Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân ngày 26 tháng 11 năm 2003; ỦY BAN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH NINH THUẬN Độc lập Tự do Hạnh phúc Số 31 /BC UBND Ninh Thuận[.]
Trang 1ỦY BAN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH NINH THUẬN Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Số: 31 /BC-UBND
_
Ninh Thuận, ngày 25 tháng 02 năm 2013
BÁO CÁO
Về công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận từ năm 2010 đến nay
I Căn cứ pháp lý để thực hiện công tác thu hồi đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng (áp dụng từ năm 2010 đến nay):
- Luật Đất đai ngày 26 tháng 11 năm 2003;
- Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai;
- Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất;
- Nghị định số 17/2006/NĐ-CP ngày 27 tháng 01 năm 2006 của Chính phủ về việc sửa đổi bổ sung một số điều của các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai và Nghị định số 187/2004/NĐ-CP về việc chuyển công ty Nhà nước thành công ty cổ phần;
- Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007 của Chính phủ
về quy định bổ sung về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai;
- Nghị định số 123/2007/NĐ-CP ngày 27 tháng 7 năm 2007 của Chính phủ về sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 2004 về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất;
- Nghị định số 69/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm 2009 của Chính Phủ quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất; giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hổ trợ
và tái định cư;
- Căn cứ Thông tư số 116/2004/TT-BTC ngày 07 tháng 12 tháng 2004 của
Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 197/2004/NĐ-CP và Thông tư
số 69/2006/TT-BTC ngày 02 tháng 8 năm 2006 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung Thông tư số 116/2004/TT-BTC;
- Thông tư số 14 /2009/TT-BTNMT ngày 01 tháng 10 năm 2009 của Bộ
Tài nguyên và Môi trường Quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và trình tự thủ tục thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất;
Trang 2- Thông tư số 01/2005/TT-BTNMT ngày 13 tháng 4 năm 2005 của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn thi hành Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ;
- Thông tư số 06/2007/TT-BTNMT ngày 15 tháng 6 năm 2007 của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007 của Chính phủ;
- Thông tư liên tịch số 14/2008/TTLT/BTC-BTNMT ngày 31 tháng 01 năm 2008 của liên Bộ Tài chính - Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007 của Chính phủ;
- Quyết định số 363/2007/QĐ-UBND ngày 28 tháng 12 năm 2007 của Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Thuận ban hành Quy định về bồi thường, hổ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện các dự án đầu tư trên địa bàn tỉnh;
- Quyết định số 375/2008/QĐ-UBND ngày 23 tháng 12 năm 2008 của Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Thuận về sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định về bồi thường, hổ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện các dự
án đầu tư trên địa bàn tỉnh (ban hành kèm theo Quyết định số 363/2007/QĐ-UBND ngày 28 tháng 12 năm 2007 của Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Thuận);
- Quyết định số 2380/2010/QĐ-UBND ngày 21 tháng 12 năm 2010 của
Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quy định về bồi thường, hổ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện các dự án đầu tư trên địa bàn tỉnh;
- Quyết định số 38/2012/QĐ-UBND ngày 09 tháng 8 năm 2012 về việc
sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định ban hành kèm theo Quyết định số 2380/2010/QĐ-UBND;
- Quyết định số 1391/2009/QĐ-UBND ngày 24 tháng 12 năm 2009 của
Ủy ban nhân dân tỉnh quy định giá các loại đất năm 2010 trên địa bàn tỉnh;
- Quyết định số 2388/2010/QĐ-UBND ngày 23 tháng 12 năm 2010 của
Ủy ban nhân dân tỉnh quy định giá các loại đất năm 2011 trên địa bàn tỉnh;
- Quyết định số 69/2011/QĐ-UBND ngày 22 tháng 12 năm 2011 của Ủy
ban nhân dân tỉnh quy định giá các loại đất năm 2012 trên địa bàn tỉnh;
- Các quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành giá đất ở trung bình của các khu vực có dự án đầu tư phải thu hồi đất để bồi thường, giải phóng mặt bằng trên địa bàn tỉnh;
- Quyết định số 262/2006/QĐ-UBND ngày 06 tháng 10 năm 2006 của Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Bảng giá hoa màu, cây trồng trên địa bàn tỉnh;
- Quyết định số 204/2010/QĐ-UBND ngày 04 tháng 3 năm 2010 của Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Bảng giá hoa màu, cây trồng trên địa bàn tỉnh;
Trang 3- Quyết định số 242/2008/QĐ-UBND ngày 16 tháng 9 năm 2008 của Ủy ban nhân dân tỉnh quy định giá nhà ở, công trình xây dựng và vật kiến trúc trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận;
- Quyết định số 1709/2010/QĐ-UBND ngày 04 tháng 10 năm 2010 của
Ủy ban nhân dân tỉnh quy định giá nhà ở, công trình xây dựng và vật kiến trúc trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận;
- Quyết định số 33/2011/QĐ-UBND ngày 15 tháng 8 năm 2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh quy định giá nhà ở, công trình xây dựng và vật kiến trúc trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận;
- Các quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành giá giao đất tái định
cư tại các khu tái định cư;
- Các văn bản chủ trương của Ủy ban nhân dân tỉnh cho phép thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư các dự án chuyển tiếp trong các giai đoạn có sự bổ sung điều chỉnh các chính sác bồi thường, hổ trợ và tái định cư của nhà nước
II Kết quả thực hiện công tác thu hồi đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng từ năm 2010 đến nay:
Trên cơ sở báo cáo của Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố và Trung tâm Phát triển quỹ đất tỉnh, Ủy ban nhân dân tỉnh tổng hợp kết quả thực hiện công tác bồi thường, hổ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và phát triển kinh tế (thực hiện các dự án đầu tư thuộc các lĩnh vực: hạ tầng giao thông, thuỷ lợi, công nghiệp, du lịch, đô thị, phục vụ dân sinh… ) trên địa bàn tỉnh từ năm 2010 đến nay như sau:
1 Về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, giải phóng mặt bằng đất:
Trên địa bàn tỉnh đã triển khai công tác bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng đất để thực hiện 160 dự án, với tổng diện tích đất thu hồi là 5.241,1 ha, tổng số hộ bị thu hồi đất là 12.847 hộ, tổng số tiền bồi thường, hỗ trợ được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt là 1.212,345 tỷ đồng Tổng số tiền đã chi trả 906,920 tỷ đồng, tổng số tiền chưa chi trả 305,427 tỷ đồng Tính đến nay đã có 9.138 hộ đã bàn giao mặt bằng với diện tích là 3.200,40 ha để thực hiện các dự
