1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

hoàn thiện phương pháp chấm điểm tín dụng dnvvn tại ngân hàng tmcp nhà hà nội

96 456 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hoàn thiện phương pháp chấm điểm tín dụng dnvvn tại ngân hàng tmcp nhà hà nội
Tác giả Đỗ Thị Hải Ninh
Người hướng dẫn Thầy Đặng Anh Tuấn
Trường học Ngân hàng TMCP Nhà Hà Nội
Chuyên ngành Tín dụng ngân hàng
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2006
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 1,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đểgiành được lợi thế trong việc phục vụ đối tượng khách hàng này, Habubank cầnphải có “một chiến lược rõ ràng về khách hàng mục tiêu, sản phẩm và khu vựchoạt động” phải có biện pháp quản

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Không ai có thể phủ nhận, DNVVN đóng vai trò quan trọng trong côngcuộc phát triển kinh tế của các quốc gia Ở Việt Nam, DNVVN chiếm 90%trong tổng số 90 vạn doanh nghiệp của cả nước, mỗi năm đóng góp khoảng 30%GDP Họ góp khoảng 30% giá trị tổng sản lượng công nghiệp, 78% tổng mứcbán lẻ, 64% tổng lượng vận chuyển hàng hoá và 100% giá trị sản lượng hànghoá một số ngành như: chiếu cói, giày dép, hàng thủ công mỹ nghệ

Trước đây, các ngân hàng tranh giành gay gắt thị phần doanh nghiệp nhànước, các tổng công ty lớn Đến nay, tình thế có nhiều thay đổi, tất cả ngân hàng

cổ phần Việt Nam đều nhằm thị trường mục tiêu là khách hàng cá nhân vàdoanh nghiệp vừa và nhỏ Các ngân hàng thương mại quốc doanh cũng bắt đầu

mở rộng cho vay ngoài quốc doanh

Thế nhưng ở nước ta, vấn đề vốn tín dụng ngân hàng cho DNVVN lại luôn

là một thực tế bức xúc Thiếu vốn là khó khăn lớn nhất cản trở sự phát triển củaDNVVN Rủi ro khiến các ngân hàng phải dè chừng Các món vay mà DNVVNnhận được thường có thời hạn ngắn, giá trị nhỏ, mâu thuẫn với nhu cầu đầu tưthiết bị công nghệ; và luôn cần đến tài sản đảm bảo có giá trị lớn so với số lượngxin vay…

Habubank được thành lập từ năm 1989, qua 17 năm hoạt động, hiện có quy

mô vốn và thị phần ở mức trung bình trong khối ngân hàng TMCP Khách hàngmục tiêu của Habubank, như đã nói ở trên, là dân cư đô thị và DNVVN Đểgiành được lợi thế trong việc phục vụ đối tượng khách hàng này, Habubank cầnphải có “một chiến lược rõ ràng về khách hàng mục tiêu, sản phẩm và khu vựchoạt động” phải có biện pháp quản trị rủi ro hữu hiệu; nâng cao chất lượng thẩmđịnh, giảm thời gian xét duyệt khoản vay…

Trên cơ sở nhận thức các thực trạng đó, em lựa chọn vấn đề: “Hoàn thiện phương pháp chấm điểm tín dụng DNVVN tại ngân hàng TMCP Nhà Hà Nội” làm đề tài chuyên đề thực tập tốt nghiệp của mình

Chấm điểm tín dụng DNVVN khác với doanh nghiệp lớn, cần một hệthống riêng Để xây đựng hệ thống này, cần phân tích tổng hợp một khối lượng

Trang 2

lớn các món cho vay DNVVN, ít nhất là toàn bộ cơ sở dữ liệu của Habubank.Việc phân tích phải được thực hiện bởi các chuyên gia giàu kinh nghiệm và cáccán bộ tín dụng của chính Ngân hàng Trong khuôn khổ bài viết này, người viếthướng tới chứng minh việc phát triển chấm điểm tín dụng DNVVN là có thểthực hiện được và sẽ giúp giải quyết một số hạn chế trong tín dụng DNVVN củaNgân hàng Được sự giúp đỡ của thầy Đặng Anh Tuấn, kết hợp nghiên cứu lýluận chấm điểm tín dụng với thực tế Habubank, người viết cũng mạnh dạn đưa

ra hướng xây dựng nội dung bảng chấm điểm, mong rằng sẽ là một gợi ý hữuích với Ngân hàng

Thích hợp với mục tiêu về nội dụng này, kết cấu của luận văn được xâydựng như sau:

Chương 1 Chấm điểm tín dụng và hoạt động tín dụng ngân hàng với khách hàng Doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Chương 2 Thực trạng hoạt động tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng TMCP Nhà Hà Nội.

Chương 3 Phát triển phương pháp chấm điểm tín dụng nâng cao chất lượng nghiệp vụ tín dụng khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ Ngân hàng TMCP Nhà Hà Nội.

Vấn đề nghiên cứu còn khá mới mẻ, thời gian và năng lực nghiên cứu cònhạn chế, rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo và các bạn

Hà Nội, ngày 17 tháng 6 năm 2006.

Trang 3

Chương 1 Chấm điểm tín dụng và chất lượng hoạt động tín dụng

ngân hàng với khách hàng Doanh nghiệp vừa và nhỏ.

1.1 Tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ

1.1.1 Khái quát về doanh nghiệp vừa và nhỏ

1.1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ

Nói DNVVN tức là đã nhìn nhận doanh nghiệp bởi các tiêu chí về quy mônhư: vốn và lao động, doanh thu thuần, giá trị nộp cho ngân sách , và theo đó,loại doanh nghiệp này là những doanh nghiệp có các yếu tố quy mô nằm trongmột giới hạn nào đó

Theo NĐ 90 ngày 23/11/2001, DNVVN được định nghĩa như sau:

“DNVVN là cơ sở sản xuất kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theopháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao độngbình quân hàng năm không quá 300 người (linh hoạt áp dụng với một trong haichỉ tiêu vốn hoặc lao động hoặc cả hai chỉ tiêu)

1.1.1.2 Đặc điểm các doanh nghiệp vừa và nhỏ

Kể từ năm 2000, hàng năm, có khoảng hơn 20000 doanh nghiệp đượcthành lập mới Những doanh nghiệp này đa phần gia nhập vào đội hình DNVVNkhiến cho hầu như 190 ngàn DNVVN của Việt Nam hiện nay là doanh nghiệptrẻ ngoài quốc doanh Yếu tố “trẻ”, “ngoài quốc doanh” chính là nguyên nhânquyết định nhất tới các đặc điểm dưới đây của DNVVN

Đặc điểm nổi bật đầu tiên phải nói tới là các DNVVN có tính tự chủ cao

nhưng quy mô vốn thấp Ở các doanh nghiệp này, chủ sở hữu cũng thường làngười quản lý Họ phải tự bươn chải để duy trì và phát triển đồng vốn của mình

Do vậy, người quản lý doanh nghiệp thường rất nỗ lực trong kinh doanh Doanhnghiệp đói vốn, muốn vay vốn nhưng không có điểm tựa tài chính là Nhà nước

để dễ dàng được Ngân hàng chấp nhận cho vay như các doanh nghiệp trong khuvực quốc doanh DNVVN luôn chỉ được vay khi có tài sản đảm bảo Hơn nữa,đúng kiểu đã nghèo lại mắc cái eo, giá trị tài sản thấp, chủ yếu là đất ở của chủdoanh nghiệp, nên lượng vốn được phép vay cũng nằm trong giới hạn rất khiêmtốn so với nhu cầu vốn

Thứ hai, lĩnh vực hoạt động của các DNVVN rất đa dạng và phong phú.

Các doanh nghiệp này thâm nhập vào rất nhiều ngành nghề kinh tế như thương

Trang 4

mại dịch vụ, sản xuất, gia công chế biến… Nhờ vậy, việc mở rộng tín dụng chocác doanh nghiệp này sẽ giúp Ngân hàng phân tán được rủi ro hoặc rủi ro gâybiến động không lớn đối với hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Do quy mônhỏ bé, nên khi diễn biến thị trường bất lợi, một chủ doanh nghiệp nhanh nhậy

sẽ dễ dàng chuyển hướng kinh doanh mới có lợi Tuy nhiên, nhìn dưới giác độkhác, tính chất “đa dạng, phong phú” lại trở thành “nhỏ lẻ manh mún” Cónhững doanh nghiệp mà danh mục các hoạt động đăng ký kinh doanh gồm đếnhàng chục khoản mục từ xuất nhập khẩu, cung cấp dịch vụ thiết kế, tư vấn,…nên tính chuyên nghiệp không cao Không ít các doanh nghiệp vừa và nhỏkhông có định hướng lâu dài trong hoạt động kinh doanh mà hoạt động chạytheo thương vụ, thường xuyên thay đổi cơ cấu mặt hàng, sản phẩm, dịch vụ màdoanh nghiệp cung cấp nhiều về chủng loại nhưng không lớn về số lượng

Thứ ba, như đã nói ở trên, DNVVN thường được quản lý theo kiểu “gia

đình” Giám đốc các doanh nghiệp chính là chủ doanh nghiệp; nhân viên kế toán

là anh em họ hàng đi học các lớp ngắn hạn rồi về “giúp” Kiểu quản lý như vậy

có yếu tố tích cực nhưng cũng nhiều yếu tố tiêu cực

Điểm tốt là ở chỗ, doanh nghiệp vừa và nhỏ, vốn nhỏ thì tỷ suất lợi nhuận

cao Doanh nghiệp có số lao động ít nên cơ cấu tổ chức cũng gọn nhẹ, linh hoạt.Công tác điều hành mang tính trực tiếp và quan hệ giữa người quản lý và ngườilao động khá chặt chẽ Do quy mô nhỏ, số lượng lao động ít nên không có nhiềucác khâu trung gian Lãnh đạo doanh nghiệp dễ nắm bắt tình hình tác nghiệp củađơn vị mình; các quyết định, chỉ đạo của họ cũng nhanh chóng đến với ngườilao động, giảm độ trễ giữa các khâu tạo ra; công tác kiểm tra, giám sát cũngnhanh chóng, hiệu quả và ít chi phí hơn

Không tốt ở chỗ, cũng chính vì quy mô vừa và nhỏ nên nhiều doanh nghiệp

chưa quan tâm đến việc xây dựng nội quy lao động để đưa người lao động vàomột “khuôn khổ, quy củ” nhất định Doanh nghiệp được quản lý chủ yếu dựavào kinh nghiệm, nên ngoài hạn chế về vốn, còn bị hạn chế cả về trình độ, côngnghệ Phần lớn các DNVVN hiện nay hoạt động trong tình trạng thiếu cập nhậtthông tin Do thiếu am hiểu về thị trường và luật pháp, đặc biệt là trong lĩnh vựcxuất nhập khẩu nên khả năng tiếp cận với thị trường rất khó khăn Hiện nay,Việt Nam đang vận động gia nhập WTO, điều đó đồng nghĩa với cạnh tranhkhốc liệt gấp bội ngay cả trên sân nhà nhưng thực sự các doanh nghiệp vẫn chưa

có sự chuẩn bị hợp lý

Trang 5

Để có thể thành công trong một nền kinh tế cạnh tranh cao độ như hiệnnay, các doanh nghiệp phải thường xuyên thay đổi công nghệ, máy móc, thiết bị,các phương pháp, bí quyết sản xuất Thế nhưng hầu hết công nghệ đang được sửdụng trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam hiện được đánh giá là lạchậu Đại đa số những người chủ của các doanh nghiệp nhỏ và vừa không có kiếnthức, thông tin, kinh nghiệm về những vấn đề liên quan đến lựa chọn, mua vàchuyển giao công nghệ Với nhiều người, mua công nghệ chỉ đơn giản là muamáy móc, thiết bị Họ không quan tâm hoặc quan tâm không đầy đủ đến cácphương pháp, bí quyết sản xuất Do ảnh hưởng của tư duy sản xuất nhỏ và mộtphần là do thiếu vốn, rất nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa đầu tư nhỏ giọt, làmtừng phần, mỗi năm mua thêm một số máy móc, thiết bị rồi vừa làm vừa cảitiến Những yếu điểm này, thêm vào đó các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn phảigánh chịu những thông lệ và điều kiện cạnh tranh không bình đẳng nên không ítdoanh nghiệp đã thất bại Đặc điểm này của doanh nghiệp vừa và nhỏ chính làyếu tố tiềm ẩn gây rủi ro cho Ngân hàng khi cho vay

Nhiều DNVVN lập báo cáo tài chính chưa rõ ràng, không minh bạch doyếu kém về quản trị doanh nghiệp, nên các báo cáo tài chính không đáp ứngđược yêu cầu Bên cạnh đó, vẫn còn có những doanh nghiệp lập báo cáo tàichính chỉ để đối phó với cơ quan thuế, nên đã cố tình làm giảm khấu hao, tăngsản phẩm dở dang, nợ treo…Một số doanh nghiệp khác còn làm trái chức năngđược cấp phép, làm trái pháp luật, sử dụng giấy tờ có giá để lừa cơ quan quản lýnhà nước trong việc xin hoàn thuế hoặc góp vốn liên doanh, liên kết…Những

“tai tiếng” này khiến DNVVN khó tiếp cận vốn ngân hàng, còn ngân hàng thì dùmuốn nhưng vẫn ngại cho DNVVN vay vốn

1.1.1.3 Vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ đối với nền kinh tế.

Không ai có thể phủ nhận, doanh nghiệp vừa và nhỏ đóng vai trò quantrọng trong công cuộc phát triển kinh tế của các quốc gia Theo các con số thống

kê, ở hầu hết các quốc gia, doanh nghiệp vừa và nhỏ thường chiếm trên 90% sốlượng các doanh nghiệp trong nền kinh tế, đồng thời doanh nghiệp vừa và nhỏtạo công ăn việc làm cho hơn 50% hoặc thậm chí tới 2/3 lực lượng lao động ởmỗi quốc gia, các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng đóng góp từ 1/4 đến 1/3 giá trịGDP hàng năm, con số này lần lượt ở Pháp, Mỹ, Bỉ là 45%, 39%, 36% Ở ViệtNam, doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm 90% trong tổng số 9 vạn doanh nghiệpcủa cả nước, mỗi năm đóng góp khoảng 30% GDP Doanh nghiệp nhỏ và vừa

Trang 6

góp khoảng 30% giá trị tổng sản lượng công nghiệp, 78% tổng mức bán lẻ, 64%tổng lượng vận chuyển hàng hoá và 100% giá trị sản lượng hàng hoá một sốngành như: chiếu cói, giày dép, hàng thủ công mỹ nghệ.

