Hiện tại các làng nghề đang trong xu hướng phát triển, xuất hiện nhu cầu về vốn lớn để mở rộng sản xuất kinh doanh, bên cạnh đó cũng xuất hiện nhu cầu vốn để duy trì và khôi phục lại nhữ
Trang 1DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
1 CBTD: Cán bộ tín dụng
2 DSCV: Doanh số cho vay
3 DSTN: Doanh số thu nợ
4 NHTM: Ngân hàng thương mại
5 NHNo & PTNT: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
6 NHNN: Ngân hàng Nhà nước
7 NHNo: Ngân hàng Nông nghiệp
8 QTDND: Quỹ tín dụng nhân dân
9 TCTD: Tổ chức tín dụng
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Nước ta là một nước nông nghiệp, bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước Đảng và Nhà nước luôn xác định phát triển làng nghề là chiến lược kinh tế quan trọng để phát triển khu vực kinh tế nông thôn Hà Tây là một trong những tỉnh có ngành hàng tiểu thủ công nghiệp và làng nghề phát triển nhất trong cả nước Hiện tại các làng nghề đang trong xu hướng phát triển, xuất hiện nhu cầu về vốn lớn để mở rộng sản xuất kinh doanh, bên cạnh đó cũng xuất hiện nhu cầu vốn để duy trì và khôi phục lại những làng nghề đang có xu hướng bị mai một Từ đó các làng nghề đã tạo ra thị trường tín dụng giàu tiềm năng đối với các NHTM trên địa bàn
Chi nhánh NHNo & PTNT tỉnh Hà Tây trong thời gian qua đã đầu tư tín dụng trong lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ đạt nhiều thành tích, đóng góp tích cực trong quá trình phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh
tế của tỉnh Tuy nhiên việc ngân hàng đầu tư vốn vào các làng nghề còn ở thế cầm chừng, phân tán làm ảnh hưởng không nhỏ đến việc phát triển làng nghề
cả về quy mô cũng như về chất lượng Do vậy cần phải tìm các giải pháp nghiên cứu nhằm mở rộng cho vay có hiệu quả, đáp ứng nhu cầu vốn để khôi phục và phát triển các làng nghề, đồng thời tạo lợi thế cho ngân hàng chiếm lĩnh thị trường nông thôn rộng lớn, mở rộng đầu tư Nhận thấy điều đó tôi đã
mạnh dạn đưa ra vấn đề: “Mở rộng cho vay phát triển làng nghề tại chi
nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Hà Tây” làm
đề tài luận văn tốt nghiệp
Kết cấu của luận văn gồm 3 chương:
- Chương I Lý luận cơ bản về cho vay đối với làng nghề của Ngân hàng Thương mại
- Chương II Thực trạng về hoạt động cho vay đối với làng nghề tại chi nhánh NHNo & PTNT tỉnh Hà Tây trong thời gian qua
- Chương III Giải pháp mở rộng cho vay phát triển làng nghề tại chi nhánh NHNo & PTNT tỉnh Hà Tây
Trang 3Với những điều kiện nghiên cứu còn hạn chế nên luận văn chắc chắn không tránh khỏi những sai sót, em mong nhận được sự đóng góp, góp ý của các thầy cô và bạn bè để luận văn được hoàn thiện và đạt kết quả cao hơn.
Em muốn gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến các thầy cô giáo trong khoa Ngân hàng – Tài chính đặc biệt là cô giáo Th.S Lê Thanh Tâm và thầy giáo PGS TS Lê Đức Lữ cùng các cô chú phòng Tín Dụng chi nhánh NHNo&PTNT Hà Tây đã giúp em hoàn thành luận văn này
Trang 4CHƯƠNG I LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHO VAY ĐỐI VỚI
LÀNG NGHỀ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.
1.1 KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.1 Khái niệm cho vay trong NHTM
Cho vay ra đời từ rất sớm, khi mà xã hội có sự phân công lao động, sự xuất hiện sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất Xét về mặt xã hội sự xuất hiện chế độ sở hữu về tư liệu sản xuất là cơ sở hình thành sự phân hoá xã hội: của cải, tiền tệ có xu hướng tập trung vào một nhóm người, trong lúc đó một nhóm người khác có thu nhập thấp hoặc thu nhập không đáp ứng đủ cho nhu cầu tối thiểu của cuộc sống, đặc biệt khi họ gặp những biến cố rủi ro bất thường xảy ra Từ đó nảy sinh nhu cầu đi vay để giải quyết mâu thuẫn nội tại của xã hội thực hiện việc điều hoà nhu cầu tạm thời của cuộc sống
Vào thời kỳ cổ đại, người đi vay chủ yếu là người nông dân và thợ thủ công, họ phải đi vay với lãi suất rất cao Bởi trong điều kiện sản xuất thấp kém, phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, lại thêm gánh nặng sưu thuế và các tệ nạn xã hội khác, những người sản xuất nhỏ thường xuyên phải đối phó với những rủi ro xảy ra trong cuộc sống Điều đó buộc họ phải đi vay để giải quyết những khó khăn cấp bách trong đời sống như: mua lương thực, thuốc men, đóng tô, đóng thuế… còn các tầng lớp khác đi vay là để giải quyết những thiếu hụt tạm thời với các nhu cầu cao Như vậy hình thức đầu tiên của cho vay là cho vay nặng lãi
Trong cơ chế thị trường, hoạt động cho vay ngày càng phát triển Bởi ở
đó luôn tồn tại hai nhóm chủ thể: một nhóm chủ thể có vốn tạm thời chưa sử dụng đến và một nhóm khác thiếu vốn lại có nhu cầu bổ sung vốn tạm thời
Từ đó những chủ thể thừa vốn sẽ cho vay đối với những chủ thể thiếu vốn Hoạt động cho vay ngày càng mở rộng và phát triển đặc biệt từ khi có sự ra đời của hệ thống ngân hàng Nghề ngân hàng bắt đầu với nghiệp vụ đổi tiền hoặc đúc tiền của các thợ vàng Trong điều kiện lưu thông tiền kim loại, các
Trang 5chủ cửa hàng vàng bạc vừa đổi tiền, thanh toán hộ, vừa đúc tiền vừa cho vay nặng lãi Họ là những người kinh doanh tiền tệ hay còn gọi là những nhà buôn tiền Đầu tiên những nhà buôn tiền đã dùng vốn tự có để cho vay nhưng điều
đó không kéo dài Từ hoạt động thực tiễn, họ nhận thấy thường xuyên có người gửi tiền vào và có những người lấy tiền ra, song tất cả người gửi tiền không rút cùng một lúc, đã tạo số dư thường xuyên ở trong két Do tính chất
vô danh của tiền, nhà buôn tiền có thể sử dụng tạm thời một phần tiền gửi của khách để cho vay Hoạt động này làm thay đổi căn bản hoạt động của nhà buôn tiền - kẻ cho vay nặng lãi thành nhà buôn tiền - ngân hàng Hoạt động cho vay dựa trên tiền gửi của khách hàng tạo nên lợi nhuận lớn nên các ngân hàng tìm cách mở rộng thu hút tiền gửi để cho vay bằng cách trả lãi cho người gửi tiền Bằng cách cung cấp nhiều tiện ích khác nhau mà ngân hàng huy động được ngày càng nhiều tiền gửi, là điều kiện mở rộng và hạ lãi suất cho vay Như vậy hoạt động cho vay trong ngân hàng đã ra đời ngay từ khi ngân hàng
ra đời
Hiện nay, ngân hàng là tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh
tế Điều 20 Luật các tổ chức tín dụng của nước CHXHCN Việt Nam ghi: “ Ngân hàng là loại hình TCTD được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và hoạt động kinh doanh khác có liên quan” Hoạt động chính của ngân hàng thương mại (NHTM) là huy động và sử dụng vốn nhằm thu lợi nhuận Việc huy động vốn chính là quá trình tạo nên các khoản tài sản khác nhau của ngân hàng trong đó cho vay là khoản mục tài sản lớn và quan trọng nhất
Như vậy, “cho vay: là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín
dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích
và thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi” ( Mục 2 - điều 3 - 1627/2001 QĐ – NHNN)
Từ định nghĩa trên có thể thấy cho vay có một số đặc điểm sau:
món nợ đối với cá nhân hay doanh nghiệp đi vay nhưng lại là một tài sản đối với ngân hàng So sánh với các tài sản khác khoản mục tiền vay có tính lỏng
Trang 6kém hơn vì chúng không thể chuyển thành tiền mặt trước khi các khoản cho vay đó đến hạn thanh toán Ví dụ: Một ngân hàng cho khách hàng vay một khoản tiền với thời hạn 2 năm, ngân hàng đó không thể thu hồi lại tiền của mình trước thời hạn 2 năm thời điểm mà khoản vay đến hạn trả Các khoản tiền cho vay cũng có xác suất vỡ nợ cao hơn các tài sản khác.
