1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

BC Hoi nghi truc tuyen giam ngheo ngay 16.4.doc

19 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 194,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ LAO ĐỘNG TH¬ƯƠNG BINH BỘ LAO ĐỘNG THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập Tự do Hạnh phúc Hà Nội, ngày 16 tháng 4 năm 2013 BÁO CÁO KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÁC CHÍNH SÁCH VÀ CHƯƠN[.]

Trang 1

BỘ LAO ĐỘNG -THƯƠNG BINH

VÀ XÃ HỘI CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Hà Nội, ngày 16 tháng 4 năm 2013

BÁO CÁO KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÁC CHÍNH SÁCH

VÀ CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG 02 NĂM (2011-2012); PHƯƠNG HƯỚNG NHIỆM VỤ GIẢM NGHÈO NĂM 2013

VÀ ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2015

(Tài liệu phục vụ Hội nghị trực tuyến về giảm nghèo bền vững ngày 16/4/2013)

Xóa đói giảm nghèo là chủ trương lớn, nhất quán của Đảng và Nhà nước nhằm cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho người nghèo, thu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển giữa các vùng, địa bàn và giữa các dân tộc, nhóm dân

cư, là một trong những nội dung quan trọng để thực hiện định hướng xã hội chủ nghĩa Các chính sách giảm nghèo ngày càng được hoàn thiện, mang tính hệ thống để hỗ trợ có hiệu quả hơn đối với người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số Nhằm tiếp tục thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững, ngày 19/5/2011, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 80/NQ-CP về Định hướng giảm nghèo bền vững thời kỳ 2011-2020, đây là cơ sở quan trọng cho việc xây dựng hệ thống các chính sách, chương trình, dự án, vừa hỗ trợ trực tiếp cho hộ nghèo, người nghèo trên phạm vi cả nước, vừa ưu tiên tập trung nguồn lực giảm nghèo nhanh và bền vững đối với những địa bàn khó khăn vùng đồng bào dân tộc và miền núi

Để triển khai thực hiện Nghị quyết số 80/NQ-CP của Chính phủ, ngày 31/8/2012, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1200/QĐ-TTg về việc Phê duyệt Khung kế hoạch triển khai Nghị quyết 80, trong đó quy định rõ nhiệm vụ, tiến độ của các Bộ, ngành, địa phương trong việc rà soát, nghiên cứu, xây dựng, bổ sung, sửa đổi các cơ chế, chính sách, chương trình giảm nghèo và hướng dẫn các địa phương thực hiện Trên cơ sở báo cáo của các Bộ, ngành, địa phương, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo giảm nghèo Trung ương đã tổng hợp, báo cáo tình hình và kết quả thực hiện các chính sách và Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo 02 năm (2011-2012), phương hướng nhiệm vụ năm 2013 và đến năm 2015 như sau:

PHẦN THỨ NHẤT TÌNH HÌNH, KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÁC CHÍNH SÁCH VÀ CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG 02 NĂM (2011-2012)

I Công tác chỉ đạo của các cấp

Thực hiện Nghị quyết của Chính phủ, chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Các bộ, ngành, địa phương, các Tập đoàn kinh tế, các tổng công ty nhà nước đã

tổ chức quán triệt, nghiêm túc triển khai thực hiện theo nhiệm vụ được phân công, cụ thể như sau:

Trang 2

1 Các Bộ, ngành trung ương

Tổ chức rà soát lại các chính sách giảm nghèo hiện hành, nghiên cứu đề xuất một số chính sách mới đối với hộ nghèo đồng bào dân tộc thiểu số, vùng nghèo như: chính sách cho vay vốn hỗ trợ sản xuất đối với hộ dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn; chính sách hỗ trợ học sinh trung học phổ thông ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; chính sách hỗ trợ 23 huyện có tỷ lệ

hộ nghèo cao được áp dụng cơ chế, chính sách đầu tư cơ sở hạ tầng theo quy định của Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP; Phê duyệt danh sách các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo giai đoạn 2013-2015

Đồng thời, các bộ, ngành cũng đã nghiên cứu, đề xuất trình Chính phủ ban hành chính sách cho vay vốn tín dụng ưu đãi đối với hộ cận nghèo; chính sách

hỗ trợ hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo tham gia bảo hiểm y tế; đề xuất bổ sung, sửa đổi một số chính sách như: chính sách miễn giảm học phí; chính sách

hỗ trợ đất sản xuất, chuyển đổi ngành nghề và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo; chính sách xóa nhà tạm cho hộ nghèo tại khu vực nông thôn giai đoạn 2011-2015