DNVVN là bộ phận sử dụng rất có hiệu quả và tiết kiệm nguồn lực sẵn cócủa đất nước Các doanh nghiệp này đặc biệt có khả năng khai thác các nguồnvốn nhỏ lẻ nhàn dỗi trong dân cư, thu hút nhiều lao động chưa có việc làm hoặclao động tạm thời nhàn rỗi do công việc có tính chất thời vụ, nhanh chóng tiếpthu và làm chủ kỹ thuật thủ công và kỹ thuật phổ biến

Phát triển DNVVN là cách tốt nhất để giảm tỷ lệ thất nghiệp và tệ nạn xãhội Thực tế cho thấy toàn bộ các doanh nghiệp Nhà nước thời gian qua, nămcao nhất cũng chỉ thu hút được khoảng 1.6 triệu lao động Trong khi đó theo sốliệu hàng năm doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng tạo ra việc làm cho khoảng 50 –80% lao động trong các ngành nghề công nghiệp, dịch vụ Đặc biệt trong nhiềuthời kỳ, khi các doanh nghiệp lớn sa thải số lượng lớn công nhân thì khu vựcdoanh nghiệp vừa và nhỏ lại là nơi tái tạo lại công việc cho họ

Phát triển DNVVN là giảm cách biệt giữa thành thị và nông thôn CácDNVVN thu hút lượng lớn nguồn vốn trong dân Tính chất nhỏ lẻ, dễ phân tán,

do yêu cầu vốn yêu cầu ban đầu không nhiều nên chủ DNVVN có thể tận dụngvốn của bản thân, bạn bè, gia đình…Mặt khác, các DNVVN ở nông thôn sẽ thuhút nhiều lao động chưa có việc làm, lao động tạm thời nhàn rỗi theo thời vụ vàosản xuất – kinh doanh, rút dần lao động nông nghiệp sang khu vực công nghiệp -dịch vụ nhưng vẫn sống ở quê hương mà không di chuyển, theo phương châm:

“ly nông bất ly hương” Một điều hết sức quan trọng nữa là: các DNVVN cũng

là yếu tố chủ đạo giúp phát huy nghề truyền thống, làm thay đổi bộ mặt làngquê; trong các làng nghề truyền thống đã hình thành nhiều DNVVN nhằm tìmkiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm, tổ chức tiêu thụ sản phẩm, đóng góp khôngnhỏ vào sự phát triển của làng nghề

Phát triển DNVVN làm mạnh thêm các doanh nghiệp lớn, tạo ra sự phâncấp sản xuất (Doanh nghiệp lớn thiết kế, lắp ráp; doanh nghiệp nhỏ gia công phụkiện)

Theo báo “Người lao động”, 12/9/2002: Ở Việt Nam cũng như các nước,DNVVN là xương sống của nền kinh tế, đóng góp hơn 70% tổng sản lượng quốcnội (GDP), tạo công ăn việc làm cho 90% lao động xã hội

Trang 7

1.1.2 Tín dụng ngân hàng với khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ

1.1.2.1 DNVVN, thị trường mục tiêu hiện tại của rất nhiều NHTM

Trước đây, các ngân hàng tranh giành gay gắt thị phần khách hàng doanhnghiệp nhà nước, các tổng công ty lớn Hiện nay, cơ chế ngày càng mở theohướng nâng cao năng lực tự chủ của doanh nghiệp, cạnh tranh bình đẳng hơn,khu vực kinh tế tư nhân đang mở rộng và phát triển rất năng động Đa phần cácngân hàng đã tiến công vào đối tượng DNVVN đang đói vốn và chưa được phục

Xin đưa ra 4 lý do giải thích về việc các ngân hàng thương mại chú trọngthị trường DNVVN như sau:

Thứ nhất, Ngân hàng Nhà nước giới hạn khả năng cho vay một khách

hàng doanh nghiệp trong phạm vi 15% vốn tự có của Ngân hàng thương mại.Các Ngân hàng cổ phần có quy mô vốn tự có thấp, thì khả năng cho vay cũngnhỏ, phù hợp với nhu cầu của DNVVN và cá nhân

Thứ hai, DNNN chủ yếu tìm đến các ngân hàng thương mại quốc doanh

không chỉ bởi mối quan hệ từ nhiều năm mà còn bởi sự tương xứng về quy mô.Ngoài ra, còn một lý do tế nhị, tại các ngân hàng này, sự hậu thuẫn vay vốn củaNhà nước là lớn nhất Nhưng so với khối doanh nghiệp vừa và nhỏ ngoài quốcdoanh, tỷ trọng số đầu DNNN đang nhỏ dần Thị trường DNVVN mới là thịtrường rộng lớn và phát triển nhanh chóng Các ngân hàng thương mại quốcdoanh không thể thờ ơ với DNVVN mãi

Thứ ba, thực tế đã chứng minh, DNVVN mới chính là động lực của nền

kinh tế Nhiều doanh nghiệp nhà nước có cơ cấu tổ chức cồng kềnh, quan liêu

Do còn bất cập trong giải quyết mối quan hệ giữa người sở hữu và người quản

lý, nên nỗ lực kinh doanh của DNNN không bằng DNVVN Hiệu quả sử dụngvốn giảm dần theo quy mô, các DNVVN tự chủ hơn nên dám dấn thân vào cáchoạt động rủi ro hơn Tỷ suất lợi nhuận của khối DNVVN cao hơn hẳn

Thứ tư, các DNVVN đang nhận được nhiều hơn các chính sách ưu đãi cả

từ Nhà nước và các tổ chức tài chính quốc tế như WB, IFC Ở nhiều nước đã có

Trang 8

các tổ chức đứng ra nhận bảo lãnh vay vốn cho các DNVVN khi đáp ứng đượcmột số điều nhất định mà tổ chức này đặt ra Chính sách thuế hay hành langpháp lý cũng được các chính phủ quan tâm sao cho ngân hàng thương mại có thểnới lỏng hơn điều kiện cho vay DNVVN của mình Tại Việt Nam, với nhữngđóng góp đáng kể vào sự phát triển của nền kinh tế trong những năm qua, cácDNVVN đã được qua tâm hơn và nhìn nhận bình đẳng hơn Đảng, Nhà nước đãđánh giá đúng đắn tiềm năng, vai trò và tầm quan trọng của các DNVVN Vìvậy, gần đây đã có nhiều chính sách nhằm khuyến khích và kích thích sự pháttriển của các DNVVN: Nghị định 90/2001/NĐ –CP (ngày 23/11/2001) về việctrợ giúp phát triển DNVVN, quyết định 12/2003/QĐ – TTg (ngày 17/01/2003)

về hội đồng khuyến khích phát triển DNVVN, ngành ngân hàng cũng đã đề ranhiều chính sách thích ứng cho việc tài trợ cho DNVVN

1.1.2.2 DNVVN khó tiếp cận vốn tín dụng Ngân hàng

Hiện nay, thị trường OTC, thị trường chứng khoán dành cho DNVVN, đã

ra đời Các DNVVN đã có thêm một kênh huy động vốn mới Tuy nhiên, thịtrường OTC nói riêng và thị trường chứng khoán Việt Nam nói chung chưa cóảnh hưởng đáng kể đến thị phần tín dụng của các ngân hàng thương mại Vậy

mà, nguồn tín dụng ngân hàng vẫn chỉ xếp thứ hai sau nguồn huy động từ giađình bạn bè hay từ chính các chủ doanh nghiệp vừa và nhỏ

Điều này có vẻ như mâu thuẫn với thực tế các Ngân hàng thương mại chútrọng thị trường DNVVN, vậy nguyên nhân do đâu?

Nguyên nhân đầu tiên kể đến xuất phát chính từ các DNVVN, trong phầnđặc điểm DNVVN, người viết đã lồng ghép vào đó phần đánh giá ảnh hưởng

Trang 9

của các đặc điểm tới khả năng tiếp cận tín dụng của doanh nghiệp, ở đây xinkhông nhắc lại

Nguyên nhân thứ hai đến từ phía ngân hàng Ngân hàng đã xác địnhDNVVN là thị trường mục tiêu, tất nhiên họ mong muốn cấp được nhiều khoảnvay cho các DNVVN Nhưng cho vay DNVVN, với những đặc điểm trên, làhoạt động khá nhiều rủi ro Trong khi năng lực quản trị rủi ro của các ngân hàngcòn yếu

Thứ nhất, hệ thống thông tin khách hàng của ngân hàng còn thiếu và bị sailệch Doanh nghiệp vừa và nhỏ uy tín còn thấp, hơn nữa, đây là khu vực chứađựng các doanh nghiệp ma, tồn tại thực hư không xác định, cộng thêm đó là tấmgương kinh điển từ vụ Minh Phụng – Epco khiến các DNVVN bị ngân hàng

“ngại”

Cũng do thông tin thiếu và sợ rủi ro, nên các loại hình cho vay mà ngânhàng cung cấp chưa thoả mãn nhu cầu của DNVVN, hơn nữa thời gian xét duyệtkhoản vay còn quá dài, DNVVN lại thường yếu thế trong đàm phán các điềukiện vay vốn do không thông thạo thủ tục, chính sách của ngân hàng, điều nàyđẩy nhiều doanh nghiệp đến lựa chọn nguồn tài trợ phi ngân hàng

Khả năng thẩm định năng lực khách hàng chưa cao, các ngân hàng chưa cócái sàng để lọc ra đâu là khách hàng tốt, đâu là khách hàng xấu nên nhiều doanhnghiệp làm ăn chân chính, hiệu quả vẫn bị bác đơn vay

1.1.2.3 Đặc điểm các khoản tín dụng ngân hàng dành cho DNVVN.

Để bảo vệ mình trong việc cho vay, các ngân hàng đặt ra những điều kiệnkhá khó với DNVVN, như lãi suất cao, phải có TSĐB, …mặc dù có nhữngdoanh nghiệp kinh doanh tốt, đạt doanh số và nộp thuế rất cao nhưng các ngânhàng vẫn không dám mạnh dạn cho vay, nhất là đối với khoản vay lớn không cótài sản thế chấp Các khoản tín dụng mà DNVVN hiện nay nhận được từ ngânhàng thường có đặc điểm sau:

Về mức cho vay DNVVN: Theo nguyên tắc, mức cho vay của tổ chức tín

dụng (TCTD) đối với doanh nghiệp phụ thuộc vào tổng mức đầu tư dự án vàhiệu quả cũng như hệ số nợ của doanh nghiệp Nhưng theo điều tra thực tế, mứccho vay đối với DNVVN lại phụ thuộc vào giá trị tài sản thế chấp và thành phầnkinh tế DNNN được vay vốn với mức cao hơn doanh nghiệp dân doanh trongkhi hiệu quả kinh doanh của DNNN lại thấp hơn, mặc dù về mặt lý thuyết thìkhông có sự phân biệt này Do giá trị tài sản cầm cố, thế chấp thấp nên mức vốn

Trang 10

được vay nhỏ, vì vậy hầu hết các DNVVN đều thiếu vốn nghiêm trọng cả hiệntại và tương lai Mặc dù cho đến nay đã có nhiều ngân hàng cung cấp vốn tíndụng và hoạt động khá sôi nổi, nhưng dường như phần đông DNVVN vẫn còn

xa lạ với kênh dẫn vốn quan trọng này Do vậy để có đủ vốn cho sản xuất kinhdoanh, DNVVN phải vay từ nhiều nguồn khác nhau với lãi suất cao và bị động,nên nhiều cơ hội đầu tư đã không được đón bắt kịp thời hoặc bị bỏ qua

Về thời hạn vay vốn: Hầu hết các DNVVN vay vốn để đầu tư mua sắm máy

móc, thiết bị, nên cần những khoản vốn vay dài hạn Trong khi đó ngân hàngthích cung cấp các khoản vay ngắn hạn nhằm tạo cân đối với nguồn huy động vàtránh rủi ro tiềm tàng từ đối tượng khách hàng này Tình trạng doanh nghiệp sửdụng vốn vay sai mục đích cũng có phần từ chính những bất cập này

Về đảm bảo tiền vay: Hầu như toàn bộ các khoản tín dụng Ngân hàng cấp

cho DNVVN đều yêu cầu tài sản đảm bảo

Về lãi suất cho vay: Lãi suất mà các ngân hàng áp dụng với DNVVN còn

cao, một phần vì yếu tố rủi ro, một phần vì khoản vay quy mô nhỏ thì chi phítrên một đồng vốn cho vay càng lớn trong khi ngân hàng chưa có biện pháp hữuhiệu để tiết kiệm

1.2 Phương pháp chấm điểm tín dụng tại NHTM

1.2.1 Khái niệm và mục đích chấm điểm tín dụng doanh nghiệp

Chấm điểm tín dụng là một quá trình đánh giá khả năng thực hiện cácnghĩa vụ tài chính của một doanh nghiệp đối với ngân hàng cho vay như trả lãi

và gốc nợ vay khi đến hạn nhằm xác định mức rủi ro trong hoạt động cung cấptín dụng của ngân hàng cho vay Mức độ rủi ro tín dụng thay đổi theo từngkhách hàng và được xác định thông qua quá trình đánh giá bằng thang điểm, dựavào thông tin tài chính và phi tài chính sẵn có của doanh nghiệp tại thời điểmchấm điểm Điểm mấu chốt của hệ thống chấm điểm tín dụng là quy việc đánhgiá khách hàng vay vốn từ nhiều yếu tố về chỉ một yếu tố “điểm tín dụng”, từđiểm tín dụng có thể đánh giá đâu là khoản cho vay tốt, xấu

Chấm điểm tín dụng giúp đưa ra những nhận xét, đánh giá về tình hình hoạtđộng, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán trong hiện tại và tương lai củadoanh nghiệp, căn cứ vào đó ngân hàng ra các quyết định cho vay như hạn mứctín dụng, số tiền cho vay, thời hạn, lãi suất

Trang 11

Chấm điểm tín dụng cũng giúp quản lý toàn bộ danh mục tín dụng, có thểgiám sát và đánh giá khách hàng, nhận biết các dấu hiệu xấu và có biện pháp đốiphó kịp thời, ước lượng mức vốn đã cho vay không thể thu hồi về để trích lập dựphòng rủi ro tín dụng đồng thời phát triển chiến lược Marketing hướng tới kháchhàng có ít rủi ro hơn.