án Còn lại 3.739 hộ do nhiều nguyên nhân khác nhau như: chưa có kinh phí bồi thường, còn khiếu nại, tranh chấp (đang trong giai đoạn giải quyết),… nên chưa bàn giao mặt bằng với diện tích 2.021,82 ha Trong đó:
- Tại Trung tâm Phát triển quỹ đất tỉnh: Thực hiện 16 dự án với tổng diện tích đất thu hồi là 2.394,08 ha, số hộ bị thu hồi đất là 2.968 hộ, số tiền bồi thường, hỗ trợ được duyệt là 631,80 tỷ đồng; trong đó: Đã chi trả 391,96 tỷ đồng
và chưa chi trả 239,69,88 tỷ đồng (trong đó có 96,03 tỷ đồng thuộc Dự án Khu
Trang 4công nghiệp Cà Ná hiện nay đang tạm dừng đầu tư và 140, 95 tỷ đồng Khu đô thị mới Đông Bắc (K1) chưa có vốn để chi trả tiếp theo); đã có 1.802 hộ đã bàn giao mặt bằng với diện tích là 1.062,24 ha để thực hiện các dự án, còn lại 748 hộ chưa bàn giao mặt bằng với diện tích 1.308,88 ha (chủ yếu tập tại các dự án khu
đô thị mới K1)
- Tại địa bàn thành phố Phan Rang - Tháp Chàm: Thực hiện 18 dự án với tổng diện tích đất thu hồi là 41,73 ha, số hộ bị thu hồi đất là 1.866 hộ, số tiền bồi thường, hỗ trợ được duyệt là 169,61 tỷ đồng; trong đó: đã chi trả 156,42 tỷ đồng và chưa chi trả 13,18 tỷ đồng (Dự án khu tái định cư thành phố, phường Văn Hải 12,10 tỷ đồng đang tiến hành việc kiểm kê áp giá); đã có 1.517 hộ đã bàn giao mặt bằng với diện tích là 27,21 ha để thực hiện các dự án, còn lại 349 hộ chưa bàn giao mặt bằng (riêng Dự án đường Minh Mạng nối dài 108 hộ) với diện tích 14,51 ha
- Tại địa bàn huyện Ninh Hải triển khai 17 dự án với tổng diện tích đất thu hồi là 187,79 ha, số hộ bị thu hồi đất là 906 hộ, số tiền bồi thường, hỗ trợ được
cơ quan có thẩm quyền phê duyệt là 38,26 tỷ đồng Tổng số tiền đã chi trả 33,79
tỷ đồng, số tiền chưa chi trả 4,47 đồng Tính đến nay đã có 539 hộ đã bàn giao mặt bằng với diện tích là 84,60 ha để thực hiện thi công công trình Còn lại 367
hộ chưa bàn giao mặt bằng với diện tích 103,19 ha
- Tại địa bàn huyện Thuận Nam: Thực hiện 13 dự án với tổng diện tích đất thu hồi là 249,03 ha, số hộ bị thu hồi đất là 2.709 hộ, số tiền bồi thường, hỗ trợ được duyệt là 223 tỷ đồng; trong đó: đã chi trả 187,08 tỷ đồng và chưa chi trả 35,92 tỷ đồng; đã có 2.002 hộ bàn giao mặt bằng với diện tích là 1.642,01 ha để thực hiện các dự án, còn lại 707 hộ chưa bàn giao mặt bằng với diện tích 548,36
ha
- Tại địa bàn huyện Thuận Bắc: Thực hiện 14 dự án với tổng diện tích đất thu hồi là 13,64 ha, số hộ bị thu hồi đất là 183 hộ, số tiền bồi thường, hỗ trợ được duyệt là 11,22 tỷ đồng; trong đó: đã chi trả 5,83 tỷ đồng và chưa chi trả 5,39 tỷ đồng; đã có 127 hộ bàn giao mặt bằng với diện tích là 8,02 ha để thực hiện các dự án, còn lại 56 hộ chưa bàn giao mặt bằng với diện tích 5,62 ha
- Tại địa bàn huyện Ninh Sơn: Thực hiện 25 dự án với tổng diện tích đất thu hồi là 115,30 ha, số hộ bị thu hồi đất là 2.179 hộ, số tiền bồi thường, hỗ trợ được duyệt là 63,23 tỷ đồng; trong đó: đã chi trả 57,48 tỷ đồng và chưa chi trả 5,75 tỷ đồng; đã có 677 hộ bàn giao mặt bằng với diện tích là 80,06 ha để thực hiện các dự
án, còn lại 1.502 hộ chưa bàn giao mặt bằng với diện tích 35,25 ha (chủ yếu tập trung tại dự án Quốc lộ 27 do chưa có kinh phí chi trả trong năm 2012)
- Tại địa bàn huyện Ninh Phước: Thực hiện 20 dự án với tổng diện tích đất thu hồi là 19,99 ha, số hộ bị thu hồi đất là 709 hộ, số tiền bồi thường, hỗ trợ được duyệt là 35,50 tỷ đồng Hiện chỉ còn 01 hộ (Ngô Xuân Hải) thuộc dự án
