1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

giải pháp mở rộng thị trường trang thiết bị y tế của công ty xuất nhập khẩu tạp phẩm hà nội _tocontap hanoi

74 1,2K 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải pháp mở rộng thị trường trang thiết bị y tế của công ty xuất nhập khẩu tạp phẩm Hà Nội _TOCONTAP Hanoi
Tác giả Vương Ngọc Phượng
Trường học Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Thương mại quốc tế
Thể loại Chuyên đề tốt nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 657,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đưa máy móc côngnghệ hiện đại thâm nhập vào từng ngành, từng nghề, từng lĩnh vực, côngnghiệp hoá nông nghiệp nông thôn, hiện đại hoá trang thiết bị máy móc, cùngvới sự khuyến khích của n

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Trước sự thay đổi mạnh mẽ của nền kinh tế thế giới, dưới sự tác độngcủa tự do hoá thương mại, quá trình hội nhập, toàn cầu hoá kinh tế quốc tế Sựthay đổi từng ngày của kỹ thuầt công nghệ thông tin, công nghệ tự động hoá,công nghệ sịnh học Kinh tế Việt Nam không ngừng từng bước thay đổi mìnhtích cực thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước Đưa máy móc côngnghệ hiện đại thâm nhập vào từng ngành, từng nghề, từng lĩnh vực, côngnghiệp hoá nông nghiệp nông thôn, hiện đại hoá trang thiết bị máy móc, cùngvới sự khuyến khích của nhà nước, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanhnghiệp nhà nước, liên doanh tư nhân, cổ phần tham gia vào quá trình hội nhậpkinh tế khu vực và thế giới

Là một nước nông nghiệp nghèo đang phát triển, đang tích cực thực hiệncông nghiệp hoá hiện đại hoá đất nứơc Chính phủ thường xuyên đề ra nhữngchính sách giúp doanh nghiệp thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá doanhnghiệp ưu tiên vào hiện đại hoá máy móc, thiết bị phục vụ cho sản xuất , phục

vụ cho phúc lợi xã hội Khi kinh tế càng phát triển thì xã hội càng có nhu cầunâng cao điều kiện sống, nhu cầu chăm sóc sức khoẻ không ngừng được giatăng không chỉ ở những thành phố lớn mà nhu cầu đó, đòi hỏi đó càng một giatăng cả ở những vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu vùng xa Mặc dù nhữngnhu cầu đó không giống nhau nhưng đều phản ánh sự thay đổi trong mứcsống của dân cư một nước

Trong những năm qua thực hiện đường lối của Đảng, đất nước đã ra khỏitình trạng khủng hoảng kinh tế xã hội Cùng với bước phát triển chung của đấtnước, lĩnh vực văn hoá xã hội ( trong đó có y tế ) đã đạt được những thành tựuđáng kể nhưng vẫn còn những vấn đề bức súc cần phải tiếp tục giải quyết.Đảng ta đã quan tâm chỉ đạo công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ của nhân

Trang 2

dân thể hiện qua các nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI và VII,đặc biệt hội nghị lần thứ IV ban chấp hành TW Đảng khoá VII đã ra nghịquyết về: " Những vấn đề cấp bách trong chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhândân ".

Quốc hội đã thông qua luật bảo vệ sức khoẻ nhân làm cơ sở pháp lý choviệc tiến hành các hoạt động chăm sóc bảo vệ sức khỏe Chính phủ đã banhành nhiều chính sách, chỉ thị, quyết định quan trọng để thể chế hoá các quanđiểm chỉ đạo của Đảng

Chính vì thế, ưu tiên vào việc nhập khẩu thiết bị y tế trong chính sáchcủa đảng và nhà nước đang là bước chuyển hướng mới trong xu thế hội nhập.Các doanh nghịêp cũng nhận thấy được sư thuận lợi này và từ nhu cầu ngàycàng một gia tăng và đa dạng Bên cạnh đó nền kinh tế thị trường phát triển sẽtạo sự phân tầng xã hội và tạo ra mức thu nhập không đồng đều giữa các vùngtrong đó có người nghèo, người sống ở các vùng khó khăn cần được quan tâmnhiều hơn Đồng thời đến năm 2020, dân số tiếp tục tăng lên (khoảng 105triệu người ) trong đó cơ cấu người già sẽ tăng cũng đặt ra

Thuận lợi từ phía chính phủ: Mở rộng hệ thống TTB trong các bệnh việntạo điều kiện phát triển mạng lưới trung tâm y tế nhà nước, tư nhân ở cácthành phố lớn, mở rộng ra cả khu vực vùng sâu, vùng xa, hải đảo…

Thuận lợi từ phía nhu cầu ngày một tăng của dân cư, nhu cầu được chămsóc sức khoẻ bằng máy móc thiết bị hiện đại, tiên tiến nhất đảm bảo chínhxác,

Không nằm ngoài xu hướng vận động này, công ty xuất nhập khẩu tạp phẩm Hà Nội, tên giao dịch là TOCONTAP Hanoi là một doanh nghiệp nhà

nước đang chuyển bị cổ phần hoá, với tuổi thọ 50 năm TOCONTAP Hanoiluôn tích cực thực hiện chính sách của nhà nước giao cho các doanh nghiệp,tích cực tìm kiếm thị trường trong và ngoài nước không ngừng mở rộng các

Trang 3

lĩnh kinh doanh trong từng giai đoạn phát triển của đất nước, của công ty Sựlớn mạnh của TOCONTAP Hanoi đánh dấu sự định hướng đúng đắn, phù hợpcủa công ty trong xu hướng phát triển trong, ngoài nước Từ sự thuận lợi từcác phía TOCONTAP Hanoi đã chuyển hướng tập trung mũi nhọn kinh doanhsang trang thiết bị y tế giá trị lớn Nếu như trước đây, trong giới kinh doanhchỉ biết đến máy móc thiết bị lớn là TECHNO, MACHINO,…thì ngày naytên tuổi của TOCONTAP Hanoi đã được nhiều người biết đến tronh lĩnh vựcmáy móc thiết bị, trang thiết bị y tế

Mặt khác, với thế mạnh của mình: có tuổi thọ cao trên thương trườngtrong và ngoài nước, lại là một doanh nghiệp nhà nước hoạt động theo cơ chếkhoán trong hầu hết các lĩnh vực kinh doanh TOCONTAP Hanoi giành đượcrất nhiều thuận lợi nhất định, có khả năng cạnh tranh cao, có uy tín với cácđối tác làm ăn

TOCONTAP Hanoi đang thu hút rất nhiều sự chú ý của các nhà đánhgiá, các nhà hoạch định chính sách, các nhà đầu tư trong và ngoài nước Thật sự là một điều rất may mắn khi tác giả thực tập tại TOCONTAPHanoi, được giám đốc, ban lãnh đạo công ty, phòng kinh doanh nghiệp vụXNK 4 cùng các cô chú, anh chị trong công ty hết lòng giúp đỡ, tạo nhiềuđiều kiện thuận lợi cho tác giả hoàn thành tốt nhiệm vụ trong thời gian thựctập góp một phần rất lớn vào thành công của báo cáo nghiên cứu của mình.Thị trường trang thiết bị y tế đang là hướng đi mới của công ty trong thời giangần đây, nhiều thuận lợi cùng muôn vạn khó khăn đặt ra trước mắt màTOCONTAP Hanoi phải đối mặt trong thời gian tới là điều thôi thúc em lựa

chọn đề tài nghiên cứu của mình là: Giải pháp mở rộng thị trường trang thiết bị y tế của công ty xuất nhập khẩu tạp phẩm Hà nội _TOCONTAP Hanoi

Kết cấu của bài viết gồm 3 chương:

Trang 4

ư ong I: Những vấn đề lý luận chung về trang thiết bị y tế và thị

trưòng trang thiết bị y tế

Ch

ươ ng II : Thực trạng thị trưòng trang thiết bị y tế của công ty xnk

tạp phẩm Hà Nội - TOCONTAP Hanoi

Ch

ươ ng III: Giải pháp để mở rộng thị trường trang thiết bị y tế của

TOCONTAP Hanoi

Trang 5

CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỊ TRƯỜNG

TRANG THIẾT BỊ Y TẾ

I.1 Khái niệm trang thiết bị y tế.

