Tháng 5/1995: Tổng công ty Dầu khí Việt Nam được Thủ tướng Chính

phủ ra quyết định là Tổng công ty Nhà nước, có tên giao dịch quốc tế là PETROVIETNAM

Tổng công ty Dầu khí Việt Nam là Tổng công ty Nhà nước do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập, hoạt động theo mô hình Tổng Công ty 91, được tiến hành các hoạt động dầu khí trên toàn lãnh thổ, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa và hải đảo thuộc chủ quyền nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và được tiến hành các hoạt động dầu khí ở nước ngoài khi Chính phủ cho phép Mọi hoạt động tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí của các tổ chức cá nhân khác tại Việt Nam chỉ được tiến hành trên cơ sở ký kết hợp đồng với Tổng công ty dầu khí Việt Nam

Trang 12

1.1.3.2 Chức năng nhiệm vụ.

Là công ty dầu khí quốc gia thuộc quyền quản lý của Nhà nước, Petrovietnam được giao nhiệm vụ triển khai thực hiện toàn bộ các hoạt động liên quan đến việc phát hiện, khai thác và làm gia tăng giá trị của nguồn tài nguyên dầu khí tại Việt Nam, tiến hành các hoạt động kinh doanh đa lĩnh vực

và thực hiện các nhiệm vụ khác do Nhà nước giao phù hợp với pháp luật Việt Nam

1.1.3.3 Lĩnh vực hoạt động.

Kể từ khi được thành lập, hoạt động kinh doanh của Petrovietnam đã phát triển mạnh mẽ và rộng khắp, mang lại hiệu quả cao từ khâu đầu đến các khâu sau Hiện nay PetroVietnam có hơn 30 đơn vị thành viên, triển khai các hoạt động liên quan đến công nghiệp dầu khí không chỉ ở lãnh thổ Việt Nam

mà còn cả ở nước ngoài

Các hoạt động chính của PetroVietnam bao gồm:

 Tìm kiếm, thăm dò, khai thác DK

Cơ cấu tổ chức hiện nay của PetroVietnam gồm nhiều đơn vị thành viên

và các công ty liên doanh, hoạt động kinh doanh phát triển bao trùm khắp các lĩnh vực của ngành công nghiệp Dầu khí tại Việt Nam, từ thăm dò và khai thác dầu khí, tàng chứa, vận chuyển, chế biến, phân phối sản phẩm dầu khí, đến các hoạt động dịch vụ, thương mại, tài chính, bảo hiểm dầu khí

Trang 13

 Các công ty thành viên trong lĩnh vực TDKT:

- Công ty Thăm dò Khai thác Dầu khí (PVEP)

- Công ty Đầu tư & Phát triển Dầu khí (PIDC)

- Xí nghiệp Liên doanh Dầu khí Vietsovpetro

Trang 14

TỔNG CÔNG TY DẦU KHÍ VIỆT NAM

BỘ MÁY QUẢN LÍ TỔNG

CÔNG TY

ĐƠN VỊ HẠCH TOÁN PHỤ THUỘC

DNNN HẠCH TOÁN ĐỘC LẬP

ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÁC LIÊN DOANH

Cty Bảo hiểm

Cty Thương mại DK

Trang 15

1.1.3.5 Kết quả sản xuất kinh doanh 5 năm gần đây.

Năm 2005, toàn ngành Dầu khí đạt kim ngạch xuất khẩu hơn 7 tỷ USD, tăng hơn mức kỷ lục đã đạt năm 2004 gần 1,33 tỷ USD, Tổng doanh thu của Tổng công ty tăng 34% Ngành dầu khí cũng đã nộp ngân sách Nhà nước trên 50.000 tỷ đồng, tăng 1.850 tỷ đồng so với năm 2004, tăng khoảng 28% so với năm 2004 Đây là năm thứ 5 trong giai đoạn 2001 – 2005, ngành Dầu khí dẫn đầu các ngành kinh tế cả nước về kim ngạch xuất khẩu và nộp Ngân sách Nhà nước

Trong giai đoạn 2001 - 2005, Tổng công ty dầu khí đóng góp hàng năm khoảng 25% tổng thu ngân sách Nhà nước, doanh thu liên tiếp tăng và tăng mạnh (xem bảng 1), tốc độ gia tăng trữ lượng dầu khí khá cao, góp phần quan trọng bảo đảm an ninh năng lượng cho phát triển kinh tế của đất nước cũng như góp phần quan trọng vào việc hoàn thành kế hoạch kinh tế - xã hội năm

2005 và giai đoạn 2001 – 2005

Trang 17

2001 2002 2003 2004 2005

Trừ: Doanh thu của các đối tác liên doanh (801.318) (827,122) (1.390,630) (1.259.272) (1.308.176)

Trang 18

1.1.3.6 Mối quan hệ giữa hoạt động của TCT và vấn đề Đầu tư nước ngoài.

Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam vừa là đơn vị trực tiếp quản lí hợp hoạt động của các Nhà thầu nước ngoài trong khi đầu tư vào ngành Dầu khí Việt Nam, vừa là đơn vị cùng tham gia trực tiếp vào hoạt động đó dưới hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh, liên doanh với những tỉ lệ % nhất định Ngành Dầu khí không cho phép các nhà đầu tư nước ngoài hoạt động dưới hình thức doanh nghiệp 100%, mà trong tất cả các hợp đồng đều phải có mặt PetroVietnam

PetroVietnam chính là đơn vị hoạch định chính sách, quy hoạch, kế hoạch liên quan đến đầu tư nước ngoài vào ngành Dầu khí Việt Nam, đồng thời tổ chức quản lí giám sát hoạt động, thu hồi lãi dầu và phần lợi nhuận đã thoả thuận, từ đó tổng hợp lại rồi mới nộp cho Nhà nước

1.2 CÔNG TÁC TÌM KIẾM – THĂM DÒ – KHAI THÁC VÀ VẤN ĐỀ ĐTNN VÀO CÁC HOẠT ĐỘNG NÀY.

1.2.1 Công tác Tìm kiếm – thăm dò – khai thác DK.

1.2.1.1 Mô tả.

Một quá trình đầu tư Tìm kiếm - thăm dò - khai thác có thể chia làm 3 giai đoạn chính, thể hiện trên sơ đồ sau:

Trang 19

a) Giai đoạn Tìm kiếm – Thăm dò

a.1 Giai đoạn Thăm dò.