Các bộ, ngành cũng đã và đang nghiên cứu sửa đổi bổ sung các văn bản hướng dẫn thực hiện chính sách để tạo điều kiện cho các địa phương thực hiện như: quy định lồng ghép các nguồn vốn, chính sách hỗ trợ sản xuất để thực hiện Chương trình 30a/2008/NQ-CP

Từ năm 2012 đến nay, các bộ, ngành đã trình cấp có thẩm quyền ban hành

11 chính sách mới; bổ sung sửa đổi 01 chính sách; tuy nhiên, tiến độ thực hiện còn chậm so với nhu cầu thực tế ở địa phương và nhiệm vụ được giao tại Quyết định 1200/QĐ-TTg (Phụ lục 1)

Theo nhiệm vụ được Ban Chỉ đạo phân công, các bộ, ngành đã tổ chức kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP và Nghị quyết 80/NQ-CP ở một số địa phương, qua đó đã phát hiện những bất cập về chính sách, về tổ chức thực hiện, có các đề xuất trong chỉ đạo, sửa đổi bổ sung chính sách phù hợp hơn với thực tế ở địa phương1

2 Các địa phương

Trên cơ sở Khung kế hoạch triển khai Nghị quyết 80/NQ-CP, các tỉnh, thành phố đã kiện toàn Ban Chỉ đạo giảm nghèo các cấp, xây dựng kế hoạch giảm nghèo trên địa bàn, ban hành các chính sách cụ thể của địa phương để hỗ trợ đối tượng hộ nghèo, hộ cận nghèo phù hợp với đặc điểm thực tế; ban hành các chính sách hỗ trợ đội ngũ cán bộ làm công tác giảm nghèo trên địa bàn , cụ thể theo báo cáo chưa đầy đủ của các địa phương, đến nay đã có:

- Đã có 33/63 tỉnh, thành phố kiện toàn lại Ban Chỉ đạo về giảm nghèo các cấp theo hướng: chỉ có 01 Ban Chỉ đạo giảm nghèo chung để chỉ đạo thực hiện Nghị quyết 30a, Nghị Quyết 80, Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo

1 Các Bộ: Quốc phòng, Giáo dục và Đào tạo, Ủy ban Dân tộc, Xây dựng, Tài chính, Lao động – Thương binh và

Xã hội, Giao thông Vận tải

Trang 3

trên địa bàn; tỉnh Quảng Nam đã thành lập Văn phòng giảm nghèo để giúp việc cho Ban Chỉ đạo giảm nghèo cấp tỉnh (Phụ lục 2);

- 36/63 tỉnh, thành phố xây dựng kế hoạch triển khai Nghị quyết 80/NQ-CP

và Chương trình giảm nghèo trên địa bàn (Phụ lục 3);

- Để hỗ trợ hộ nghèo, cận nghèo phù hợp với đặc điểm kinh tế - xã hội của địa phương, đã có 06 tỉnh thành phố gồm: Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Dương nâng chuẩn nghèo cao hơn chuẩn quốc gia; các chính sách đối với hộ nghèo, cận nghèo phát sinh do nâng chuẩn được thực hiện từ nguồn ngân sách địa phương (Phụ lục 4);

- Các địa phương đã chỉ đạo các ban, ngành xây dựng, điều chỉnh lại quy hoạch đất đai, quy hoạch sản xuất gắn với quy hoạch nông thôn mới, làm cơ sở

để thực hiện các chính sách và chương trình giảm nghèo;

- Tổ chức xây dựng đề án, kế hoạch thực hiện Chương trình giảm nghèo bền vững giai đoạn 2012-2015 trên địa bàn; ban hành một số cơ chế, chính sách giảm nghèo đặc thù của địa phương như: chính sách hỗ trợ cho các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn về sản xuất và đầu tư cơ sở hạ tầng2; chính sách hỗ trợ 100% mệnh giá thẻ bảo hiểm y tế đối với hộ cận nghèo trên địa bàn, hỗ trợ chi phí chi trả cho hộ nghèo, hộ cận nghèo khi đi khám chữa bệnh3; hộ mới thoát nghèo được tiếp tục hưởng một số chính sách trong vòng 02 năm như: khám chữa bệnh, vay vốn tín dụng, đào tạo nghề, giáo dục - đào tạo4; chính sách hỗ trợ cho mỗi điểm bán trú dân nuôi có từ 30 học sinh trở lên 01 suất lương tối thiểu/người/tháng cho người nhận quản lý, chăm sóc các cháu học sinh bán trú như ở Yên Bái ;