Trang thiết bị y tế bao gồm tất cả các dụng cụ, thiết bị kỹ thuật, phươngrtiện vận chuyển, vật tư chuyên dùng và thông dụng phục vụ cho các hoạtđộng phòng bệnh, khám chữa bệnh cho ngành y tế

Trong chiến lược phát triển khoa học công nghệ ngành y tế đến năm 2020

đã xác định rõ ngành y tế mang tính liên ngành rõ rệt, bao gồm nhiều lĩnh vựcnhư y tế dự phòng, y học lâm sàng, y học cổ truyền, dược học và trang thiết bị

y tế Vấn đề quan trọng đặt ra cho việc xây dựng chiến lược là chọn hướng ưutiên nào, kỹ thuật công nghệ nào, mục tiêu phát triển cùng các giải pháp chủyếu và chương trình hành động để đạt được các mục tiêu chung và mục tiêu

cụ thể của ngành, đồng thời hoà nhập được với chiến lược phát triển khoa họccông nghệ chung của đất nước trong quá trình công nghiệp hoá hiệ đại hoá đấtnước

Sự phát triển như vũ bão của cách mạng KH-CNTT trong hai thập kỷcuối của thế kỷ 20 với những thành tựu kỳ diệu đã tác động mạnh mẽ vào tiếntrình phát triển của mọi ngành mọi lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực trang thiết

bị y tế Nhiều thiết bị y tế kỹ thuật cao, hiện đại đã được nghiên cứu chế tạo,ứng dụng phục vụ cho công tác khám chữa bệnh, nâng cao chất lượng chămsóc bảo vệ sức khỏe của nhân dân Một thực tế hiện nay là các bệnh viện hiệnđại đang dần trở thành các trung tâm công nghệ kỹ thuật cao với việc ứngdụng nhiều công nghệ tiên tiến, chính xác và mức độ tự động hoá cao như:thiết bị cộng hưởng tứ hạt nhân, X- quang cắt lớp điện toán, siêu âm Dopplermàu, dao mổ Grammar, máy gia tốc điều trị ung thư v.v

Trang 6

Trang thiết bị y tế nói chung được dùng trong công tác chuẩn đoán vàđiều trị bệnh rất phức tạp và đa dạng, là tổ hợp của nhiều ngành kỹ thuật vàcông nghệ như điện, điện tử, cơ khí, quang học, hạt nhân, tin học và điềukhiển học…

Với vai trò là nòng cốt trong quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoángành y tế, trang thiết bị y tế đã và đang hỗ trợ tích cực cho các nhà y dượchọc không ngừng thu đựơc nhừng kỳ tích lớn lao trong sự nghiệp chăm sóc,bảo vệ sức khoẻ nhân dân

Tuy nhiên, trong thức tế hoạt động của ngành y tế từ các bệnh việnlớn, hiện đại trực thuộc TW tói các cơ sở địa phương, không phải nơi nàocũng xác định được vai trò, chức năng quan trọng của trang thiết bị y tế, hoặc

do thiếu kiến thức hiểu biết về trang thiết bị y tế nên đã không có sự quản lýthích đáng, không phân công cán bộ thường xuyên chăm sóc bảo trì, kiểm tranên đã để cho trang thiết bị y tế đã thiếu lại hay bị hư hỏng không đáng có,hoặc để cho thiết bị làm việc triền miên, quá tải cho đến lúc hư hỏng mới losửa chữa, xin mua mới

Cũng do thiếu sự quan tâm nên ở khá nhiều cơ sở bệnh viện hiện naychưa chú ý củng cố, xây dựng phòng quản lý vật tư- thiết bị y tế, không cócán bộ thường xuyên tham mưu cho lãnh đạo bệnh viện trong việc xây dựng

kế hoạch nâng cấp, mua sắm trang thiết bị hàng năm đã dẫn tới hiện tượngmua lấm trang thiết bị không phù hợp với yêu cầu chuyên môn, gây nênnhững lãng phí cho cơ sở giảm hiệu quả đầu tư của Nhà nước

Trang thiết bị y tế là loại máy móc, thiết bị giá trị cao, ngoài những đặcđiểm chung của một hàng hoá thiết bị, còn mang những đặc điểm riêng có củamình Nguồn cung cấp máy móc trang thiết bị còn nhiều hạn chế chưa thể đápứng được nhu cầu, tiêu chuẩn quốc tế đặt ra Nên nhà nước ta từ lâu đã rất ưu

Trang 7

tiên tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho việc nhập khẩu máy móc thiết bị từnước ngoài về thực hiện sư nghiệp chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ của nhân dân Chịu sự kiểm tra, đánh giá, kiểm soát chất lượng của các tổ chức quốctế: tiêu chuẩn ISO 9002, ISO13488…nên hàng hoá này có tính kỹ thuật cao,hàm lượng chất xám lớn đảm bảo không xảy ra sai sót, những lỗi kỹ thuậtđáng tiếc xảy ra trong thời gian hoạt động, vận hành, ảnh hưởng trực tiếp đếntính mạng, sức khoẻ của con người Chẳng hạn yêu cầu tính chính xác củamáy siêu âm nội soi để có thể có những chuẩn đoán tên bệnh ,tuổi thọ củabệnh, thời gian tồn tại của bệnh, kích thước, trọng lượng…của những bộ phậnmắc bệnh trong cơ thể con người Hay độ an toàn của các thiết bị nội soi bêntrong cơ thể khi các thiết bị này đựơc đưa vào các cơ quan nội tạng Do vậy

mà cũng phải đòi hỏi đội ngũ y bác sỹ phải được đào tạo chuyên sâu, tính kỷluật cao

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, nhu cầu được chăm sóc sứckhoẻ, an toàn lao động, an toàn tính mạng con người ngày một tăng lên Nếunhư chỉ dựa vào các trung tâm y tế, các bệnh viện của nhà nước mở ra thìkhông thể đảm bảo hết được nhu cầu của con người Đó là nguyên nhân dẫnđến ngày càng nhiều các trung tâm y tế, phòng khám tư nhân mọc ra với mụctiêu phục vụ nhanh nhất, tiện ích nhất, đảm bảo nhất cho người bệnh, khôngtốn nhiều thời gian làm thủ tục rườm rà, phải chờ đợi lâu Trên các địa bànkhu vực thành phố trung tâm, đến cả các thành phố trục thuộc tỉnh, các huyện

lỵ, các tỉnh miền núi, đồng bằng mà ở đó nhà nước chưa có chính sách đầu tư.Các sản phẩm trang thiết bị y tế là sự kết hợp chặt chẽ giữa các ngành khoahọc, công nghệ tiên tiến như: Điện, điện tử viên thông, cơ khí chính xác,quang học, tin học, vật lý học, sinh học, hoá học, vật liệu học Sự tiên tiến củatrình độ công nghệ đảm bảo tính tiên tiến, hiện đại của hệ thống trang thiết bị

Trang 8

y tế, thể hiện trình độ phát triển của của nền kinh tế một nước, trình độ cậpnhật thông tin của dân cư.