 Nghiên cứu địa chất

- Tái xử lí, tái minh giải tài liệu

- Thu nổ địa chấn (2D, 3D)

- Xử lí tài liệu địa chấn

- Minh giải tài liệu địa chấn

- Đánh giá triển vọng dầu khí (sinh, chắn, chứa…)

Giai đoạn

thăm dò

Đánh giá sơ bộ triển vọng lô hợp đồng

Chọn vùng cấu tạo triển vọng

Khảo sát ĐVL nghiên cứu địa chất

Khoan thăm dò

N.cứu kết quả khoan và đánh giá phát hiện

Đánh giá đối tượng và chọn

vị trí khoan

Thiết kế, gọi thầu chế tạo phương tiện thiết bị

Kế hoạch phát triển, khai thác thử

Lập kế hoạch phát triển tổng thể

Nghiên cứu vỉa

Hoạt động khai thác thứ cấp

Thu gom

xử lý, tàng trữ

Vận hành

và bảo trì giếng

Giai đoạn

khai thác

Khoan khai thác

Lắp đặt phương tiện thiết bị

Vận hành

thử

Đo đếm và giao bán sản phẩm

Trang 20

- Xác định vị trí giếng khoan.

 Xác lập và trình duyệt các báo cáo cần thiết

- Báo cáo đánh giá tiềm năng

- Xác định vị trí khoan và chương trình khoan

- Báo cáo đánh giá tác động môi trường

- Báo cáo thiết kế chi tiết giếng khoan

+ Đấu thầu giàn khoan

+ Đấu thầu tàu dịch vụ, trực thăng

+ Các dịch vụ khác (thử vỉa, bơm trám, thả ống chống, dự báo thời tiết)

- Thi công:

+ Giám sát toàn bộ quá trình thi công

+ Cập nhật thông tin, so sánh với dự kiến

+ Phân tích mẫu

 Lập báo cáo tổng kết

- Xác định tiềm năng dầu khí

- Chương trình thăm dò tiếp theo

- Tuyên bố phát hiện

- Báo cáo hoàn trả diện tích

a.2 Giai đoạn thẩm lượng.

Giai đoạn thẩm lượng thường kéo dài 3 – 5 năm, với mục đích xác định chính xác các cấp trữ lượng dầu khí, các thông số kỹ thuật tầng chứa thuộc khu vực thăm dò nhằm làm cơ sở cho việc thiết kế phát triển và khai thác mỏ

Trang 21

Trong giai đoạn này nhà đầu tư phải thực hiện khối lượng rất lớn, đặc biệt là khoan thẩm lượng Các công việc chính phải làm cũng giống như giai đoạn thăm dò song với mức độ chính xác và chi tiết hơn.

Kết thúc giai đoạn thẩm lượng, Nhà thầu (Chủ đầu tư) phải lập báo cáo đánh giá trữ lượng (Reserves Accessment Report), rồi thông qua PetroVietnam trình Hội đồng trữ lượng Nhà nước phê duyệt

b) Giai đoạn phát triển.

Giai đoạn phát triển được bắt đầu khi hoàn tất RAR Đây là giai đoạn cực

kì quan trọng, đòi hỏi Nhà đầu tư tập trung nhiều nhân lực và vốn nhất

Để phát triển mỏ, trên cơ sở RAR được Chính phủ phê duyệt, Nhà thầu phải lập kế hoạch phát triển mỏ FDP trình PV, bao gồm các nội dung:

- Trữ lượng (phân tích cụ thể các thông số địa chất)

- Giải pháp công nghệ tối ưu (đưa ra các phương án khai thác để lựa chọn phương án tối ưu)

- Đánh giá tác động môi trường

- Chi phí đầu tư (tổng mức đầu tư)

- Tổ chức triển khai (sơ đồ tổ chức, đào tạo nhân lực…)

- Tiến độ thực hiện: nhân lực, thời gian (thông qua chương trình Microsoft Project)

- Đánh giá kinh tế: Hiệu quả kinh tế, độ nhạy…

c) Giai đoạn Khai thác.

Giai đoạn Khai thác bắt đầu từ khi có First Production (first oil, first gas…) Trên thực tế phải cần một giai đoạn chuẩn bị trước từ 6 tháng – 1 năm

Bước vào giai đoạn này, công việc chính của Nhà thầu là:

- Quản lí, giám sát, cập nhật thông tin trong quá trình khai thác

- Đánh giá khả năng khai thác thực tế so với kế hoạch

- Làm các thủ tục cần thiết (cầu, cảng) để xuất hoặc bán sản phẩm

- Kiểm soát dòng tiền, tính chi phí thu hồi, lãi, thuế

Trang 22

- Điều chỉnh kế hoạch cho phù hợp với thực tế.

1.2.1.2 Đặc thù của một Dự án Tìm kiếm - thăm dò - khai thác Dầu khí.

Dự án Đầu tư Dầu khí là dự án có suất đầu tư lớn, rủi ro rất cao

- Khi quyết định đầu tư Dự án vẫn chưa xác định được:

+ Quy mô đầu tư, thị trường tiêu thụ

+ Công nghệ sản xuất, thị trường sản xuất

+ Công suất, chủng loại và chất lượng sản phẩm

- Toàn bộ chi phí đầu tư và vận hành đều được thu hồi lại dưới hình thức thu hồi chi phí theo luật

- Không áp dụng khấu hao tài sản như các dự án thông thường

- Thời gian ngừng khai thác (đóng cửa mỏ) chỉ ước đoán

- Các dự án đầu tư khác, giai đoạn đầu tư sẽ chấm dứt khi dự án chuyển sang giai đoạn khai thác Các dự án đầu tư dầu khí thì ngược lại, để tăng cao hiệu quả đầu tư, giảm thiểu rủi ro…, hoạt động đầu tư thường thực hiện theo hình thức cuốn chiếu

- Để tính được việc đầu tư có hiệu quả hay không cần phải đầu tư một số tiền khá lớn (vài chục triệu USD)

1.2.1.3 Kết quả TK – TD – KT đạt được.

Việt Nam là một quốc gia có tiềm năng Dầu khí, với diện tích thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế gần 1 triệu km2 bao gồm các bể trầm tích Đệ Tam: Sông Hồng, Phú Khánh, Cửu Long, Nam Côn Sơn, MaLay – Thổ Chu,

Tư Chính – Vũng Mây, nhóm bể Trường Sa và Hoàng Sa (Sơ đồ 2)