- Tổ chức các hoạt động truyền thông, đối thoại chính sách với người nghèo; tổ chức đào tạo, tập huấn nâng cao năng lực cho cán bộ cơ sở ở các xã, thôn, bản;

- Đẩy mạnh và đa dạng hóa các hình thức huy động nguồn lực cho mục tiêu giảm nghèo như: phân công trách nhiệm các cơ quan theo dõi, giúp đỡ xã, thôn, bản nghèo; vận động các doanh nghiệp hỗ trợ cho các xã nghèo; vận động ủng

hộ quỹ "Vì người nghèo" của địa phương;

- Chỉ đạo, thực hiện các chính sách giảm nghèo trên địa bàn như chính sách khám chữa bệnh, chính sách hỗ trợ trong giáo dục - đào tạo, chính sách hỗ trợ nhà ở, chính sách tín dụng ưu đãi, chính sách trợ giúp pháp lý cho hộ nghèo ;

- Chỉ đạo tổ chức rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo hàng năm trên địa bàn để xác định các đối tượng thụ hưởng chính sách; thường xuyên tổ chức kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện chính sách giảm nghèo tới đối tượng thụ hưởng

2 Như Lâm Đồng, Kon Tum, Đắc Lắc, Yên Bái

3 Theo Bộ Y tế, 18 tỉnh đã áp dụng chính sách này

4 Các tỉnh Đồng Nai, Ninh Thuận, Bình Phước, Trà Vinh, Vĩnh long

Trang 4

II Kết quả thực hiện các chính sách, chương trình giảm nghèo

1 Thực hiện các chính sách giảm nghèo

Trên cơ sở khung Nghị quyết 80/NQ-CP, các chính sách giảm nghèo tiếp tục được Quốc hội, Chính phủ chỉ đạo bố trí kinh phí để thực hiện hàng năm như: Chính sách hỗ trợ giáo dục - đào tạo; chính sách hỗ trợ mua thẻ bảo hiểm y

tế cho hộ nghèo, cận nghèo; chính sách hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo; chính sách đào tạo nghề ngắn hạn cho lao động nông thôn, chính sách hỗ trợ xuất khẩu lao động đối với lao động trên địa bàn các huyện nghèo; chính sách cho vay tín dụng ưu đãi, hướng dẫn cách làm ăn và khuyến nông - lâm - ngư; chính sách hỗ trợ tiền điện cho hộ nghèo…5

Các chính sách giảm nghèo đã tiếp tục phát huy tác dụng, hỗ trợ có hiệu quả cho hộ nghèo, người nghèo, cụ thể:

Chính sách khám chữa bệnh cho người nghèo, trong 02 năm (2011-2012),

ngân sách nhà nước đã bố trí 22.303 tỷ đồng để hỗ trợ mua thẻ bảo hiểm y tế cho người nghèo, người dân tộc thiểu số, trẻ em dưới 6 tuổi, hỗ trợ người thuộc hộ cận nghèo, học sinh sinh viên6; bố trí kinh phí tiêm chủng định kỳ và phòng, chống suy dinh dưỡng cho trẻ em trong đó có trẻ em nghèo thông qua Chương

trình mục tiêu quốc gia y tế giai đoạn 2012-2015 (bình quân 11.150 tỷ

đồng/năm); trong 02 năm đã có 29 triệu lượt người nghèo, dân tộc thiểu số được cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí; trên 10% người thuộc hộ cận nghèo tham gia mua thẻ bảo hiểm y tế được ngân sách hỗ trợ bằng 70% mệnh giá;

Chính sách hỗ trợ học sinh nghèo về giáo dục - đào tạo, năm 2011-2012,

ngân sách nhà nước đã hỗ trợ 11.844 tỷ đồng để thực hiện các chính sách giảm nghèo trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo như miễn giảm học phí cho con hộ nghèo, hộ chính sách, trợ cấp học bổng, hỗ trợ tiền ăn trưa cho trẻ em 5 tuổi

(mỗi năm ngân sách trung ương bố trí khoảng 5.922 tỷ đồng); trong 02 năm đã

có trên 04 triệu lượt học sinh nghèo được miễn giảm học phí, hỗ trợ điều kiện học tập và trợ cấp tiền ăn, nhờ đó, tỷ lệ học sinh bỏ học giảm, tỷ lệ huy động trẻ

em đến trường theo độ tuổi tăng Nhìn chung các chính sách giáo dục - đào tạo đối với học sinh nghèo tương đối hệ thống, toàn diện, tuy nhiên do còn thiếu đồng bộ, ở một số địa phương thực hiện chưa tốt nên hiệu quả chưa cao7;

