1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

hoạt động nhập khẩu máy móc, vật tư và phụ kiện cho các dây chuyền chế biến thực phẩm tại công ty cổ phần cơ điện lạnh eresson

56 1K 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hoạt động nhập khẩu máy móc, vật tư và phụ kiện cho các dây chuyền chế biến thực phẩm tại Công ty Cổ Phần Cơ điện Lạnh ERESSON
Tác giả Đào Thị Kim Nhung
Trường học Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
Chuyên ngành Kỹ thuật chế biến thực phẩm
Thể loại Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Năm xuất bản 2024
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 562 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các đặc trưng của hoạt động này bao gồm: Thứ nhất: phần lớn máy móc, vật tư và phụ kiện cho các dây chuyền chế biến thực phẩm thuộc loại hàng tư liệu xuất trong nước chưa sản xuất được..

Trang 1

Lời mở đầu

Từ đường lối mở cửa cho nền kinh tế được vạch ra tại Đại hội Đảng toànquốc lần thứ VI năm 1986 đã làm thay đổi diện mạo của Việt Nam - một nướcnghèo, lạc hậu vừa mới thoát khỏi chiến tranh tàn khốc Việt Nam giờ đâyđang trở mình, từng bước trên con đường hội nhập vào nền kinh tế thế giới.Đây chính là điều kiện thiết yếu để Việt Nam tiếp thu khoa học – công nghệtiên tiến hiện đại của các quốc gia phát triển nhằm thực hiện mục tiêu côngnghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Rượu – Bia - Nước giải khát trong những năm gần đây được đánh giá làmột ngành công nghiệp phát triển mạnh, có nhiều đóng góp cho nền kinh tế -

xã hội, đặc biệt khi đời sống nhân dân đã được cải thiện về mọi mặt như bâygiờ Nhưng khó khăn lớn nhất của ngành chính là sự yếu kém về trình độkhoa học, kỹ thuật Bởi vậy, các doanh nghiệp trong ngành thường xuyên phảinhập khẩu các dây chuyền, máy móc và thiết bị của nước ngoài Tình trạng đóđòi hỏi ngành phải đưa ra các giải pháp phù hợp để tận dụng tối đa những lợiích có được trong bối cảnh hội nhập kinh tế thế giới và khu vực của cả nước Đây chính là trăn trở của các doanh nghiệp, các chuyên gia trong ngành vàcũng là trăn trở của bản thân em trong thời gian thực tập tại Công ty Đầu tư –Xây lắp Cơ điện lạnh ERESSON Xuất phát từ lẽ đó, em mạnh dạn chọn đề

tài: “Hoạt động nhập khẩu máy móc, vật tư và phụ kiện cho các dây chuyền chế biến thực phẩm tại Công ty Cổ Phần Cơ điện lạnh ERESSON” làm đề

tài cho bài thực tập tốt nghiệp Với đề tài này, em mong muốn được trình bàymột số vấn đề về tình trạng nhập khẩu của công ty, qua đó em xin phép đềxuất một số giải pháp đối với công ty cũng như kiến nghị đối với Nhà nước,các cơ quan chức năng nhằm cải thiện hoạt động này

Trang 2

Bố cục của bài chuyên đề thực tập tốt nghiệp được chia làm 3 chương:

Chương I: Những vấn đề cơ bản về hoạt động nhập khẩu máy móc, vật tư và phụ kiện cho các dây chuyền chế biến thực phẩm

Chương II: Thực trạng hoạt động nhập khẩu máy móc, vật tư và phụ kiện cho các dây chuyền chế biến thực phẩm tại công ty ERESSON

Chương III: Một số giải pháp đẩy mạnh hoạt động nhập khẩu máy móc, vật tư

và phụ kiện cho các dây chuyền chế biến thực phẩm tại công ty ERESSON

Trang 3

Chương I: Những vấn đề cơ bản về hoạt động nhập khẩu máy

móc, vật tư và phụ kiện cho các dây chuyền chế biến thực

phẩm và nhu cầu cho các sản phẩm này

I Tổng quan về hoạt động nhập khẩu máy móc, vật tư và phụ kiện cho các dây chuyền chế biến thực phẩm

1 Đặc trưng của nhập khẩu máy móc, vật tư và phụ kiện cho các dây chuyền chế biến thực phẩm

Nhập khẩu máy móc, vật tư và phụ kiện cho các dây chuyền chế biếnthực phẩm cũng giống như bất kỳ hoạt động nhập khẩu một loại hàng hóa nào

về quy trình và thủ tục thực hiện, tuy nhiên nó vẫn có những đặc trưng nhấtđịnh Các đặc trưng của hoạt động này bao gồm:

Thứ nhất: phần lớn máy móc, vật tư và phụ kiện cho các dây chuyền chế

biến thực phẩm thuộc loại hàng tư liệu xuất trong nước chưa sản xuất được Chúng có thể hiểu là bao gồm các loại sau:

Vật tư: Inox, thép, đáy giả, vật liệu cách nhiệt, …

Các loại máy móc: Máy chiết rót, máy lọc, máy lạnh, lò hơi, máy thicông, máy nén khí, máy sấy khí khô, máy nén lạnh, máy nghiền gạo – malt …Các loại bơm( làm bằng chất liệu Inox, thép…): Bơm vít xoắn, bơm lytâm, bơm piston, …

Các loại phụ kiện: Van, tê, cút, bộ đo lưu lượng, bộ chuyển đổi áp suấtdầu, ống mềm thực phẩm, …

Đường ống( Inox, thép, …)

Điện: Phần cứng PLC, các loại thiết bị đo, thiết bị đóng cắt, …

Như vậy, so với các loại hàng hóa thông thường, các loại hàng hoá trênđược phân loại khá phức tạp Trong một nhóm hàng có rất nhiều loại với cácthống số kỹ thuật khác nhau Ví dụ, trong nhóm vật tư bao gồm: Inox, thép,đáy giả…, trong đó vật tư Inox bao gồm các loại: AISI 304, AISI 316, AISI316L… được quy định về tỷ lệ chất cấu thành, thông số và kiểu dáng kỹ thuật

Trang 4

khác nhau Không như các sản phẩm thô lấy từ thiên nhiên( thủy sản, các sảnphẩm nông nghiệp, …), chúng đều là loại sản phẩm chứa yếu tố công nghệ rấtcao, là kết quả sau bao nhiêu năm nghiên cứu và thử nghiệm thành công củanhiều nhà khoa học trên thế giới.