Trang 23

Sơ đồ 2: Các bể trầm tích Đệ Tam Việt Nam

Hoạt động TKTD Dầu khí ở Việt Nam đã được bắt đầu triển khai ở miền võng Hà Nội từ những năm 60 dưới sự giúp đỡ của Liên Xô cũ Năm 1975,

mỏ khí Tiền Hải C đã được phát hiện ở miền võng Hà Nội và đưa vào khai thác từ năm 1981 cho đến nay Ở thềm lục địa phía Nam, hoạt động TKTD được tiến hành từ những năm 1970 bởi các công ty Dầu khí nước ngoài như Mobil, Pecten, Union Texas,…

Sau khi Tổng cục Dầu mỏ và Khí đốt Việt Nam thành lập vào năm 1975, công tác TKTD được triển khai trên phạm vi cả nước, ở đất liền (miền võng

Hà Nội, Đồng bằng Sông Cửu Long) và thềm lục địa phía nam bằng các hợp đồng đầu khí với các Công ty AGIP (Italia), DEMINEX (Đức) và BOWVALLEY (Canada)

Năm 1981, VietsovPetro ra đời và đến năm 1986 dòng dầu công nghiệp đầu tiên đã được phát hiện ở mỏ Bạch Hổ Hai năm sau (1998) dầu tiếp tục được phát hiện trong móng nứt nẻ trước Đệ tam Sự phát hiện này làm thay

Trang 24

đổi phân bố trữ lượng và đối tượng khai thác tại mỏ Bạch Hổ, góp phần tăng nhanh sản lượng khai thác hàng năm đồng thời đưa ra quan điểm địa chất mới trong thăm dò Dầu khí ở bể Cửu Long nói riêng và ở thềm lục địa Việt Nam nói chung.

Từ khi có Luật Đầu tư nước ngoài (29/12/1987) và Luật Dầu khí (6/7/1993), đã có hàng chục công ty, tập đoàn Dầu khí lớn trên thế giới đầu tư vào TKTD trên toàn thềm lục địa Việt Nam Ngoài các hoạt động TKTD do các Nhà thầu Dầu khí nước ngoài, trong những năm qua PetroVietnam đã và đang tích cực đầu tư, tự điều hành các dự án TKTD ở trong nước và đã có những bước đi ban đầu trong việc đầu tư TKTD Dầu khí ở nước ngoài Cho đến nay, nhiều đề án dầu khí ở nước ngoài đã được ký kết và đang được thực hiện trong đó có các đề án mà PetroVietnam là nhà điều hành Đây là mốc đánh dấu sự trưởng thành vượt bậc của PetroVietnam trên con đường trở thành tập đoàn Dầu khí có hoạt động cả ở trong và ngoài nước

Ở trong nước, đến nay 50 hợp đồng Dầu khí PSC, JOC và BCC đã

được ký kết, trong đó 27 hợp đồng đang hoạt động Tổng số vốn đầu tư TKTD cho đến nay đạt trên 7 tỷ USD Nhiều kỹ thuật và công nghệ mới

tiên tiến được áp dụng đã đem lại thành quả to lớn, tiếp theo việc phát hiện dầu trong móng nứt nẻ trước Đệ tam tại mỏ Bạch Hổ đã phát hiện nhiều mỏ dầu mới như các mỏ Rồng, Hồng Ngọc, Rạng Đông, Sư Tử Đen, Sư Tử Vàng, Sư Tử Trắng (bể Cửu Long), Đại Hùng (bể Nam Côn Sơn) và B10 (miền võng Hà Nội)

Ngoài việc tham gia cùng với các Nhà thầu trong các hợp đồng Dầu khí, trong

thời gian qua PetroVietnam đã và đang tích cực đầu tư, tự điều hành dự án TKTD ở Tư Chính – Vũng Mây, miền Võng Hà Nội, Vịnh Bắc Bộ, Vùng biển

miền Trung (bể Phủ Khánh) và đang khai thác mỏ Đại Hùng, Tiền Hải C; đã khảo sát khoảng 30.000 km địa chấn 2D, 830 km2 địa chấn 3D, và khoan hơn 10 giếng khoan TKTD và thẩm lượng với tổng chi phí khoảng 150 triệu USD và 200 tỷ VNĐ Công tác tự đầu tư đã cho phép đi trước 1 bước trong giải quyết các mục

Trang 25

tiêu các điều tra cơ bản đánh giá tiềm năng Dầu khí phục vụ hoạch định chiến lược TKTD tiếp theo cũng như tạo cơ sở kêu gọi đầu tư nước ngoài Bên cạnh một số kết quả TKTD ban đầu đáng khích lệ (hai phát hiện khí, giếng khoan thẩm lượng 05 – 1 – ĐH 14X cho kết quả 650 tấn dầu/ngày), công tác tự đầu tư đã góp phần nâng cao năng lực điều hành của PetroVietnam.

Bảng 2: Các đề án tự đầu tư TKTD Dầu khí

1 Địa chấn 2D, khoan – Tư Chính 1993 , 1995 12.000km

Qua hơn 40 năm hoạt động TKTD trên lãnh thổ và thềm lục địa Việt

Nam, Ngành Dầu khí và các công ty Dầu khí nước ngoài đã tiến hành khảo sát gần 300.000km tuyến địa chấn 2D, khoảng 30.000km 2 địa chấn 3D, khoan trên 600 giếng khoan thăm dò, thẩm lượng và khai thác (biểu đồ 3, 4) với tổng chi phí trên 7 tỷ USD Đã phát hiện trên 70 mỏ/phát hiện trong

đó có 10 mỏ đang khai thác với tổng sản lượng đang khai thác từ các mỏ này đến tháng 12 – 2005 đạt trên 195 triệu m 3 dầu và 22 tỷ m 3 khí Nhiều phát

hiện Dầu khí khác (ở các bể Sông Hồng, Cửu Long, Nam Côn Sơn, MaLay – Thổ Chu) đã và đang được thẩm lượng và phát triển

Trang 26

Biểu đồ 2 : Kết quả thu nổ địa chấn giai đoạn 1988 – 2004

Biểu đồ 3: Số giếng khoan thăm dò, phát triển theo năm.

Biểu đồ 4: Số giếng khoan TD – TL theo bể trầm tích

Trang 27

Tuỳ thuộc vào độ sâu của giếng khoan, đối tượng và số lượng vỉa thử, nhiệt độ, áp suất và tính phức tạp khác của cấu trúc địa chất mà chi phí giếng khoan cũng biến động theo Chi phí cho 1 giếng khoan dao động trong khoảng 3 - 4 triệu USD (giếng nông ngoài khơi hoặc vùng đất liền Anzoil) đến 30-40 triệu USD (vùng áp suất cao ở bể Nam Côn Sơn) Chi phí trung bình là vào khoảng 9 triệu USD/giếng thăm dò & thẩm lượng ở chiều sâu 3-4 nghìn mét, trong điều kiện bình thường là tương đương với chi phí phổ biến ở khu vực Châu Á Thái Bình Dương.

