Cán bộ ngân hàng làm công tácTTQT phải nắm rõ các điều kiện, phương tiện và phương thức thanh toánbởi vì các điều kiện, phương tiện và phương thức này quy định rất chặt chẽnội dung từng
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Để hội nhập với thị trường tài chính khu vực và thế giới khi conđường gia nhập WTO của Việt Nam đang bước vào giai đoạn cuối cùng,trong thời gian qua, các NHTM đã không ngừng nỗ lực hết sức nhằm xâydựng mình thành một NHTM hiện đại Các NHTM nước ta đã trưởng thành
và phát triển về nhiều mặt được bạn bè quốc tế biết đến và tín nhiệm
Trong quá trình hoạt động, các ngân hàng hiện đại hoạt động đa năngnhằm tăng thu nhập không những từ các nghiệp vụ ngân hàng truyền thống
mà ngày càng mở rộng các nghiệp vụ ngoại bảng như kinh doanh ngoại tệ,thanh toán quốc tế, bảo lãnh…các hoạt động ngoại bảng mang lại thu nhậpcho ngân hàng dưới dạng phí ngày một gia tăng không những số lượng mà
cả tỷ trọng Trong số các nghiệp vụ ngoại bảng thì thanh toán quốc tế đốivới các Ngân hàng thương mại Việt Nam là nghiệp vụ quan trọng nhất cótốc độ tăng trưởng mạnh mang lại cho ngân hàng khoản thu phí ngày một
lớn Thanh toán quốc tế quyết định sự phát triển của hoạt động ngoại
thương, là cầu nối cho hoạt động xuất nhập khẩu diễn ra suôn sẻ và thuậnlợi, xuất nhập khẩu càng tăng nhanh về số lượng và giá trị thì hoạt độngthanh toán quốc tế lại càng đa dạng và phức tạp
Trong các phương thức thanh toán quốc tế thì phương thức thanhtoán bằng tín dụng chứng từ tại các NHTM chiếm ưu thế hơn cả; tốc độ giatăng doanh số của phương thức này ngày càng lớn và trở thành phươngthức thanh toán phổ biến trong buôn bán quốc tế Bản thân phương thứcthanh toán tín dụng chứng từ tỏ ra ưu việt hơn so với các phương thứcTTQT khác, song nó không đảm bảo là tránh được hoàn toàn rủi ro cho cácbên tham gia, trong đó có các ngân hàng Cũng như rủi ro trong hoạt độngtín dụng, rủi ro trong nghiệp vụ thanh toán bằng phương thức tín dụngchứng từ, ngoài những mất mát thiệt hại xảy ra cho các ngân hàng dokhông thu hồi được vốn từ hoạt động tín dụng mà Ngân hàng còn phải trả
Trang 2thay cho doanh nghiệp trong các trường hợp sai sót về kỹ thuật nghiệp vụthì rủi ro về uy tín của ngân hàng trong TTQT là vô cùng, không thể thống
kê được
Trên cơ sở thực tiễn tại NHCT Hưng Yên, vận dụng những kiến thức
đã được tiếp thu và các phương thức nghiên cứu đã học em xin nêu ra một
số nét chính tình hình TTQT bằng phương thức Tín dụng chứng từ tại ngân
hàng Công thương Hưng Yên với nội dung ‘Mở rộng hoạt động TTQT
bằng phương thức Tín dụng chứng từ tại NHCT Hưng Yên’.
Đề tài gồm 3 chương:
NHCT HY
Mặc dù đã cố gắng nhưng do thiếu kinh nghiệm thực tế và hạn chế
về nhận thức nên bài viết của em không tránh khỏi những thiếu sót Em rấtmong sẽ nhận được sự góp ý để bài viết của em được hoàn thiện hơn
Em xin cảm ơn cô giáo PGS- TS Nguyễn Thị Bất đã hướng dẫn emmột cách tận tình
Em cũng xin cảm ơn các cô chú trong ngân hàng đã giúp đỡ, tạo điềukiện để em có thể hoàn thành luận văn này
Trang 3CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ PHƯƠNG THỨC
TÍN DỤNG CHỨNG TỪ1.1 Tổng quan về phương thức tín dụng chứng từ
1.1.1 Khái niệm về thanh toán quốc tế và thanh toán quốc tế bằng phương thức tín dụng chứng từ
Trong xu hướng phát triển kinh tế thế giới hiện nay, các quan hệkinh tế diễn ra hết sức sôi động, kéo theo đó là sự đa dạng phức tạp của chuchuyển hàng hoá quốc tế Đồng thời với nó là sự vận động của các dòngtiền trong thanh toán Quá trình thanh toán có vai trò quan trọng đối vớihoạt động của các doanh nghiệp và cá nhân Hoạt động TTQT diễn ra trênthị trường rộng, phức tạp bởi khoảng cách giữa người mua và người bán,bởi luật lệ của mỗi quốc gia và sự khác biệt trong đồng tiền thanh toán.Phần lớn các doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân đều không thể độc lập thựchiện được các hình thức TTQT do vậy đã xuất hiện nhu cầu thanh toánđược thực hiện bởi các ngân hàng
Vậy TTQT là gì? TTQT là một hoạt động thanh toán trên cơ sở liênquan đến hàng hoá, dịch vụ, của tổ chức, cá nhân, giữa các nước trên thế giớitrên cở sở quy tắc thanh toán được áp dụng chung cho các bên tham gia
Ngân hàng thương mại (NHTM) là một thành viên thực hiện việcthanh toán góp phần thúc đẩy sự phát triển của hoạt động thương mại quốc
tế Ngân hàng tài trợ cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, cung ứng dịch
vụ thanh toán và dịch vụ mua bán ngoại tệ, đảm bảo cho hoạt động nhập khẩu được thông suốt, an toàn, hiệu quả
xuất-Hoạt động TTQT của NHTM có những đặc trưng như sau:
* TTQT đòi hỏi chuyên môn cao: Luật pháp mỗi nước mỗi khácnhau nên trong giao dịch ngoại thương đã có những quy định thống nhất,những thông lệ quốc tế mà các bên tham gia, kể cả ngân hàng đều phảituân thủ: như UCP 500, Incoterm…Những tài liệu này do Phòng thươngmại quốc tế (ICC) phát hành đều là những quy phạm luật pháp tuỳ chọn,
Trang 4nhưng khi đã chọn thì buộc phải tuân theo Cán bộ ngân hàng làm công tácTTQT phải nắm rõ các điều kiện, phương tiện và phương thức thanh toánbởi vì các điều kiện, phương tiện và phương thức này quy định rất chặt chẽnội dung từng điều khoản về chứng từ, về tư cách người lập, người ký hoặccác loại giá áp dụng… các điều khoản này có hiệu lực mang tính quốc tế.Hơn nữa, chứng từ giao dịch trong thanh toán quốc tế đều sử dụng ngoạingữ nên đòi hỏi cán bộ nghiệp vụ phải có một trình độ ngoại ngữ nhất định.
* TTQT tạo môi trường ứng dụng công nghệ ngân hàng: Hệ thốngngân hàng của mỗi nước dù đã hay đang phát triển đều hết sức quan tâmđến hoạt động TTQT Tiêu chí hoạt động thanh toán là nhanh chóng, kịpthời, chính xác Do đó, các công nghệ tiên tiến của ngành ngân hàng đềuđược ứng dụng nhằm thực hiện ngày càng tốt hơn các tiêu chí nêu trên
nghệ được thoả mãn thì TTQT là một nghiệp vụ thực sự an toàn Các biệnpháp an toàn trong thanh toán luôn được chú trọng: mã hoá thông tin truyền
đi, lọc những thông tin gây nhiễu, đối chiếu số liệu tài khoản qua mạng vitính… đã tạo cho giao dịch thanh toán ngày càng an toàn, cập nhật hàngngày cho các bên tham gia
* Ngân hàng thu phí dịch vụ trong thanh toán: Khi thực hiện các yêucầu thanh toán, ngân hàng đựơc quyền thu một khoản phí nhất định Phídịch vụ với tỷ lệ tuy nhỏ nhưng có rất nhiều loại phí, các loại phí này đượcthể hiện trong biểu phí ngân hàng về các dịch vụ đối ngoại
* TTQT làm tăng tính thanh khoản cho ngân hàng: Để thực hiệnthanh toán, ngân hàng yêu cầu khách hàng phải ký quỹ theo một tỷ lệ nhấtđịnh tuỳ theo độ tín nhiệm của khách hàng với ngân hàng Giá trị ký quỹnày NH sẽ bổ sung vào nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong thanh toán nhằm
mở rộng hoạt động cho vay của mình Nguồn tiền này thường duy trì trongsuốt thời gian hai bên đang chuẩn bị cho các giao dịch của mình do vậy rất
Trang 5ổn định và phát sinh thường xuyên đã tạo tính thanh khoản cho ngân hàngdưới hình thức tiền tập trung chờ thanh toán.
* TTQT làm tăng cường quan hệ đối ngoại: Thông qua việc bảo lãnhcho khách hàng trong nước, thanh toán cho ngân hàng nước ngoài, ngânhàng thực hiện TTQT sẽ tạo được những quan hệ đại lý với các Ngân hàng
và đối tác nước ngoài Mối quan hệ này dựa trên cơ sở hợp tác và tươngtrợ Với thời gian hoạt động nghiệp vụ càng lâu, mối quan hệ ngày càng mởrộng Đây cũng là thành quả do hoạt động TTQT quốc tế mang lại
* Trong TTQT ngân hàng giữ vai trò trung gian thanh toán giúp choquá trình thanh toán theo yêu cầu khách hàng được thực hiện trên cơ sở antoàn, nhanh chóng và chi phí thấp Ngân hàng bảo vệ quyền lợi cho kháchhàng, tư vấn cho khách hàng, hướng dẫn kỹ thuật thanh toán quốc tế nhằmgiảm thiểu rủi ro đồng thời ngân hàng có thể tài trợ cho khách hàng bằngcách cho vay để thanh toán hàng nhập khẩu, bảo lãnh thanh toán, chiếtkhấu chứng từ xuất khẩu nhằm đáp ứng nhu cầu về vốn cho các doanhnghiệp xuất nhập khẩu
* Thực hiện TTQT, ngân hàng có thể giám sát được tình hình kinhdoanh của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, tạo điều kiện thực hiện quản
lý có hiệu quả hoạt động xuất nhập khẩu trong nước theo đúng chế độ quản
lý ngoại hối do Chính phủ quy định
Để thực hiện nghiệp vụ thanh toán quốc tế của mình, các NHTM đã
♦ Phương thức chuyển tiền( Remittance)
Thanh toán bằng chuyển tiền là phương thức thanh toán trong đókhách hàng( người trả tiền) yêu cầu ngân hàng phục vụ mình chuyển một
số tiền nhất định cho người thụ hưởng ở một địa điểm nhất định bằngphương tiện chuyển tiền do khách hàng yêu cầu
Phương thức chuyển tiền được sử dụng trong hai trường hợp thanhtoán trước tiền hàng và thanh toán sau Thanh toán trước tiện lợi cho người
Trang 6bán nhưng lại bất lợi cho người mua, vì người mua buộc phải có một sốlượng vốn lưu động đáng kể bị ghim giữ trong thời gian dài Hơn nữa, nếuhàng hoá kém chất lượng, hay người sản xuất bị phá sản không còn khảnăng giao hàng, hoặc các vấn đề khác nảy sinh từ tình hình kinh tế chính trịkhông ổn định dẫn đến phương thức ứng tiền trước có thể gặp rủi ro Vìvậy phương thức này không được sử dụng rộng rãi trong ngoại thương.Nếu buộc phải thanh toán theo phương thức này, người mua nên yêu cầungân hàng của người bán phát hành cho mình một thư bảo lãnh về số tiềnứng trước đó, để tránh rủi ro mất tiền khi người bán không thực hiện nhữngnghĩa vụ như đã cam kết trong hợp đồng ngoại thương.