Mở rộng Công ty UNI-PRESIDENT tại xã An Hải và 01 hộ tại dự án Đường
Trang 5quản lý, vận hành hồ chứa nước Lanh Ra, xã Phước Vinh chưa nhận đủ tiền bồi thường và chưa bàn giao mặt bằng
- Tại địa bàn huyện Bác Ái: Thực hiện 32 dự án với tổng diện tích đất thu hồi là 279,37 ha, số hộ bị thu hồi đất là 1.327 hộ, số tiền bồi thường, hỗ trợ được duyệt là 39,73 tỷ đồng Đã có 31/32 dự án hoàn thành công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng đưa đất vào sử dụng Còn lại 9 hộ/3,00ha/0,16 tỷ đồng chưa nhận tiền bồi thường, bàn giao mặt bằng thuộc dự án đường An Hòa - Phước Trung
Ngoài các dự án nói trên, đến nay trên địa bàn tỉnh còn có 33 Dự án khác
đã thu hồi đất, tổ chức kiểm kê nhưng chưa có kinh phí bồi thường (có Bảng
tổng hợp chi tiết kèm theo).
2 Đánh giá kết quả thực hiện:
a) Ưu điểm:
- Các quy định của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư ngày càng hoàn thiện hơn và phù hợp; đối tượng được bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được xác định đầy đủ, chính xác, phù hợp với tình hình thực tế
- Mức bồi thường, hỗ trợ ngày càng cao, nhất là đối với hộ trực tiếp sản xuất nông nghiệp tạo điều kiện cho người có đất bị thu hồi khôi phục sản xuất,
ổn định cuộc sống Các chính sách hỗ trợ được bổ sung và quy định rõ ràng nhằm giúp cho người dân ổn định đời sống và sản xuất
- Cá biệt có một số dự án đầu tư thuộc diện Nhà nước thu hồi đất, song Nhà đầu tư đề nghị được tự thoả thuận với người sử dụng đất đã góp phần giảm sức ép cho các cơ quan hành chính trong việc thu hồi đất
- Quy định cụ thể về trình tự, thủ tục thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ
và tái định cư đã giải quyết được nhiều vướng mắc, giúp cho các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thực hiện công tác bồi thường, tái định cư đạt hiệu quả
- Ủy ban nhân dân tỉnh đã triển khai việc phân cấp, ủy quyền theo quy định của pháp luật cho cấp huyện để chủ động thực hiện công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng được tiến hành nhanh, gọn, đạt hiệu quả
- Tổ chức bộ máy chuyên trách làm công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng được Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định thành lập ở cấp tỉnh (Trung tâm Phát triển quỹ đất tỉnh) và cấp huyện (Trung tâm Phát triển quỹ đất huyện, thành phố); đội ngũ cán bộ làm công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng ngày càng được củng cố, nâng cao về số lượng và trình độ
b) Những khó khăn, vướng mắc:
- Về chính sách:
+ Khó khăn lớn nhất trong công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng trong những năm qua là chính sách về đất đai, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
Trang 6của Nhà nước thường xuyên được điều chỉnh, bổ sung, sửa đổi tạo ra những thời điểm giao thời giữa chính sách cũ và chính sách mới; một số dự án đang thực hiện theo chính sách hiện hành khi có thay đổi, không biết giá trị bồi thường, hỗ trợ thực tế tăng hay giảm nhưng tạo ra tâm lý so bì giữa hộ đã được bồi thường theo chính sách cũ với hộ được bồi thường theo chính sách mới
+ Một số dự án, do có khó khăn về nguồn vốn thực hiện công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng dẫn đến thời gian thực hiện dài do vậy cùng một
