1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của nghiệp vụ bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba tại công ty cổ phần bảo hiểm petrolimex(pjico)”.

78 586 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của nghiệp vụ bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba tại công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex (PJICO)
Tác giả Bùi Thị Thùy Trang
Người hướng dẫn TS. Mạc Văn Tiến
Trường học Trường đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Bảo hiểm
Thể loại Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 525,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ những lý do trên cùng với mong muốn được nghiên cứu sâu hơn về thực tiễn triển khai, tiềm năng, kết quả đạt được cũng như những hạn chế trong quá trình hoạt động tôi quyết định chọn đ

Trang 1

KHOA KINH TẾ BẢO HIỂM

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

ĐỀ TÀI:

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ

KINH DOANH CỦA NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM TRÁCH NHIỆM DÂN

SỰ CỦA CHỦ XE CƠ GIỚI ĐỐI VỚI NGƯỜI THỨ BA TẠI CễNG TY CỔ PHẦN BẢO HIỂM PETROLIMEX (PJICO)

Giỏo viờn hướng dẫn : TS Mạc Văn Tiến

Sinh viờn thực hiện : Bựi Thị Thựy Trang

Cơ quan thực tập : Cụng ty cổ phần bảo hiểm PJICO

Phũng Bảo hiểm khu vực 1

Số 1 Khõm Thiờn, Hà Nội

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế đất nước cơ sở hạ tầng

mà cụ thể là hệ thống giao thông đường bộ ở nước ta đã được nâng cấp khá rõ rệt nhưng nhìn chung chất lượng vẫn còn nhiều hạn chế, nhiều tuyến đường kém chất lượng và ngày càng xuống cấp ngiêm trọng, số đầu xe cơ giới tham gia giao thông tăng nhanh tuy nhiên có rất nhiều loại xe không đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật, lái xe chưa thực sự coi trọng luật an toàn giao thông, ý thức chấp hành pháp luật của người tham gia giao thông chưa thật tốt… Bên cạnh đó nhu cầu

đi lại của dân cư cũng như đòi hỏi của nền kinh tế lại gia tăng đáng

kể Sự tham gia của xe cơ giới vào việc vận chuyển một khối lượng khổng lồ hàng hóa và người đã góp phần không nhỏ vào phát triển kinh tế đất nước Xuất phát từ những lý do trên mà nghiệp vụ bảo hiểm trách nhiệm dân sự (TNDS) của chủ xe cơ giới đối với người thứ

ba cần thiết phải được triển khai sâu rộng hơn nữa Theo thống kê, số

xe tham gia bảo hiểm TNDS có tăng lên qua các năm nhưng vẫn thấp hơn so với tốc độ tăng của xe lưu hành, điều này chính là cơ hội và cũng là thách thức đặt ra cho các Doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) đòi hỏi các DNBH phải biết nắm bắt cơ hội, nỗ lực cạnh tranh nhằm nâng cao thị phần đối với nghiệp vụ bảo hiểm này Làm được điều này các DNBH không chỉ nâng cao hiệu quả kinh doanh của mình từ đó nâng cao hình ảnh cũng như uy tín của DN mà còn góp phần ổn định

xã hội vì đây là một nghiệp vụ có tính xã hội rất cao Cùng với các DNBH phi nhân thọ khác trên thị trường, Công ty cổ phần bảo hiểm PETROLIMEX(PJICO) đã triển khai nghiệp vụ bảo hiểm này từ rất

Trang 3

sớm và đây cũng là một nghiệp vụ chủ yếu tạo doanh thu cho Công ty.

Là một DN còn non trẻ và ra đời trong điều kiện cạnh tranh gay gắt của thị trường bảo hiểm tuy nhiên PJICO đã dần khẳng định vị trí của mình nhưng để tồn tại và phát triển một cách bền vững đòi hỏi PJICO phải có những đổi mới nhằm nâng cao chất lượng các sản phẩm bảo hiểm nói chung và nghiệp vụ bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới nói riêng.

Từ những lý do trên cùng với mong muốn được nghiên cứu sâu hơn về thực tiễn triển khai, tiềm năng, kết quả đạt được cũng như những hạn chế trong quá trình hoạt động tôi quyết định chọn đề tài

“Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của nghiệp

vụ bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba tại Công ty cổ phần bảo hiểm PETROLIMEX(PJICO)” Sau

thời gian tìm hiểu, học hỏi cùng với sự giúp đỡ nhiệt tình của các Cán

bộ chuyên môn của Phòng bảo hiểm PJICO – khu vựcI nơi tôi thực tập đã cung cấp cho tôi những số liệu thực tế cần thiết phục vụ cho Báo cáo, bên cạnh đó cũng phải kể đến sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo- Tiến sỹ Mạc Văn Tiến đã giúp tôi hoàn thành Báo cáo này Nhờ đó, những kiến thức cơ bản tôi đã được học ở trường đã được củng cố cộng với những kinh nghiệm thực tế tích lũy được tôi tin rằng

đó là hành trang vô cùng quý giá sẽ giúp ích cho tôi rất nhiều trong công tác sau này.

Trang 4

CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HIỂM TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ CỦA CHỦ XE CƠ GIỚI ĐỐI VỚI NGƯỜI THỨ BA

I Sự cần thiết khách quan và tác dụng của bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba

1 Đặc điểm chung của hoạt động vận tải xe cơ giới trong giao thông đường bộ ở Việt Nam

Giao thông vận tải là một ngành giữ vị trí rất quan trọng trong nềnkinh tế quốc dân, đó là một ngành kinh tế kỹ thuật có ảnh hưởng trực tiếphoặc gián tiếp đến hầu hết các ngành khác trong các lĩnh vực như kinh tế,

kỹ thuật, an ninh quốc phòng… Giao thông vận tải là một bộ phận của kiếntrúc hạ tầng kinh tế, không thể phủ nhận giao thông vận tải chính là cầu nốicủa các mối quan hệ buôn bán, giao lưu kinh tế giữa các ngành, các vùng,các khu vực trên đất nước, giữa quốc gia này với các quốc gia khác trên thếgiới Nhờ có đặc điểm này, giao thông vận tải đã góp phần phát triển kinh

tế đất nước, thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động đầu tư trong nước cũng như quốc

tế, phục vụ nhu cầu đi lại của dân cư Bên cạnh đó giao thông vận tải còn

có một ý nghĩa xã hội to lớn đó là thúc đẩy giao lưu văn hóa trong và ngoàinước, tạo điều kiện nâng cao dân trí, thúc đẩy sự phát triển và gìn giữtruyền thống văn hóa dân tộc, đẩy mạnh sự ứng dụng các thành tựu khoahọc kỹ thuật và những tiến bộ của nhân loại… Có thể khẳng định rằng giaothông vận tải là huyết mạch của nền kinh tế, đóng vai trò đặc biệt quantrọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia nói chung

và Việt Nam nói riêng

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế đất nước, trongnhững năm gần đây giao thông vận tải ở nước ta đã có sự phát triển vượtbậc với những hình thức vận chuyển ngày càng phong phú như vận chuyểnbằng đường bộ (là loại hình vận chuyển chủ yếu), bằng đường sắt, đườngthủy, đường hàng không… Các phương tiện vận tải cũng ngày càng nhiều

Trang 5

và đa dạng về chủng loại, kích cỡ, từ việc sử dụng các phương tiện vận tảithô sơ bằng sức người, bằng súc vật… đến nay các phương tiện vận tải đãhầu hết được cơ giới hóa và được trang bị hiện đại hơn trước rất nhiều bêncạnh đó các máy móc tối tân kỹ thuật cao đã được đưa vào sử dụng.

Nhìn lại nền kinh tế nước ta trong những năm gần đây chúng ta cóthể nhận thấy rất nhiều những khó khăn,trở ngại phải đối mặt, thu nhập củacác tầng lớp dân cư chưa cao và không đồng đều khiến chúng ta chưa thể

sử dụng hoàn toàn các phương tiện hiện đại nhất là đối với giao thôngđường bộ- một loại hình giao thông có sự tham gia chủ yếu của người dân.Một trong những đặc điểm nổi bật của giao thông đường bộ ở nước ta đó làviệc sử dụng đa dạng và phong phú các loại xe cơ giới từ thô sơ đến hiệnđại Điều này chính là một tiềm năng mang nhiều nguy hiểm gây ra tai nạn

đe doạ tính mạng và tài sản con người Qua những tác dụng mà giao thôngnói chung và giao thông đường bộ nói riêng mang lại chúng ta không thểphủ nhận những ưu điểm của nó đối với sự phát triển kinh tế đất nước Vớimột lượng xe lưu thông lớn, mật độ dày đặc, tính cơ động cao và vô cùnglinh hoạt đã đem lại những thuận lợi lớn cho sản xuất và lưu thông hànghóa Vì vậy, vận chuyển bằng đường bộ do các phương tiện cơ giới thựchiện là rất tiện lợi và tiết kiệm chi phí, phù hợp với hoàn cảnh đất nước ta

và thu nhập của đại đa số các tầng lớp dân cư hiện nay

Tuy vậy thực tế cho thấy, bên cạnh những ưu thế mà giao thôngđường bộ mang lại thì mặt trái của nó cũng thật đáng kể Đó chính là mức

độ nguy hiểm lớn, khả năng gây tai nạn cao do các đầu xe quá dày đặc và

đa dạng và chủng loại, chất lượng lại rất kém Thêm vào đó, tình trạngđường xá ngày càng xuống cấp và chưa được đầu tư tu sửa kịp thời; tráchnhiệm, trình độ nhận thức cũng như trình độ điều khiển của lái xe cònyếu… cũng là những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến các vụ tai nạn đáng tiếcxảy ra Hầu hết các vụ tai nạn giao thông xảy ra là do lái xe thiếu hiểu biết

và không tôn trọng luật an toàn giao thông, lái xe trong tình trạng say xỉn,không làm chủ được tốc độ, phóng nhanh vượt ẩu… Bên cạnh đó còn do

Trang 6

một số nguyên nhân khách quan như thời tiết, địa hình, cơ sở hạ tầng giaothông yếu kém…

Hiện nay mạng lưới giao thông đường bộ ở nước ta vẫn còn nhiềuvấn đề bất cập cần được giải quyết Theo thống kê năm 2003 cả nước có

