1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại chi nhánh ngân hàng đầu tư và phát triển hà nội

77 466 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại chi nhánh ngân hàng đầu tư và phát triển hà nội
Tác giả Nguyễn Thị Hồng Nhung
Người hướng dẫn Thày giáo, Tiến sĩ Đàm Văn Huệ
Trường học Học Viện Ngân Hàng
Chuyên ngành Kế Toán - Tài Chính
Thể loại Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 783 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, trong thời gian thực tập tại chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Hà Nội, được quan sát thực tiễn cấp phát tín dụng trung dài hạn, em nhận thấy vẫn còn có một số hạn chế n

Trang 1

MỞ ĐẦU

Sự hội nhập mạnh mẽ của đất nước vào nền kinh tế thế giới đã tạo ra nhiều

cơ hội tìm kiếm lợi nhuận cao cho các doanh nghiệp nhưng cũng đặt họ trước một thách thức lớn là sự cạnh tranh gay gắt từ phía các đối thủ nước ngoài mới xâm nhập vào Việt Nam Ngoài việc có một chiến lược cạnh tranh đúng hướng, yếu tố quyết định tới sự thành bại của doanh nghiệp chính là sự cải tiến về máy móc thiết bị sản xuất, đổi mới dây chuyền công nghệ Tuy nhiên

do khả năng vốn tự có của các doanh nghiệp Việt nam còn hạn chế nên nếu không có sự hỗ trợ vốn từ bên ngoài thì họ khó thể thực hiện được Việc huy động vốn thông qua thị trường chứng khoán còn hạn chế do quy mô còn nhỏ

bé của thị trường này, hơn nữa không phải doanh nghiệp nào cũng đủ điều kiện để huy động được vốn bằng cách này Do đó, vốn tín dụng ngân hàng, đặc biệt là tín dụng trung dài hạn vẫn đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ các doanh nghiệp phát nâng cao khả năng cạnh tranh và mở rộng hoạt động của mình Để hoạt động tín dụng trung và dài hạn của ngân hàng thực sự mang lại hiệu quả cho doanh nghiệp, ngân hàng và nền kinh tế, yêu cầu phải nâng cao chất lượng của hoạt động này không lúc nào là không cần thiết Ngân hàng Đầu tư và Phát triển là một đơn vị cung cấp tín dụng trung và dài hạn có thâm niên lâu năm, đã đạt được những kết quả đáng khích lệ Tuy nhiên, trong thời gian thực tập tại chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển

Hà Nội, được quan sát thực tiễn cấp phát tín dụng trung dài hạn, em nhận thấy vẫn còn có một số hạn chế nhất định khiến cho tín dụng trung dài hạn chưa phát huy hết được vai trò quan trọng với ngân hàng, doanh nghiệp và nền kinh

tế Vì vậy, em đã quyết định chọn đề tài: "Giải pháp nâng cao chất lượng tín

dụng trung và dài hạn tại chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Hà Nội" để thực hiện chuyên đề thực tập.

Trang 2

Kết cấu của chuyên đề này bao gồm:

Chương 1 Tổng quan về chất lượng tín dụng trung và dài hạn của Ngân hàng thương mại.

Chương 2 Thực trạng chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại chi nhánh Ngân hàng đầu tư và Phát triển Hà Nội.

Chương 3 Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại chi nhánh Ngân hàng đầu tư và Phát triển Hà Nội.

Để hoàn thành được chuyên đề thực tập này, em đã nhận được sự giúp đỡ hướng dẫn tận tình của các cán bộ Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Hà Nội, các cô chú, anh chị ở phòng Tín dụng 2, và đặc biệt là sự chỉ bảo của Thày giáo, Tiến sĩ Đàm Văn Huệ Em xin chân thành cảm ơn

Sinh viên

Nguyễn Thị Hồng Nhung

Trang 3

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG

TRUNG VÀ DÀI HẠN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1 Ngân hàng thương mại

Ở Ấn Độ: NHTM là cơ sở nhận các khoản ký thác để cho vay hoặc tài trợ

và đầu tư

Ở Thổ Nhĩ Kỳ: NHTM là Hội trách nhiệm hữu hạn thiết lập nhằm mục đích nhận tiền ký thác và thực hiện các nghiệp vụ hối đoái, nghiệp vụ hối phiếu, chiết khấu và những hình thức vay mượn hay tín dụng khác

Ở Việt Nam: Theo Luật các tổ chức tín dụng năm 1997: "Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan" Trong đó: " Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên

là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán"

Từ các quan điểm trên có thể đưa ra một khái niệm chung tương đối đầy

đủ về NHTM là: Ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh

mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và

Trang 4

dịch vụ thanh toán - và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhiều nhất so với bất kỳ tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế.

NHTM có các chức năng cơ bản sau:

- Trung gian tài chính: Chuyển các khoản tiết kiệm, chủ yếu từ các hộ gia đình, thành các khoản tín dụng cho các tổ chức kinh doanh và các thành phần khác để đầu tư vào nhà cửa, thiết bị và các tài sản khác

- Tạo phương tiện thanh toán: Quá trình tạo tiền của NHTM được thực hiện thông qua hoạt động tín dụng và thanh toán trong hệ thống ngân hàng, trong mối liên hệ chặt chẽ với hệ thống ngân hàng trung ương của mỗi nước

Đó là khả năng biến mức tiền gửi ban đầu tại một ngân hàng đầu tiên nhận tiền gửi thành một khoản tiền lớn hơn gấp nhiều lần khi thực hiện nghiệp vụ tín dụng thanh toán qua nhiều ngân hàng

- Trung gian thanh toán: Thay mặt khách hàng thực hiện thanh toán cho việc mua hàng hoá và dịch vụ (như bằng cách phát hành và bù trừ séc, cung cấp mạng lưới thanh toán điện tử, kết nối các quĩ và phân phối tiền giấy và tiền đúc)

1.1.2 Hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại

1.1.2.1 Huy động vốn

Cho vay được coi là hoạt động sinh lời cao, do đó các ngân hàng đã tìm kiếm mọi cách để huy động nguồn cho vốn vay Vì vậy có thể coi huy động vốn là điều kiện cần để ngân hàng bắt đầu hoạt động Ngân hàng tiến hành thu hút các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong xã hội bằng các nghiệp vụ:

- Nhận tiền gửi: Tiền gửi của khách hàng là nguồn tài nguyên quan trọng nhất, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn của ngân hàng Đây là nghiệp vụ đầu tiên khi ngân hàng bắt đầu hoạt động Bằng cách mở các tài khoản tiền gửi để giữ hộ và thanh toán hộ cho khách hàng, ngân hàng đã huy động được tiền của các doanh nghiệp, các tổ chức và của dân cư

- Đi vay: Mặc dù tiền gửi là nguồn quan trọng nhất của NHTM nhưng khi khả năng huy động bị hạn chế, ngân hàng vẫn phải đi vay để đáp ứng nhu cầu

Trang 5

chi trả cấp bách NHTM có thể vay Ngân hàng Nhà nước thông qua nghiệp vụ tái chiết khấu hay tái cấp vốn, vay trên thị trường liên hàng hoặc vay trên thị trường chứng khoán bằng cách phát hành các giấy nợ

1.1.2.2 Sử dụng vốn

Cùng giống như bất kỳ doanh nghiệp nào, NHTM cũng hoạt động vì mục tiêu sinh lời Do đó, với số vốn đã huy động được, ngân hàng phải tiến hành các hoạt động đầu tư để trang trải các chi phí huy động vốn, chi phí hoạt động

và đặc biệt là để tìm kiếm lợi nhuận

- Hoạt động tín dụng: Là hoạt động đặc trưng của NHTM, chiếm tỷ trọng lớn nhất và mang lại lợi nhuận chủ yếu cho ngân hàng Tuy nhiên, đây cũng là hoạt động chứa đựng rủi ro cao, ảnh hưởng tới sự an toàn của ngân hàng

- Các hoạt động đầu tư khác: Ngoài hoạt động tín dụng, NHTM cũng tham gia vào các hoạt động đầu tư khác như: mua bán chứng khoán, góp vốn liên doanh liên kết,… nhằm mục tiêu đa dạng hoá danh mục đầu tư và tối thiểu hoá rủi ro

1.2 Hoạt động tín dụng trung và dài hạn tại ngân hàng thương mại

1.2.1 Khái niệm tín dụng và phân loại

1.2.1.1 Khái niệm tín dụng

Tín dụng xuất phát từ chữ Latin Creditium có nghĩa là sự tin tưởng, tín nhiệm Tiếng Anh gọi là Credit Theo ngôn ngữ dân gian Việt Nam, tín dụng

có nghĩa là sự vay mượn dựa trên sự tin tưởng

Trong quan hệ tài chính, tín dụng có thể hiểu theo các nghĩa sau đây:

Trang 6

- Xét trên góc độ chuyển dịch quỹ cho vay từ chủ thể thặng dư tiết kiệm sang chủ thể thâm hụt tiết kiệm thì tín dụng được coi là phương pháp chuyển dịch quỹ từ người cho vay sang người đi vay.

- Trong một quan hệ tài chính cụ thể, tín dụng là một giao dịch về tài sản trên cơ sở có hoàn trả giữa hai chủ thể

- Tín dụng còn có nghĩa là một số tiền vay mà các định chế tài chính cung cấp cho khách hàng

Như vậy có thể hiểu: Tín dụng là một giao dịch về tài sản (tiền hay hàng

hoá) giữa bên cho vay và bên đi vay, trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thoả thuận, bên

đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho vay khi đến hạn thanh toán.