cơ sở để tin rằng khách hàng sẽ trả đúng hạn Đây là yếu tố cơ bản trong quản trị tín dụng Khi quyết định cho khách hàng vay, ngân hàng phải có sự sàng lọc những người đi vay có triển vọng tốt ra khỏi những người có triển vọng xấu Nhằm thực hiện sàng lọc có hiệu quả, ngân hàng cần tập hợp được nhiều thông tin đáng tin cậy về người đi vay Đồng thời ngân hàng phải tiến hành giám sát để đảm bảo người vay sẽ sử dụng đúng mục đích, hạn chế rủi ro cho ngân hàng Trên thực tế một số cán bộ tín dụng khi xét duyệt cho vay không dựa trên cơ sở đánh giá mức độ tín nhiệm khách hàng mà lại chú trọng đến các bảo đảm, chính quan điểm này đã ảnh hưởng đến chất lượng các khoản cho vay
cách khác người đi vay phải trả thêm phần lãi ngoài vốn gốc Để thực hiện được nguyên tắc này phải xác định lãi suất danh nghĩa lớn hơn tỷ lệ lạm phát hay nói cách khác phải xác định lãi suất thực dương (lãi suất thực = lãi suất danh nghĩa - tỷ lệ lạm phát) Tuy nhiên vì lãi suất chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau nên trong một số trường hợp cụ thể lãi suất danh nghĩa có thể thấp hơn tỷ lệ lạm phát ngoại lệ này chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn
kết hoàn trả vô điều kiện của bên đi vay khi đến hạn Khách hàng phải cam kết hoàn trả vốn và lãi với thời gian xác định được ghi rõ trong hợp đồng tín dụng Đây là yêu cầu bắt buộc đối với khách hàng nhận tiền cho vay của ngân hàng và là điều kiện để ngân hàng tồn tại và phát triển
1.1.2 Vai trò của hoạt động cho vay
Trong nền kinh tế thị trường cho vay ngày càng được mở rộng và trở nên
Trang 7quan trọng Chủ thể tham gia quan hệ cho vay bao gồm: ngân hàng, các đối tượng vay vốn (cá nhân, tổ chức kinh tế,…), cả Nhà nước trung ương cũng như các địa phương Cho vay đã đem lại nhiều lợi ích không chỉ cho những đối tượng tham gia trong quan hệ cho vay mà còn đem lại những lợi ích to lớn cho nền kinh tế Dưới đây ta xét vai trò của hoạt động cho vay đối với ngân hàng, đối tượng vay vốn và toàn bộ nền kinh tế:
a Đối với NHTM:
- Cho vay đem lại nguồn thu nhập lớn cho ngân hàng Trong các khoản mục sử dụng vốn thì cho vay luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất và quan trọng nhất Lãi từ hoạt động cho vay là nguồn thu chủ yếu của ngân hàng, được dùng để chi trả các chi phí như: lãi tiền gửi, lãi tiền vay, các chi phí khác Phần còn lại
là lợi nhuận của ngân hàng Có lợi nhuận ngân hàng sẽ sử dụng để đầu tư máy móc, thiết bị, mở rộng mạng lưới…phát triển kinh doanh
- Cho vay giúp ngân hàng sử dụng hiệu quả nguồn vốn huy động được Ngân hàng huy động vốn từ dân cư, tổ chức kinh tế và phải trả chi phí cho hoạt động đó bao gồm các chi phí: quảng cáo, thuê nhân viên, lãi tiền gửi… trong đó chi phí lãi tiền gửi chiếm tỷ trọng lớn nhất Nếu ngân hàng huy động tiền và cất tiền vào trong két thì tiền không sinh lời trong khi ngân hàng lại phải trả chi phí cho số tiền đó Cho vay sẽ giúp ngân hàng sử dụng được nguồn vốn đó đem lại nguồn thu cho ngân hàng để trang trải các chi phí Mặt khác, cho vay càng tăng thì đến lượt nó sẽ thúc đẩy hoạt động huy động vốn tăng nhanh hơn
b Đối với đối tượng vay vốn:
- Cho vay đáp ứng nhu cầu vốn để duy trì quá trình sản xuất kinh doanh được liên tục, không đứt đoạn Các tổ chức kinh tế trong một thời điểm nào đó thiếu vốn để mua nguyên vật liệu, trả lương công nhân,…do chưa thu được tiền bán hàng Lúc này họ phải đi vay để duy trì quá trình sản xuất, họ có thể vay bạn bè hay người thân nhưng không phải lúc nào cũng có thể vay được Hoạt động cho vay của NHTM sẽ đáp ứng nhanh nhất và kịp thời vốn cho họ
để tiếp tục quá trình sản xuất
Trang 8- Cho vay góp phần đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất kinh doanh và mở rộng sản xuất của khách hàng Các khách hàng trong quá trình sản xuất luôn cần phải mở rộng sản xuất, đổi mới sản phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường Muốn vậy họ cần phải đổi mới công nghệ, mua những thiết bị máy móc mới, xây dựng thêm nhà xưởng, thuê thêm lao động… chi phí cho những hoạt động này là rất lớn và bản thân các doanh nghiệp tại một thời điểm không thể có đủ vốn để chi trả Vốn vay ngân hàng sẽ giúp họ thực hiện được điều
đó trong khi bản thân doanh nghiệp chưa có đủ vốn
- Trên cơ sở sàng lọc và giám sát ngân hàng buộc các đối tượng vay vốn phải sử dụng vốn vay đúng mục đích và có hiệu quả Trong nghiệp vụ cho vay của ngân hàng không phải đối tượng nào có nhu cầu đều được vay mà ngân hàng luôn có sự sàng lọc, lựa chọn Ngân hàng sẽ chỉ thực hiện cho vay đối với khách hàng có uy tín, có phương án kinh doanh hiệu quả và có triển vọng phát triển Do vậy mà các chủ thể vay vốn phải có một phương án vay vốn có hiệu quả và có tư cách đạo đức tốt Khi cho vay, ngân hàng sẽ tiến hành giám sát, kiểm tra xem đối tượng vay vốn sử dụng vốn vay có đúng mục đích không? Nếu khách hàng sử dụng vốn vay không hiệu quả ngân hàng sẽ tư vấn
để giúp họ có phương án có hiệu quả hơn hoặc nếu khách hàng sử dụng không đúng mục đích ngân hàng có thể thu hồi lại vốn cho dù chưa hết thời hạn vay vốn Chính vì vậy mà khách hàng luôn phải sử dụng vốn đúng mục đích từ đó đem lại hiệu quả cho khách hàng, tránh rủi ro cho ngân hàng
c Đối với nền kinh tế:
- Cho vay góp phần làm quá trình sản xuất diễn ra liên tục thường xuyên trong nền kinh tế, góp phần tạo sự tăng trưởng về kinh tế Thừa thiếu vốn tạm thời thường xuyên xảy ra ở các doanh nghiệp Việc phân phối vốn tín dụng đã góp phần điều hoà vốn trong toàn bộ nền kinh tế, tạo điều kiện cho quá trình sản xuất được liên tục Nhờ được cung cấp vốn mà các chương trình, hoạt động sản xuất kinh doanh được thực hiện, được bắt đầu và duy trì tạo sự phát triển cho nền kinh tế Nhìn hẹp hơn, ở góc độ người đi vay, người cho vay thì
Trang 9cho vay đem lại khoản lợi cho cả hai bên Lợi ích kinh tế của hai phía đạt được từ quan hệ cho vay chính là biểu hiện cụ thể nhất của sự tăng trưởng về kinh tế.
- Cho vay là công cụ tài trợ cho các ngành kinh tế kém phát triển và ngành mũi nhọn Các ngành kinh tế kém phát triển thường đem lại hiệu quả kinh tế không cao nhưng nó có thể là rất cần thiết Chẳng hạn: ngành nông nghiệp cung cấp lương thực, thực phẩm cho nền kinh tế nhưng đem lại lợi nhuận không cao bằng các ngành khác do vậy mà các doanh ngiệp thường không muốn đầu tư vào các ngành này Trong điều kiện nước ta, nông nghiệp
là ngành sản xuất đáp ứng nhu cầu cần thiết cho xã hội, đang trong quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá và là ngành chịu tác động nhiều nhất của điều kiện tự nhiên Vì vậy trong giai đoạn trước mắt Nhà nước cần đầu tư phát triển nông nghiệp để giải quyết nhu cầu tối thiểu của xã hội đồng thời tạo điều kiện cho các ngành kinh tế khác phát triển
Những ngành kinh tế mũi nhọn thường là những ngành mới phát triển đòi hỏi vốn đầu tư lớn Phát triển những ngành này sẽ tạo cơ sở và lôi cuốn các ngành khác như: sản xuất hàng xuất khẩu, khai thác dầu khí Các doanh nghiệp trong nền kinh tế thường không đủ tiềm lực tài chính để đầu tư, không
ai khác ngân hàng chính là người sẽ cho vay để tài trợ cho các ngành này
- Cho vay góp phần nâng cao đời sống nhân dân Ngân hàng cho khách hàng vay vốn để sản xuất kinh doanh, việc phát triển sản xuất sẽ góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động Bên cạnh đó, ngân hàng cũng cho vay trực tiếp đối với khách hàng là cá nhân dưới hình thức cho vay tiêu dùng để mua sắm những thiết yếu cần thiết cho cuộc sống như: xây dựng nhà cửa, mua xe… trong khi bản thân họ không có đủ tiền Từ đó mà cho vay
đã góp phần cải thiện đời sống của người dân
- Cho vay góp phần điều chỉnh cơ cấu đầu tư, từ đó tác động chuyển dịch
cơ cấu kinh tế Ngân hàng sẽ chỉ cho vay đối với các ngành có hiệu quả cao và
có khả năng phát triển Mặt khác, ngân hàng cũng cho vay theo chỉ định của Nhà nước, chính quyền địa phương trong đó có chính sách chuyển dịch cơ cấu
Trang 10kinh tế Ở Việt Nam cho vay còn tác động vào quá trình hình thành cơ cấu kinh tế nhiều thành phần Bởi ngân hàng khi cho vay không phân biệt thành phần kinh tế mà sẵn sàng cho vay với các đơn vị hoạt động kinh doanh có hiệu quả, trả nợ ngân hàng đầy đủ.