Chính sách hỗ trợ đất sản xuất, nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số: năm 2011-2012, ngân sách nhà nước đã bố trí để thực hiện Quyết định

1592/QĐ-TTg ngày 12/10/2009 của Thủ tướng Chính phủ là 1.050 tỷ đồng Tính đến cuối năm 2012, các địa phương đã hỗ trợ đất ở cho 71.713 hộ; hỗ trợ đất sản xuất cho 83.563 hộ; hỗ trợ nước sinh hoạt phân tán cho 214.466 hộ; xây dựng 5.573 công trình nước tập trung ở các xã, thôn bản đặc biệt khó khăn;

5 Tổng kinh phí bố trí thực hiện các chính sách giảm nghèo 02 năm (2011-2012) là 70.868 tỷ đồng, trong đó năm

2011 là 37.772 tỷ đồng, năm 2012 là 33.096 tỷ đồng

6 Năm 2011 là 11.227 tỷ đồng, năm 2012 là 13.718 tỷ đồng

7 Chính sách hỗ trợ học sinh bán trú còn thiếu đồng bộ, chưa có chính sách cho người nuôi dưỡng, chăm sóc các cháu; kinh phí hỗ trợ bố trí và cấp phát chậm; một số địa phương chưa tổ chức nấu ăn tập trung, phát tiền trực tiếp nên hiệu quả chưa cao.

Trang 5

Chính sách đào tạo nghề, giải quyết việc làm: năm 2011-2012, ngân sách

trung ương đã bố trí 2.213 tỷ đồng để đào tạo nghề cho lao động nông thôn và

hỗ trợ các huyện nghèo xuất khẩu lao động Từ năm 2010 đến nay, đã có 1,087 triệu người được hỗ trợ đào tạo nghề ngắn hạn, trong đó lao động thuộc hộ nghèo chiếm 10,7%, lao động thuộc hộ cận nghèo chiếm 5,2% và lao động người dân tộc thiểu số chiếm 20,5% năm; thông qua chương trình đào tạo nghề cho lao động nông thôn, đã có 39.221 người thuộc hộ nghèo, sau học nghề có việc làm, thu nhập đã thoát nghèo (chiếm 33,7% số người thuộc hộ nghèo được học nghề);

Chính sách chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật

Sau hai năm triển khai chương trình "Hỗ trợ, ứng dụng và chuyển giao tiến

bộ khoa học và kỹ thuật phục vụ phát triển kinh tế - xã hội nông thôn miền núi 2011-2015", đã có 278 dự án được phê duyệt và đang triển khai Nhiều dự án đã phát huy hiệu quả, giúp các địa phương phát triển các sản phẩm hàng hóa có lợi thế; hình thành các doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao ở địa phương;

Chính sách trợ giúp pháp lý cho người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số

Trong 02 năm (2011-2012), đã bố trí từ ngân sách trên 52 tỷ đồng để triển khai các hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số; thông qua đó, các địa phương đã tổ chức 103 lớp tập huấn, bồi đưỡng kiến thức trợ giúp pháp lý; 59.778 buổi sinh hoạt câu lạc bộ trợ giúp pháp lý với 521.384 lượt người tham dự, giải quyết 22.612 vụ việc; tư vấn pháp luật cho 89.612 vụ việc cho hơn 90.000 lượt người nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số; phổ biến pháp luật cho 150.507 lượt người;

Chính sách hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo: năm 2011-2012, ngân sách trung

ương tiếp tục bố trí 2.741 tỷ đồng hỗ trợ nhà ở theo Quyết định 167/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ Tính đến cuối năm 2012, đã có trên 500 ngàn hộ nghèo được hỗ trợ Do chính sách hợp lý, huy động được các nguồn hỗ trợ8 nên quy mô, chất lượng nhà ở được bảo đảm, giúp hộ nghèo có cuộc sống ổn định hơn;

Chính sách hỗ trợ tiền điện cho hộ nghèo, trong 02 năm (2011-2012), ngân

sách nhà nước đã bố trí 1.838 tỷ đồng để hỗ trợ tiền điện cho trên 5 triệu lượt hộ nghèo, trong đó năm 2011 là 910 tỷ đồng, năm 2012 là 928 tỷ đồng;

Chính sách tín dụng ưu đãi: năm 2011-2012, ngân sách trung ương đã

chuyển vốn cho Ngân hàng Chính sách Xã hội 1.670 tỷ đồng; cấp bù lãi suất 3.050 tỷ đồng; hơn 01 triệu lượt hộ nghèo vay vốn tín dụng ưu đãi phát triển sản xuất với mức vay bình quân 12 triệu động/lượt, tổng dư nợ cho vay hộ nghèo phát triển sản xuất đến 31/12/2012 là 37.447 tỷ đồng; có 1,9 triệu hộ gia đình được vay vốn tín dụng học sinh, sinh viên để cho 2,3 triệu con em đi học, với dư

nợ 35.558 tỷ đồng9

8 Đến nay vốn huy động xây nhà cho người nghèo đạt 12.653 tỷ đồng Trong đó, vốn từ ngân sách trung ương chiếm 33%, ngân sách địa phương 6%, từ ngân hàng chính sách xã hội 28% và các nguồn khác hơn 4.000 tỷ đồng.