Như vậy, khái niệm tín dụng gồm ba mặt cơ bản:

- Có sự chuyển giao quyền sử dụng một tài sản từ người này sang người khác

- Sự chuyển giao này mang tính chất tạm thời

- Khi hoàn lại tài sản đã chuyển giao cho người sở hữu phải kèm thêm một lượng giá trị dôi thêm - gọi là lãi hay lợi tức

Một quan hệ được gọi là tín dụng khi có đầy đủ cả ba mặt trên

Tín dụng có các hình thức chủ yếu là: tín dụng thương mại, tín dụng Nhà nước và tín dụng ngân hàng Tín dụng thương mại là việc mua bán chịu (hay

mua bán trả chậm) hàng hoá, dịch vụ giữa các chủ thể trong nền kinh tế Tín

dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng bằng tiền tệ giữa một bên là ngân hàng với một bên là tất các tổ chức, cá nhân trong xã hội.

Trong nền kinh tế hiện đại, tín dụng ngân hàng là một trong những nguồn vốn quan trọng nhất không chỉ với sự phát triển của bản thân các doanh nghiệp mà còn đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân Không một doanh nghiệp nào có thể tồn tại vững chắc trên thương trường mà không vay vốn của ngân hàng Việc vay vốn từ ngân hàng đảm bảo nguồn tài chính cho hoạt

Trang 7

động sản xuất - kinh doanh, đặc biệt là các dự án mở rộng sản xuất hay đầu tư chiều sâu của doanh nghiệp

1.2.1.2 Phân loại tín dụng ngân hàng

Có nhiều tiêu thức để phân loại tín dụng ngân hàng:

 Căn cứ vào thời hạn cho vay: Tín dụng được chia là ba loại sau:

- Tín dụng ngắn hạn: là các khoản cho vay có thời hạn dưới 12 tháng Đối với NHTM, tín dụng ngắn hạn chiếm tỷ trọng cao nhất

- Tín dụng trung hạn: là các khoản cho vay có thời hạn có thời hạn từ 1 đến 5 năm

- Tín dụng dài hạn: là các cho vay có thời hạn từ 5 năm trở lên

 Căn cứ vào hình thức bảo đảm: Tín dụng được chia làm hai loại:

- Cho vay không có đảm bảo: là loại cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của người thứ ba Việc cho vay chỉ dựa trên uy tín của bản thân khách hàng

- Cho vay có đảm bảo: là loại cho vay được ngân hàng cung ứng, phải

có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của người thứ ba

 Căn cứ vào mục đích sử dụng:

- Cho vay bất động sản: là khoản cho vay liên quan đến việc mua sắm

và xây dựng bất động sản nhà ở, đất đai, bất động sản trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ

- Cho vay công nghiệp và thương mại: là khoản cho vay ngắn hạn để

bổ sung vốn lưu động cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ

- Cho vay nông nghiệp: là khoản cho vay giúp nông dân trang trải các chi phí sản xuất và bảo quản sản phẩm

- Cho vay cá nhân: là khoản cho vay nhằm đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng như mua sắm các vật dụng đất tiền, sửa chữa và xây dựng nhà cửa

Trang 8

- Tài trợ thuê mua: ngân hàng mua thiết bị máy móc hay phương tiện

để cho khách hàng thuê

- Cho vay khác: gồm các khoản cho vay không bao gồm các khoản cho vay ở trên và cho vay kinh doanh chứng khoán

 Căn cứ vào hình thái giá trị của tín dụng

- Cho vay bằng tiền: là loại cho vay mà hình thái giá trị của tín dụng được cung cấp bằng tiền Đây là loại cho vay chủ yếu của các ngân hàng

- Cho vay bằng tài sản: hình thức cho vay bằng tài sản được áp dụng phổ biến tại các NHTM là tài trợ thuê mua

 Căn cứ vào phương thức hoàn trả:

- Cho vay trả góp: là loại cho vay mà khách hàng phải hoàn trả vốn gốc và lãi theo định kỳ

- Cho vay phi trả góp: là loại cho vay mà vốn gốc và lãi được thanh toán một lần theo kỳ hạn đã thoả thuận

- Cho vay hoàn trả theo yêu cầu

 Căn cứ vào xuất xứ tín dụng:

- Cho vay trực tiếp: ngân hàng trực tiếp cấp vốn cho người có nhu cầu, đồng thời người đi vay cũng hoàn trả vốn gốc và lãi trực tiếp cho ngân hàng

- Cho vay gián tiếp: là khoản cho vay được thực hiện thông qua việc mua lại các khế ước hoặc chứng từ nợ đã phát sinh và còn trong thời hạn thanh toán

1.2.2 Khái niệm và phân loại tín dụng trung và dài hạn

1.2.2.1 Khái niệm

Tín dụng trung và dài hạn là một bộ phận của tín dụng ngân hàng khi phân

chia theo tiêu thức thời hạn, là hoạt động tài chính trong đó ngân hàng cho

khách hàng vay vốn trung và dài hạn nhằm thực hiện các dự án phát triển sản xuất - kinh doanh, phục vụ đời sống.

Trang 9

Tín dụng trung và dài hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay từ 1 năm trở lên Tuỳ theo từng nước mà thời hạn cho vay đối với tín dụng trung và dài hạn là khác nhau Ở Việt Nam, tín dụng trung hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay từ 12 tháng đến 60 tháng Tín dụng dài hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay từ 60 tháng trở lên.

Tín dụng trung hạn chủ yếu được sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất - kinh doanh, xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh Tín dụng dài hạn là loại tín dụng được cung cấp để đáp ứng nhu cầu dài hạn về xây dựng nhà ở, các thiết bị, phương tiện vận tải có quy mô lớn, xây dựng các xí nghiệp mới

1.2.2.2 Phân loại tín dụng trung và dài hạn

Các tiêu thức để phân loại tín dụng trung và dài hạn cũng giống như tín dụng nói chung

 Căn cứ vào thời hạn cho vay

- Tín dụng trung hạn: có thời hạn từ 1 năm đến 5 năm, tài trợ cho các tài sản cố định như phương tiện vận tải, một số cây trồng vật nuôi, trang thiết bị chóng hao mòn

- Tín dụng dài hạn: có thời hạn cho vay từ 5 năm trở lên, tài trợ cho công trình xây dựng như nhà, sân bay, cầu, đường, mấy móc thiết bị có giá trị lớn, thường có thời gian sử dụng lâu

 Căn cứ vào hình thức đảm bảo

- Tín dụng trung và dài hạn có đảm bảo

- Tín dụng trung và dài hạn không có đảm bảo

 Căn cứ mục đích sử dụng

- Tín dụng trung và dài hạn phục vụ cho hoạt động sản xuất - kinh doanh

Trang 10

- Tín dụng trung và dài hạn phục vụ cho tiêu dùng: là các khoản tín dụng được cung cấp chủ yếu cho các cá nhân để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cá nhân như xây dựng nhà ở, mua sắm phương tiện đi lại,…

 Căn cứ vào hình thái giá trị của tín dụng

- Tín dụng trung và dài hạn cấp bằng tiền

- Tín dụng trung và dài hạn cấp bằng hiện vật: thông qua hình thức tài trợ thuê mua

 Căn cứ vào phương thức hoàn trả

- Tín dụng trung và dài hạn trả góp: là các khoản tín dụng trung và dài hạn trong đó người đi vay trả vốn gốc và lãi theo các kỳ hạn đều đặn trong thời hạn cho vay

- Tín dụng trung và dài hạn trả một lần: người đi vay trả vốn gốc và lãi một lần vào cuối thời hạn cho vay

- Tín dụng trung và dài hạn có kỳ hạn trả nợ mang tính thời vụ: người

đi vay có thể hoàn trả bất cứ khi nào có thu nhập

 Căn cứ vào xuất xứ tín dụng

- Tín dụng trung và dài hạn trực tiếp

- Tín dụng trung và dài hạn gián tiếp

 Căn cứ vào đồng tiền cho vay:

- Tín dụng trung và dài hạn cấp bằng đồng ngoại tệ: chủ yếu cấp cho những khách hàng hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu và các doanh nghiệp có dự án liên doanh liên kết với nước ngoài

- Tín dụng trung và dài hạn cấp bằng đồng nội tệ: chiếm tỷ trong chủ yếu trong hoạt động tín dụng trung và dài hạn của NHTM

 Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động của đối tượng xin vay:

- Tín dụng trung và dài hạn đầu tư trong nước: là các khoản tín dụng được cấp cho khách hàng để thực hiện các dự án đầu tư trong nước

- Tín dụng trung và dài hạn tài trợ cho xuất nhập khẩu: là các khoản tín dụng được cấp cho khách hàng nhằm hỗ trợ hoạt động xuất nhập khẩu,

Trang 11

gồm có tín dụng người cung cấp (cấp cho các nhà xuất khẩu) và tín dụng người mua (cấp cho các nhà nhập khẩu).

1.2.3 Đặc điểm của tín dụng trung và dài hạn

1.2.3.1 Vốn đầu tư lớn, thời hạn dài và thu hồi vốn chậm

Như đã nêu trên, đối tượng tài trợ của tín dụng trung và dài hạn là tài sản

cố định và các công trình xây dựng Đặc điểm của đối tượng này là có giá trị lớn, thời gian sử dụng lâu Do đó, khoản cho vay để tài trợ cho các đối tượng này đòi hỏi một số vốn đầu tư lớn Mặt khác, nguồn để trả nợ là quỹ khấu hao

cơ bản và lợi nhuận thu được từ dự án Vì vậy, thời hạn trả nợ thường kéo dài đến khi dự án kết thúc, dẫn đến thu hồi vốn chậm

1.2.3.2 Độ rủi ro cao

Do lượng vốn đầu tư lớn và thời gian thu hồi vốn chậm nên độ rủi ro của các khoản tín dụng trung và dài hạn là cao Một dự án có thời gian đầu tư kéo dài có thể chịu tác động của nhiều yếu tố khách quan và chủ quan như: thiên tai, chiến tranh, sự thay đổi của môi trường chính sách, môi trường pháp lý, môi trường kinh doanh,… Điều này khiến cho việc dự đoán các rủi ro có thể xảy ra với các khoản tín dụng trung và dài hạn là không thể lường trước hết được Mặt khác, do có số vốn đầu tư lớn nên khi rủi ro xảy ra với các khoản tín dụng này sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng hơn đến NHTM so với các khoản tín dụng ngắn hạn