Trong số gần 600 giếng khoan thăm dò và thẩm lượng thực hiện trong hơn mười năm qua, chỉ có 12 giếng khoan có sự cố nặng (chiếm 9%) phải huỷ giếng, khoan lại hoặc không còn được sử dụng:

Trang 28

Biểu đồ 5: Phân loại sự cố giếng khoan.

Kết quả công tác TKTD trong thời gian qua đã xác định được các bể trầm tích Đệ tam có triển vọng dầu khí: Sông Hồng, Phú Khánh, Cửu Long, Nam Côn Sơn, Malay – Thổ Chu, Tư Chính – Vũng Mây, nhóm bể Trường Sa và Hoàng Sa, trong đó có các bể: Cửu Long, Nam Côn Sơn, Malay – Thổ Chu và Sông Hồng gồm cả đất liền (miền võng Hà Nội) đã phát hiện và đang khai thác dầu khí Tuy nhiên, do đặc điểm hình thành và phát triển riêng của từng

bể trầm tích nên chúng có đặc điểm cấu trúc, địa tầng trầm tích cũng như các điều kiện về hệ thống dầu khí khác nhau, do vậy tiềm năng dầu khí của mỗi

bể có khác nhau với các đặc trưng chính về dầu khí đã phát hiện của các bể như sau:

Trang 29

• Bể Nam Côn Sơn.

Phát hiện cả dầu và khí (tỷ lệ phát hiện khí, khí – condensat cao hơn) trong đó có 2 mỏ đang khai thác là mỏ dầu Đại Hùng và mỏ khí Lan Tây – Lan Đỏ, ngoài ra còn có một số mỏ khí đang phát triển (Rồng Đôi – Rồng Đôi Tây, Hải Thạch,…)

Ở nước ngoài, từ cuối những năm 1990, PetroVietnam đã có chủ trương

và từng bước triển khai đầu tư TKTD dầu khí ở nước ngoài Cho đến nay,

PetroVietnam đã tham gia vào 7 đề án thăm dò khai thác (TDKT) ở nước ngoài, trong đó có 2 đề án là nhà điều hành Các đề án này đang trong giai đoạn thăm dò và thẩm lượng Dự kiến cuối năm 2006 đầu 2007, PetroVietnam sẽ có sản lượng dầu đầu tiên từ các đề án đầu tư nước ngoài

Đây là mốc đánh dấu sự trưởng thành vượt bậc của Tổng công ty Dầu khí Việt Nam trên con đường trở thành tập đoàn Dầu khí có hoạt động ở trong và ngoài nước

Theo đánh giá của Tổng công ty Dầu khí Việt Nam, tổng trữ lượng dầu khí của các phát hiện từ những hợp đồng đầu tư ra nước ngoài hiện đạt 120 triệu m3 quy dầu, trong đó phần mang về nước (tính theo tỷ lệ mà VN tham gia) khoảng 80 triệu m3 quy đổi Tổng công ty đã trực tiếp điều hành 2 dự án tại Iraq và Angeri, tham gia 3 dự án tại Malaysia và 2 dự án tại Indonesia, đang giành quyền lựa chọn tham gia vào 1 dự án tại Mông Cổ Giai đoạn

Trang 30

2005 – 2010, PetroVietnam sẽ đẩy nhanh tiến độ tìm kiếm dự án mới ở nước ngoài để có thể ký được 6 – 7 dự án tìm kiếm thăm dò và khai thác.

Bảng 3 : Các đề án đầu tư TDKT dầu khí ở nước ngoài.

đầu tư

Tỷ trọng tham gia của

PV (%)

Thời điểm tham gia

1 Hợp đồng (HĐ) phát triển mỏ

100 (điều

2 HĐ thăm dò - thẩm lượng dầu khí lô

40 (điều

5 HĐ PSC lô Đông Bắc Madura I Inđônêxia 20 14/10/2003

6 HĐ PSC lô Đông Bắc Madura II Inđônêxia 5 14/10/2003

7 HĐ PSC các lô 19, 21, 22 Tamtsag Mông Cổ 05/11/1999

Như vậy, trong 30 năm qua, đặc biệt kể từ khi có chính sách đổi mới, mở cửa

đến nay, hoạt động TKTD dầu khí đã được PetroVietnam triển khai rẩt tích cực, đồng bộ, toàn diện ở cả trong và ngoài nước, ở cả khu vực các hợp đồng dầu khí (đầu tư nước ngoài) lẫn tự đầu tư, tự điều hành; năng lực quản lý và điều hành công tác TKTD đã có những bước trưởng thành đáng kể và đã mang lại những kết quả quan trọng trong xác định/ gia tăng trữ lượng và sản lượng khai thác dầu khí hàng năm đóng góp quan trọng vào sự phát triển của đất nước

Tuy nhiên, do công tác TKTD chủ yếu dựa vào đầu tư nước ngoài nên mức độ không đồng đều, mới tập trung chủ yếu ở vùng có triển vọng nước nông tới 200m, diện tích các lô đã ký hợp đồng, đã có hoạt động dầu khí chỉ chiếm khoảng 1/3 diện tích toàn thềm lục địa, gần 2/3 diện tích còn lại chủ yếu ở vùng nước sâu, xa bờ,… chưa có tài liệu hoặc mới chỉ nghiên cứu địa vật lý khu vực cần phải được đẩy mạnh công tác TKTD Cạnh tranh trong thu

Trang 31

hút đầu tư nước ngoài vào TKTD trong khu vực rất gay gắt cần tiếp tục hoàn thiện các chính sách khuyến khích các công ty dầu khí quốc tế đầu tư vào Việt Nam Công tác đầu tư, tự điều hành TKTD ở trong và ngoài nước còn nhỏ bé

và chưa đáp ứng yêu cầu do thiếu kinh nghiệm, chưa có hành lang pháp lý phù hợp và hạn chế về cơ chế điều hành hiện hành

1.2.2 ĐTNN vào TK – TD – KT Dầu khí Việt Nam.