Thứ hai: các loại hàng máy móc, vật tư và phụ kiện cho các dây chuyền

chế biến thực phẩm rất phù hợp với phương thức vận tải biển

Hoạt động nhập khẩu máy móc, vật tư và phụ kiện cho các dây chuyềnchế biến thực phẩm thường thực hiện trong một khoảng thời gian khá dài( 8-

14 tuần) Hơn thế nữa, hàng hóa lại không nhạy cảm với thời tiết, đa số chúngđược nhập từ Đức và Thụy Điển, do vậy nếu nhập hàng về bằng đường biển

sẽ giảm được chi phí so với các phương thức vận tải khác mà vẫn đảm bảochất lượng của hàng

Thứ ba: nhà cung cấp chính của các loại hàng máy móc, vật tư và phụ

kiện cho các dây chuyền chế biến thực phẩm là các hãng sản xuất nổi tiếng ởĐức như: Huppmann, Lindermann, Neumo, GEA, APV, Alfa Laval, …Đặcbiệt, Đức là quốc gia nổi tiếng về các dây chuyền thiết bị sản xuất đồ uống,công nghệ nấu bia ở Đức đã trở thành truyền thống từ bao đời nay Do vậy,Đức có thể gọi là nơi cung cấp các dây chuyền công nghệ và thiết bị nguồntrong ngành công nghiệp thực phẩm

Thứ tư: nhập khẩu các loại hàng máy móc, vật tư và phụ kiện cho các

dây chuyền chế biến thực phẩm thường phải ký các hợp đồng nội trước Điềunày là bởi vì chúng thường phục vụ cho một dự án, công trình nhất định và cógiá trị khá lớn Hiện nay, ở nước ta vẫn chưa có doanh nghiệp nào trongngành có đủ năng lực để có nhập máy móc, vật tư và phụ kiện để thực hiệnđầu tư xây lắp khi chưa có hợp đồng nội Do vây, hoạt động nhập khẩu nàymang tính thụ động rất cao

Thứ năm: ngoài những kỹ năng về nghiệp vụ, người làm công tác nhập

khẩu phải am hiểu về chuyên ngành khoa học - kỹ thuật, đặc biệt là ngànhđiện lạnh Đây là một đòi hỏi rất cao vì nó liên quan đến hiệu quả của những

Trang 5

công trình có giá trị khá lớn Sau khi ký kết hợp đồng, nhân viên kinh doanhxuất nhập khẩu phải dựa trên các tính năng kỹ thuật của từng mặt hàng để cóthể lập kế hoạch và đưa ra phương án nhập khẩu tối ưu.

2 Vai trò của nhập khẩu máy móc, vật tư và phụ kiện cho các dây chuyền chế biến thực phẩm

2.1 Sự cần thiết phải nhập khẩu máy móc, vật tư và phụ kiện cho các dây chuyền chế biến chế biến thực phẩm

Rượu – Bia - Nước giải khát là một ngành công nghiệp lớn Trong thời

kỳ đổi mới, ngành đã có nhiều đóng góp cho nền kinh tế quốc dân và phục vụtốt cho nhu cầu người tiêu dùng Thành công này có phần đóng góp quantrọng của khoa học – công nghệ với nhiều tiến bộ kỹ thuật được áp dụng vàothực tiễn Nhiều công nghệ mới được chuyển giao từ nhiều nước trên thế giới

đã từng bước nâng cao năng suất, chất lượng và uy tín sản phẩm trên thịtrường trong nước và quốc tế

Vào những năm cuối thập niên 80 đầu thập niên 90 của thế kỷ XX,Ngành Rượu – Bia - Nước giải khát dần mất đi vị thế độc quyền vốn có từthời bao cấp Sự cạnh tranh gay gắt của các sản phẩm nhập ngoại, hàng nháinhãn mác và cả hàng giả trong nền kinh tế thị trường đã khiến các doanhnghiệp trong ngành gặp vô vàn khó khăn Cho đến nay, mặc dù đã có nhiều sựthay đổi theo hướng tích cực, tình trạnh đó vẫn làm hạn chế rất nhiều đến sựphát triển của ngành và làm chậm tốc độ tăng trưởng của tổng thể nền kinh tế.Muốn đứng vững và phát triển, ngành Rượu – Bia - Nước giải khát phải đổimới sản xuất bằng máy móc, thiết bị hiện đại với công nghệ sản xuất tiên tiến.Nhưng có một thực tế là, mặt bằng về trình độ công nghệ sản xuất vàthiết bị trong ngành còn lạc hậu, hiện còn thấp hơn so với các nước phát triểntrong khu vực Đó là chưa kể đến những bài toán bất cập sau đầu tư Chẳnghạn, nhiều doanh nghiệp còn đầu tư một cách dàn trải, thiếu tính toán nếukhông muốn nói là chưa biết cách đầu tư một cách đúng đắn, phù hợp, đã gây

ra tình trạng lãng phí, thất thu khiến sản xuất – kinh doanh của các doanh

Trang 6

đảm bảo chất lượng nên doanh số bán ra và tỷ suất lợi nhuận trên một đồngchi phí rất thấp Không những thế, theo đánh giá của các chuyên gia đầungành, chất lượng đồ uống do các cơ sở bia địa phương, tư nhân, cổ phần sảnxuất thường không ổn định, nhiều khi không đảm bảo chất lượng, hàm lượngđộc tố cao, ảnh hưởng xấu đến hình ảnh và uy tín của ngành Rượu – Bia -Nước giải khát và sức khỏe người tiêu dùng.

Cho đến nay, trong nước có ít doanh nghiệp có thể đủ năng lực để tự đầu

tư, đổi mới máy móc, thiết bị sản xuất sản phẩm đồ uống Các doanh nghiệpcòn lại phải đi tìm một hướng đi khác Một số doanh nghiệp lựa chọn hìnhthức liên doanh với nước ngoài để tận dụng nguồn vốn và công nghệ, kỹ thuậthiện đại của các hãng nổi tiếng như: công ty Bia Đông Á, công ty Liên doanhBia Việt Nam, công ty Nước giải khát Quốc tế IBC, …Nắm bắt tình hình đó,một số doanh nghiệp chuyên đầu tư, xây lắp đã mạnh dạn mua máy móc, thiết

bị, linh kiện của nước ngoài về để tiến hành thi công, lắp đặt trong nước như:công ty Cơ nhiệt điện lạnh Bách Khoa POLYCO, công ty Đầu tư Xây lắp CơĐiện lạnh ERESSON, công ty TNHH phát triển Công nghệ Việt Pháp, …Bởi vậy, hơn bao giờ hết, nhập khẩu các máy móc, vật tư và phụ kiệncho các dây chuyền chế biến thực phẩm là nhu cầu thiết yếu cho sản xuấttrong nước, thậm chí là điều không thể nào tránh khỏi cho sự phát triển

2.2 Vai trò của nhập khẩu máy móc, vật tư và phụ kiện cho các dây chuyền chế biến thực phẩm

Cũng như những hoạt động khác, nhập khẩu máy móc, vật tư và phụkiện cho các dây chuyền chế biến thực phẩm đã có những đóng góp khôngnhỏ vào mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của cả nước nói chung, ngànhRượu – Bia - Nước giải khát và bản thân từng doanh nghiệp nói riêng

Đầu tiên phải nói đến là hoạt động này đã góp phần nào tạo điều kiệnthúc đẩy nhanh cho quá trình xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật và chuyển dịch

cơ cấu nền kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Nói riêng tronglĩnh vực sản xuất bia, chỉ với 8 doanh nghiệp ( chiếm 1,7%) được trang bị

Trang 7

thiết bị hiện đại, tự động hóa cao, cùng với hệ thống lên men theo công nghệhiện đại, tự động hóa cao, cùng với hệ thống lên men theo công nghệ hiện đại