1.2.3.3 Lợi nhuận từ các khoản tín dụng trung và dài hạn lớn

Do mối tương quan tỉ lệ thuận giữa lợi nhuận và rủi ro, nên các khoản tín dụng trung và dài hạn - vốn chứa đựng rủi ro cao - luôn có mức lãi suất rất cao Thêm vào đó, do khoản cho vay thường có số vốn lớn nên thu nhập mà khoản tín dụng này đem lại cho ngân hàng là lớn

Trang 12

1.2.4 Vai trò của tín dụng trung và dài hạn

1.2.4.1 Đối với doanh nghiệp

Là một chủ thể trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp luôn phải đối mặt với sự cạnh tranh từ phía các đối thủ khác Để có thể tồn tại và phát triển, tất yếu doanh nghiệp phải thắng thế trong cạnh tranh Muốn vậy, doanh nghiệp phải xây dựng cho mình một chiến lược sản xuất - kinh doanh hợp lý, phù hợp với năng lực, điều kiện của bản thân và điều kiện thị trường Do đó,

về lâu dài doanh nghiệp phải chú trọng đến việc mở rộng sản xuất, mua sắm máy móc trang thiết bị hiện đại, đổi mới công nghệ nhằm nâng cao sản lượng, chất lượng sản phẩm và giảm thiểu chi phí đến mức thấp nhất có thể Muốn thực hiện được điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải có một lượng vốn đầu tư rất lớn Để huy động vốn cho các kế hoạch sản xuất - kinh doanh, doanh nghiệp có thể tìm kiếm từ các nguồn sau:

• Tự tích luỹ bằng lợi nhuận không chia: là một phương thức tạo nguồn tài chính khá quan trọng đối với doanh nghiệp, giúp cho doanh nghiệp tránh được sự phân chia kiểm soát với bên ngoài Tuy nhiên, phương thức tài trợ này đòi hỏi một thời gian dài mới mang lại một lượng vốn đáng kể cho doanh nghiệp, do đó có thể khiến doanh nghiệp bỏ lỡ các cơ hội kinh doanh Hơn nữa, tự tích luỹ chỉ có thể thực hiện được trong điều kiện doanh nghiệp làm

ăn hiệu quả, có lợi nhuận Điều này là khó khăn đối với các doanh nghiệp vừa

và nhỏ, các doanh nghiệp mới đi vào hoạt động

• Phát hành cổ phiếu, trái phiếu: nguồn này có ưu điểm là có thể tập trung được lượng vốn cần thiết trong thời gian ngắn Tuy nhiên, nếu phát hành cổ phiếu có thể dẫn đến sự phân chia quyền kiểm soát công ty Nếu phát hành trái phiếu, doanh nghiệp sẽ phải chịu nhiều chi phí tốn kém như: chi phí giao dịch, chi phí phát hành, lệ phí bảo hiểm, lệ phí đăng ký chứng khoán,… Hơn nữa, không phải trái phiếu của doanh nghiệp nào cũng được công chúng đầu tư tín nhiệm, không phải doanh nghiệp nào cũng có đủ điều kiện để được

Trang 13

phép phát hành trái phiếu ra công chúng Thêm vào đó, trái phiếu không tạo

ra sự linh hoạt về kỳ hạn của khoản nợ

• Tín dụng trung và dài hạn của ngân hàng: có ưu thế hơn so với các nguồn trên, thể hiện ở chỗ: 1, Nó giúp cho doanh nghiệp chớp lấy thời cơ kinh doanh nhờ rút ngắn thời gian tìm kiếm vốn Thủ tục vay ngân hàng tuy chặt chẽ nhưng nếu tuân thủ đúng thì thời gian để doanh nghiệp nhận được khoản tín dụng là ngắn hơn rất nhiều so với tự tích luỹ hay phát hành trái phiếu, cổ phiếu 2, Không dẫn đến sự phân chia quyền kiểm soát công ty với bên ngoài so với việc phát hành cổ phiếu 3, Mọi doanh nghiệp chỉ cần có tình hình tài chính lành mạnh, có phương án sản xuất kinh doanh, dự án đầu tư khả thi đều có thể được ngân hàng cấp tín dụng 4, Tín dụng trung và dài hạn tạo

ra sự linh hoạt về kỳ hạn: doanh nghiệp có thể vay vốn ngân hàng theo kỳ hạn phù hợp với yêu cầu kinh doanh và chu kỳ thu nhập Việc điều chỉnh kỳ hạn

nợ của các khoản tín dụng trung và dài hạn là dễ dàng: khi doanh nghiệp làm

ăn thuận lợi, nhanh chóng thu hồi được vốn đầu tư và có lãi, có thể trả nợ ngân hàng trước hạn Ngược lại, khi doanh nghiệp gặp khó khăn trong sản xuất - kinh doanh, có thể xin ngân hàng gia hạn nợ Mặt khác, việc trả nợ trung và dài hạn được phân chia thành các kỳ hạn hợp lý và ổn định, giúp cho doanh nghiệp chủ động trong việc tìm kiếm nguồn trả nợ Những ưu điểm đó khiến cho tín dụng trung và dài hạn là một nguồn được các doanh nghiệp vừa

và nhỏ, các doanh nghiệp mới đi vào hoạt động ưa thích

Mặc dù có nhiều ưu thế hơn so với các hình thức huy động vốn khác nhưng lãi suất tín dụng vẫn là một chi phí khá cao đối với doanh nghiệp Cùng với sự ràng buộc về thời hạn cho vay, mục đích sử dụng, nó buộc các doanh nghiệp phải sử dụng vốn có hiệu quả: phải tính đến tính khả thi khi đầu

tư, đòi hỏi doanh thu thu được từ phương án sản xuất - kinh doanh, dự án đầu

tư phải đủ lớn để trả gốc và lãi cho ngân hàng mà doanh nghiệp vẫn có lãi Thêm vào đó, sự kiểm tra, giám sát của ngân hàng đối với khoản cho vay sau khi giải ngân có tác dụng giúp doanh nghiệp phát hiện được những nhược

Trang 14

điểm, sai sót trong quá trình đầu tư, từ đó có biện pháp khắc phục kịp thời nhằm hạn chế rủi ro cho cả doanh nghiệp lẫn ngân hàng.

1.2.4.2 Đối với ngân hàng

Hai hoạt động cơ bản của một NHTM là huy động vốn và cho vay Nói cách khác, NHTM - trung gian tài chính lớn nhất trong nền kinh tế - đóng vai trò là người "đi vay để cho vay" Huy động vốn là nghiệp vụ quan trọng tạo ra nguồn vốn để ngân hàng có thể thực hiện nghiệp vụ cho vay Khi huy động vốn từ nền kinh tế, ngân hàng phải bỏ ra chi phí Để trang trải được các chi phí này, bắt buộc ngân hàng phải sử dụng vốn huy động vào lĩnh vực đem lại lợi nhuận Thu nhập từ lãi vay là khoản thu nhập chủ yếu giúp trang trải được các chi phí huy động, chi phí hoạt động và đem lại lợi nhuận cho ngân hàng

Do đó, có thể nói tín dụng là nghiệp vụ quan trọng nhất quyết định sự tồn tại

và phát triển của một NHTM Không có hoạt động tín dụng thì không có NHTM

Tín dụng trung và dài hạn với đặc điểm là rủi ro cao, vốn đầu tư lớn, thời gian cho vay dài nên có lãi suất cao, là nguồn mang lại lợi nhuận chủ yếu cho ngân hàng

Thông qua hoạt động tín dụng trung và dài hạn, ngân hàng không ngừng

mở rộng quy mô khách hàng: bằng việc thu hút thêm các khách hàng mới, tạo

ra mối liên hệ chặt chẽ và lâu bền với các khách hàng truyền thống Nhờ đó, ngân hàng không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh, ngày càng khẳng định

vị thế và vai trò của mình trong nền kinh tế Một ngân hàng sẽ không thể tồn tại và phát triển trong điều kiện nền kinh tế thị trường, có sự cạnh tranh gay gắt từ phía các ngân hàng và các trung gian tài chính khác nếu không đa dạng hoá hoạt động cho vay, khách hàng vay và thời hạn vay

Sau khi huy động được vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế, ngân hàng không thể để vốn đó trong két mà phải sử dụng nó để tìm kiếm lợi nhuận Mặt khác, ngân hàng không thể "ngừng" nhận tiền gửi từ dân cư và các tổ chức kinh tế Nếu không có phương án sử dụng vốn huy động một cách khả thi thì

Trang 15

vốn huy động sẽ trở thành gánh nặnh cho ngân hàng (vì ngân hàng vẫn phải trả lãi tiền gửi) Tín dụng trung và dài hạn góp phần vào việc làm cho vốn huy động không bị nhàn rỗi, mà được sử dụng hiệu quả để đem lại lợi nhuận cao cho ngân hàng Tín dụng trung và dài hạn là một trong các cơ sở để ngân hàng mở rộng huy động vốn, sử dụng vốn một cách khả thi, tăng sức cạnh tranh của bản thân ngân hàng.