1.2.2 Nội dung phương pháp chấm điểm tín dụng

1.2.2.1 Nguyên tắc chấm điểm tín dụng

Bảng chấm điểm phải gồm cả chỉ tiêu tài chính và phi tài chính, số lượng

và nội dung các chỉ tiêu phải lựa chọn ở mức hợp lý để đảm bảo đánh giá chínhxác khả năng và thiện chí trả nợ của doanh nghiệp

Thang điểm tín dụng phải được phân chia thành các khoảng hạng mức tínnhiệm Các khoảng điểm này phải được mô tả bằng các đặc tính rủi ro tươngứng

Thông tin về doanh nghiệp vay vốn được đưa vào bảng chấm điểm phảichuẩn xác, các tiêu chí phải được xác định với thái độ độc lập và thận trọng cầnthiết

Trong quy trình chấm điểm tín dụng, cán bộ chấm điểm tín dụng sử dụngcác bảng tiêu chuẩn đánh giá các tiêu chí để chấm điểm tín dụng:

+ Đối với mỗi tiêu chí trên bảng tiêu chuẩn đánh giá các tiêu chí, chỉ sốthực tế gắn với trị số nào gần nhất thì áp dụng cho loại xếp hạng đó, nếu nằmgiữa hai trị số thì ưu tiên nghiêng về phía loại tốt nhất

+ Trong trường hợp khách hàng có bảo lãnh toàn phần (lớn hơn hoặc bằng100% giá trị khoản tín dụng) của một tổ chức có năng lực tài chính mạnh hơn,thì cả doanh nghiệp và bên bảo lãnh cùng được NH cho vay chấm điểm tíndụng; khách hàng đã có thể được xếp hạng tín dụng tương đương hạng tín dụngcủa bên bảo lãnh Quy trình chấm điểm tín dụng của bên bảo lãnh cũng giốngnhư quy trình áp dụng cho khách hàng Trường hợp bảo lãnh một phần thì chỉcần tiến hành chấm điểm tín dụng và xếp hạng cho chính khách hàng

Phải có sự kết hợp giữa kết quả chấm điểm tín dụng tự động trên máy vàphân tích đánh giá của chính cán bộ tín dụng để có cái nhìn toàn diện nhất vềkhả năng của khách hàng

1.2.2.2 Quy trình chấm điểm tín dụng

Quy trình gồm các bước cơ bản sau:

Trang 12

Bước 1: Thu thập thông tin

Để có thông tin sử dụng cho chấm điểm, cần phải thu thập thông tin toàndiện về khách hàng Có thể thu thập thông tin từ các nguồn như hồ sơ vay vốn

của khách hàng, thông tin lưu trữ tại ngân hàng (đây sẽ là nguồn đáng tin cậy

nếu hoạt động xử lý và lưu trữ thông tin trước đó chính xác, an toàn), thông tin

từ các cuộc điều tra phỏng vấn trực tiếp, thông tin thu thập được từ các nguồnkhác như Ngân hàng bạn, bạn hàng hay đối thủ cạnh tranh của khách hàng, quatrung tâm thông tin tín dụng quốc gia, phương tiện thông tin đại chúng, haythông tin từ các cơ quan quản lý Nhà nước, cơ quan thuế, kiểm toán…

Nguồn thông tin chính thức chủ yếu và quan trọng nhất là từ hệ thống báocáo tài chính của doanh nghiệp, bao gồm: bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quảkinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ Cần lưu ý số liệu trên báo cáo tài chínhchưa hẳn đã tin cậy nếu chưa được kiểm toán, do vậy, các số liệu này phải đượcxem xét cẩn thận với thái độ nghi ngờ cần thiết, thông tin được thu thập từnhững nguồn như trực tiếp khảo sát thực tế, thông tin từ công ty kiểm toán, từ cơquan quản lý, dịch vụ thông tin… sự chính xác và toàn diện của thông tin là yếu

tố quyết định đến chất lượng kết quả chấm điểm

Các nguồn thông tin không chính thức như: Thông tin từ các đối thủ cạnhtranh, các nhà cung cấp yếu tố đầu vào, khách hàng, các đại lý tiêu thụ… củadoanh nghiệp Thông tin thu thập từ các nguồn này đòi hỏi phải được gạn lọc,xác định độ tin cậy bằng các phương pháp khác nhau, để đảm bảo tính kháchquan trong chấm điểm tín dụng

Bước 2: Xác định lĩnh vực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Việc phân loại ngành nghề sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là rất cầnthiết Vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp sẽ không được thấy rõ nếu chỉ dựa vàokết quả riêng biệt của doanh nghiệp Chẳng hạn một doanh nghiệp có tỷ lệ tăngtrưởng 20%/năm có thể được coi là có vị thế tốt song nếu ngành nghề nó hoạtđộng có mức tăng trưởng 40%/năm thì dẫn đến một kết luận khác, doanh nghiệp

có vị thế cạnh tranh yếu Chính vì thế, việc chấm điểm tín dụng của doanhnghiệp phải được đặt trong bối cảnh ngành

Tùy thuộc vào điều kiện cụ thể mà phân chia nhóm ngành theo mức độ chitiết khác nhau Báo cáo tín dụng có thể phân chi tiết tới 9, 10 ngành nghề kinh tế(Ví dụ, hiện nay Habubank quản lý dư nợ phân theo 9 ngành nghề kinh tế làNông lâm nghiệp; thuỷ sản; công nghiệp mỏ; Sản xuất và phân phối điện, khí

Trang 13

đốt, nước; công nghiệp; xây dựng; thương nghiệp; khách sạn, nhà hàng; vận tải,kho bãi, thông tin liên lạc) nhưng có thể chỉ cần xây dựng khoảng bốn biểu điểmkhác nhau cho các gói ngành nghề lớn hơn như nông, lâm và ngư nghiệp;thương mại và dịch vụ; xây dựng; công nghiệp

Ví dụ: Bảng hướng dẫn phân loại doanh nghiệp theo ngành nghề trong

quy trình chấm điểm tín dụng của Ngân hàng Công thương

Nông, lâm ngư nghiệp - Chăn nuôi

- Trồng trọt: cây lương thực, hoa màu, cây ăn quả, cây công nghiệp

- trồng rừng

- Khai thác lâm sản

- Đánh bắt, nuôi trồng thuỷ sản

- Làm muốiThương mại, dịch vụ - Cảng sông, biển

- Khách sạn, nhà hàng, giải trí Du lịch

- Siêu thị, đại lý phân phối, kinh doanh , bán buôn bán lẻ các loại nông sản, lâm sản, thuỷ sản, thực phẩm, rượu bia, dược phẩm, mỹ phẩm…

- In ấn, xuất bản sách, báo chí

- sửa chữa nhà cửa, các loại máy móc, phương tiện truyền thông

- Chăm sóc sức khoẻ, làm đẹp

- Tư vấn, môi giới

- Thiết kế thời trang, gia công máy móc

- Bưu chính viễn thông

- Vận tải đường bộ, đường sông, đường biển, đường không

- Vệ sinh môi trường, văn phòng…

Xây dựng - Hạ tầng giao thông, khu công nghiệp

Hạ tầng đô thị và nhà ở

- Xây lắp (XDCB)Công nghiệp - Chế biến các loại nông sản, lâm sản, thuỷ sản,

thực phẩm rượu bia

- Sản xuất thuốc lá, dược phẩm, thiết bị y tế, mỹ phẩm, văn hoá phẩm, hàng tiêu dùng, mỹ nghệ…

- Sản xuất lắp ráp hàng điện tử, máy móc…

- Sản xuất điện, khí đốt

- Khai thác khoáng sản

- Khai thác than, vật liệu xây dựng (cát, đá, …)

Trang 14

Việc phân loại doanh nghiệp theo ngành nghề/lĩnh vực sản xuất kinh doanhcăn cứ vào ngành nghề/lĩnh vực sản xuất kinh doanh chính trên giấy chứng nhậnđăng ký kinh doanh của doanh nghiệp Nhưng với các doanh nghiệp vừa và nhỏ,lưu ý, ít doanh nghiệp chuyên sâu vào một hoạt động mà đăng ký đa ngànhnghề, thực hiện rất nhiều các hoạt động khác nhau Doanh nghiệp vừa và nhỏthường rất linh hoạt để thích ứng với diễn biến của thị trường nên nhiều khi kếtquả xác định có thể khác với lĩnh vực đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp

Bước 3: Chấm điểm quy mô doanh nghiệp.

Doanh nghiệp có quy mô về vốn, tài sản, lao động khác nhau cũng có sựkhác biệt tương đối rõ nét Những doanh nghiệp có ưu thế về quy mô sản xuất,tiềm năng nhân sự và tiềm lực tài chính thì việc thực hiện nghĩa vụ nợ với ngânhàng được đánh giá là có khả năng tốt hơn các doanh nghiệp có quy mô nhỏ Vìvậy việc xếp loại doanh nghiệp là việc so sánh doanh nghiệp này với doanhnghiệp này với doanh nghiệp khác để đưa ra sự phân định thứ hạng về tín dụnggiữa các doanh nghiệp, việc so sánh đó phải đặt trong điều kiện quy mô cùngloại

Quy mô của doanh nghiệp có thể xác định dựa vào các tiêu chí như vốn,lao động, doanh thu thuần hay giá trị nộp ngân sách

Vốn có thể được xác định dựa vào vốn chủ sở hữu trong bảng tổng kết tàisản

Lao động là số lao động thực tế sử dụng (được nêu trong thuyết minh báocáo tài chính) tính bình quân trong 3 năm gần nhất, nếu doanh nghiệp mới đi vàohoạt động chưa đến 3 năm thì tính bình quân cho toàn bộ số năm hoạt động.Giá trị nộp NSNN: Căn cứ bảng Tình hình thực hiện nghĩa vụ NSNN trongbáo cáo tài chính Lấy theo số thực nộp vào NSNN theo số phát sinh trong kỳ(không kể số thiếu của kỳ trước nộp kỳ trước nộp kỳ này) bao gồm các loại thuế

và các khoản nộp khác theo quy định của Nhà nước trong năm báo cáo (khôngtính các khoản thuế xuất nhập khẩu, đóng bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế,kinh phí công đoàn, các khoản tiền phạt, phụ thu)

Trang 15

Ví dụ: Bảng chấm điểm quy mô doanh nghiệp Ngân hàng Ngoại thương

Điểmđạtđược

30252015105

3 Doanh thu thuần

4030201052

4 Nghĩa vụ đối vớinhà nước

15129631

Bước 4: Chấm điểm tài chính.