Ở những nước kém phát triển thì hệ thống này không đựơc đảm bảochất lưọng, đảm bảo kỹ thuật Hệ thống máy móc còn lạc hậu cũ kỹ Chỉ cómột con số rất ít ở các bệnh viện trung ương quốc gia mới có được hệ thốngtrang thiết bị y tế hiện đại đạt tiêu chuẩn quốc tế

Ở Việt Nam hiện nay, phần lớn các cơ sở y tế vẫn đang phải sử dụngchủng loại trang thiết bị y tế từ những năm 70, 80 đã thật sự lạc hậu lại thiếutính đồng bộ Do vậy nhu cầu cấp thiết đặt ra là phải hiện đại hoá máy móctrang thiết bị, đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của dân cư Việt Nam làmột trong những quốc gia đông dân nhất thế giới ( Đứng thứ 8, sauBăngladet), nhưng lại thuộc tốp những Quốc gia nghèo nhất thế giới Nên nhucầu đặt ra là từng bước đưa Việt Nam trở thành một nước công nghiệp, đồngthời là một nước có chỉ số chăm sóc sức khoẻ nhân dân cao trên thế giới

Số trang thiết bị công nghệ sản xuất trước năm 1990 hiện chiếm khoảng 80%,còn lại một phần rất nhỏ 20% là trang thiết bị y tế được sản xuất sau năm 90.Đây chính là cơ hội cho các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực trangthiết bị y tế nhập khẩu thâm nhập vào thị trường nội địa

Hiện nay, đã có một số xí nghiệp sản xuất được các trang thiết bị y tếtrong nước, đã được đầu tư cả về chiều sâu và chiều rộng cả vốn và đổi mớicông nghệ Nhưng hầu hết là thiết bị thông thường, thiết bị nội thất bệnh viện,phục vụ cho nhu cầu chăm sóc, khám chữa bệnh, chăm sóc diều dưỡng đảmbảo cho nhu cầu trong nước và đã có một phần xuất khẩu sang các nước châuPhi, Trung đông, và các nước láng giềng

Sự non yếu về trình độ sản xuất đặc biệt là các thiết bị máy móc côngnghệ cao, là điều kiện để hàng hoá nhập khẩu vào thị trường mà không phải

Trang 9

chịu sức cạnh tranh của hàng hoá trong nước, đẩy giá cả lên cao mà vẫn tiêuthụ mạnh.

I.2 Thị trường trang thiết bị y tế ở Việt Nam.

I.2.1 Đặc trưng cơ bản của thị trường trang thiết bị y tế.

+Đặc điểm trang thiết bị y tế:

Trong vòng hai thập kỷ cuối của thế kỷ XX, nhiều loại trang thiết bịhiện đại- con đẻ của sự ứng dụng công nghệ khoa học đã giúp cho việc chuẩnđoán bệnh một cách nhanh chóng chính xác, an toàn hiệu quả cao và do đó ítgây biến chứng cho người bệnh Sự hịên diện thâm nhập nhanh của khoa họccông nghệ trong các trang thiết bị y tế ngoài những vai trò đã nêu trên thì xét

về phương diện tinh thần còn giúp cho người thầy thuốc ( bác sỹ ) vững tin vàyên tâm trong việc khám và điều trị bệnh, đồng thời còn giúp cho người bệnhlác quan hơn, hy vọng nhiều hơn với việc đẩy lùi căn bệnh nguy hiểm đangphải chữa trị

Trong khuyến cáo của tổ chức Y tế Thế giới (WHO), vai trò của trangthiết bị y tế đã được khẳng định.Đây thực tế đã là một lĩnh vực kỹ thuậtchuyên môn của ngành y tế, là một trong 3 nội dung cấu thành của ngành y tế

đó là Y, dược, và thiết bị y tế

+ Giá trị Kinh tế:

Nếu xét về mặt kỹ thuật chuyên môn, trang thiết bị y tế giữ một vi tròhết sức quan trọng, là then chốt trong sự nghiệp CNH-HĐH ngành y tế, thì vềmặt giá trị kinh tế, trang thiết bị y tế cũng chiếm một phần hết sức to lớn Tổchức Y tế thế giới cũng đã báo động cho cộng đồng thế giới biết rằng khốilượng tài sản trang thiết bị y tế trên toàn thế giới là khổng lồ, chi phí hằngnăm để duy trì hoạt động và bổ sung trang thiết bị y tế gấp 1.5 lần chi phí chothuốc chữa bệnh cho toàn nhân loại, hiện tượng lãng phí tiền của trong lĩnhvực này cũng khá lớn Để minh hoạ điều này, thông qua đợt khảo sát điều tra

Trang 10

năm 1994, WHO đã công bố ở một nước đang phát triển ở một Nam Mỹ nhưsau:

- Tổng giá trị trang thiết bị y tế trong cả nước 5 tỷ USD

- Số lượng trang thiết bị y tế bị hỏng không sử dụng được 2

tỷ USD ( chiếm 40% tổng giá trị trang thiết bị y tế)

- Chi phí hằng nămc cho bảo dưỡng, sửa chữa, kiểm địnhtrang thiết bị là 650 triệu USD ( chiêm 13% tổng số kinh phícủa trang thiết bị )

- Chi phí hằng năm cho thuốc chữa bệnh : 400 triệu USD Đối với tình hình hiện nay của Việt Nam, trang thiết bị y tế đựoc trang bịtrong nhiều năm qua từ nhiêud nguồn: Ngân sách nhà nước, nguồn viện trợ,nguồn từ các địa phương, các cơ sở tư nhân….cũng lên tới hàng nghìn tỷđồng Một số liệu về tổng kinh phí cho việc nâng cấp trang thiết bị y tế trongcác năm từ từ 2000-2005 trong cả nước cũng lên đến 5 nghìn tỷ đồng ( thiết bịnhập khẩu )

Trong đó các loại thiêt bị có mức độ kỹ thuất cao, hiện đại có giá trị kinh tếlớn hiện có trên phạm vi cả nước như sau:

1 Máy cộng hưởng từ : 05 chiếc

2 CT – Scanners: 43 chiếc

3 Thiết bị chụp mạch: 5 chiếc

4 X- quang tăng sáng truyền hình: 66 chiếc

5 Máy siêu âm màu: 45 chiếc

6 Máy Cobalt điều trị : 10 chiếc

7 Máy gia tốc tuyến tính : 04 chiếc

Để minh hoạ cho phần trang bị mua sắm trang thiết bị y tế hàng năm, chúng

ta có thể xem qua sơ đồ dưới đây:

Trang 11

Biểu đồ: Cơ cấu các trang thiết bị mua sắm hàng năm

+Trên thị trường khu vực và thế giới

Thị trường máy móc, thiết bị y tế không giống như thị trường hàng hoákhác, không hoàn toàn tuân theo quy luật cung cầu, không chịu tác động bởigiá cả hàng hoá mà lại phụ thuộc vào những yếu tố rất khách quan như: trình

độ phát triển kinh tế của đất nướcđó Một nước phát triển thì nhu cầu chămsóc sức khoẻ càng cao, nhu cầu thẩm mỹ chỉnh hình càng nhiều, ngay cả thực

tế là chi phí cho mỗi lần cao gấp rất nhiều lần so với nhu cầu chăm sóc khác

Mà việc chăm sóc này không phải một chiều mà mang tính định kỳ, thườngxuyên

Mặt khác là một loại sản phẩm của nhiều nghành khoa học hiện đại ,hàm lượng chất xám cao, cho nên giá trị chứa trong sản phẩm là lớn hơn rấtnhiều so với hàng hoá máy móc thiết bị cộng nghệ khác như: máy siêu âm,máy chụp X – quang, máy siêu âm 4 chiều, 3 chiều, máy nội soi, máy chụpcắt lớp …

Ở những nước phát triển, thị hệ thống trang thiết bị y tế được trang bịđầy đủ, đồng bộ, mang tính kỹ thuật cao Bởi ở những quốc gia này, ngànhcông nghiệp chế tạo, hoá chất, điện tử viên thông phát triển, là khởi nguồncho ngành trang thiết bị y tế phát triển theo, kết quả tất yếu là những quốc gia

Trang 12

này thì tốc độ phát triển ngành y tế đứng hàng đầu thế giới Thu nhập bìnhquân đầu người vào khoảng trên dưới 10.000 USD/ người /năm, do vậy nhucầu được chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ cũng cao hơn ở các nước đang phát triển

và kém phát triển Những khu vực dân cư nghèo này, đời sống người dân gặprất nhiều khó khăn, chính phủ cũng chỉ đủ lo đến đời sống của người dânhàng ngày cũng đã phải trông cậy đến sự viện trợ của các nước khác, các tổchức từ thiện thì vấn đề đầu tư cho chăm sóc sức khoẻ rất hạn chế

Ở chính bản thân của người dân cũng chỉ hạn chế dừng lại ở khả năngchăm lo đến cuộc sống hàng ngày, nhu cầu ăn no mặc ấm là đủ lắm rồi chứchưa nói đến những nhu cầu khác