1.2.4.3 Đối với nền kinh tế

Ở mọi quốc gia, nhu cầu vốn trung và dài hạn để đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, hiện đại hoá và mở rộng sản xuất đều rất lớn Nhu cầu này có thể được đáp ứng bởi nhiều nguồn như: Ngân sách Nhà nước, viện trợ phát triển, vay

nợ nước ngoài nhưng nguồn quan trọng nhất vẫn là tín dụng trung và dài hạn của các NHTM

Trong nền kinh tế, do đặc điểm về chu kì kinh doanh, chu kỳ thu nhập của các chủ thể là khác nhau, nên tồn tại hiện tượng: có những chủ thể tạm thời thặng dư vốn nhưng chưa có dự án để đầu tư; ngược lại, có những chủ thể có phương án sản xuất - kinh doanh khả thi nhưng lại thiếu hụt vốn Tín dụng trung và dài hạn đã khắc phục tình trạng này bằng cách chuyển các khoản tiền tạm thời nhàn rỗi trong dân cư sang tay những người cần vốn để đầu tư phát triển sản xuất - kinh doanh Nhờ đó đã làm giảm hệ số tiền nhàn rỗi trong lưu thông, tăng nhanh tốc độ quay vòng của vốn trong nền kinh tế

Tín dụng trung và dài hạn bằng cách tài trợ cho việc sửa chữa, thay thế, cải tiến máy móc, đổi mới công nghệ, các dự án xây dựng phát triển đã góp phần quan trọng tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế, tạo điều kiện cần cho sự phát triển của đất nước trong tương lai Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với những nước mà cơ sở hạ tầng kinh tế - kĩ thuật còn lạc hậu như nước ta

Thông qua việc cho vay đối với ngành nghề này mà không cho vay đối với ngành nghề khác, tín dụng trung và dài hạn đã có ảnh hưởng tới việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá Việc ưu tiên

Trang 16

tập trung vốn cho các ngành kinh tế then chốt, mũi nhọn có tác dụng tạo ra bước nhảy quan trọng cho nền kinh tế Từ đó thúc đẩy, hỗ trợ, lôi cuốn các ngành kinh tế khác cùng đi lên, tạo ra sự phát triển đồng bộ và toàn diện của nền kinh tế.

Tín dụng trung và dài hạn thúc đẩy mở rộng kim ngạch xuất nhập khẩu Nguồn vốn trung dài hạn mà các doanh nghiệp nhận được từ các NHTM giúp

họ có thể nhập khẩu các máy móc, trang thiết bị hiện đại, công nghệ mới từ nước ngoài - vốn có giá rất cao Các máy móc, công nghệ này là tiền đề để doanh nghiệp gia tăng sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành sản xuất Điều này khiến cho hàng hoá của các doanh nghiệp trong nước được nâng cao tính cạnh tranh so với hàng hoá của các nước trong khu vự và quốc

tế, tạo cơ sở để tăng cường xuất khẩu

Tín dụng trung và dài hạn được mở rộng sẽ kéo theo sự phát triển của thị trường sử dụng vốn ngắn hạn Nguồn vốn trung và dài hạn được đầu tư để trang bị máy móc, công nghệ hiện đại cho doanh nghiệp sẽ kích thích sản xuất phát triển Khi sản xuất phát triển, tất yếu nhu cầu sử dụng vốn lưu động sẽ tăng lên, tạo ra thị trường sử dụng vốn ngắn hạn Thị trường này càng được

mở rộng khi tốc độ phát triển sản xuất càng cao

Tín dụng trung và dài hạn tạo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước Nó mang lại lợi nhuận cao cho ngân hàng, giúp doanh nghiệp làm ăn có lãi NHTM và doanh nghiệp càng thu được nhiều lợi nhuận thì lượng thuế đóng cho ngân sách Nhà nước càng nhiều Thêm vào đó, bằng việc kích thích nền kinh tế phát triển, kim ngạch xuất nhập khẩu gia tăng, lượng thuế gián thu thu được từ các hoạt động kinh tế cũng tăng lên Ta biết rằng thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước nên thông qua việc làm tăng lượng thuế phải nộp, tín dụng trung và dài hạn góp phần làm cho ngân sách Nhà nước tăng trưởng ổn định và lâu dài

Tín dụng trung và dài hạn còn góp phần ổn định cuộc sống, tạo công ăn việc làm cho người lao động, cải thiện đời sống của các tầng lớp dân cư

Trang 17

1.3 Chất lượng tín dụng trung và dài hạn

1.3.1 Khái niệm

Bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn tồn tại và phát triển trong điều kiện nền kinh tế thị trường đều phải không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm, đưa ra mức giá cả phù hợp,… NHTM - một doanh nghiệp đặc biệt - cùng không nằm ngoài quy luật đó Hoạt động tín dụng là hoạt động mang lại thu nhập chủ yếu cho ngân hàng Nâng cao chất lượng tín dụng là điều kiện hàng đầu để ngân hàng không ngừng phát triển Hoạt động tín dụng có chất lượng cao sẽ góp phần nâng cao uy tín, tăng quy mô khách hàng cho ngân hàng Chất lượng tín dụng ngân hàng là sự đáp ứng một cách tốt nhất yêu cầu của khách hàng trong quan hệ tín dụng, đảm bảo an toàn trong việc thu hồi vốn thông qua sự phát huy hiệu quả của phương án được hình thành bằng đồng tiền vay hay hạn chế thấp nhất rủi ro về đồng vốn, tăng lợi nhuận của ngân hàng, phù hợp và phục vụ sự phát triển kinh tế xã hội

Từ khái niệm trên, có thể thấy chất lượng tín dụng được đánh giá trên cả

ba giác độ: khách hàng, ngân hàng và nền kinh tế

Chất lượng tín dụng xét trên giác độ khách hàng

Đối với khách hàng, chất lượng tín dụng được hiểu là sự thoả mãn tối đa các nhu cầu về tiền gửi, vay vốn với mức lãi suất hợp lý, thủ tục đơn giản đảm bảo tiết kiệm thời gian và chi phí cho khách hàng nhưng vẫn tuân thủ đúng các nguyên tắc và quy định của pháp luật về tín dụng Trong quan hệ tín dụng, khách hàng là đối tác của ngân hàng nên việc duy trì mối quan hệ thường xuyên và lâu dài với khách hàng sẽ giúp cho ngân hàng có sự am hiểu

về khách hàng Từ đó, ngân hàng hiểu rõ được nhu cầu tín dụng của khách hàng, đảm bảo thoả mãn hợp lý nhu cầu về vốn của họ

Chất lượng tín dụng xét từ giác độ ngân hàng

Trên quan điểm của ngân hàng, chất lượng tín dụng trước hết phải mang tính an toàn, đảm bảo nguyên tắc hoàn trả và có lãi Tuy nhiên trong hoạt động tín dụng, rủi ro là điều không thể tránh khỏi, nhưng nếu xét trên tổng

Trang 18

thể các khoản tín dụng của ngân hàng , nếu tuân thủ đầy đủ và nghiêm chỉnh các quy định và nguyên tắc tín dụng thì nguồn vốn của ngân hàng sẽ được đảm bảo an toàn Trong điều kiện nền kinh tế thị trường ngày nay, chất lượng tín dụng cũng bao gồm khả năng cạnh tranh của ngân hàng, thể hiện ở khả năng thu hút và mở rộng khách hàng phù hợp với năng lực theo hướng tích cực của ngân hàng Thêm vào đó, chất lượng tín dụng còn thể hiện ở: chỉ tiêu lợi nhuận hợp lý và gia tăng, dư nợ ngày càng tăng trưởng, tỷ lệ nợ quá hạn đảm bảo đúng mức quy định và ngày càng giảm, sự phù hợp về cơ cấu giữa nguồn ngắn, trung và dài hạn của ngân hàng.

Chất lượng tín dụng xét trên giác độ nền kinh tế

Thông qua các khoản tín dụng mà ngân hàng cấp cho các doanh nghiệp để đầu tư vào mở rộng sản xuất, phát triển theo chiều sâu, sẽ góp phần vào sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế Như vậy, xét trên giác độ nền kinh

tế, chất lượng tín dụng thể hiện ở sự đóng góp vào việc tạo việclàm cho người lao động, hạn chế thất nghiệp, khai thác được các tiềm năng của nền kinh tế, tận dụng được tối đa được nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong nước, tranh thủ vay vốn nước ngoài có lợi cho sự phát triển kinh tế

Như vậy, thông qua việc xem xét chất lượng tín dụng trên ba giác độ: khách hàng, ngân hàng, nền kinh tế, có thể khái quát một số điểm đặc trưng

về chất lượng tín dụng như sau:

 Chất lượng tín dụng là một chỉ tiêu tổng hợp, vừa mang tính cụ thể, vừa mang tính trừu tượng Nó được thể hiện cụ thể thông qua các chỉ tiêu cụ thể như: dư nợ, thu nhập từ lãi vay, tỉ lệ nợ quá hạn, nợ khó đòi,

… Mặt khác, nó cũng được thể hiện qua các chỉ tiêu như: khả năng thu hút khách hàng, uy tín của ngân hàng, …

 Chất lượng tín dụng cho thấy năng lực của ngân hàng trong quá trình cạnh tranh để tồn tại và phát triển Nó thể hiện ở các mặt: đầu tư

có hiệu quả, thủ tục cho vay đơn giản, thuận tiện, nhanh chóng …

Tín dụng trung và dài hạn được đánh giá là có chất lượng khi:

Trang 19

- Mục tiêu đầu tư phù hợp với sự chiến lược phát triển của nền kinh tế, của

xã hội, phù hợp với xu hướng của thị trường

- Thủ tục cho vay tuân thủ đúng các quy định và nguyên tắc tín dụng

- Quản lý các khoản tín dụng chặt chẽ, hạn chế phát sinh nợ quá hạn Có biện pháp xử lý rủi ro phù hợp và linh hoạt

- Khách hàng được cấp tín dụng có kinh nghiệm trong sản xuất - kinh doanh, có khả năng cạnh tranh trên thị truờng, khai thác tốt vốn đầu tư, trả nợ ngân hàng đúng hạn cả gốc và lãi

1.3.2 Chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng trung và dài hạn

Vì chất lượng tín dụng nói chung, chất lượng tín dụng trung và dài hạn nói riêng là một chi tiêu vừa mang tính cụ thể, vừa mang tính trừu tượng Do đó,

để đánh giá được chất lượng tín dụng trung và dài hạn cần thiết lập hai nhóm chỉ tiêu: chỉ tiêu định tính và chỉ tiêu định lượng

1.3.2.1 Chỉ tiêu định tính

Nhóm chỉ tiêu này thể hiện ở một số khía cạnh sau:

- Khả năng đáp ứng nhu cầu vay vốn của khách hàng: thủ tục đơn giản, thuận tiện, nhanh chóng, kỳ hạn và phương thức thanh toán phù hợp với chu

kỳ kinh doanh và chu kỳ thu nhập của khách hàng

- Ngân hàng có lịch sử hoạt động lâu đời, cơ sở vật chất được trang bị tốt

và đầy đủ Hình thức huy động vốn, hình thức cho vay và đầu tư đa dạng Ngân hàng không ngừng cung ứng các dịch vụ mới

- Đối tượng khách hàng đa dạng, lượng khách hàng vay đông đảo, không ngừng được mở rộng

1.3.2.2 Chỉ tiêu định lượng

Dư nợ tín dụng trung và dài hạn

Tổng dư nợ của ngân hàng bao gồm: dư nợ vốn ngắn hạn, dư nợ vốn trung dài hạn, vốn góp đồng tài trợ Chỉ tiêu dư nợ phản ánh số còn cho vay của ngân hàng trong một thời kỳ nhất định - thường là một năm Chỉ tiêu này

Trang 20

phản ánh một phần uy tín, khả năng thu hút khách hàng của ngân hàng Tổng

dư nợ cao chứng tỏ ngân hàng có khả năng cho vay được nhiều, có khả năng thu hút khách hàng, uy tín của ngân hàng tương đối tốt Ngược lại, tổng dư nợ thấp cho thấy ngân hàng chưa có khả năng thu hút khách hàng, việc tiếp thị, quảng bá hình ảnh của ngân hàng ra công chúng chưa được chú ý dúng mức,

uy tín của ngân hàng chưa cao, khả năng mở rộng khách hàng còn hạn chế, việc cho vay chưa phát triển Tuy nhiên không thể chỉ dựa vào một chỉ tiêu này để đánh giá chất lượng tín dụng của ngân hàng mà cần căn cứ vào từng hoàn cảnh và kết hợp với nhiều chỉ tiêu khác

Dư nợ tín dụng TDH

Tỷ lệ dư nợ tín dụng TDH =

Chỉ tiêu này phản ánh tỷ trọng của tín dụng trung và dài hạn trong tổng dư

nợ Thông qua chỉ tiêu này có thể so sánh quy mô của tín dụng trung và dài hạn so với tín dụng ngắn hạn Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ ngân hàng có quy mô tín dụng trung và dài hạn càng lớn, đồng thời đem lại cho ngân hàng thu nhập cao nhưng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro cho hoạt động tín dụng của ngân hàng

có sự phù hợp về kỳ hạn nên độ an toàn được đảm bảo Ngược lại, nếu tỷ lệ

Trang 21

này lớn hơn 1, chứng tỏ nguồn vốn huy động trung và dài hạn không đủ để tài trợ cho tín dụng trung và dài hạn nên ngân hàng đã phải sử dụng một phần vốn huy động ngắn hạn để tài trợ cho tín dụng trung và dài hạn Khi xảy ra tình trạng này, tín dụng trung và dài hạn không còn an toàn nữa.

Vòng quay vốn tín dụng trung và dài hạn

Doanh số thu nợ TDH trong kỳ

Vòng quay vốn tín dụng TDH =

Dư nợ tín dụng TDH trong kỳ

Ngân hàng thu nợ theo kế hoạch theo hợp đòng tín dụng và tiếp tục cho vay món mới Vòng quay vốn tín dụng cho biết hiệu quả trong việc sử dụng vốn của ngân hàng Vòng quay này càng lớn chứng tỏ ngân hàng sử dụng vốn càng hiệu quả Vòng quay vốn tín dụng trung dài hạn nhỏ hơn hoặc bằng với chu kỳ kinh doanh của khách hàng cho thấy khách hàng trả nợ đúng hạn, chất lượng tín dụng của ngân hàng tốt Ngược lại, khách hàng không thể hoàn trả

nợ đúng hạn, làm phát sinh nợ quá hạn hoặc ngân hàng phải tiến hành gia hạn

nợ cho khách hàng - điều này phản ánh chất lượng yếu

Nợ quá hạn và nợ khó đòi

Nợ quá hạn trung và dài hạn

Tỷ lệ nợ quá hạn TDH =

Dư nợ tín dụng trung và dài hạn

Khi đến kỳ hạn trả nợ, nếu khách hàng không thể hoàn trả đầy đủ và đúng hạn, không được ngân hàng gia hạn nợ thì khoản nợ đó sẽ được chuyển thành

nợ quá hạn Chỉ tiêu trên cho biết giá trị của các khoản nợ quá hạn trung và dài hạn trong tổng dư nợ trung và dài hạn

Nợ khó đòi trung và dài hạn

Tỷ lệ nợ khó đòi TDH 1 =

Nợ quá hạn trung và dài hạn

Trang 22

Nợ quá hạn trung và dài hạn

Tỷ lệ nợ khó đòi TDH 2 =

Dư nợ tín dụng trung dài hạn

Các chỉ tiêu về nợ quá hạn cho biết giá trị của các khoản nợ khó đòi trung

và dài hạn trong nợ quá hạn trung và dài hạn hay trong dư nợ tín dụng trung

và dài hạn

Các chỉ tiêu về nợ quá hạn và nợ khó đòi phản ánh rõ nét chất lượng tín dụng của ngân hàng Chất lượng tín dụng của ngân hàng tỉ lệ nghịch với độ lớn của các chỉ tiêu này Các chỉ tiêu này càng lớn, càng chứng tỏ hoạt động tín dụng trung và dài hạn của ngân hàng có độ rủi ro cao, công tác thu hồi nợ của ngân hàng chưa hiệu quả, do đó sẽ ảnh hưởng tới khả năng thanh toán của ngân hàng Chỉ tiêu này cũng cho thấy không phải lúc nào dư nợ tín dụng cao cũng tốt vì nếu ngân hàng không có chiến lựoc quản lý nợ tốt thì sẽ dẫn tới phát sinh nhiều nợ quá hạn, nợ khó đòi

Chỉ tiêu lợi nhuận

Lợi nhuận từ tín dụng trung và dài hạn

Chỉ tiêu lợi nhuận 1 =

Dư nợ tín dụng trung và dài hạn

Chỉ tiêu này phả ánh khả năng sinh lời của tín dụng trung và dài hạn, cho biết một đồng dư nợ tín dụng trung và dài hạn đem lại cho ngân hàng bao nhhiêu đồng lợi nhuận Chỉ tiêu này càng cao càng chứng tỏ tín dụng trung và dài hạn là một nghiệp vụ sinh lời cao

Lợi nhuận từ tín dụng trung và dài hạn

Chỉ tiêu lợi nhuận 2 =

Tổng thu nhập của ngân hàng

Trang 23

Chỉ tiêu này cho biết lợi nhuận từ tín dụng trung và dài hạn chiếm bao nhiêu phần trăm trong tổng thu nhập của ngân hàng Nó phản ánh tầm quan trọng của tín dụng trung và dài hạn trong hoạt động ngân hàng

Nếu các chỉ tiêu về lợi nhuận cao chứng tỏ hoạt động tín dụng trung và dài hạn của ngân hàng có chất lượng cao, đem lại nhiều lợi nhuận cho ngân hàng

1.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng trung và dài hạn

Việc xác định các nhân tố có ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng trung và dài hạn là rất quan trọng trong việc đề ra giải pháp nâng cao chất lượng của hoạt động này Có nhiều nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng trung và dài hạn, nhưng có thể chia thành 3 nhóm nhân tố sau đây:

1.3.3.1 Nhân tố thuộc về phía khách hàng

Khách hàng là đối tác của ngân hàng trong quan hệ tín dụng nên chất lượng tín dụng trung và dài hạn được quyết định một phần bởi chính khách hàng Các nhân tố thuộc về phía khách hàng có ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng trung và dài hạn là:

Mong muốn đầu tư trung và dài hạn của doanh nghiệp Nhân tố này

quyết định nhu cầu tín dụng trung và dài hạn của khách hàng Ngân hàng chỉ

có thể mở rộng tín dụng trung và dài hạn khi mong muốn này của doanh ngiệp là lớn

Khả năng của doanh nghiệp trong việc đáp ứng các điều kiện, tiêu chuẩn tín dụng của ngân hàng Mặc dù, doanh nghiệp có nhu cầu lớn về tín

dụng trung và dài hạn nhưng nếu không đáp ứng được các điều kiện, tiêu chuẩn của ngân hàng nhằm đảm bảo an toàn trong hoạt động tín dụng thì ngân hàng cũng không thể đáp ứng được nhu cầu đó Các điều kiện, tiêu chuẩn ngân hàng sẽ xem xét trong quá trình quyết định cấp tín dụng trung và dài hạn cho khách hàng là:

- Năng lực thị trường của doanh nghiệp: được biểu hiện thông qua các mặt

như: số lượng sản phẩm tiêu thụ, chất lượng sản phẩm, sự thoả mãn nhu cầu

Trang 24

của khách hàng, mạng lưới tiêu thụ của doanh nghiệp, vị thế của doanh nghiệp trong ngành và trong nền kinh tế, tiềm năng phát triển trong tương lai của doanh nghiệp, … Năng lực thị trường càng cao, nhu cầu đầu tư trung và dài hạn càng lớn, rủi ro của khoản tín dụng cấp cho doanh nghiệp càng được giam thiểu, góp phần nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn.