đã sản xuất được 443 triệu lít, chiếm 62% sản lượng toàn ngành Hiệu suấthuy động đạt 79% Trong khi đó, với 461 cơ sở sản xuất bia địa phương, tưnhân, cổ phần( chiếm 98,3%) chủ yếu được trang bị bằng thiết bị chế tạotrong nước thiếu đồng bộ, tự động chưa cao, thậm chí còn lạc hậu, phươngpháp lên men chủ yếu theo công nghệ cũ( hệ thống nhà lạnh và thiết bị lênmen chính phụ riêng biệt) chỉ sản xuất khoảng 38% sản lượng toàn ngành.Hiệu suất huy động chỉ 61% Đặc biệt, sự tăng trưởng của ngành đã cùng vớicác ngành công nghiệp khác đã góp phần rất lớn trong GDP của cả nước.Năm 2003, tỷ trọng của toàn ngành công nghiệp trong GDP là 40%, đóng góptrên 53% vào tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế

Bên cạnh đó, hàng năm hoạt động này đã góp phần tăng thu cho ngânsách nhà nước thông qua nhập khẩu Thuế nhập khẩu đối với các loại hàngnày thường rất cao Mức thuế thông thường là 0% - 35%, nhưng đa số làtrong khoảng 5% - 35%, đặc biệt phần lớn phụ kiện đều nằm trong mức 20% -30% Trong khi đó giá cả nhập về của các loại hang này không hề thấp mànhu cầu lại ngày càng tăng Vì vậy, mỗi năm, hoạt động này đã góp vào ngânsách đến hàng tỷ đồng

Không những thế, các vật tư, thiết bị, linh kiện nhập về đã cho ra nhữngsản phẩm có chất lượng tốt, nâng cao đời sống tinh thần và vật chất của ngườidân Thay vì dùng đồ uống nhập ngoại như trước, giờ đây người dân đã có thểlựa chọn cho mình những loại đồ uống phù hợp, có chất lượng cao được sảnxuất trong nước Do đó, nó làm giảm nhập khẩu đồ uống của các hãng nướcngoài và làm giảm sức cạnh tranh của hàng nhái nhãn mác và hàng nhập lậu.Đặc biệt hơn nữa, hoạt động này còn đóng góp vào việc bổ sung kịp thờinhững mặt mất cân đối của nền kinh tế

Trang 8

Thứ nhất: gián tiếp và trực tiếp tạo công ăn việc làm cho rất nhiều lao

động đã giảm bớt mất cân đối trong cơ cấu đào tạo và việc làm - một trongnhững vấn đề trọng yếu và tháo gỡ của các cơ quan chức năng

Thứ hai: nó góp phần đẩy mạnh xuất khẩu cho đất nước, đồng thời cải

thiện sự mất cân đối trong cán cân mậu dịch( cán cân xuất nhập khẩu) Từ chỗsản phẩm sản xuất ra chủ yếu được tiêu thụ trong nước, giá trị kim ngạch xuấtkhẩu không đáng kể, cho đến nay, sản phẩm Rượu – Bia - Nước giải khát đãđang từng bước tiếp cận thị trường thế giới với kim ngạch xuất khẩu bìnhquân đạt khoảng 7 triệu USD/năm( theo thống kê của hiệp hội Rượu – Bia -Nước giải khát Việt Nam) Đối với tình trạng liên tục nhập siêu như hiện nay,thành công đó cũng rất đáng ghi nhận

Trang thiết bị hiện đại, công nghệ tiên tiến đã thực sự tạo bước đột phácho Ngành Rượu – Bia - Nước giải khát Việt Nam nói chung, cho bản thândoanh nghiệp nói riêng Theo báo cáo của Bộ Công nghiệp, mức tăng trưởngbình quân toàn ngành đạt 10%/năm Năm 2003, công suất bia của cả nước đạt1,29 tỷ lít, đến năm 2004 đã vượt lên 1,37 tỷ lít, sản lượng nước giải khát tăngbình quân trong khoảng 10 năm trở lại đây là 25,8%/năm, sản lượng rượutăng nhẹ và có xu hướng chậm lại nhưng chất lượng rượu đảm bảo hơn

Xét riêng về bản thân các doanh nghiệp sản xuất Rượu – Bia - Nước giảikhát, nhờ mạnh dạn đầu tư ứng dụng các công nghệ tiên tiến được nhập từ cáchãng sản xuất nổi tiếng trên thế giới đã thực sự có được sức sống mới và cácbước nhảy vọt Một trong những doanh nghiệp đi tiên phong trong lĩnh vựcnày là Tổng công ty Rượu – Bia - Nước giải khát Hà Nội Từ năm 1992 đếnnăm 1994, công ty đã đầu tư nhập khẩu dây chuyền chiết chai mới công suất10.000 chai/giờ và 15.000 chai/giờ của KHS và Krones(Đức), dây chuyền lênmen ngoài trời 20 triệu lít/năm của Chema Brukerdur(Đức), hệ thống lạnh vànén khí đồng bộ(Đức), dây chuyền thu hồi khí CO2 250kg/giờ của Đan Mạch.Nhờ có hệ thống thiết bị hiện đại, công suất của công ty đã tăng từ 30 lên 50triệu lít/năm

Trang 9

II Nhu cầu máy móc, vật tư, phụ kiện cho Ngành Rượu – Bia - Nước giải khát tại thị trường Việt Nam

1 Đầu tư thiết bị, nâng cao chất lượng sản phẩm

Từ năm 2005, tổng công ty Rượu – Bia - Nước giải khát Hà Nội sẽ tiếptục đầu tư bổ sung thêm một số thiết bị đồng bộ nhằm nâng cao chất lượngsản phẩm hệ thống chiết keg bia hơi số 2 có công suất 240keg/giờ, máy phabia tự động, hệ thống silô chứa nguyên liệu, máy xếp dữ Pallet, đổi mới dâychuyền bia lon công suất 18.000 lon/giờ, đầu tư hệ thống thiết bị thanh trùng

và thiết bị đồng bộ của sản phẩm bia tươi Đầu tư hệ thống tank lên men vàcác thiết bị phụ trợ công suất 20 triệu lít/năm để năng suất lên 120 triệulít/năm và thay thế cho hệ thống hầm cũ khi đưa vào nhà máy bia Vĩnh Phúc

đi vào hoạt động

3 Các chỉ tiêu chủ yếu để phát triển ngành Rượu – Bia - Nước giải khát Việt Nam đến năm 2010

Trang 10

Bảng 2: Mục tiêu của “Quy hoạch tổng thể phát triển Ngành Rượu – Bia

- Nước giải khát Việt Nam đến năm 2010”

Stt Chỉ tiêu Đơn vị

Năm 2002 Năm 2005

Chênh lệchcác mụctiêu đếnnăm 2010

Mục tiêuđến Mục tiêu được

điều chỉnh lạiđến năm 2010

Năm2005

Năm2010

a Về bia:

- Tổng công ty Rượu – Bia - Nước giải khát Việt Nam giữ vai trò chủ chốttrong việc nâng cao uy tín thương hệu bia Việt Nam, đảm bảo sản xuất và tiêuthụ đạt tỷ trọng từ 60% đến 70% thị phần trong nước và hướng tới xuất khẩu

- Tập trung đầu tư các nhà máy có công suất lớn, sản xuất kinh doanh hiệu quả, quản lý chặt chẽ về vệ sinh an toàn thực phẩm, đảm bảo chất lượng, giá thành được người tiêu dùng chấp nhận, cụ thể:

+ Xây dựng mới một nhà máy bia tại Củ Chi thuộc công ty Bia Sài Gòn với công suất 100 triệu lít/năm(giai đoạn 2000-2005) và có khả năng mở rộng lên