Trang 6

2 Thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững 02 năm (2011-2012)

Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn

2012-2015 đã được phê duyệt và được Quốc hội, Chính phủ ưu tiên bố trí kinh phí để thực hiện, cụ thể:

Tổng vốn bố trí cho Chương trình giảm nghèo trong 02 năm (2011-2012) là 9.349 tỷ đồng, trong đó năm 2011 là 4.250 tỷ đồng (đã bao gồm Chương trình 135), năm là 2012 là 5.099 tỷ đồng

Trong 02 năm, các địa phương đã đầu tư trên 1.000 công trình cơ sở hạ tầng

ở các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển, hải đảo; đầu tư trên 5.000 công trình hạ tầng thiết yếu ở các xã, thôn bản đặc biệt khó khăn vùng dân tộc miền núi; trên 12.000 hộ nghèo tham gia mô hình giảm nghèo, ngày công lao động bình quân của hộ tăng khoảng 20%, tạo được việc làm cho 25% lao động nông thôn, thu nhập bình quân của hộ nghèo tăng khoảng 15%, thông qua thực hiện mô hình, có khoảng 20 - 30% hộ thoát nghèo10; góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn từ 2 - 3% trở lên; mỗi năm có khoảng 32 ngàn cán bộ giảm nghèo các cấp được tham gia tập huấn về chuyên môn, kỹ năng để tổ chức thực hiện các chính sách giảm nghèo đến đối tượng thụ hưởng

3 Tình hình thực hiện Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP

a Huy động nguồn lực

Trong 02 năm (2011-2012), ngân sách trung ương tiếp tục bố trí cho các huyện nghèo là 6.840 tỷ đồng, trong đó năm 2011 là 3.790 tỷ đồng11; năm 2012

là 3.050 tỷ đồng để thực hiện các chính sách đặc thù theo Nghị Quyết 30a

Năm 2012, tuy hoạt động sản xuất kinh doanh của các Tập đoàn, Tổng công ty nhà nước gặp nhiều khó khăn, nhưng theo cam kết kế hoạch hỗ trợ các địa phương, một số doanh nghiệp vẫn tiếp tục hỗ trợ các huyện nghèo theo địa bàn được phân công12; các doanh nghiệp đã tiếp tục tài trợ trên 300 tỷ đồng cho các huyện nghèo, nâng tổng số tiền tài trợ cho các huyện nghèo từ năm 2009 đến nay trên 2.000 tỷ đồng

b Thực hiện chính sách đặc thù

9 Ngoài ra, ngân sách nhà nước đã bố trí 7.000 tỷ đồng năm 2011-2012 để cho vay vốn ưu đãi đầu tư kiên cố hóa kênh mương, đường giao thông nông thôn, cơ sở hạ tầng nuôi trồng thủy sản, cơ sở hạ tầng làng nghề ở nông thôn.

10 Các mô hình có hiệu quả như: mô hình giảm nghèo gắn với an ninh quốc phòng; mô hình liên kết với doanh nghiệp phát triển vùng nguyên liệu, bao tiêu sản phẩm; mô hình phát triển cây, con phù hợp với đặc thù địa phương; mô hình phụ nữ giúp nhau làm kinh tế, xóa đói giảm nghèo

11 Năm 2011, ủy ban Thường vụ QH bố trí bổ sung cho 62 huyện nghèo 1.200 tỷ đồng từ nguồn ngân sách thu vượt KH.

12 Như: Ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương Việt Nam, Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam, Ngân hàng cổ phần ngoại thương Việt Nam, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, Tổng công ty hóa chất ;

Trang 7

Chính sách chăm sóc, giao khoán và bảo vệ rừng: tính đến cuối năm 2012, các

huyện đã giao khoán bảo vệ rừng với tổng diện tích là 1,3 triệu ha; hỗ trợ 6.258 tấn lương thực cho 12.953 hộ nghèo nhận khoán chăm sóc, bảo vệ rừng với tổng kinh phí gần 80 tỷ đồng

