1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

bản hoàn chỉnhNCKH

82 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thuế và Tác Động Của Thuế Đối Với DN Vừa Và Nhỏ
Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 1,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.2.1.Tính chất hoạt động kinh doanh

  • 1.2.2.Về nguồn lực vật chất

  • 1.2.3.Về năng lực quản lý điều hành

  • 1.2.4.Về tính phụ thuộc hay bị động

Nội dung

Chương 1 Thuế và tác động của thuế đối với DN vừa và nhỏ MỤC LỤC 1 2 1 Tính chất hoạt động kinh doanh 3 1 2 2 Về nguồn lực vật chất 4 1 2 3 Về năng lực quản lý điều hành 4 1 2 4 Về tính phụ thuộc hay[.]

Tính chất hoạt động kinh doanh

Doanh nghiệp vừa và nhỏ thường tập trung ở nhiều khu vực chế biến và dịch vụ, tức là gần với người tiêu dùng hơn Trong đó cụ thể là:

Doanh nghiệp vừa và nhỏ đóng vai trò quan trọng như các vệ tinh, cung cấp các bộ phận chi tiết cho các doanh nghiệp lớn, đồng thời tham gia vào quá trình sản xuất các sản phẩm đầu tư.

Doanh nghiệp vừa và nhỏ đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế, cung cấp nhiều dịch vụ đa dạng như phân phối và thương mại, dịch vụ sinh hoạt và giải trí, cũng như tư vấn và hỗ trợ.

•Trực tiếp tham gia chế biến các sản phẩm cho người tiêu dùng cuối cùng với tư cách là nhà sản xuất toàn bộ.

Doanh nghiệp vừa và nhỏ có lợi thế nổi bật về tính linh hoạt trong hoạt động kinh doanh Nhờ vào cấu trúc và quy mô nhỏ, các doanh nghiệp này có khả năng nhanh chóng thay đổi mặt hàng, điều chỉnh hướng đi kinh doanh, thậm chí là thay đổi địa điểm hoạt động, điều này được xem là sức mạnh vượt trội của họ.

Về nguồn lực vật chất

Các doanh nghiệp vừa và nhỏ thường gặp khó khăn do hạn chế về nguồn vốn, tài nguyên, đất đai và công nghệ Những giới hạn này xuất phát từ nguyên tắc và nguồn gốc hình thành của doanh nghiệp, cũng như từ mối quan hệ hạn chế với thị trường tài chính Quá trình tự tích lũy tài chính đóng vai trò quyết định trong sự phát triển của từng doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Các quốc gia đang tích cực hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ nhằm giúp họ tham gia hiệu quả hơn vào các tổ chức hỗ trợ, từ đó khắc phục những khó khăn mà họ gặp phải.

Về năng lực quản lý điều hành

Các quản trị gia doanh nghiệp vừa và nhỏ thường nắm bắt và quản lý hầu hết các khía cạnh của hoạt động kinh doanh do nguồn gốc hình thành và quy mô của họ Họ thường được xem là nhà quản trị doanh nghiệp hơn là chuyên gia quản lý sâu, dẫn đến việc nhiều kỹ năng và nghiệp vụ quản lý trong các doanh nghiệp này còn hạn chế so với yêu cầu thực tế.

Về tính phụ thuộc hay bị động

Do các đặc trưng của doanh nghiệp vừa và nhỏ, họ thường bị thụ động hơn trong thị trường, dẫn đến cơ hội "đánh thức" và "dẫn dắt" thị trường rất hạn chế Nguy cơ "bị bỏ rơi" và phó mặc được thể hiện qua con số doanh nghiệp vừa và nhỏ phá sản tại các quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển.

Mỗi ngày tại Mỹ, khoảng 100 doanh nghiệp vừa và nhỏ phải đóng cửa, trong khi số lượng doanh nghiệp mới thành lập tương đương với con số này Điều này cho thấy rằng các doanh nghiệp vừa và nhỏ có tuổi thọ trung bình khá ngắn.

Các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam đã có những bước tiến mạnh mẽ, đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước Trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa hiện nay, việc hỗ trợ các doanh nghiệp này trở thành ưu tiên hàng đầu nhằm tối đa hóa nguồn lực, hỗ trợ cho các doanh nghiệp lớn và nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm.

Doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế toàn cầu, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số doanh nghiệp, với xu hướng gia tăng mạnh mẽ Tại các nước phát triển như Mỹ, Nhật Bản và Đức, DNVVN chiếm trên 98% tổng số doanh nghiệp và đóng góp đáng kể vào lực lượng lao động, với 55% và 70% tương ứng ở Đức và Nhật Tại Mỹ, DNVVN đóng góp hơn một nửa GDP, trong khi các quốc gia như Nhật Bản, Indonesia và Philippines lần lượt đạt 50%, 42% và 38,9% DNVVN cũng tham gia mạnh mẽ vào hoạt động xuất khẩu, chiếm từ 25-40% kim ngạch xuất khẩu toàn quốc, với Đài Loan và Singapore có tỷ lệ lần lượt là 55,9% và 33,5% Ở Trung Quốc, DNVVN đóng góp khoảng 50% GDP và 60% kim ngạch xuất khẩu Tại Việt Nam, DNVVN chiếm khoảng 95-98% tổng số doanh nghiệp, với 96,81% doanh nghiệp thuộc nhóm này nếu xét theo tiêu chí dưới 300 lao động và vốn dưới 10 tỷ đồng.

Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) tại Việt Nam chiếm 41,8% với vốn dưới 1 tỷ đồng, 37,03% từ 1 - 5 tỷ đồng, và chỉ 8,18% có vốn từ 5 - 10 tỷ đồng Hơn 51,3% DNNVV có dưới 10 lao động, trong đó Hà Nội và TPHCM chiếm 42,46% tổng số DNNVV cả nước Năm 2010, cả nước có khoảng 84.000 doanh nghiệp đăng ký với tổng vốn 1.300 nghìn tỷ đồng, tăng 151,4% so với năm 2009 Đến cuối năm 2011, Việt Nam có 543.963 doanh nghiệp với tổng vốn khoảng 6 triệu tỷ đồng, gần 97% trong số đó là doanh nghiệp vừa và nhỏ, chủ yếu là tư nhân DNNVV sử dụng 51% lao động xã hội và đóng góp hơn 40% GDP, cùng với 133.000 hợp tác xã và 3 triệu hộ kinh doanh cá thể, khu vực này góp tới 60% GDP Bên cạnh việc thúc đẩy phát triển kinh tế, DNNVV còn tạo ra hơn một triệu việc làm mới mỗi năm, góp phần xóa đói giảm nghèo và tăng cường an sinh xã hội.

Chính phủ vừa ban hành Kế hoạch phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa giai đoạn 2011-2015, với mục tiêu thành lập 350.000 doanh nghiệp mới Theo kế hoạch, doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ chiếm 25% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước, đóng góp 35% vào tổng vốn đầu tư toàn xã hội, và tạo ra từ 3.5 triệu đến 4 triệu việc làm mới, góp phần quan trọng vào tổng sản phẩm quốc nội (GDP) với tỷ trọng 40%.

Thứ hai,DNVVN góp phần thu hút vốn đầu tư

Nhà nước hiện đang triển khai chính sách bán, khoán, cho thuê và cổ phần hóa các doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhằm khuyến khích đầu tư vốn vào sản xuất kinh doanh Chính sách này tạo điều kiện cho người dân tham gia mua lại doanh nghiệp, sở hữu cổ phần hoặc thành lập mới các doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Từ năm 2005 đến 2009, số lượng doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) tại Việt Nam đã có sự tăng trưởng đáng kể Cụ thể, năm 2005 có 98.232 DNNVV với tổng vốn đăng ký 175.122 tỷ đồng Năm 2006, số lượng DNNVV tăng lên 114.341 với vốn đăng ký đạt 242.260 tỷ đồng, tăng 38,36% so với năm trước Đến năm 2007, con số này tiếp tục tăng lên 131.888 DNNVV và vốn đăng ký đạt 296.586 tỷ đồng, tăng 22,42% Năm 2008, Việt Nam ghi nhận 154.766 DNNVV với số vốn đăng ký 348.033 tỷ đồng, tăng 17,35% Đến năm 2009, số lượng DNNVV đạt 186.254 với tổng vốn đăng ký 418.844 tỷ đồng, tăng 20,35% so với năm 2008 So với năm 2005, vốn đăng ký năm 2009 đã tăng tới 139,17%.

Số liệu thống kê cho thấy rằng DNNVV đang phát triển nhanh chóng cả về số lượng lẫn vốn đầu tư, nhưng tỷ trọng vốn đầu tư của DNNVV trong nền kinh tế chỉ đạt 22,6%.