1.1.3 Phân loại cho vay trong Ngân hàng Thương mại:
Dựa vào mục đích nghiên cứu mà người ta phân chia hoạt động cho vay theo nhiều hình thức khác nhau
a/ Dựa vào mục đích sử dụng tiền vay:
Khi phân chia theo tiêu thức này, các nhà ngân hàng mong muốn tìm ra nguồn tiền trả nợ ngân hàng Tuỳ theo mục đích sử dụng tiền vay mà người ta phân chia hoạt động cho vay của ngân hàng thành hai loại chính là:
- Cho vay tiêu dùng: Mục đích của việc cho vay là người đi vay phải sử dụng tiền vay vào việc tiêu dùng, mua sắm tài sản… nhằm mục đích phục vụ lợi ích cá nhân Khi thực hiện hình thức cho vay này cán bộ tín dụng (CBTD)
đã phải tính đến nguồn tiền để trả ngân hàng đó chính là thu nhập cá nhân của người vay tiền Hình thức phổ biến nhất của loại hình này là cho vay trả góp, một loại hình đã áp dụng rất thành công ở các nước đang phát triển Ngân hàng có thể cho công chức vay để họ mua sắm ô tô, trả góp nhà ở Điều này
đã giúp cho sự tiêu thụ hàng hoá trở nên thuận lợi hơn, do vậy nó thúc đẩy sản xuất phát triển
- Cho vay để kinh doanh: mục đích của loại cho vay này là ngân hàng cho các doanh nghiệp vay để phục vụ cho hoạt động kinh doanh của họ, nhằm
mở rộng sản xuất hay đáp ứng nhu cầu nào đó về tiền của doanh nghiệp Dựa vào đặc điểm từng ngành mà ngân hàng sẽ thiết lập điều kiện cho vay, cách thức trả nợ dựa trên nguồn thu tiền hàng hoá của doanh nghiệp Có thể phân chia loại hình này theo tiêu thức là: cho vay doanh nghiệp sản xuất hay cho vay doanh nghiệp thương mại; có thể phân chia theo ngành nghề kinh tế như: cho vay ngành nông nghiệp, cho vay ngành công nghiệp, cho vay ngành dịch vụ
Trang 11b/ Dựa theo thời hạn cho vay:
Thời hạn cho vay là khoảng thời gian được tính từ khi khách hàng nhận được vốn vay cho đến thời điểm trả hết nợ gốc và lãi vốn vay đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng Theo thời hạn tín dụng cho vay được phân thành:
- Cho vay không có thời hạn xác định: là những khoản cho vay mà thời điểm sử dụng tiền vay và thời điểm trả tiền vay không được kí kết tại thời điểm kí kết hợp đồng tín dụng giữa khách hàng và ngân hàng Thay vào đó ngân hàng và khách hàng sẽ thoả thuận với nhau những điều kiện thu hồi tiền vay của ngân hàng hoặc điều kiện hoàn trả vốn vay của khách hàng Tiền lãi của khoản vay này được xác định theo sự biến đổi lãi suất của ngân hàng
- Cho vay ngắn hạn: là những khoản cho vay có thời hạn từ 12 tháng trở xuống nhằm bổ sung vốn lưu động cho doanh nghiệp Khoản vay này có lãi suất thấp, tính thanh khoản của món vay cao và độ rủi ro thấp
- Cho vay trung hạn: là những khoản cho vay có thời hạn trên 1 năm đến
5 năm nhằm tài trợ cho các tài sản cố định như: sửa chữa, mua sắm thêm thiết
bị vận tải, một số cây trồng vật nuôi, trang thiết bị chóng hao mòn, thay đổi sản phẩm hàng hoá…Lãi suất của món vay trung hạn thường cao, tính thanh khoản của món vay thấp và độ rủi ro cao
- Cho vay dài hạn: Là những khoản cho vay có thời hạn 5 năm trở lên nhằm tài trợ cho các công trình xây dựng cơ bản: nhà, sân bay, cầu đường máy móc, thiết bị có giá trị lớn, thời gian sử dụng lâu phát triển sản xuất theo chiều rộng hoặc chiều sâu Vì thời gian dài nên độ rủi ro của những khoản vay dài hạn là cao nhất, tính thanh khoản là thấp nhất nhưng lãi suất lại là cao nhất
Các khoản cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn đều có thời hạn sử dụng tiền và thời điểm nhận vốn vay cũng như thời điểm hoàn trả được xác định cụ thể và chính xác ngay từ khi ký kết hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng
và khách hàng
Trang 12c/ Dựa theo hình thức bảo đảm của khoản vay:
- Cho vay có tài sản đảm bảo: là những khoản cho vay mà bên cạnh việc cho khách hàng vay vốn, ngân hàng còn lắm giữ tài sản của người vay với mục đích xử lý tài sản đó để thu hồi vốn vay khi người vay vi phạm hợp đồng tín dụng Nghĩa vụ hoàn trả của khách hàng được thực hiện bảo đảm bằng cầm
cố, thế chấp, tài sản hình thành từ vốn vay hoặc bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba
+ Cho vay thế chấp: là hình thức mà người nhận tài trợ phải chuyển các giấy tờ chứng nhận sở hữu (hoặc sử dụng) các tài sản đảm bảo sang cho ngân hàng nắm giữ trong thời gian cam kết
+ Cho vay cầm cố: Là hình thức mà người nhận tài trợ của ngân hàng phải chuyển quyền kiểm soát tài sản bảo đảm sang cho ngân hàng trong thời gian cam kết
- Cho vay không có tài sản đảm bảo: là những khoản vay mà ngân hàng không nắm giữ tài sản của người đi vay để xử lý nhằm thu hồi nợ mà thay vào
đó là những điều kiện ràng buộc khác khi ký hợp đồng tín dụng Căn cứ để ngân hàng có thể cho khách hàng vay theo hình thức này là: ý thức của khách hàng, tình hình tài chính, lịch sử tín dụng của khách hàng, lợi tức có thể có trong tương lai của dự án xin vay vốn…
+ Cho vay tín chấp: là hình thức cho vay của ngân hàng căn cứ vào uy tín,
sự tin tưởng đối với khách hàng Phát triển cho vay tín chấp rất có lợi bởi vì
có những khách hàng có dự án tốt, khả năng sinh lời cao nhưng không có tài sản thế chấp vẫn có thể được vay vốn
+ Bảo lãnh: là hình thức cho vay căn cứ vào sự bảo lãnh bằng uy tín của bên thứ ba Người thứ ba khi đứng ra bảo lãnh sẽ cam kết thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với ngân hàng thay cho người đi vay khi khách hàng không thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng
d/ Dưạ vào mức độ cho vay:
- Cho vay trực tiếp: là hình thức cho vay phổ biến của ngân hàng Ngân hàng trực tiếp cho khách hàng vay vốn thông qua hồ sơ vay vốn mà khách
Trang 13hàng nộp cho ngân hàng Khách hàng làm việc trực tiếp với CBTD để nộp đơn xin vay vốn, thoả thuận các vấn đề liên quan.
- Cho vay gián tiếp: là hình thức cho vay thông qua tổ chức trung gian
Đó là các tổ, hội, đội như: hội phụ nữ, hội nông dân, nhóm sản xuất…Mục đích của các tổ chức này cùng quan tâm đến là vấn đề phát triển kinh tế làm giàu, xoá đói giảm nghèo, dựa trên nguyên tắc hai bên cùng có lợi Đối tượng
đi vay là các hộ nông dân, người buôn bán nhỏ, các hộ nghèo, học sinh, sinh viên… hình thức cho vay này có hai loại
+ Cho vay gián tiếp thông qua tổ chức trung gian: là các tổ hội, đội như: hội phụ nữ, hội nông dân, hội cựu chiến binh…
+ Cho vay thông qua người bán lẻ các sản phẩm đầu vào của quá trình sản xuất Việc cho vay này sẽ hạn chế người vay sử dụng tiền sai mục đích
Hình thức cho vay này thường áp dụng với thị trường có nhiều món vay nhỏ, người vay phân tán cách xa ngân hàng Thông qua hình thức này sẽ giúp ngân hàng tiết kiệm chi phí cho vay, giảm bớt rủi ro Tuy nhiên hình thức này cũng bộc lộ nhiều nhược điểm: nhiều trung gian có thể lợi dụng vị thế của mình để tăng lãi suất hoặc lấy số tiền của các thành viên khác cho riêng mình, còn các nhà bán lẻ có thể lợi dụng để bán hàng kém chất lượng hoặc bán với giá đắt cho người vay vốn
e/ Dựa vào phương thức vay vốn:
- Cho vay trực tiếp từng lần: là hình thức cho vay tương đối phổ biến của ngân hàng đối với khách hàng không có nhu cầu vay vốn thường xuyên, không đủ điều kiện để được cấp hạn mức thấu chi Khi có nhu cầu vay vốn theo hình thức này khách hàng chuẩn bị một hồ sơ xin vay trong đó tự giới thiệu về mình, ghi số lượng tiền vay, thời hạn trả và phương án sử dụng tiền vay Sau đó ngân hàng sẽ thẩm định hồ sơ xin vay của khách hàng
Phương thức cho vay từng lần là phương thức truyền thống, thông dụng của các NHTM Ưu điểm của phương thức này là đơn giản Ngân hàng luôn kiểm soát được mục đích và hiệu quả sử dụng tiền vay Tuy nhiên mỗi lần vay khách hàng lại phải làm hồ sơ xin vay Điều này gây tốn kém cho khách hàng
Trang 14và ngân hàng để thẩm định lại những văn bản khách hàng mang đến Điều này làm tăng chi phí cho cả ngân hàng và khách hàng
- Cho vay theo hạn mức tín dụng: là phương thức cho vay trong đó ngân hàng và khách hàng xác định và thoả thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong một khoảng thời gian nhất định Đây là hình thức cho vay mà không xác định chính xác được thời điểm cần vay và thời điểm hoàn trả, khối lượng tiền vay mà ở đây có sự xen kẽ giữa thời điểm vay và thời điểm hoàn trả tạo nên những nhu cầu về vốn không rõ ràng của khách hàng Điều kiện để được cho vay theo hạn mức tín dụng là: có tín nhiệm với ngân hàng về việc trả nợ và vay vốn, có nhu cầu vay vốn thường xuyên, vòng luân chuyển vốn nhanh, thường xuyên có tiền nộp vào ngân hàng, kinh doanh ổn định
Khi đến ngân hàng vay vốn khách hàng chỉ phải làm đơn xin vay lần đầu và các tài liệu liên quan đến việc vay vốn và thiết lập mối quan hệ theo phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng Phương thức cho vay này tạo thuận tiện cho khách hàng vay mượn thường xuyên, vốn vay tham gia thường xuyên vào quá trình sản xuất kinh doanh ngân hàng không ấn định trước ngày trả nợ Khi khách hàng có tiền ngân hàng sẽ thu nợ, do đó tạo sự chủ động trong quản lý ngân quỹ của khách hàng Tuy nhiên với phương thức cho vay này là rất rủi ro Do các lần vay không tách biệt thành các kỳ hạn nợ cụ thể nên ngân hàng khó kiểm soát hiệu quả sử dụng từng lần vay đó
- Cho vay thấu chi: Là hình thức cho vay trong đó ngân hàng cho phép người vay được chi trội (vượt) trên số dư tiền gửi thanh toán của mình đến một giới hạn nhất định và trong khoảng thời gian xác định Giới hạn này gọi là hạn mức thấu chi Theo cách này ngân hàng và khách hàng thoả thuận một hạn mức tín dụng để khách hàng sử dụng số dư nợ trên tài khoản thanh toán trong một thời hạn nhất định Khách hàng sử dụng vốn vay bằng cách phát hành séc, lập uỷ nhiệm chi, mua thẻ, vượt quá số dư tiền gửi để chi trả Khi khách hàng có tiền nhập vào tài khoản tiền gửi, ngân hàng sẽ thu cả gốc và lãi
Thấu chi dựa trên cơ sở thu và chi của khách hàng không phù hợp về thời gian và quy mô Do vậy phương thức này tạo thuận lợi cho khách hàng
Trang 15chủ động, nhanh, kịp thời Thấu chi là hình thức tín dụng ngắn hạn, linh hoạt thủ tục đơn giản, phần lớn là không có tài sản đảm bảo Nhược điểm của phương thức này là rủi ro cao vì khi doanh nghiệp đặc biệt khó khăn thì các khoản vay thấu chi có thể không được khách hàng trả nợ
- Cho vay theo dự án đầu tư: là phương thức cho vay mà ngân hàng cho khách hàng vay vốn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh dịch vụ và các dự án đầu tư phục vụ đời sống Ngân hàng cùng khách hàng ký hợp đồng tín dụng và thoả thuận mức đầu tư duy trì cho cả thời gian đầu tư của dự án, phân định các kỳ hạn trả nợ, ngân hàng thực hiện giải ngân theo tiến độ thực hiện dự án Mỗi lần rút vốn vay khách hàng lập giấy nhận nợ tiền vay trong phạm vi mức vốn đã thoả thuận kèm theo các chứng từ xin vay phù hợp mục đích sử dụng vốn vay trong hợp đồng tín dụng Đặc điểm của phương thức này là: thời gian hoàn vốn chậm, lãi suất cao, giá trị khoản vay lớn
g/ Các hình thức phân chia khác:
- Cho vay một ngân hàng tài trợ hoặc hợp vốn (đồng tài trợ)
- Cho vay theo đối tượng đi vay vốn: cho vay cá nhân, doanh nghiệp, các
Lúc đầu phần lớn các thành viên trong làng đều làm nông nghiệp Sau
đó có một bộ phận dân cư sống bằng nghề khác, họ liên kết chặt chẽ với nhau
Trang 16hình thành nên một số tổ chức theo nghề nghiệp như: phường gốm, phường dệt… Từ đó, các nghề được lan truyền rộng ra khắp làng và hình thành nên làng nghề Bên cạnh những người chuyên làm nghề thì đa phần các gia đình trong làng đều vừa sản xuất nông nghiệp vừa làm nghề Nhưng do nhu cầu trao đổi hàng hoá, các nghề mang tính chuyên môn sâu hơn và thường chỉ giới hạn trong quy mô nhỏ (làng) dần tách khỏi nông nghiệp để chuyển hẳn sang nghề thủ công Càng về sau xu hướng người lao động tách khỏi đồng ruộng chuyển sang làm nghề thủ công và sống bằng chính nghề đó ngày một tăng Những làng nghề phát triển mạnh số hộ và số lao động làm nghề tăng nhanh
và sống bằng nghề đó ngày càng nhiều
Như vậy làng xã Việt Nam là nơi sản sinh ra các làng nghề truyền thống và các sản phẩm mang dấu ấn tinh hoa của nền văn hoá văn minh dân tộc Trải qua thời gian dài của lịch sử, có những làng nghề vẫn được lưu giữ nhưng có những nghề bị mai một hoặc mất hẳn, có những làng nghề mới ra đời Lâu nay quan niệm về làng nghề vẫn chưa được thống nhất, có nhiều quan điểm khác nhau nhưng có nhiều người thống nhất khái niệm làng nghề như sau:
“Làng nghề là một cụm dân cư sinh sống trong một làng có một hay một
số nghề được tách ra khỏi nông nghiệp để sản xuất kinh doanh độc lập Thu nhập từ các nghề đó chiếm tỷ trọng cao trong tổng giá trị sản phẩm của toàn làng”.