300 triệu lít/năm trong những năm tiếp theo

Trang 11

+ Sau năm 2005 xây dựng mới một nhà máy bia thuộc công ty Bia Hà Nội vớicông suất 100 triệu lít/năm và có khả năng mở rộng lên 200 triệu lít/năm vào những năm tiếp theo

- Đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, thực hiện theo đúng giấy phép đầu tư, tập trung khai thác đủ công suất thiết kế đã được phê duyệt Trong những năm tới, chưa xem xét cấp giấy phép thành lập liên doanh mới hoặc tăng năng lực sản xuất của các cơ sở hiện có

b Về rượu:

- Tổng công ty Rượu – Bia - Nước giải khát Việt Nam giữ vai trò chủ chốt trong sản xuất các loại rượu đặc sản truyền thống, rượu chất lượng cao để đápứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu, có biện pháp thích hợp nhằm giảm dầnrượu nấu bằng phương pháp thủ công

- Tăng cường quản lý nhà nước trong sản xuất và tiêu thụ rượu

- Tập trung đầu tư đổi mới thiết bị công nghệ, đẩy mạnh sản xuất rượu công nghiệp chất lượng cao, giảm tối đa thành phần độc hại

- Đề xuất việc hợp tác hoặc liên doanh với nước ngoài sản xuất một số loại rượu chất lượng cao sản phẩm các loại nguyên liệu trong nước, nhằm thay thếnhập khẩu

- Trong giai đoạn 2001-2005, công ty Rượu Hà Nội, công ty Rượu Bình Tây tiến hành đầu tư mới công nghệ và thiết bị, để mỗi công ty đạt công suất: cồn tinh bột 5 triệu lít/năm, rượu các loại 10 triệu lít/năm và tăng năng suất lên gấp đôi ở giai đoạn sau

c Về nước giải khát:

Tổng công ty Rượu – Bia - Nước giải khát Việt Nam giữ vai trò chủ chốt trong việc nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm, đồng thời khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia sản xuất nước giải khát từ nguyên liệu trong nước, trong đó ưu tiên năng lực sản xuất nước quả, không đầu tư năng lực sản xuất nước giải khát có gaz pha chế từ hương liệu nhập khẩu

Những nhân tố trên bước đầu cho phép chúng ta đưa ra nhận định rằng:trong tương lai gần, xu hướng của ngành Rượu – Bia - Nước giải khát đang và

Trang 12

sẽ phát triển theo hướng đem lại hiệu quả cao về kinh tế - xã hội, đảm bảo sứckhỏe cho con người và vệ sinh môi trường Vì thế, khoa học – công nghệ sẽđóng vai trò quan trọng, quyết định không nhỏ tới cuộc chiến về chất lượng,mẫu mã, chủng loại và giá cả sản xuất Nếu nhận định này là đúng thì nhu cầunhập khẩu máy móc, vật tư và phụ kiện cho các dây chuyền chế biến thựcphẩm vẫn còn tăng lên rất nhiều trong những năm tiếp theo.

Trang 13

Chương II: Thực trạng nhập khẩu máy móc, vật tư và phụ kiện cho các dây chuyền chế biến thực phẩm tại công ty ERESSON

I Giới thiệu tổng quan về công ty ERESSON

1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty

Công ty Cổ Phần Cơ điện lạnh( Electronics Mechanical RefrigerationInvesment And Assembly Company – ERESSON Co.ltd) có trụ sở chính tại

số 9 đường Phạm Hùng, Mỹ Đình, Từ Liêm, Hà Nội, được thành lập vào năm

1986, trực thuộc Viện Khoa Học Việt Nam Ngay sau khi luật công ty đượcban hành, công ty đã nhanh chóng hoàn tất thủ tục chuyển đổi và trở thànhcông ty trách nhiệm hữu hạn có hai thành viên trở lên, với số vốn điều lệ là15.456.280.000 đồng Vào năm 1992, công ty chính thức đi vào hoạt độngquy mô và phát triển mạnh Ban đầu, công ty có tên giao dịch là ELFRIME,nhưng từ tháng 4 năm 2000 công ty bắt đầu sử dụng tên giao dịch mới làERESSON Hiện nay, toàn bộ công ty nằm trên khu đất rộng gồm 7000m2.Khi mới bắt đầu thành lập, công ty với đội ngũ chỉ hơn 10 người, côngviệc ban đầu chỉ là gia công cơ khí, lắp đặt hệ thống nhà lạnh cho các nhàmáy sản xuất rượu bia Tại thời điểm này, ngành Rượu – Bia - Nước giải khátViệt Nam cũng chưa thực sự quan tâm, chú trọng Chủ yếu của giai đoạn này

là các doanh nghiệp đầu tư phát triển một cách tự phát nhằm đáp ứng nhu cầucủa người tiêu dùng

Sau năm 1995, ngành Rượu – Bia - Nước giải khát Việt Nam bắt đầu lênngôi, nhu cầu tiêu thụ tăng mạnh Theo thống kê của Bộ Công Nghiệp, số đơn

vị sản xuất - kinh doanh trong ngành này tăng lên đáng kể, ước tính cả nước

có khoảng gần 770 đơn vị Trong đó, riêng ngành sản xuất bia có 469 cơ sởsản xuất, đặc biệt sự xuất hiện của hàng loạt các hãng lớn trên thế giới ở ViệtNam như: Heineken, Tiger, Carberg, San Miguel, TuBorg… và rượu ngoại

Trang 14

nhập tràn lan đã khiến sự cạnh tranh trên thị trường Đồ uống Việt Nam ngàycàng gay gắt và quyết liệt.

Nắm bắt thực tế đó, ban lãnh đạo và đội ngũ kỹ thuật của công ty đãngày đêm trăn trở, nghiên cứu, tìm hướng đi đúng đắn và các giải pháp để đưa

ra thị trường các sản phẩm đáp ứng yêu cầu của khách hàng Lúc đó, toàn thểcán bộ công nhân viên công ty đã xác định giải pháp đưa ra thương hiệuERESSON chiếm lĩnh thị trường trong nước và hướng tới xuất khẩu với mục

tiêu kinh doanh là: “Bán những sản phẩm mà khách hàng cần, chứ không phải những thứ mà mình có, thuyết phục khách hàng làm theo giá của mình chứ không làm theo giá của khách hàng”.