Ngành công nghiệp kém phát triển, công nghệ không được hiện đại hoá, cáctrang thiết bị y tế phải nhập khẩu từ những nước công nghiệp phát triển vớigiá cao, không thể tự trang bị được đầy đủ, đồng bộ

Đó là những bất cập, những hạn chế đang tồn tại không dễ gì có thểkhắc phục trong thời gian ngắn Do vậy hầu hết các nước đang phát triển vàkém phát triển phải nhập những trang thiết bị y tế từ các nước công nghiệp

Sự ưu thế về nền kinh tế, sức mạnh đồng tiền quốc gia cũng giúp những quốcgia công nghiệp dành được nhiều thuận lợi trong các hợp đồng kinh tế

Mặt khác, hầu hết các nước công nghiệp phát triển đều là thành viêncủa các tổ chức kinh tế, quân sự, chính trị Tất yếu sẽ nhận được những thuậnlợi trong hoạt động trao đổi buôn bán giữa các nước thành viên trong khốinhư những ưu đãi về thuế quan, thủ tục hải quan, hạn ngạch hơn hẳn các nướcnằm ngoài khối, mà đa phần các nước năm ngoài khối lại là các nước đangphát triển, các nước nghèo, kém phát triển

Hiện nay, thị trường Châu á Thái Bình Dương đang là trung tâm thu hut

sự chú ý của các doanh nghiệp, nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt là các nhà tưbản công nghiệp Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc đang là những thị trường

Trang 13

có sức hút trong xu hướng hội nhập và phát triển với nền kinh tế thế giới: độnhậy cảm với thị trường, độ mở cửa của thị trường cũng hơn hẳn các khu vựckhác, đặt biệt là Trung Quốc, một quốc gia đông dân nhất thế giới ( trên 1,3 tỷngười ) với tốc độ phát triển dẫn đầu thế giới hiện nay, và tất yếu sẽ có ảnhhưởng không nhỏ đến khu vực Đông Nam Á Đây là điều kiện để các nướctrong khu vực mở cửa tìm kiếm cơ hội trong giai đoan này.

+Thị trường trang thiết bị y tế trong nước:

Sơ lược hệ thống bệnh viện trong nước

Hệ thống khám chữa bệnh nói chung của nước ta được tổ chức theo hệthống hành chính với 4 cấp độ khác nhau Tuyến cơ sở có trạm y tế xãphường, trạm y tế các công nông trường, nhà máy, làm nhiệm vụ chăm sócsức khoẻ ban đầu; tuyến quận huyện có các phòng khám đa khoa khu vựcliên xã và trung tâm y tế bệnh viện huyện, bệnh viện thuộc các bộ, ngành.Đây là tuyến tiếp nhận điều trị nội trú với các kỹ thuật cơ bản, tuyến tỉnhthành phố có các bệnh viện đa khoa và chuyên khoa, tiếp nhận và điều trịnhững bệnh nhân vuợt khả năng của các bệnh viện tuyến huyện, có khả năngđáp ứng hầu hết các nhu cầu bệnh tật ở mức độ chuyên khoa Tuyến cuối làcác bệnh viện đa khoa, chuyên khoa thuộc bộ y tế và một số bệnh viện thuộccác thành phố lớn như Hà Nội, TP HCM, Đà Nẵng… là tuyến cuối cùng trongnấc thang điều trị với các can thiệp mang tính chuyên khoa sâu, với những kỹthuật phức tạp hiện đại

Trong hệ thống y tế nói chung và hệ thống khám chữa bệnh nói riêng,các bệnh viện đóng vai trò quan trọng, cả về cung ứng các dịch vụ y tế, đàotạo, nghiên cứu khoa học về mặt tài chính Chi tiêu cho các bệnh viện luônchiếm tỷ trọng lớn (lên đến 60-70% ) trong tổng chi ngân sách y tế của nhiềunước Việc tìm hiểu chính xác nhu cầu mua sắm trang thiết bị y tế của các

Trang 14

bệnh viện là cơ sở để các công ty kinh doanh thiết bị y tế xây dựng cho mìnhđược chiến lược phát triển thị trường hiệu phù hợp nhất.

Hiện nay cả nước đã chế tạo được một số sản phẩm trang thiết bị y tế ,nhưng có tới khoảng hơn 80% trang thiết bị y tế còn phải nhập khẩu Chínhsách quốc gia trong giai đoạn 2002-2010 có nêu giải pháp để thực hiện mụctiêu đến năm 2006 là: trang thiết bị y tế sản xuất trong nước đáp ứng được40% nhu cầu

Cả nước hiện có gần 1.047 bệnh viện lớn nhỏ Nhu cầu trang thiết bị y

tế là rất lớn, đa dạng về chủng loại, đòi hỏi độ an toàn, chính xác cao Thế nayViệt Nam mới có vài chục cơ sở sản xuất trang thiết bị y tế với 250 loại sảnphẩm đước bộ y tế cấp giấy phép lưu hành đáp ứng được 20% nhu cầu Cácsản phẩm sản xuất trong nước được công nhận đạt tiêu chuẩn Việt còn quá ít,phần lớn các sản phẩm chỉ dừng lại ở mức đơn giản như dụng cụ y tế cầm tay,thiết bị nội thất, các sản phẩm nhựa và cao su y tế Hiện đại hơn một chút làcác sản phẩm thiết bị điện, dụng cụ mổ điện, Máy phá sỏi ngoài cơ thể, siêu

âm chuẩn đoán hình ảnh, máy kiểm tra tim thai ….Tình hình bệnh tật ở ViệtNam hiên nay đang thay đổi: các bệnh không nhiễm trùng nguy hiểm như: timmạch, huyết áp, ung thư, tiểu đường ) đang ngày càng gia tăng Những nămgần đây chúng ta đã phải bỏ ra hàng tỉ đồng để nhập khẩu các loại máy mócthiết bị y tế đắt tiền: như máy thở cao tần…loại hiện đại nhất thế giới hiệnnay phải nhập khẩu từ Nhật bản

Tại các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, TP HCM, Đà nẵng.Trong các cơ sở y tế chuyên sâu đã có các máy móc thiết bị y tế tiên tiến hiệnđại như chụp cắt lớp nhiều đầu dò, chụp mạch máu, siêu âm tăng ánh sángtruyền hình, thiết bị mổ nội soi, máy cộng hưởng từ chạy thận nhân tạo, cô-ban xạ trị phải nói rằng trang thiết bị y tế hiện đại đã góp phần không nhỏ vàocông tác chuẩn đoán, khấm chữa bệnh Nhiều căn bệnh hiểm nghèo trước đây

Trang 15

người bệnh phải điều trị ở nước ngoài thì nay đã có thể điều trị ở trong nước.Nhưng do ngành sản xuất trang thiết bị y tế của Việt Nam còn yếu, lại nhiềunăm dùng hàng nhập khẩu cho nên đã ăn sâu vào tâm lý của người Việt Nam

"sính đồ ngoại " trong nhiều cán bộ, nhân viên ngành y

Có một tình trạng cần nói tới, hoặc do cơ chế hoặc do vì các bên cùng

có lợi mà mấy năm gần đây nhiều cơ cở y tế nhập khẩu các loại máy mócnhiều tỷ đồng nhưng không sử dụng được phải đắp chiếu Hay mua thiết bịđắt tiền về mà không tìm cách đưa vào sử dụng cứ mặc dãi dầu mưa nắng bởi

nó là tiền chùa của nhà nước Thậm chí có những máy móc thiết bị, dụng cụsản xuất trong nước rẻ hơn 5, 7 lần, tính năng và độ bền không thua kém hàngngoại, nhưng người ta vẫn thích hàng nhập khẩu hơn

Tại một hội nghị gần đây, phó thủ tướng Phạm Gia Khiêm phê phángay gắt tình trạng này và nhắc nhở phải tăng cường năng lực sản xuất trongnước, đồng thời quản lý chặt chẽ việc nhập khẩu trang thiết bị y tế trong thờigian tới

+++ Xu hướng biến động của thị trường trang thiết bị y tế thế giới tác động đến xu hướng biến động của thị trường trang thiết bị y tế trong nước

Sự biến động của thị trường trang thiết bị y tế thế giới có ảnh hưởngrất lớn đến thị trường trong nước Trong quá trình mở của thị trường, tự dohoá thương mại, hội nhập kinh tế quốc tế, quá trình mua bán, trao đổi hànghoá càng trở nên dễ dàng hơn Khi công nghệ kỹ thuật ngày càng phát triểnmáy móc thiết bị trở nên hiện đại, tinh vi hơn thì yêu cầu cho máy móc thiết

bị này cũng đắt đỏ hơn Càng có nhiều may móc thiết bị mới ra đời thì yêucầu đổi mới, hiên đại hoá sản phẩm càng tăng lên

Khó khăn của Việt Nam là thị trường chưa đủ nhạy bén để có thể bắtkịp được với tốc độ thay đổi của thị trường thế giới và không đủ vốn để cung

Trang 16

cấp đồng bộ được trang thiết bị y tế cho các bệnh viện, trung tâm y tế, cơ sở ytế.