Căn cứ để xác định một làng có phải làng nghề hay không dựa trên những tiêu thức sau:
- Số hộ và số lao động làm nghề ở làng nghề đạt từ 50 % trở lên so với tổng số hộ và lao động của làng
- Giá trị sản xuất và thu nhập từ ngành nghề ở làng nghề đạt trên 50% tổng giá trị sản xuất và thu nhập của làng trong năm
- Những sản phẩm mà làng làm ra phải mang tính đặc thù của làng
Trang 17- Có hình thức tổ chức phù hợp chịu sự quản lý của Nhà nước của chính quyền địa phương gắn với mục tiêu kinh tế xã hội và làng văn hoá của địa phương.
Tên nghề của làng phải được gắn với tên làng: nếu là làng có một nghề thì lấy nghề đó đặt tên cho làng Nếu làng có nhiều nghề phát triển, sản phẩm nghề nào nổi tiếng nhất thì lấy nghề đó đặt tên làng Chẳng hạn: làng dệt lụa Vạn Phúc (Hà Tây), làng gốm Bát Tràng (Hà Nội)…
Người ta có thể chia làng nghề ra thành hai loại: làng một nghề và làng nhiều nghề Làng một nghề là làng duy nhất có một nghề xuất hiện và tồn tại hoặc có một nghề chiếm ưu thế tuyệt đối, các nghề khác chỉ có lác đác ở một vài hộ không đáng kể Làng nhiều nghề là làng xuất hiện và tồn tại nhiều nghề
có tỷ trọng nghề chiếm ưu thế gần như tương đương nhau Cũng có thể chia làng nghề thành: làng nghề truyền thống và làng nghề mới
b Đặc điểm của làng nghề:
Thứ nhất: Làng nghề phát triển đa dạng về quy mô, cơ cấu ngành nghề
- Về quy mô làng nghề: Đại bộ phận các cơ sở sản xuất kinh doanh có quy mô nhỏ bình quân mỗi cơ sở làm nghề chỉ có khoảng vài chục triệu đồng Làng nghề phát triển với nhiều loại mô hình sản xuất, hình thức tổ chức của các cơ sở làng nghề cũng mang đậm sắc thái nông nghiệp nông thôn như: các
hộ, tổ hợp tác, hợp tác xã…Trong những năm gần đây còn xuất hiện những nghề mới như chế biến nông sản, thực phẩm… đã hình thành nên những công
ty, doanh nghiệp tư nhân
- Về cơ cấu nghành nghề: đã có sự thay đổi thích ứng với cơ chế thị trường Một số ngành phát triển mạnh như sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến nông sản, cơ kim khí Có thể nói cơ cấu những ngành nghề của làng rất phong phú Ở các địa phương tỷ lệ ngành nghề cũng khác nhau do nhu cầu tiêu thụ và tiêu dùng khác nhau
- Về trình độ kỹ thuật: trước đây ở các làng nghề sử dụng công cụ thủ công là chủ yếu đến nay đã có sự kết hợp giữa thủ công và máy móc Một số công cụ đã được cơ giới hoá, hiện đại hoá và áp dụng công nghệ tiến tiến vào
Trang 18sản xuất như thiết bị chế biến lương thực, thực phẩm, công nghệ sinh học… nhưng tỷ lệ này mới chỉ ở mức thấp.
Thứ hai: Về sản phẩm của làng nghề
Sản phẩm làng nghề là những sản phẩm tiểu thủ công nghiệp Đối với các sản phẩm của các làng nghề truyền thống thì sản phẩm mang tính đơn chiếc, có tính mỹ thuật cao Bên cạnh những sản phẩm mang tính truyền thống còn có rất nhiều sản phẩm của những làng nghề mới làm cho các sản phẩm của các làng nghề ngày càng đa dạng, phong phú với nhiều chủng loại, thuộc nhiều ngành khác nhau Nhờ bám sát nhu cầu thị trường mà các mặt hàng của làng nghề tăng lên nhanh chóng, chất lượng được nâng cao đáp ứng nhu cầu khách hàng Đặc biệt những sản phẩm nghề truyền thống đã được cải tiến nhanh chóng, phù hợp với thị hiếu được người tiêu dùng trong và ngoài nước yêu thích và đang ngày càng chiếm ưu thế trên thị trường
Thứ ba: Làng nghề có khả năng giải quyết tốt việc làm cho người lao động Một đặc điểm nổi bật về lao động ở các làng nghề là lao động chủ yếu trong các hộ gia đình chiếm tới 90 % , chỉ còn khoảng 10 % nằm ở các doanh nghiệp Nếu như trước đây lao động trong các làng nghề chủ yếu là thủ công thì ngày nay do có sự phát triển của khoa học kỹ thuật, các làng nghề đã ứng dụng ngày càng nhiều khoa học công nghệ vào sản xuất nhất là ở các làng nghề mới Một số tỉnh có làng nghề phát triển như: Bắc Ninh, Nam Định, Thái Bình…ngoài số lao động sử dụng tại địa phương còn thuê mướn nhân công ở bên ngoài rất nhiều, làm thị trường lao động ở nông thôn sôi động hẳn lên
Lao động trong các làng nghề truyền thống có trình độ kỹ thuật cao, tay nghề giỏi, mang tính mỹ thuật độc đáo đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước
và quốc tế Bên cạnh những lao động có tay nghề cao ở các làng nghề truyền thống đại đa số trình độ lao động ở các làng nghề là thấp Các chủ hộ, chủ cơ
sở thường chưa qua trường lớp đào tạo nào nên trình độ quản lý yếu kém Họ thường quản lý theo kinh nghiệm, kinh doanh theo kiểu chớp giật Điều đó chỉ đem lại những lợi ích trước mắt không đem lại hiệu quả lâu dài cho họ
Thứ tư: Về hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh của làng nghề
Trang 19Khi mới hình thành hình thức tổ chức kinh doanh của làng nghề là hộ gia đình gắn với các phường nghề, hội nghề như: phêng gốm, phường đúc đồng…Hiện nay hình thức tổ chức kinh doanh của làng nghề vẫn chủ yếu là
hộ gia đình có nơi lên đến 90 % Bên cạnh đó cũng đã tồn tại các hình thức hợp tác xã, doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn Tuy các hình thức này mới chỉ chiếm số ít nhưng nó đã cho thấy sự phát triển của làng nghề
ở trình độ phát triển cao hơn
c Vai trò của làng nghề trong công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn.