296035 km đường bộ thì chỉ có 50.38% được rải nhựa nhưng chất lượngnhiều đoạn đường vẫn còn thấp và ngày càng xuống cấp, điều này thể hiệnrất rõ sự yếu kém của cơ sở hạ tầng giao thông của nước ta Chỉ tính riêngthành phố Hà Nội đã có hơn 90,000 ôtô các loại, trên 130,000 xe máy cùnghàng nghìn các phương tiện cơ giới khác và con số ngày đã và đang khôngngừng tăng lên một cách nhanh chóng Về địa hình, nước ta có 3/4 diện tích

là đồi núi, cả nước có 106 con đèo từ Nam ra Bắc và có những đèo đặc biệtnguy hiểm như dốc Cun(Hòa Bình), đèo Hải Vân, đèo Cả, đèo Cù Mông,đèo An Khê, đèo Măng Giang… do địa hình hẹp, núi cao, vực sâu, tầmnhìn bị che khuất, thêm vào đó là khí hậu khắc nghiệt, ở những đoạn đườnghiểm trở thường có sương mù dày đặc… cũng là những nguyên nhân dẫnđến các vụ tai nạn

Bên cạnh đó chúng ta cũng không thể không kể đến một nguyênnhân đó là do cơ chế thị trường bùng nổ, nền kinh tế tăng trưởng cao hàngloạt các loại xe tư nhân được đưa vào tham gia giao thông nhưng lại đượcđiều khiển bởi những lái xe chưa qua các khóa đào tạo chính thức, thậm chíchưa có giấy phép lái xe, xe không có giấy phép lưu hành… Do nhu cầu lái

xe cấp bách, những người lái xe được tuyển chọn phần lớn là những ngườitrẻ tuổi, thiếu kinh nghiệm trong việc xử lý các tình huống khi tham giagiao thông, mặt khác nhiều lái xe còn thiếu ý thức, vô trách nhiệm, lái xetrong tình trạng say xỉn, buồn ngủ…, xe vượt quá tải trọng cho phép, đi quátốc độ quy định… vì vậy tai nạn vẫn thường xuyên xảy ra và có xu hướngngày càng gia tăng Do nhu cầu vận tải là rất lớn nên hiện nay các phươngtiện giao thông ở Việt Nam được huy động triệt để, vì vậy tình trạng xe cũ,quá hạn sử dụng, không đảm bảo an toàn vẫn tham gia giao thông là điềukhông thể tránh khỏi Một điểm quan trọng khác không thể không đề cập

đó là các thiết bị an toàn kỹ thuật xe bao gồm phanh, lốp, hộp số, các

Trang 7

trục…, các thiết bị này gắn bó chặt chẽ với xe, giúp lái xe xử lý mọi tìnhhuống nguy cấp Tuy nhiên, do có sự cạnh tranh giữa các chủ xe nhằmgiảm chi phí mà không ít xe kém chất lượng, không qua kiểm định vẫnđược lưu hành.

2 Sự cần thiết khách quan của BHTNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba

Nhu cầu được an toàn, được bảo vệ là nhu cầu chính đáng của mỗicon người Trong cuộc sống con người luôn mong muốn được bình an vô

sự nhưng thực tế cho thấy những rủi ro, tai nạn bất ngờ vẫn luôn rình rập đedọa, và có thể xảy ra bất cứ lúc nào ngoài ý muốn của con người Nhữngrủi ro đó có thể do thiên tai như động đất, núi lửa, sấm sét, bão lụt, đất lở…nhưng cũng có thể do con người gây ra như khủng bố, chiến tranh, đìnhcông, bạo loạn, ô nhiễm phóng xạ hay tai nạn giao thông… làm thiệt hạikhông nhỏ đến tính mạng và tài sản của con người và xã hội

Sự phát triển của ngành giao thông vận tải một mặt đem lại sự thuậntiện, chi phí thấp, đáp ứng nhu cầu đi lại của đông đảo dân cư Việt Namhiện nay nhưng mặt khác, do đặc điểm xe cơ giới tham gia giao thôngđường bộ có tính cơ động cao nên rủi ro gây tai nạn là rất lớn Tại ViệtNam, tai nạn giao thông luôn là vấn đề bức xúc, nó xảy ra hàng ngày, hànggiờ đe dọa tính mạng và tài sản của người dân Theo số liệu thống kê củacục cảnh sát đường bộ năm 2002 xảy ra 38,675 vụ tai nạn làm chết 7,532người, bị thương 37,250 người, năm 2003 xảy ra 41,923 vụ làm chết 8,092người(tăng 7.43%), bị thương 39,875 người(tăng 7.03%) Những nguyênnhân gây tai nạn cũng được cục cảnh sát giao thông thống kê một cách kháđầy đủ và chi tiết: có 29% số vụ tai nạn do vượt quá tốc độ quy định, 25%

do vượt ẩu, 8% do lái xe trong tình trạng say rượu, 38% do các nguyênnhân khác Đối tượng gây tai nạn gồm: 27.9% ôtô các loại, 60.8% do môtô,

xe máy gây ra, 4.5% do người đi xe đạp, xe thô sơ và 6.8% là các đối tượngkhác

Trang 8

Thực tế cho thấy, cùng với sự gia tăng của các vụ tai nạn thì việc giảiquyết hậu quả để lại là một vấn đề hết sức phức tạp Thông thường, khi tainạn giao thông xảy ra, người bị nạn không chỉ bị thiệt hại về tài sản, sứckhỏe thậm chí cả tính mạng mà còn những hậu quả nặng nề về tâm lý mộtcách lâu dài Tính mạng con người là vô giá không thể tính toán, đo lườngbằng tiền bạc và do vậy cũng khó có thể đánh giá thiệt hại về sức khỏe củacon người một cách chính xác Vì vậy, việc đền bù một phần nào nhữngthiệt hại bằng tài chính tạo điều kiện cho nạn nhân hay gia đình họ khắcphục những khó khăn là một việc nên làm và có ý nghĩa xã hội hết sức tolớn Tuy nhiên, khi gặp tai nạn chủ xe sẽ gặp phải những khó khăn nhấtđịnh về mặt tài chính thậm chí có trường hợp không đủ khả năng bồithường Vì vậy một điều dễ nhận thấy là lợi ích của nạn nhân trong vụ tainạn không được đảm bảo gây ảnh hưởng xấu tới cuộc sống của bản thânnạn nhân và gia đình họ và do đó gây ảnh hưởng tiêu cực đến xã hội Vấn

đề đặt ra là phải có những biện pháp thích hợp để giải quyết trường hợp này

và đó phải là những nỗ lực tích cực của Nhà nước và của toàn xã hội Vậylàm thế nào để có nguồn tài chính sẵn sàng cho việc giải quyết hậu quả củanhững vụ tai nạn giao thông? Đó là mối quan tâm lo lắng không chỉ củaNhà nước, các chủ xe mà còn là mối quan tâm của bản thân những người bịthiệt hại cũng như những người tham gia giao thông nói chung Mỗi cánhân có thể tự bảo vệ mình bằng cách tiết kiệm, dự trữ hiện vật, lập các quỹtài chính dự phòng… tuy nhiên những biện pháp đó chỉ có tác dụng nhấtđịnh, khả năng thực hiện không cao mà lại không đủ trang trải mỗi khi cótai nạn lớn xảy ra Những quỹ dự trữ của Nhà nước cũng không thể đáp ứng

đủ cho tất cả những tổn thất xảy ra Và vì vậy, biện pháp hữu hiệu nhấtchính là các Công ty bảo hiểm- “ tấm lá chắn cuối cùng của mỗi cá nhân,mỗi tổ chức, mỗi doanh nghiệp trong xã hội”

Xuất phát từ thực tế trên, bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơgiới đối với người thứ ba ra đời đã đáp ứng kịp thời nhu cầu này của xã hội.Việc thành lập các quỹ bảo hiểm dựa trên sự đóng góp từ những số tiền nhỏcủa chủ xe cho các Công ty bảo hiểm Khi tai nạn giao thông xảy ra, các

Trang 9

Công ty bảo hiểm sẽ thay mặt chủ xe giải quyết bồi thường cho người bịnạn theo đúng các quy định của pháp luật Như vậy lợi ích của người bịthiệt hại đã được bảo đảm thông qua việc bảo đảm khả năng thực hiện tráchnhiệm của các chủ xe gây tai nạn, góp phần thực hiện tốt kỷ cương phápluật, ổn định xã hội.

3 Tác dụng của bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba

Trên thế giới, bảo hiểm nói chung và bảo hiểm TNDS của chủ xe cơgiới nói riêng được ra đời từ rất sớm Tại các nước phát triển, người ta đãrất quen thuộc với thuật ngữ “bảo hiểm” và coi đó là yếu tố thiết yếu củacuộc sống Mặc dù là một ngành còn non trẻ ở Việt Nam nhưng từ khi rađời đến nay bảo hiểm nói chung và nghiệp vụ bảo hiểm TNDS nói riêng đãmang lại những tác dụng to lớn, cụ thể những tác dụng này được thể hiện ởnhững điểm sau:

Thông qua công tác bồi thường, bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới

đã nhanh chóng khắc phục những khó khăn về tài chính, sức khỏe chongười bị nạn, giúp các chủ xe thoát khỏi gánh nặng về vật chất và tinh thần,đảm bảo quyền lợi cho người bị nạn cũng như thực thi trách nhiệm của chủphương tiện gây tai nạn

Qua công tác giám định, bồi thường sau mỗi vụ tai nạn, Công ty bảohiểm sẽ thống kê được các rủi ro và nguyên nhân gây ra rủi ro đó, từ đó đề

ra các biện pháp đề phòng, hạn chế tổn thất một cách có hiệu quả nhất giảmbớt đáng kể những hậu quả do tai nạn giao thông gây ra, giảm bớt thiệt hạicho toàn xã hội Đây cũng là hoạt động thể hiện phương châm “ phòngbệnh hơn chữa bệnh” của bảo hiểm Công tác này được tiến hành do cáccông ty bảo hiểm kết hợp với các ban, ngành có liên quan như Bộ Giaothông vận tải, Bộ Công an… đã giúp đời sống của người dân và toàn xã hội

ổn định hơn

Bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới còn giúp chủ xe, lái xe ý thứcđược trách nhiệm của mình khi điều khiển xe cơ giới

Trang 10

Nghiệp vụ này ra đời không những làm giảm bớt gánh nặng chongân sách Nhà nước mà còn tăng thu ngân sách thông qua việc thu thuế.Nguồn quỹ từ thuế thu là nguồn tài chính chủ yếu dùng để chi trả, bồithường, đồng thời cũng để nâng cấp cơ sở hạ tầng giao thông vận tải, xâydựng các biển báo, đường lánh nạn…

Bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba còn gópphần xoa dịu sự căng thẳng giữa các bên trong vụ tai nạn, đây là mục đíchmang tính chất nhân văn của nghiệp vụ này, nó thể hiện vai trò trung gianhòa giải có tính chất pháp lý của Công ty bảo hiểm

Từ những tác dụng nêu trên, với tư cách là một nghiệp vụ bảo hiểm ,bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba vừa mang tínhkinh tế, vừa mang tính xã hội, nó thể hiện tính nhân đạo và nhân văn caocả

II Quá trình hình thành và tính chất bắt buộc của nghiệp

vụ BH TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba ở Việt Nam

1 Quá trình phát triển của nghiệp vụ

Ở Việt Nam, bảo hiểm nói chung là một ngành được ra đời khá muộn

so với thế giới tuy vậy xét một cách toàn diện thì bảo hiểm TNDS được coi

là một nghiệp vụ truyền thống Ngay từ năm 1965, nghiệp vụ này đã đượctriển khai ở hầu hết các tỉnh phía Nam theo sắc lệnh của Chính phủ ngụyquyền Sài Gòn Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng bảo hiểm TNDScủa chủ xe cơ giới cũng đã được triển khai ở thành phố Hồ Chí Minh theotập quán cũ, đến năm 1979 được mở rộng ở hầu hết các tỉnh phía Nam vàđến năm 1980 đã được phát triển mở rộng trên phạm vi cả nước Từ năm

1980 đến 1987 nghiệp vụ này được triển khai dưới hình thức tự nguyện.Tuy nhiên trong quá trình triển khai nó đã bộc lộ nhiều khuyết điểm cầnkhắc phục, một số chủ xe chưa nhận thức đúng đắn về vấn đề bảo hiểm nêncòn lẩn tránh không tham gia, trong khi đó bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ

Trang 11

giới là một vấn đề mang tính xã hội sâu sắc Vì vậy, việc tham gia bảo hiểmkhông chỉ là quyền lợi mà còn là trách nhiêm của mỗi chủ xe Để nâng caotrách nhiệm của chủ xe và bảo vệ lợi ích của các nạn nhân, ngày 10/3/1998Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành nghị định30/HĐBT về chế độ bảo hiểmTNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba dưới hình thức bắt buộc.Đây là hình thức bắt buộc theo luật định đối với tất cả các loại xe chạy trênđường bộ bằng động cơ của chính nó(trừ xe đạp máy).

Nghị định 30/HĐBT ra đời đánh dấu một bước ngoặt quan trọngtrong quá trình hoạt động của nghiệp vụ, tạo điều kiện phát triển nghiệp vụ,giúp các Công ty bảo hiểm phát huy tốt quy luật “số đông bù số ít”, từ đóđem lại lợi ích cho cả Công ty bảo hiểm, người tham gia bảo hiểm và ngườiđược bảo hiểm

2 Những lý do thể hiện sự bắt buộc

Trong cuộc sống mỗi cá nhân cũng như mỗi tổ chức đều phải chịutrách nhiệm trước pháp luật cho từng hành vi ứng xử của mình Nhìnchung, khi một người gây thiệt hại cho người khác do sự bất cẩn của mìnhthì phải chịu trách nhiệm trước những thiệt hại đó Cũng vì vậy mà sự bắtbuộc trong bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới là một tất yếu và được xuấtphát từ những lý do sau đây

Thứ nhất, công cuộc công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước ta đang

trên đà phát triển kéo theo đó là sự tăng tiến không ngừng của các loạiphương tiện giao thông đường bộ Tuy nhiên, với điều kiện đường xá, điềukiện kỹ thuật của xe và ý thức chấp hành pháp luật của người dân còn chưacao như hiện nay thì tai nạn giao thông vẫn thường xuyên xảy ra là điều tấtyếu Do vậy, để hạn chế bớt nguy cơ xảy ra tai nạn và thực hiện được cácmục tiêu xã hội, bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới phải được quy định bắtbuộc đối với mọi cá nhân tham gia giao thông

Thứ hai, xuất phát từ mong muốn của bản thân các chủ xe là mong

muốn có một sự bảo đảm về mặt tài chính để giải quyết được các hậu quả

Trang 12

do tai nạn giao thông gây ra từ đó giảm bớt gánh nặng về mặt tài chính chobản thân mình.

Thứ ba, khi xảy ra tai nạn, trên thực tế nhiều trường hợp khó xác

định lỗi thuộc về bên nào, mức độ lỗi chính xác của các bênhững Do vậy,

để giải quyết một cách đúng đắn cần phải có thời gian để điều tra xem xét,trong thời gian đó những thiệt hại về vật chất và tinh thần cần phải được bùđắp một cách kịp thời cho người bị thiệt hại, chính vì vậy việc thực hiện bắtbuộc này sẽ giúp cho các bên trong vụ tai nạn được đền bù ngay trong thờigian chờ cơ quan chức năng giải quyết

Thứ tư, trong nhiều trường hợp người gây tai nạn bỏ trốn hay không

đủ khả năng tài chính để bồi thường cho nạn nhân thì việc việc bồi thường

là không thể thực hiện được

Thứ năm, việc thực hiện bắt buộc sẽ giúp các cơ quan chức năng

quản lý tốt các đầu xe lưu hành trên lãnh thổ Việt Nam, thống kê đầy đủcác vụ tai nạn đã xảy ra và nguyên nhân của nó từ đó có biện pháp đềphòng, hạn chế tổn thất cho phù hợp

Bảo hiểm TN nói chung và bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới nóiriêng, ngoài việc nhằm đảm bảo ổn định tài chính cho người được bảohiểm, còn có mục đích khác là bảo vệ quyền lợi cho phía nạn nhân, bảo vệlợi ích công cộng và an toàn xã hội Tuy nhiên, trong quá trình thực thi,NĐ30/HĐBT đã bộc lộ nhiều hạn chế, thiếu sót Để chế độ bảo hiểm bắtbuộc thực sự đi vào đời sống xã hội và khắc phục những tồn tại trên, ngày17/12/1997 Chính phủ ban hành Nghị định 115/NĐ- CP bổ sung choNĐ30, Nghị định này có những điều khoản quy định chi tiết hơn về tráchnhiệm của các cơ quan, các bộ, ban, ngành có liên quan, mở rộng phạm vibắt buộc không chỉ đối với người thứ ba mà còn đối với cả hành khách trên

xe và đặc biệt quy định địa vị pháp lý của Công ty bảo hiểm trong tố tụngdân sự

Có thể nói tiến hành bắt buộc bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới vớingười thứ ba là một việc làm có ý nghĩa nhân đạo cao cả nhằm mục đíchkhắc phục những khó khăn của các bên tham gia giao thông khi không may

Trang 13

xảy ra tai nạn, đồng thời cũng nhờ đó mà nâng cao ý thức, tinh thần tráchnhiệm của các chủ xe và lái xe, thúc đẩy việc thực hiện nghiêm chỉnh luật

an toàn giao thông, tăng cường công tác phòng ngừa, hạn chế rủi ro từ đómang lại sự an toàn cho xã hội

III Nội dung cơ bản của nghiệp vụ BH TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba

1 Đối tượng của bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba

Người tham gia bảo hiểm thông thường là chủ xe, có thể là cá nhânhay đại diện cho một tập thể Công ty bảo hiểm chỉ nhận bảo hiểm chophần trách nhiệm dân sự của chủ xe phát sinh do sự hoạt động và điềukhiển của người lái xe Như vậy, đối tượng được bảo hiểm là trách nhiệmdân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba TNDS của chủ xe cơ giớiđối với người thứ ba trách nhiệm hay nghĩa vụ bồi thường ngoài hợp đồngcủa chủ xe hay lái xe cho người thứ ba khi xe lưu hành gây tai nạn

Chủ xe là người có quyền sở hữu xe, là người đứng tên trong giấy đăng ký xe, trong giấy phép lưu hành Chủ xe có thể là người trực tiếp điều khiển xe nhưng cũng có thể là người được chủ xe giao quyền sử dụng như những người làm công ăn lương, theo hợp đồng thuê mướn…

Đối tượng được bảo hiểm không được xác định trước Chỉ khi nàoviệc lưu hành xe gây ra tai nạn có phát sinh TNDS của chủ xe đối với ngườithứ ba thì đối tượng này mới được xác định cụ thể Các điều kiện phát sinhtrách nhiệm dân sự của chủ xe đối với người thứ ba bao gồm:

- Điều kiện thứ nhất: Có thiệt hại về tài sản, tính mạng hoặc sức khỏe

của bên thứ ba

- Điều kiện thứ hai: Chủ xe, lái xe phải có hành vi trái pháp luật Có

thể do vô tình hay cố ý mà lái xe vi phạm luật giao thông đường bộ,hoặc vi phạm các quy định khác của Nhà nước…

Trang 14

- Điều kiện thứ ba: Phải có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái

pháp luật của chủ xe, lái xe với những thiệt hại của người thứ ba

- Điều kiện thứ tư: Chủ xe, lái xe phải có lỗi.

Trên thực tế, chỉ cần đồng thời xảy ra ba điều kiện thứ nhất, thứ hai

và thứ ba là phát sinh TNDS đối với người thứ ba của chủ xe, lái xe Nếuthiếu một trong ba điều kiện đó TNDS của chủ xe sẽ không phát sinh và do

đó sẽ không phát sinh trách nhiệm của bảo hiểm Điều kiện thứ tư có thể cóhoặc không, vì nhiều khi tai nạn xảy ra là do nguồn nguy hiểm cao độ màkhông hoàn toàn do lỗi của chủ xe hay lái xe

Cần lưu ý rằng, bên thứ ba trong bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới

là những người trực tiếp bị thiệt hại do hậu quả của vụ tai nạn nhưng loạitrừ:

- Lái, phụ xe, người làm công cho chủ xe

- Những người lái xe phải nuôi dưỡng như cha, mẹ, vợ, chồng, concái…

- Hành khách, những người có mặt trên xe

- Tài sản, tư trang, hành lý của những người nêu trên

Trong bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới, khi xảy ra tai nạn gâythiệt hại cho người thứ ba thì người được Công ty bảo hiểm bồi thườngchính là chủ xe hoặc người đại diện cho chủ xe được pháp luật công nhận

2 Phạm vi bảo hiểm

2.1 Rủi ro được bảo hiểm

Công ty bảo hiểm nhận bảo đảm cho các rủi ro bất ngờ không lườngtrước được gây tai nạn và làm phát sinh trách nhiệm dân sự của chủ xe Cụthể, các thiệt hại nằm trong phạm vi trách nhiệm của Công ty bảo hiểm baogồm:

- Thiệt hại về tính mạng và tình trạng sức khỏe của bên thứ ba;

- Thiệt hại về tài sản, hàng hóa… của bên thứ ba;

- Thiệt hại về tài sản làm ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh hoặc làmgiảm thu nhập;

Trang 15

- Các chi phí cần thiết và hợp lý để thực hiện các biện pháp ngăn ngừa,hạn chế thiệt hại; các chi phí thực hiện biện pháp đề xuất của cơ quanbảo hiểm( kể cả biện pháp không mang lại hiệu quả);

- Những thiệt hại về tính mạng, sức khỏe của những người tham giacứu chữa, ngăn ngừa tai nạn, chi phí cấp cứu và chăm sóc nạn nhân.Tùy thuộc vào tình hình thực tế và theo yêu cầu của người được bảohiểm mà Công ty bảo hiểm có thể mở rộng phạm vi bảo hiểm cho nhữngrủi ro khác theo như thỏa thuận giữa các bên, những đảm bảo bổ sung kéotheo một khoản phí đóng thêm của người được bảo hiểm

- Chủ xe hoặc lái xe vi phạm nghiêm trọng luật an toàn giao thôngđường bộ như:

Xe không có giấy phép lưu hành, giấy chứng nhận kiểm định antoàn kỹ thuật và môi trường;

Lái xe không có bằng lái hoặc bi tịch thu, bằng không hợp lệ; Lái xe bị ảnh hưởng của các chất kích thích như rượu, bia, matúy…

Lái xe chở chất cháy, nổ trái phép

Xe sử dụng để tập lái, đua xe trái phép, chạy thử sau khi sửachữa;

Xe đi vào đường cấm, đi đêm không có đèn hoặc chỉ có đèn bênphải;

Xe không có hệ thống lái bên phải;

- Thiệt hại gián tiếp do tai nạn như giảm giá trị thương mại, làm đìnhtrệ sản xuất kinh doanh

- Tai nạn xảy ra ngoài lãnh thổ quốc gia, trừ khi có thỏa thuận khác

Trang 16

Ngoài ra, Công ty bảo hiểm cũng không chụi trách nhiệm đối với tài sảnđặc biệt như vàng, bạc, đã quý, tiền, đồ cổ, tranh ảnh quý hiếm, thi hài,hài cốt.

3 Phí bảo hiểm

3.1 Bản chất của phí bảo hiểm

Về bản chất, phí bảo hiểm là một khoản tiền mà chủ xe phải nộp chonhà bảo hiểm để hình thành một quỹ tiền tệ tập trung đủ lớn để bồi thườngthiệt hại xảy ra trong năm nghiệp vụ theo phạm vi bảo hiểm Có thể coi phíbảo hiểm là giá cả của sản phẩm bảo hiểm nên có thể tăng, giảm tùy thuộcvào tình hình cung-cầu, tình hình cạnh tranh trên thị trường Việc xác địnhmức phí hợp lý là rất khó khăn,bởi phí bảo hiểm là nguồn thu chủ yếu củaCông ty bảo hiểm nên mức phí thu được tối thiểu phải thỏa mãn các nhucầu chi cho bồi thường tổn thất Cùng với sự phát triển mạnh của cơ chế thịtrường mở cửa làm gia tăng các Công ty bảo hiểm, sự cạnh tranh trên thịtrường ngày càng gay gắt, việc đưa ra mức phí thích hợp là vấn đề mangtính chiến lược và rất khó khăn

Khi triển khai nghiệp vụ bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới đối vớingười thứ ba các Công ty bảo hiểm áp dụng biểu phí mà Bộ Tài Chính đưa

ra, các Công ty cạnh tranh với nhau thông qua chất lượng dịch vụ, chămsóc khách hàng hay các điều kiện bổ sung…

3.2 Phương pháp tính phí

Phí bảo hiểm được tính theo đầu phương tiện Người tham gia bảohiểm đóng phí bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ batheo số lượng đầu phương tiện của mình Mặt khác, các phương tiện khácnhau về chủng loại, về độ lớn có xác suất gây ra tai nạn khác nhau nên phíbảo hiểm được tính riêng cho từng loại phương tiện (hoặc nhóm phươngtiện) Phí bảo hiểm tính cho mỗi đầu phương tiện đối với mỗi loại phươngtiện (thường tính theo năm) là:

P = f + d (1)

Trong đó:

Trang 17

P – Phí bảo hiểm / đầu phương tiện

S : Là số vụ tai nạn xảy ra có phát sinh trách nhiệm dân sự của chủ

xe được bảo hiểm bồi thường trong năm i

Đây là cách tính phí bảo hiểm cho các phương tiện thông dụng trên

cơ sở quy luật số đông Đối với các phương tiện không thông dụng, mức độrủi ro lớn hơn như xe kéo rơmooc, xe chở hàng nặng… thì tính thêm tỷ lệphụ phí so với mức phí cơ bản Ở Việt Nam hiện nay thường cộng thêm30% mức phí cơ bản

i v i các ph ng ti n ho t ng ng n h n (d i 1 n m), th iĐối với các phương tiện hoạt động ngắn hạn (dưới 1 năm), thời ới các phương tiện hoạt động ngắn hạn (dưới 1 năm), thời ương tiện hoạt động ngắn hạn (dưới 1 năm), thời ện hoạt động ngắn hạn (dưới 1 năm), thời ạt động ngắn hạn (dưới 1 năm), thời động ngắn hạn (dưới 1 năm), thời ắn hạn (dưới 1 năm), thời ạt động ngắn hạn (dưới 1 năm), thời ưới các phương tiện hoạt động ngắn hạn (dưới 1 năm), thời ăm), thời ờigian tham gia b o hi m ảo hiểm được tính tròn tháng và phí bảo hiểm được xác ểm được tính tròn tháng và phí bảo hiểm được xác được tính tròn tháng và phí bảo hiểm được xácc tính tròn tháng v phí b o hi m à phí bảo hiểm được xác ảo hiểm được tính tròn tháng và phí bảo hiểm được xác ểm được tính tròn tháng và phí bảo hiểm được xác được tính tròn tháng và phí bảo hiểm được xácc xác

Trang 18

3.3 Đóng phí và hoàn phí

Nộp phí bảo hiểm là trách nhiệm của chủ phương tiện Tùy theo sốlượng phương tiện, Công ty bảo hiểm sẽ quy định thời gian, số lần nộp vàmức phí tương ứng có xét giảm phí theo tỷ lệ tổn thất và giảm phí theo sốlượng phương tiện tham gia bảo hiểm (tối đa thường giảm 20%) Nếukhông thực hiện đúng quy định sẽ bị phạt, ví dụ:

+ Chậm từ 01 đến 02 tháng phải nộp thêm 100% mức phí cơ bản.+ Chậm từ 02 đến 04 tháng nộp thêm 200% mức phí cơ bản

+ Hoặc có thể hủy hợp đồng bảo hiểm

Trường hợp đã đóng phí (tham gia bảo hiểm) cả năm, nhưng vào mộtthời điểm nào đó phương tiện không hoạt động nữa hoặc chuyển quyền sởhữu mà không chuyển quyền bảo hiểm thì chủ phương tiện sẽ được hoànphí bảo hiểm tương ứng với số thời gian còn lại của năm (làm tròn tháng)nếu trước đó chủ phương tiện chưa có khiếu nại và được bảo hiểm bồithường

Số phí hoàn lại được xác định như sau:

(5)

4 Số tiền bảo hiểm

Số tiền bảo hiểm là hạn mức trách nhiệm ghi trong hợp đồng bảohiểm hay giấy chứng nhận bảo hiểm mà chủ xe được cấp Số tiền bảo hiểm

là giới hạn cao nhất mà Công ty bảo hiểm thay mặt chủ xe bồi thường chophía nạn nhân hay bồi hoàn cho chủ xe (trong trường hợp chủ xe trực tiếpbồi thường cho người bị nạn), đồng thời đây cũng là căn cứ để việc bồithường được khách quan, tránh việc bồi thường sai sót, tùy tiện

Ở nước ta, Bộ Tài Chính đã quy định hạn mức trách nhiệm tối thiểubắt buộc cho mọi chủ xe ở mức 30,000,000 VND đối với người và30,000,000 VND đối với tài sản / vụ tai nạn Tuy nhiên, các chủ xe có thể

P hoàn lại = Pnăm X Số tháng không hoạt động12 tháng

Trang 19

yêu cầu mức trách nhiệm thỏa thuận cao hơn tùy theo nhu cầu và khả năngtài chính của mình và như vậy, mức phí mà họ phải nộp sẽ cao hơn.

Đối với nghiệp vụ bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới đối với ngườithứ ba, trách nhiệm được định ra về người và về tài sản là hoàn toàn độc lậpvới nhau và được tính riêng cho từng vụ tai nạn, tức là không được coongjdồn hay tính bù trừ giữa trách nhiệm về tài sản và về người Mặt khác,Công ty bảo hiểm cũng không bồi thường vượt quá hạn mức trách nhiệmcho từng vụ

5 Trách nhiệm và quyền lợi của các bên tham gia

5.1 Trách nhiệm và quyền lợi của chủ xe

- Trường hợp thay đổi mục đích sử dụng xe phải thông báo cho Công

ty bảo hiểm để điều chỉnh phí cho hợp lý

- Khi xe xảy ra tai nạn chủ xe phải có những biện pháp cứu chữa kịpthời, hạn chế ở mức thấp nhất những thiệt hại về người và của, đồngthời phải báo ngay cho Công ty bảo hiểm

- Nộp phí bảo hiểm đầy đủ và đúng hạn

 Quyền lợi của chủ xe

- Chủ xe có quyền yêu cầu Công ty bảo hiểm bổ sung hay sửa đổi hợpđồng, hoặc đề nghị mở rộng phạm vi, trách nhiệm bảo hiểm

- Khi tai nạn xảy ra thuộc phạm vi bảo hiểm chủ xe được Công ty bảohiểm bồi thường tùy thuộc vào mức độ thiệt hại và mức độ lỗi củachủ xe

- Chủ xe có quyền yêu cầu bồi thường trong vòng 06 tháng kể từ khixảy ra tai nạn trừ trường hợp do các nguyên nhân khách quan hay bấtkhả kháng theo quy định của pháp luật

Trang 20

- Chủ xe có quyền khiếu nại Công ty bảo hiểm trong trường hợp bồithường không thỏa đáng hoặc không bồi thường mà không thông bảo

lý do

Thời hạn bồi thường của Công ty bảo hiểm là 15 ngày từ khi nhậnđược hồ sơ yêu cầu bồi thường đầy đủ, hợp lệ và không được kéo dàiquá 30 ngày Thời hạn khiếu nại đòi bồi thường của chủ xe là 03tháng kể từ khi Công ty bảo hiểm bồi thường hoặc từ chối bồithường, quá thời hạn đó mọi khiếu nại sẽ không còn giá trị