Thanh toán sau thì thuận lợi cho người mua và bất lợi cho người bán.Cũng giống như phương thức mở tài khoản, việc thanh toán hoàn toàn phụthuộc vào thiện chí và khả năng tài chính của người mua
Thanh toán theo phương thức chuyển tiền có thể thực hiện theo haihình thức chủ yếu:
- Chuyển tiền bằng thư (Mail Transfer):
Là hình thức chuyển tiền trong đó lệnh thanh toán của ngân hàngchuyển tiền được thể hiện trong nội dung một bức thư mà ngân hàng nàygửi yêu cầu ngân hàng thanh toán thực hiện Thư chuyển tiền là chỉ thị củangân hàng chuyển tiền đối với ngân hàng thanh toán yêu cầu ngân hàng nàychi trả một khoản tiền được ấn định cho người thụ hưởng được chỉ địnhtrong thư
- Chuyển tiền bằng điện (Telegraphic Transfer):
Là hình thức chuyển tiền, trong đó lệnh thanh toán của ngân hàngchuyển tiền được thể hiện trong nội dung một bức điện mà ngân hàng nàygửi cho ngân hàng thanh toán thông qua truyền tin của mạng viễn thôngnhư SWIFT
Trang 7Trong hai hình thức chuyển tiền nêu trên phí dịch vụ chuyển tiềnbằng thư thấp hơn chuyển tiền bằng điện, song lại chậm hơn rất nhiều sovới chuyển tiền bằng điện.
Tóm lại, phương thức thanh toán chuyển tiền là phương thức thanhtoán đơn giản, thủ tục nhanh gọn Tuy nhiên trong phương thức thanh toánnày ngân hàng chỉ đóng vai trò trung gian thanh toán, còn việc giao nhậnhằng hoá là việc của hai bên mua - bán Do đó NH không thể kiểm soátđược việc giao nhận hàng hoá (nếu NH đầu tư vốn cho nhà nhập khẩu).Trong trường hợp giao hàng trước, trả tiền sau thì thiện chí thanh toánthuộc về người mua
♦ Phương thức nhờ thu ( Collection of payment)
Phương thức thanh toán nhờ thu là phương thức thanh toán mà ngườixuất khẩu sau khi giao hàng hoá hoặc cung ứng dịch vụ nào đó cho nhà nhậpkhẩu sẽ tiến hành uỷ thác cho ngân hàng thu hộ số tiền trên cơ sở hàng hoá đãgiao Căn cứ vào chứng từ do người bán lập; Ngân hàng lập nhờ thu kèm hốiphiếu và chứng từ gửi cho Ngân hàng nhập khẩu nhờ thu hộ
Có hai hình thức nhờ thu đó là nhờ thu trơn và nhờ thu kèm chứng từ.Phương thức nhờ thu trơn không đảm bảo quyền lợi cho bên bán Giữa sựtrả tiền và sự nhận hàng tách rời, không có sự ràng buộc lẫn nhau Ngườimua có thể nhận hàng không chịu trả tiền hoặc trì hoãn việc trả tiền Ngượclại đối với người mua cũng có thể bị tổn thất trong trường hợp phải trả tiềntrước khi chưa biết hàng hoá chuyển giao có đúng theo hợp đồng thoảthuận hay không
Phương thức nhờ thu hay được áp dụng trong trường hợp người mua
và người bán tin cậy lẫn nhau hoặc có quan hệ liên doanh giữa công ty mẹ công ty con, hoặc chi nhánh của nhau
-Trong nhờ thu kèm chứng từ, người bán uỷ thác cho ngân hàng ngoàiviệc thu hộ tiền còn nhờ ngân hàng khống chế chứng từ hàng hoá đối vớingười mua Đây là sự khác nhau cơ bản giữa nhờ thu trơn và nhờ thu kèm
Trang 8chứng từ Với cách khống chế theo bộ chứng từ này, quyền lợi của bên bánđược đảm bảo hơn vì sự ràng buộc giữa việc thanh toán với việc nhận hàngcủa người mua Tuy vậy không phải là không có hạn chế trong phươngthức này bởi người bán thông qua ngân hàng giữ hộ hồ sơ hàng hoá mới chỉđảm bảo được quyền sở hữu hàng hoá của mình chứ chưa khống chế đượcviệc trả tiền của người mua Hoặc người mua có thể kéo dài việc trả tiềnbằng cách chưa nhận chứng từ, không nhận hàng khi hàng hoá giảm giáhoặc những biến động về chính trị gây bất lợi cho họ… Người bán tuy vẫn
có quyền sở hữu hàng hoá, có quyền bán hàng hoá cho người khác songviệc giải toả hàng hoá gặp khó khăn và rủi ro trong tiêu thụ hàng
Trong mọi trường hợp, ngân hàng chỉ đóng vai trò trung gian thu hộtiền người bán chứ không có trách nhiệm trong việc trả tiền của người mua
♦Phương thức ghi sổ hay mở tài khoản (open acount)
Trong phương thức này người bán xin mở một tài khoản ( hoặc sổ)
để ghi nợ người mua sau khi người bán đã hoàn thành việc giao hàng hoáhay dịch vụ; định kỳ sau khi kiểm tra đối chiếu theo thoả thuận giữa haibên, người mua sẽ trả tiền cho người bán
Phương thức mở tài khoản thường được áp dụng thanh toán trongquan hệ bạn hàng tin cậy, tín nhiệm lẫn nhau Với phương thức này thuậnlợi cho bên mua được sử dụng hàng hoá thường xuyên, thậm chí cả lúcchưa đủ tiền, ngược lại thuận lợi cho bên bán tiêu thụ được hàng hoá và giữđược khách hàng truyền thống
Trang 9điểm hơn nhưng không hề thay thế được các phương thức trước đó Trongbài viết này sẽ chỉ tập trung nghiên cứu về phương thức tín dụng chứng từ.
Khái niệm
Tín dụng thư là một phương thức thanh toán, trong đó, theo yêu cầucủa khách hàng ( người mua) ngân hàng sẽ phát hành một thư tín dụng( Viết tắt là L/C ) tên giao dịch quốc tế ( Letter of Credit) trong đó ngânhàng phát hành cam kết trả tiền hoặc chấp nhận hối phiếu cho một bên thứ
ba khi người này xuất trình cho ngân hàng phát hành bộ chứng từ thanhtoán phù hợp với những điều kiện, điều khoản quy định trong L/C
Bằng ngôn ngữ luật, định nghĩa về tín dụng chứng từ được nêu tạiđiều 2, UCP 500, như sau:
“ Tín dụng chứng từ là một sự thoả thuận, theo đó một ngân hàng(ngân hàng phát hành) hành động theo yêu cầu và theo các chỉ thị của mộtkhách hàng( người mở L/C) hoặc trên danh nghĩa chính mình
i Phải trả tiền cho hoặc trả tiền theo lệnh của một bên thứ ba ( ngườihưởng lợi) hoặc chấp nhận và trả tiền hối phiếu do người hưởng lợi kýphát, hoặc
ii Uỷ quyền cho một ngân hàng khác trả tiền, hoặc chấp nhận và trảtiền các hối phiếu hoặc
iii Uỷ quyền cho một ngân hàng khác chiết khấu, đối với chứng từquy định được xuất trình và tuân thủ các điều kiện của tín dụng “
Có nhiều cách gọi khác nhau đối với phương thức tín dụng chứng từnhư: Letter of Credit (L/C), Document Credit (D/C), tín dụng thư, thư tíndụng…Trong bài viết này cách gọi L/C sẽ được sử dụng phổ biến
Đặc diểm của phương thức thanh toán bằng L/C
- Ngân hàng và các bên tham gia chỉ giao dịch trên cơ sở chứng từ,không dựa trên hàng hoá hay dịch vụ
- L/C phải chỉ rõ là huỷ ngang hoặc không huỷ ngang , nếu khôngchỉ ra như vậy nó sẽ được coi là không huỷ ngang
Trang 10- Chứng từ được coi như không phù hợp với các điều khoản quy đinhtrong L/C nếu: chứng từ mâu thuẫn với các điều khoản quy định của L/Chay các chứng từ mâu thuẫn nhau.