Chính sách khai hoang, phục hóa, tạo ruộng bậc thang: các địa phương đã tổ

chức khai hoang 2.200 ha đất, phục hoá 1.700 ha đất và tạo 1.600 ha ruộng bậc thang giao cho các hộ gia đình với kinh phí 43 tỷ đồng

Chính sách hỗ trợ chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi: trong năm 2012, thực

hiện hỗ trợ hơn 512 tỷ đồng cho chuyển đổi giống cây trồng, vật nuôi tại các huyện nghèo Trong đó, hỗ trợ giống cây trồng, phân bón chiếm hơn 48%, hỗ trợ mua giống chăn nuôi chiếm 36%, làm chuồng trại 12%, giống cỏ hơn 1,3%, còn lại là hỗ trợ phát triển thuỷ sản, phòng chống dịch bệnh

Chính sách tăng cường hỗ trợ cán bộ khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư:

15/20 tỉnh đã bố trí tăng thêm cán bộ khuyến nông cơ sở từ cấp huyện, xã đến thôn, bản; các tỉnh cũng đã bố trí kinh phí triển khai thực hiện các mô hình khuyến nông, lâm, ngư với tổng kinh phí là 46 tỷ đồng, trong đó 2/3 là hỗ trợ cho các hoạt động khuyến nông và 1/3 là hỗ trợ cho khuyến nông, lâm, ngư

Chính sách xuất khẩu lao động: Trong năm 2012 đã có 1.340 lao động ở

các huyện nghèo đi xuất khẩu lao động, nâng tổng số lao động xuất khẩu qua gần

04 năm tổ chức thực hiện lên gần 8.500 lao động Đến nay, nhiều lao động đã có thu nhập ổn định, gửi tiền về giúp đỡ gia đình trang trải cuộc sống và có vốn để làm

ăn, sản xuất, trả dần các khoản nợ đã vay khi đi xuất khẩu lao động, từng bước vươn lên thoát nghèo

Chính sách giáo dục, đào tạo, dạy nghề, nâng cao dân trí

Các huyện đã tổ chức tập huấn cho hơn 4.300 lượt cán bộ thôn, bản, xã, huyện các văn bản hướng dẫn về Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP; xây dựng và quản lý chương trình, dự án; kỹ năng xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch;

ưu tiên bố trí kinh phí tổ chức đào tạo nghề cho hơn 10.000 lao động nghèo để tạo việc làm tại chỗ, ngoài địa bàn hoặc tham gia xuất khẩu lao động

Đối với học sinh ở 62 huyện nghèo theo Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP, đã

có chính sách xét tuyển, không phải thi; các trường có trách nhiệm bồi dưỡng kiến thức trong 01 năm cho các cháu để đủ trình độ đáp ứng yêu cầu học tập, tạo điều kiện đào tạo nguồn nhân lực cho các huyện nghèo

Chính sách cho vay vốn tín dụng ưu đãi

Từ đầu năm 2009, thực hiện Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ về chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 62 huyện nghèo, Ngân hàng Chính sách xã hội thực hiện việc cho vay ưu đãi lãi suất đối hộ nghèo cư trú hợp pháp tại các huyện nghèo, với mức cho vay tối đa là 5 triệu đồng/hộ, thời hạn cho vay ưu đãi lãi suất tối đa là 02 năm với mức lãi suất 0% để hỗ trợ cho hộ nghèo có vốn để chăn nuôi gia súc, gia cầm, nuôi trồng thủy sản và phát triển ngành nghề Kết quả, chương trình đã đầu tư cho vay

Trang 8

1.122 tỷ đồng với 225 ngàn hộ; trong đó đầu tư mua: giống gia súc (trâu, bò, dê) là 1.109 tỷ đồng, giống gia cầm chăn nuôi tập trung 7 tỷ đồng; nghề tiểu thủ công nghiệp 6 tỷ đồng Dư nợ đến 31/12/2012 là 211 tỷ đồng/42 ngàn hộ còn dư nợ

Chính sách cán bộ đối với các huyện nghèo

- Chính sách thu hút cán bộ, tri thức trẻ tình nguyện: Sau gần 04 năm triển khai Quyết định số 70/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, các địa phương

đã thu hút được 467 cán bộ và hơn 1.000 trí thức trẻ tình nguyện, với kinh phí thực hiện là 10.311 triệu đồng Đến nay, các tri thức trẻ tình nguyện và cán bộ thu hút về các huyện nghèo đã cơ bản ổn định, thích nghi với môi trường làm việc mới và đã có nhiều đóng góp trong việc thực hiện, triển khai các chính sách của Đảng và Nhà nước đối với công tác xóa đói giảm nghèo tại nơi công tác