Để đạt được điều đó, công ty đã mạnh dạn huy động vốn từ toàn thể cán

bộ công nhân viên và vay vốn từ bên ngoài để đầu tư xây dựng nhà xưởng vàmua sắm trang thiết bị, máy móc mới phục vụ cho sản xuất với số đầu tư lênđến 15 tỷ đồng Nhờ mạnh dạn cả trong suy nghĩ và hành động, nên chỉ sauthời gian ngắn, ERESSON đã nhanh chóng có được những sản phẩm đặcchủng, đa dạng và chất lượng cao Nhờ đó, doanh thu của công ty khôngngừng tăng qua các năm

Tuy nhiên, sự phát triển nhanh của ngành Rượu – Bia - Nước giải khátViệt Nam về cả chất lẫn lượng(mức tăng trưởng bình quân hiện đạt hơn10%/năm), nhưng lĩnh vực công nghệ chế tạo thiết bị cho ngành này trênkhắp cả nước chỉ chưa đầy 10 đơn vị Các đơn vị trong ngành có khả năng sảnxuất được sản phẩm có chất lượng cao còn hạn chế Phần lớn các đơn vị sảnxuất trong ngành đồ uống đều phải nhập máy móc thiết bị từ nước ngoài Vớibản thân ERESSON, mặc dù đã “chịu khó” đầu tư trang thiết bị cũng như cáccông nghệ mới nhưng cũng không nằm ngoài trường hợp đó Bởi vậy, một lầnnữa, công ty ERESSON lại trăn trở với những thách thức mới Trăn trở đó đãthôi thúc ban lãnh đạo đi đến một quyết định táo bạo là thực hiện khảo sát vànghiên cứu, học tập khoa học - kỹ thuật của các tập đoàn lớn mạnh dạn ở các

Trang 15

nước cú ngành Rượu – Bia - Nước giải khỏt phỏt triển, sẵn sàng bắt tay hợptỏc để tận dụng khoa học - kỹ thuật tiờn tiến của họ.

Để nõng cao chất lượng nguồn nhõn lực, cụng ty đó đầu tư khoảng 500triệu đồng cho cỏn bộ cụng nhõn viờn đi học cỏc lớp đào tạo nõng cao trỡnh độchuyờn mụn, tay nghề ở trong và ngoài nước do cỏc trung tõm của nước ngoàinhư: Đức, Cộng hũa Sộc, Hà Lan đào tạo và cấp chứng chỉ Cỏc cụngnhõn( đặc biệt là thợ hàn) đạt tay nghề cấp quốc tế cú thể thi cụng được tất cảcỏc cụng trỡnh đạt tiờu chuẩn chõu õu và quốc tế Đõy là bước đột phỏ rất tỏobạo của ERESSON trờn con đường phỏt triển, khẳng định vị thế trờn thươngtrường

Tớnh đến cuối năm 2005, cụng ty cú xấp xỉ 500 cỏn bộ cụng nhõn viờn,trong đú cú trờn 55 người cú trỡnh độ đại học và trờn đại học, hầu hết cỏc cụngnhõn đều cú trỡnh độ trung cấp trở lờn, doanh thu của cụng ty ước tớnh đạt hơn

90 tỷ đồng, lương lao động bỡnh quõn khoảng 2.200.000đ/người/thỏng( theotài liệu giới thiệu về cụng ty tại phũng Dự ỏn của cụng ty ERESSON)

Cơ cấu tổ chức của cụng ty như sau:

 Giỏm đốc: chịu trỏch nhiệm quản lý, điều hành toàn bộ cụng ty thụngqua PGĐ kinh doanh – Thương mại, PGĐ kỹ thuật - Sản xuất và Chỏnh vănphũng

 PGĐ Kinh doanh – Thương mại: giỳp Giỏm đốc mảng cụng việc Kinhdoanh - xuất nhập khẩu( thị trường, đối tỏc, dự ỏn, đầu tư, tài chớnh)

 PGĐ Kỹ thuật - Sản xuất: giỳp Giỏm đốc tổ chức sản xuất , cải tiến kỹthuật đỏp ứng yờu cầu của dự ỏn, hợp đồng

 Chỏnh văn phũng: phụ trỏch văn phũng theo nhiệm vụ

Sơ đồ tổ chức công ty

Trang 17

3 Lĩnh vực kinh doanh

Công ty ERESSON có chức năng khảo sát, thiết kế, cung cấp, chế tạo,lắp đặt, tư vấn kỹ thuật và chuyển giao công nghệ thuộc các lĩnh vực:

Thiết bị chế biến thực phẩm( bia, sữa, rượu, nước hoa quả,…)

Điện lạnh và điều hòa không khí( hệ thống lạnh, đông lạnh, hệ thốngđiều hòa và thông gió,…)

Lò hơi và thiết bị áp lực( lò hơi đốt dầu, lò hơi đốt than, các loại hìnhchứa áp lực,…), điện, đo lường và tự động hóa

Xuất khẩu các mặt hàng inox( inox tấm, cuốn, ống,…), phụ kiệninox( bơm, van, tê, cút, bu lông, ốc vít,…), các loại máy chiết…

Hoạt động xuất nhập khẩu không được gắn liền ngay với công ty trongnhững năm đầu khi mới thành lập Điều này cũng bởi vì lúc đó quy mô vàhoạt động của công ty còn quá nhỏ bé Sau năm 1992, sự nhận thức rõ về tìnhhình mới, công ty đã mạnh dạn đầu tư và mở rộng thêm hoạt động xuất nhậpkhẩu

Tuy nhiên cho đến nay, hoạt động xuất khẩu của công ty vẫn chưa cóbước đột phá Phần lớn công ty thường tiến hành nhập khẩu các máy móc,thiết bị kỹ thuật để phục vụ cho các công trình xây lắp trong nước Xét trong

cơ cấu xuất - nhập khẩu của công ty 5 năm trở lại đây, xuất khẩu của công tychỉ chiếm 10%, trong khi đó nhập khẩu chiếm tỷ trọng rất lớn 90%

H×nh 2: C¬ cÊu xuÊt - nhËp khÈu cña c«ng ty

ERESSON 2001-2005

Trang 18

Nguån: Phßng Kinh doanh – xuÊt nhËp khÈu c«ng ty ERESSONTrong hoạt động nhập khẩu, phải kể đến hoạt động nhập khẩu các loạihàng máy móc, vật tư và phụ kiện cho các dây chuyền chế biến thực phẩm.Đây là loại hàng chiếm phần lớn nhất trong cơ cấu hàng nhập khẩu (83%) vàđóng góp rất lớn việc thực hiện doanh thu của công ty.

4 Đội ngũ thực hiện hoạt động nhập khẩu

Đến cuối năm 2005, công ty có xấp xỉ 500 cán bộ công nhân viên, trong

đó có trên 55 người có trình độ đại học và trên đại học, hầu hết các công nhânđều có trình độ trung cấp trở lên

Công ty đã đầu tư khoảng 500 triệu đồng cho 50 cán bộ công nhân viên

đi học các lớp đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn, tay nghề ở trong vàngoài nước do các trung tâm của nước ngoài như: Đức, Cộng Hòa Séc, HàLan đào tạo Các công nhân(đặc biệt là thợ hàn) đạt tay nghề cấp quốc tế cóthể thi công được tất cả các công trình đạt tiêu chuẩn Châu âu và quốc tế

5 Kết quả hoạt động kinh doanh

5.1 Giới thiệu khái quát hoạt động kinh doanh của công ty

Như chúng ta đã biết, phần lớn công ty thường tiến hành hoạt động nhậpkhẩu máy móc, thiết bị kỹ thuật để phục vụ cho các công trình xây lắp trongnước Trong cơ cấu xuất nhập khẩu của công ty, xuất khẩu chỉ chiếm 10%còn nhập khẩu chiếm một tỷ trọng rất lớn là 90%

Các sản phẩm chính của công ty

Trong lĩnh vực sản xuất bia:

Lĩnh vực sản xuất bia là lĩnh vực hoạt động chính của công tyERESSON Công ty chuyên thiết kế, chế tạo, trang bị và lắp đặt và chuyểngiao đồng bộ và đơn lẻ các nhà máy bia từ nhỏ đến lớn( đến 50 : 100 triệulít/năm) như:

Hệ thống chứa, xử lý và chuyển malt và gạo công suất đến 40 tấn/h: gồmcác phễu chứa liệu, các loại gàu tải, vít tải, các loại máy nghiền malt và gạo,

Trang 19

Hệ thống nấu bia công suất đến 60m3/mẻ, 10:12 mẻ/ngày gồm các nồi hồhóa, nồi đường hóa, nồi lọc bã, nồi húp lông hóa, thùng lắng xoáy, thùng chứa

Hệ thống CIP cho thiết bị nấu, lên men, thành phẩm, men và chiết chai

Hệ thống lọc trong bia đến 10m3/h gồm kiểu khung bản, kiểu đĩa và kiểuống lọc

Hệ thống lạnh công suất lạnh đến 5.000.000kCal/h

Hệ thống lò hơi đốt dầu tự động và đốt than công suất đến 10 tấn/h

Hệ thống thu hồi CO2 công suất đến 250kg/h và khí nén công suất đến2.000m3/h

Hệ thống xử lý nước nấu bia công suất 60m3/h, hệ thống xử lý nước thảicông suất đến 2.000m3/ngày đêm

Sản xuất máy thanh trùng, máy chiết và dập nút chai loại nhỏ có côngsuất đến 5.000 chai/h Cung cấp và lắp đặt các dây chuyền chiết chai và chiếtkeg

Các sản phẩm cơ khí: thiết bị lạnh nhanh kiểu tấm bản,…

Trong lĩnh vực sản xuất thiết bị bia nhà hàng:

Từ năm 2001 đến nay công ty ERESSON đã cho ra sản phẩm mới mang

thương hiệu Dây chuyền thiết bị sản xuất bia tươi nhà hàng thương hiệu

ERESSON, đây là một bước đột phá mới trong chiến lược chinh phục khách

hàng của công ty ERESSON tại Việt Nam và quốc tế Toàn bộ dây chuyềnthiết bị sản xuất bia nhà hàng đều được ERESSON sản xuất tại Việt Nam100% và có thể tự động hóa hoàn toàn, đặc biệt là các nồi nấu với vỏ đồng cónhiều mẫu mã và hình thức rất ấn tượng Về cơ bản dây chuyền thiết bị bianhà hàng không có hệ thống lọc trong bia và hệ thống nấu bia chỉ bao gồm 02

Trang 20

hoặc 03 nồi nấu và sản phẩm thì khá đa dạng(bia vàng, bia đen, bia nâu, bia

đỏ, bia hoa quả,…)

Trong lĩnh vực sản xuất rượu

Thiết kế, chế tạo và lắp đặt các nồi nấu rượu, các tank lên men rượu chocác nhà máy rượu công suất đến 20 triệu lít/năm

Trong lĩnh vực sản xuất sữa

Thiết kế, chế tạo và lắp đặt các thùng hòa trộn, tank ủ men, tank ủ mencái, tank chứa trung gian và tank chờ rót sữa, hệ thống lạnh, lò hơi,… cho cácnhà may sản xuất sữa công suất đến 20.000 lít/h

Trong lĩnh vực sản xuất nước hoa quả:

Thiết kế, chế tạo và lắp đặt các thùng hòa trộn, tank chứa trung gian vàtank chờ rót hoa quả,… cho các nhà máy sản xuất nước hoa quả như các nhàmáy sản xuất rứa cô đặc, cà chua cô đặc, nước ngọt,…

5.2 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh năm 2004

07 Thuế TTĐB, thuế XNK phải nộp

10 1 Doanh thu thuần(10=01-03) 26 292 104 640

20 3 Lợi nhuận gộp(20=10-11) 5 092 381 328

21 4 Chi phí bán hàng

21A Chi phí bán hàng

21B Chi phí chờ kết chuyển kỳ trước

22 5 Chi phí quản lý doanh nghiệp 3 103 681 936 22A Trong đó: chi phí QLDN chờ kết chuyển kỳ trước 442 220 445

30 6 Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh(=20-22) 1 988 699 392

31 7 Thu nhập hoạt động tài chính 15 526 040

32 8 Chi phí hoạt động tài chính 911 347 226

40 9 Lợi nhuận thuần từ hoạt động tài chính(=31-32) -895 821 186

41 10 Các khoản thu nhập bất thường 295 189 523

42 11 Chi phí bất thường 302 952 976

50 12 Lợi nhuận bất thường(50=41-42) -7 763 453

60 13 Tổng lợi nhuận trước thuế(60=30+40+50) 1085 114 753

70 14 Thuế TNDN phải nộp = 28% 303 832 131

80 15 Lợi nhuận sau thuế(80=60-70) 781 282 622

Trang 21

II Thực trạng nhập khẩu máy móc, vật tư và phụ kiện cho các dây chuyền chế biến thực phẩm tại công ty ERESSON

1 Chuẩn bị giao dịch, tiến tới ký kết hợp đồng

Chuẩn bị giao dịch, tiến tới ký kết hợp đồng

1.1 Nghiên cứu thị trường

 Nghiên cứu thị trường nước ngoài:

Công việc này nhằm xác định thị trường cung cấp hàng hóa ở nướcngoài Nội dung nghiên cứu bao gồm: chế độ chính trị xã hội, hệ thống phápluật, đặc điểm khí hậu thời tiết, các điều kiện về vận tải, điều kiện về tiền tệ

và tín dụng tại thị trường đó,…

 Nghiên cứu thị trường trong nước:

Mục đích của nghiên cứu này là nhằm xác định loại hàng hóa nhập khẩu.Nội dung của nghiên cứu bao gồm: các hàng hóa cần thiết cho việc thực hiệncông trình sắp tới( giá cả, chất lượng, mẫu mã,…) Xác định loại nào đã sảnxuất được? Loại nào chưa sản xuất được? Loại nào nên nhập? Loại nào có thểmua từ các cơ sở sản xuất trong nước?

 Nghiên cứu và lựa chọn nhà cung cấp:

Tất cả các nhà cung cấp đã có quan hệ lâu dài từ trước đều có đủ nănglực theo yêu cầu của công ty, do đó không phải tiến hành đánh giá ban đầu màđưa thẳng vào danh sách nhà cung cấp do Giám đốc duyệt Đối với nhà cungcấp mới thì phải đánh giá dựa trên các tiêu chí: khả năng cung ứng, chấtlượng, mẫu mã hàng hóa, điều kiện giao hàng, thanh toán, giá cả…

Các công tác nghiên cứu trên chủ yếu thông qua mạng internet, sách báo

và tạp chí chuyên ngành, hội trợ triển lãm

1.2 Thực hiện các bước giao dịch, đàm phán và ký kết hợp đồng

Đối với các hợp đồng có giá trị nhỏ hoặc đối tác là nhà cung cấp đã quenthuộc thì việc giao dịch đàm phán diễn ra gián tiếp, các bước cụ thể:

1) Hỏi hàng: đây là việc yêu cầu người bán cung cấp các thông tin vềhàng hóa

Trang 22

và các điều kiện để mua hàng Việc này thường được tiến hành băngemail, fax là chủ yếu.