Công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn được coi là một chiến lược quan trọng mà Đảng đã đề ra Để đạt được điều đó thì trước hết cần đẩy mạnh việc khai thác các tiềm năng sẵn có nhằm xoá dần tình trạng thuần nông, độc canh cây lúa tạo công ăn việc làm cho người lao động dư thừa ở nông thôn hiện nay Điều này chỉ có thể được thực hiện thông qua con đường khôi phục và phát triển các làng nghề Từ đó ta có thể thấy được vai trò quan trọng của làng nghề như sau:
- Phát triển làng nghề góp phần giải quyết việc làm cho người lao động ở nông thôn Tạo việc làm cho người lao động ở nông thôn luôn là mối quan tâm hàng đầu của Đảng và Nhà nước Các làng nghề đang ngày càng thu hút nhiều lao động không chỉ lao động ở địa phương mà còn cả lao động ở các địa phương khác đến làm thuê Đồng thời, phát triển làng nghề còn kéo theo các dịch vụ khác phát triển tạo ra nhiều công ăn việc làm cho người lao động Chẳng hạn ngành chế biến lương thực, thực phẩm tạo điều kiện cho ngành chăn nuôi phát triển Việc phát triển các làng nghề là giải pháp quan trọng nhằm khai thác tiềm lực ở nông thôn tạo điều kiện cho người lao động không
có khả năng sản xuất nông nghiệp chuyển sang làm nghề mà họ có ưu thế hay người nông dân có việc làm lúc nhàn rỗi Việc các ngành nghề thu hút lao động ở nông thôn sẽ hạn chế người dân di cư nên thành phố để tìm kiếm việc làm
Trang 20- Các làng nghề đã tạo ra một khối lượng hàng hoá lớn đa dạng, phong phú đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước, thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá mở rộng thị trường Phát triển làng nghề sẽ huy động tối đa nguồn lực sẵn có ở nông thôn như: tài nguyên đất đai, nguyên liệu, lao động… vào quá trình sản xuất kinh doanh, khai thác có hiệu quả nguồn vốn trong nhân dân, tay nghề của người lao động Trên cơ sở đó làng nghề đang tạo ra ngày càng nhiều sản phẩm phong phú về hình thức, đa dạng về chủng loại đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của nhân dân Hiện nay, ngày càng nhiều các mặt hàng của các làng nghề được xuất khẩu như: dệt len, gốm sứ, mây tre đan, điêu khắc… đặc biệt
là các mặt hàng mang tính truyền thống như: dệt thổ cẩm, đồ gốm, mây tre đan… đang được người nước ngoài ưa thích Nhiều người nước ngoài biết đến Việt Nam là nhờ vào những sản phẩm truyền thống đó
- Phát triển làng nghề góp phần xoá đói giảm nghèo, cải thiện đời sống nhân dân ở nông thôn Qua thực tế cho thấy thu nhập bình quân một người lao động làm nghề bao giờ cũng cao hơn thu nhập bình quân một lao động thuần nông Một lao động làm nghề thường có thu nhập bình quân một tháng đạt khoảng 300000 – 1000000 đồng cá biệt có thể cao hơn Đây là điều mà một người trồng lúa không thể đạt được trong một tháng Thu nhập tăng lên người nông dân có điều kiện mua sắm những thiết bị phục vụ cho cuộc sống chẳng hạn ở một số làng nghề hiện nay có trên 80 % các hộ gia đình có xe máy Thu nhập tăng người dân cũng sẽ tích luỹ nhiều hơn, cá biệt có hộ gia đình hàng năm tích luỹ được hàng trăm triệu đồng Đời sống của người dân được cải thiện, những biểu hiện tiêu cực như trộm cắp cũng từ đó mà giảm dần, an ninh trật tự xã hội được ổn định
- Làng nghề sẽ chuẩn bị đội ngũ lao động có khả năng thích ứng với lĩnh vực công nghiệp, tạo cơ sở cho các doanh nghiệp hiện đại ra đời Phát triển làng nghề đã thúc đẩy việc huy động nguồn lực trong nhân dân để đưa vào sản xuất kinh doanh làm cho nền kinh tế nông thôn có sự tăng trưởng mạnh mẽ
Từ đó cơ sở hạ tầng như đường xá, cầu cống…sẽ được cải thiện hay xây mới tạo thuận lợi cho việc đi lại là cơ sở để thu hút đầu tư phát triển những ngành
Trang 21công nghiệp Ngày nay bên cạnh sản xuất thủ công các làng nghề cũng đã đầu
tư vào những thiết bị máy móc hiện đại, tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật Điều đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho đội ngũ lao động ở nông thôn thích ứng với tác phong công nghiệp, nâng cao tính tổ chức kỷ luật trong công việc.Bên cạnh đó, ở các làng nghề cũng có sự liên kết giữa các doanh nghiệp với các cơ sở sản xuất Các doanh nghiệp có thể mua lại sản phẩm hay cung ứng nguyên liệu cho làng nghề hoặc tinh chế, lắp ráp một bộ phận của sản phẩm tạo thành một sản phẩm hoàn chỉnh để bán ra thị trường Các doanh nghiệp này sẽ đảm bảo thị trường đầu vào, đầu ra, cung cấp thiết bị công nghệ, thậm chí có thể cả vốn để tiến hành sản xuất kinh doanh ổn định Mặt khác các doanh nghiệp có thể giảm bớt được những công việc chi tiết, phụ trợ
để tập trung vào khâu then chốt hoàn thiện sản phẩm mang lại hiệu quả kinh tế cao
- Phát triển làng nghề truyền thống góp phần giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc Các làng nghề truyền thống có từ lâu đời, các sản phẩm là sự kết tinh, sự giao lưu và phát triển các giá trị văn hoá, văn minh lâu đời của dân tộc Do vậy mà các sản phẩm truyền thống mang trong mình bản sắc dân tộc mà các dân tộc khác không có
1.2.2 Sự cần thiết cho vay của Ngân hàng thương mại đối với sự phát triển làng nghề:
Thứ nhất, cho vay đáp ứng nhu cầu vốn của làng nghề để đổi mới công
nghệ, mở rộng sản xuất Các làng nghề muốn tồn tại và phát triển thì phải có vốn đầu tư Việc đầu tư từ vốn ngân sách cho phát triển làng nghề còn rất hạn chế bởi khả năng tài chính của Nhà nước thấp Bên cạnh đó, khả năng tự đầu
tư của bản thân làng nghề là rất thấp Sự hạn chế đó bắt nguồn từ hạn chế về thu nhập và khả năng tích luỹ của các hộ gia đình, cơ sở sản xuất Để thay đổi
bộ mặt nông thôn, tạo điều kiện cho làng nghề phát triển đáp ứng vốn bằng vốn vay ngân hàng có ý nghĩa rất to lớn trong việc tài trợ vốn ban đầu cho sản xuất kinh doanh Chính sự hỗ trợ vốn của ngân hàng đã giúp làng nghề mở rộng qui mô sản xuất, cải tiến kỹ thuật, áp dụng công nghệ hiện đại vào quá
Trang 22trình sản xuất với năng suất và chất lượng cao hơn Bên cạnh đó, hoạt động cho vay của ngân hàng cũng giúp các hộ, cơ sở sản xuất có thể giải toả những tắc nghẽn trong sản xuất kinh doanh, làm cho quá trình sản xuất kinh doanh
đó được tiến hành một cách thuận lợi
Khi công nghệ được đổi mới chất lượng sản phẩm sẽ được nâng cao, tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường Nếu qui mô sản xuất được mở rộng sẽ thu hút thêm nhiều lao động, số lượng sản phẩm tạo ra ngày càng nhiều… làm tăng thu nhập cho người lao động, cải thiện đời sống nhân dân
Thứ hai, hoạt động cho vay của Ngân hàng góp phần khôi phục các
làng nghề truyền thống, hình thành và phát triển các làng nghề mới, từ đó góp phần vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của đất nước Phát triển các làng nghề nhằm tạo việc làm, tăng thu nhập cho người dân ở nông thôn, góp phần xoá đói giảm nghèo và thực hiện chiến lược kinh tế hướng ngoại với sản phẩm mũi nhọn là các mặt hàng thủ công mỹ nghệ, chế biến nông sản và cũng
là thực hiện mục tiêu: “ ly nông bất ly hương” ở nông thôn Làng nghề ở Việt Nam trong đó một bộ phận quan trọng là làng nghề thủ công truyền thống với sản phẩm đặc trưng là hàng mỹ nghệ tinh xảo Các sản phẩm này không chỉ có
ý nghĩa kinh tế mà còn chứa đựng ý nghĩa dân tộc Vốn vay ngân hàng đã góp phần quan trọng trong việc khôi phục các làng nghề truyền thống, đồng thời phát triển các làng nghề mới Từ đó giảm dần các hộ thuần nông góp phần vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng nông – công nghiệp và dịch vụ
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại đối với làng nghề:
a Các nhân tố thuộc về ngân hàng:
Trang 23tiêu: lợi nhuận của ngân hàng; an toàn, ít rủi ro; sự lành mạnh của khoản tín dụng Một chính sách tín dụng luôn phải trả lời các câu hỏi: qui mô của các khoản cho vay là bao nhiêu? Thời hạn cho vay bao nhiêu là phù hợp? Sử dụng các hình thức cho vay nào? Lĩnh vực cho vay nào đang có xu hướng phát triển?
Chính sách tín dụng có ý nghĩa quyết định đến sự thành công hay thất bại của một ngân hàng Một chính sách tín dụng đúng đắn sẽ thu hút được nhiều khách hàng, đảm bảo khả năng sinh lời từ hoạt động tín dụng trên cơ sở phân tán rủi ro, tuân thủ pháp luật, đường lối chính sách của Nhà nước, đảm bảo công bằng xã hội Bất cứ ngân hàng nào muốn mở rộng hoạt động cho vay đều phải có chính sách tín dụng rõ ràng, thích hợp với ngân hàng mình
thực hiện trong quá trình cho vay, thu nợ nhằm đảm bảo an toàn vốn tín dụng
Nó được bắt đầu thực hiện từ khi chuẩn bị cho vay, phát tiền vay, kiểm tra quá trình cho vay cho đến khi thu hồi nợ Hoạt động cho vay có được đảm bảo hay không tuỳ thuộc vào việc thực hiện tốt các quy định ở từng bước, sự phối hợp nhịp nhàng giữa các bước trong quy trình tín dụng… sẽ tạo điều kiện cho vốn tín dụng được luân chuyển bình thường theo đúng kế hoạch đã định, nhờ đó bảo đảm chất lượng tín dụng
đóng vai trò hết sức quan trọng Sự thành công trong hoạt động cho vay đối với làng nghề hay không phụ thuộc vào năng lực, trách nhiệm của người cán
bộ tín dụng Họ là những người trực tiếp quản lý toàn bộ số vốn từ khi đầu tư cho đến khi kết thúc hợp đồng tín dụng Trước khi cho vay CBTD phải phân tích kỹ phương án vay vốn, tình hình tài chính của các hộ, cơ sở sản xuất, kiểm tra giám sát việc sử dụng vốn vay của các cơ sở Làng nghề đang ngày càng mở rộng và phát triển, việc nâng cao năng lực, trách nhiệm nhân sự là rất cần thiết Điều đó phòng tránh cho ngân hàng rủi ro trong cho vay đối với làng nghề
Trang 24•Thông tin tín dụng: thông tin tín dụng có vai trò quan trọng trong quản
lý tín dụng Nhờ có thông tin tín dụng người quản lý có thể đưa ra những quyết định cần thiết có liên quan đến việc cho vay, theo dõi quản lý tài khoản cho vay Số lượng, chất lượng của thông tin về làng nghề có liên quan đến mức độ chính xác trong việc phân định tình hình về các làng nghề, các cơ sở
để đưa ra những quyết định phù hợp Vì vậy thông tin càng đầy đủ, chính xác, kịp thời thì khả năng phòng ngừa rủi ro trong hoạt động tín dụng càng lớn, khả năng mở rộng cho vay đối với các làng nghề càng lớn Ngân hàng có thể thu thập thông tin từ nguồn sẵn có của ngân hàng, khách hàng cung cấp, từ trung tâm thông tin tín dụng, từ các nguồn khác
hàng được trang bị đầy đủ, thiết bị công nghệ hiện đại phù hợp với khả năng tài chính, phạm vi, qui mô hoạt động sẽ giúp ngân hàng hoạt động tốt hơn Ngoài những nhân tố nêu trên thì công tác tổ chức của ngân hàng cũng ảnh hưởng đến hoạt động cho vay của ngân hàng Tổ chức ngân hàng phải được tổ chức một cách khoa học, đảm bảo sự phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữa các phòng ban trong ngân hàng, trong toàn bộ hệ thống ngân hàng… để tạo điều kiện đáp ứng kịp thời nhu cầu khách hàng, giúp ngân hàng theo dõi sát sao các khoản cho vay, từ đó đem lại hiệu quả cao trong hoạt động cho vay
Trang 25hơn so với chu kỳ sản xuất xây dựng cơ bản Khách hàng ở các làng nghề cũng có nhu cầu tín dụng trung và dài hạn để mua sắm tài sản cố định: máy móc, thiết bị, nhà cửa… khi mà vốn tự có của bản thân các cơ sở là không đủ.