- Dự án tuyển chọn 600 trí thức trẻ ưu tú có trình độ đại học tăng cường về làm Phó Chủ tịch xã tại 62 huyện nghèo: đến nay, dự án đã hoàn thành công tác tuyển chọn, bồi dưỡng, bầu và phê chuẩn chức danh cho 580 đội viên Dự án theo đúng tiến độ đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt (trong đó 255 đội viên được tuyển chọn năm 2011 và 325 đội viên được tuyển chọn trong năm 2012); đồng thời bố trí cho đội viên về xã công tác tạo điều kiện ổn định ăn, ở, làm việc để đội viên Dự án yên tâm công tác

Chính sách đầu tư cơ sở hạ tầng

Nguồn vốn Trung ương hỗ trợ cho các huyện nghèo năm 2012 đã được bố trí, đầu tư trên 110 công trình giao thông, 90 công trình thủy lợi quy mô cấp huyện và liên xã; 70 công trình đường liên xã; hơn 30 công trình trường, lớp học; trên 80 công trình đường liên thôn, bản; 60 công trình thủy lợi nhỏ và một

số công trình hạ tầng khác các công trình cơ bản đã hoàn thành và đưa vào sử dụng, góp phần ổn định đời sống và đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt của người dân tại các huyện nghèo

4 Kết quả thực hiện mục tiêu giảm nghèo

Thông qua tác động, hiệu quả thực hiện các chính sách, chương trình giảm

nghèo, tỷ lệ hộ nghèo của cả nước và các huyện nghèo giảm nhanh, hoàn thành

vượt mục tiêu Quốc hội đề ra, cụ thể:

Tỷ lệ hộ nghèo cả nước đã giảm từ 14,2% (năm 2010) xuống còn 11,76% (năm 2011) và 9,6% (năm 2012), bình quân giảm 2,3%/năm;

Tỷ lệ hộ nghèo các vùng trong cả nước năm 2011-2012 cụ thể như sau:

Trang 9

Tỷ lệ hộ nghèo (%)

Tỷ lệ hộ nghèo của các vùng so với cả nước (lần)

Tỷ lệ hộ nghèo (%)

Tỷ lệ hộ nghèo của các vùng

so với cả nước (lần)

Năm 2012, tỷ lệ hộ nghèo ở miền núi Tây Bắc cao gấp 2,97 lần so với tỷ lệ

hộ nghèo của cả nước; miền núi Đông Bắc là 1,81 lần, Bắc Trung Bộ và Tây Nguyên là 1,56 lần, Duyên hải miền Trung là 1,27 lần

Tỷ lệ hộ nghèo tại 62 huyện nghèo theo Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP đã giảm từ 58,33% (năm 2010) xuống còn 50,97% (năm 2011) và 43,89% (năm 2012), bình quân giảm trên 7%/năm;

Tỷ lệ hộ nghèo tại 07 huyện nghèo theo Quyết định 615/QĐ-TTg đã giảm

từ 43,56% (năm 2011) xuống còn là 30,13% (giảm 13,43%); Tỷ lệ hộ nghèo tại

23 huyện nghèo theo Quyết định 293/QĐ-TTg cuối năm 2012 còn 43,14% (Phụ lục 5)

III Đánh giá chung về mặt được, tồn tại hạn chế, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm

1 Mặt được:

Giảm nghèo và đảm bảo an sinh xã hội là một chủ trương lớn, nhất quán của Đảng và Nhà nước; trong những năm qua, hệ thống chính sách giảm nghèo

và an sinh xã hội ngày càng được tăng cường, hoàn thiện và hiệu quả hơn Nghị Quyết 80/NQ-CP được Chính phủ ban hành đã tạo ra hướng tiếp cận mới trong thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững, hệ thống các chính sách giảm nghèo

đã trở thành nhiệm vụ thường xuyên của các bộ, ngành, nhằm bảo đảm tính hệ thống và đồng bộ hơn; ngoài các chính sách thường xuyên đối với người nghèo,

hộ nghèo, chính sách đối với hộ cận nghèo bước đầu được hình thành, tạo điều kiện để thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững; nguồn lực đầu tư của nhà nước đã được ưu tiên cho các huyện nghèo, xã nghèo, thôn, bản đặc biệt khó khăn vùng dân tộc và miền núi để tạo điều kiện nâng cao đời sống người dân, hạn chế tình trạng gia tăng khoảng cách chênh lệch về giàu nghèo giữa các vùng, nhóm dân cư