2) Lấy báo giá từ nhà cung cấp

Đối với những hợp đồng có trị giá lớn( từ 300.000 USD trở lên) thì công

ty mới thực hiện đàm phán trực tiếp Do số lượng các hợp đồng có giá trị lớnkhông nhiều và người cung cấp thường là chỗ quen biết từ lâu nên hình thứcgián tiếp vẫn thông dụng hơn cả

Sau khi hai bên đã đi đến thống nhất về các điều kiện mua bán hàng hóa

sẽ lập văn bản thỏa thuận(hợp đồng) chia làm 4-6 bản, mỗi bên giữ 2-3 bản.Một hợp đồng mua bán máy móc, vật tư và phụ kiện cho các dây chuyềnchế biến thực phẩm thường có những điều khoản sau:

 Các điều khoản cơ bản:

1) Tên hàng: VD: Bơm vít xoắn NEMO

2) Số lượng: đơn vị thông thường là “bộ”, “cái” hoặc “chiếc”

3) Quy cách phẩm chất: quy định các thông số kỹ thuật, tiêu chuẩn chấtlượng của sản phẩm và thường ghi rõ trong tài liệu kỹ thuật đính kèm

4) Giá cả: VD: “Tổng giá trị hợp đồng: 1.773.000 Yên Nhật CIF HảiPhòng (Một triệu bảy trăm bảy ba ngàn Yên Nhật) Giá ở đây được hiểu là giáCIF Hải Phòng, Việt Nam theo incoterms 2000 của Phòng thương mại quốc tếICC”

5) Giao hàng: tất cả các hợp đồng mà công ty ký kết đều không cho phépgiao hàng từng phần nhưng cho phép chuyển tải Thời gian giao hàng khoảng8-14 tuần kể từ ngày nhận được thư tín dụng hoặc khoản tiền đặt cọc đảm bảo

Trang 23

thực hiện hợp đồng Trong điều khoản giao hàng thường có quy định thêm về

ký mã hiệu, nhãn mác và đóng gói cho hàng hóa

6) Thanh toán: Ví dụ: “100% giá trị hợp đồng được thanh toán bằng L/Ckhông hủy ngang được mở cho tài khoản của người bán như sau:

Ngân hàng: HSBC Malaysia Berhad

Địa chỉ: 2 LeBoh Ampang 50100 Kuala Lumpur, Malaysia

2 Quy trình thực hiện hợp đồng nhập khẩu

2.1 Mở thư tín dụng hoặc chuyển tiền đặt cọc đảm bảo thực hiện hợp đồng

Công ty sẽ mở thư tín dụng nếu hợp đồng mua bán quy định thanh toánbằng L/C Nếu hợp đồng quy định chuyển tiền bằng điện(T/T) trước khi giaohàng, công ty sẽ chuyển tiền đặt cọc đảm bảo thực hiện hợp đồng cho ngườixuất khẩu

Ví dụ, đối với phương thức tín dụng chứng từ, trên cơ sở nội dung củahợp đồng đã được ký kết, công ty sẽ yêu cầu ngân hàng phát hành( thường làNgân hàng Nông Nghiệp Việt Nam – Chi nhánh Ngân hàng Nông Nghiệp HàNội) mở một thư tín dụng cho người bán nước ngoài hưởng phù hợp với cácđiều kiện mà hợp đồng đã quy định Để được ngân hàng chấp nhận, công typhải làm đơn xin mở L/C, giấy cam kết thanh toán và lập hợp đồng mua ngoạitệ(ủy nhiệm chi)

2.2 Đôn đốc người bán giao hàng

Công ty thường xuyên liên lạc với người bán để biết các thông tin vềviệc giao hàng bằng email, fax và điện thoại

Trang 24

2.3 Thuê phương tiện vận tải

Công việc thuê phương tiện vận tải thường tiến hành trong trường hợptheo hợp đồng mua bán công ty phải có nghĩa vụ đó Thực tế cho thấy, chỉ cóhợp đồng nhập khẩu theo các điều kiện FCA, FOB( chiếm 11%) thì công tymới thực hiện nghĩa vụ trên

2.4 Mua bảo hiểm

Công ty cũng ít khi tiến hành mua bảo hiểm vì 87,9% hợp đồng là hợpđồng nhập khẩu theo giá CIP và CIF Tất cả những lần nhập khẩu theo điềukiện FOB và FCA công ty đều mua bảo hiểm cho hàng hóa tại công ty BảoViệt

2.5 Thanh toán tiền hàng

Tùy vào phương thức thanh toán đã quy định trong hợp đồng, công ty sẽthực hiện nghĩa vụ thanh toán của mình theo cách riêng

Ví dụ, trong phương thức thanh toán bằng L/C: khi được ngân hàngchuyển bộ chứng từ, nếu thấy phù hợp với các điều khoản ghi trong hợp đồng,công ty sẽ trả lời trong vòng 2 ngày nhằm đề nghị ngân hàng phát hành trích

từ tài khoản của mình thanh toán tiền hàng cho nhà xuất khẩu

2.6 Làm thủ tục hải quan và nộp thuế nhập khẩu cho hàng hóa

Ở khâu này công ty thường lần lượt tiến hành các bước sau:

Mở tờ khai hải quan và nộp hồ sơ để đăng ký làm thủ tục hải quan

Đổi vận đơn lấy lệnh giao hàng

Xuất trình hàng hóa tại điểm kiểm tra trong hoặc ngoài cửa khẩu và hảiquan kiểm tra hàng hóa

Nộp thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt( nếu có), thuế GTGT và phụthu

Chấp hành quyết định của hải quan: hầu hết các hàng hóa nhập khẩu củacông ty đều được thông quan

Trang 25

2.7 Nhận hàng nhập khẩu

Tùy thuộc vào phương thức vận tải về cảng đích, công ty sẽ thực hiệnviệc nhận hàng cụ thể Ví dụ, khi nhận hàng ở cảng hoặc sân bay, công ty sẽthực hiện các bước sau:

 Ký kết hợp đồng ủy thác nhận với một công ty giao nhận Công ty này

sẽ thay mặt công ty giám sát việc vận tải hàng hóa, nhận và kiểm tra cácchứng từ hàng hóa, nhận hàng từ người chuyên chở, thanh toán cước,…

 Ký kết hợp đồng xếp dỡ, vận chuyển, bảo quản, lưu kho hàng hóa vớicảng, sân bay( nếu cần)

 Cung cấp các chứng từ cần thiết cho công ty giao nhận để nhận hànghóa

2.8 Kiểm tra hàng nhập khẩu

Do công ty thường ủy thác cho công ty giao nhận tiến hành nhận hànghóa

Nên việc kiểm tra hàng hóa tại cảng, cửa khẩu biên giới, trạm nhận hànghóa

của sân bay đều do công ty giao nhận đảm nhiệm

Khi hàng về tới cơ sở, công ty tiến hành kiểm tra hàng hóa trước khinhập kho Trong thực tế đã có một số trường hợp công ty nhận được hàngkhông đúng quy cách phẩm chất như trong hợp đồng Lúc đó, công ty ngaylập tức mời cơ quan giám định và công ty bảo hiểm tới làm công tác giámđịnh Đồng thời, công ty thông báo cho người bán nước ngoài biết

2.9 Khiếu nại

Đối với trường hợp nhận được hàng hóa không đúng quy cách phẩm chấtnhư hợp đồng quy định, công ty sẽ lập một bộ hồ sơ khiếu nại( bộ gốc) gửicho người bán, 2 bộ sao gửi cho công ty bảo hiểm và công ty vận tải