- Năng lực sản xuất của doanh nghiệp: biểu hiện qua quy trình sản xuất

sản phẩm, công nghệ sản xuất, việc làm chủ giá thành sản phẩm, … Năng lực sản xuất và năng lực thị trường tốt có nghĩa là doanh nghiệp phải sản xuất ổn định và có lãi Khi đó, doanh nghiệp có thể đáp ứng tốt các điều kiện để được ngân hàng cấp tín dụng

- Năng lực tài chính của doanh nghiệp: thể hiện ở lượng vốn tự có, tỷ

trọng vốn tự có trên tổng nguồn vốn của doanh nghiệp, khả năng thanh toán của doanh nghiệp, … Năng lực tài chính của doanh nghiệp cho biết mức độ

tự chủ tài chính của doanh nghiệp năng lực tài chính cao sẽ là một điều kiện đảm bảo an toàn cho các khoản tín dụng mà ngân hàng cấp cho doanh nghiệp, đồng thời tạo cơ sở cho ngân hàng mở rộng tín dụng trung và dài hạn

- Khả năng quản lý của doanh nghiệp: một doanh nghiệp muốn làm ăn

hiệu quả cần có sự tổ chức quản lý chặt chẽ và khoa học Do đó, doanh nghiệp

có trình độ quản lý cao thì khả năng thu hồi vốn của ngân hàng sẽ cao hơn so với một doanh nghiệp có đội ngũ quản lý thường xuyên xáo trộn, năng lực quản lý yếu kém

- Quyền sở hữu tài sản, khả năng đáp ứng các biện pháp đảm bảo: thông

thường để được nhận một khoản tín dụng, doanh nghiệp phải có tài sản đảm bảo

để cầm cố hoặc thế chấp Vì vậy, quyền sở hữu tài sản được xác định rõ ràng sẽ tạo ra sự an toàn cho ngân hàng khi cho vay dựa trên giá trị tài sản bảo đảm

1.3.3.2 Nhân tố thuộc về phía ngân hàng

Vốn tự có của ngân hàng

Để đảm bảo an toàn trong hoạt động tín dụng của ngân hàng, Luật các tổ chức tín dụng có quy định giới hạn cho vay đối với một khách hàng và một

Trang 25

nhóm khách hàng có liên quan dựa trên vốn tự có của ngân hàng Như vậy, vốn

tự có có ảnh hưởng đến khả năng mở rộng tín dụng của ngân hàng, do đó quyết định nhu cầu vốn cần huy động cũng như thu nhập từ hoạt động tín dụng của ngân hàng Vì vậy, việc tăng cường vốn tự có của ngân hàng sẽ tạo điều kiện để ngân hàng nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn của ngân hàng

Chính sách tín dụng

Đây là những quy định thành văn của mỗi ngân hàng khi cho khách hàng vay nhằm nhiều mục đích khác nhau, đem lại cho cán bộ tín dụng sự hướng dẫn cần thiết để tạo ra sự thống nhất trong hoạt động cho vay Chính sách tín dụng gồm có các nội dung cơ bản sau: qui mô và giới hạn cho vay, lãi suất, kì hạn trả nợ, thời hạn cho vay, các biện pháp đảm bảo tiền vay, đối tượng khách hàng mà ngân hàng hướng tới, thẩm quyền quyết định cho vay, hạn mức cho vay, các biện pháp xử lý các khoản tín dụng có vấn đề Chính sách tín dụng

có ý nghĩa to lớn đối với sự thành công hay thất bại của ngân hàng bởi vì một chính sách tín dụng đúng đắn sẽ tăng cường chuyên môn hoá trong phân tích tín dụng, tạo sự thống nhất chung trong hoạt động nhằm hạn chế rủi ro và nâng cao khả năng sinh lời

Quy trình tín dụng

Quy trình tín dụng là tổng hợp các nguyên tắc, quy định của ngân hàng trong việc cấp tín dụng Đây là một quá trình bao gồm nhiều bước: hướng dẫn khách hàng lập hồ sơ xin vay vốn; thẩm định khả năng hiệu quả và khả năng trả nợ; quyết định cho vay; giải ngân; kiểm tra, giám sát quá trình sử dụng vốn vay và quá trình trả nợ của khách hàng; thu nợ, thu lãi, phí và xử lý các vấn đề phát sinh; cuối cùng là chấm dứt hợp đồng tín dụng Các bước này mang tính chất liên hoàn, theo một trình tự nhất định, không thể bỏ qua một bước nào Một quy trình tín dụng chặt chẽ, khoa học sẽ giúp ngân hàng nâng cao hiệu quả cho vay thông qua việc tiết kiệm thời gian và chi phí cho cả hai bên, giảm thiểu rủi ro, nâng cao thu nhập cho ngân hàng Đây chính là điều kiện để ngân hàng mở rộng tín dụng mà vẫn hạn chế và kiểm soát được rủi ro

Trang 26

Thông tin tín dụng

Thông tin tín dụng có vai trò rất quan trọng trong quyết định cho vay, trong việc hạn chế và kiểm soát rủi ro của ngân hàng Vì vậy, thông tin tín dụng đầy đủ, có chất lượng (trung thực và mang tính dự đoán trong tương lai)

sẽ giúp ngân hàng nhận định đúng về khách hàng, về sự biến động của thị trường Từ đó ngân hàng có thể đưa ra các quyết định cho vay đúng đắn, chớp lấy cơ hội kinh doanh, giảm thiểu rủi ro, không ngừng mở rộng khách hàng, tăng cường uy tín

Công tác huy động vốn

Ngân hàng cho vay dựa chủ yếu trên nguồn vốn huy động từ dân cư và các

tổ chức trong nền kinh tế Ngân hàng chỉ có thể mở rộng cho vay trung và dài hạn khi nguồn vốn huy động vốn trung và dài hạn là dồi dào, tạo ra sự phù hợp về kỳ hạn giữa nguồn cho vay và thời hạn cho vay, hạn chế dược các rủi

ro lãi suất, rủi ro thanh khoản

Trình độ cán bộ tín dụng, công tác tổ chức quản lý tín dụng

Một khoản tín dụng chỉ có thể có chất lượng cao khi cán bộ tín dụng có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao, có nhiều hiểu biết về lĩnh vực hoạt động của khách hàng xin vay, có đạo đức nghề nghiệp Bên cạnh đó, công tác tổ chức quản lý, phân công công việc rõ ràng, chuyên môn hoá sẽ tạo ra sự phối hợp nhịp nhàng giữa các phòng ban, giúp tiết kiệm thời gian, nâng cao hiệu quả cho vay của ngân hàng

Trang thiết bị hiện đại: giúp ngân hàng thực hiện nghiệp vụ, nắm bắt

thông tin một cách nhanh chóng, quản lý các khoản tín dụng một cách dễ dàng

1.3.3.3 Nhân tố khách quan

Môi trường kinh tế xã hội

Môi trường kinh tế xã hội là tổng hoà các mối quan hệ tác động lên các hoạt động của doanh nghiệp trong nền kinh tế Một môi trường kinh tế xã hội

ổn định sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho đầu tư sản xuất, lưu thông hàng hoá, do

Trang 27

đó tạo ra nhu cầu về vốn trung và dài hạn cũng như tạo ra khả năng thanh toán cho doanh nghiệp Đây là tiền đề để mở rộng hoạt động tín dụng và nâng cao chất lượng của các khoản tín dụng trung và dài hạn.

Chu kỳ kinh tế cũng ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng trung và dài hạn Khi nền kinh tế phát triển ổn định, nhu cầu tín dụng cao, các doanh nghiệp làm ăn hiệu quả, ngân hàng có thể dễ dàng đạt được chất lượng tín dụng cao Ngược lại, khi nền kinh tế suy thoái, các doanh nghiệp gặp khó khăn trong sản xuất nên nhu cầu tín dụng bị thu hẹp, các khoản tín dụng đã cấp khó thu hồi đầy đủ và đúng hạn Do đó, chính sách tín dụng của ngân hàng phải căn

cứ vào tính chu kỳ của nền kinh tế

Môi trường pháp lý

Môi trường pháp lý bao gồm hệ thống các văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt

động của doanh nghiệp Các văn bản pháp lý có vai trò hướng dẫn hoạt động tín dụng của ngân hàng, tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh giữa các ngân hàng, giúp ngân hàng xử lý các tranh chấp trong hoạt động tín dụng Mặt khác, môi trường pháp lý có ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất, hoạt động đầu tư của doanh nghiệp, nên nó tác động gián tiếp tới nhu cầu vốn và hiệu quả sản xuất - kinh doanh, hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp.Vì vậy, một môi trường pháp lý đầy đủ, đồng bộ và

ổn định là cơ sở nền tảng để ngân hàng nâng cao chất lượng tín dụng

Môi trường chính trị

Khi môi trường chính trị không ổn định, các doanh nghiệp và ngân hàng không thể yên tâm để hoạt động, công chúng đầu tư mất lòng tin khiến cho doanh nghiệp và ngân hàng khó huy động vốn Trong điều kiện đó, ngân hàng buộc phải thu hẹp tín dụng Vì vậy, môi trường chính trị ổn định là một nhân

tố có tác động lớn đến việc nâng cao chất lượng tín dụng của ngân hàng

Như vậy, chất lượng tín dụng trung và dài hạn chịu tác động của nhiều nhân tố Việc hiểu biết rõ và vận dụng sáng tạo các nhân tố này sẽ giúp cho ngân hàng phát triển hoạt động tín dụng, tăng khả năng cạnh tranh cũng như

uy tín của mình

Trang 28

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TRUNG VÀ DÀI

HẠN TẠI CHI NHÁNH NHĐT&PT HÀ NỘI

2.1 Khái quát về chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Hà Nội

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển

Ngày 27/05/1957, Chi nhánh Kiến thiết thành phố Hà Nội - tiền thân của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển (NHĐT&PT) Hà Nội ngày nay - đã ra đời chỉ sau 1 tháng kể từ ngày Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam được thành lập Trải qua hơn 48 năm hoạt động, ngân hàng được ghi dấu sự tồn tại và phát triển theo yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng với các tên gọi sau:

- Chi nhánh Kiến thiết thành phố Hà Nội (1957 - 1981) với nhiệm vụ là nhận vốn từ ngân sách ngân sách Nhà nước để tiến hành cấp phát và cho vay vốn trong lĩnh vực xây dựng cơ bản

- Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Hà Nội (1982 - 1989) nằm trong hệ thống Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam

- Chi nhánh NHĐT&PT Hà Nội (từ năm 1990 đến nay)

Từ khi thành lập cho đến nay, Chi nhánh NHĐT&PT Hà Nội trải qua 4 giai đoạn phát triển:

- Giai đoạn 1957 - 1963: phục vụ công cuộc khôi phục kinh tế sau chiến tranh chống Pháp và kế hoạch 5 năm lần thứ nhất

- Giai đoạn 1965 - 1975: phục vụ chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ leo thang đánh phá miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước

- Giai đoạn 1975 - 1995: Bộ phận cấp phát vốn ngân sách tách khỏi NHĐT&PT Việt Nam trở thành Tổng cục

- Từ năm 1995 đến nay: hoạt động của NHĐT&PT Việt Nam nói chung, chi nhánh thành phố Hà Nội nói riêng chuyển sang giai đoạn mới: kinh doanh

Trang 29

đa năng tổng hợp, thực sự trở thành một ngân hàng thương mại nhà nước, phục vụ chủ yếu trong lĩnh vực đầu tư phát triển trong cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Khi mới thành lập, Chi nhánh chỉ có 2 phòng là phòng Cấp phát và phòng

Kế toán, đã thực hiện cung ứng 350 triệu đồng cho 912 công trình, các khu công nghiệp quan trọng, phục hồi giao thông và hạ tầng kỹ thuật đô thị, đầu tư xây dựng mới vành đai công nghiệp phía Nam Hà Nội Đến tháng 9/1963, Ngân hàng Kiến thiết Hà Nội đã thành lập thêm 3 chi điếm là Gia Lâm, Thanh Trì và Từ Liêm Đến năm 1966, tiếp tục thành lập chi điếm thứ 4 là chi điếm Đông Anh Với việc các chi nhánh Gia Lâm (2001), Thanh Trì (2004),

Từ Liêm và Đông Anh (2005) được nâng cấp thành chi nhánh cấp 1, hiện nay chi nhánh NHĐT&PT Hà Nội chỉ gồm các đơn vị trực thuộc là các phòng giao dịch

2.1.2 Cơ cấu tổ chức

2.1.2.1 Cơ cấu tổ chức chung

Giám đốc: là người đứng đầu và chịu trách nhiệm trước Tổng giám đốc NHĐT&PT Việt Nam về điều hành chi nhánh NHĐT&PT Hà Nội

Các Phó giám đốc: Hiện nay chi nhầnh NHĐT&PT Hà Nội có 4 Phó giám đốc được Giám đốc phân công phụ trách 1 số công viêc và trực tiếp chỉ đạo một số phòng thuộc bộ máy của chi nhánh NHĐT&PT Hà Nội (gọi tắt là phụ trách khối)

Trưởng các phòng, ban, bộ thuộc NHĐT&PT Hà Nội chịu trách nhiệm điều hành, giải quyết các mặt công tác thuộc chức năng nhiệm vụ của phòng ban mình và phải chịu trách nhiệm về các vấn đề đó

Trang 30

Sơ đồ cơ cấu tổ chức các phòng ban của NHĐT&PT Hà Nội

2.1.2.2 Chức năng nhiệm vụ cụ thể của một số phòng ban

Phòng tín dụng

Hiện nay, chi nhánh ĐT&PT Hà Nội gồm có 4 phòng tín dụng:

- Phòng tín dụng 1: chuyên về các khách hàng xây lắp giao thông

- Phòng tín dụng 2: chuyên về các khách hàng là doanh nghiệp của thành phố và dự án của thành phố

- Phòng tín dụng 3: chuyên về các khách hàng là cá nhân, doanh nghiệp ngoài quốc doanh

- Phòng tín dụng 4: chuyên về các khách hàng thuộc khối kinh tế địa phương

Phòng DVKHDN

Phòng DVKH CN

Các ĐV trực thuộc

Khối hỗ trợ khách hàng

Khối dịch vụ khách hàng

Phòng TĐ-QLTD

Khối KTKTNB

Phòng tổ chức CB

Văn phòng

Khối QL nội bộ

Các phòng

Phòng

TD 4 Phòng Tiền tệ KQ

Phòng Điện toán

Phòng tài chính kế toán

Trang 31

Chức năng, nhiệm vụ cụ thể của khối tín dụng là: Thực hiện cho vay ngắn hạn, cho vay đầu tư (trung và dài hạn) đối với các dự án đầu tư, bảo lãnh, tín dụng tài trợ cho các doanh nghiệp, đơn vị và cá nhân theo quy trình nghiệp vụ

và quy định hiện hành

Phòng kế hoạch nguồn vốn

- Không ngừng tăng trưởng vững chắc nguồn vốn với chi phí thấp để phục

vụ tăng trưởng trong hoạt động phục vụ đầu tư và phát triển kinh doanh của chi nhánh

- Tổ chức sử dụng có hiệu quả và an toàn nguồn vốn của chi nhánh

- Đảm bảo cân đối nguồn vốn, sử dụng vững chắc, tổ chức chu chuyển vốn hợp lý

Phòng thanh toán quốc tế

- Thực hiện các nghiệp vụ liên quan đến thanh toán xuất, nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ của khách hàng

- Thực hiện tư vấn về nghiệp vụ ngoại thương, thanh toán quốc tế, hỗ trợ trong đàm phán với đối tác nước ngoài cho khách hàng

- Lập báo cáo về hoạt động thanh toán quốc tế theo quy định

- Lập và phân tích các báo cáo tài chính của chi nhánh

- Phân tích và đánh giá tài chính, hiệu quả kinh doanh của các phòng/ban trực thuộc chi nhánh

Trang 32

2.1.3 Kết quả hoạt động kinh doanh của chi nhánh NHĐT&PT Hà Nội 3 năm gần đây (2003 -2005).

Nguồn:Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của NHĐT&PT Hà Nội

Qua bảng tình hình huy động vốn của chi nhánh NHĐT&PT Hà Nội, có thể thấy lượng vốn huy động của chi nhánh tăng liên tục: năm 2004 tăng 17,55% so với cùng kỳ năm 2003; năm 2005 tăng 36,38% so với năm 2004

Theo tiêu thức đối tượng huy động: tỷ trọng tiền gửi của dân cư và

tiền gửi của các tổ chức kinh tế (TCKT) tương đối ổn định qua các năm Về mặt tuyệt đối, lượng tiền gửi của dân cư và của các TCKT luôn tăng lên so với năm trước Tuy nhiên về mặt tương đối, tỷ trọng tiền gửi của dân cư có xu hướng giảm dần, dù không rõ rệt Tỷ trọng tiền gửi của các TCKT tăng nhưng rất chậm

Trang 33

Theo tiêu thức thời hạn: nguồn vốn trung và dài hạn của NHĐT&PT

Hà Nội không chỉ được mở rộng qua các năm Điều này chứng tỏ công tác huy động vốn trung dài hạn của chi nhánh đang có hiệu quả

b, Theo đối tượng khách hàng

c, Theo tài sản đảm bảo

Nguồn : Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của NHĐT&PT Hà Nội

Hoạt động tín dụng của chi nhánh NHĐT&PT Hà Nội trong ba năm gần đây đã cơ bản bám sát mục tiêu chủ động tăng trưởng, gắn tăng trưởng với kiểm soát chất lượng, đảm bảo an toàn và phát triển các dịch vụ, chấp hành nghiêm túc giới hạn tín dụng cũng như quy định, kỷ luật điều hành

Tổng dư nợ (không kể ODA, nợ khoanh, chờ xử lý) không ngừng tăng: năm 2004 tăng 11,69% so với năm 2003; năm 2005 tăng 13,97% so với năm

2004 Trong đó:

• Dư nợ tín dụng ngắn hạn không ngừng mở rộng về mặt lượng nhưng tỷ trọng trong tổng dư nợ lại giảm dần Dư nợ tín dụng trung và dài hạn tăng qua các năm cả về mặt tuyệt đối và tương đối

Trang 34

• Dư nợ đối với các doanh nghiệp phi Nhà nước tăng dần so với dư nợ của các doanh nghiệp Nhà nước

• Dư nợ có tài sản đảm bảo tăng dần (cùng với việc thực hiện Đề án xử

lý nợ tồn đọng của NHĐT&PT Việt Nam và việc ban hành Quyết định 493/NHNN về phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro) Điều này chứng tỏ hoạt động tín dụng của chi nhánh ngày càng hướng tới sự an toàn

Thuế thu nhập doanh nghiệp 313,6 332,92 342,44

Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của NHĐT&PT Hà Nội

Chi nhánh NHĐT&PT Hà Nội trong 3 năm gần đây luôn làm ăn có lãi Lợi nhuận gia tăng qua từng năm: năm 2004 tăng 6,16%% so với năm 2003, năm

2005 tăng 2,86%% so với năm 2004 Sở dĩ, lợi nhuận của chi nhánh giảm sút

về số tương đối là do sự cạnh tranh ngày càng gay gắt từ phía các ngân hàng khác cùng địa bàn

2.2 Thực trạng chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại chi nhánh NHĐT&PT

Hà Nội

2.2.1 Quy chế tín dụng trung và dài hạn tại chi nhánh NHĐT&PT Hà Nội

2.2.1.1 Các quy định của tín dụng trung và dài hạn tại chi nhánh NHĐT&PT Hà Nội

Mục đích cho vay trung và dài hạn: giúp doanh nghiệp có điều kiện

khôi phục, đổi mới trang thiết bị, ứng dụng khoa học công nghệ mới, mở rộng

Trang 35

sản xuất, đầu tư cho các dự án xây dựng nhằm tạo ra lợi nhuận phù hợp quy định của pháp luật và sự phát triển của nền kinh tế.