Trong bối cảnh kinh tế đất nước gặp nhiều khó khăn, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 11/NQCP về những giải pháp điều hành phát triển kinh tế

Trang 10

-xã hội trong tình hình mới, trong đó thực hiện chính sách tài khoá thắt chặt, cắt giảm và sắp xếp lại đầu tư công nhưng vẫn chỉ đạo ưu tiên cho lĩnh vực an sinh

xã hội và giảm nghèo, đồng thời tiếp tục bố trí kinh phí để triển khai có hiệu quả các chính sách giảm nghèo và hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số; ban hành một số chính sách an sinh xã hội để trợ giúp người nghèo khó khăn về đời sống như chính sách hỗ trợ tiền điện cho hộ nghèo, chính sách trợ cấp khó khăn đột xuất cho các đối tượng thu nhập thấp…; Chính phủ cũng tập trung ưu tiên nguồn lực đầu tư cho các chính sách và chương trình giảm nghèo và an sinh xã hội như chính sách trợ giúp người nghèo về y tế, giáo dục, nhà ở, vay vốn tín dụng ưu đãi, đào tạo nghề lao động nông thôn, các chính sách thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo, Chương trình 30a/2008/NQ-CP13 Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng chính phủ, các bộ ngành, địa phương đã nghiêm túc

tổ chức triển khai, nghiên cứu rà soát, sửa đổi, hoàn thiện hệ thống chính sách giảm nghèo; xây dựng các giải pháp cụ thể, bố trí và huy động đa dạng hóa nguồn lực, đầu tư có trọng tâm, trọng điểm cho các địa bàn nghèo, đồng bào nghèo dân tộc thiểu số Các chương trình và chính sách giảm nghèo đã huy động sức mạnh, sự tham gia vào cuộc của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội (các tập đoàn kinh tế, các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội) đã tạo nguồn lực to lớn cùng với nguồn lực của nhà nước thực hiện có hiệu quả nhiều chương trình và chính sách giảm nghèo Nhiều địa phương đã có những cách làm tốt, có nhiều mô hình giảm nghèo hiệu quả như Lào Cai, Hà Giang, Lâm Đồng, Đồng Nai, Bến Tre

Mô hình quân dân y kết hợp trong chăm sóc sức khỏe người dân Mô hình kết hợp giữa kinh tế với quốc phòng do các Đoàn Kinh tế Quốc phòng thực hiện giúp người nghèo có việc làm, thu nhập ổn định, thoát nghèo Nhìn chung, người nghèo đã tiếp cận thuận tiện hơn các chính sách trợ giúp của nhà nước; cơ

sở hạ tầng nông thôn được tăng cường trên cơ sở triển khai thực hiện xây dựng nông thôn mới; tỷ lệ hộ nghèo của cả nước và các huyện, xã nghèo giảm nhanh, đời sống của người nghèo được từng bước cải thiện, an sinh xã hội, trật tự an toàn xã hội được giữ vững

2 Một số tồn tại, hạn chế

- Kết quả giảm nghèo chưa vững chắc, chênh lệch giàu - nghèo giữa các vùng, nhóm dân cư chưa được thu hẹp, nhất là khu vực miền núi phía Bắc và Tây Nguyên14

- Mặc dù tỷ lệ nghèo đã giảm nhanh ở các huyện nghèo, xã đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc, nhưng nhiều nơi tỷ lệ nghèo vẫn còn trên 50%, cá biệt còn trên 60 - 70%; Tỷ trọng hộ nghèo dân tộc thiểu số chiếm gần 50% tổng

13 Trong 02 năm (2011-2012), tổng vốn bố trí cho các Chương trình, dự án trên địa bàn các huyện nghèo, xã nghèo khoảng 50.000 tỷ đồng; vốn tría phiếu Chính phủ là 37.000 tỷ đồng (Nguồn: Bộ KHĐT).

Trong 3 năm (2011-2013), vốn đã bố trí cho Chương trình giảm nghèo đạt 64% KH 5 năm;

14 Khoảng cách chênh lệch về mức độ nghèo có xu hướng tăng hơn:

- Khu vực Tây Nguyên, năm 2010 tỷ lệ hộ nghèo cao gấp 1,53 lần so với bình quân của cả nước, năm 2012 con

số này gấp 1,6 lần;

- Khu vực miền núi phía Bắc, năm 2010, tỷ lệ hộ nghèo cao gấp 2,34 lần so với bình quân của cả nước, năm

2012 con số này là 2,52 lần.

Ngày đăng: 19/04/2022, 21:00

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w