Cách giải quyết thông thường cảu công ty là buộc người bán giảm giáhàng hoặc phạt người bán bằng một số tiền nhất định

Trang 26

3 Những kết quả đạt được

Trong những năm qua, hoạt động nhập khẩu máy móc, vật tư và phụkiện cho các dây chuyền chế biến thực phẩm đã góp phần tăng doanh thu, lợinhuận cho công ty, hỗ trợ cho công ty trong các công trình xây dựng, lắp đặtcác nhà máy bia, rượu và nước trên toàn quốc, đồng thời đóng góp phần vàocác mục tiêu tăng trưởng kinh tế - xã hội của đất nước

Trước năm 2000, hoạt động nhập khẩu máy móc, vật tư và phụ kiện chocác dây chuyền chế biến thực phẩm chưa có thành tựu đáng kể Điều nàycũng bởi vào thời gian đó quy mô hoạt động công ty còn nhỏ

Bước vào năm 2001, công ty đang trong giai đoạn đầu tư xây dựng mới.Tuy vậy, doanh thu của công ty vẫn đạt trên 15 tỷ đồng, trong đó doanh thu

từ hoạt động nhập khẩu chỉ chiếm khoảng 10%, góp một phần nhỏ trong thunhập bình quân của người lao động( 970.000 đồng/người/tháng)

Đặc biệt năm 2002, sau khi các nhà máy sản xuất đã hoàn thiện, doanhthu của công ty đã đạt trên 40 tỷ đồng, doanh thu từ hàng nhập khẩu chiếm28%, riêng doanh thu hoạt khẩu máy móc, vật tư và phụ kiện cho các dâychuyền chế biến thực phẩm đã chiếm 23,5%, làm tăng thu nhập bình quâncủa người lao động 1.200.000 đồng/người/tháng

Sau năm 2002, đã đánh một mốc son lịch sử đáng nhớ kể từ khi công tybắt đầu thành lập Riêng hoạt động nhập khẩu máy móc, vật tư và phụ kiệncho các dây chuyền chế biến thực phẩm đã góp phần rất lớn cho công ty trongviệc thiết kế, chế tạo và lắp đặt hoàn chỉnh gần 100 công trình lớn với chấtlượng cao như: nhà máy bia cao cấp BAYKER Thái Bình, công ty Thựcphẩm Công nghiệp Nam Định( bia NADA), công ty Cổ phần BALAN NamĐịnh(bia Ba Lan), công ty Sữa Mộc Châu(Sơn La), công ty bia SócTrăng( bia Sài Gòn),… Cuối năm 2002, đầu năm 2003, ERESSON đã trúngthầu công trình Hệ thống chứa men và bảo quản men cho Nhà máy Bia BếnThành, tham gia dự án công trình các tank chứa nước và hóa chất cho công tybia Heiniken Hà Tây…

Trang 27

Có thể nói, ngay từ khi mở rộng đầu tư và xây dựng mới, công ty đã bắtđầu khởi sắc Từ năm 2003 đến nay, tình hình doanh thu và lợi nhuận củahoạt động nhập khẩu máy móc, vật tư và phụ kiện cho các dây chuyền chếbiến thực phẩm có những chuyển biến khá tốt Để cụ thể hóa hơn những kếtquả mà công ty đã đạt được, chúng ta sẽ theo dõi tình hình thực hiện doanhthu, lợi nhuận và chi phí của hoạt động này dựa vào bảng sau:

Trang 28

Bảng 1: Tình hình doanh thu, chi phí và lợi nhuận của hoạt động nhập khẩu máy móc, vật t và phụ kiện cho các dây chuyền chế biến thực phẩm của Công ty Eresson

2003-2005

Đơn vị tính: VNĐ

ST

Năm 2004 so với năm

2003 Năm 2005 so với năm 2004 Bỡnh quõnChờnh lệch tuyệt

đối

Tốc độ tăng trưởng

Chờnh lệch tuyệt đối

Tốc độ tăng trưởng

Chờnh lệch tuyệt đối Tốc độ tăngtrưởng

1 Doanh thu nhập khẩu 20.722.231.686 27.186.229.329 38.248.306.948 6.463.997.643 31,2% 11.062.007.619 40,7% 8.763.037.631 35,9%

Ngày đăng: 19/02/2014, 11:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
9. Quyết định số 28/2002/QĐ – TTg về “ Quy hoạch tổng thể phát triển Ngành Rượu – Bia - Nước giải khát Việt Nam đến năm 2010-2020” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch tổng thể phát triểnNgành Rượu – Bia - Nước giải khát Việt Nam đến năm 2010-2020
1. Hiệp hội Rượu – Bia - Nước giải khát – Phát huy truyền thống hướng tới tương lai – NXB Chính trị Quốc gia – 2003 Khác
2. Đảng Cộng Sản Việt Nam – Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX – NXB Chính trị Quốc gia – 2001 Khác
4. Nghị định số 57/1998/NĐ – CP ngày 31 tháng 7năm 1998 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật thương mại về hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, gia công và đại lý mua bán hàng hóa với nước ngoài Khác
5. Tạp chí Đồ uống Việt Nam - Hiệp hội Rượu – Bia - Nước giải khát Việt Nam – Các số từ năm 2000 đến 2005 Khác
6. Báo Diễn đàn doanh nghiệp - số 75(831) ngày 21/9/2005 Khác
8. Quyết định số 46/2001/QĐ – TTg ngày 4 tháng 4 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ về quản lý xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa thời kỳ 2001-2005 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2:  Mục tiêu của “Quy hoạch tổng thể phát triển Ngành Rượu – Bia - hoạt động nhập khẩu máy móc, vật tư và phụ kiện cho các dây chuyền chế biến thực phẩm tại công ty cổ phần cơ điện lạnh eresson
Bảng 2 Mục tiêu của “Quy hoạch tổng thể phát triển Ngành Rượu – Bia (Trang 10)
Hình 1: Sơ đồ tổ chức công ty Cổ Phần - hoạt động nhập khẩu máy móc, vật tư và phụ kiện cho các dây chuyền chế biến thực phẩm tại công ty cổ phần cơ điện lạnh eresson
Hình 1 Sơ đồ tổ chức công ty Cổ Phần (Trang 16)
Hình   2:  Cơ   cấu   xuất   -   nhập   khẩu   của   công   ty - hoạt động nhập khẩu máy móc, vật tư và phụ kiện cho các dây chuyền chế biến thực phẩm tại công ty cổ phần cơ điện lạnh eresson
nh 2: Cơ cấu xuất - nhập khẩu của công ty (Trang 17)
Bảng 1: Tình hình doanh thu, chi phí và lợi nhuận của hoạt động nhập khẩu máy móc, vật t và phụ kiện cho các dây chuyền chế biến thực phẩm của Công ty Eresson - hoạt động nhập khẩu máy móc, vật tư và phụ kiện cho các dây chuyền chế biến thực phẩm tại công ty cổ phần cơ điện lạnh eresson
Bảng 1 Tình hình doanh thu, chi phí và lợi nhuận của hoạt động nhập khẩu máy móc, vật t và phụ kiện cho các dây chuyền chế biến thực phẩm của Công ty Eresson (Trang 28)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w