dự án nhưng phải áp dụng giữa chính sách cũ và chính sách mới cũng tạo nên tâm lý bức xúc cho người có đất bị thu hồi
+ Từ năm 2010 đến nay, tỉnh ta thực hiện công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng và tái định cư cũng như công tác thu hồi đất được thực hiện theo các Quy định điều chỉnh tại Nghị định số 69/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm 2009 của
Chính phủ, Thông tư số 14 /2009/TT-BTNMT ngày 01 tháng 10 năm 2009 của
Bộ Tài nguyên và Môi trường; Quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định
cư và trình tự thủ tục thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất và Quyết định số 2380/QĐ-UBND ngày 21 tháng 12 năm 2010 của Ủy ban nhân dân tỉnh, tuy nhiên trong quá trình áp dụng những văn bản này cũng có những vướng mắc chưa phù hợp Để giải quyết các vướng mắc phát sinh trong quá trình áp dụng, ngày 09/8/2012 Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Quyết định số 38/2012/QĐ-UBND về sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định ban hành kèm theo Quyết định số 2380/2010/QĐ-UBND ngày 21 tháng 12 năm 2010 của Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Thuận
- Về thực tiễn:
+ Công tác chuẩn bị các điều kiện để thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng còn chậm và chưa đồng bộ, nhất là công tác chuẩn bị quỹ nhà, đất tái định cư và kinh phí bố trí chưa đủ hoặc không kịp thời theo phương án đã được phê duyệt
+ Bước đầu thực hiện cải cách thủ tục hành chính còn nhiều thiếu sót, việc phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị và cá nhân liên quan chưa đồng bộ, thông suốt nên việc giải quyết, xử lý còn chậm, chưa dứt điểm Công tác giải quyết đơn thư khiếu nại của công dân còn chậm Việc thực hiện quy trình, thủ tục trong công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư như công khai, tuyên truyền, đối thoại ở một số dự án còn thực hiện chưa đầy đủ, kịp thời
+ Đối với hỗ trợ đất nông nghiệp trong địa giới hành chính phường, trong khu dân cư thuộc thị trấn, khu dân cư nông thôn và đất vườn, ao không được công nhận là đất ở, quy định diện tích được hỗ trợ không quá 05 lần hạn mức giao đất ở tại địa phương Quy định này tạo ra sự bất cập khi hộ có diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi lớn sẽ thiệt thòi so với hộ có diện tích thu hồi xấp xỉ bằng với 05 lần hạn mức giao đất ở tại địa phương, từ đó dẫn đến tình trạng khi biết Nhà nước chuẩn bị thực hiện việc thu hồi đất thì các hộ có đất trong vùng dự án
Trang 7lập khống hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp để chạy chính sách bồi thường làm cho tình hình diễn biến phức tạp, tính pháp lý của hồ sơ bồi thường không cao
+ Việc xác định giá đất ở trung bình để tính hỗ trợ đất nông nghiệp trong địa giới hành chính phường, trong khu dân cư thuộc thị trấn, khu dân cư nông thôn hiện nay áp dụng theo văn bản hướng dẫn của Bộ Tài nguyên và Môi trường giải quyết vướng mắc khi thực hiện Nghị định số 69/2009/NĐ-CP, nhưng vẫn còn bất cập khi xác định giá đất ở trung bình để tính hỗ trợ cho các dự án trên cùng một tuyến đường giao thông nhưng lại thuộc địa giới hành chính của nhiều phường khác nhau
+ Ý thức chấp hành pháp luật của một bộ phận người dân còn yếu, do tính toán lợi ích cá nhân nên không chấp hành các quyết định của cơ quan Nhà nước
có thẩm quyền, tự ý lấn chiếm đất đai, xây dựng trái phép để đón đầu dự án nhằm trục lợi