5.2 Trách nhiệm và quyền lợi của Công ty bảo hiểm

 Trách nhiệm của Công ty bảo hiểm

- Cung cấp các thông tin, quy tắc bảo hiểm, biểu phí, hạn mức tráchnhiệm bảo hiểm có liên quan tới bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giớiđối với người thứ ba

- Hướng dẫn, tạo điều kiện thuận lợi để chủ xe tham gia bảo hiểm

- Sửa đổi, bổ sung hồ sơ cho người tham gia bảo hiểm

- Khi hồ sơ đầy đủ, hợp lệ phải tiến hành xét giải quyết bồi thường kịpthời, nhanh chóng, chính xác theo quy định

 Quyền lợi của Công ty bảo hiểm

- Có quyền thu phí từ người tham gia bảo hiểm và toàn quyền sử dụngphí đó theo mục đích của mình

- Có quyền yêu cầu bên tham gia khai báo trung thực và đầy đủ cácthông tin liên quan tới việc ký kết hợp đồng

- Có quyền phạt những khách hàng vi phạm hợp đồng và tố cáo trướcpháp luật những người có ý định trục lợi bảo hiểm

6 Công tác khai thác

Khai thác là một khâu tối quan trọng trong quá trình triển khainghiệp vụ, nó có ảnh hưởng trực tiếp tới kết quả hoạt động kinh doanh củaCông ty Nếu số lượng xe cơ giới tham gia bảo hiểm không đủ lớn, quy luật

số đông bù số ít trong bảo hiểm sẽ không được đảm bảo thì Công ty bảo

Trang 21

hiểm sẽ bị thua lỗ Công tác khai thác là công tác chính của Phòng kinhdoanh, các văn phòng khu vực, các chi nhánh và các đại lý của các Công tybảo hiểm.

Để làm tốt công tác này đòi hỏi sự năng động và nhanh nhạy của cán

bộ nhân viên phòng kinh doanh Họ phải luôn nỗ lực trong việc tìm kiếmnguồn khách hàng có nhu cầu tham gia nghiệp vụ bảo hiểm này, các đốitượng này thông thường là các công ty vận tải, các cơ quan đơn vị, bệnhviện, trường học…

Việc xây dựng mạng lưới đại lý rộng khắp cũng góp một phần quantrọng vào thành công của công tác khai thác Hệ thống đại lý khai thác rấthiệu quả nguồn khách hàng nhỏ lẻ, những khách hàng không nằm trong các

cơ quan đơn vị mà nằm rải rác trong dân cư nhờ tận dụng được những mốiquan hệ có sẵn

Ngoài ra, để khâu khai thác triển khai thành công cũng cần có sự hỗtrợ đắc lực của các công tác khác như tuyên truyền, quảng cáo, khuếchtrương thương hiệu… Những công tác này giúp cho mọi người hiểu biếthơn về công ty, về các sản phẩm của công ty nói chung và sản phẩm bảohiểm TNDS của chủ xe cơ giới nói riêng Đồng thời nó cũng giúp nâng caonhận thức của người dân về sản phẩm bảo hiểm này nhờ đó đánh thức nhucầu tham gia bảo hiểm của khách hàng Khi khách hàng đã có nhu cầu muabảo hiểm thì mức phí bảo hiểm (giá cả sản phẩm bảo hiểm) hợp lý sẽ giúpkhách hàng ra quyết định mua nhanh chóng, vì vậy công tác tính phí và xâydựng biểu phí cũng góp phần gia tăng lượng khách hàng tham gia bảohiểm

7 Công tác đề phòng hạn chế tổn thất

Đề phòng hạn chế tổn thất là việc mà Công ty bảo hiểm áp dụngnhững biện pháp nhằm giảm thiểu những rủi ro tổn thất có thể xảy ra vớikhách hàng Trong nghiệp vụ bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới với ngườithứ ba công tác đề phòng hạn chế tổn thất có ảnh hưởng lớn tới kết quả

Trang 22

kinh doanh của công ty Nhìn chung, đối với mỗi Công ty bảo hiểm côngtác đề phòng hạn chế tổn thất thường bao gồm:

- Đầu tư xây dựng các biển báo, chỉ dẫn giao thông, xây dựng nhữngđoạn đường lánh nạn ở những nơi có địa hình hiểm trở, đèo dốc nguyhiểm giúp chủ xe chủ động phòng tránh những nguy hiểm có thể xảyra

- Tổ chức các khóa tập huấn cho chủ xe, lái xe về luật lệ an toàn giaothông, giúp họ hiểu và chấp hành đúng luật giao thông khi tham giagiao thông

- Phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng, đề nghị xử phạtnghiêm đối với những trường hợp cố tình vi phạm luật an toàn giaothông

8 Công tác giám định, bồi thường

8.1 Công tác giám định

Giám định tổn thất là việc xác định thiệt hại thực tế của đối tượngtham gia bảo hiểm khi rủi ro tổn thất xảy ra Căn cứ vào biên bản giám địnhCông ty bảo hiểm sẽ xét giải quyết bồi thường trực tiếp cho đối tượng thamgia bảo hiểm Có thể nói đây là một khâu hết sức quan trọng, nó liên quantrực tiếp tới việc nhanh chóng khắc phục khó khăn, đảm bảo quyền lợi củangười bị nạn và cả người tham gia bảo hiểm Việc giám định phải đảm bảotính chính xác, khách quan và trung thực

Để thực hiện tốt công tác này, khi có tai nạn xảy ra, Công ty bảohiểm phải nhanh chóng cử ngay nhân viên giám định đến hiện trường, tổchức tiến hành giám định, xác định mức thiệt hại thực tế của bên thứ ba,xác định mức độ lỗi của các bên trong vụ tai nạn Công ty bảo hiểm sẽ tiếnhành giám định trước sự chứng kiến của chủ xe, người thứ ba hoặc đại diệnhợp pháp của các bên có liên quan để xác định nguyên nhân, mức độ thiệthại do tai nạn gây ra Trong trường hợp chủ xe không thống nhất với kếtquả giám định của Công ty bảo hiểm hai bên sẽ thỏa thuận thuê giám địnhviên độc lập, kết luận của giám định viên độc lập sẽ được coi là kết quả

Trang 23

cuối cùng Một điều cần lưu ý là nếu kết luận của giám định viên độc lậpkhác với kết luận của giám định viên bảo hiểm thì Công ty bảo hiểm sẽphải chịu phí giám định, còn nếu kết luận của giám định viên độc lập trùngvới kết luận của giám định viên bảo hiểm thì chủ xe sẽ phải chịu phí giámđịnh Trường hợp đặc biệt, nếu Công ty bảo hiểm không thể thực hiện đượcviệc lập biên bản giám định thì có thể căn cứ vào biên bản, kết luận các cơquan chức năng có thẩm quyền như công an, bệnh viện… để xác định mức

B2: Hướng dẫn xử lý ban đầu

- Sau khi tiếp nhận thông tin, tùy vào tình hình phòng giám định bồithường sẽ yêu cầu chủ xe:

+ Thực hiện những hoạt động cần thiết hạn chế thiệt hại phát sinh.+ Bảo vệ hiện trường

+ Báo cho cảnh sát giao thông để giải quyết tai nạn đúng luật

- Lập phương án giám định

B3: Tiến hành giám định

- Chuẩn bị các tài liệu, phương tiện cần thiết cho công tác giám định,báo cho các bên liên quan có mặt đầy đủ

- Ghi nhận chính xác, trung thực nguyên nhân, mức độ thiệt hại

- Nếu có những vấn đề đặc biệt vượt quá khả năng thì phải thông tinxin ý kiến của lãnh đạo

- Xác định mức độ thiệt hại thuộc phạm vi bảo hiểm

- Hướng dẫn chủ xe thực hiện các công việc tiếp theo như tiến hànhcẩu kéo, bảo vệ tài sản, thu thập giấy tờ…

B4: Lập biên bản giám định

Trang 24

Nội dung của biên bản phải thể hiện tính trung thực, chính xác, rõràng và cụ thể sự kiện bảo hiểm.

8.2 Công tác bồi thường

Đây là công tác khá quan trọng của mỗi Công ty bảo hiểm, chấtlượng của công tác này có ảnh hưởng trực tiếp tới uy tín, hình ảnh củaCông ty, nếu làm tốt công tác này uy tín, hình ảnh của công ty sẽ được nângcao nhờ đó không những giữ được khách hàng truyền thống mà còn thu hútkhách hàng mới, tăng khả năng cạnh tranh, mở rộng thị phần…

Khi tai nạn xảy ra, chủ xe (lái xe) phải gửi hồ sơ khiếu nại bồithường cho Công ty bảo hiểm, trong hồ sơ bao gồm các giấy tờ sau:

- Giấy chứng nhận bảo hiểm;

- Biên bản khám nghiệm hiện trường;

- Tờ khai tai nạn của chủ xe;

- Bản kết luận điều tra tai nạn (nếu có);

- Biên bản hòa giải (trong trường hợp có hòa giải);

- Quyết định của tòa án ( nếu có);

- Các chứng từ liên quan đến thiệt hại của người thứ ba, bao gồm: thiệthại về con người, thiệt hại về tài sản Các chứng từ phải hợp lệ

Sau khi nhận được hồ sơ khiếu nại bồi thường, Công ty bảo hiểm sẽtiến hành giám định để xác định thiệt hại thực tế của bên thứ ba và bồithường tổn thất

Thiệt hại của bên thứ ba bao gồm:

- Thiệt hại về tài sản bao gồm: Tài sản bị mất, bị hư hỏng hoặc bị hủy

hoại; thiệt hại liên quan đến việc sử dụng tài sản và các chi phí hợp

lý để ngăn ngừa, hạn chế và khắc phục thiệt hại

Thiệt hại về tài sản lưu động được xác định theo giá trị thực tế (giáthị trường) tại thời điểm tổn thất còn đối với tài sản cố định, khi xác địnhgiá trị thiệt hại phải tính đến khấu hao Cụ thể:

Giá trị thiệt hại = Giá mua mới (nguyên giá) - Mức khấu hao

Trang 25

- Thiệt hại về con người bao gồm thiệt hại về sức khỏe và thiệt hại về

tính mạng

Thiệt hại về sức khỏe bao gồm:

+ Các chi phí hợp lý cho công việc cứu chữa, bồi dưỡng phục hồi sứckhỏe và chức năng bị mất hoặc giảm sút như: chi phí cấp cứu, tiền hao phívật chất và các chi phí y tế khác (thuốc men, dịch truyền, chi phí chiếu chụpX-quang…)

+ Chi phí hợp lý và phần thu nhập bị mất của người chăm sóc bệnhnhân (nếu có theo yêu cầu của bác sỹ trong trường hợp bệnh nhân nguykịch) và khoản tiền cấp dưỡng cho người mà bệnh nhân có nghĩa vụ nuôidưỡng

+ Khoản thu nhập bị mất hoặc giảm sút của người đó

+ Thu nhập bị giảm sút là khoản chênh lệch giữa mức thu nhập trước

và sau khi điều trị do tai nạn của người thứ ba

+ Thu nhập bị mất được xác định trong trường hợp bệnh nhân điềutrị nội trú do hậu quả của tai nạn Nếu không xác định được mức thu nhậpnày, sẽ căn cứ vào mức lương tối thiểu hiện hành Khoản thiệt hại về thunhập này không bao gồm những thu nhập do làm ăn phi pháp mà có

+ Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần

Thiệt hại về tính mạng của người thứ ba bao gồm:

+ Chi phí hợp lý cho người chăm sóc, cứu chữa người thứ ba trướckhi chết (xác định tương tự như ở phần thiệt hại về sức khỏe)

+ Chi phí hợp lý cho việc mai táng người thứ ba (những chi phí dothủ tục sẽ không được thanh toán)

+ Tiền trợ cấp cho những người mà người thứ ba phải nuôi dưỡng(vợ, chồng, con cái… đặc biệt trong trường hợp người thứ ba là lao độngchính trong gia đình) Khoản tiền trợ cấp này được xác định tùy theo quyđịnh của mỗi quốc gia, tuy nhiên sẽ được tăng thêm nếu hoàn cảnh gia đìnhthực sự khó khăn

Trang 26

Như vậy, toàn bộ thiệt hại của bên thứ ba:

Thiệt hại thực tế

của bên thứ ba =

Thiệt hại vềtài sản +

Thiệt hại về conngười

Việc xác định số tiền bồi thường được dựa trên hai yếu tố, đó là:

- Thiệt hại thực tế của bên thứ ba;

- Mức độ lỗi của chủ xe trong vụ tai nạn

Trong trường hợp có cả lỗi của người khác gây thiệt hại cho bên thứ

Sau khi bồi thường, Công ty bảo hiểm được quyền đòi lại người khác

số thiệt hại do họ gây ra theo mức độ lỗi của họ Cần nhắc lại rằng, công tybảo hiểm bồi thường theo thiệt hại thực tế nhưng số tiền bồi thường tối đakhông vượt quá mức giới hạn trách nhiểm của bảo hiểm

Quy trình bồi thường

B1 Tiếp nhận hồ sơ khiếu nại đòi bồi thường

Trang 27

Cán bộ bồi thường tiếp nhận hồ sơ khiếu nại đòi bồi thường của chủ

xe do giám định viên chuyển đến, kiểm tra sơ bộ các chứng từ cơ bản của

hồ sơ và vào sổ khiếu nại

B2 Phân loại, kiểm tra và hoàn thiện hồ sơ

Cán bộ bồi thường kiểm tra lại toàn bộ các tài liệu các hồ sơ khiếunại, trường hợp chưa đủ tài liệu chứng minh tổn thất cán bộ bồi thường yêucầu giám định viên cung cấp thên những tài liệu cần thiết theo đúng quyđịnh

B3 Tính toán, lập tờ trình bồi thường

Cán bộ bồi thường phải thực hiện các công việc sau:

- Nghiên cứu kỹ hướng dẫn bồi thường để tính toán đúng, đủ và chínhxác số tiền bồi thường

- Trên cơ sở tài liệu chứng minh thiệt hại và nguyên nhân gây tai nạncán bộ bồi thường sẽ tính toán tiền bồi thường

- Xem xét, kiểm tra phương án khắc phục hậu quả, đề xuất các phương

án giải quyết, sửa chữa xe bị tai nạn, giải quyết hàng hóa hư hỏng…

B4 Trình duyệt bồi thường

Phòng bồi thường trình lãnh đạo duyệt bồi thường Tờ trình duyệt bồithường bao gồm các nội dung sau:

- Tên chủ phương tiện tham gia bảo hiểm

- Đơn bảo hiểm, thời hạn bảo hiểm, số tiền bảo hiểm

- Tóm tắt sự kiện bảo hiểm

- Xác nhận của phòng kế toán hội sổ

- Đóng góp ý kiến của các phòng có liên quan

B5 Thông báo bồi thường

Hồ sơ bồi thường được lãnh đạo công ty duyệt, phòng bồi thường sẽgửi thông báo chấp nhận bồi thường cho khách hàng, sau đó kế toán sẽ làmthủ tục trả tiền bồi thường cho khách hàng theo đúng quy định

Trang 28

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM TNDS CỦA CHỦ XE CƠ GIỚI VỚI NGƯỜI THỨ BA TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN BẢO HIỂM PJICO

I Vài nét về công ty cổ phần bảo hiểm PJICO

1 Sự ra đời và phát triển của công ty

Trong Báo Cáo tổng hợp tôi đã trình bày rất kỹ về nội dung này, tuynhiên để bản Báo Cáo chuyên đề được hệ thống tôi xin điểm qua một số nétchính như sau

Công ty bảo hiểm Petrolimex (PJICO) được thành lập vào năm 1995

và có trụ sở chính tầng 3, tòa nhà 105, Láng Hạ, Hà Nội Tổng vốn đầu tưban đầu của Công ty là 55 tỷ VND, trong đó vốn điều lệ là 53 tỷ VND vàtiền ký quỹ là 2 tỷ VND PJICO có 7 thành viên sáng lập và 1 thành viêntham gia

Về loại hình doanh nghiệp PJICO là công ty Cổ phần thuộc sở hữucủa các cổ đông, có tư cách pháp nhân, tự chủ về mặt tài chính và hạch toánđộc lập Công ty có thời hạn hoạt động 25 năm kể từ ngày được cấp giấyphép hoạt động, hết thời hạn trên nếu muốn tiếp tục hoạt động kinh doanhthì phải xin gia hạn thêm

Là một Công ty bảo hiểm còn rất trẻ nhưng mới chỉ qua chục nămhoạt động công ty đã đạt được những kết quả rất khả quan trong hoạt độngkinh doanh và ngày càng củng cố hơn nữa vị trí của mình trên thị trườngbảo hiểm Việt Nam vốn đã có rất nhiều cạnh tranh Đã có hàng trăm ngànlượt khách hàng tham gia bảo hiểm tại PJICO trong đó có cả những doanhnghiệp nước ngoài Thông qua việc giải quyết kịp thời và thỏa đáng hàngchục ngàn vụ bồi thường, công ty đã góp phần ổn định tài chính, khôi phụcsản xuất kinh doanh cho khách hàng của mình Bên cạnh việc thành côngtrong kinh doanh bảo hiểm gốc, công ty đã triển khai hiệu quả hoạt động táibảo hiểm, qua đó thiết lập được mối quan hệ rộng rãi với nhiều Công ty bảohiểm khác như Vinare, Munichre, Lloy’s… Thông qua các mối quan hệ này

Trang 29

công ty đã tăng khả năng nhận bảo hiểm cho những công trình có giá trị lớnthêm vào đó, các khách hàng lớn đã tham gia bảo hiểm tại PJICO như trungtâm thương mại DEAHA, trung tâm thương mại quốc tế HITC…

Hiện nay PJCO đã chính thức gia nhập hiệp hội bảo hiểm Việt Nam

và tiếp tục được đánh giá là một trong những Công ty bảo hiểm hoạt độngtốt, có khả năng tài chính ổn định và vững mạnh Từ khi thành lập đến naythị phần của công ty không ngừng được củng cố và mở rộng Theo thống

kê, năm 2004 công ty chiếm 13.30% thị phần trên thị trường bảo hiểm ViệtNam (theo nguồn của công ty cổ phần bảo hiểm PJICO) và xếp thứ ba vềkhả năng nắm giữ thị phần

Nhìn chung, thị trường bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam đang có sựđổi mới rất mạnh mẽ với sự tham gia của nhiều Công ty bảo hiểm trongnước và cả nước ngoài Tình hình đó đặt PJICO trước những khó khăn vàthách thức rất lớn và để tồn tại và ngày càng phát triển thì PJICO phải đặt

ra cho mình những mục tiêu cụ thể và thực hiện mục tiêu đó bằng tất cả sự

- Nền kinh tế Việt Nam tiếp tục trăng trưởng ổn định và đạt mức caonhất từ năm 1996 đến nay, hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản, đầu tưsản xuất kinh doanh khu vực trong nước và nước ngoài đều có nhữngbước khởi sắc là những cơ hội để các doanh nghiệp nói chung vàdoanh nghiệp bảo hiểm nói riêng tận dụng để phát triển

- Bảo hiểm ngày càng trở thành một ngành kinh tế có vai trò cao đốivới xã hội và vì vậy ngày càng được Nhà nước quan tâm phát triểnthông qua việc hoàn thiện hành lang pháp lý, hạch định các chiến

Trang 30

lược hay có những chính sách ưu tiên, khuyến khích các doanhnghiệp bảo hiểm…

- Công ty tiếp tục nhận được sự quan tâm chỉ đạo sát sao của hội đồngquản trị, sự hỗ trợ tích cực của các cổ đông sáng lập trong quá trìnhhoạt động

- Nội bộ công ty đoàn kết thống nhất, tập trung vào công việc, tập thểngười lao động trong công ty ngày càng lớn mạnh và trưởng thành

2.2 Những nhân tố khó khăn trong quá trình hoạt động

- Sự kiện khủng bố 11/9/2001 đã đi qua từ lâu nhưng hậu quả của nó

để lại là rất nặng nề, cùng với đó là cuộc chiến tranh Iraq, dịch bệnhSARS, dịch cúm gia cầm lây lan trên phạm vi toàn thế giới, sự mấtgiá của đồng Đôla Mỹ, giá vàng thế giới leo thang kỷ lục trong vòng

25 năm trở lại đây… vẫn tiếp tục ảnh hưởng đến thị trường bảo hiểmthế giới cũng như thị trường bảo hiểm Việt Nam

- Thị trường bảo hiểm Việt Nam ngày càng hoàn thiện hơn về cơ cấuthành phần, kéo theo đó là mức độ cạnh tranh cũng ngày càng trở nênphức tạp hơn làm gia tăng chi phí khai thác, chi phí bán hàng của cácdoanh nghiệp bảo hiểm Thêm vào đó là sự xuất hiện của hàng loạtcác Công ty bảo hiểm mới, các công ty môi giới bảo hiểm trong vàngoài nước với tiềm lực vững mạnh cũng là những nguyên nhân gâynên sức ép cạnh tranh ngày càng lớn

II Thực trạng triển khai nghiệp vụ

Với tư cách là một nghiệp vụ có tính chiến lược và truyền thống củacông ty, nghiệp vụ bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới với người thứ ba đã

và đang mang lại những kết quả khả quan cho công ty Số lượng đầu xe cơgiới tham gia bảo hiểm ngày càng nhiều, hạn mức trách nhiệm đa dạng tạo

ra nguồn thu ngày càng tăng Các khâu được thực hiện trong quá trình triểnkhai nghiệp vụ đang dần được hoàn thiện một cách rất đầy đủ và bài bản.Hình ảnh và uy tín của công ty ngày càng được nâng cao trong mắt người

Trang 31

tham gia bảo hiểm, các đối tác cũng như các đối thủ cạnh tranh Để tìmhiểu kỹ hơn về những kết qua thu được và cả những gì còn tồn tại trongsuốt quá trình triển khai nghiệp vụ chúng ta cùng đi sâu phân tích tình hìnhhoạt động của từng khâu nghiệp vụ.