Nhu cầu vay vốn của làng nghề phụ thuộc vào đặc điểm ngành nghề, đối tượng tài trợ, giai đoạn sản xuất kinh doanh và điều kiện của người vay
Do vậy nhu cầu của khách hàng khác nhau về quy mô, thời hạn, phương thức cho vay Khi mở rộng cho vay với đối tượng khách hàng này, ngân hàng cần xem xét nhu cầu khách hàng cũng như khả năng đáp ứng nhu cầu đó của mình
Thứ hai: Tình trạng tài chính của làng nghề Ngân hàng sẽ cho vay nếu nhận thấy khả năng tài chính của khách hàng là lành mạnh và có thể phát triển Khi cho vay ngân hàng sẽ xem xét các yếu tố sau:
- Khả năng trả nợ: được thể hiện trong hồ sơ hoạt động kinh doanh trước đây như: báo cáo kết quả kinh doanh, bảng cân đối kế toán và phương án sản xuất kinh doanh Trong đó phương án sản xuất kinh doanh là rất quan trọng,
nó phản ánh khả năng trả nợ trên cơ sở dự toán các luồng tiền trong tương lai
- Tài sản bảo đảm: Tài sản đảm bảo vẫn được coi là công cụ hữu hiệu nhất để hạn chế rủi ro Tài sản bảo đảm phải dễ xác định giá trị, dễ mua bán
có thể chuyển nhượng, thuộc sở hữu hợp pháp của khách hàng Thông thường các hộ sản xuất thường đảm bảo bằng đất đai, nhà cửa, máy móc thiết bị Đối với các doanh nghiệp thường là hàng tồn kho, khoản phải thu, máy móc thiết
bị Ngân hàng cũng cho khách hàng vay không có tài sản bảo đảm khi khách hàng đáp ứng được nhu cầu sau: tư cách và năng lực tài chính tốt hoặc là khách hàng có quan hệ lâu dài thường xuyên, có tín nhiệm với ngân hàng Tuy nhiên thực tế cho vay không có tài sản bảo đảm bằng tài sản vẫn chưa nhiều, các làng nghề thường chứa nhiều rủi ro do thị trường tiêu thụ và nguyên liệu biến động thường xuyên
Thứ ba: Tư cách đạo đức, trình độ quản lý của khách hàng ở làng nghề cũng có vai trò quan trọng Kinh nghiệm của nhiều cán bộ tín dụng cho thấy
tư cách đạo đức, tính cách và năng lực quản lý của khách hàng quyết định rất
Trang 26nhiều đến nhu cầu, mục đích vay vốn của họ cũng như mức độ thành công của món vay Cán bộ tín dụng có thể đánh giá họ thông qua một số tiêu thức như:
có quan hệ tín dụng lâu dài và luôn trả nợ đúng hạn, phương án sản xuất hợp
lý có triển vọng phát triển, trình độ giáo dục
c.Các nhân tố khác:
Ngoài các nhân tố thuộc về ngân hàng và làng nghề thì nhân tố về môi trường pháp lý, môi trường kinh tế, môi trường chính trị xã hội, môi trường công nghệ cũng rất quan trọng
Bên cạnh chính sách của Nhà nước, mỗi địa phương đều có chính sách riêng phát triển kinh tế tại địa phương đó cho phù hợp Ngân hàng cần theo dõi để có chính sách mở rộng phù hợp với định hướng của Nhà nước và địa phương nơi mình phục vụ
Môi trường pháp lý cũng là nhân tố quan trọng, việc làng nghề được thừa nhận địa vị pháp lý và tạo khung pháp lý rõ ràng, thuận lợi cho các sản phẩm của làng nghề sẽ tạo điều kiện cho ngân hàng yên tâm và có căn cứ để quyết định cho vay
Trang 27Các điều kiện kinh tế là những yếu tố khách quan thể hiện qua sự tăng trưởng kinh tế hay sự trì trệ của nền kinh tế Khi nền kinh tế đang có sự tăng trưởng: sức mua cao, xuất khẩu tăng, thu nhập của nhân dân ổn định…thì dễ dàng cho phép các ngân hàng mở rộng tín dụng Ngược lại, khi nền kinh tế đang ở trong tình trạng trì trệ thì cho vay sẽ bị thu hẹp bởi các yếu tố lạm phát, khủng hoảng sẽ làm cho khả năng cho vay và khả năng trả nợ biến động lớn làm ảnh hưởng trực tiếp đến việc thu nợ khi cho vay của ngân hàng.
Ngân hàng khi mở rộng cho vay cần xem xét chính sách kinh tế của nhà nước vì chính sách kinh tế sẽ điều tiết để ưu tiên hay hạn chế sự phát triển của một ngành, một lĩnh vực nào đó để đảm bảo sự cân đối trong nền kinh tế
Chính sách tín dụng của đối thủ cạnh tranh cũng ảnh hưởng đến hoạt động cho vay của ngân hàng Trong môi trường kinh tế có sự cạnh tranh gay gắt, ngày càng nhiều ngân hàng tham gia thị trường bên cạnh đó các quỹ tín dụng nhân dân, công ty cho thuê tài chính cũng tham gia thị trường này Khách hàng sẽ có nhiều lựa chọn để vay hơn, họ sẽ lựa chọn những ngân hàng
có lãi suất thấp hay có những điều kiện ưu đãi Chính vì vậy ngân hàng muốn
mở rộng cho vay cần xem xét chính sách tín dụng của đối thủ cạnh tranh để có những điều chỉnh phù hợp
Một nền kinh tế có tình hình chính trị ổn định sẽ tạo sự an toàn cho các khoản tín dụng từ đó thúc đẩy các ngân hàng mở rộng cho vay Trong quan hệ tín dụng có sự kết hợp của ba yếu tố: khách hàng, ngân hàng, sự tín nhiệm Trong đó sự tín nhiệm là cầu nối mối quan hệ giữa khách hàng và ngân hàng Ngân hàng có độ tín nhiệm càng cao thì thu hút được khách hàng càng lớn Khách hàng có tín nhiệm với ngân hàng thường được vay vốn dễ dàng với lãi suất thấp hơn so với các đối tượng khác Ngoài yếu tố trên còn có các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động cho vay như đạo đức xã hội liên quan tới rủi ro tín dụng, trong trường hợp lợi dụng lòng tin để lừa đảo, hoặc do trình độ dân trí chưa cao, kém hiểu biết dẫn tới sử dụng vốn vay không đúng mục đích hoặc kinh doanh kém hiệu quả… dẫn đến ngân hàng không thu được nợ
Trang 28•Môi trường công nghệ:
Với trình độ phát triển như hiện nay, việc ứng dụng công nghệ vào mọi lĩnh vực trong cuộc sống là một tất yếu Công nghệ hiện đại đã góp phần giảm một khối lượng lớn công việc cho con người, thay thế dần sức lao động cho con người Ngân hàng cần phải không ngừng nghiên cứu môi trường công nghệ để biết được công nghệ nào đang phát triển từ đó lựa chọn lĩnh vực đầu
tư đúng đắn
Trang 29CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CHO VAY ĐỐI VỚI LÀNG NGHỀ TẠI CHI NHÁNH NHNo & PTNT HÀ TÂY
TRONG THỜI GIAN QUA
2.1 KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA CHI NHÁNH NHNo & PTNT TỈNH HÀ TÂY TRONG THỜI GIAN QUA.
2.1.1 Tổng quan về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Hà Tây
a Đặc điểm về tự nhiên:
- Hà tây là một tỉnh thuộc khu vực đồng bằng sông hồng, nằm cạnh khu kinh tế tam giác Hà Nội - Hải Phòng - Hạ Long, hạt nhân kinh tế miền Bắc Tỉnh có diện tích tự nhiên 2.193 km2, giáp với thành phố Hà Nội ở hai phía tây và nam với ba cửa ngõ vào thủ đô là các quốc lộ 1,2 và quốc lộ 32
- Hà Tây có 3 vùng địa lý khí hậu khác nhau: vùng đồng bằng Sông Hồng, vùng trung du và vùng miền núi Tỉnh có 3 nhóm đất chính là nhóm đất màu nâu đỏ, nhóm đất phù sa, đất bồi và nhóm đất lầy thụt Hà Tây có hai con sông lớn chảy qua là: sông Đà ở phía Tây và sông Hồng ở phía Bắc Đây là các tuyến đường vận tải đường thuỷ lý tưởng để trao đổi hàng hoá đi Tây Bắc,
Hà Nội, Hải Phòng
- Về tài nguyên: Hà Tây có một số khoáng sản chính là đá vôi, đá granit, cao lanh, vàng và sa khoáng, đồng, pyrit, than bùn, nước khoáng…với chất lượng và trữ lượng cho phép khai thác và chế biến ở quy mô công nghiệp vừa
và lớn đặc biệt là công nghiệp khai thác và chế biến vật liệu xây dựng Môi trường sinh thái ở Hà Tây trong nhiều năm qua đã được chú ý bảo vệ và cải tạo Độ phì nhiêu của đất được tăng lên, đảm bảo sự canh tác bền vững
- Hà Tây là tỉnh có số lượng nhiều về di tích lịch sử (trên 300 di tích) Nhiều điểm du lịch của tỉnh đạt tầm cỡ quốc gia và quốc tế Các cảnh quan này được hình thành theo 3 cụm : Ba Vì – Suối Hai – Ao Vua, Đồng Mô - Ngải Sơn và cụm Thạch Thất - Quốc Oai Do vậy mà tỉnh có điều kiện quy hoạch thành những trung tâm du lịch lớn
Trang 30Với những đặc điểm tự nhiên cơ bản trên, Hà Tây là tỉnh có địa lý thuận lợi, có nhiều tiềm năng về tài nguyên, cảnh quan có thể khai thác Đây chính là điều kiện thuận lợi cho việc hình thành và phát triển các làng nghề ở
Hà Tây
b Đặc điểm về kinh tế - xã hội:
Năm 2005 dân số trung bình của tỉnh Hà Tây khoảng trên 2,5 triệu người tương đương 5,5 vạn hộ Số người ở độ tuổi lao động là: 1.268.000 Trên 90 % dân số sống ở nông thôn, gần 80% dân số làm nông nghiệp, 1/3 số
xã có làng nghề tiểu thủ công nghiệp Nhìn chung nhân dân trong tỉnh cần cù lao động có ý thức vươn lên, có nhận thức mới về sản xuất hàng hoá, năng động hơn trong sản xuất kinh doanh
Kinh tế của tỉnh đạt mức tăng trưởng khá, năm sau cao hơn năm trước Năm 2005, GDP tăng 11,7%, đặc biệt giá trị công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp đạt 4.888 tỷ tăng 25% so với năm trước Cơ cấu kinh tế của tỉnh chuyển dịch tích cực theo mục tiêu đề ra: Công nghiệp xây dựng 38,4% (kế hoạch: 38%); Nông nghiệp thuỷ sản 31,39% ( kế hoạch: 32 % ); Dịch vụ du lịch 30,21 % (kế hoạch: 30%) Các chỉ tiêu kinh tế cơ bản đều đạt và vượt kế hoạch, thu nhập bình quân đầu người đạt 410.000 đồng/tháng, tăng 31000 so với năm 2004 Nhiều khu cụm công nghiệp của trung ương, của tỉnh đã được quy hoạch và đang hình thành đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả
(Nguồn: Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội năm 2005/ UBND tỉnh Hà Tây)
2.1.2 Quá trình hình thành và phát triển của chi nhánh NHNo &
PTNT Hà Tây.