Nhưng xu hướng luôn biến động này một mặt lại tạo ra những cơ hộithị trường cho các nhà nhập khẩu của Việt Nam Sự đa dạng hoá sản phẩm, đadạng hoá nhà cung cấp từ những nước công nghiệp phát triển chuyển sang cácnước NIC, châu Á Thái Bình Dương, châu Âu

Số lượng các nhà cung cấp tăng lên tạo điều kiện cho các doanh nghiệpViệt Nam chọn đối tác kinh doanh, giảm bớt tình trạng độc quyền cung cấp.Như vậy thị trang thiết bị y tế trong nước được đa dạng hoá, nhiều mẫu mã,chủng loại đến từ nhiều quốc gia khác nhau và sưl lựa chọn của doanh nghiệpViệt Nam là những đối tác phù hợp với tình hình nghiệp vụ của doanh nghiệp,giá cả phải chăng, điều kiện thanh toán phù hợp có lợi nhất cho ta

Là một hàng hoá giá trị cao, nên sự lựa chọn các sản phẩm hàng hoáphải cân nhắc có cơ sở khoa học, mang tầm nhìn chiến lược lâu dài…

I.2.2 Quy luật và cơ chế vận động của thị trường trang thiết bị y tế.

trang thiết bị y tế cũng mang những đặc trưng của thị trường hàng hoáthông thường, nên cũng chịu ảnh hưởng, tác động của quy luật thị trường.Tính chuyên việt độc quyền cao của thiết bị được quy định bởi hàm lượngchất xám có trong sản phẩm Do vậy độ co dãn của cầu thị trường không làmảnh hưởng đến mức cung hàng hoá trên thị trường thế giới

Sự vận động của thị trường trang thiết bị y tế ảnh hưởng trực tiếp bởihành vi mua hàng của các chủ thể là các bệnh viện có nhu cầu đổi mới, sửachữa, mua sắm mới trang thiết bị Ở những khu vực thị trường khác nhau thì

cơ chế vận động của hàng hoá cũng khác nhau theo nấc thang nhu cầu ngàycàng tăng lên ở những nước phát triển Mức độ tự động hoá, hiện đại hoángày một cao, thời gian thay mới sửa chữa định kỳ cũng rút ngắn lại

Trang 17

Yếu tố giá cả hàng hoá:

Giá cả của thiết bị không chịu ảnh hưởng bởi nguồn nguyên liệu đầuvào Nhắc lại thuyết PARETO ANALISIST 80 : 20 cho sản phẩm là trangthiết bị mang tính chuyên ngành như sau:

Một thiết bị điện tử như các trang thiết bị chúng ta nghiên cứu tạo nênbởi 80% là nguyên vật liệu, nhưng chỉ quyết định 20% giá trị sản phẩm khiđem vào ứng dụng vận hành, còn 80% giá trị sản phẩm lại được quyết địnhbởi 20% vấn đề là khâu nghiên cứu thử nghiệm của các nhà khoa học Do vậy

ta có thể dễ dàng hiểu được rằng nguyên vật liệu của sản phẩm chỉ tạo ra hìnhkhối của sản phẩm, còn giá trị của sản phẩm lại được quyết định bởi hàmlượng chất xám, hàm lượng công nghệ kết tinh trong sản phẩm

Đồng thời các yếu tố vật lý học, quang học, lý học, hoá học, công nghệ điện

tử, bản quyền sản phẩm làm cho giá sản phẩm cao hơn rất nhiều so với cáchàng hoá thông thường khác Sản phẩm càng tiên tiến hiện đại, sản phẩmmang tính độc quyền thì được định giá cang cao Giai đoạn này là giai đoạnđầu tiên trong chu kỳ sống sản phẩm

Mặt khác, là thị trường hàng hoá có đến 80% phải nhập khẩu từ nướcngoài, cho nên có sự chênh lệch giá giữa hàng sản xuất trong nước và hàngnhập khẩu Hàng nội địa giá rẻ nhưng không đủ cung cấp cho nhu cầu thịtrường hoặc do trong nước chưa thể sản xuất được những máy móc hiện đạimang tính kỹ thuật cao Hoặc do tâm lý người Việt vẫn chưa tin tưởng rằngViệt Nam có thể chế tạo được các sản phẩm này vậy tiêu thụ hàng nhập khẩu

là rất hiển nhiên

Từ đặc thù sản phẩm chịu sự ảnh hưởng của yếu tố kinh tế xã hội củatừng quốc gia, từng vùng, từng khu vực Khi đời sống nhân dân cao, thu nhậpbình quân đầu người cao, sự hiểu biết về vệ sinh an toàn sức khoẻ được cậpnhật thì số người mắc bệnh càng giảm đi, thời gian phát hiện bệnh sớm do

Trang 18

được thường xuyên khám sức khỏe hơn, làm giảm tỷ lệ tử vong, kéo dài tuổithọ Những quốc gia phát triển thì nhu cầu của người dân cho việc bảo vệ sứckhoẻ cao hơn hẳn Đời sống ổn định, dư thừa về vật chất dân cư sẽ nghĩ đếnviệc dành thời gian, tiền của của mình cho làm đẹp, chỉnh hình, thể dục thẩm

mỹ nâng cao tuổi thọ Cho nên trên thị trường có sự chuyển biến giữa máymóc thiết bị điều trị thì giảm đi, trong khi máy móc thiết bị thăm khám, phẫuthuật thẩm mỹ thì lại một tăng lên Con ở những quốc gia kém phát triển, thunhập thấp, đời sống nhân dân còn gặp nhiều kho khăn, thì nhu cầu khám chữabệnh định kỳ, thẩm mỹ, chỉnh hình, thấp, thậm chí là không có, khám chữabệnh ở khu vực này phát sinh khi bệnh tật có liên quan đến tính mạng conngười, hoặc bệnh trưyền nhiễm, mà đặt biệt ở những khu vực này, kinh tếchưa phát triển, ngành công nghiệp kém phát triển, máy móc thiết bị lạc hậu,

ý thức của dân cư về môi trường, và bảo vệ môi trường sống, môi trường làmviệc còn thấp, cho nên nhiều bệnh tật liên quan đến hô hấp, ung thư cao hơnhẳn Và thị trường trang thiết bị y tế cho công tác chữa, điều trị là chủ yếu

Sự vân động của thị trường trang thiết bị y tế theo khu vực địa lý cũng theoquy luật, cơ chế nhất định :

Những khu vực ôn đới khí hậu trong lành, mát mẻ, thì nguy cơ bệnh tậtcũng thấp, nhu cầu trang thiết bị y tế cũng thấp hơn vùng khí hậu nhiệt đới vàhàn đới khô nóng và mưa nhiều là điều kiện thuật lợi cho bệnh tật phát triển