Hệ thống chấm điểm tín dụng sẽ chứa các bảng chấm điểm tài chính Căn

cứ vào lĩnh vực SXKD và quy mô của doanh nghiệp để lựa chọn bảng chấm chothích hợp và tiến hành chấm điểm theo bảng

Để đánh giá độ an toàn tài chính của một doanh nghiệp các tổ chức và ngânhàng thương mại trên thế giới sử dụng nhiều hệ số tài chính khác nhau tuỳ theotừng quốc gia, chủ thể và khách thể chấm điểm cụ thể

Trang 16

Theo nghiên cứu của tiến sỹ Trần Thị Kỳ - trường Đại học Kinh tế Thành

phố Hồ Chí Minh, bảng chấm điểm phù hợp với các doanh nghiệp Việt Namhiện nay nên có 11 chỉ tiêu tài chính, chia thành 4 nhóm, gồm: nhóm chỉ tiêuthanh toán, nhóm chỉ tiêu hoạt động, nhóm chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh và cơcấu tài chính và nhóm chỉ tiêu về sự tăng trưởng quy mô

A- Nhóm chỉ tiêu thanh toán

Phân tích các chỉ tiêu trong nhóm này, là cơ sở để ngân hàng thương mại,đánh giá khả năng thanh toán khoản vay ngắn hạn của doanh nghiệp trong tươnglai gần và khả năng thanh toán ngay các khoản vay ngắn hạn đến hạn

Nhóm này gồm hai chỉ tiêu: Hệ số thanh toán ngắn hạn được thiết kế trên

cơ sở so sánh tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn với nợ ngắn hạn; và hệ sốthanh toán nhanh: so sánh giữa tài sản có tính thanh khoản cao với nợ ngắn hạn

Hệ số thanh toán ngắn hạn =

Hệ số này phản ánh mức đảm bảo tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn đểthanh toán các khoản nợ ngắn hạn Hệ số này càng lớn thì khả năng thanh toáncàng cao và ngược lại

Hệ số thanh toán nhanh =

Hệ số thanh toán nhanh phản ánh mức đảm bảo của các tài sản có tínhthanh khoản cao (tiền, đầu tư tài chính, phải thu) cho các khoản nợ ngắn hạn đếnhạn Khi tính chỉ tiêu này để đưa vào bảng chấm, ngoài loại trừ Hàng tồn khocòn nên loại trừ dự phòng phải thu khó đòi, trả trước người bán…

Khi phân tích hai chỉ tiêu này cần chú ý đến đặc điểm hoạt động kinhdoanh của các ngành khác nhau và phải loại trừ một số khoản ra khỏi công thứcphân tích để đảm bảo độ chính xác

B- Nhóm chỉ tiêu hoạt đông

Nhóm này gồm 2 chỉ tiêu: thời gian luân chuyển hàng tồn kho (hoặc vòngquay hàng tồn kho) và kỳ thu tiền bình quân, những chỉ tiêu này cần đưa vào hệthống chỉ tiêu chấm điểm và xếp hạng doanh nghiệp vay vốn, vì thông qua phântích 2 chỉ tiêu trên sẽ giúp ngân hàng đánh giá chất lượng sử dụng và quản lýhàng tồn kho và nợ phải thu, khả năng chuyển đổi những tài sản này ra tiềnnhanh hay chậm, kết hợp với nhóm chỉ tiêu A, sẽ giúp ngân hàng đánh giá chínhxác hơn khả năng thanh toán nợ vay ngân hàng

Khi phân tích các chỉ tiêu này cần chú ý đến đặc điểm kinh doanh củangành, chính sách bán hàng của doanh nghiệp

Trang 17

C- Nhóm chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh và cơ cấu tài chính

Chấm điểm các chỉ tiêu trong nhóm này, sẽ giúp ngân hàng đánh giá khảnăng trả nợ vay ngân hàng của doanh nghiệp bao gồm cả vốn gốc và lãi vay,trên cơ sở phân tích tiềm lực tài chính của doanh nghiệp mạnh hay yếu, hiệu quảsản xuất kinh doanh tốt hay xấu, mức độ đảm bảo vững chắc cho việc hoàn trảcác khoản nợ vay trước những biến cố bất lợi, bất ngờ có thể xảy ra đối vớidoanh nghiệp

Nhóm này gồm các chỉ tiêu: Hệ số nợ, Hệ số lợi nhuận trên tài sản, Hệ sốlãi vay, xu hướng tăng lợi nhuận và hệ số lợi nhuận trên doanh thu

D- Nhóm chỉ tiêu về quy mô và sự tăng trưởng

Nhóm chỉ tiêu này gồm 4 chỉ tiêu: Tốc độ tăng trưởng về doanh thu, lợinhuận, quy mô vốn và doanh thu

Phân tích các chỉ tiêu trong nhóm này sẽ giúp ngân hàng đánh giá mức độ

an toàn của khoản tín dụng, qua việc xem xét sức cạnh tranh của doanh nghiệptrong quá trình sản xuất kinh doanh có vững mạnh và ổn định không? Điều nàykhông chỉ là cơ sở cho khoản tín dụng được hoàn trả ở mức độ nào

Tham khảo bảng chấm điểm của một số các ngân hàng lớn, Ngân hàng

Công thương Việt Nam và ngân hàng Ngoại thương, Ngân hàng Đầu tư và pháttriển, Nông nghiệp đều lựa chọn 11 chỉ tiêu sau:

Chỉ tiêu thanh khoản:

1 Khả năng thanh toán hiện hành

2 Khả năng thanh toán nhanh

Chỉ tiêu cân nợ:

3 Nợ phải trả/Tổng tài sản

4 Nợ phải trả/ Nguồn vốn CSH

5 Nợ quá hạn/ Tổng dư nợ NHChỉ tiêu hoạt động:

6 Vòng quay hàng tồn kho

7 Kỳ thu tiền bình quân

8 Doanh thu/ Tổng tài sản

Chỉ tiêu thu nhập:

9 Tổng TNTT/ Doanh thu thuần

10 Tổng TNTT/ Tổng tài sản

11 Tổng TNTT/ Nguồn vốn CSH

Trong khi đó, thậm chí các Ngân hàng thương mại cổ phần còn có xu

hướng giảm bớt số lượng các chỉ tiêu tài chính để phân tích khả năng trả nợ củakhách hàng Bảng chấm điểm của các ngân hàng này đơn giản chỉ chấm các chỉtiêu về thanh khoản kết hợp với chỉ tiêu hệ số nợ trên tổng nguồn, chỉ tiêu lợinhuận ròng và ROE hay một tập hợp con khác của bảng 11 chỉ tiêu trên mà đơn

vị chấm điểm đánh giá thấy phù hợp

Trang 18

Ví dụ, Ngân hàng Kỹ thương (Techcombank) sử dụng 5 chỉ tiêu sau đểphân tích:

Nhóm chỉ tiêu tỷ số thanh khoản

1 Khả năng thanh toán ngắn hạn

2 Khả năng thanh toán nhanh

Nhóm chỉ tiêu cân nợ

3 Tỷ số nợ = Tổng nợ/Tổng nguồn vốn

Nhóm chỉ tiêu khả năng sinh lời

4 Lợi nhuận ròng

5 Tỷ suất lợi nhuận ròng/Vốn chủ sở hữu

Vậy tại sao lại không chấm điểm toàn bộ các chỉ tiêu tài chính? Đó là do

mối quan hệ giữa các chỉ tiêu Có thể thấy ngay cả khi giới hạn trong 11 chỉ tiêu

mà bảng châm điểm của các NHTMQD sử dụng, vẫn tồn tại ít nhất một quan hệgiữa các chỉ số: Doanh thu thuần/tổng tài sản (chỉ số 5); tổng số nợ/Tổng tài sản(chỉ số 6); Tổng số nợ/Vốn chủ sở hữu (chỉ số 7); Tổng thu nhập trước thuế/vốnchủ sở hữu (chỉ số 10) Dễ nhận thấy rằng:

Việc lựa chọn chỉ số nào để phản ánh độ vững mạnh tài chính của doanhnghiệp, sẽ không chỉ là sự lựa chọn, phân tích mang tính chất định tính mà cầnphải có sự bám sát, sử dụng mô hình kinh tế lượng Tuy nhiên, dù bảng chấmđiểm các chỉ số tài chính có giảm xuống 10 chỉ số hay ít hơn, thậm chí cũng cóthể tăng thêm một vài chỉ số tài chính khác thì việc đánh giá năng lực thực hiệnnghĩa vụ tài chính của khách hàng với ngân hàng ít nhất phải đảm bảo thông qua

4 nhóm chỉ tiêu cơ bản về thanh toán, cơ cấu vốn, khả năng sinh lời, hiệu quảhoạt động như trên

Trang 19

Ví dụ: Bảng chấm điểm tài chính các doanh nghiệp trong ngành Thương

mại và dịch vụ của Ngân hàng Ngoại thương (phụ lục 1)

Bước 5: Chấm điểm phi tài chính

Bên cạnh chỉ tiêu tài chính, chỉ tiêu phi tài chính là rất cần thiết đối vớingân hàng Bởi vì chỉ tiêu tài chính mới chỉ là thông tin số phản ánh chủ yếutình hình tài chính của doanh nghiệp tại thời điểm nào đó, nó có rất ít căn cứ để

dự báo về doanh nghiệp trong tương lai Trong khi đó,“sức khoẻ” doanh nghiệptrong thời gian sử dụng tài trợ mới là quan trọng để nhà đầu tư phán đoán tìnhhuống có thể xảy ra rủi ro dẫn đến không thu hồi được vốn Vì vậy, việc chấmđiểm các chỉ tiêu này cũng nhằm góp phần đánh giá các khả năng tài chính củadoanh nghiệp trong tương lai

Các phương diện phi tài chính cần chấm điểm:

 Chấm điểm tín dụng theo tiêu chí lưu chuyển tiền tệ, hay còn gọi là chấmđiểm dòng tiền

Ví dụ: Bảng chấm điểm dòng tiền ngân hàng Ngoại thương (phụ lục 2)

Tiêu chí dòng tiền hết sức quan trọng, bảng lưu chuyển tiền tệ là công cụcực kỳ hữu hiệu trong việc tính toán cơ cấu dòng thu chi tiền tệ, ảnh hưởng đếnvận mệnh một doanh nghiệp Nó không bị ảnh hưởng bởi nguyên tắc kế toánnhư giá trị hàng tồn kho, hay giá vốn hàng bán….Không có cách nào (trừ khidoanh nghiệp cố tình gian lận) che dấu lưu chuyển tiền tệ đối với nhân viênphân tích tín dụng Yêu cầu hàng đầu của phân tích tín dụng là đánh giá khảnăng và thiện chí hoàn trả tín dụng đối với người vay Mà trị giá tài chính củabất cứ doanh nghiệp hoặc tài sản nào cũng đều bắt nguồn từ dòng tiền tệ màngười ta mong đợi doanh nghiệp hoặc tài sản đó đem lại Khoản tiền vay sẽ chỉđược trả nợ từ tiền mặt chứ không phải từ các con số ghi sổ của doanh thu, hệ sốlợi nhuận hay lợi nhuận Cho nên ngân hàng trước hết quan tâm đến năng lựccủa doanh nghiệp trong việc làm ra tiền mặt

Khi đánh giá về dòng tiền của doanh nghiệp, người ta quan tâm đến các nộidung như tổng số lưu chuyển tiền mặt, khả năng trang trải lãi vay từ kết quả hoạtđộng kinh doanh, khả năng thanh toán lãi vay, nợ gốc từ nguồn tiền mặt, xuhướng lưu chuyển tiền tệ thuần trong quá khứ hay trạng thái lưu chuyển tiền từhoạt động sản xuất kinh doanh…

Tổng số lưu chuyển tiền mặt được phản ánh thông qua chỉ tiêu lợi nhuận hoạt động trước khấu hao (1)

Trang 20

Lợi nhuận hoạt động trước khấu hao = Lợi nhuận hoạt động + Khấu haoChỉ tiêu này dùng để đánh giá nguồn hình thành tiền mặt đảm bảo khả năngtrả nợ.

Khả năng trang trải lãi vay từ kết quả hoạt động kinh doanh (2)

Khả năng thanh toán nợ gốc từ nguồn tiền mặt (4)

(4) =

Xu hướng lưu chuyển tiền tệ thuần trong quá khứ (5) được xác định

dựa trên việc so sánh số liệu dòng tiền thuần của ít nhất 3 năm gần nhất; nếukhông có số liệu thì 2 năm Tuỳ theo mức trung bình ngành hoạt động mà ta cóngưỡng để dựa vào đó đánh giá xu hướng lưu chuyển tiền tệ thuần là tăng

nhanh, tăng, ổn định, giảm hay âm Ví dụ, xu hướng này được coi là tăng nhanh khi tăng liên tục với tỷ lệ tăng trên 30%, là tăng khi vẫn tăng liên tục nhưng

dưới 30% và là ổn định nếu mức dao động tăng hoặc giảm hàng năm trong vòng10% nhưng năm cuối tăng, xu hướng xấu nhất là khi giảm …Lưu chuyển tiềnthuần càng tăng nhanh là tốt nhất và âm là xấu nhất

Trạng thái lưu chuyển tiền từ hoạt động sản xuất kinh doanh (6) được

xác dựa vào việc so sánh dòng tiền thuần dương từ hoạt động sản xuất kinhdoanh với lợi nhuận hoạt động sản xuất kinh doanh, nếu dòng tiền thuần khôngdương thì trạng thái được xác định là âm hoặc gần điểm hoà vốn Trạng thái tốtnhất là dòng tiền lớn hơn lợi nhuận thuần, trạng thái xấu nhất là dòng tiền âm

Ngoài ra, một chỉ tiêu nữa cũng được quan tâm khi đánh giá dòng tiền của

doanh nghiệp là tỷ số giữa tiền và các khoản tương đương tiền/vốn chủ sở hữu

Chấm điểm tín dụng theo tiêu chí quản lý

Tiêu chí này đặc biệt có ý nghĩa với việc đánh giá khả năng trả nợ củadoanh nghiệp, theo nhận định của các chuyên gia thì tiêu chí này có mức độ ảnhhưởng mạnh đối với khả năng vỡ nợ của doanh nghiệp ngoài quốc doanh hơn làdoanh nghiệp Nhà nước Có thể giải thích về điều này như sau, ở các DNNN,

Trang 21

hoạt động quản lý điều hành được thực hiện trực tiếp bởi Tổng giám đốc, nhưng

có chỉ đạo từ xa của các cơ quan chức năng nên tính chủ động và linh hoạt trongquản lý không cao Ngược lại, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, như đã phântích ở trên, thường được quản lý theo kiểu gia đình, chủ doanh nghiệp chính làgiám đốc doanh nghiệp, nên yếu tố năng lực điều hành, đạo đức của giám đốc,ban quản lý quyết định trực tiếp đến sự thành công hoặc thất bại của doanhnghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanh, đến khả năng và thiện chí trả nợvay ngân hàng

Các nội dung đánh giá về quản lý của doanh nghiệp như số năm kinhnghiệm nói chung và kinh nghiệm trong ngành của Ban quản lý liên quan trựctiếp đến phương án kinh doanh cần ngân hàng tài trợ vốn; các bằng chứng thànhtích hay thất bại của ban quản lý; về môi trường kiểm soát nội bộ; tính khả thicủa Phương án kinh doanh và dự toán tài chính…