NHNo & PTNT Hà Tây được thành lập tháng 10/1991 trên cơ sở sát nhập 8 đơn vị ngân hàng thuộc NHNo Hà Sơn Bình cũ và 6 đơn vị thuộc NHNo Hà Nội chuyển giao Chi nhánh NHNo & PTNT tỉnh Hà Tây hoạt động theo pháp lệnh ngân hàng và sự chỉ đạo của NHNo & PTNT Việt Nam Ban đầu ngân hàng có 14 chi nhánh cơ sở, 28 phòng giao dịch và bàn tiết kiệm với tổng biên chế gồm 1081 người trên toàn tỉnh Nguồn vốn huy động
Trang 31là 77 tỷ đồng, dư nợ là 46 tỷ đồng, chủ yếu là cho vay doanh nghiệp nhà nước
và hợp tác xã (chiếm 90%) Chất lượng vồn đầu tư thấp, tỷ lệ nợ quá hạn chiếm 17% tổng dư nợ Kết quả tài chính lỗ trong kinh doanh
Hiện nay ngân hàng có 67 điểm giao dịch, gồm trụ sở chính ở thị xã Hà Đông và 17 chi nhánh cấp II tại các huyện Năm 2005, tổng nguồn vốn huy động đạt 4.767 tỷ đồng, tổng dư nợ là 4.242 tỷ đồng, nợ xấu chiếm tỷ trọng 2,5%/ tổng dư nợ Như vậy sau hơn 10 năm chi nhánh đã có những bước phát triển vượt bậc: nguồn vốn huy động, dư nợ tăng trưởng cao, kết quả tài chính khá, đời sống của cán bộ viên chức được đảm bảo, góp phần đáng kể đối với hoạt động kinh doanh của ngành cũng như sự phát triển kinh tế của tỉnh
Từ đặc điểm cơ bản về tự nhiên, kinh tế - xã hội trên địa bàn, hoạt động kinh doanh của chi nhánh NHNo & PTNT Hà Tây có những thuận lợi và khó khăn sau:
•Thuận lợi:
- Tỉnh có trên 90 % dân cư sống ở nông thôn rộng lớn Đây là địa bàn chính của ngân hàng nông nghiệp với nhiều tiềm năng chưa khai thác hết Thời gian qua nhiều làng nghề đã được khôi phục và phát triển tạo điều kiện cho ngân hàng đẩy mạnh cho vay phát triển làng nghề
- Toàn tỉnh hiện nay có trên 2400 doanh nghiệp, 208 khu cụm công nghiệp đã được qui hoạch, thu hút nhiều doanh nghiệp đầu tư trong đó có trên
1000 doanh nghiệp có quan hệ tín dụng với ngân hàng Các doanh nghiệp này đang trong quá trình ổn định sản xuất kinh doanh, đổi mới công nghệ, đổi mới công tác quản lý, tiếp cận và thích nghi với thị trường, làm ăn có hiệu quả hoạt động đa dạng các ngành nghề kinh doanh Đây là điều kiện thuận lợi cho ngân hàng đẩy mạnh cho vay nhằm đáp ứng nhu cầu khách hàng và tối đa hoá lợi nhuận cho ngân hàng
- Chính sách lãi suất tín dụng thường xuyên được điều chỉnh phù hợp và
có xu thế hội nhập lãi suất quốc tế Chính sách lãi suất là đòn bẩy quan trọng kích thích mọi thành phần kinh tế mở rộng phát triển sản xuất kinh doanh, là
Trang 32cơ hội để ngân hàng mở rộng thị trường kinh doanh tín dụng và dịch vụ ngân hàng.
- Dưới sự lãnh đạo của tỉnh uỷ, Hội đồng nhân dân, UBND tỉnh các cấp các ngành đã chỉ đạo có hiệu quả các mặt công tác như: đền bù đất giải phóng mặt bằng; xây dựng đường giao thông, cụm điểm công nghiệp, khu dân cư, chính sách ưu tiên gọi vốn đầu tư, chuyển dịch cơ cấu kinh tế cơ bản theo hướng sản xuất hàng hoá tạo cơ hội thuận lợi lớn cho doanh nghiệp phát triển,
từ đó tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động kinh doanh ngân hàng
- NHNo tỉnh Hà Tây có hệ thống màng lưới của các ngân hàng cơ sở rộng khắp từ tỉnh đến huyện Hiện nay tổng số cán bộ trong biên chế là 850 người trong đó có 432 cán bộ có trình độ đại học, trên đại học Tập thể lãnh đạo ngân hàng có nhiều kinh nghiệm trong chỉ đạo hoạt động kinh doanh và đội ngũ cán bộ được đào tạo bồi dưỡng kiến thức nâng cao nghiệp vụ chuyên môn hàng năm tạo thuận lợi cho hoạt động kinh doanh ngân hàng
- Hà Tây là một tỉnh có nền kinh tế chủ yếu là sản xuất thuần nông, trong mấy năm gần đây việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh hình thành nhưng vẫn chưa chuyển dịch rõ rệt Những khu công nghiệp đã được quy hoạch nhưng chưa có chính sách hợp lý khuyến khích thu hút vốn đầu tư, chưa có ngành nghề kinh tế mũi nhọn Việc sắp xếp các doanh nghiệp Nhà nước tiến hành chậm Mặt khác trên địa bàn hầu hết là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, công nghệ lạc hậu khả năng cạnh tranh còn nhiều hạn chế, hiệu quả sản xuất chưa cao, gây nên những khó khăn trong đầu tư tín dụng của ngân hàng
- Thị trường chính của NHNo là ở nông thôn mà chủ yếu là các hộ sản xuất, món vay nhỏ, chi phí cao Trong quá trình kinh doanh tín dụng, ngân hàng tốn rất nhiều công sức trong việc điều tra thẩm định, quản lý và xử lý nợ khi cho vay Mặt khác đối tượng vay vốn của ngân hàng nông nghiệp chịu nhiều ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, nên trong hoạt động cho vay lĩnh vực này chứa đựng nhiều rủi ro hơn so với các lĩnh vực khác
Trang 33- Trên địa bàn có 3 NHTM quốc doanh và 72 Quỹ tín dụng nhân dân cùng hoạt động môi trường cạnh tranh diễn ra ngày càng gay gắt đòi hỏi phải
có sự nỗ lực, quyết tâm cao của cán bộ nhân viên ngân hàng
Nhận thức được điều đó, Ngân hàng Nông nghiệp Hà Tây đã xây dựng
đề án chiến lược kinh doanh nhạy bén để mở rộng kinh doanh, giữ vững uy tín với khách hàng, nâng cao chất lượng hoạt động để đưa ngân hàng ngày càng phát triển
Mô hình tổ chức của Chi nhánh NHNo & PTNT tỉnh Hà Tây:
Hiện nay trên toàn tỉnh Ngân hàng có 17 NHNo & PTNT huyện, thị xã 45 Ngân hàng cấp 3 và 7 phòng giao dịch trực thuộc Ngân hàng nông nghiệp tỉnh trung tâm NHNo & PTNT Hà Tây có chức năng chỉ đạo hệ thống các chi nhánh cấp dưới Dưới các chi nhánh cấp huyện còn có các chi nhánh loại 4
Mô hình cơ cấu tổ chức của NHNo & PTNT tỉnh Hà Tây được thể hiện ở sơ
đồ sau:
Biểu 01 Mô hình cơ cấu tổ chức của NHNo & PTNT tỉnh Hà Tây
* Tại chi nhánh cấp 2 có các phòng, tổ nghiệp vụ: phòng hành chính
nhân sự, phòng tín dụng, phòng kế toán ngân quĩ, tổ thẩm định
* Tại chi nhánh cấp 3 có các tổ tín dụng, tổ kế toán ngân quỹ
Giám đốc
Chi nhánh cấp
2 - GD
Phó giám đốc phụ trách các chuyên đề nghiệp vụ
Thường trực Công đoàn tỉnh
Phòng tổ nghiệp vụ
Công đoàn cơ sở thành viên
Phòng giao dịch
Chi nhánh
cấp 3Phòng, tổ
nghiệp vụ
Trang 34* Tại hội sở chính: gồm 1 giám đốc và 3 phó giám đốc quản lý 12 phòng, tổ nghiệp vụ Mô hình tổ chức tại hội sở chính thể hiện như sau:
Biểu 02 Mô hình cơ cấu tổ chức tại hội sở Chi nhánh NHNo & PTNT Hà
Tây
2.1.3 Khái quát hoạt động của chi nhánh NHNo & PTNT tỉnh Hà Tây trong thời gian qua.
a Hoạt động huy động vốn:
quan trọng ảnh hưởng tới chất lượng hoạt động của ngân hàng Trên cơ sở ngân hàng xác định rõ huy động vốn là nhiệm vụ trọng tâm xuyên suốt và có ý nghĩa quyết định để mở rộng kinh doanh và hoàn thành kế hoạch, trong các năm qua các cấp ngân hàng thường xuyên tập trung chỉ đạo thực hiện có hiệu quả nhiều giải pháp thiết thực để tăng trưởng nguồn vốn Kết quả là tổng nguồn vốn huy động liên tục tăng trưởng qua các năm Kết quả đó được thể hiện qua bảng sau:
Phòng
kế toán ngân quĩ
Phòng tín dụng Phòng ngoại
tệ và thanh toán quốc tế
Phòng kiểm tra nội bộ
Phòng
vi tính
Phòng giao dịch
Tổ Nghiệp
vụ thẻ
Tổ tiếp thị
Phòng thẩm định
Trang 35ả ng1 Cơ cấu nguồn vốn huy động của Chi nhánh NHNo & PTNT Hà
Tây trong thời gian qua.