1 Công tác khai thác

Công tác khai thác là khâu đầu tiên tối quan trọng trong quá trìnhtriển khai một nghiệp vụ bảo hiểm nói chung, do đó nó có ý nghĩa quyếtđịnh đến sự thành công hay thất bại của việc kinh doanh nghiệp vụ đó.Thực chất của khâu khai thác là sự vận động, tuyên truyền cho các đốitượng tham gia mà cụ thể là các chủ xe cơ giới đối với nghiệp vụ bảo hiểmTNDS thấy được sự cần thiết, tác dụng cũng như tính bắt buộc của nghiệp

vụ để từ đó đi đến ký kết hợp đồng BH TNDS cho bản thân hoặc cho lái xe

mà mình thuê trong quá trình vận hành xe Với những lý do đã đề cập ởtrên thì khâu khai thác không chỉ có ý nghĩa đối với kết quả hoạt động củariêng nghiệp vụ mà còn ảnh hưởng rất lớn đến kết quả kinh doanh chungcủa toàn Công ty

1.1 Công tác khai thác tại công ty cổ phần bảo hiểm PJICO

Xuất phát từ phương châm “lấy chữ tín làm đầu, coi lợi ích củakhách là trên hết, không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn và chấtlượng phục vụ khách hàng”, kết hợp với sự đánh giá cao tầm quan trọngcủa công tác khai thác, PJICO đã đề ra khẩu hiệu cho hoạt động khai thác,

đó là: “năng động, tích cực, khoa học, nhanh và tôn trọng lợi ích của kháchhàng cũng như cộng tác viên Công ty đã không ngừng mở rộng địa bànkhai thác, đạt các văn phòng đại diện tại các tỉnh, thành phố trên phạm vi cảnước, hàng trăm tổng đại lý được mở ở các khu vực đông dân cư thuận tiệncho việc tư vấn và bán bảo hiểm để thực hiện khâu khai thác được tốt nhất,triệt để nhất nhằm “bám sát” khách hàng, tạo điều kiện cho khách hàng tiếpcận và tham gia bảo hiểm tại công ty Bên cạnh đó công ty cũng đã phối

Trang 32

hợp với các cơ quan hành chính như Bộ Giao thông vận tải, Bộ Tài chính,ngành thuế, công an, cảnh sát… cùng tiến hành triển khai nghiệp vụ.

Kết quả thực tế triển khai công tác khai thác của PJICO trong 5 nămgiai đoạn 2001-2005 được thể hiện ở bảng sau:

Trang 33

Bảng 1: Tình hính khai thác nghiệp vụ BH TNDS của chủ xe cơ giới với người thứ ba tại PJICO

Tốc độ phát triển (%)

Tốc độ phát triển (%)

Tốc độ phát triển (%)

8,309,211 671,532 7,637,679

112.24 105.74 112.84

9,429,292 705,476 8,723,826

113.48 105.05 114.20

10,573,073 847,291 9,725,782

112.13 120.10 111.48

11,791,207 972,816 10,818,391

111.52 114.81 111.23

55,672 26,431 29,241

117.5 119.2 115.9

70,719 28,306 42,413

127.03 107.10 145.04

95,470 30,506 64,964

135.00 107.77 153.17

115,967 33,014 82,953

121.47 108.22 127.69

0.67 3.90 0.38

104.68 111.43 102.15

0.75 4.01 0.48

111.9 102.8 126.3

0.93 3.60 0.67

124.00 89.77 138.58

0.98 3.39 0.76

105.37 94.17 113.43

9,245.1 7,929.3 1,315.8

118.7 119.2 115.9

10,400.4 8,491.8 1,908.6

112.50 107.10 145.05

11,912.7 10,326.3 1,586.4

114.54 121.60 83.31

13,892.9 12,011.1 1,881.8

116.62 116.31 118.62

Nguồn:Báo cáo phòng Tổng hợp PJICO

Trang 34

Số liệu bảng trên cho ta thấy số lượng xe cơ giới tham gia giaothông liên tục tăng qua các năm và song song với đó là số lượng xe thamgia bảo hiểm cũng tăng đều qua các năm Ta có thể nhận thấy một cách

cụ thể như sau: Năm 2001, số lượng xe cơ giới tham gia bảo hiểm tạiPJICO là 47,379 xe, chiếm 0.64% số lượng xe lưu hành trên toàn quốc,đến năm 2002 con số này đã tăng lên là 55,672 xe tăng 17.5% so với năm

2001 và chiếm 0.67% số lượng xe lưu hành trên toàn quốc, trong đó xeôtô là 26,431 xe, tăng 19.2% và xe máy là 29,241 xe, tăng 15.9% so vớinăm 2001 Năm 2003, số xe cơ giới tham gia bảo hiểm tại công ty là70,719xe tăng 27.03% so với năm 2002, trong đó ôtô là 28,306 tăng7.1%, xe máy là 42,413 xe và tăng 45.04% Ở đây có sự khác biệt rất lớngiữa sự tăng của ôtô và tốc độ tăng của xe máy, sở dĩ có sự khác biệt này

là do các chủ xe máy đã ý thức hơn về tầm quan trọng của nghiệp vụ bảohiểm này và họ đã tham gia một cách khá đầy đủ, một nguyên nhân nữakhiến cho sự tham gia bảo hiểm của xe máy có sự nhảy vọt là công ty đã

có sự đầu tư đúng mức cho hoạt động tuyên truyền quảng cáo và có sựphối hợp chặt chẽ với các ngành chức năng trong việc kiểm tra kiểm soát

sự chấp hành luật lệ an toàn giao thông của các chủ xe Sang đến năm

2004, số lượng xe tham gia bảo hiểm là 95,470 chiếm 0.93% số xe lưuhành, trong đó ôtô là 30,506 xe tăng 7.77% và xe máy là 64,964 xe tăng53.17% so với năm 2003 Số lượng cả ôtô và xe máy đều gia tăng trongnăm này là do có sự chỉ đạo của chính phủ về việc tăng cường tham giabảo hiểm đối với nghiệp vụ BH TNDS của chủ xe cơ giới với người thứ

ba, bên cạnh đó tính chất bắt buộc của nghiệp vụ này đã được phổ biếnrộng rãi trong dân cư Và năm cuối cùng mà chúng ta nghiên cứu trongbảng này là năm 2005, trong năm này số lượng xe tham gia bảo hiểm tạiPJICO đã tăng lên đến con số 115,967 xe, chiếm 0.98% số xe lưu hành vàcon số này tăng so với năm 2004 là 21.47%, trong đó ôtô là 33,014 xe,tăng 8.22% và xe máy là 82,953 xe, tăng 27.69% so với năm 2004 Tuynhiên qua bảng ta cũng nhận thấy tỷ lệ ôtô tham gia bảo hiểm chỉ chiếm94,17% so với năm 2004, phải chăng nhu cầu tham gia bảo hiểm của các

Trang 35

chủ xe ôtô đang giảm đi? Để có câu trả lời chính xác chúng ta cần xemxét hoạt động của PJICO trong những năm tiếp theo, tuy vậy trước mắtPJICO nên tập trung vào các biện pháp nhằm kích cầu, thu hút thêm nữakhách hàng tham gia bảo hiểm tại công ty.

Song song với việc gia tăng của số lượng các xe tham gia bảo hiểmtại công ty chúng ta không thể không nhìn nhận sự tăng trưởng của doanhthu phí bảo hiểm của nghiệp vụ này Ta cùng xem xét một cách cụ thểnhư sau: Doanh thu phí ngiệp vụ bảo hiểm TNDS của chủ xr cơ giới năm

2001 đạt 7,784.9 (triệu đ), trong đó ôtô chiếm 6,650.4(triệu đ) và xe máy

là 1,134.5(triệu đ) Năm 2002 doanh thu phí nghiệp vụ đạt 9,245.19(triệuđ), trong đó ôtô đạt 7,929.3(triệu đ), tăng 19.2% và xe máy đạt1,315.8(triệu đ), tăng 15.9% so với năm 2001 Có thể nhận thấy đây là sựgia tăng đột biến của doanh thu phí và có được sự gia tăng đột biến nàycần phải ghi nhận sự nỗ lực, tận tâm với công việc và một sự phấn đấucao của toàn thể cán bộ công nhân viên trong công ty Ngoài ra phải kểđến sự gia tăng số lượng đại lý của công ty, số lượng đại lý đạt 186, tăng38.8% so với con số 134 của năm 2001 Việc mở rộng mạng lưới đại lý

đã mang lại kết quả khai thác cao cho công ty, nhờ vậy số lượng xe thamgia bảo hiểm tại công ty đã tăng lên đáng kể Năm 2003 doanh thu phí là10,400.4(triệu đ), tăng 12.5% so với năm 2003 trong đó sự tham gia bảohiểm của ôtô mang lại 8,491.8(triệu đ) doanh thu và xe máy mang lại1,908.6(triệu đ) doanh thu, đặc biệt doanh thu phí nghiệp vụ của xe máy

đã tăng 45.05% so với năm 2002 Sang đến năm 2004 ta nhận thấy doanhthu phí là 11,912.7(triệu đ), tăng 14.54% trong đó ôtô là 10,326.3(triệuđ), tăng 21.60% và xe máy là 1,586.4(triệu đ), giảm 16.69% so với năm