Ví dụ: Bảng chấm điểm Quản lý ngân hàng Đầu tư và Phát triển (phụ lục3)

Chấm điểm tín dụng theo tiêu chí tình hình và uy tín giao dịch với ngânhàng

Tình hình và uy tín trong giao dịch tín dụng và phi tín dụng đều cần đượcđánh giá Với giao dịch tín dụng, lịch sử vay vốn của doanh nghiệp tốt, trả nợđúng hạn trong một khoảng thời gian dài liên tục đến hiên tại khoảng từ ba nămtrở lên có thể là chứng minh cụ thể nhất cho năng lực kinh doanh và thiện chí trả

nợ của doanh nghiệp Một doanh nghiệp như vậy rất có khả năng thực hiệnphương án kinh doanh đề xuất vay vốn có hiệu quả, đảm bảo hoàn trả tín dụngđúng hạn cho ngân hàng Ngược lại, một doanh nghiệp thường xuyên xin giahạn nợ, trả nợ không đúng hạn hay không cung cấp thông tin đầy đủ và đúngyêu cầu của ngân hàng không phải là đối tượng tin cậy để cho vay Tuy nhiên,một doanh nghiệp luôn hoàn trả nợ đúng hạn với ngân hàng chưa hẳn đã đángtin cậy Trong điều kiện chia sẻ thông tin giữa các ngân hàng thương mại chưatốt thì việc kiểm tra các giao dịch phi tín dụng như theo dõi tài khoản của doanhnghiệp, việc lưu chuyển tiền của doanh nghiệp, cực kỳ có ý nghĩa

Trang 22

Ví dụ: Bảng chấm điểm uy tín giao dịch của VCB (phụ lục 4)

Chấm điểm tín dụng theo tiêu chí môi trường kinh doanh

Cần phải phân tích tiêu chí này vì: tình hình cạnh tranh của doanh nghiệptrên thị trường mạnh hay yếu đều ảnh hưởng đến thu nhập của doanh nghiệp,nên sẽ ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của ngân hàng

Vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp phải được phân tích không chỉ tronghiện tại mà còn phải xét cả trong tương lai

Sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp diễn ra trên cả hai phương diện giá cả

và chất lượng sản phẩm, phụ thuộc chủ yếu vào số lượng đối thủ cạnh tranh vàđặc điểm công nghệ, độc quyền hay không độc quyền…

Đánh giá các điều kiện kinh doanh của doanh nghiệp như cấu trúc, sốlượng nhà cung cấp nguyên vật liệu, hàng hoá cùng những thoả thuận về giá cả,chất lượng, sự ổn định, mạng lưới bán hàng, hệ thống sản xuất…Các điều kiệncho kinh doanh và chất lượng sản phẩm tốt hay không đều sẽ ảnh hưởng tới yếu

tố cạnh tranh, doanh thu, lợi nhuận… của doanh nghiệp và ảnh hưởng liên đớitới khả năng trả nợ vay ngân hàng của doanh nghiệp

Bước 6: Tổng hợp điểm cuối cùng và xếp hạng

Cán bộ chấm điểm tín dụng tổng hợp điểm bằng cách cộng tổng số điểm đãchấm theo hướng trên Sau khi tổng hợp điểm, Cán bộ chấm điểm tín dụng xếphạng khách hàng dựa vào quy đổi mức điểm ra hạng mức tín nhiệm

VD: Bảng quy đổi điểm ra hạng mức tín nhiệm của NHCTVN

Tổng điểm tín nhiệm

Bước 7: Trình phê duyệt kết quả

Sau khi hoàn tất việc chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng,CBCĐTD lập tờ trình đề nghị Tổng giám đốc phê duyệt Tờ trình phải đượctrưởng (phó) phòng phát triển kinh doanh và giám đốc/ phó giám đốc quản lý tín

Trang 23

dụng tại chi nhánh kiểm tra và ký trước khi trình Giám đốc Nội dung của tờtrình phải có những ý cơ bản sau:

- giới thiệu thông tin cơ bản về khách hàng

- Phương pháp/mô hình áp dụng để chấm điểm tín dụng

- Tài liệu làm căn cứ để chấm điểm tín dụng

- Nhận xét /đánh giá của CBCĐTD dẫn tới kết quả chấm điểm và xếphạng khách hàng

- Khi tờ trình được phê duyệt, kết quả chấm điểm tín dụng và xếp hạngkhách hàng phải được cập nhật ngay vào hệ thống thông tin tín dụng củangân hàng

- Trong mọi trường hợp, hồ sơ về khách hàng phải được lưu trữ một bảnBảng các tiêu chí cơ bản để đánh giá điểm tín dụng của khách hàng vàbảng Tỷ lệ tài chính chuẩn

1.2.3 Sự cần thiết phải chấm điểm tín dụng doanh nghiệp vay vốn

1.2.3.1 Chấm điểm tín dụng xác định hạng mức rủi ro của doanh nghiệp đi vay là cơ sở để quản trị rủi ro tín dụng.

Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, hoạt động tín dụng là nghiệp vụ chủyếu của hệ thống các ngân hàng thương mại Đối với hầu hết các ngân hàng thì

dư nợ tín dụng thường chiếm tới hơn 1/2 tổng tài sản có và thu nhập từ tín dụngchiếm khoảng từ 1/2 đến 2/3 tổng thu nhập của ngân hàng Song tín dụng cũng

là hoạt động chứa đựng rủi ro lớn nhất trong ngân hàng

Rủi ro tín dụng là hiện tượng ngân hàng không thu hồi được đầy đủ , đúng

hạn hoặc mất khả năng thu hồi các khoản cho vay đã ghi trong hợp đồng tíndụng, dẫn đến toàn bộ hoặc một phần gốc và lãi vay bị tổn thất

Hậu quả của rủi ro tín dụng:

Hoạt động tín dụng là hoạt động chiếm khoảng 80% sử dụng vốn, 70% thunhập Ngân hàng thu được Việc xảy ra rủi ro tín dụng sẽ dẫn đến những hậu quảsau:

♦ Làm cho thu nhập của ngân hàng giảm sút, giảm phần nộp ngân sách, hạnchế tích luỹ để đầu tư hiện đại hoá công nghệ và đầu tư đào tạo lại cán bộ,nâng cao trình độ Ngân hàng mất vốn phải khoanh nợ, giãn nợ, thậm chí

là phải xoá nợ, bởi vì ngoài một phần được ngân sách nhà nước cấp bù thì

Trang 24

phần chủ yếu do các ngân hàng phải trích lập phòng ngừa rủi ro, giảm thunhập.

♦ Hạn chế sức mạnh cạnh tranh do năng lực tài chính yếu kém, công nghệ

và trình độ hạn chế, uy tín với khách hàng giảm sút

♦ Thu nhập của ngân hàng giảm dẫn tới tỷ suất lợi tức và thị giá cổ phiếucủa ngân hàng giảm Việc cổ phiếu giảm giá nếu không kịp thời chấnchỉnh, sẽ có thể kéo theo việc bán hàng loạt cổ phiếu trên thị trường, làđiểm mở đầu của quá trình mua lại, sáp nhập hoặc thay thế ban quản lýngân hàng

Do hệ thống ngân hàng có vai trò đặc biệt với sự phát triển kinh tế xã hội,

và do rủi ro vỡ nợ của ngân hàng một khi đã xảy ra thường mang tính dâychuyền có thể gây đổ vỡ hệ thống tài chính của một quốc gia Những hậu quảnày đưa nền kinh tế vào tình trạng khó khăn: thất nghiệp gia tăng, đời sống dânchúng bị bần cùng, hoạt động kinh tế - xã hội bị rối loạn

Đo lường rủi ro tín dụng là điều mà tất cả những người quản lý ngân hàng

rất quan tâm, bởi vì nếu đo lường được các rủi ro thì việc quản trị và phòngngừa rủi ro trở nên dễ dàng hơn Mục tiêu của quản trị rủi ro tín dụng là nhằmhạn chế và giới hạn rủi ro ở mức nhất định, để đạt lợi nhuận tối đa và bảo vệ sự

ổn định của hệ thống ngân hàng Để đạt mục đích trên, ngân hàng phải xác địnhđược rủi ro hiện có và rủi ro tiềm ẩn trong hoạt động tín dụng Chấm điểm tíndụng là phương pháp đo lường tín dụng hiệu quả mà các ngân hàng trên thế giới

áp dụng từ hơn hai thập kỷ nay Mức điểm tín dụng mà doanh nghiệp đạt được

sẽ cho biết hạng mức rủi ro tín dụng của doanh nghiệp Việc tiến hành chấmđiểm tín dụng được duy trì định kỳ cho khách hàng trong suốt thời kỳ kháchhàng có quan hệ với ngân hàng Ảnh hưởng của chấm điểm tín dụng tới công tácquản trị rủi ro tín dụng được thể hiện qua các giai đoạn như sau:

- Giai đoạn trước khi cấp tín dụng

Khi doanh nghiệp đề nghị vay vốn, ngân hàng dựa trên nguồn thông tin thuthập được về doanh nghiệp, sử dụng bảng chấm điểm tín dụng tự động phân tíchcác yếu tố định lượng và định tính, để đo lường khả năng trả nợ và thiện chí trả

nợ của doanh nghiệp Số điểm mà doanh nghiệp đạt được là cơ sở để xác địnhhạng tín nhiệm các doanh nghiệp và kết quả này là một căn cứ quan trọng đểđưa ra quyết định cho vay hay từ chối cho vay Đồng thời dựa vào hạng mức để

Trang 25

áp dụng các chính sách tín dụng thích hợp Ví dụ, nếu doanh nghiệp ở mức rủi

ro tín dụng thấp thì ngân hàng áp dụng lãi suất cho vay ưu đãi, ký quỹ để mởL/C thấp; cho vay có thể không cần đảm bảo, áp dụng các điểu kiện trong hợpđồng tín dụng nới lỏng hơn Ngược lại, doanh nghiệp có mức rủi ro cao, Ngânhàng thấy khó kiểm soát được thì ngân hàng có thể không cho vay, hoặc cho vaynhưng phải thận trọng, đưa ra biện pháp giám sát thường xuyên chặt chẽ khoảnvay đó

Như vậy, kết quả chấm điểm tín dụng doanh nghiệp trước khi cấp tín dụng

là một trong các cơ sở để ngân hàng đưa ra quyết định tín dụng, định giá cáckhoản vay, áp dụng chính sách tín dụng thích hợp nhằm hạn chế rủi ro tín dụng

- Khi đang có quan hệ tín dụng, tái xét chấm điểm và xếp hạng tín dụng doanh nghiệp theo định kỳ.

Định kỳ 3 tháng, 6 tháng hoặc một năm ngân hàng tiến hành chấm điểm đểđánh giá khả năng trả nợ gốc và lãi của doanh nghiệp cho ngân hàng về cáckhoản đã cho vay, dựa trên nguồn thông tin thu thập được về doanh nghiệp đivay từ lúc phát tiền vay đến thời điểm tái xét xếp hạng nhằm đánh giá việc thựchiện các cam kết của doanh nghiệp trong hợp đồng tín dụng, chú trọng đếnnhững vi phạm hợp đồng, từ đó so sánh, đánh giá sự thay đổi rủi ro tín dụng sovới ban đầu Qua đó, có thể điều chỉnh mức hạng của doanh nghiệp Đồng thời,

là cơ sở để đưa ra giải pháp xử lý các khoản nợ có vấn đề, nhằm giảm thiểunguy cơ gây rủi ro tín dụng Nếu rủi ro tín dụng thay đổi theo chiều hướng tăng,ngân hàng có thể yêu cầu doanh nghiệp đi vay phải bổ sung vốn tự có hoặc tăngtài sản thế chấp, hoặc yêu cầu bảo lãnh, cũng có thể ngân hàng cùng doanhnghiệp tìm giải pháp để giải quyết khó khăn để tăng khả năng trả nợ

Như vậy, chấm điểm tín dụng đinh kỳ tái xét hạng rủi ro doanh nghiệp vayvốn để xem xét sự thay đổi rủi ro so với ban đầu, nhằm đưa ra biện pháp xử lýtổng hợp có hiệu quả, giảm nguy cơ rủi ro tín dụng Từ đó, tạo điều kiện tăngthu nhập cho ngân hàng, mở rộng và đa dạng hoá hình thức tài trợ… và điều nàyđặc biệt có ý nghĩa trong xu hướng đi vay tín chấp ngày càng gia tăng, giúpngân hàng lựa chọn những khách hàng tốt để cho vay Đó cũng là cơ sở đểdoanh nghiệp soi lại mình, vươn lên tốt hơn

Trang 26

- Khi doanh nghiệp không hoàn trả nợ đúng hạn

Việc chấm điểm tín dụng và xếp hạng doanh nghiệp không hoàn trả nợđúng hạn là cơ sở để xác định mức dự phòng tổn thất tín dụng hoặc đưa ra cácbiện pháp để giảm tổn thất cho ngân hàng

Tóm lại, chấm điểm tín dụng sẽ giúp ngân hàng quản lý tốt hơn rủi ro tíndụng

1.2.3.2 Chấm điểm tín dụng doanh nghiệp cung cấp chuỗi thông tin có hệ thống về quá khứ và hiện tại về doanh nghiệp làm cơ cở giúp các nhà quản trị ngân hàng đưa ra quyết định chính xác, kịp thời, có hiệu quả.