1.2.2.1 Vai trò.

Để phát triển ngành Công nghiệp Dầu khí, ít nhất cần 3 yếu tố:

- Nguồn tài nguyên có trong lòng đất

- Công nghệ hiện đại và Nguồn nhân lực trình độ cao để sử dụng hiệu quả công nghệ đó

- Có nguồn vốn Đầu tư đủ lớn để thực hiện các đề án Thăm dò, Khai thác, Chế biến và Phân phối

Việt Nam là một nước đang phát triển, nếu không nói là một nước còn thuộc dạng nghèo Tài nguyên của chúng ta tuy không nhiều nhưng vẫn đủ để phát triển ngành công nghiệp Dầu khí Cái mà chúng ta thiếu chính là công nghệ hiện đại, nguồn nhân lực có trình độ cao và đặc biệt là vốn đầu tư Hằng năm chúng ta cần một lượng vốn cho Đầu tư phát triển là rất lớn, mọi ngành nghề đâu đâu cũng cần đến vốn đầu tư Việc huy động nguồn vốn nội địa cho một ngành tiêu tốn khổng lồ như ngành Dầu khí dù nó mang lại Lợi nhuận rất cao là một điều rất khó khăn Việc thu hút đầu tư nước ngoài không những giải quyết cho chúng ta một phần rất lớn về vốn đầu tư mà còn là cơ hội lớn

để chúng ta học hỏi kinh nghiệm quản lí, tiếp thu khoa học công nghệ hiện đại Vai trò của ĐTNN là quan trọng, và là một đòi hỏi khách quan mà ngành Dầu khí nói riêng và nền kinh tế nói chung rất cần phải có

1.2.2.2 Chủ trương chính sách Đầu tư.

Nhờ có đường lối đổi mới và mở cửa của Đảng, nước ta đã vượt ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế xã hội, bước vào thời kỳ phát triển mới, đặc biệt từ

Trang 32

khi Nhà nước ban hành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (29/12/1987) và Luật Dầu khí (06/7/1993)

Hai bộ luật trên đã tạo ra khuôn khổ pháp lí cơ bản cho việc khuyến khích đầu tư nước ngoài tại Việt Nam nói chung và đầu tư tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí nói riêng trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền và tuân thủ pháp luật của Việt Nam, bình đẳng và cùng có lợi

Ngày 07/11/1998 Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định về khuyến khích đầu tư đối với hoạt động dầu khí tại các vùng nước sâu, xa bờ và khu vực có điều kiện địa lí, địa chất, kinh tế, kỹ thuật đặc biệt khó khăn

Ngày 9/6/2000 Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi bổ sung Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và Luật sửa đổi bổ sung một số điều khoản của Luật Dầu khí đối với Dự án khuyến khích đầu tư

Nội dung cơ bản liên quan đến định chế tài chính nhằm khuyến khích

đầu tư tìm kiếm, thăm dò, khai thác Dầu khí tại các vùng nước sâu, xa bờ và

khu vực có điều kiện khó khăn và các khu vực có dự án khuyến khích đầu tư,

có thể tóm tắt như sau:

Bảng 4: Các định chế tài chính trong lĩnh vực ĐTNN vào TK - TD - KT DK

32% (có thể được miễn thuế 2 năm và giảm 50% 2 năm)

từ 28 – 50% (TTCP quyết định mức thuế cụ thể phù hợp với từng

cơ sở theo đề nghị của BT Bộ TC)

Các điều khoản cơ bản của hợp đồng dầu khí hiện nay:

Trang 33

 Thời hạn của hợp đồng

 Đối với dầu: không quá 25 năm với 5 năm tìm kiếm thăm dò

 Đối với khí: không quá 30 năm với 7 năm tìm kiếm thăm dò

 Diện tích hợp đồng: Không quá 2 lô (hoặc 4 lô trong các trường

hợp đặc biệt)

 Quyền tham gia của PV: Theo thỏa thuận

 Chương trình công tác và ngân sách: Vừa cố định vừa có thể lựa

chọn:

 Thời hạn đối với mỗi giai đoạn tìm kiếm thăm dò

 Cam kết công việc tối thiểu (địa chấn, khoan, v.v…)

 Cam kết tài chính sơ bộ tối thiểu

Chế độ thuế t ài nguyên.

Thuế tài nguyên tùy theo sản lượng khai thác như sau:

Bảng 5: Thuế tài nguyên.

thông thường

Dự án khuyến khích

 Thuế thu nhập doanh nghiệp: Thông thường 50%, 28% đối với

các dự án khuyến khích đầu tư, miễn thuế cho năm đầu và giảm 50% cho năm tiếp theo Chính phủ cũng có thể cho phép miễn thuế 2 năm đầu và giảm 50% cho 2 năm tiếp theo

Trang 34

 Thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài: 3-7%

 Thuế giá trị gia tăng: 0-10% (miễn thuế đối với vật tư thiết bị

nhập khẩu, không sản xuất được trong nước)

 Thuế xuất khẩu: 4% đối với dầu thô, không áp dụng đối với khí

thiên nhiên, thuế được khấu trừ

 Thu hồi chi phí tối đa: Thông thường 50%, 70% đối với các dự án

- Trong hoạt động Dầu khí thì hình thức đầu tư có những nét riêng biệt, tuy vậy vẫn tuân theo Luật Đầu tư nước ngoài đã quy định Các hình thức đầu tư bao gồm doanh nghiệp Liên doanh; hợp đồng phân chia sản phẩm PSC, hợp đồng Liên doanh Điều hành chung JOC, Hợp đồng Hợp tác kinh doanh BCC (tất cả những hình thức này đề là biến dạng của Hợp đồng hợp tác kinh doanh mà Luật đã quy định)

Về khuyến khích và đảm bảo đầu tư

Các quy định về khuyến khích và đảm bảo đầu tư luôn là một nội dung quan trọng của pháp luật về Đầu tư nước ngoài Các quy định về khuyến khích và bảo đảm đầu tư bao gồm các vấn đề chủ yếu sau đây:

Trang 35

- Ban hành các danh mục định hướng đầu tư và quy định quyền tự chủ của nhà đầu tư trong việc lựa chọn cơ hội đầu tư: Nghị định 24/2000/NĐ-CP của Chính phủ đã ban hành 5 danh mục về dự án khuyến khích và đặc biệt khuyến khích đầu tư, địa bàn khuyến khích đầu tư, lĩnh vực đầu tư có điều kiện và lĩnh vực không được cấp phép đầu tư Hoạt động TK - TD - KT thuộc dang mục Dự án khuyến khích đầu tư quy định của Nghị định này, nếu xuất khẩu trên 80% sản phẩm trở lên thì thuộc danh mục dự án đặc biệt khuyến khích đầu tư.