- Ngân hàng phát hành có một khoảng thời gian hợp lý không quá 7ngày làm việc sau khi nhận được chứng từ để kiểm tra chứng từ và xácđịnh chứng từ phù hợp hay không phù hợp, nếu quá thời gian ngân hàngphát hành không có quyền từ chối thanh toán nếu chứng từ có sai sót
- Ngân hàng không chịu trách nhiệm kiểm tra các chứng từ khôngquy định trong L/C
- Ngân hàng không chịu trách nhiệm về sự chậm trễ do truyền tin, vềlỗi chính tả phát sinh trong quá trình chuyển giao hoặc truyền tin
1.1.2 Nội dung của L/C
1.1.2.1 Số L/C (Credit Number)
Tất cả các L/C đều phải có số hiệu riêng của nó, nhằm tạo điều kiệnthuận lợi trong việc trao đổi thông tin, điện tín, để ghi vào các chứng từ liênquan như hối phiếu và các chứng từ cần thiết khác
1.1.2.2 Địa điểm mở L/C
Là nơi ngân hàng mở L/C (NH phát hành- NH phục vụ nhà nhậpkhẩu) viết cam kết thanh toán tiền cho người xuất khẩu Là ngày bắt đầutính thời hạn hiệu lực của L/C Địa điểm này có ý nghĩa quan trọng trongviệc chọn pháp luật áp dụng khi xảy ra tranh chấp nếu có xung đột phápluật về L/C đó
1.1.2.3 Ngày phát hành L/C (Date of Issue) là ngày:
- Ngân hàng phát hành chính thức chấp nhận đơn xin mở L/C củanhà nhập khẩu Kèm theo đó là việc phát hành một L/C theo mẫu chuẩnquốc tế
- Là ngày bắt đầu tính thời hạn hiệu lực của L/C
- Là mốc để nhà xuất khẩu kiểm tra xem nhà nhập khẩu có mở L/Cđúng hạn như quy định trong hợp đồng ngoại thương hay không
Trang 11Thông thường, L/C được nhà nhập khẩu mở sau ngày ký hợp đồngngoại thương và trước ngày giao hàng một thời gian nhất định để nhà xuấtkhẩu có đủ thời gian cần thiết chuẩn bị hàng hoá gửi đi Nếu L/C được mởsớm thì có lợi cho người xuất khẩu có đủ cơ sở cho việc chuẩn bị hàng hoágửi đi Nhưng ngược lại nhà nhập khẩu sẽ bị đọng vốn vì phải ký quỹ hoặccam kết nhận nợ vay với ngân hàng quá sớm gây ảnh hưởng đến vốn kinhdoanh Vì vậy cần phải chọn thời điểm mở L/C hợp lý để không ảnh hưởngđến hoạt động kinh doanh cho cả hai bên nhập khẩu và xuất khẩu
1.1.2.4 Tên, địa chỉ của những người có liên quan đến L/C
- Người yêu cầu mở L/C: bao gồm nhà nhập khẩu, người yêu cầu mở L/C
- Người hưởng lợi L/C: bao gồm nhà xuất khẩu, người hưởng lợi
- Các ngân hàng tham gia trong phương thức tín dụng chứng từ gồm:Ngân hàng mở L/C ( NH phát hành), Ngân hàng thông báo, Ngân hànghoàn tiền, Ngân hàng xác nhận và các ngân hàng khác (nếu có)
1.1.2.5 Số tiền, loại tiền của L/C
Số tiền trên L/C vừa phải được ghi bằng chữ, vừa phải được ghi bằng
số và thống nhất với nhau Đơn vị tiền tệ phải được ghi rõ ràng, ký hiệutheo thông lệ quốc tế (Ví dụ: Dollar Mỹ-USD, Đồng tiền chung Châu Âu -EUR,,) Số tiền trên L/C phải là số tuyệt đối không thể là số tương đối Tuỳtheo dung sai cho phép mà số tiền thanh toán L/C có thể cao hơn hoặc thấphơn số tiền mở ban đầu
1.1.2.6 Thời hạn hiệu lực, nơi hết hạn hiệu lực, thời hạn giao hàng của L/C
* Thời hạn hiệu lực của L/C:
- Là thời hạn do người mở L/C quy định yêu cầu người hưởng lợiphải hoàn thành việc giao hàng hoá và xuất trình bộ chứng từ theo quyđịnh Sau thời hạn hiệu lực nếu không vì lý do khách quan ( Thiên tai, bão
lũ, chiến tranh ) thì nhà nhập khẩu sẽ không được NH tiếp nhận bộ chứng
từ mặc dù có phù hợp hoàn toàn Còn nếu nhà xuất khẩu xuất trình bộ
Trang 12chứng từ trong thời hạn hiệu lực của L/C mặc dù có phù hợp hay không thìvẫn được chấp nhận.
- Thời hạn hiệu lực của L/C được tính từ ngày mở ( Date of Issue)đến ngày hết hạn hiệu lực của ( Expiry Date)
- Việc xác định thời hạn hiệu lực của L/C phải đảm bảo các nguyêntắc sau:
+ Ngày giao hàng phải nằm trong thời hạn hiệu lực của L/C
+ Ngày mở L/C phải trước ngày giao hàng (Trường hợp ngày giao hàngtrước ngày phát hành của L/C thì phải được chỉ rõ và được chấp nhận)
+ Thông thường các NHTM tính ngày hết hạn hiệu lực L/C trên cở
sở thời gian cần thiết cho việc lập, vận chuyển và xuất trình bộ chứng từđến NH tại nơi hết hạn của L/C
* Thời hạn trả tiền của L/C ( Date of Payment)
Liên quan đến việc trả tiền ngay hay trả chậm, điều này hoàn toànphụ thuộc vào thoả thuận trong hợp đồng ngoại thương về điều khoảnthanh toán (Thanh toán ngay hay trả chậm) mà NH phát hành phải ghi rõtrong L/C: Nếu L/C quy định hối phiếu trả ngay thì phải trả ngay sau khinhận được bộ chứng từ phù hợp Nếu hối phiếu cho phép trả chậm thì phảichấp nhận để thanh toán vào ngày tương lai thì phải chấp nhận thanh toánvào ngày đến hạn của hối phiếu Nếu L/C cho phép đòi tiền bằng điện thìphải hoàn tiền bằng điện theo quy định ( Trong thời gian 5 ngày kể từ ngàynhận được điện đòi tiền mặc dù chưa nhận được bộ chứng từ)
* Thời hạn giao hàng :
Được quy định trong L/C phải sau ngày phát hành L/C và trước ngàyhiệu lực ( trừ những quy định cụ thể)
1.1.2.7 Những nội dung liên quan đến hàng hoá
Bao gồm tên hàng, số lượng, trọng lượng, giá cả, quy cách phẩmchất, bao bì, mã ký hiệu…
Trang 131.1.2.8 Những nội dung về vận tải, giao nhận hàng hoá
Bao gồm điều kiện cơ sở giao hàng (Theo incoterm: FOB, CIF,CFR…), nơi gửi hàng, nơi giao hàng ( cảng bốc hàng, cảng dỡ hàng),phương tiện vận chuyển ( đường biển hay đường sông ), phương thức giaohàng ( giao 1 lần hay nhiều lần)…
1.1.2.9 Bộ chứng từ mà nhà xuất khẩu phải xuất trình:
Đây là nội dung chính yêu cầu người hưởng lợi phải thự hiện, bởi vì
bộ chứng từ quy định trong thư tín dụng là một bằng chứng của người xuấtkhẩu chứng minh rằng mình đã hoàn thành nghĩa vụ giao hàng và làm đúngnhững điều quy định trong thư tín dụng Nếu bộ chứng từ phù hợp vớinhững quy định trong thư tín dụng, ngân hàng mở L/C sẽ tiến hành trả tiềncho người xuất khẩu Nếu bộ chứng từ có sai sót thì việc chấp nhận thanhtoán thuộc về thiện chí của người mua
Bộ chứng từ do L/C quy định nhiều hay ít tuỳ theo tính chất hànghoá, quy định của nước nhập khẩu và sự thoả thuận giữa hai bên mua bán,nhất là đối với người mua
Thông thường bộ chứng từ bao gồm:
- Hoá đơn thương mại
- Chứng từ bảo hiểm
- Vận đơn
- Giấy chứng nhận kiểm định, giấy chứng nhận xuất xứ
- Bản kê khai hàng hoá
Và một số giấy tờ khác theo yêu cầu của người nhập khẩu
Trong thanh toán quốc tế, ngân hàng thực hiện thanh toán trên cơ sởchứng từ , chứ không dựa vào hàng hoá Các chứng từ thương mại quốc tếrất quan trọng bởi chúng kiểm soát sự vận động của hàng hoá Người xuấtkhẩu có nhận được tiền và nhanh hay chậm phụ thuộc vào chứng từ Vì vậyyêu cầu lập chứng từ phải nghiêm ngặt, hoàn hảo, phù hợp với những điềukiện và điều khoản của L/C
Trang 141.1.2.10 Cam kết trả tiền của ngân hàng mở L/C
Nội dung này ràng buộc trách nhiệm của ngân hàng mở L/C, camkết trả tiền bằng uy tín và trách nhiệm của mình đối với khách hàng Camkết này là một cam kết có điều kiện, tức là ngân hàng chỉ thực hiện cam kếtvới điều kiện nhà xuất khẩu phải trình được bộ chứng từ phù hợp với cácđiều khoản quy định trong L/C
1.1.2.11 Những điều khoản đặc biệt khác
Ngân hàng mở L/C nhập khẩu có thể thêm những nội dung khác, ví
dụ quy định có thể hoàn trả bằng điện…
1.1.3.1 L/C có thể huỷ ngang ( Revocable L/C)
Là L/C mà người mở (nhà nhập khẩu )có quyền đề nghị ngân hàngphát hành sửa đổi, bổ sung, hoặc huỷ bỏ bất cứ lúc nào mà không cần có sựchấp thuận và thông báo trước của người thu hưởng
L/C loại này chứa đựng nhiều rủi ro đối với người bán vì việc sửađổi hoặc huỷ thư tín dụng có thể xảy ra khi hàng hoá đang trên đường vậnchuyển hoặc trước khi việc thanh toán được thực hiện Thư tín dụng huỷngang tạo cho người mua sự chủ động tối đa vì nó có thể được sửa đổi hoặchuỷ bỏ mà không cần thông báo cho người bán
Tuy nhiên, khi hàng hoá đã được giao, ngân hàng mới thông báolệnh huỷ bỏ hoặc sửa đổi bổ sung thì lệnh này không có giá trị; nghĩa là khi
đó ngân hàng phát hành L/C vẫn phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán như đãcam kết, coi như không có việc huỷ bỏ xảy ra
Trang 15Vì tình trạng thanh toán bấp bênh, đặc biệt là quyền lợi người xuấtkhẩu không được bảo đảm, do đó, loại L/C này hầu như không được sửdụng trong thực tế hoặc chỉ được sử dụng trong một số trường hợp:
- Việc giao hàng được thực hiện giữa công ty mẹ và công ty con
- Giữa người mua và người bán có quan hệ tín dụng rất tốt
1.1.3.2 L/C không thể huỷ ngang (Irrevocable L/C)
Là L/C mà sau khi đã mở và nhà xuất khẩu đã chấp nhận, thì ngânhàng phát hành không được sửa đổi, bổ sung hay huỷ bỏ trong thời hạnhiệu lực của L/C, trừ khi có sự thoả thuận khác của các bên tham gia
Một L/C không ghi chữ “Irrevocable” thì vẫn được coi là không huỷngang
Do quyền lợi của người xuất khẩu được đảm bảo hơn, do đó, loạiL/C này được sử dụng phổ biến nhất hiện nay trong thanh toán quốc tế
Theo quy định của UCP, thì “L/C có thể thuộc loại huỷ ngang hoặckhông huỷ ngang, do đó, một L/C phải nói rõ là thuộc loại nào, nếu khôngnói rõ thuộc loại nào, thì L/C được coi là loại không huỷ ngang” Với quytắc này, những người tham gia giao dịch L/C luôn có nhận thức thường trựcrằng đã là L/C thì phải là loại không huỷ ngang, trừ khi nói rõ là có thể huỷngang Điều này phù hợp với thực tiễn hiện nay là, loại L/C có thể huỷngang hầu như không còn áp dụng, bởi vì nó có thể gây ra hậu quả khólường cho người hưởng Tuy nhiên theo quy định của UCP 500, thì L/Cvẫn nên ghi rõ là loại huỷ ngang hay không huỷ ngang để nói rõ ý định củangười mở L/C
L/C huỷ ngang nói lên khả năng đơn phương huỷ bỏ L/C đang cònhiệu lực vào bất cứ thời điểm nào mà không cần sự đồng ý của các bên liênquan Chẳng hạn, người mở hay ngân hàng phát hành đơn phương tuyên bốhuỷ L/C, trong khi đó người hưởng, ngân hàng thông báo hay ngân hàngxác nhận không hề biết trước và không hề đồng ý Ngược với L/C huỷngang, L/C không huỷ ngang không cho phép bất cứ bên nào đơn phương
Trang 16tuyên bố huỷ hay sửa đổi L/C mà không có sự chấp thuận của một/ các bêncòn lại Việc đơn phuơng tuyên bố huỷ hay sửa đổi L/C là không có giá trịpháp lý.