Ở một khía cạnh khác là những khu vực công nghiệp phát triển, công nghiệphoá chất công nghiệp gang thép, công nghiệp than …tỷ lệ mắc bệnh tật cũngcao hơn hẳn vùng dân cư nông thôn, miền núi.Do đó mà tỷ lệ các bệnh viện,trung tâm y tế,cơ sở y tế ở những vùng này thấp là điều dễ nhận thấy

I.2.3 Các chủ thể của thị trường:

Như đã phân tích, thị trường trang thiết bị y tế mang những đặc điểm rấtriêng biệt của chuyên ngành, không phải là hàng hoá thông thường thị trường

Trang 19

hàng hoá bị giới hạn bởi nhân tố chủ thể thị trường là ai?, Trung ương hay địaphương, Nhà nước hay tư nhân, liên doanh, cổ phần…

Từ đặc thù sản phẩm, phục vụ cho sự nghiệp y tế của toàn nhân loạichủ thể tham gia chi phối thị trường là các bệnh viện công lập, tư nhân, cácphòng khám đa khoa, các trung tâm y tế dự phòng tỉnh, huyện với quy mô lớnnhỏ khác nhau đảm bảo tiêu chuẩn của Bộ y tế, tiêu chuẩn quốc gia, tiêuchuẩn của WHO…

Trong bối cảnh hiện nay, thì các trung tâm y tế tư nhân, liên doanh, cổphần xuất hiện ngày càng nhiều ỏ các thành phố, khu vực đông dân cư Nayđang có xu hướng lan rộng sang các vùng chậm phát triển, thị xã, thị trấn.Một phần do đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện bởi cơ chế chínhsách cuả nhà nước trong gian đoạn này tạo nhiều điều kiện cho người laođộng phát huy được khả năng của mỗi người Cũng chính bởi nhân tố đô thịhoá nhanh chóng này gây nên ô nhiễm môi trường, không khí nguồn nước,thức phẩm, các sản phẩm hoá học ngày càng nhiều là mầm mống của bệnh tậtphát sinh trước mắt và tiềm ẩn lâu dài

+++ Đối tượng thị trường là nhà cung cấp:

Đó là các hãng sản xuất máy móc thiết bị từ các quốc gia: Nhật Mỹ,Singapore, canada, Đức …chủ yếu là các nước TBCN, những quốc gia côngnghiệp phát triển có dây truyền công nghệ hiện đại Các hãng sản xuất cuảchính phủ, tư nhân, các công ty xuyên quốc gia, các tập đoàn tên tuổi cũngnhư không tên tuổi cũng thuộc đối tượng nhập khẩu của công ty

+++ Đối tượng thị trường là hệ thống các bênh viện,trung tâm y tế, cơ

sở y tế ( cầu hàng hoá)

Theo số liệu cập nhật đến tháng 2 năm 2005 từ các tỉnh, thành phố, các

bộ ngành tổng số các loại hình bệnh viện, trung tâm y tế, cơ sở điều dưỡng,phục hồi chức năng cả công và tư hiện có 1047 cơ sở ( không kể các cơ sở

Trang 20

thuộc Bộ công an, Bộ quốc phòng và các cơ sở điều dương thương bệnh binhnặng do Bộ Lao động và thương binh xã hội quản lý ), với tổng số là 127562giưòng bệnh ( bảng 2).Trong đó các cơ sở công lập là 994 chiếm khoảng94.9% với 124.786 giường bệnh chiếm khoảng 97.8% Số bệnh viện ngoàicông lập bao gồm bệnh viện tư , bệnh viện bán công và bệnh viện có 100%vốn đầu tư của nước ngoài là 53 cơ sở chiếm khoảng 5,1% với 2776 giưòngbệnh chiếm khoảng2,2%.

Bảng 2: T ng s các lo i hình b nh vi n:ổng số các loại hình bệnh viện: ố các loại hình bệnh viện: ại hình bệnh viện: ệnh viện: ệnh viện:

Cơ sở Giường bệnh

% giườngbệnh (GB)

tư cho bệnh viện là bao nhiêu, sự phân bổ hàng năm như thế nào Không phải

dễ dàng cớ thể Marketing được các đối tượng này mưa sản phẩm ở bất kỳ thờiđiểm nào hay bất kỳ hãng cung cấp nào trên thị trường Bao gốm các loại hình

và tính chất chuyên khoa có:

 bệnh viện đa khoa tuyên TW và tỉnh, thành phố: 116

 bệnh viện đa khoa quận huyện thành phố thuộc tỉnh thị xã: 579

 bệnh viện đa khoa các bộ ngành: 46

 bệnh viện chuyên khoa các loại: 218

 Các viện, nhà trung tâm điều dưỡng, phục hồi chức năng các ngành: 35

Số bệnh viện đa khoa các loại ( kể cả thuộc Bộ y tế, thuộc tỉnh, huyệnngành ) chiếm khoảng74,6%, 25.4% còn lại là các cơ sở chuyên khoa các loại,

Trang 21

bao gồm: Y học cổ truyền, lao, tâm thần, phong, da liễu, các bệnh truyềnnhiễm và các bệnh nhiệt đới, sản phụ khoa, nhi khoa, mắt-tai-mũi-họng, rănghàm mặt , Da liễu, ung thư nội tiết, phục hồi chức năng và một số chuyênkhoa sâu như phẫu thuật, chấn thương chỉnh hình, tim mạch.

Bảng 3 : T ng s các lo i hình b nh vi nổng số các loại hình bệnh viện: ố các loại hình bệnh viện: ại hình bệnh viện: ệnh viện: ệnh viện:

1 Bộ y tế quản lý 30 cơ sở, chiếm khoảng 3% tổng số bệnh viện

2 Địa phương quản lý 883 cơ sở chiếm khoảng 89% tổng số bệnhviện

3 Các bộ ngành khác quản lý 81 cơ sở chiếm 8% tổng số bệnh viện -Các bệnh viện, trung tâm y tế ,cơ sở y tế tư nhân, liên doanh

có định hướng những đối tác làm ăn lại là những doanh nghiệp có sức cạnhtranh trên thương trường về sản phẩm, giá cả, mức đảm bảo về chất lượngtuổi thọ, nơi sản xuất của sản phẩm, bảo hành, thời gian bảo hành và mức độbảo hành…

Chủ thể ở đây là các bác sỹ, cán bộ trong ngành y có tên tuổi trong đơn

vị công tác ra mở phòng khám tư nhân, và sự ảnh hưởng của các đơn vị cungcấp trang thiết bị y tế trong bệnh viện nhà nước sẽ tác động rất lớn đến cáctrung tâm tư nhân đó

Trang 22

Sự ưu tiên của nhà nước giành cho các đơn vị tuyến trung ương cũnghơn hẳn các đơn vị địa phương, cơ sở, chính sách khuyến khích của nhà nướcgiành cho các thành phần kinh tế, các chủ sở hữu trong và ngoài nước có điềukiện về vốn có thể tham gia đầu tư mở các phòng khám đảm bảo tiêu chuẩnquốc gia cũng như quốc tế.

I.2.4 Nhân tố ảnh hưởng đến thị trường trang thiết bị y tế

Qua đặc điểm đã phân tích ở trên, nên thị trường này bị ảnh hưởng bởinhiều nhân tố chung của thị trường hàng hoá và nhân tố riêng của chuyênnghành y tế Nhân tố văn hoá xã hội, kinh tế, yếu tố dân cư, địa lý, các nhân

tố đầu vào của sản phẩm, chính sách của nhà nước, thị trường tiền tệ, tỷ giáhối đoái…

Yếu tố nền tảng ảnh hưởng đến thị trường trang thiết bị y tế là hệ thống bệnh viện của quốc gia:

Trong năm năm qua, hệ thống bệnh viện đã được củng cố, nâng cấp vàđầu tư phát triển tương đối đồng đều cả tuyến huyện và tuyến TW cả về cơ sở

hạ tầng và trang thiết bị kỹ thuật Nhiều bệnh viện đã được cải tạo và xâydựng mới Trong vòng 5 năm trử lại đây đã có 479 bệnh viện được đầu tư,nâng cấp và xây dựng mới với tổng diện tích là 3,14 triệu mét vuông Tổnggiá trị đầu tư xây dựng cơ bản cho các bệnh viện đã được thanh quyết toán( bao gồm cả xây lắp và mua sắm trang thiết bị ) trong năm 1998 là195.2 tỷđồng, năm 1999 là 331,2 tỷ đồng và năm 2000 là 275 tỷ đồng