Tóm lại: Khi các nhà đầu tư nước ngoài muốn tham gia đầu tư vào Tìm

kiếm - thăm dò - khai thác Dầu khí tại Việt Nam thì cần phải biết rõ về các chủ trương chính sách như: Hình thức đầu tư, Công tác triển khai dự án và tổ chức kinh doanh, Chế độ kế toán, Bảo hiểm, Quản lí ngoại hối, Quan hệ ngoại hối, Đất đai, Xây dựng, Đấu thầu, Thủ tục cấp giấy phép đầu tư, Đảm bảo đầu

tư, Xử lí tranh chấp… thông qua các văn bản pháp luật sau:

- Luật Đầu tư nước ngoài sửa đổi 9/1996

- Nghị định 24/2000/NĐ-CP, Nghị định 27/2003/NĐ-CP, Nghị định 164/2003/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật Đầu tư nước ngoài

- Luật Dầu khí năm 1993 (đã sửa đổi, bổ sung ngày 9/6/2000)

- Nghị định số 48/2000/NĐ-CP ngày 12/9/2000 quy định chi tiết thi hành Luật Dầu khí

- Nghị định số 34/2001/NĐ-CP ngày 6/7/2001 của Chính phủ ban hành Quy chế đấu thầu dự án Tìm kiếm - thăm dò - khai thác dầu khí

- Quyết định số 216/1998/QĐ-TTg ngày 7/11/1998 của TTCP về khuyến khích đầu tư đối với hoạt động dầu khí tại các vùng nước sâu, xa bờ

và khu vực có điều kiện địa lý, địa chất, kinh tế, kỹ thuật đặc biệt khó khăn

- Quyết định số 41/1999/QĐ-TTg ngày 8/3/1999 của TTCP ban hành Quy chế quản lí an toàn trong các hoạt động dầu khí

- Quyết định số 116/2001/QĐ-TTG ngày 2/8/2001 của TTCP về một số

ưu đãi, khuyến khích đầu tư ra nước ngoài trong lĩnh vực hoạt động dầu khí

Trang 36

- Quyết định số 395/1998/QĐ-BKHCNMT ngày 10/4/1998 của Bộ trưởng Bộ Khoa học, công nghệ và môi trường về việc ban hành Quy chế bảo

vệ môi trường trong việc Tìm kiếm - thăm dò - phát triển mỏ - khai thác – tàng trữ - vận chuyển - chế biến dầu khí và các dịch vụ liên quan

- Quyết định số 229/2001/QĐ-BKH ngày 18/5/2001 của Bộ trưởng Bộ

Kế hoạch và Đầu tư ban hành Danh mục vật tư thiết bị phục vụ hoạt động dầu khí trong nước sản xuất được

- Thông tư số 48/2001/TT-BTC ngày 25/6/2001 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện quy định về thuế đối với các tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt động tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí theo quy định của Luật Dầu khí

- Hợp đồng Liên doanh Điều hành chung (JOC)

- Hợp đồng Địa chấn Độc quyền (S E)

- Hợp đồng Địa chấn Lựa chọn (S O)

- Hợp đồng Hợp tác kinh doanh (BCC)

Việc lựa chọn hình thức hợp đồng áp dụng, đặc biệt là với công việc thăm dò khai thác dầu khí, một lĩnh vực có tầm quan trọng về phương diện kinh tế chính trị là việc làm cần có sự thận trọng

Trong giai đoạn 1988-2000, dạng Hợp đồng Chia Sản phẩm (PSC) đã được lựa chọn là chủ yếu để áp dụng cho việc thăm dò khai thác dầu khí tại Việt Nam Việc lựa chọn này đã tỏ ra hợp lý với việc hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài, đồng thời góp phần tích cực trong quá trình chuyển giao công

Trang 37

nghệ, đào tạo nhân lực và giúp nước chủ nhà hội nhập dần dần với nền công nghiệp dầu khí quốc tế Hình thức đặc biệt của PSC là JOC áp dụng trong những năm gần đây cho thấy PetroVietnam đã trưởng thành, có thể từng bước tham gia điều hành và tiến tới tự điều hành

1.2.2.4 Kết quả ĐTNN vào TK – TD – KT Dầu khí.

Sau hơn 18 năm hợp tác với nước ngoài đầu tư thăm dò tìm kiếm dầu khí dưới dạng Hợp đồng Chia Sản phẩm, với chi phí đầu tư đáng kể (trên 7 tỷ USD), phần lớn từ nước ngoài, ta đã thực hiện được một khối lượng công việc khổng lồ

Kết quả đáng kể nhất là: với khối lượng thông tin kỹ thuật rất lớn thu được từ công tác khoan và nghiên cứu địa chất, địa vật lý, ta đã có được một hình ảnh tổng thể về tiềm năng dầu khí của Việt Nam Các trữ lượng tiềm năng của các bể trầm tích chính như: Cửu Long, Nam Côn Sơn, Sông Hồng, Tây Nam, vùng chồng lấn … cơ bản đã được xác định Điều này đã giúp cho Nhà nước hoạch định chiến lược phát triển kinh tế dài hạn và điều chỉnh chính sách đầu tư

Ngoài các khoản thu về thuế tài nguyên, dầu lãi tiếp tục gia tăng, trong thời gian qua việc ký kết và thực hiện các hợp đồng trên đã tạo ra những khoản thu đáng kể cho Ngân sách Nhà nước, cụ thể ta đã thu được khoảng

520 triệu USD từ Hoa hồng Chữ ký và Tiền Đào tạo do Nhà thầu cung cấp,

Trang 38

180 triệu USD tiền thuế Nhà thầu phụ và thuế Thu nhập cá nhân người nước ngoài phát sinh từ các hoạt động của Nhà thầu

Bảng 6: VÔN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI

Trong lĩnh vực TKTD và KT Dầu khí từ năm 1988 đến 12/2005

Trang 40

Bảng 7: Tình hình thực hiện đầu tư của giai đoạn Tìm kiếm Thăm dò và

Khai thác dầu khí trong giai đoạn 1988 - 2004 (đơn vị USD)

Năm Số

NT

Chi phí thu hồi

Chi phí không thu

Sau khi tăng nhanh vào những năm 1994, 1995, 1996 thì nhịp độ đầu tư bắt đầu giảm dần trong các năm tiếp theo, nguyên nhân giảm chi phí đầu tư trong giai đoạn này là do một số hợp đồng kết thúc không có phát hiện dầu, khí thương mại; số hợp đồng ký mới không nhiều Đầu tư trong các năm từ