Đối tượng của tín dụng trung và dài hạn: là các chi phí cấu thành

tổng mức vốn đầu tư của dự án như: chi phí thuê, mua đất, chi phí xây dựng nhà xưởng, chi phí mua sắm máy móc thiết bị, mua công nghệ sản xuất, mua các phương tiện vận chuyển, chi phí xây dựng cơ sở hạ tầng (điện, nước, đường sá,…), …

Thời hạn tín dụng trung và dài hạn: được tính từ khi đồng vốn đầu

tiên của ngân hàng được phát ra đến lúc đồng vốn cuối cùng và lãi cuối cùng phải thu về Thời hạn tín dụng có thể được chia thành thời gian đầu tư, thời gian ân hạn và thời gian trả nợ Thời hạn tín dụng do ngân hàng và khách hàng thoả thuận căn cứ vào chu kỳ sản xuất - kinh doanh, thời hạn thu hồi vốn của dự án đầu tư, khả năng trả nợ của khách hàng, khả năng nguồn vốn cho vay của ngân hàng

Lãi suất tín dụng trung và dài hạn: lãi suất tín dụng cụ thể do Ngân

hàng và khách hàng thoả thuận Ngân hàng và khách hàng có thể thoả thuận

áp dụng lãi suất cho vay cố định trong suốt thời gian vay vốn hoặc lãi suất cho vay có điều chỉnh (theo định kỳ hoặc theo thông báo lãi suất suất trên thị trường quốc tế hay thông báo lãi suất của ngân hàng) Dù lãi suất được xác định thế nào thì nó luôn bao gồm: lãi suất huy động, chi phí hoạt động của ngân hàng, thuế, lợi nhuận dự tính và mức bù rủi ro

Mức và giới hạn tín dụng trung và dài hạn: mức tín dụng trung và dài

hạn được xác định căn cứ vào nhu cầu vay vốn, khả năng hoàn trả nợ và khả năng bảo đảm tiền vay của khách hàng và khả năng nguồn vốn của ngân hàng, nhưng tối đa không vượt quá giới hạn tín dụng Giới hạn tín dụng: tổng dư nợ cho vay của ngân hàng đối với một khách hàng không vượt quá 15% vốn tự

có của ngân hàng, trừ trường hợp đối với những khoản cho vay từ các nguồn

vốn uỷ thác của Chính phủ, của các tổ chức và cá nhân

Trang 36

Nguồn vốn cho vay: nguồn vốn hình thành nên các khoản tín dụng

trung và dài hạn gồm có:

- Vốn tự có của ngân hàng

- Nguồn vốn huy động của dân cư dưới hình thức phát hành trái phiếu dài hạn, huy động tiền gửi định kỳ dài hạn Ngoài ra, theo quy định của pháp luật hiện hành, ngân hàng được sử dụng tối đa 40% nguồn vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn

- Vốn vay từ Ngân hàng Nhà nước

- Vay nợ nước ngoài để cho vay trung và dài hạn

Biện pháp đảm bảo tiền vay: NHĐT&PT Hà Nội áp dụng các biện

pháp bảo đảm tiền vay sau:

- Các biện pháp bảo đảm tiền vay bằng tài sản: cầm cố, thế chấp bằng tài sản của khách hàng vay; bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba; bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay

- Biện pháp bảo đảm tiền vay trong trường hợp cho vay không có bảo đảm bằng tài sản: cho vay không có bảo đảm bằng tài sản đối với những khách hàng đủ điều kiện

Các biện pháp bảo đảm tiền vay nhằm hạn chế thiệt hại cho ngân hàng khi khách hàng không thể trả được nợ, giảm thiểu rủi ro mất vốn

Phương thức cho vay: ngân hàng và khách hàng thoả thuận với nhau

về việc áp dụng các phương thức cho vay sau:

- Cho vay từng lần (cho vay theo món): áp dụng với khách hàng có quan

hệ không thường xuyên với ngân hàng, có nguồn thu thường không ổn định

- Cho vay theo hạn mức tín dụng: áp dụng với khách hàng có quan hệ thường xuyên với ngân hàng, có sản xuất - kinh doanh ổn định và có hiệu quả

- Cho vay theo dự án đầu tư: ngân hàng cho khách hàng vay vốn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh dịch vụ và các dự án đầu

tư phục vụ cuộc sống

Trang 37

- Cho vay hợp vốn: ngân hàng cùng một số tổ chức tín dụng khác cùng cho vay đối với một dự án vay vốn hoặc phương án vay vốn của khách hang, trong đó ngân hàng hoặc một tổ chức tín dụng khác làm đầu mối thu xếp.

- Cho vay trả góp: khi cho vay, ngân hàng cùng kháchhàng xác định và thoả thuận số lãi vốn vay phải trả cộng với số nợ gốc được chia ra để trả nợ theo nhiều kỳ hạn trong thời hạn cho vay

- Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: ngân hàng cam kết sẵn sàng cho khách hàng vay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng nhất định để giúp khách hàng chủ động thu xếp các nguồn vốn cần thiết nhằm thực hiện dự án đầu tư phát triển hoặc phương án sản xuất kinh doanh trong thời hạn hiệu lực của hợp đồng tín dụng dự phòng

- Các phương thức cho vay khác mà pháp luật không cấm, phù hợp với quy định của Ngân hàng Nhà nước và NHĐT&PT Việt Nam

Phương thức hoàn trả nợ gốc và lãi: căn cứ vào đặc điểm sản xuất

kinh doanh, luân chuyển vốn, khả năng tài chính, thu nhập và nguồn trả nợ của khách hàng, việc xác định kỳ hạn trả nợ gốc và lãi tiền vay được quy định thoả thuận như sau:

- Các kỳ hạn trả nợ gốc và số tiền trả nợ của mối kỳ hạn

- Thu lãi tiền vay theo định kỳ hàng tháng, hoặc quý, vụ, chu kỳ sản xuất, hoặc thu lãi vay cùng với nợ gốc theo kỳ hạn trả nợ

2.2.1.2 Quy trình tín dụng trung và dài hạn

Quy trình tín dụng được soạn thảo nhằm mục đích giúp cho quá trình cho vay diễn ra thống nhất, khoa học, hạn chế, phòng ngừa rủi ro và nâng cao chất lượng tín dụng, góp phần đáp ứng ngày một tốt hơn nhu cầu vay vốn của khách hàng Quy trình tín dụng trung và dài hạn tại NHĐT&PT Hà Nội gồm

có các bước sau:

Trang 38

Bước 1: Hướng dẫn khách hàng lập hồ sơ vay vốn, kiểm tra tính đầy

đủ, hợp pháp, hợp lệ của hồ sơ

Cán bộ tín dụng chịu trách nhiệm hướng dẫn khách hàng lập và hoàn thiện

hồ sơ vay vốn Hồ sơ gồm có: Giấy Đề nghị vay vốn (theo mẫu của ngân hàng), hồ sơ pháp lý về khách hàng, hồ sơ về tình hình sản xuất kinh doanh và tài chính, hồ sơ về dự án vay vốn, hồ sơ về đảm bảo tiền vay

Bước 2: Thẩm dịnh hiệu quả và khả năng trả nợ

Cán bộ tín dụng và cán bộ thẩm định chịu trách nhiệm tiến hành thẩm định những nội dung sau:

 Thẩm định về hiệu quả và khả năng trả nợ của khách hàng

 Thẩm định kinh tế kỹ thuật của dự án

 Thẩm định các biện pháp đảm bảo tiền vay

Cán bộ tín dụng làm đầu mối tiếp nhận hồ sơ, chuyển hồ sơ lấy ý kiến tham gia của các phòng chức năng khác như: phòng nguồn vốn, đơn vị thực hiện nghiệp vụ thẩm định, …

Sau khi tiến hành thẩm định các nội dung trên, cán bộ tín dụng lập tờ trình Trưởng phòng tín dụng Trưởng phòng tín dụng chịu trách nhiệm kiểm tra, kiểm soát lại hồ sơ vay vốn, các nội dung cán bộ tín dụng đã nêu tong tờ trình; bổ sung thêm các thông tin về khách hàng và dự án (bnếu có), có ý kiến độc lập đề xuất cho vay, không cho vay Sau đó, cán bộ tín dụng sẽ tập hợp lại hồ sơ tín dụng và trình lãnh đạo

Bước 3: Quyết định cho vay

Quyết dịnh cho vay của Lãnh đạo phải thể hiện rõ các ý kiến sau:

Ngày đăng: 19/02/2014, 11:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Quản trị ngân hàng thương mại - Peter S.Rose Khác
2. Tiền tệ, ngân hàng và thị trường tài chính - Frederic S.Minshkin 3. Nghiệp vụ ngân hàng thương mại - GS.TS Lê Văn Tư Khác
10. Sổ tay Tín dụng của NHĐT&PT Việt Nam Khác
11. Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của NHĐT&PT Hà Nội các năm 2003, 2004, 2005 Khác
12. Tạp chí Thị trường Tài chính Tiền tệ, Tạp chí Ngân hàng, Tạp chí Đầu tư các năm 2005, 2006 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ cơ cấu tổ chức các phòng ban của NHĐT&PT Hà Nội - giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại chi nhánh ngân hàng đầu tư và  phát triển hà nội
Sơ đồ c ơ cấu tổ chức các phòng ban của NHĐT&PT Hà Nội (Trang 30)
Bảng 1. Tình hình huy động vốn của NHĐT&PT Hà Nội - giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại chi nhánh ngân hàng đầu tư và  phát triển hà nội
Bảng 1. Tình hình huy động vốn của NHĐT&PT Hà Nội (Trang 32)
Bảng 5. Tình hình cho vay trung dài hạn củaNHĐT&PT Hà Nội - giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại chi nhánh ngân hàng đầu tư và  phát triển hà nội
Bảng 5. Tình hình cho vay trung dài hạn củaNHĐT&PT Hà Nội (Trang 42)
Bảng 5. Cơ cấu tín dụng trong tổng dư nợ của NHĐT&PT Hà Nội - giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại chi nhánh ngân hàng đầu tư và  phát triển hà nội
Bảng 5. Cơ cấu tín dụng trong tổng dư nợ của NHĐT&PT Hà Nội (Trang 43)
Bảng 9. Doanh số thu nợ trung dài hạn của NHĐT&PT Hà Nội - giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại chi nhánh ngân hàng đầu tư và  phát triển hà nội
Bảng 9. Doanh số thu nợ trung dài hạn của NHĐT&PT Hà Nội (Trang 45)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w