2003, sự giảm sút này có thể xuất phát từ những nguyên nhân như đã nêu

ở trên Cuối cùng là năm 2005, doanh thu phí đạt 13,892.9(triệu đ), tăng16.62% trong đó doanh thu từ ôtô đạt 12,011.1(triệu đ), tăng 16.31% vàdoanh thu từ xe máy đạt 1,881.8(triệu đ), tăng 18.62% so với năm 2004

Có thể thấy rằng sự gia tăng về doanh thu phí nói chung và doanh thu phí

Trang 36

từ ôtô và xe máy là tương đối đồng đều Một trong những nguyên nhândẫn đến sự gia tăng của doanh thu phí bảo hiểm của nghiệp vụ này là:

- PJICO đã thực hiện việc áp dụng biểu phí mới với các hạn mứctrách nhiệm khác nhau do đó làm gia tăng sự lựa chọn cho kháchhàng, bên cạnh đó các chủ phương tiện có xu hướng càng ngàycàng tham gia bảo hiểm với số tiền lớn, hạn mức trách nhiệm caohơn

- Công tác triển khai bảo hiểm ngày càng được mở rộng với việc giatăng của hàng loạt các đại lý, cộng tác viên… Mạng lưới hoạt độngđược mở rộng đã tạo thuận lợi cho các chủ xe rất nhiều khi có nhucầu tham gia bảo hiểm tại công ty

- Một lý do nữa đó là do chất lượng phục vụ, chăm sóc khách hàngcủa PJICO ngày càng được nâng cao Công ty đã làm rất tốt tất cảcác khâu đặc biệt là khâu giám định, giải quyết bồi thường tạo tâm

lý an tâm, thoải mái cho khách hàng khi không may họ gặp nhữngbiến cố Chính nhờ đó mà năng lực cạnh tranh của công ty cũngđược nâng cao, thương hiệu PJICO được khẳng định và là lựa chọnđầu tiên của khách hàng khi có nhu cầu tham gia bảo hiểm

- Đội ngũ cán bộ công nhân viên của công ty với sức trẻ và lòngnhiệt tình hăng say làm việc đã mang lại hiệu quả kinh tế rất caocho công ty, đặc biệt lực lượng đại lý được đào tạo bài bản và lợiích kinh tế gắn liền với kết quả khai thác mà họ đạt được do vậy

mà doanh thu phí của PJICO luôn tăng đều qua các năm

Trang 37

Bảng 2: Tình hình thực hiện kế hoạch thu phí BH TNDS tại PJICO

Năm Số xe tham gia BH

(chiếc)

Phí BH kế hoạch

(triệu đ)

Phí BH thực thu

(triệu đ)

Tỷ lệ hoàn thành

Nguồn: BC tổng hợp của PJICO

Nhìn một cách tổng quát qua bảng 2 ta nhận thấy trong 5 năm quaPJICO luôn phấn đấu vượt kế hoạch doanh thu mà hội đồng quản trị vàban giám đốc đề ra Năm 2001 doanh thu đạt 7,784.9 triệu đ, đạt 112.6%

kế hoạch đạt ra và đã vượt kế hoạch 871.9 triệu đ Năm 2002 công ty thuđược 9,245.1 triệu đ phí BH đạt 113.1%b kế hoạch mà cụ thể vượt kếhoạch 1,075.1 triệu đ Một điều dễ nhận thấy là công ty luôn vượt kếhoạch đề ra trên 10%, như năm 2003 vượt kế hoạch 21.6%, năm 200432.1%, năm 2005 là 39.8% Có được kết quả này là do công ty đã nắmbắt kịp thời những quy định của chính phủ về chế độ BH TNDS bắt buộc

và đã thực hiện rất tốt khâu khai thác, lượng xe cơ giới tham gia bảo hiểmtại công ty đã tăng vọt đặc biệt là số xe máy Điều này thể hiện thị phầncủa công ty trong mảng nghiệp vụ TNDS đang tăng nhanh chóng, nănglực cạnh tranh của công ty cũng được củng cố một cách vững chắc

Có thể nói, đối với PJICO nghiệp vụ này chưa phải là nghiệp vụmũi nhọn nhưng doanh thu mà nó mang lại lại chiếm một tỷ lệ không nhỏ

Trang 38

trong tổng doanh thu của toàn công ty Để tìm hiểu một cách cụ thể chúng

ta cùng xem xét bảng 3- Tỷ trọng doanh thu phí nghiệp vụ BH TNDS củachủ xe cơ giới trong tổng doanh thu phí BH gốc của toàn công ty

Bảng 3: Tỷ trọng doanh thu phí BH TNDS trong tổng doanh thu phí

BH gốc tại công ty cổ phần BH PJICO

đó công ty cũng cần phải có những biện pháp để phát huy hơn nữa hiệuquả kinh doanh của nghiệp vụ

Trang 39

Có thể nói khâu khai thác là khâu đầu tiên trong quá trình triển khaimột nghiệp vụ BH nói chung và nó cũng là một khâu quan trọng nhất,mục đích của khâu này là làm sao thu hút được nhiều chủ xe tham gia BH

và như vậy quy luật số lớn trong BH sẽ được phát huy một cách tối đa.Một thực tế dễ nhận thấy là mặc dù số lượng xe cơ giới tham gia BH tạicông ty tăng qua các năm nhưng tỷ lệ tham gia lại rất thấp trong khi sốcác công ty BH kinh doanh mảng nghiệp vụ này là không nhiều, vì vậy cómột yêu cầu đặt ra là làm sao phải khai thác được triệt để thị trường tiềmnăng của nghiệp vụ này mà cụ thể là công ty phải có sự đầu tư mạnh hơnnữa đặc biệt là khâu khai thác

1.2 Công tác khai thác tại phòng bảo hiểm khu vực I.

Một đặc điểm nổi bật là công tác khai thác được phòng bảo hiểmkhu vực I triển khai rất tốt Trong những nghiệp vụ chủ yếu văn phòngtriển khai như tôi đã trình bày trong BCTH thì nghiệp vụ bảo hiểm nàyđứng thứ hai về doanh thu tuy nhiên nếu xét về hiệu quả khai thác thìnghiệp vụ này lại đứng đầu Hầu hết các cán bộ trực thuộc văn phòng tuổiđời đều còn rất trẻ, họ là những con người năng động, hăng say, tích cựctrong công việc tuy vậy cũng không thể phủ nhận khả năng làm việc rấttốt và đầy kinh nghiệm của họ Chỉ tính riêng năm 2005, nhờ thực hiệntốt công tác khai thác nghiệp vụ BH TNDS của chủ xe cơ giới với ngườithứ ba đã mang lại cho văn phòng một doanh thu đáng nể: gần 5 tỷ đồngtrong đó doanh thu ôtô đạt 3,682 triệu VND( chiếm 30.65% tổng doanhthu nghiệp vụ) và doanh thu xe máy đạt 704 triệu VND( chiếm 37.41%tổng doanh thu nghiệp vụ) Công tác khai thác của văn phòng tập trungchủ yếu ở các đối tượng như các công ty vận tải, các cơ quan doanhnghiệp có sử dụng một số lượng lớn các phương tiện vận tải vì vậy đã thuhút được một khối lượng rất lớn các đối tượng tham gia Ngoài ra, dothực hiện tốt công tác chăm sóc khách hàng nên số lượng khách hàngtham gia bảo hiểm tái tục tại công ty cũng chiếm một tỷ lệ tương đối cao,nhờ vậy hiệu quả khai thác mà văn phòng mang lại cho công ty là rất lớn

Ngày đăng: 19/02/2014, 11:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Báo cáo tài chính của PJICO trong các năm 2001 - 2005 Khác
2. Bộ luật Dân sự nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1999 Khác
3. Giáo trình Kinh tế Bảo hiểm - bộ môn Kinh tế Bảo Hiểm, Đại học Kinh Tế Quốc Dân Khác
4. Giáo trình Quản trị Kinh doanh Bảo hiểm - bộ môn Kinh tế Bảo hiểm, Đại học Kinh Tế Quốc Dân Khác
5. Luật Kinh doanh Bảo hiểm và các văn bản pháp luật có liên quan Khác
7. Tạp chí Giao thông vận tải 2001 – 2005 8. Thời báo Kinh tế Việt Nam 2003 – 2005 9. Và các tài liệu khác Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Tình hính khai thác nghiệp vụ BH TNDS của chủ xe cơ giới với người thứ ba tại PJICO - một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của nghiệp vụ bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba tại công ty cổ phần bảo hiểm petrolimex(pjico)”.
Bảng 1 Tình hính khai thác nghiệp vụ BH TNDS của chủ xe cơ giới với người thứ ba tại PJICO (Trang 34)
Bảng 2: Tình hình thực hiện kế hoạch thu phí BH TNDS tại PJICO - một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của nghiệp vụ bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba tại công ty cổ phần bảo hiểm petrolimex(pjico)”.
Bảng 2 Tình hình thực hiện kế hoạch thu phí BH TNDS tại PJICO (Trang 38)
Bảng 3: Tỷ trọng doanh thu phí BH TNDS trong tổng doanh thu phí  BH gốc tại công ty cổ phần BH PJICO - một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của nghiệp vụ bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba tại công ty cổ phần bảo hiểm petrolimex(pjico)”.
Bảng 3 Tỷ trọng doanh thu phí BH TNDS trong tổng doanh thu phí BH gốc tại công ty cổ phần BH PJICO (Trang 39)
Bảng 4: Tình hình thực hiện kế hoạch chi đề phòng hạn chế tổn thất - một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của nghiệp vụ bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba tại công ty cổ phần bảo hiểm petrolimex(pjico)”.
Bảng 4 Tình hình thực hiện kế hoạch chi đề phòng hạn chế tổn thất (Trang 44)
Bảng 6: Tỷ lệ bồi thường nghiệp vụ BH TNDS của chủ xe cơ giới tại - một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của nghiệp vụ bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba tại công ty cổ phần bảo hiểm petrolimex(pjico)”.
Bảng 6 Tỷ lệ bồi thường nghiệp vụ BH TNDS của chủ xe cơ giới tại (Trang 52)
Bảng 8: Hiệu quả kinh doanh nghiệp vụ BH TNDS từ năm 2001-2005 - một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của nghiệp vụ bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba tại công ty cổ phần bảo hiểm petrolimex(pjico)”.
Bảng 8 Hiệu quả kinh doanh nghiệp vụ BH TNDS từ năm 2001-2005 (Trang 59)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w