1997 – 1999 chủ yếu tập trung vào các Nhà thầu có phát hiện dầu, khí thương

Ngày đăng: 19/02/2014, 11:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2.4.1. Tăng cường công tác nghiên cứu, khảo sát đảm bảo cung cấp những tài liệu tham khảo đầy đủ, đáng tin cậy về các lô cho các nhà đầu tư nước ngoài.Để tạo điều kiện thuận lợi cho các Nhà thầu nước ngoài vào tìm hiểu và xúc tiến đầu tư, PetroVietnam cần có những thông tin cần thiết và chính xác về các lô hợp đồng.Cho đến 12/2005, PetroVietnam đã kí được 50 hợp đồng tìm kiếm, thăm dò và khai thác Dầu khí của tổng số 171 lô. Các lô chưa đầu tư hầu hết có thông tin quá ít hoặc độ rủi ro cao. Do đó để thu hút vốn đầu tư nước ngoài, PetroVietnam cần xúc tiến các hoạt động nghiên cứu tổng hợp tài liệu đã có, đông thời khảo sất thêm lô mới một cách có chọn lọc trên toàn thềm lục địa cũng như đất liền. Thực tế, PetroVietnam chưa có đủ điều kiện để thực hiện tốt công tác này, vì vậy cần thúc đẩy thu hút đầu tư từ các công ty nước ngoài bằng cách ký kết các hợp đồng nghiên cứu chung địa chất, địa vật lý hoặc hợp đồng khảo sát địa chấn một cách không độc quyền; sớm xây dựng cơ sở dữ liệu về địa chất cho từng bồn trũng và toàn thềm lục địa Khác
2.4.2. Đưa ra các điều kiện kinh tế mềm dẻo, thích hợp và hấp dẫn cạnh tranh trong khu vực đối với các mỏ nhỏ, nước sâu, xa bờ, điều kiện địa chất khó khăn.PetroVietnam đã ký hợp đồng và triển khai hoạt động ở phần lớn các lô được đánh giá có triển vọng. Những lô còn lại ít triển vọng hơn, khả năng chỉ có mỏ nhở hoặc ở vùng nước sâu có nhiều yếu tố rủi ro. Hiện nay, số dự án đầu tư nước ngoài vào Tìm kiếm – Thăm dò – Khai thác ở khu vực này còn rất ít. Tình trạng này có nguyên nhân xuất phát từ các chính sách thiếu sự mềm dẻo, linh hoạt, các mức thuế còn cao so với các nước khác. Vì vậy chúng ta cần có những chủ trương chính sách mà đưa ra cấc điều kiện kinh tế mềm dẻo hơn nữa để thu hút nhà đầu tư nước ngoài vào những lô này.Để khuyến khích đầu tư nước ngoài hơn nữa, Nhà nước có thể giảm mức thuế tài nguyên xuống dưới 4% đối với cả dầu và khí, thuế thu nhập doanh nghịêp cũng có thể giảm xuống 25% thay vì mức 28% như hiện nay, cũng như quy định miễn giảm thuế áp dụng như đối với các lĩnh vực đầu tư nước ngoài khác. Tại các khu vực có độ rủi ro cao, ít triển vọng, Nhà nước có thể cho phép PetroVietnam nới lỏng về cam kết công việc và tài chính, cũng như mở rộng khung tỉ lệ thu hồi chi phí và chia dầu lãi. Cũng có thể áp dụng thí điểm dầu lãi và thu hồi chi phí dựa trên tổng sản lượng khai thác hoặc yếu tố IRR, thay vì sản lượng hằng ngày, như một số nước khác Khác
2.4.3. Đào tạo và tái đào tạo nhằm củng cố, nâng cao trình độ chuyên môn, kiến thức cho cán bộ công nhân viên trong Ngành theo kịp với nhịp độ quốc tế.Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư nước ngoài cũng có nghĩa chúng ta phải đàm phán để kí kết được các hợp đồng hợp tác đầu tư nước ngoài với các điều khoản có lợi nhất cho phía Việt Nam mà đối tác có thể chấp nhận được. Muốn vậy, cán bộ trong ngành Dầu khí cần nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, đặc biệt là các cán bộ tham gia đàm phán hợp đồng cũng như các người làm việc trong các ban quản lí dự án. Điều này là vô cùng cần thiết Khác
2.4.4. Đa dạng hoá các hình thức hợp tác.Trong các hình thức Đầu tư nước ngoài vào Dầu khí, căn cứ vào lợi ích thực tế của từng hình thức, có thể thấy rằng Liên doanh điều hành chung JOC là hình thức tiên tiến nhất, đem lại nhiều lợi ích nhất cho ngành Dầu khí, tuy vậy các nhà đầu tư nước ngoài lại không mấy mặn mà. Do vậy cần phải có những chủ trương cũng như tổ chức thực hiện sao cho có thể ngày càng phát triển cả về số lượng các JOC cũng như chất lượng hoạt động của chúng, đặc biệt là chất lượng hoạt động của phía Việt Nam trong các JOC đó.Ngoài việc hợp tác đầu tư theo các hình thức quy định trong Luật Đầu tư nước ngoài, việc hợp tác đầu tư trong lĩnh vực KHCN và Đào tạo, chuẩn bị nhân lực rất quan trọng. Do đó, cần đa dạng hoá việc hợp tác đầu tư với nước ngoài, có thể với các hình thức như sau:- Tranh thủ nguồn vốn từ nước ngoài (đối tác liên doanh).- Mua và chuyển giao công nghệ trực tiếp.- Hợp tác trong lĩnh vự bảo vệ môi trường, xử lí rác thải…- Họp tác trong lĩnh vực đào tạo, tái đào tạo cán bộ kỹ thuật, chuẩn bị nhân lực … Khác