Thứ ba, DNVVN có vai trò hỗ trợ các doanh nghiệp lớn đảm bảo lượng hàng hóa tiêu dùng khá lớn cho xã hội

Doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ, cung cấp đầu vào cho các ngành công nghiệp lớn và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia Với quy mô nhỏ và khả năng linh hoạt, DNVVN có thể sản xuất đa dạng hàng hóa đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước, bao gồm máy móc, thiết bị, công cụ dụng cụ và linh kiện thiết yếu cho ngành sản xuất hàng tiêu dùng cũng như các ngành thủ công nghiệp.

Thứ tư, các DNVVN chính là nơi gieo mầm cho các tài năng quản trị kinh doanh và chuyển giao khoa học công nghệ

Sự phát triển của mỗi doanh nghiệp phụ thuộc vào những nhà sáng lập và khả năng thích nghi của họ trong môi trường cạnh tranh khốc liệt Các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNVVN) không chỉ là nơi ươm mầm tài năng kinh doanh mà còn đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế của các quốc gia đang phát triển như Việt Nam Với sức trẻ và tài năng, họ tạo ra một cơ cấu kinh tế năng động và phù hợp với quy luật thị trường Đồng thời, các công ty nhỏ còn là nơi đào tạo nguồn nhân lực cho các công ty lớn, giúp nhân viên rèn luyện các kỹ năng quản lý cần thiết như điều hành kinh doanh, quan hệ khách hàng và quản lý thời gian Những kinh nghiệm này sẽ giúp họ dễ dàng được thu nhận vào các công ty lớn sau khi đã tích lũy đủ kinh nghiệm Hơn nữa, việc học hỏi và áp dụng kinh nghiệm từ các quốc gia có hệ thống DNVVN phát triển như Nhật Bản là rất quan trọng trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.

Từ năm 2015, Việt Nam đã xây dựng được 3.000 doanh nghiệp khoa học và công nghệ (KH&CN), và con số này đã tăng lên 5.000 vào năm 2020 Đồng thời, các giao dịch công nghệ trên thị trường cũng tăng trưởng trung bình từ 15-17% mỗi năm Việc thực hiện Quyết định 418/2012/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ nhằm phê duyệt chiến lược phát triển KH&CN Việt Nam là một nhiệm vụ đầy thách thức và không dễ dàng đạt được.

Thứ năm, DNVVN được coi là trụ cột kinh tế địa phương

Các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) hiện diện rộng rãi ở các vùng, địa phương, giúp tận dụng nguồn lực tại chỗ Tính đến đầu năm 2008, DNVVN đã sử dụng gần 49% lực lượng lao động phi nông nghiệp trên toàn quốc, đặc biệt ở một số vùng, tỷ lệ này còn cao hơn Ngoài lao động, các DNVVN còn khai thác nguồn tài chính và nguyên liệu từ cư dân địa phương để phục vụ sản xuất Việc tận dụng thế mạnh địa phương không chỉ hỗ trợ phát triển kinh tế mà còn góp phần gìn giữ và phát huy các làng nghề truyền thống, thể hiện bản sắc văn hóa dân tộc.

Thứ sáu, DNVVN giúp nền kinh tế năng động hơn

Do sự năng động và sáng tạo của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, cùng với khả năng linh hoạt trong tổ chức kinh doanh, những doanh nghiệp này có thể kết hợp chuyên môn hóa và đa dạng hóa một cách mềm dẻo, đáp ứng hiệu quả với yêu cầu của nền kinh tế thị trường.

Thứ bảy,DNNVV tạo được mối liên kết chặt chẽ với các tổng công ty, các tập đoàn xuyên quốc gia

Mối quan hệ giữa các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) và các tổng công ty, tập đoàn xuyên quốc gia đã được thiết lập thông qua việc cung ứng nguyên vật liệu và hợp đồng phụ Hướng phát triển này đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng của DNNVV và nền kinh tế đa thành phần tại Việt Nam.

Ngày đăng: 19/04/2022, 21:40

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng tổng hợp số thuế TNDN từ năm 2008- 2011 (đơn vị tính: tỷ đồng) - bản hoàn chỉnhNCKH
Bảng t ổng hợp số thuế TNDN từ năm 2008- 2011 (đơn vị tính: tỷ đồng) (Trang 46)
Bảng 1. Mức giảm trừ cho người nộpthuế (một năm) và tần suất điều chỉnh của một số quốc gia - bản hoàn chỉnhNCKH
Bảng 1. Mức giảm trừ cho người nộpthuế (một năm) và tần suất điều chỉnh của một số quốc gia (Trang 65)
Hình: Thuế suất thuế TNDN tại các nước Châu Âu (năm 2011) - bản hoàn chỉnhNCKH
nh Thuế suất thuế TNDN tại các nước Châu Âu (năm 2011) (Trang 69)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w