độ khan hiếm của nguyên vật liệu trên thị trường, giá cả của nguyên vật liệu.Những yếu tố này thay đổi thì giá sản phẩm cũng thay đổi Tình trạng hiệnnay là độ khan hiếm của nguyên vật liệu do sự khai thác quá tải của con ngườilàm cho nguồn cung cấp giảm đi nghiêm trọng đe doạ đến các ngành sản xuất

Trang 23

công nghiệp liên quan: chế tạo và sản xuất sản phẩm maý móc, vật liệu xâydựng trong đó có trang thiết bị y tế

Mức độ tiên tiến hiện đại,chứa đựng nhiều nhân tố kỹ năng, kỹ sảo caothì giá sản phẩm càng cao

Thứ hai là nhân tố sự phát triển của nền kinh tế:

Kinh tế đất nước kém phát triển thị trường hàng hoá nghèo nàn, kinhnghiệm về quản lý, điều tiết thị trường còn non yếu Ngược lại khi nền kinh tếphát triển, kéo theo sự vận động của hàng hoá cũng nhanh hơn, đang dạnghơn: chủng loại, mẫu mã hàng hoá, nguồn gốc xuất xứ…Xuất hiện hàng hoáchất lượng cao đến hàng nhái, hàng giả thi nhau tràn ngập thị trường

Mặt khác, khi kinh tế phát triển sẽ kích thích nhu cấu sản xuất máymóc thiết bị phục vụ cho ngành công nghiệp trong nước, giảm thiểu lượnghàng nhập khẩu mà đa số hàng nhập khẩu lại là hàng hoá giá trị cao Do vậy

mà chính phủ đang khuyến khích các doanh nghiệp nghiên cứu, chế tạo sảnxuẩt ra các sản phẩm này thay thế hàng nhập khẩu trong thời gian tới chuyểndịnh cơ cấu XNK Đây là cơ hội thuận lợi để các nhà đầu tư chuyển hướngsang lĩnh vực mới, tích cực trong công tác tìm tòi nghiên cứu Hàng nhậpkhẩu sễ phải chịu sức cạnh tranh của hàng nội địa với giá rẻ hơn do chi phítrong nước về nhân công, nguyên vật liệu, phương tiịện cũng tốn kém it chiphí hơn, không phải chịu thuế hàng hoá nhập khẩu Nhân tố ảnh hưởng bởiyếu tố văn hoá xã hội, các tập tục tự lâu đời của dân cư sinh sống, yếu tố ảnhhưởng của thị trường tỷ giá hối đoái, sức mạnh của đồng tiền quốc gia… Ngoài ra, chính sách của chính phủ cho ngành y tế của quốc gia đó nhưthế nào Thông qua việc đánh thuế XNK, cấp giấy phép hàng hoá nào đượcxuất khẩu, hàng hoá nào được nhập khẩu, và nhập khẩu được phép là baonhiêu Nhằm hạn chế lượng hàng hoá nhập khẩu từ nước ngoài vào thị trường

Trang 24

trong nước, giải quyết những vấn đề đang tồn tại trong nước: lao động, việclàm trong quá trình thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Còn có rất nhiều nhân tố khác có ảnh hưởng gián tiếp đến thị trườngtrang thiết bị y tế trong nước cũng như ngoài nước

I.2.5 Cơ cấu sản phẩm trang thiết bị y tế

+Phân loại trang thiết bị y tế theo nhóm kỹ thuật:

Dựa vào các nội dung chuyên môn của y học, ngày nay người ta có thể phânloại trang thiết bị y tế thành 10 nhóm thiết bị chính như sau:

1 Nhóm thiết bị chuẩn đoán hình ảnh: bao gồm các thiết bị đặc trưng:

- Máy X- quang các loại

- Máy cộng hưởng từ (MRI)

- Máy chụp cắt lớp điện toán ( CT- Scanner ), chụp mạchhiện số

- Các thiết bị cắt lớp Positron ( PET ), thiết bị ảnh nhiệt,thiết bị nội soi, thiết bị siêu âm, Gammar – camera, giatốc tuyến tính…

2 Thiết bị chuẩn đoán điện tử sinh lý: gồm các máy điện tâm đồ(ECG), địên não đồ (EEG), điện cơ đồ (EMC), Máy đo lưu huyết não(Reograph), Từ tâm đồ (MCG)…

3 Thiết bị labo xét nghiệm, mà điển hình là các loại sắc ký khí, quangphổ kế, máy đếm tế bào, máy li tâm…

4 Thiết bị cấp cứu hồi sức, gây mê, phòng mổ: như máy thở, máy gây

mê, máy cảnh giới các loại , dao mổ điện, máy tạo nhịp tim, máy xốc tim,thiết bị tạo oxy…

5 Thiết bị vật lý trị liệu, điện phân, điện giao thoa, điều trị sóng ngắn,laser trị liệu…

Trang 25

6 thiết bị quang điện tử y tế như laser CO2, laser YAG, Nd, Er, Ho,laser hơi kim loại, phân tích máu bằng laser…

7 Thiết bị đo và điều trị chuyên dùng như: Máy đo công năng phổi, đothính giác, tán sỏi ngoài cơ thể, gia tốc điều trị ung thư, thiết bị cường nhiệt,thận nhân tạo…

8 Các thiết bị điện tử y tế phương đông như: dò huyệt, massage, châmcứu, điều trị từ phổ…

9.Nhóm thiết bị điện tử y tế thông thường dùng ở gia đình như: huyết

áp kế điện tử, nhiết kế điện tử, điện tim…

10 Nhóm các thiết bị y tế thông dụng phục vụ cho hoạt động của bệnhviện như thiết bị thanh tiệt trùng, máy giặt, trung tâm quản lý thông tin bệnhviện ( hệ thống máy tính ), xe ô tô cứu thương, ló đổ giác thải y tế, xử lý nướcthải, thang máy…

Ngoài sự phân loại có tính chất tương đối trên đây, để đảm bảo sựthống nhất trong toàn ngành, bộ trưởng bộ y tế đã ban hành danh mục baogồm 123 họ thiết bị y tế cụ thể được sử dụng trong lĩnh vực chăm sóc bảo vệsức khoẻ cho nhân dân

Sự phân loại các thiết bị y tế tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà nghiênbiệt, để tránh tình trạng phân bổ lãng phí nguồn hàng hoá được coi là khan hiếm trên thị trường Bảng dưới đây là danh mục trang thiết bị y tế 123 họ trang thiết bị được Bộ y tế ban hành ngày 26/4/1991 theo quyết định số

490/BYT- QĐ

A THIẾT BỊ CHUẨN ĐOÁN VÀ XÉT NGHIỆM

Trang 26

Máy điên tim

Máy điện não

Máy điện cơ

phế dung kế/ ký

máy siêu âm chuẩn đoán

Thiết bị nội soi

Máy đo bão hoà oxy

Máy đo cung lượng tim ( prethygraph )

Lưư huyết đồ (reograph )

NHÓM 3

Máy giám sát chức năng (monitor)

Máy theo dõi tim thai

NHÓM 4

Máy đo pH

Quang kế

huyết sắc tố kế (Hb meter )

Máy phân tích khí trong máu

Máy phân tích canxi

Máy phân tích đường

Máy phân tích mật ( Bilirubinmeter )

Máy đo độ phân cực

Máy đo độ nhớt

Máy đo độ dẫn

Máy chuẩn độ điện thế

Máy chuẩn độ Clo

Máy đo độ đông máu

003004005006007008009010011012

013014

015016017018019021021022023024025026027

Trang 27

Máy điều nhiệt/ nồi cách thuỷ

Máy pha loãng

Máy cắt vi thể

Máy đúc bệnh phẩm

Máy nhuộn tiêu bản

Máy đo vòng vô khuẩn

Máy đo mật độ ( Densitometer )