Nhưng một L/C không huỷ ngang không có nghĩa là không thể huỷ
bỏ Trong trường hợp các bên cùng nhau đồng ý huỷ bỏ L/C thì nó đượccông nhận không còn giá trị thực hiện Tuy nhiên, sau khi thoả thuận vớingười hưởng về huỷ bỏ L/C, người mở phải thương lượng với ngân hàngphát hành, ngân hàng này liên hệ với ngân hàng thông báo và ngân hàngxác nhận (nếu có) để có được xác thực đồng ý huỷ bỏ L/C Như vậy, mộtL/C muốn được huỷ bỏ phải có được sự đồng ý của tất cả các ngân hàngliên quan bằng văn bản/điện tín Trong thực tế khách hàng thường lầmtưởng là chỉ cần bên mua và bên bán đồng ý huỷ bỏ là được, mà coi nhẹ vaitrò của ngân hàng Rất có thể ngân hàng phát hành/ ngân hàng xác nhậnkhông đồng ý huỷ bỏ L/C vì họ đã cấp tín dụng cho người mở, hoặc tài trợxuất khẩu cho người hưởng, việc huỷ bỏ L/C dẫn đến thiệt hại cho nhữngngân hàng liên quan
Thông thường, yêu cầu huỷ bỏ L/C phát sinh từ người mở vì họ cầngiải toả tiền ký quỹ tại ngân hàng phát hành trước thời hạn hiệu lực Đốivới người hưởng, việc không giao hàng của họ đồng nghĩa với việc huỷ bỏL/C Đó là lý do người mua yêu cầu người bán phát hành” bảo lãnh thựchiện hợp đồng” nhằm tránh những thiệt hại do phía người bán “huỷ ngang “L/C nghĩa là không giao hàng hoặc không có hàng giao như thoả thuận
1.1.3.3 Thư tín dụng không huỷ ngang có xác nhận (Confirmied Irrevocable L/C)
Là loại thư tín dụng không thể huỷ ngang, được một ngân hàng khácxác nhận, điều đó có nghĩa là ngoài cam kết thanh toán của ngân hàng pháthành còn có thêm sự cam kết thanh toán của ngân hàng xác nhận Ngânhàng xác nhận có thể là Ngân hàng thông báo hoặc là một Ngân hàng thứ
ba tuỳ theo thoả thuận giữa người mua, người bán và ngân hàng phát hành
Trang 17Trong thực tế việc yêu cầu xác nhận L/C không xuất phát từ mong muốncủa người mở L/C mà xuất phát từ yêu cầu của người hưởng khi họ nghingờ khả năng thanh toán và uy tín của ngân hàng phát hành, hoặc họ lolắng về tình hình chính trị và khả năng an toàn của nước người mua Khingân hàng xác nhận đã thanh toán cho người hưởng theo đúng quy định củaL/C nó có quyền truy đòi lại số tiền đã thanh toán từ ngân hàng phát hành.
Để đảm bảo an toàn, ngân hàng xác nhận có thể yêu cầu ngân hàng pháthành ký quỹ theo tỷ lệ nhất định Ngược lại, để đảm bảo quyền lợi củamình, Ngân hàng phát hành sẽ thoả thuận với khách hàng để chọn ngânhàng đại lýcủa mình ở nước người xuất khẩu làm ngân hàng xác nhận,tránh những rủi ro về vốn ký quỹ tại Ngân hàng xác nhận
Hiện tại có một số Ngân hàng xác nhận L/C mà không cần có sự uỷquyền của ngân hàng phát hành, loại L/C này được coi là xác nhận ngầm vàngân hàng xác nhận chịu hoàn toàn rủi ro trong trường hợp này mà khôngđược phép dẫn chiếu theo các điều khoản của UCP 500
1.1.3.4 Thư tín dụng không huỷ ngang miễn truy đòi (Irrevocable without recourse L/C)
Là loại L/C không huỷ ngang trong đó quy định sau khi nhà xuất khẩu
đã được trả tiền thì ngân hàng phát hành L/C không có quyền đòi lại tiềntrong bất kỳ trường hợp nào
Khi phát hành hối phiếu theo L/C này người xuất khẩu phải ghi lên hốiphiếu câu” Miễn truy đòi người ký phát- Without recourse to drawers” vàtrong L/C cũng phải ghi như vậy Loại L/C này được sử dụng tương đốiphổ biến trong thanh toán quốc tế đặc biệt là đối với các hợp đồng mua bánchịu hàng hoá
1.1.3.5 Thư tín dụng chuyển nhượng ( Irrevocable Transferable L/C)
L/ C chuyển nhượng là L/C, theo đó người hưởng lợi ( người hưởng lợithứ nhất) có thể yêu cầu ngân hàng được uỷ quyền (ngân hàng chuyểnnhượng) thực hiện việc trả tiền, cam kết trả tiền sau, chấp nhận hoặc chiết
Trang 18khấu, hoặc trong trường hợp L/C đựơc chiết khấu tự do, ngân hàng được uỷquyền trong L/C với vai trò là ngân hàng chuyển nhượng sẽ phân bổ toàn
bộ hay một phần L/C cho một hay nhiều người hưởng lợi khác( ngườihưởng lợi thứ hai).`
L/C chuyển nhượng được dùng phổ biến trong phương thức mua bánqua trung gian, nhằm đáp ứng các mục đích sau:
- Người hưởng lợi thứ nhất ký được hợp đồng xuất khẩu, nhưng hiện tạianh ta không có đủ hàng, nên phải chuyển nhượng một phần hay toàn bộquyền lợi và nghĩa vụ cho một hoặc nhiều người cung cấp hàng hoá khác(những người hưởng lợi thứ hai) ở trong cùng một nước hay ở nước ngoài
- Khi người hưởng lợi thứ nhất với vai trò là đại lý hoặc người cung cấpchủ yếu một số mặt hàng nhất định, hoặc là người bao tiêu sản phẩm củanhà sản xuất, nắm độc quyền phân phối mặt hàng đó
- Nhà kinh doanh xuất khẩu (nhà trung gian) tìm được thị trường tiêuthụ, nhưng không có vốn hoặc không được ngân hàng cấp vốn để mua hànghoá hay mở L/C giáp lưng, sẽ tiến hành kinh doanh xuất khẩu ăn chênhlệch giá thông qua giao dịch L/C chuyển nhượng
- Nhà nhập khẩu mở L/C cho nhà môi giới (người hưởng lợi thứ nhất),trên cơ sở đó nhà môi giới sẽ chuyển nhượng toàn bộ nghĩa vụ và quyền lợicủa L/C cho người cung ứng hàng hoá thực hiện (người hưởng lợi thứ hai).Qua dịch vụ môi giới, nhà môi giới được hưởng hoa hồng
Như vậy, người thụ hưởng thứ nhất ( nhà trung gian ) có thể đơn thuầnchỉ là nhà môi giới, nhà bao tiêu, nhà đại lý và cũng có thể là nhà kinhdoanh xuất khẩu thực sự
Trong buôn bán quốc tế, việc mua bán qua trung gian( hay mua bán tayba) sử dụng L/C chuyển nhượng nhằm ăn chênh lệch giá là chủ yếu
1.1.3.6 Thư tín dụng tuần hoàn( Revoling L/C)
Là loại L/C không thể huỷ ngang mà sau khi sử dụng xong hoặc saukhi hết hạn hiệu lực L/C thì sẽ tự động khôi phục lại giá trị như cũ và tiếp
Trang 19tục được sử dụng một cách tuần hoàn trong một thời hạn nhất định cho dếnkhi tổng giá trị hợp đồng được thực hiện.