Trong nền kinh tế thị trường, sự cạnh tranh giữa các ngân hàng ngày cànggay gắt, yêu cầu các quyết định tín dụng phải vừa nhanh vừa ít rủi ro, đem lạihiệu quả tối ưu Nếu không ngân hàng dễ mất đi cơ hội tăng thu nhập và mởrộng quy mô tín dụng do khách hàng sẽ tìm đến với ngân hàng khác hoặc tìmnguồn tài trợ ngoài ngân hàng

Muốn có quyết định nhanh và chính xác, ngân hàng phải dự đoán tương đốichính xác về khả năng và thiện chí trả nợ của doanh nghiệp Điều này phụ thuộcvào yếu tố quan trọng là hệ thống thông tin về doanh nghiệp trong quá khứ vàhiện tại được thu thập chính xác, đầy đủ và kịp thời đến mức độ nào, xử lý thôngtin nhanh hay chậm? Vì thực tế cho thấy, việc kinh doanh của các doanh nghiệpkhó có thể thất bại qua một đêm, mà bao giờ cũng có dấu hiệu báo trước Có dấuhiệu có thể mờ nhạt, có dấu hiệu biểu hiện rõ ràng Yêu cầu đặt ra là ngân hàngphải có hệ thống thông tin đáng tin cậy, để có thể nhận biết được các dấu hiệu

đó qua một quá trình, chứ không phải là tại một thời điểm và kết quả xếp hạngtín nhiệm doanh nghiệp vay vốn qua một chuỗi thời gian sẽ đáp ứng đáng kể yêucầu trên

Trang 27

7 yếu tố chính của một quy trình tín dụng lý tưởng

Để thấy hiệu quả của hệ thống thông tin tốt hơn nhờ tiến hành chấm điểmtín dụng, ta sử dụng một mô hình trong đó diễn tả cách thức mà những hệ thốngTTTD sử dụng hiệu ứng chặn để thu hẹp phạm vi lựa chọn người vay cũng như

để giải quyết những vấn đề về rủi ro đạo đức

Bảng 1 Số liệu phân tích chứng minh tác động chặn TTTD

Mức độ chấp nhận

Khoản vay

Tỷ lệ quá hạnTTTD đầy đủ TTTD không đầy đủ

(nguồn: thử nghiệm Guatemalan của các chuyên gia Hoa Kỳ, tài liệu hội thảo

đổi mới hoạt động tín dụng VCB – 8/2004)

Với việc cho phép 60% khoản vay được chấp nhận, khi sử dụng TTTDkhông đầy đủ sẽ phát sinh tỷ lệ nợ quá hạn là 3.35% so với 1.90% khi sử dụngTTTD đầy đủ

Nói cách khác, tỷ lệ nợ quá hạn khi sử dụng TTTD không đầy đủ cao hơn76.3% khi sử dụng TTTD đầy đủ

Bảng 2 Số liệu phân tích chứng minh tác động đẩy TTTD

Tiếp

thị

Khởi đầu

QH tín dụng

Thẩm định tín dụng

Hoạt động nội bộ

Dịch

vụ khách hàng

Giám sát rủi ro

Bán chéo

Thông tin phân loại xếp hạng tín dụng khách hàng

Trang 28

Tỷ lệ nợ quá hạn TTTD đầy đủTỷ lệ chấp nhận khoản vayTTTD không đầy đủ

(nguồn: thử nghiệm Guatemalan của các chuyên gia Hoa Kỳ, tài liệu hội thảo

đổi mới hoạt động tín dụng VCB – 8/2004)

Với việc chọn tỷ lệ nợ quá hạn là 4%, khi sử dụng TTTD đầy đủ bạn sẽchấp nhận được tỷ lệ 83.20% các khoản xin vay, trong khi đó bạn sẽ chỉ chấpnhận được 73.70% các khoản vay nếu bạn sử dụng TTTD không đầy đủ

Như vậy, nếu có 100 000 khoản xin vay bạn sẽ từ chối 11 000 khoản xinvay một cách lãng phí (không phát sinh nợ quá hạn) nếu bạn sử dụng TTTDkhông đầy đủ

Mô hình này đã chứng minh, với hiệu ứng chặn, nó giúp ngăn chặn nhữngkhách hàng xấu trong việc tiếp cận tín dụng ngân hàng và hiệu ứng đẩy thìngược lại, nó giúp các khách hàng tốt có nhiều cơ hội tiếp cận với nguồn vốnngân hàng, với mức lãi suất thấp hơn (do giảm chi phí điều tra thông tin) Đặcbiệt, nó hỗ trợ đắc lực cho việc phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, loại hìnhchiếm trọng lớn và có vai trò quan trọng đối với các nước đang phát triển Ngoài

ra, nó còn có tác dụng tích cực trong việc chuyển đổi cơ cấu người vay từ khuvực không chính thức sang khu vực chính thức

Bên cạnh đó, chấm điểm tín dụng là cơ sở để ngân hàng xây dựng danhmục khách hàng, chính sách khách hàng và chính sách tín dụng thích hợp

1.2.3.4 Xây dựng danh mục khách hàng và chính sách khách hàng

Trên cơ sở kết quả chấm điểm tín dụng và xếp hạng doanh nghiệp, ngânhàng xây dựng chính sách khách hàng như: chính sách về lãi suất, hạn mức tíndụng, thời hạn cấp tín dụng…

Đối với những doanh nghiệp có mức điểm cao, tức là độ an toàn cao, ngânhàng sẽ áp dụng chính sách ưu đãi: cho vay với lãi suât thấp, số lưọng cho vaynhiều hơn, điều kiện cho vay được nới lỏng Ngược lại, đối với những doanhnghiệp độ tín nhiệm thấp, cũng đồng nghĩa với những khoản cấp tín dụng hàmchứa nhiều rủi ro, ngân hàng sẽ áp dụng chính sách cho vay và biện pháp kiểmsoát chặt chẽ hơn, nhằm hạn chế khả năng rủi ro xảy ra

Trang 29

1.2.3.5 Xây dựng chính sách tín dụng

Dựa trên cơ sở điểm tín nhiệm tín dụng của doanh nghiệp vay vốn, và danhmục khách hàng, chính sách khách hàng, ngân hàng xây dựng chính sách tíndụng, áp dụng các kỹ thuật cho vay phù hợp đối với mỗi loại khách hàng như:Đối với khách hàng có độ tín nhiệm thấp, ngân hàng sẽ áp dụng kỹ thuật cấp tíndụng có đảm bảo Ngược lại, những khách hàng có độ tín nhiệm cao, ngân hàng

áp dụng kỹ thuật cấp tín dụng không đảm bảo (cho vay tín chấp) Ví dụ như tạiViệt Nam, trong những năm 90, các ngân hàng chỉ được phép cho vay có đảmbảo trừ với các doanh nghiệp nhà nước kinh doanh có hiệu quả và cho vay hộnông dân dưới 5 triệu đồng Đến nay, nghị định 178/1999/NĐ – CP ngày22/12/1999 về đảm bảo tiền vay của các tổ chức tín dụng quy định, việc cho vaykhông đảm bảo được mở rộng hơn, các tổ chức tín dụng được lựa chọn kháchhàng để cho vay không đảm bảo Khi cho vay ngắn hạn, trung và dài hạn đểthực hiện các dự án đầu tư phát triển, hoặc phương án sản xuất kinh doanh, dịch

vụ đời sống Tuy nhiên, khách hàng vay không đảm bảo phải hội đủ một số điềunhất định, trong đó có điều kiện là: doanh nghiệp phải có tín nhiệm với tổ chứccho vay trong việc sử dụng vốn vay và trả nợ đầy đủ, đúng hạn cả gốc và lãi,phải có khả năng tài chính để thực hiện nghĩa vụ trả nợ…

1.2.3.6 Chấm điểm tín dụng doanh nghiệp vay vốn giúp góp phần thực hiện nguyên tắc cho vay của ngân hàng.

Khi cấp tín dụng, ngân hàng thương mại phải yêu cầu doanh nghiệp thựchiện nguyên tắc cho vay Theo quyết định số 284/2000/QĐ – NHNN về việc banhành quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng như sau:

- Sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng

- Hoàn trả nợ gốc và lãi đúng hạn đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng

- Việc đảm bảo tiền vay thực hiện theo quyết định của chính phủ và củathống đốc ngân hàng nhà nước

Các nguyên tắc cho vay được thể hiện cụ thể trong hợp đồng tín dụng Việcchấm điểm tín dụng như đã phân tích ở trên, được tiến hành trước khi cấp tíndụng (tức là trước khi hợp đồng tín dụng được thiết lập) và việc tái xét xếp hạngđược tiến hành theo định kỳ (tức là sau hợp đồng tín dụng đã được ký kết), dựatrên cơ sở phân tích khả năng và thiện chí trả nợ khách hàng với mục đích hạnchế rủi ro Đây là biện pháp phòng bệnh nhằm thực hiện tốt các nguyên tắc cho

Trang 30

vay của ngân hàng đặc biệt là nguyên tắc: Hoàn trả nợ gốc và lãi đúng hạn thoảthuận trong hợp đồng tín dụng.

Kết luận mục 1.2.3.

Chấm điểm tín dụng là phương pháp đo lường rủi ro tín dụng tiến tiến, vớinhững hiệu quả cụ thể chứng tỏ sự cần thiết nên áp dụng phương pháp chấm

điểm tín dụng như:

 Giảm chi phí & tiết kiệm thời gian quyết định cho vay

 Cấp được nhiều khoản vay hơn

 Kiểm soát rủi ro có hiệu quả

 Thu hẹp những chênh lệch có yếu tố con người khi quyết định cho vay

 Tập trung thời gian vào việc thẩm định các khoản vay lớn và giải quyếtnhững khoản vay có vấn đề

Phương pháp này đã được nhiều ngân hàng trên thế giới và các ngân hànghàng đầu Việt Nam đã áp dụng nhằm:

 Nâng cao chất lượng, rút ngắn thời gian thẩm định

 Chủ động trong quản lý khách hàng: định kỳ đánh giá, áp dụng các biệnpháp thích hợp trong quá trình cho vay

 Cơ sở để xây dựng chính sách khách hàng ( ví dụ giá cả, )

 Chuẩn hoá việc thu thập và quản lý thông tin khách hàng

1.2.4 Ứng dụng kết quả chấm điểm tín dụng.

Có thể ứng dụng ngay

 Ra quyết định tín dụng (cấp hay không cấp, giới hạn, lãi suất…)

Như đã nói ở trên, mấu chốt của việc chấm điểm tín dụng là quy việc đánhgiá khoản vay từ nhiều yếu tố về duy nhất một yếu tố là điểm tín dụng hoặchạng tín nhiệm Nên ứng dụng hàng đầu của kết quả chấm điểm tín dụng là phục

vụ cho việc ra quyết định cấp tín dụng và giám sát khoản vay

Ví dụ, khách hàng có hạng tín nhiệm cao nhất (AA+) được ưu tiên đáp ứngtối đa nhu cầu tín dụng và mức ưu đãi về lãi suất, phí, thời hạn và biện pháp đảmbảo tiền vay

 Hoàn thiện chính sách tín dụng

Gợi ý về ứng dụng trong tương lai

Thang điểm tín dụng tạo điều kiện dễ dàng cho việc chứng khoán hoá cáckhoản vay dựa trên đặc tính chung về rủi ro Có thể thấy tiềm lực của việc chứngkhoán hoá những khoản vay của DNVVN trên thị trường thế chấp thứ cấp khi

Trang 31

nhìn vào các thị trường chứng khoán phát triển như Mỹ, nơi mà thang điểm củaFair, isaac “trở thành ngôn ngữ chung của thị trường những thế chấp lớn của phốWall”

Công nghệ internet cho phép làm điều này: một công ty đánh giá yêu cầuvay của một doanh nghiệp nhỏ khác về tín dụng thương mại có thể mua thôngtin đánh giá rủi ro tín dụng trực tuyến trong vòng một phút Những nhà cho vaytruyền thống tham gia bằng cách cung cấp thông tin dịch vụ này trên nhữngtrang Web được xây dựng đăc biệt cho các DNVVN, khách hàng của họ có thểdùng dịch vụ này để giảm tổn thất từ những việc trao đổi nợ xấu

Tóm lại, những ứng dụng trong tương lai, khi các điều kiện kinh tế nói

chung, điều kiện thị trường tài chính nói riêng phát triển là:

 Dựa trên thang điểm với những đặc tính chung về rủi ro có thể chứngkhoán hoá những khoản vay

 Bán thông tin đánh giá rủi ro tín dụng cho doanh nghiệp cho vay thươngmại

1.2.5 Nhân tố ảnh hưởng và điều kiện áp dụng phương pháp chấm điểm tín dụng

1.2.5.1 Nhân tố ảnh hưởng

Những nhân tố ảnh hưởng tới xếp hạng tín nhiệm các doanh nghiệp vayvốn tại ngân hàng thương mại như hệ thống chỉ tiêu chuyên gia để tham khảo,chất lượng báo cáo tài chính của doanh nghiệp khách hàng, tinh thần tráchnhiệm của cán bộ chấm điểm…

1.2.5.2 Điều kiện áp dụng

Để có thể áp dụng phương pháp chấm điểm tín dụng, ngân hàng phải đảmbảo được những điều kiện sau:

 Nội dung hệ thống chấm điểm tín dụng:

Hệ thống chấm điểm tín dụng nhằm đánh giá khả năng sinh lời, khả năngthanh toán,… nên cần được xây dựng hoàn chỉnh hoàn chỉnh trên cơ sở dữ liệuphong phú, đảm bảo dự báo tốt xác suất rủi ro tín dụng

 Thông tin chẩm điểm tín dụng:

Thông tin là nguyên liệu đầu vào cung cấp cho quá trình chấm điểm tíndụng, nên chất lượng thông tin ảnh hưởng trực tiếp tới kết quả xếp hạng tín

Trang 32

dụng Thông tin phục vụ cho chấm điểm tín dụng cần đáp ứng được các yêu cầusau:

- Số lượng: thu thập đầy đủ thông tin cần thiết phản ánh toàn diện mọi mặt

 Cơ sở vật chất kỹ thuật:

Hệ thống chấm điểm tín dụng bao gồm rất nhiều chỉ tiêu cần chấm điểm:các chỉ tiêu tài chính, các chỉ tiêu phi tài chính Vì vậy, để đảm bảo tính chínhxác của kết quả, tránh sai sót trong tính toán thủ công cũng như rút ngắn thờigian, giảm khối lượng công việc cho cán bộ tín dụng thì rất cần có một cơ sở vậtchất kỹ thuật hiện đại Một hệ thống phần mềm tin học chấm điểm tự động sẽ làđiều kiện đảm bảo thực hiện tốt chấm điểm tín dụng

 Đội ngũ cán bộ:

Vì chấm điểm tín dụng là một công việc phức tạp, đòi hỏi khả năng tổnghợp từ những thông tin về doanh nghiệp đến những thông tin mang tính vĩ mônhư thông tin về ngành, lĩnh vực, khu vực hay cả nền kinh tế Để xử lý chínhxác các thông tin này thì cần các cán bộ tín dụng có trình độ thu thập, xử lýthông tin - đặc biệt là các thông tin mang tính định tính- và sử dụng thành thạocông nghệ hiện đại Nguồn nhân lực là yếu tố then chốt trong các công tác, côngtác chấm điểm tín dụng cũng không là ngoại lệ

Kết luận chương I

Việc áp dụng phương pháp chấm điểm tín dụng tạo ra thay đổi bước ngoặt

so với quy trình tín dụng thông thường, sẽ giúp nâng cao chất lượng tín dụng do

có tác động tích cực vào hàng loạt các nhân tố ảnh hưởng như chính sách tíndụng, hệ thống thông tin, …giúp giảm chi phí, thời gian xét duyệt cấp tín dụng,tăng các khoản tín dụng tốt, giảm các khoản tín dụng xấu, và giúp ngân hàng cóthể xác định chính xác khách hàng mục tiêu để phục vụ tốt nhất Điều này đặcbiệt hữu ích trong việc giải quyết các vấn đề mà các ngân hàng gặp phải khi chovay DNVVN

Trang 33

Chương 2 Thực trạng hoạt động chấm điểm tín dụng cá nhân và nhu cầu phát triển chấm điểm tín dụng doanh nghiệp vừa và

nhỏ tại Ngân hàng TMCP Nhà Hà Nội

2.1 Khái quát về Ngân hàng TMCP Nhà Hà Nội (Habubank) và các Doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn.

2.1.1 Khái quát về Ngân hàng TMCP Nhà Hà Nội

2.1.1.1 Sự hình thành và phát triển

Habubank là ngân hàng thương mại cổ phần đầu tiên ở Việt Nam, thành lập

từ năm 1989, với mục tiêu ban đầu là hoạt động tín dụng và dịch vụ trong lĩchvực phát triển nhà Tiền thân, Habubank là kết quả góp vốn của Ngân hàng Đầu

tư và Phát triển Việt nam với các cổ đông bao gồm Uỷ ban Nhân dân Thành phố

Hà nội và một số doanh nghiệp quốc doanh hoạt động trong lĩnh vực xây dựng,quản lý nhà và du lịch Số vốn điều lệ đầu tiên là 5 tỷ đồng VN, được phép kinhdoanh các sản phẩm và dịch vụ ngân hàng trong 99 năm

Tháng 10 năm 1992 Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt nam cho phépNgân hàng thực hiện thêm một số hoạt động kinh doanh ngoại tệ: tiền gửi, tiếtkiệm, vay và tiếp nhận, cho vay, mua bán kiều hối, thanh toán ngoại tệ trongphạm vi lãnh thổ Việt nam

Năm 1995 đánh dấu một bước ngoặt đáng chú ý của Habubank với chiếnlược kinh doanh chuyển sang, ngoài việc thực hiện các hoạt động hỗ trợ và pháttriển nhà, chú trọng mở rộng các hoạt động thương mại nhằm vào các đối tượngkhách hàng là doanh nghiệp nhỏ và vừa, các cá nhân và các tổ chức tài chínhkhác Thêm vào đó cơ cấu cổ đông đã mở rộng một cách rõ rệt với nhiều cánhân và doanh nghiệp tư nhân lẫn quốc doanh tham gia đầu tư đóng góp pháttriển

Tới nay, qua hơn 17 năm hoạt động, Habubank đã có số vốn điều lệ là 600

tỷ đồng, mạng lưới ngày càng mở rộng, 7 năm liên tục được Ngân hàng Nhànước Việt Nam xếp loại A và được công nhận là Ngân hàng phát triển toàn diệnvới hoạt động ổn định, an toàn và hiệu quả Habubank đã luôn giữ vững niềm tincủa khách hàng bằng chất lượng của sản phẩm dịch vụ và phong cách nhiệt tình,chuyên nghiệp của tất cả các nhân viên

Trang 34

Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Habubank

BAN ĐIỀU HÀNH

Chi nhánh cấp I Habubank Hàm Long

Trang 35

2.1.1.2 Cơ cấu tổ chức và quản lý rủi ro

Habubank hiện có mô hình cơ cấu tổ chức ít tầng báo cáo nhằm giảm thiểutính quan liêu trong hệ thống cũng như để nâng cao tính năng động của tổ chức.Ðặc tính nổi bật của mô hình Habubank là các đơn vị kinh doanh được cơ cấutập trung vào lợi nhuận, kiểm soát rủi ro và phân định trách nhiệm rõ ràng Hiệntại Habubank có Hội sở và 12 chi nhánh & Phòng giao dịch, kinh doanh nhiềuloại hình ngân hàng như dịch vụ ngân hàng doanh nghiệp (kể cả tài trợ thươngmại quốc tế, ngoại hối, quản lý tiền khách hàng), dịch vụ ngân hàng cá nhân (kể

cả huy động, cho vay tiêu dùng, mua nhà) và các hoạt động đầu tư

Rủi ro là một phần gắn liền với mọi hoạt động kinh doanh ngân hàng Kiểmtra và quản lý rủi ro sao cho cân bằng được mối quan hệ rủi ro - lợi nhuận đòihỏi tiên quyết phải có một cơ cấu tổ chức phù hợp và phải có chính sách nhấtquán trong toàn hệ thống Nhận thức được vấn đề này, nên cơ cấu của Habubankđược tổ chức theo định hướng “phù hợp với chiến lược phát triển do HĐQT đề

ra và liên quan chặt chẽ đến quản lý rủi ro” Đồng thời tính linh hoạt và giảmthiểu quan liêu cũng luôn được đề cao nhằm dễ thích ứng và dễ thay đổi khi môitrường kinh doanh biến chuyển

Công tác quản lý rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản của Habubank đềunhất quán nguyên tắc: tránh rủi ro tập trung Thể hiện trong quản trị rủi ro thanhkhoản và thị trường, Ngân hàng mong muốn tăng trưởng huy động nhưng cũngkhá chú ý để tránh tập trung huy động từ một nhóm khách hàng thuần nhất, tiềmtàng rủi ro về thanh khoản cho ngân hàng Việc phát triển sản phẩm dịch vụmới, mở rộng mạng lưới hoạt động không chỉ nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu củakhách hàng mà còn nhằm đa dạng hoá huy động từ nguồn khách hàng đa dạng

về độ trưởng thành, địa lý và lối sống

Thể hiện trong quản trị rủi ro tín dụng và rủi ro hoạt động, mục tiêu chínhcủa mảng quản lý rủi ro hoạt động mà Habubank hướng tới trong năm 2004 làcủng cố bộ máy Kiểm toán nội bộ Bộ phận này đã được tái cơ cấu và đầu tưchiều sâu về nhân lực để tương xứng với vai trò mới phức tạp hơn Trước năm

2004, Kiểm toán nội bộ có trách nhiệm đảm bảo việc tuân thủ mọi quy định, quytắc, quy trình liên quan đến quản lý rủi ro tín dụng Từ năm 2004, bộ phận nàythực hiện thêm việc hỗ trợ các Uỷ ban Chính sách tín dụng, quản lý tài sản nợ có

và Ban điều hành để có thể sâu sát hơn mức độ rủi ro Ngân hàng có thể gặp theotừng thời kỳ, để cập nhật và ban hành kịp thời các chính sách thay đổi, bổ sung

Trang 36

quản lý các mảng còn bỏ sót Bộ phận Kiểm toán nội bộ tiến hành kiểm tra chitiết các hoạt động nghiệp vụ, kiểm tra quy trình nghiệp vụ, chiến lược của ngânhàng gắn với hoạt động nghiệp vụ đó, luồng công việc thực tế của cán bộ nghiệp

vụ, đối chiếu quy trình, phát hiện thiếu sót và bất tuân thủ, tìm hiều nguyên nhân

và đưa ra khuyến nghị hợp lý, cần hay không bổ sung hoặc thay đổi chính sách,quy định Đây là một thay đổi mang tính cơ bản từ cách hiểu thông thường, biểuhiện việc chấp thuận một vai trò quan trọng và rộng hơn nhiều của bộ máy kiểmtoán của Ngân hàng để có thể quản lý rủi ro hiệu quả hơn

Sơ đồ cơ cấu quản lý rủi ro của Habubank

BAN ĐIỀU

HÀNH

ỦY BAN QUẢN

LÝ TÀI SẢN (ALCO)

ỦY BAN CHÍNH SÁCH TÍN

DỤNG (CPC)

TỔNG GIÁM ĐỐC

điều hành

rủi ro thị trường & thanh

toán

rủi ro tín dụng

rủi ro hoạt động

Phó tổng giám đốc giám đốcPhó tổng

Phó tổng giám đốc

kiểm tra và xét duyệt tín dụng

Cung ứng dịch vụ (giao dịch)

HỖ TRỢ QUẢN LÝ VÀ KIỂM TRA KIỂM SOÁT NỘI BỘ

Trang 37

2.1.1.3 Kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TMCP Nhà Hà Nội giai đoạn 2001 – 2005

(Nguồn: báo cáo thường niên Ngân hàng TMCP Nhà Hà Nội năm 2002, 2004)

Tổng nguồn vốn huy động đến 31/12/2004 đạt 3.397.386 triệu đồng, tăng36,6% so với năm 2003, đạt 108,6% chỉ tiêu kế hoạch được giao Trong năm

2005, nguồn vốn huy động tiền gửi thanh toán đạt 560.840 triệu đồng (chiếm9% so với tổng nguồn vốn), tăng 200.313 triệu đồng (tăng 55,56% so với năm2004); nguồn vốn huy động tiết kiệm đạt 2.804.200 triệu đồng (chiếm 45% sovới tổng nguồn vốn) tăng 995.196 triệu đồng (tăng 55% so với năm 2004) Nhìnchung nguồn vốn huy động tại Ngân hàng TMCP Nhà Hà Nội đã tăng cườnghuy động nguồn vốn trung hạn ngoại tệ từ 24 tháng đến 60 tháng để đầu tư chovay các dự án Đến 31/12/2005, đã huy động được 12 triệu USD kỳ hạn từ 24tháng trở lên và huy động tiết kiệm được 1,5 triệu EUR

Để đạt được kết quả trên, Ngân hàng TMCP Nhà Hà Nội đã áp dụng nhiềubiện pháp để tăng nguồn huy động như: triển khai tốt các đợt huy động kỳ phiếungoại tệ trung và dài hạn với nhiều hình thức thích hợp; trong năm kỳ phiếungoại tệ trung và dài hạn với nhiều hình thức thích hợp; trong năm 2005 đã 5 lầnđiều chỉnh lãi suất huy động phù hợp với diễn biến thị trường; tăng cường côngtác quảng cáo, khuyếch trương về sản các sản phẩm huy động vốn của Ngânhàng; tổ chức kéo dài thời gian giao dịch hàng ngày đến 18h và làm việc ngàythứ 7 để huy động tiền gửi tiết kiệm; triển khai thực hiện đề án nối mạng thanhtoán điện tử với quỹ hỗ trợ phát triển, nâng cấp các chương trình nối mạng thanhtoán; mở rộng thêm mạng lưới giao dịch tại những nơi có môi trường kinhdoanh thuận lợi, như mở mới chi nhánh Vạn Phúc và phòng giao dịch Thể Giao

Trang 38

Về hoạt động cho vay

Bảng 4 Tình hình cho vay của Ngân hàng TMCP Nhà Hà Nội giai đoạn

(Nguồn: báo cáo thường niên Ngân hàng TMCP Nhà Hà Nội năm 2002, 2004)

Nhìn vào bảng tình hình cho vay và thu nợ của Ngân hàng TMCP Nhà HàNội ta thấy, nhìn chung hoạt động cho vay và thu nợ của ngân hàng tiến triểntốt; doanh số cho vay, doanh số thu hồi nợ và dư nợ tín dụng tăng trưởng liêntục và khá đều đặn, cụ thể:

Về doanh số cho vay: năm 2004 đạt 2.027.566 triệu đồng, tăng 376.306triệu đồng (tăng 22,12% so với năm 2003); sang đến năm 2005 doanh số chovay đạt 3.256.016 triệu đồng tăng 1.228.450 triệu đồng (tăng 60.4% so với năm2004) Về doanh số thu nợ, năm 2004 đạt 1.420.614 triệu đồng, tăng 195.180triệu đồng (tăng 15.93% so với năm 2003); đến năm 2005 doanh số thu nợ đạt1.667.359 triệu đồng, tăng 246.745 triệu đồng (tăng 17,37% so với năm 2004)