2.4.6. Hoàn thiện hơn nữa các thủ tục hành chính, giảm thiểu thời gian xét duyệt dự án đầu tư.Đây là công tác cần sự phối hợp nhịp nhàng giữa các cơ quan Nhà nước chức năng, bao gồm Thủ tướng Chính phủ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Công nghiệpĐây là vấn đề tồn tại từ những ngày đầu tiên triển khai các dự án đầu tư nước ngoài và ngày càng làm cho các nhà đầu tư mệt mỏi, chán nản mỗi khi vấp phải các thủ tục hành chính từ cấp Trung ương đến địa phương. Như trước đây đã làm và đã làm tốt Nhà nước nên cho phép PetroVietnam tiến hành lựa chọn đối tác hợp tác thông qua hình thức đàm phán một cách mềm dẻo mà không nhất thiết lúc nào cũng phải đưa ra đấu thầu.Một số thủ tục phê chuẩn của Chính phủ nên được uỷ quyền cho PetroVietnam, ví dụ như việc phê chuẩn diện tích phát triển mỏ, chấp nhận gia hạn cho Nhà thầu để hoàn tất cam kết công việc… Bên cạnh đó, Nhà nước cần giảm thiểu thủ tục phiền hà trong việc cấp hạn ngạch nhập khẩu hàng hóa, máy móc, thiết bị phục vụ cho hoạt động Dầu khí. Các thủ tục hoàn thuế VAT cho Nhà thầu cần được cải tiến, tránh tình trạng chiếm dụng vốn quá lâu hoặc gây phiền hà trong việc trình nộp, giải thích các vụ việc.Trong quá trình triển khai hợp đồng, các chi tiêu của Dự án liên quan đến các hợp đồng dịch vụ với giá trị mỗi hợp đồng kể cả các dịch vụ khẩn cấp đều từ vài triệu đến vài chục triệu USD. Như vậy theo quy định tiến hành về thủ tục đấu thầu của các Nghị định 42, 43, 92 và 93/CP được áp dụng cho các dự Khác
2.4.7. Tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư khai thác mỏ khí.Theo kết quả TK – TD, Việt Nam có tiềm năng về khí lớn hơn dầu.Nhưng cho đến nay, các dự án về khí triển khai rất chậm và gặp nhiều trở ngại mà nguyên nhân chủ yếu là do Việt Nam chưa có chính sách xây dựng một thị trường tiêu thụ khí ổn định cũng như chưa có những điều khoản hợp lí trong các hợp đồng đối với mỏ khí.Vì vậy, để đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án khí hiện có cũng như thu hút thêm nhiều vốn đầu tư của nước ngoài vào các mỏ khí, Nhà nước cần có chính sách về thuế, và giá khí linh hoạt để PetroVietnam có thể nhanh chóng đi tới sự thoả thuận trong đàm phán với các đối tác nước ngoài.Đối với dầu mỏ ta chỉ cần khai thác được là có thể bán ngay ra nước ngoài. Khác với dầu, khí khai thác được chưa thể bán ngay ra nước ngoài vì hiện giờ chúng ta chưa có hệ thống đường ống vận chuyển khí quốc tế mà chỉ bán trong nước với khối lượng khiêm tốn. Do đó để phát triển các hoạt động khai thác khí thì trước hết Việt Nam cần tạo ra một thị trường tiêu thụ khí ổn định. Muốn vậy, PetroVietnam cần chủ động trong việc xây dựng hệ thống đường ống dẫn khí tới những khu vực thị trường tiêu thụ khí có tiềm năng phát triển, đồng thời tham gia đầu tư một phần và nghiên cứu kế hoạch xây dựng tổ hợp các nhà máy điện, nhà máy sản xuất Methanol, PVC, PS, PP, phân Ure… Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1: SƠ ĐỒ TỔ CHỨC TỔNG CÔNG TY DẦU KHÍ VIỆT NAM - một số giải pháp và kiến nghị nhằm thu hút đầu tư nước ngoài vào tk - td - kt dầu khí
Sơ đồ 1 SƠ ĐỒ TỔ CHỨC TỔNG CÔNG TY DẦU KHÍ VIỆT NAM (Trang 14)
Sơ đồ 2: Các bể trầm tích Đệ Tam Việt Nam - một số giải pháp và kiến nghị nhằm thu hút đầu tư nước ngoài vào tk - td - kt dầu khí
Sơ đồ 2 Các bể trầm tích Đệ Tam Việt Nam (Trang 23)
Bảng 2: Các đề án tự đầu tư TKTD Dầu khí - một số giải pháp và kiến nghị nhằm thu hút đầu tư nước ngoài vào tk - td - kt dầu khí
Bảng 2 Các đề án tự đầu tư TKTD Dầu khí (Trang 25)
Bảng 3 : Các đề án đầu tư TDKT dầu khí ở nước ngoài. - một số giải pháp và kiến nghị nhằm thu hút đầu tư nước ngoài vào tk - td - kt dầu khí
Bảng 3 Các đề án đầu tư TDKT dầu khí ở nước ngoài (Trang 30)
Bảng 4: Các định chế tài chính trong lĩnh vực ĐTNN vào TK - TD - KT DK - một số giải pháp và kiến nghị nhằm thu hút đầu tư nước ngoài vào tk - td - kt dầu khí
Bảng 4 Các định chế tài chính trong lĩnh vực ĐTNN vào TK - TD - KT DK (Trang 32)
Bảng 5: Thuế tài nguyên. - một số giải pháp và kiến nghị nhằm thu hút đầu tư nước ngoài vào tk - td - kt dầu khí
Bảng 5 Thuế tài nguyên (Trang 33)
Bảng 6: VÔN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI - một số giải pháp và kiến nghị nhằm thu hút đầu tư nước ngoài vào tk - td - kt dầu khí
Bảng 6 VÔN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI (Trang 38)
Bảng 7: Tình hình thực hiện đầu tư của giai đoạn Tìm kiếm Thăm dò và - một số giải pháp và kiến nghị nhằm thu hút đầu tư nước ngoài vào tk - td - kt dầu khí
Bảng 7 Tình hình thực hiện đầu tư của giai đoạn Tìm kiếm Thăm dò và (Trang 40)
Bảng 8: Tổng hợp chi phí đầu tư của các Nhà thầu phân theo hạng - một số giải pháp và kiến nghị nhằm thu hút đầu tư nước ngoài vào tk - td - kt dầu khí
Bảng 8 Tổng hợp chi phí đầu tư của các Nhà thầu phân theo hạng (Trang 41)
Bảng 10: Doanh thu dịch vụ địa phương và tỷ lệ so với vốn đầu tư (Đơn vị: Triệu USD) - một số giải pháp và kiến nghị nhằm thu hút đầu tư nước ngoài vào tk - td - kt dầu khí
Bảng 10 Doanh thu dịch vụ địa phương và tỷ lệ so với vốn đầu tư (Đơn vị: Triệu USD) (Trang 54)
Bảng 11: Chi phí dầu khí và kiểm toán giai đoạn 1988 – 2004 - một số giải pháp và kiến nghị nhằm thu hút đầu tư nước ngoài vào tk - td - kt dầu khí
Bảng 11 Chi phí dầu khí và kiểm toán giai đoạn 1988 – 2004 (Trang 60)
Bảng 12: Lực lượng lao động làm việc tại các Nhà thầu Dầu khí (Nguồn: PetroVietnam) - một số giải pháp và kiến nghị nhằm thu hút đầu tư nước ngoài vào tk - td - kt dầu khí
Bảng 12 Lực lượng lao động làm việc tại các Nhà thầu Dầu khí (Nguồn: PetroVietnam) (Trang 62)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w