L/C tuần hoàn có thể khống chế việc thực hiện tuần hoàn theo haicách:
- Theo thời gian: là khống chế thời hạn hiệu lực của L/C trong mỗi lầntuần hoàn và tổng giá trị L/C Theo cách này có thể là L/C tích luỹ hoặckhông tích luỹ L/C tuần hoàn không tích luỹ không cho phép cộng số tiềncủa L/C trước để tăng giá trị của L/C sau nếu L/C trước chưa sử dụng hết.L/C tuần hoàn tích luỹ cho phép cộng dồn số tiền nếu các L/C khác chưa
Có ba cách tuần hoàn: tự động, không tự động và hạn chế
Tuần hoàn tự động có nghĩa là L/C tiếp sau tự động có giá trị, khôngcần sự thông báo của ngân hàng phát hành L/C
Tuần hoàn không tự động là chỉ khi nào ngân hàng phát hành L/Cthông báo cho người bán thì L/C mới có giá trị hiệu lực
Tuần hoàn hạn chế (bán tự động) có nghĩa là nếu sau vài ngày kể từngày L/C cũ hết hạn hiệu lực hoặc đã sử dụng hết mà không có ý kiến gìcủa ngân hàng phát hành thì L/C kế tiếp tự động có giá trị hiệu lực
Lợi thế của L/C tuần hoàn là tạo điều kiện tốt cho nhà nhập khẩu muađược hàng hoá trong suốt thời gian dài khi thị trường đang có lợi cho mình.Hơn nữa, bên mua cũng không muốn nhận tất cả hàng hoá ngay một lúc vìphải tính đến chi phí lưu kho, bảo quản và việc quay vòng vốn Đồng thờinhà nhập khẩu khi mở L/C tuần hoàn thì không phải yêu cầu ngân hàng mở
Trang 20thêm các L/C khác cho cùng một đơn đặt hàng, giúp nhà nhập khẩu không
bị đọng vốn, không bị tính phí mở nhiều lần L/C Nhà xuất khẩu khôngphải chờ đợi L/C mới cũng như có thuận lợi là khi giao hàng nhà xuất khẩu
có thể nhận được tiền ngay trong cùng một L/C
Rủi ro trong thanh toán L/C tuần hoàn là với khoảng thời gian dài nhưvậy thì tình hình tài chính của người nhập khẩu có thể xấu đi, hoặc cónhững biến động trên thị trường tiêu thụ, hàng hoá bị ứ đọng mà ngườinhập khẩu vẫn phải tiếp tục nhập hàng về, không huỷ bỏ được L/C Tất cảnhững rủi ro đó của nhà nhập khẩu sẽ dẫn đến những rủi ro cho ngân hàngphát hành Vì vậy loại L/C nàychỉ đựơc sử dụng trong việc mua bán nhữnghàng hoá với số lượng đều đặn và nhiều lần trong năm Để giảm bớt rủi rocho mình, ngân hàng phát hành nên chỉ định L/C tuần hoàn hạn chế hoặckhông tự động hơn là tuần hoàn tự động
1.1.3.7 Thư tín dụng giáp lưng( Back to back L/C)
Sau khi nhận được L/C do người nhập khẩu mở cho nhà trung gianhưởng, nhà trung gian căn cứ vào nội dung L/C này và dùng chính L/C này
để thế chấp mở một L/C khác cho nhà xuất khẩu hưởng với nội dung gầngiống như L/C ban đầu
Như vậy điều khác biệt cơ bản và quan trọng nhất so với nghiệp vụL/C chuyển nhượng là L/C gốc và L/C giáp lưng hoàn toàn độc lập vớinhau, ngân hàng phát hành L/C giáp lưng hoàn toàn chịu trách nhiệm thanhtoán bộ chứng từ hợp lệ của L/C giáp lưng, hay nói cách khác nghĩa vụ vàtrách nhiệm của hai ngân hàng phát hành L/C gốc và L/C giáp lưng hoàntoàn độc lập với nhau Vì vậy, người cung cấp hàng hoá (người hưởng lợiL/C giáp lưng) có thể yên tâm về mặt thanh toán Về nguyên tắc L/C gốc sẽ
là vật thế chấp hoặc sự đảm bảo cho việc thanh toán L/C giáp lưng, songviệc thanh toán cho nhà cung cấp sẽ được thực hiện trước khi ngân hàngphát hành L/C giáp lưng nhận được thanh toán từ L/C gốc Đây cũng là mộtrủi ro đối với ngân hàng phát hành L/C giáp lưng nếu ngân hàng phát hành
Trang 21L/C gốc từ chối thanh toán, vì vậy không phải lúc nào ngân hàng cũng L/Cgốc là vật đảm bảo để phát hành L/C giáp lưng Để đảm bảo an toàn chomình, ngân hàng phát hành L/C giáp lưng phải kiểm tra chặt chẽ chứng từcủa L/C giáp lưng, phối hợp với khách hàng của mình để hoàn thiện cácchứng từ thanh toán L/C gốc hoặc phải thực hiện nghiêm ngặt chế độ kýquỹ và thế chấp đối với người hưởng lợi thứ nhất ( người trung gian).
Những bên tham gia trong L/C gốc là:
- Nhà nhập khẩu
- Ngân hàng nhập khẩu
- Ngân hàng trung gian ( Ngân hàng thông báo)
- Người trung gian( người hưởng lợi thứ nhất)
1.1.3.8 Thư tín dụng dự phòng (Standby L/C)
Để đảm bảo quyền lợi cho người nhập khẩu tránh rủi ro xảy ra khingười xuất khẩu nhận được L/C, tiền đặt cọc và tiền ứng trước rồi nhưngkhông có khả năng giao hàng, ngân hàng của người xuất khẩu sẽ phát hànhmột L/C được gọi là L/C dự phòng Trong nội dung L/C này ngân hàngphát hành cam kết với người thụ hưởng:
- Trả khoản tiền mà người yêu cầu mở thư tín dụng đã vay hoặc nhậnứng trước
- Bồi hoàn về những thiệt hại do người yêu cầu mở không thực hiệnđược nghĩa vụ của chính mình
L/C dự phòng cũng là cam kết thanh toán của ngân hàng phát hànhcho người hưởng lợi Song khác với thư tín dụng truyền thống là phươngtiện thanh toán của người mua cho người bán theo hợp đồng thương mại,thì thư tín dụng dự phòng chỉ được sử dụng để phòng ngừa phía đối tác viphạm nghĩa vụ hoặc cam kết, gây hậu quả xấu cho người hưởng, đúng nhưtiêu đề của nó là “dự phòng“ và việc thanh toán sẽ được thực hiện khingười hưởng xuất trình được những bằng chứng nêu lên những điều kiệncam kết không được tôn trọng
Trang 22Như vậy, thực chất thư tín dụng dự phòng giống như một thư bảo lãnhcủa ngân hàng Riêng trong xuất nhập khẩu hàng hoá, thư tín dụng dựphòng là L/C mà trong đó ngân hàng mở cam kết với người hưởng lợi ( nhànhập khẩu) là sẽ thanh toán lại cho họ trong trường hợp người xuất khẩukhông hoàn thành nghĩa vụ giao hàng theo L/C đã đề ra Khoản tiền nàybao gồm: tiền đặt cọc, tiền ứng trước, mọi khoản chi phí liên quan đến việc
mở một thư tín dụng thương mại, và những chi phí khác cùng những thiệthại mà người nhập khẩu phải gánh chịu do hậu quả của việc không cungcấp được hàng hoá của người xuất khẩu
1.1.3.9 Thư tín dụng đối ứng (Reciprocal L/C)
Là loại L/C không huỷ ngang, chỉ có giá trị hiệu lực khi L/C kia đốiứng với nó được mở
Trong hai L/C sẽ có một L/C mở trước phải ghi: “ L/C này chỉ cóhiệu lực khi người hưởng lợi đã mở lại một L/C đối ứng cho người mở L/Cnày hưởng”; và trong L/C đối ứng phải ghi câu:” L/C này đối ứng với L/Csố… mở ngày…tại Ngân hàng …”
Loại L/C này được áp dụng trong phương thức mua bán đổi hànghay gia công, nó đảm bảo quyền lợi cho người gia công bởi vì sản phẩmlàm ra có đặc điểm riêng do người đặt hàng quy định nên hầu như chỉ cóngười đặt hàng tiêu thụ Trong giao dịch này thì người bán đồng thời làngười mua và ngược lại Bên nhập khẩu nguyên liệu mở cho bên xuất khẩumột L/C đảm bảo thanh toán giá trị nguyên liệu nhập khẩu và L/C chỉ cóhiệu lực khi bên xuất khẩu cam kết nhập khẩu lại thành phẩm do bên nhậpkhẩu gia công, chế biến bằng việc mở lại L/C đối ứng cho bên xuất khẩuthành phẩm và L/C này chỉ có hiệu lực nếu thành phẩm được sản xuất từchính nguyên liệu cung cấp trên
1.1.3.10 Thư tín dụng có điều khoản đỏ (Red Clause L/C)
Là loại L/C đặc biệt, trong đó có một điều khoản ghi rõ Ngân hàngphát hành sẽ chuyển tiền hoặc uỷ quyền cho ngân hàng thông báo ( hay
Trang 23ngân hàng xác nhận, ngân hàng chiết khấu) để thực hiện ứng trước chongười hưởng một số tiền nhất định, thông thường tính theo tỷ lệ phần trăm
so với giá trị L/C và phải xuất trình chứng từ tại ngân hàng mà họ đã nhậntiền ứng trước và phải bồi hoàn lại số tiền này nếu không xuất trình đủchứng từ hợp lệ trong thời hạn quy định Số tiền ứng trước được thực hiêntheo yêu cầu của người mở L/C Rủi ro trong thanh toán L/C có điều khoản
đỏ là tiền ứng trước có thể bị sử dụng không đúng mục đích, chứng từ donhà xuất khẩu xuất trình có thể không phù hợp hoặc người xuất khẩu khônghoàn thành được việc sản xuất hàng hoá mà cũng không hoàn lại được tiềnứng trước cho ngân hàng
Trên đây là một số cách phân loại L/C theo phương thức sử dụng.Tuỳ theo tính ưu việt và hạn chế của mỗi loại L/C mà trong thanh toánquốc tế các nhà kinh doanh xuất nhập khẩu sẽ lựa chọn loại L/C nào chophù hợp với mình nhất Ngoài ra trong thanh toán quốc tế người ta còn căn
cứ vào thời gian thanh toán để phân chia L/C thành hai loại:
- L/C trả ngay: Là loại L/C không thể huỷ ngang và phải thanh toánngay khi hối phiếu được xuất trình Rủi ro trong loại thư tín dụng này làthường phải thanh toán trước khi nhận hàng, vì hối phiếu và bộ chứng từthường đến trước khi hàng cập cảng