Dư nợ tín dụng đến 31/12/2004 đạt 1.510.408 triệu đồng, tăng 434.826triệu đồng (tăng 40,43% so với 31/12/2003); đến 31/12/2005 dư nợ đạt2.156.863 triệu đồng, tăng 646.455 triệu đồng tương ứng với mức tăng tươngđối là 42,8% so với 31/12/2004

Kết quả của việc tăng doanh số cho vay và dư nợ như trên có được là nhờNgân hàng có những sự đầu tư và phát triển về quy mô, cụ thể là trong ba năm

từ 2002 đến 2005, Ngân hàng đã xin cấp phép mở thêm một số chi nhánh vàphòng giao dịch tại các tỉnh như: Hà Nội, Tp Hồ Chí Minh, Quảng Ninh, nhờ đó

mở rộng được mạng lưới kinh doanh, đa dạng hoá đối tượng khách hàng

Tuy nhiên, số liệu cũng cho thấy một thực tế đáng phải lưu tâm là tình hình

nợ quá hạn của Ngân hàng TMCP Nhà Hà Nội có chiều hướng gia tăng qua cácnăm (tuy mức tăng không lớn) Nếu như trong năm 2001, tỷ lệ nợ quá hạn củangân hàng dưới 1% thì ở năm 2002 tỷ lệ nợ quá hạn tăng lên 1,27% và trong banăm sau đó tỷ lệ này đã là trên 1,3% Điều này chứng tỏ rằng tốc độ tăng của dư

nợ quá hạn nhanh hơn so với tốc độ tăng của tổng dư nợ Nguyên nhân chính

Trang 39

dẫn đến thực trạng trên là do giai đoạn này mạng lưới chi nhánh (quy mô) củaNgân hàng phát triển nhanh kéo theo sự tăng trưởng dư nợ, trong khi đó Ngânhàng chưa có sự cải tiến kịp thời trong khâu quản lý, quy trình và quy chế tíndụng chưa có sự thay đổi tương ứng.

Trong năm 2005, toàn bộ hệ thống Ngân hàng TMCP Nhà Hà Nội đã thựchiện trích lập dự phòng và xử lý rủi ro đúng quy định của Ngân hàng Nhà nước:

đã trích dự phòng và xử lý rủi ro 12.215 triệu đồng, đã xử lý rủi ro 8.108 triệuđồng và 23.000 USD Đồng thời Ngân hàng cũng nỗ lực triển khai chỉ đạo thuhồi nợ, kết quả là năm 2005 đã thu hồi được 2.189 triệu đồng nợ đã xử lý rủi ro

Hoạt động mua bán ngoại tệ

Được giao nhiệm vụ là đầu mối duy nhất trong thanh toán và kinh doanhngoại tệ, Phòng nguồn vốn và Kinh doanh ngoại tệ đã thực hiện tốt vai trò củamình, vừa đảm bảo đáp ứng nhu cầu ngoại tệ của Ngân hàng vừa kinh doanhngoại tệ có hiệu quả

Doanh số mua bán ngoại tệ (quy đổi về USD) năm 2005 đạt 1.302 triệuUSD Trong đó doanh số mua là 651 triệu đô, tăng 163,8 triệu đô (33%) so vớinăm 2004 Doanh số bán là 651 triệu đô, tăng 161 triệu đô (32,8%) so với năm2003

Trong điều kiện ngoại tệ khan hiếm, nguồn ngoại tệ của Ngân hàng TMCPNhà Hà Nội chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ so với nhu cầu ngoại tệ để nhập khẩu và tỷgiá USD tăng mạnh liên tục từ đầu quý II/2004, NHNN chủ yếu đáp ứng ngoại

tệ cho xăng dầu, hạn chế bán hỗ trợ các mặt hàng khác, Ngân hàng đã chủ độngkhai thác nguồn ngoại tệ trên thị trường liên ngân hàng dưới hình thức mua cácloại ngoại tệ khác bằng đồng Việt Nam (chủ yếu là EUR) và bán lại để lấy USDbán đồng thời đáp ứng nhu cầu của chính Ngân hàng Kết quả mua bán ngoại tệ

về cơ bản đã phục vụ được nhu cầu thanh toán của toàn hệ thống Ngân hàngTMCP Nhà Hà Nội

Nghiệp vụ mua bán ngoại tệ mạnh (bước đầu mới tập trung chủ yếu muabán ba loại ngoại tệ mạnh là EUR, GBP, JPY) thực hiện thường xuyên hơn, đãthu được một số kết quả nhất định như khai thác được ngoại tệ phục vụ nhu cầukhách hàng và chi nhánh Doanh số mua bán bình quân tháng khoảng 200 triệuEUR, 150 triệu GBP, 10 tỷ JPY Tuy nhiên, từ tháng 6/2004 do diến biến thịtrường ngoại tệ liên ngân hàng phức tạp, kinh nghiệm xử lý nghiệp vụ còn ít nên

đã hạn chế kết quả kinh doanh của Ngân hàng

Trang 40

Hoạt động thanh toán quốc tế

Ngân hàng TMCP Nhà Hà Nội đã chấp hành tốt các quy trình nghiệp vụtrong thanh toán quốc tế, không dễ xảy ra các sai sót, rủi ro trong thanh toán.Doanh số thanh toán hàng nhập khẩu năm 2004 đạt 105 triệu USD, tăng1,8% so với năm 2002 Doanh số năm 2005 đạt 99 triệu USD so với năm 2003,thanh toán nhờ thu 35 món, trị giá 1,6 triệu USD giảm 0,4 triệu so với năm2003

Năm 2005 thực hiện mở thư tín dụng 394 món, trị giá 52,3 triệu USD, giảm6,7 triệu so với năm 2004; chuyển tiền thanh toán đạt 872 món, trị giá 45 triệuUSD, tăng về số lượng giao dịch 202 món, tăng 0,8 triệu USD so với cùng kỳnăm 2004

Doanh số thanh toán hàng xuất khẩu năm 2004 đạt giá trị 946 ngàn USDtăng 46 ngàn USD (5,1%) so với năm 2003 Đến năm 2005 doanh số thanh toánhàng xuất khẩu đạt 2,8 triệu USD, tăng 1,854 triệu USD, tốc độ tăng trưởng đạt70% so với năm 2004

Nhìn chung hoạt động thanh toán quốc tế năm 2004 có sự tăng trưởng sovới năm 2003, nhưng tốc độ tăng trưởng còn chậm Sang đến năm 2005 hoạtđộng này đã có sự tăng trưởng tương đối tốt về số lượng khách hàng giao dịch(tăng thêm 13 khách), tuy vậy về giá trị thanh toán nhập khẩu lại giảm so vớinăm 2004 là do một số khách hàng có doanh số hoạt động lớn giảm như công tyHoà Bình, Công ty Xuất nhập khẩu TNT,…

Công tác kế toán ngân quỹ

Từ năm 2003 Ngân hàng đã tham gia chương trình thanh toán điện tử,thanh toán điện tử liên ngân hàng nhằm đẩy nhanh tốc độ thanh toán và xử lýkhối lượng giao dịch lớn

Ngân hàng TMCP Nhà Hà Nội đã ứng dụng tốt công nghệ tin học vào côngtác kế toán góp phần đảm bảo thanh toán nhanh chóng, chính xác Phối hợp tốtvới trung tâm thanh toán, trung tâm công nghệ thông tin để thực hiện chưongtrình nối mạng thanh toán điện tử trực tiếp với các ngân hàng bạn

Kết quả công tác ngân quỹ năm 2005:

- Tổng thu tiền mặt: 1417 tỷ đồng và 522 triệu USD

- Tổng chi tiền mặt: 1411 tỷ đồng và 522 triệu USD

- Trong năm đã trả tiền thừa cho khách hàng 28 món trị giá 19 triệuđồng, tiền thừa ngoại tệ được trả lại là 6,3 ngàn USD và 50 EUR

Ngày đăng: 19/02/2014, 11:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Công Nghiệp, Lê Phúc Tiến, 1999, Xếp hạng tín nhiệm – Nguyên lý và thực tiễn, NXB Tài Chính Khác
2. Tiến sỹ Trần Đắc Sinh, 2002, Định mức tín nhiệm tại Việt Nam, NXB Tp Hồ Chí Minh Khác
3. Sổ tay tín dụng ngân hàng Công thương Việt Nam Khác
4. Báo cáo hội nghị tổng kết công tác tín dụng ngân hàng Ngoại thương Việt Nam năm 2004 Khác
5. Giáo trình Ngân hàng thương mại, TS Phan Thị Thu Hà, ĐH kinh tế quốc dân Khác
6. Giáo trình nghiệp vụ tín dụng, PGS. TS Nguyễn Văn Tiến, Học viện Ngân hàng Khác
7. Peter S.ROSE, 2001, Quản trị NHTM, NXB tài chính Khác
8. David Cox, 1997, Nghiệp vụ Ngân hàng thương mại, NXB Chính trị quốc gia Khác
9. F.S Miskin, 1999, Tiền tệ ngân hàng và thị trường tài chính, NXB Khoa học kỹ thuật Khác
10. Báo cáo thường niên Ngân hàng TMCP Nhà Hà Nội 2002, 2004 Khác
11. Các văn bản về quy trình, quy chế, định hướng tín dụng, báo cáo tín dụng của Habubank Khác
12. Tài liệu hướng dẫn chấm điểm tín dụng của một số NHTMCP (Á Châu, Đông Á, Techcombank, VP Bank) Khác
13. Giáo trình tài chính doanh nghiệp, 2003, PGS. TS. Lưu Thị Hương, ĐH Kinh tế quốc dân Khác
14. Nguyến Tấn Bình, 2002, Phân tích quản trị tài chính, NXB ĐHQG Tp Hồ Chí Minh Khác
15. Một số tạp chí chuyên ngành tài chính ngân hàng năm 2002 – 2005 Khác
17. Website Habubank, viện kinh tế Tp Hồ Chí Minh, VCCI, cơ quan hỗ trợ DNVVN Việt Nam) Khác
18. Giáo trình quản lý chất lượng trong các tổ chức, GS. TS. Nguyễn Đình Phan, NXB Giáo Dục, 2002 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Số liệu phân tích chứng minh tác động chặn TTTD. - hoàn thiện phương pháp chấm điểm tín dụng dnvvn tại ngân hàng tmcp nhà hà nội
Bảng 1. Số liệu phân tích chứng minh tác động chặn TTTD (Trang 27)
Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Habubank - hoàn thiện phương pháp chấm điểm tín dụng dnvvn tại ngân hàng tmcp nhà hà nội
Sơ đồ c ơ cấu tổ chức của Habubank (Trang 34)
Sơ đồ cơ cấu quản lý rủi ro của Habubank - hoàn thiện phương pháp chấm điểm tín dụng dnvvn tại ngân hàng tmcp nhà hà nội
Sơ đồ c ơ cấu quản lý rủi ro của Habubank (Trang 36)
Bảng 6. Tình hình dư nợ tín dụng DNVVN của Ngân hàng TMCP Nhà Hà nội giai đoạn 2001- 2005. - hoàn thiện phương pháp chấm điểm tín dụng dnvvn tại ngân hàng tmcp nhà hà nội
Bảng 6. Tình hình dư nợ tín dụng DNVVN của Ngân hàng TMCP Nhà Hà nội giai đoạn 2001- 2005 (Trang 57)
Bảng 7. Cơ cấu dư nợ theo thành phần kinh tế của Ngân hàng TMCP Nhà Hà nội - hoàn thiện phương pháp chấm điểm tín dụng dnvvn tại ngân hàng tmcp nhà hà nội
Bảng 7. Cơ cấu dư nợ theo thành phần kinh tế của Ngân hàng TMCP Nhà Hà nội (Trang 58)
Bảng 9. Tình hình gia hạn nợ trung và dài hạn của Ngân hàng TMCP Nhà Hà Nội - hoàn thiện phương pháp chấm điểm tín dụng dnvvn tại ngân hàng tmcp nhà hà nội
Bảng 9. Tình hình gia hạn nợ trung và dài hạn của Ngân hàng TMCP Nhà Hà Nội (Trang 59)
Bảng 10. Tình hình nợ quá hạn và tỷ lệ nợ quá hạn trung và dài hạn của Ngân hàng TMCP Nhà hà Nội - hoàn thiện phương pháp chấm điểm tín dụng dnvvn tại ngân hàng tmcp nhà hà nội
Bảng 10. Tình hình nợ quá hạn và tỷ lệ nợ quá hạn trung và dài hạn của Ngân hàng TMCP Nhà hà Nội (Trang 61)
BẢNG MẪU CHẤM ĐIỂM TÍN DỤNG DNVVN - hoàn thiện phương pháp chấm điểm tín dụng dnvvn tại ngân hàng tmcp nhà hà nội
BẢNG MẪU CHẤM ĐIỂM TÍN DỤNG DNVVN (Trang 74)
Bảng chấm điểm tài chính đối với các doanh nghiệp kinh doanh trong ngành thương mại và dịch vụ - hoàn thiện phương pháp chấm điểm tín dụng dnvvn tại ngân hàng tmcp nhà hà nội
Bảng ch ấm điểm tài chính đối với các doanh nghiệp kinh doanh trong ngành thương mại và dịch vụ (Trang 92)
Bảng chấm điểm quản lý ngân hàng đầu tư và phát triển - hoàn thiện phương pháp chấm điểm tín dụng dnvvn tại ngân hàng tmcp nhà hà nội
Bảng ch ấm điểm quản lý ngân hàng đầu tư và phát triển (Trang 93)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w