+ Công tác quản lý Nhà nước về đất đai ở một số địa phương còn buông lỏng, việc xác nhận nguồn gốc sử dụng đất để làm cơ sở bồi thường tại địa phương còn nhiều trường hợp chưa được công khai, minh bạch và đúng thực tế Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư huyện, thành phố thời gian qua hoạt động theo chế độ kiêm nhiệm, vì vậy rất khó khăn trong vấn đề giải quyết công việc liên quan đến công tác giải phóng mặt bằng làm ảnh hưởng đến tiến độ của dự án
+ Việc tổ chức đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại các huyện, thành phố còn chậm, dẫn đến việc quản lý Nhà nước không đầy đủ nên xác nhận nguồn gốc sử dụng đất để làm cơ sở bồi thường gặp nhiều khó khăn
+ Việc thiết lập hồ sơ địa chính chưa được hoàn thiện, cập nhật, chỉnh lý
hồ sơ địa chính chưa được chú trọng
+ Chất lượng công tác đo đạc, lập bản đồ, quy chủ sử dụng đất làm căn cứ tính toán bồi thường chưa cao
+ Ủy ban nhân dân cấp xã chưa quản lý chặt chẽ quỹ đất chưa sử dụng trên địa bàn mình quản lý dẫn đến tình trạng để các hộ dân tự ý lấn chiếm trái phép gây khó khăn trong quá trình thực hiện công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, tình trạng đòi bồi thường hỗ trợ (đòi lại đất cũ) diễn ra phổ biến
+ Đội ngũ cán bộ địa chính ở cấp xã, phường, thị trấn thường xuyên bị thay đổi (theo nhiệm kỳ hoặc đột xuất), quá trình thay đổi công tác tiếp nhận bàn giao hồ sơ địa chính không đầy đủ, không cụ thể, không rõ ràng dẫn đến cán bộ địa chính mới vừa không có hồ sơ, vừa không nắm được địa bàn, vừa chưa nắm vững quy định pháp luật về đất đai
+ Việc sang nhượng quyền sử dụng đất trái pháp luật, xây dựng nhà trái phép trên đất nông nghiệp diễn ra khá phố biến dẫn đến tình trạng quy chủ để bồi thường, xác định loại đất để tính toán bồi thường gặp nhiều khó khăn
Trang 8+ Công tác tổ chức xác nhận nguồn gốc đất, loại đất, vị trí đất, thời điểm xây dựng nhà cho các hộ gia đình tại xã, phường chiếm nhiều thời gian làm ảnh hưởng đến tiến độ bồi thường, giải phóng mặt bằng
+ Một số cơ quan được cấp có thẩm quyền giao nhiệm vụ thực hiện công tác giải phóng mặt bằng thực hiện dự án chưa thực hiện hết chức trách, trách nhiệm của mình, không chuẩn bị được quỹ đất, quỹ nhà tái định cư Việc thực hiện dân chủ, công khai, công bằng, đúng pháp luật ở một số dự án còn mang tính hình thức nên gây ra bức xúc cho người bị thu hồi đất
+ Việc đầu tư còn dàn trải, thiếu tập trung cùng lúc triển khai nhiều dự án, trong đó điều kiện để bồi thường, giải phóng mặt bằng không đáp ứng kịp dẫn đến nhiều dự án bị kéo dài, phải thay đổi phương án bồi thường, tăng kinh phí bồi thường dẫn đến thiếu nguồn kinh phí, ảnh hưởng đến quá trình thực hiện công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng đất
+ Trong quá trình xác nhận nguồn gốc sử dụng đất tại Hội đồng thẩm định bồi thường của huyện, xã; có nhiều dự án phải lập lại hồ sơ để xác định lại
về nguồn gốc sử dụng đất
+ Công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư là một công tác phức tạp, cần phải có đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn sâu, am hiểu rộng, trung thực trong công tác, nhưng những năm qua đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng nhất là trong khâu thẩm định còn thiếu và yếu
so với yêu cầu nhiệm vụ
3 Nguyên nhân tồn tại:
a) Nguyên nhân khách quan:
- Ninh Thuận là tỉnh còn nhiều khó khăn, cơ sở hạ tầng còn thấp, rất cần phải đầu tư nâng cấp, mở rộng tỉnh đã cố gắng khuyến khích, kêu gọi, thu hút các nhà đầu tư để thực hiện dự án, xây dựng công trình tạo tiền đề cho việc phát triển kinh tế-xã hội nên việc thu hồi đất, bồi thường giải phóng mặt bằng là cấp thiết, nhưng chưa xây dựng hoàn chỉnh kế hoạch dài hạn cho công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, chưa chủ động được hoàn toàn nguồn kinh phí, chưa xây dựng đủ và đáp ứng được về quỹ đất tái định cư, định canh
- Tiến trình đô thị hoá, công nghiệp hoá diễn ra quá nhanh, làm cho người lao động nói chung và lao động nông nghiệp nói riêng chưa chuẩn bị cho mình một ngành nghề mới thích hợp, chưa thích ứng kịp với tác phong lao động công nghiệp Mặt khác, phần lớn lao động nông thôn quen với lao động chân tay kiểu cha truyền, con nối nên khi bị thu hồi đất phải học nghề, chuyển đổi nghề, tìm việc làm rất khó khăn
- Đa số khu vực đất thu hồi để thực hiện các dự án là đất nông nghiệp, người có đất bị thu hồi chủ yếu là lao động nông nghiệp, khi bị thu hồi đất, phải chuyển sang nghề khác, di dời đến nơi ở mới có tâm lý không yên tâm, chưa
Trang 9quen với môi trường mới, sinh hoạt mới nên lo lắng về cuộc sống, rất ngại về việc di chuyển, chần chừ, do dự
b) Nguyên nhân chủ quan:
- Chưa thực hiện kế hoạch hoá trong công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư nên thường bị động về nguồn kinh phí thực hiện
- Giá cả thị trường thường xuyên biến động tăng, dẫn đến phải điều chỉnh đơn giá bồi thường, mỗi lần thay đổi có độ biến động lớn; giá đất hằng năm do
Ủy ban nhân dân tỉnh công bố đều có sự điều chỉnh (thông thường là tăng lên) nên hình thành tâm lý chờ đợi chính sách bồi thường được điều chỉnh, bổ sung
để được hưởng lợi cao hơn trong một bộ phận người dân nằm trong vùng dự án
có đất bị thu hồi
- Việc quản lý đất đai, xử lý vi phạm hành chính của chính quyền địa phương chưa được quan tâm đúng mức, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của cán
bộ, công chức, viên chức làm công tác bồi thường còn hạn chế
- Việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về đất đai hiệu quả chưa cao; các ngành, các cấp chưa quan tâm đúng mức đối với công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; công tác kiểm tra, thanh tra còn hạn chế; Ủy ban nhân dân một số xã, phường, thị trấn chưa coi trọng công tác quản lý Nhà nước
về đất đai tại địa phương; một số nhà đầu tư không đủ năng lực tài chính để thực hiện dự án,…
- Trong các vùng đã có quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất để triển khai nhiều dự án nhưng chưa quan tâm đến việc xây dựng các khu tái định cư trước do thiếu vốn
- Việc lấn chiếm đất chưa sử dụng do Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý
để yêu cầu bồi thường, hỗ trợ khi có dự án đầu tư hoặc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp không nhằm mục đích sản xuất nông nghiệp
mà mang tính đầu cơ khi Nhà nước thu hồi đất vẫn còn diễn ra phức tạp nhưng chưa được các cấp có thẩm quyền xử lý dứt điểm
III Những bài học kinh nghiệm:
Để từng bước khắc phục những tồn tại, hạn chế trong công tác thu hồi đất, thực hiện bồi thường, giải phóng mặt bằng; với quan điểm phát triển bền vững, phát triển kinh tế phải đi đôi với việc bảo vệ môi trường, giải quyết tốt các chính sách an sinh - xã hội, giữ vững ổn định tình hình an ninh trật tự, không để xảy ra