- L/C trả chậm: Là loại L/C trong đó ngân hàng phát hành cam kếtthanh toán cho người hưởng lợi số tiền của thư tín dụng một số ngày saukhi bộ chứng từ hoàn hảo được xuất trình hoặc sau ngày giao hàng:
Loại thư tín dụng này có hai dạng:
+ L/C có kỳ hạn: Là loại L/C không huỷ ngang trong đó NHPH sẽchấp nhận hối phiếu có kỳ hạn do người hưởng lợi ký phát khi họ xuất trìnhđược bộ chứng từ hoàn hảo Những hối phiếu này nhà xuất khẩu có thể giữcho đến thời hạn thanh toán và lúc ấy trình nộp ngân hàng để nhận tiềnhoặc bán/ chuyển nhượng trên thị trường Các ngân hàng phát hành có thểmua hối phiếu chấp nhận thanh toán cho chính mình
Trang 24+ L/C trả dần: Là loại L/C không thể huỷ ngang trong đó quy địnhngười hưởng sẽ được thanh toán dần toàn bộ số tiền của L/C theo nhữngthời hạn đã quy định rõ trong L/C đó Khác với thư tín dụng có kỳ hạn, loạiL/C này không đòi hỏi hối phiếu so với bán ký phát Do đó người bánkhông có quyền hưởng lợi pháp lý đối với hối phiếu và quyền truy đòi liênquan đến hối phiếu đó
1.1.4 Vai trò của phương thức thanh toán bằng L/C
Phương thức thanh toán bằng L/C có vai trò đặc biệt quan trọngtrong thanh toán quốc tế, đặc biệt là trong xu thế hội nhập hiện nay Do tính
ưu việt của nó so với các phương thức thanh toán khác cho nên phươngthức này đã được lựa chọn chủ yếu và chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trongthanh toán quốc tế Vai trò của phương thức thanh toán này được thể hiện
cụ thể thông qua lợi ích mà các bên tham gia đạt được
* Đối với nhà xuất khẩu: Được đảm bảo thanh toán khi tuân thủ cácđiều khoản và điều kiện quy định trong L/C và nhận được thanh toán nhanhnhất Nhà xuất khẩu sẽ được ngân hàng tư vấn, giảm thiểu rủi ro Ngoài rangười bán có thể sử dụng L/C như một phương thức tài trợ cho xuất khẩunhư: Chiết khấu bộ chứng từ, bán bộ chứng từ cho ngân hàng hoặc vay vốnngân hàng bằng cách thế chấp bộ chứng từ
* Đối với nhà nhập khẩu:
Có thể nhận đuợc hàng hoá theo đúng quy định đã thoả thuận trong hợpđồng ngoại thương và những điều khoản trong L/C như: số lượng, phẩm chất,đơn giá… đồng thời chỉ phải thanh toán khi nhận được bộ chứng từ phù hợpvới các điều khoản trong L/C Người mua được sự trợ giúp của ngân hàngtrong việc đảm bảo các điều khoản của L/C được tuân thủ, dễ dàng, đượcngân hàng tài trợ về vốn, được các điều khoản UCP bảo vệ
* Đối với các ngân hàng
TTQT là một mảng hoạt động rất quan trọng của ngân hàng trong đóphương thức tín dụng chứng từ là phương thức có ưu thế hơn cả Phương
Trang 25thức thanh toán này mang lại cho ngân hàng một khoản thu nhập khá lớn từcác loại phí ( như phí mở L/C, phí thanh toán…) Ngoài ra, việc ký quỹ mởL/C của khách hàng đã tạo ra một lượng vốn tạm thời nhàn rỗi tạo điềukiện về vốn cho ngân hàng mở rộng kinh doanh, các dịch vụ ngân hàngkhác như bảo lãnh ngân hàng, kinh doanh ngoại tệ cũng có điều kiện để
có đảm bảo không Do vậy người mua sẽ gặp rủi ro khi người bán cố tìnhlập các chứng từ hàng hoá giả tạo, người mua sẽ phải gánh chịu những thiệthại do sự lừa đảo từ phía người bán liên quan đến rủi ro của NH nếu tài trợvốn cho nhập khẩu
- Đối với người xuất khẩu: Các chứng từ thương mại là cơ sở đểthanh toán tiền hàng, do vậy chỉ cần một sơ xuất nhỏ trong việc lập chứng
từ thì người xuất khẩu có thể bị từ chối thanh toán
- Đối với ngân hàng: Ngân hàng bị ràng buộc bởi trách nhiệm củamình đối với người mua và người bán với tư cách là trung gian thanh toán
Do vậy ngân hàng cần phải tinh thông nghiệp vụ để tư vấn cho khách hàngcủa mình nhằm hạn chế tối đa những rủi ro có thể xảy ra
Tóm lại, phương thức thanh toán bằng L/C đã dung hoà, cân bằngmối quan hệ giữa quyền lợi và nghĩa vụ của các bên tham gia trong giaodịch ngoại thương Những nghĩa vụ và trách nhiệm được đan xen, ràngbuộc lẫn nhau tạo nên một sự đảm bảo cho việc thanh toán tiền hàng, nâng
Trang 26cao quyền bình đẳng trong quan hệ thanh toán giữa người mua và ngườibán Hơn nữa, trong phương thức thanh toán bằng L/C các ngân hàng thamgia không chỉ đơn thuần là những trung gian thanh toán, người tài trợ vốncho xuất nhập khẩu mà là người cam kết trả tiền cho người bán thay chongười mua, vì vậy đôi khi cũng phải chịu những rủi ro trong quá trình thựchiện nghiệp vụ này.
1.1.5 Các bên tham gia trong phương thức thanh toán bằng L/C
Từ bản chất, nội dung của tín dụng chứng từ có thể thấy các bêntham gia trong việc thực hiện phương thức này gồm có:
1.1.5.1 Người xin mở L/C (Applicant for L/C)
Là người nhập khẩu hay người mua yêu cầu ngân hàng phục vụ mìnhphát hành một L/C và có trách nhiệm pháp lý về việc trả tiền của ngân hàngcho người bán theo L/C này
Khi hợp đồng mua bán áp dụng phương thức tín dụng chứng từ thìviệc mở L/C của người mua là điều kiện đầu tiên để cho người bán thựchiện hợp đồng Người mua căn cứ vào hợp đồng mua bán để làm đơn yêucầu ngân hàng mở L/C Người mua phải trả một khoản thủ tục phí cho ngânhàng phát hành L/C và thường phải ký quỹ giá trị của L/C tại ngân hàngphát hành tuỳ theo độ tín nhiệm của NH với người mở LC Hoặc nếu người
mở L/C không có vốn phải ký hợp đồng tín dụng với NH phát hành số tiềnbằng giá trị L/C Người mua chỉ có quyền từ chối hoặc chấp nhận thanhtoán toàn bộ giá trị lô hàng chứ không có quyền từ chối 1 phần giá trị lôhàng khi bộ chứng từ không phù hợp với điều kiện đã nêu ra trong L/C
1.1.5.2 Ngân hàng phát hành L/C(Issuing bank)
Là ngân hàng đại diện và cung cấp tín dụng cho nhà nhập khẩu ( nếu
LC mở bằng vốn vay) Ngân hàng nhận đơn của nhà nhập khẩu, căn cứ vàoyêu cầu trong đơn để mở L/C, chuyển đến NH thông báo L/C ( NH của nhàxuất khẩu) qua mạng SWIFT toàn cầu Ngân hàng phát hành chịu tráchnhiệm kiểm tra bộ chứng từ do NH thông báo gửi đến; nếu thấy phù hợp thì
Trang 27thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán Chứng từ sau khi kiểm tra sẽ đượcchuyển cho nhà nhập khẩu đi nhận hàng (nếu chứng từ phù hợp) hoặc chấpnhận sai sót của bộ chứng từ để nhận hàng ( nếu chứng từ có sai sót) Khi
đã giao bộ chứng từ cho người mở L/C nhận hàng thì việc thanh toán( hoặc chấp nhận thanh toán) trong thời gian cho phép là trách nhiệm của
NH phát hành
1.1.5.3 Ngân hàng thông báo (Advising Bank)
Là ngân hàng báo tín dụng thư cho người hưởng lợi một cách trựctiếp hoặc thông báo qua một ngân hàng khác Người hưởng lợi không nhấtthiết là khách hàng của ngân hàng thông báo, ngân hàng này thường làngân hàng đại lý của ngân phát hành L/C tại nước xuất khẩu hoặc là NH có
mã SWIFT
1.1.5.4 Người hưởng lợi (Beneficiary)
Là người bán hàng- nhà xuất khẩu và là bên được hưởng lợi tín dụngthư Nhà xuất khẩu chỉ giao hàng khi nào nhận được L/C phù hợp với nộidung của hợp đồng mua bán và nằm trong khả năng cung cấp của mình.Nếu người hưởng lợi không nhất trí với nội dung nào của L/C thì yêu cầungười mua sửa đổi L/C Việc sửa đổi hay bổ sung vào nội dung L/C phảiđược xuất phát từ ngân hàng phát hành theo đường đi của bản L/C gốc mới
có giá trị hiệu lực
Ngoài 4 thành viên trên, trong một số trường hợp đặc biệt, còn cómột số thành viên sau:
- Ngân hàng xác nhận (Confirming Bank):
- Ngân hàng chỉ định (Nominated Bank)
Thực tế quá trình thanh toán L/C không nhất thiết phải có đủ cácngân hàng nói trên cùng tham gia mà tuỳ theo yêu cầu của người mở sẽ xácđịnh các thành viên liên quan
1.1.6 Quy trình thanh toán bằng L/C
Có ít nhất 4 đối tác tham gia vào quá trình thanh toán thư tín dụng:
Trang 28- Người đề nghị mở L/C.
- Người thụ hưởng
- Ngân hàng phát hành
- Ngân hàng thông báo
Quy trình thanh toán như sau:
Bước 3: Căn cứ vào đơn xin mở L/C, nếu đồng ý, NHPH phát hànhL/C theo thông lệ chung quy định trong UCP 500
Bước 4: Khi nhận được L/C từ NH phát hành, ngân hàng thông báo
sẽ thông báo L/C cho nhà xuất khẩu
Bước 5: Nhà xuất khẩu nếu chấp nhận L/C thì tiến hành giao hàng,nếu không thì đề nghị người nhập khẩu thông qua NHPH sửa đổi L/C chophù hợp với khả năng cung cấp của mình nhưng không trái với hợp đồngngoại thương
Ng êi h Nhµ XK
Trang 29Bước 6: Sau khi giao hàng, nhà xuất khẩu lập bộ chứng từ theo yêucầu của L/C và xuất trình trong thời gian cho phép (thông qua NHTB) Bộchứng từ sẽ được chuyển đến ngân hàng phát hành để thanh toán.