Đơn vị: triệu đồng
Chỉ tiêu Năm 2003 Năm 2004 Tốc độ
Tăng trưởng Năm 2005
Tốc độ tăng trưởng
Tổng nguồn vốn
3.348.173 3.924.792 17,22% 4.767.289 25,16%
Cơ cấu phân theo loại tiền huy động VND 2.854.120 3.343.432 17,14% 4.075.255 21,89% Ngoại tệ qui đổi 494.053 581.360 17,67% 692.034 19,04%
Cơ cấu phân theo tính chất nguồn vốn huy động Tiền gửi dân cư
2.177.468 2.231.129 2,5% 2.962.660 32,79% Tiền gửi TCKT-
XH 368.000 511.949 39,12% 634.907 24,02%Tiền gửi TCTD
137.705 360.214 162% 239.522 - 33,51% Vốn uỷ thác đầu tư 665.000 821.500 23,53% 930.200 13,23%
( Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh NHNo & PTNT tỉnh Hà Tây
năm 2003, 2004, 2005)Dựa vào bảng ta thấy: trong 3 năm qua hoạt động huy động vốn của chi nhánh tăng trưởng khá Năm 2003, tổng nguồn vốn huy động của toàn chi nhánh đạt 3.348.173 triệu đồng Năm 2004, tổng nguồn vốn huy động là 3.924.792 triệu đồng, tăng 576.619 triệu đồng so với năm 2003, tốc độ tăng trưởng là: 17,22% Bước sang năm 2005 ngân hàng đã chỉ đạo thực hiện tốt các đợt huy động tiết kiệm dự thưởng bằng vàng 3 chữ A và chứng chỉ tiền gửi của Trung Ương Đồng thời ngân hàng còn thường xuyên nắm bắt tâm lý khách hàng để đưa ra nhiều sản phẩm mới, hấp dẫn như: tiết kiệm bậc thang, tiết kiệm gửi góp, phát hành hai đợt tiết kiệm quay số dự thưởng Kết quả là tổng nguồn vốn huy động năm 2005 đạt 4.767.289 triệu đồng tăng so với năm
2004 là 842.497 triệu đồng với tốc độ tăng trưởng là: 21,47% Như vậy tốc độ tăng trưởng đã cao hơn so với tốc độ tăng trưởng những năm trước đó
Trang 36Trong tổng nguồn vốn huy động được trong những năm qua, huy động VND vẫn chiếm tỷ trọng lớn thường chiếm khoảng 80% - 85% Huy động vốn bằng VND và USD đều tăng qua 3 năm cả về số tương đối và số tuyệt đối Đặc biệt là tiền gửi bằng ngoại tệ trong đó chủ yếu là USD cũng liên tục tăng qua các năm tạo điều kiện cho ngân hàng có đủ ngoại tệ để thực hiện các nghiệp vụ thanh toán quốc tế cũng như cho vay Có được điều đó là qua các năm kim ngạch xuất khẩu của toàn tỉnh tăng đặc biệt là các sản phẩm thủ công
Nếu phân theo thời hạn huy động thì tiền gửi có kì hạn trên 1 năm luôn chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng nguồn huy động Điều này được thể hiện ở bảng 2:
Trang 37ả ng 2 Cơ cấu phân theo thời hạn huy động
Đơn vị : triệu đồng
Chỉ tiêu Năm 2003 Năm 2004 Tốc độ
Tăng trưởng Năm 2005
Tốc độ Tăng trưởng
Tiền gửi không kì
hạn 483.017 537.890 11,36% 657.437 22,23%Tiền gửi kỳ hạn
dưới 12 tháng 780.131 814.804 4,44% 809.309 - 0,67%Tiền gửi kỳ hạn
trên 12 tháng 2.085.052 2.572.098 23,36% 3.300.543 28,32%Tổng cộng 3.348.173 3.924.792 17,22% 4.767.289 25,16%
(Nguồn: Báo cáo tổng kết kinh doanh của NHNo & PTNT tỉnh Hà Tây năm
2003,2004,2005)
Trong 3 năm tiền gửi không kỳ hạn đều tăng với tốc độ tăng trưởng khá năm 2004 là 11,36% so với năm 2003 thì năm 2005 tốc độ tăng trưởng đạt 22,23 % so với năm 2004 Tiền gửi không kỳ hạn thì tăng rất chậm với tốc độ
là 4,44% cho đến năm 2005 thì giảm xuống 0,67 % Tiền gửi kỳ hạn trên 12 tháng là có tốc độ tăng khá nhất trên 20 % qua cả 3 năm
Ngân hàng thường xuyên nghiên cứu thị trường lãi suất của các TCTD
để có chính sách lãi suất linh hoạt phù hợp với quy luật cung cầu của thị trường vốn Trong năm 2005 ngân hàng đã có 7 lần điều chỉnh lãi suất huy động vốn, kết hợp với tặng quà khuyến mại, có giải pháp chăm sóc khách hàng hợp lý Ngân hàng cũng làm tốt công tác tuyên truyền sản phẩm, lãi suất, dịch vụ mới và quảng bá thương hiệu nên đã thu hút nhiều khách hàng mới đến với ngân hàng nhờ đó mà trong 3 năm tổng nguồn huy động của ngân hàng luôn tăng đạt mức tăng trưởng khá
b Hoạt động cho vay :
Hoạt động chính của ngân hàng thương mại là huy động vốn để sử dụng nhằm thu được lợi nhuận Việc sử dụng vốn chính là quá trình tạo lên các khoản tài sản khác nhau của ngân hàng, trong đó cho vay là khoản mục tài sản lớn và quan trọng nhất Trong những năm qua NHNo & PTNT Hà Tây đã
mở rộng đầu tư đi đôi với nâng cao chất lượng tín dụng Các cấp ngân hàng
Trang 38thực hiện việc lựa chọn thị trường, lựa chọn khách hàng, lấy thị trường nông nghiệp nông thôn là chính đẩy mạnh đầu tư vào các làng nghề, kinh tế trang trại và kinh tế hộ sản xuất kết quả là trong năm 2005, trên 13 vạn hộ có dư nợ 2.647 tỷ tăng 482 tỷ so với đầu năm, chiếm 62,45 tổng dư nợ Mặt khác ngân hàng cũng chú trọng đầu tư vào doanh nghiệp ngoài quốc doanh, HTX Kết quả bảng 3 cho thấy tình hình cho vay qua các năm 2003 – 2005 như sau:
Bảng 3 Tình hình cho vay qua các năm 2003 – 2005 tại
NHNo & PTNT tỉnh Hà Tây
Đơn vị: tỷ đồng
Chỉ tiêu Năm 2003 Năm 2004 Tốc độ
tăng trưởng Năm 2005
Tốc độ tăng trưởng
tỷ đồng, tăng trưởng 38,87% Đến năm 2005 thì doanh số cho vay đạt 6.299 tỷ đồng tăng 858 tỷ đồng so với năm 2004, tăng trưởng là: 15,77% như vậy tốc
độ tăng đã giảm hơn so với năm trước đó Doanh số cho vay liên tục tăng là
do trong 3 năm các doanh nghiệp vừa và nhỏ ngày càng tăng cả về quy mô và
số lượng nên nhu cầu vay vốn để mở rộng, phát triển sản xuất kinh doanh ngày càng lớn
- V ề doanh s ố thu n ợ : do mục tiêu của hoạt động tín dụng là an toàn vốn
và có lợi nhuận, do vậy phải đảm bảo thu được gốc và lãi Cụ thể, năm 2003 doanh số thu nợ là 2.957 tỷ đồng đến năm 2004 doanh số thu nợ là 4.929 tỷ đồng, tăng so với năm 2003 là 1.972 tỷ đồng tốc độ thu nợ tăng 66,69% Năm
2005 doanh số thu nợ là 5.706 tỷ đồng tăng 777 tỷ đồng, tốc độ tăng thu nợ là
Trang 3915,76% Trong những năm qua nền kinh tế của tỉnh tăng trưởng khá, các doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả luôn trả nợ đúng hạn Đồng thời công tác thu
nợ luôn được chi nhánh quan tâm một cách đúng mức ngân hàng thường xuyên kiểm tra, đôn đốc giám sát các khoản nợ để thu hồi nợ đúng thời hạn
Do vậy mà doanh số thu nợ trong những năm qua tăng lên tương ứng với doanh số cho vay điều này đảm bảo an toàn trong hoạt động tín dụng của chi nhánh
- V ề d ư n ợ : NHNo & PTNT Hà Tây luôn xác định mở rộng tín dụng đi đôi với nâng cao chất lượng tín dụng là vấn đề hết sức cần thiết trong kinh doanh do đó chi nhánh đã đưa ra các biện pháp chỉ đạo thực hiện đầu tư tín dụng có hiệu quả, tiến hành khảo sát thị trường tìm kiếm khách hàng, đề ra định hướng cho vay phù hợp với sự phát triển của từng vùng, từng đối tượng vay Trên cơ sở đó giúp cho hoạt động tín dụng đi đúng hướng và đem lại hiệu quả Kết quả đó được thể hiện ở biểu 4 như sau:
Phân theo thành phần kinh tế
Dựa vào biểu 4: tổng dư nợ qua 3 năm đều tăng Năm 2003 tổng dư nợ
là 3.137 tỷ đồng thì năm 2004 tổng dư nợ là 3.649 tỷ đồng, tăng 512 tỷ đồng
so với năm 2003, tốc độ tăng là 16,32% Đến năm 2005 ngân hàng đã tổ chức thực hiện phân loại cho 100% khách hàng có dư nợ 10 triệu đồng trở lên, áp dụng vào xét duyệt cho vay, từng bước loại dần khách hàng sản xuất kinh
Trang 40doanh kém hiệu quả, mở rộng cho vay khách hàng có uy tín Vận dụng chính sách ưu tiên mức cho vay, lãi suất cho vay, khuyến khích khách hàng làm ăn
có hiệu quả và chấp hành tốt chính sách tín dụng ban hành Tổng dư nợ đạt 4.242 tỷ đồng, tăng so với 2004 là: 593 tỷ đồng, tốc độ tăng là 16,25% Tốc
độ tăng trưởng dư nợ năm 2004 so với tốc độ tăng trưởng dư nợ năm 2005 tương đối đồng đều Năm 2004 tốc độ tăng dư nợ thấp là do tốc độ thu nợ năm
2004 tăng khá lớn (66,69 %) so với tốc độ cho vay (38,87 %) Đến năm 2005 tốc độ tăng trưởng dư nợ có tăng về số tuyệt đối nhưng tốc độ tăng trưởng vẫn tương đương với năm 2004 là do tốc độ tăng trưởng cho vay và tốc độ tăng trưởng thu nợ là như nhau Sự thay đổi về DSCV, DSTN, dư nợ qua ba năm
sẽ được thể hiện trong rõ hơn trong biểu đồ dưới đây:
Biểu đồ 03 Tình hình về DSCV, DSTN, dư nợ của chi nhánh NHNo &
PTNT tỉnh Hà Tây trong thời gian qua.
Tỷ đồng
tỷ trọng lớn trong tổng dư nợ Năm 2003 là 62,89% ; năm 2004 dư nợ hộ sản chiếm 59,33% Đặc biệt trong năm 2005 ngân hàng đã thực hiện chỉ đạo cho vay hộ sản xuất: nắm bắt nhu cầu vay vốn tớí từng khách hàng chi nhánh cấp
I, cấp III giảm dư nợ của doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả, hoặc loại hình