“điểm nóng”, khiếu kiện đông người, góp phần trực tiếp giải quyết việc ổn định
và phát triển đời sống nhân dân, từ đó việc thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho các đối tượng bị ảnh hưởng trong vùng dự án các cấp, các ngành phải thực hiện tốt một số nội dung sau:
Trang 101 Phải nhận thức rõ tính phức tạp, nhạy cảm trong việc thu hồi đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng để không ngừng tăng cường công tác tuyên truyền, vận động nhân dân tạo sự đồng thuận, nhất trí cao trong việc chấp hành giao đất cho Nhà nước vì mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và mục đích phát triển kinh tế - xã hội Tiếp tục phát huy hơn nữa sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, các cấp uỷ đảng, cơ quan quản lý nhà nước, mặt trận, đoàn thể từ tỉnh đến cơ sở tham gia vào việc xây dựng cơ chế, chính sách, kiểm tra giám sát việc thực hiện chính sách bồi thường, công tác tuyên truyền vận động nhân dân, xử lý kịp thời những vướng mắc, kiến nghị, những tâm tư và nỗi bức xúc của nhân dân trong vùng dự án
2 Đảm bảo sự công bằng, tính công khai, minh bạch, dân chủ trong việc
tổ chức và thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, đảm bảo cho nhân dân trong vùng thực hiện dự án được biết, được tham gia bàn bạc thảo luận phương án bồi thường theo đúng quy định của pháp luật
3 Bồi thường, hỗ trợ đúng quy định của pháp luật, đảm bảo hài hoà quyền lợi hợp pháp, chính đáng của nhân dân, lợi ích của nhà đầu tư, lợi ích của nhà nước và phù hợp với điều kiện, khả năng tài chính ngân sách của địa phương, đồng thời tạo được môi trường thuận lợi để kêu gọi thu hút đầu tư và đảm bảo cho các đối tượng bị ảnh hưởng trong vùng thực hiện dự án có mức sống tốt hơn hoặc ít nhất cũng duy trì được mức sống cũ, có việc làm, khả năng thu nhập và được hưởng lợi từ dự án
4 Từng bước kế hoạch hoá công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư mà trọng tâm là đảm bảo bố trí đủ kinh phí và chi trả kịp thời đúng thời hạn Phân định rõ trách nhiệm, nguồn vốn bố trí, đảm bảo đủ vốn để đầu tư xây dựng khu tái định cư về kết cấu hạ tầng, cũng như việc xây dựng những công trình phục
vụ đời sống, văn hoá, nhu cầu sinh hoạt bình thường của nhân dân
5 Phải gắn quy hoạch thực hiện dự án với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, kể cả quỹ đất bồi thường: đối với đất ở thực hiện cơ chế bồi thường bằng đất; bồi thường đất nông nghiệp bằng đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp (nếu có); chú trọng quy hoạch đất nghĩa trang, nghĩa địa; quy hoạch đất sản xuất nông nghiệp để hoán đổi bồi thường cho nông dân để họ có thể tiếp tục duy trì với ngành nghề truyền thống
6 Đất tái định cư quy hoạch theo hướng khu dân cư tập trung hoặc xen cư trong các khu dân cư đã có sẵn, bố trí trong các dự án khai thác quỹ đất Xây dựng các khu tái định cư với nhiều loại hình khác nhau (vùng nghề, làng nghề, gần với khu vực đất sản xuất nông nghiệp, gần khu vực các khu công nghiệp, thương mại, du lịch dịch vụ, vùng ven đô thị ) đáp ứng được ổn định đời sống, giải quyết được công ăn việc làm của nhân dân Công tác tái định cư phải đi trước một bước, phải đảm bảo cho nhân dân trong vùng dự án có chỗ ở tái định
cư, mới thực hiện giải phóng mặt bằng triển khai dự án Không cưỡng chế buộc