Bước 7: NHPH sau khi kiểm tra bộ chứng từ, nếu bộ chứng từ phùhợp với các điều khoản của L/C thì tiến hành thanh toán Nếu bộ chứng từkhông phù hợp thì lập từ chối thanh toán, đồng thời thông báo sai sót chongười mua Nếu người mua chấp nhận mọi sai sót của bộ chứng từ để nhậnhàng thì NH giao chứng từ đổi lấy việc thanh toán Nếu người mua khôngchấp nhận bộ chứng từ kèm theo đó là không nhận hàng thì NH phát hànhphải giữ nguyên hiện trạng bộ chứng từ chờ ý kiến của NH gửi chứng từ
Bước 8: Đến thời hạn thanh toán(7 ngày kể từ khi nhận được bộchứng từ) NHPH thanh toán tiền trả NH gửi chứng từ, báo nợ cho người
mở L/C
Bước 9: Người mua đi nhận hàng
1.2 Mở rộng Thanh toán quốc tế bằng phương thức tín dụng chứng từ 1.2.1 Quan niệm về mở rộng TTQT bằng phương thức TDCT
TTQT phát triển đã tạo tiền đề cho hoạt động ngoại thương ngàycàng phát triển, thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế chung, đưa nền kinh tếđất nước hội nhập với khu vực và thế giới
Qua phân tích vị trí và tầm quan trọng của phương thức thanh toánbằng L/C có thể thấy phương thức này đóng vai trò không nhỏ trong việcphát triển hoạt động TTQT Vì vậy, mở rộng TTQT bằng phương thức tíndụng chứng từ là vấn đề mà các ngân hàng luôn quan tâm Vậy quan niệmnhư thế nào là “ mở rộng” Có thể nói việc mở rộng TTQT bằng phươngthức tín dụng chứng từ là việc tăng lên cả về số lượng, loại hình và chấtlượng của hoạt động thanh toán này, nhưng phải luôn đảm bảo tuân thủ quytắc thực hành thống nhất của ICC và tập quán chung của quốc gia
Trong khi đánh giá mức độ mở rộng hoạt động thanh toán quốc tếbằng phương thức tín dụng chứng từ có thể sử dụng một số tiêu thức sau:
Trang 30Các tiêu thức đánh giá mức độ mở rộng:
♦ Số món thanh toán
Việc tăng số món trong thanh toán là một trong những tiêu thức màcác ngân hàng hướng tới Số món thanh toán qua ngân hàng tăng đặc biệt làcác món lớn sẽ kéo theo việc tăng doanh số thanh toán quốc tế Một điềuquan trọng hơn đó là số món tăng chứng tỏ mối quan hệ của ngân hàng vớicác doanh nghiệp xuất nhập khẩu được mở rộng, thể hiện uy tín của ngânhàng trên thị trường ngày càng cao
♦ Doanh số thanh toán
Doanh số thanh toán là một trong những tiêu thức quan trọng đánhgiá mức độ mở rộng hoạt động thanh toán quốc tế Doanh số tăng chứng tỏngân hàng hoạt động rất có hiệu quả, có uy tín lớn trên thị trường
♦ Phạm vi đối tượng thanh toán
Tiêu thức này thể hiện mối quan hệ của ngân hàng đối với các doanhnghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu Không chỉ bó hẹp là các doanh ngiệpnhà nước mà còn là các công ty cổ phần, các doanh nghiệp tư nhân…Không chỉ đặt mối quan hệ với các doanh nghiệp trong địa bàn mà còn mởrộng ra các doanh nghiệp có nhu cầu khác địa bàn Tiêu thức này càng mởrộng chứng tỏ phạm vi ảnh hưởng của ngân hàng ngày càng lớn
Trong quá trình đánh giá không thể chủ quan đánh giá theo một tiêuthức nào mà phải có cái nhìn tổng hợp về toàn bộ các tiêu thức Từ đó mới
có hướng đi đúng đắn cho việc mở rộng trong giai đoạn sau
Để mở rộng hoạt động TTQT bằng phương thức tín dụng chứng từthì việc tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động này là vô cùng quantrọng
1.2.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến việc mở rộng hoạt động TTQT bằng L/C
1.2.2.1 Những nhân tố chủ quan
* Công nghệ ngân hàng
Trang 31Công nghệ ngân hàng là nhân tố đóng vai trò quan trọng trong hoạtđộng thanh toán của ngân hàng Hoạt động TTQT không thể phát triển nếucông nghệ ngân hàng không đạt được trình độ tối thiểu cần thiết cho hoạtđộng thanh toán Trong TTQT ngân hàng phải có quan hệ với rất nhiềuNgân hàng ở các nước khác nhau, do vậy công nghệ ngân hàng có hiện đại,xứng tầm với các nước thì mới tạo điều kiện cho hoạt động TTQT đượcdiễn ra suôn sẻ và thuận lợi Công nghệ ngân hàng phát triển cao kèm theo
đó là trình độ cán bộ thành thạo sẽ rút ngắn thời gian xử lý, giảm thiểu saisót do thao tác thủ công Việc sử dụng công nghệ cao trong thanh toán sẽnâng cao vị trí của ngân hàng trên trường quốc tế tạo được hình ảnh tốt củangân hàng đối với khách hàng, từ đó sẽ thu hút khách hàng tham gia ngàycàng nhiều vào hoạt động TTQT đặc biệt là phương thức tín dụng chứngtừ
* Trình độ thanh toán viên
Có thể nói thanh toán viên có vai trò rất quan trọng đối với hoạt độngthanh toán nói chung và TTQT nói riêng Công nghệ ngân hàng càng hiệnđại thì càng cần có người biết và sử dụng hiệu quả công nghệ đó Hơn nữatrong TTQT có những công đoạn cần đến sự nhanh nhạy, tinh ý của thanhtoán viên Trong quá trình thanh toán có sự tham gia của nhiều bên baogồm: khách hàng, ngân hàng đại lý, ngân hàng trả tiền… đòi hỏi thanh toánviên phải có trình độ thanh toán cao để tạo được sự thống nhất về chứng từ,tránh sai sót Thanh toán viên cần phải có một trình độ ngoại ngữ tươngđối tốt bởi hầu hết các chứng từ trong TTQT hầu hết là ngoại ngữ Hiểubiết rộng về ngoại ngữ đặc biệt là văn phong sẽ tạo điều kiện để thanh toánviên hiểu cặn kẽ từng chi tiết của chứng từ, phong tục tập quán của từngnước, từ đó giúp cho quá trình thanh toán chính xác không bị gián đoạn, tạothuận lợi cho khách hàng
Trang 32Bên cạnh đó, thái độ giao tiếp với khách hàng của thanh toán viêncũng ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động TTQT Thái độ niềm nở, nhãnhặn, hiểu tâm lý khách hàng là vấn đề cần thiết trong TTQT.
* Các chính sách của ngân hàng đối với hoạt động TTQT bằng phương thức TDCT
Các chính sách của ngân hàng có ảnh hưởng không nhỏ tới hoạtđộng TTQT bằng phương thức TDCT Có thể kể đến một số chính sáchnhư chính sách hỗ trợ XNK, chính sách khách hàng …Hoạt động hỗ trợthanh toán XNK thông qua phương thức TDCT ảnh hưởng trực tiếp tớihoạt động TTQT NH có thể hỗ trợ cho nhà XNK dưới hình thức cho vay
mở L/C, chiết khấu bộ chứng từ hàng xuất, bảo lãnh ngân hàng Điều nàygiúp cho khách hàng xuất nhập khẩu có vốn để thực hiện việc kinhdoanh…
Ngoài ra trong cơ chế thị trường ngân hàng phải có các chính sáchquan tâm tới khách hàng một cách thích đáng ( Ngoài việc đáp ứng nhu cầu
về vốn, nhu cấu thanh toán) Việc khách hàng có sử dụng các dịch vụ củangân hàng mình hay không là tuỳ thuộc vào sự hiểu biết về ngân hàng của
họ Do vậy các cán bộ ngân hàng cần thường xuyên tư vấn cho khách hàngnên sử dụng dịch vụ thanh toán nào là tiện lợi nhất, giải thích về tính ưuviệt của hình thức thanh toán bằng thư tín dụng; nhằm đem lại sự an toànnhất cho khách hàng
1.2.2.2 Những nhân tố khách quan
* Nhân tố thuộc về phía khách hàng
Trong quá trình thanh toán, nếu một trong hai nhà xuất khẩu và nhậpkhẩu không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình: Người bán không giao hàngđúng hạn, người mua cố tình không nhận hàng khi bộ chứng từ không phùhợp… thì sẽ ảnh hưởng tới quyền lợi của bên còn lại trong đó có ngân hàng
- Đối với người xuất khẩu:
Trang 33Khi người xuất khẩu vì lý do nào đó mà không giao hàng, giao hàngchậm hoặc hàng không đúng theo chủng loại đã ký Trong khi người mua
đã phải ký quỹ hoặc cam kết nhận nợ với NH phát hành Điều đó sẽ gâythiệt hại cho bên mua Hoặc trong trường hợp người xuất khẩu làm giả bộchứng từ để đòi tiền thì rủi ro đầu tiên thuộc về người mua, theo đó làNHFH nếu tài trợ vốn
- Đối với người nhập khẩu:
Nhà nhập khẩu thiếu khả năng thanh toán ( Đối với những LC kýquỹ dưới 100% giá trị), hoặc bị phá sản ( Đối với những LC mở bằng vốnvay) hoặc phía nhà nhập khẩu không có thiện chí thanh toán …sẽ gây rủi rocho ngân hàng phát hành vì khi đó ngân hàng phải thực hiện thanh toánthay cho người nhập khẩu theo thông lệ
* Yếu tố thuộc về ngân hàng đại lý
Trong hoạt động thanh toán Quốc tế, việc mở rộng mối quan hệ đại
lý với các ngân hàng trong và ngoài nước là rất quan trọng Hệ thống ngânhàng đại lý càng mở rộng thì càng đẩy nhanh tốc độ của các giao dịch, tạođiều kiện thuận lợi cho thanh toán, giảm bớt chi phí và thời gian
Khi chọn ngân hàng đại lý nên chọn ngân hàng lớn và có uy tín trênthị trường, lựa chọn ngân hàng đại lý phải phù hợp với chiến lược củamình, ngân hàng đại lý phải có thiện chí nhằm tránh rủi ro tối đa cho ngânhàng
* Môi trường pháp lý, kinh tế xã hội
Trong hoạt động thanh toán Quốc tế có nhiều bên tham gia và thuộccác quốc gia khác nhau, mỗi bên tham gia sẽ chịu sự chi phối bởi luật phápquốc gia, chính vì vậy khi tham gia vào quan hệ thanh toán này phải nghiêncứu luật pháp của nước sở tại, phong tục tập quán của mỗi nước Các yếu tốkinh tế chính trị của các nước ảnh hưởng rất lớn đến các chính sách xuấtnhập khẩu Sự biến động về tỷ giá hoặc các yếu tố khác liên quan đến tiền
tệ cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến việc thanh toán giữa các bên và ảnh
Trang 34hưởng tới ngân hàng Do vậy cần thận trọng nếu không sẽ ảnh hưởng lớnđến khả năng thanh toán của bên nhập khẩu và khả năng phát triển hoạtđộng kinh doanh của các doanh nghiệp.
* Sự cạnh tranh của các NHTM
Nền kinh tế ngày càng phát triển, hoạt động xuất nhập khẩu pháttriển kéo theo đó là hoạt động thanh toán Quốc tế cũng không ngừng được
mở rộng, hoàn thiện và nâng cao Nhằm phục vụ cho nhu cầu của nền kinh
tế, các ngân hàng thương mại ra đời ngày càng nhiều và sự cạnh tranh của
nó ngày càng trở nên gay gắt Hình thức thanh toán bằng tín dụng thưkhông nằm ngoài môi trường cạnh tranh đó Do vậy, ngân hàng nào càngthoả mãn được nhiều nhu cầu của khách hàng, có chính sách maketing hợp
lý, công nghệ thanh toán hiện đại thì sẽ càng có ưu thế, càng thu hút đượcnhiều khách hàng và tạo được lòng tin đối với khách hàng
Trang 35CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THANH TOÁN QUỐC TẾ THEO PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TẠI NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG HƯNG YÊN
2.1 Giới thiệu về NHCT Hưng Yên
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển
2.1.1.1 Quá trình hình thành
Trước năm 1988, Hệ thống NH có tên gọi chung là NHNN.Tại địabàn thị xã Hưng Yên có NHNN thị xã Hưng Yên trực thuộc NHNN TỉnhHải Hưng Từ năm 1988 theo quyết định của chính phủ, hệ thống NH đượcchia tách thành 4 NHTM hoạt động kinh doanh độc lập và chịu sự chỉ đạochung của NHNN Hoạt động của NH được chuyển sang theo mô hìnhngân hàng đa năng NHNN Thị xã Hưng yên được chuyển sang hệ thốngNHCT Việt Nam với tên gọi là chi nhánh NHCT thị xã Hưng Yên trựcthuộc NHCT Hải Hưng Đến ngày 1/1/1997 khi tỉnh Hưng Yên được táilập, NHCT thị xã hưng Yên được nâng cấp thành Chi nhánh NHCT tỉnhHưng Yên trực thuộc NHCT Việt Nam cho đến nay
2.1.1.2 Quy mô hiện tại
NHCT HY có một chi nhánh cấp 2 đóng tai Thị trấn Bần Yên Nhân
và một Phòng giao dịch Thị xã Hưng yên
Hiện nay, tính đến ngày 31/12/2005 NHCT HY có số lượng cán bộcông nhân viên là 75 người Trong đó, trình độ Đại học 38 người, Cao đẳng
7 người, trung cấp 26 người, chưa qua đào tạo, trình độ sơ cấp và qua bồidưỡng nghiệp vụ là 5 người
2.1.1.3 Chức năng của NHCT HY
NHCT HY là một doanh nghiệp nhà nước, là thành viên của NHCTViệt Nam hoạt động theo luật DNNN, các quy định của Pháp luật và điều lệhoạt động của NHCT Việt Nam
Trang 36Xuất phát từ yêu cầu khách quan của sự nghiệp công nghiệp hoá,hiện đại hoá đất nước và yêu cầu tăng tốc độ phát triển kinh tế xã hội trongphạm vi cả nước cũng như ở tỉnh Hưng Yên, NHCT HY luôn bám sát và cụthể hoá định hướng chiến lược kinh doanh của NHCT HY đồng thời cóthay đổi cho phù hợp với đặc thù của địa phương Trên cơ sở đó NHCT HY
đã từng bước thực hiện tốt chức năng của mình đó là huy động vốn nhànrỗi trong nền kinh tế và cho vay các đối tượng có nhu cầu về vốn và đápứng được các yêu cầu, quy định của Ngân hàng
Với phương châm “ coi sự thành đạt của khách hàng là sự thành đạtcủa chính mình”, khách hàng là bạn hàng cùng mục tiêu cùng lợi ích,NHCT HY đã cố gắng tạo nguồn vốn vững chắc để cho vay đồng thời chútrọng công tác tuyên truyền đặt ra các chính sách hợp lý để khách hàng hiểu
rõ vai trò vị thế của NHCT HY
Để thực hiện tốt mục tiêu kinh doanh, NHCT HY đã xây dựng quychế chức năng nghiệp vụ cho các phòng ban, phân công nhiệm vụ cho mỗicán bộ rất rõ ràng cụ thể phù hợp với năng lực, gắn trách nhiệm cá nhân vớicông việc được giao, thực hiện tốt kinh doanh đa năng tổng hợp, tiền tệ tíndụng và dịch vụ thanh toán
2.1.2 Tình hình hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Công thương Hưng Yên
Năm 2005 kinh tế tỉnh Hưng Yên tiếp tục đạt mức tăng trưởng cao:tốc độ tăng trưởng GDP là 12,9%; Giá trị sản xuất công nghiệp tăng 30%;Giá trị sản xuất nông nghiệp và thuỷ sản tăng 4,7%; Giá trị các ngành dịch
vụ tăng 17%; kim ngạch xuất khẩu đạt 210,5 triệu USD; thu ngân sách đạt1.250 tỷ đồng; GDP bình quân đầu người đạt 550 USD; cơ cấu kinh tếchuyển dịch theo hướng tích cực, tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ:công nghiệp – xây dựng chiếm 38%, dịch vụ chiếm 31,5%, nông nghiệpchiếm 30,5% Hầu hết các chỉ tiêu kinh tế đều đạt và vượt kế hoạch đề ra
Trang 37Tuy nhiên do chịu ảnh hưởng của sự biến động thị trường thế giới,kinh tế của tỉnh Hưng Yên cũng phải đối mặt với những khó khăn thửthách như: giá vàng, giá xăng dầu, phôi thép, phân bón tăng cao; thị trườngbất động sản đóng băng; thiên tai và dịch cúm gia cầm bùng phát…đã ảnhhưởng xấu đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, chỉ sốgiá cả tăng đã tác động đến tâm lý của người dân có tiền gửi tiết kiệm
Những yếu tố trên đã có ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh doanhcủa các NHTM trên địa bàn tỉnh Hưng Yên
Là một NHTM Quốc doanh có uy tín, được sự ủng hộ của các cấp
Uỷ Đảng, Chính quyền địa phương, sự quan tâm chỉ đạo của NHNN chinhánh tỉnh Hưng Yên và của NHCT Việt Nam, cùng với sự điều hành năngđộng của ban lãnh đạo và sự đoàn kết nhất trí, nỗ lực của tập thể CBCNVtrong toàn Chi nhánh, năm 2005 chi nhánh NHCT HY đã phấn đấu hoànthành tốt nhiệm vụ được giao, đưa hoạt động kinh doanh của Chi nhánhtiếp tục phát triển bền vững đạt hiệu quả cao
Ngay từ những ngày đầu năm 2005 Ban lãnh đạo chi nhánh đã tậptrung chỉ đạo theo các mục tiêu, giải pháp mà hội nghị công nhân viên củaChi nhánh đã thảo luận đóng góp xây dựng, bám sát định hướng phát triểnkinh tế của địa phương để diều hành hoạt động kinh doanh của Chi nhánhphù hợp với diễn biến của thị trường Vì vậy, chi nhánh đã hoàn thành khátoàn diện các chỉ tiêu kế hoạch được NHCT Việt Nam giao, cụ thể:
Trang 38Bảng 1: Các chỉ tiêu thực hiện kế hoạch năm 2005
STT Chỉ tiêu Đơn vị KH năm
2005
TH đến 31/12/05 %TH/KH
- VND
- Ngoại tệ quy VND
Tỷ đồngNtNt
450270180
450,9300,6150,3
100,2111,285,3
- VND
- Ngoại tệ quy VND
Tỷ đồngNtNt
43039040
452,8404,148,7
105,3103,6121,7
- CV không có BĐ=TS (tối
đa)
- CV DNNN(tối đa)
%/TDNNt
1910
16,71,4
1.30027575950
93,437,4560
7,213,674,6
đọng
t.đó: ngoại bảng
Triệu đNt
Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh- NHCT Hưng Yên
So với năm 2004 hoạt động kinh doanh của Chi nhánh có sự tăngtrưởng mạnh, toàn diện ở các chỉ tiêu chủ yếu sau:
Bảng 2: Các chỉ tiêu chủ yếu đạt được
Đơn vị: Triệu đồng
Trang 39Stt Chỉ tiêu
THnăm2003
TH năm 2004
THnăm2005
So sánh 2005/2004Tăng,
giảm
% tănggiảm
huy động
304.230
332.250
Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh- NHCT HY
Có thể thấy hoạt động kinh doanh của NHCT HY rất hiệu quả So
sánh hai năm 2004 và 2005 nguồn vốn tự huy động tăng 35,7%, dư nợ chovay tăng 19,9%, nợ quá hạn giảm đáng kể 90,3% trong đó nợ xấu giảm92,9%
Cụ thể kết quả hoạt động kinh doanh năm 2005 của ngân hàng như sau
2.1.2.1 Hoạt động huy động vốn
Năm 2005, mặc dù công tác huy động vốn của chi nhánh Ngân hàngCông thương tỉnh Hưng Yên có nhiều khó khăn so với năm trước, do chỉ sốgiá cả của một số mặt hàng thiết yếu trên thị trường tăng liên tục đã ảnhhưởng đến tâm lý của người gửi tiền, nhiều khách hàng có nguồn tiền gửi
đã đầu tư vốn vào các hình thức khác như: tham gia đấu thầu đất đai hoặcmua ngoại tệ, vàng bạc đá quý để dự trữ…; Một số ngân hàng thương mại
cổ phần trên địa bàn huy động vốn bằng VND và ngoại tệ với lãi suất caohơn lãi suất huy động vốn của NHCT nên đã thu hút nhiều khách hàng đếngửi tiền…Song Chi nhánh đã kịp thời đưa ra những giải pháp huy động vốn
có hiệu quả các dịch vụ tiện ích của NHCT như: dịch vụ chuyển tiền kiềuhối, dịch vụ chuyển tiền nhanh, ATM…đồng thời triển khai kịp thời cáchình thức huy động vốn theo chỉ đạo của NHCT Việt Nam như: phát hành
kỳ, phiếu, trái phiếu, tiết kiệm dự thưởng, tiết kiệm có khuyến mai… làmtốt công tác tiếp thị, nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng do đó đã đạt