Buồng tiệt trùng di động (Box laminair )

Máy cất quay chân không (Vacuum Evapoier )

Máy cất dung môi tinh khiết

Bộ xét nghiệm hàng loạt

NHÓM 5

thiết bị soi đáy mắt

Máy đo khúc xạ ( mắt kính giác mạc )

028029030031032033034035036037038039040041042043044045046047048049050051052053

Trang 28

Máy kiểm tra chức năng thận (đồng vị phóng xạ )

Máy quét ( Scanner ) đồng vị phóng xạ

060061062

063064065

201

202203204205206207208209210

Trang 29

Máy tạo nhịp tim

Máy gây choáng điện

Máy hut thai

Máy ( siêu ) khí rung

Máy tạo xung kích thích

Máy châm cứu

Máy Laser điều trị

Máy siêu âm điều trị

216217218219220221222223224225226

227228

229230231232

Trang 30

Máy sao chụp ( photocopy machine )

Hệ thống VIDEO ( camera and monitor )

Trang 31

Sự phân loại chi tiết này một mặt tác động đến việc phân bổ ngân sáchtrang thiết bị cho từng thời kỳ, theo tỷ lệ khấu hao của từng loại thiết bị, máymóc nhất định trong các bệnh viện, ưu tiên cho các thiết bị nào….các thiết bịgiá trị lớn thường có thời gian khấu hao dài hơn các thiết bị giá trị nhỏ chonên chu kỳ thay đổi của thiết bị cũng không giống nhau, tỷ lệ đầu tư cũngkhông giống nhau Do vậy mà mức độ tập trung các sản phẩm đem ra thịtrường cũng không giống nhau Ví dụ như mục A,B là các thiết bị máy móctrực tiếp phục vụ cho nhu cầu chăm sóc sức khỏe con người, nên tỷ lệ đầu tưvào những danh mục này là thường xuyên hơn các máy móc thuộc nhóm C.

Từ cơ cấu sản phẩm để có căn cứ xác định được cơ cầu thị trường, phân loạithị trường và phân tích thị trường

I.2.6 Cơ cấu thị trường trang thiết bị y tế

Thị trường trang thiết bị y tế được phân loại theo nhiều tiêu thức khácnhau: Phân theo khu vực: thành thị - nông thôn, phân theo vùng: vùng đồngbằng - miền núi, vùng công nghiệp …

Theo khu vực thành thị: đây là khu vực đồng bằng đông dân cư sinhsống, các trung tâm công nghiệp tập trung nhiều: Hà Nội, Hải Phòng, ĐàNẵng, thành phố HCM….thị trường ở đây luôn sôi động và nhiều biến động,sức cạnh tranh lớn: mức độ cạnh tranh của các thương hiệu trong và ngoàinước đang tràn ngập thị trường

Theo khu vực nông thôn – miền núi: Do thu nhập của người dân cònthấp, đời sống còn gặp nhiều khó khăn Ngoài các bệnh viện tỉnh huyện đượcnhà nước mở ra từ lâu thì có rất ít các trung tâm y tế tư nhân hoặc chưa tạodựng được niềm tin của người dân để có thể mở rộng được hệ thống trangthiết bị, có các khoa, các phòng còn không có bệnh nhân

Để cải thiện được tình trạng này thì nhà nước sẽ phải có chính sách ưu

Trang 32

tiên đầu tư trang thiết bị cho khu vực này Giúp giảm bớt lượng bệnh nhân tậptrung về các bệnh viện lớn đang quá tải.

Tiêu thức phân loại thị trường theo loại hình bệnh viện công lập hay tưnhân là tiêu thức phân loại cũng khá phổ biến nhưng có ảnh hưởng đến hoạtđộng mua bán hàng hoá như bệnh viện công thì mua bán hàng hoá theo định

kỳ, còn bệnh viện tư nhân thì hoạt động mua sắm trang thiết bị theo khả năngtài chính hiện có của chủ đầu tư

Do vậy mà cơ cấu thị trường vẫn tập trung ở các khu công nghiệp, khu

đô thị hoá, các thành phố lớn ở đó ngoài nhứng bệnh viện nhà nước mở racòn có các cơ sở tư nhân, liên doanh với nước ngoài, các phòng khám củangành công nghiệp mở ra để phục vụ cho cán bộ công nhân viên của mình

Trang 33

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG TRANG

THIẾT BỊ Y TẾ CỦA TOCONTAP HANOI

II.1 Thực trạng hoạt động kinh doanh của TOCONTAP Hanoi.

Công ty XNK tạm phẩm Hà nội là công ty đầu tiên của nhà nước ViệtNam độc lập Được thành lập ngày 5/3/1956, trong nửa thế kỷ xây dựng vàphát triển của mình, từ đói hỏi thực tế khách quan mà công ty có nhiều sựthay đổi từ cơ cấu tổ chức, cơ cấu mặt hàng kinh doanh của công ty có nhiềuthay đổi và ngày càng lớn mạnh, xu hướng tách ra để thành lập công ty riêng,chi nhánh độc lập

 Toàn bộ mặt hàng thủ công mỹ nghệ của công ty tách ra để thànhlập công ty ARTEXPORT (1964)

 Bộ phận XNK hàng dệt may tách thành công ty TEXTINMEX(1977)

 Mặt hàng dụng cụ kim khí và cầm tay tách thành công ty XNKMECANIMEX (1985)

 Bộ phận da, giả da, giày dép được tách ra để thành lập công tyXNK da giày LEAPRODEMXIM

 Cán bộ công nhân viên của công ty đã trưởng thành và dày dặnkinh nghiệm vào miền Nam để thành lập công ty chi nhánh ởmiền nam TOCONTAP HCM

 Trong 50 năm qua, tổng kim ngạch của công ty đạt 2956,75 triệuRup/USD

Trong đó: Xuất khẩu đạt 1.013,8 triệu RUP/USD

Nhập khẩu đạt2.956,75 triệu RUP/USD

Trong bất kỳ gian đoạn nào, trong bất kỳ hoàn cảnh nào, chiến tranh hayhoà bình, thời bao cấp hay mở cửa hội nhập, hoạt động sản xuất củaTOCONTAP Hanoi luôn đặt được những khởi sắc

Trang 34

Trong gian đoạn đất nước còn chiến tranh, kim ngạch XNK của công tyluôn chiếm khoảng 1/3 kim ngạch của cả nước Chuyển sang nền kinh tế thịtruờng theo định hướng XHCN, hoạt động sản xuất kinh doanh của công tygặp nhiều khó khăn, nhưng công ty đã kịp thời tim ra với các bạn hàng trong,ngoài nước.

Hiện nay công ty có quan hệ với trên 30 nước bạn hàng, là cầu nối tin cậygiữa các nhà sản xuất và các nhà phân phối hàng hoá TOCONTAP Hanoi đãtrở thành cái tên tin cậyđúng hướng đi cho mình, liên tục từ năm 2000 đếnnay, luôn hoàn thành vượt mức kế hoạch được giao, bảo toàn vốn và kinhdoanh có lãi Các chỉ tiêu kim ngạch XNK , doanh thu, nộp lãi, nộp ngânsách nhà nước cuả 5 năm trở lại đây đều tăng mạnh, đạt trên dưới 200% sovới những năm trứớc

Những kết quả của TOCONTAP Hanoi đạt được là điều kiện tốt để cácmặt hàng kinh doanh của công ty thâm nhập vào thị trường, tạo dựng niềm tincho các bạn hàng trong và ngoài nước, đặc biệt là các mặt hàng giá trị lớn nhưmáy móc thiết bị, sắt thép, Đây không phải là mặt hàng trưyền thống của công

ty, nhưng kết quả đạt được lại rất khả quan luôn là những mặt hàng có kimngạch dẫn đầu công ty trong thời gian gần đây Trong đó có mặt hàng trangthiết bị y tế , tuy không phải là một công ty chuyên kinh doanh trang thiết bị y

tế của nhà nước nhưng TOCONTAP Hanoi lại đạt những thành công màkhông phải một công ty nhà nước nào cũng có thể đạt được

II.2 Hoạt động kinh doanh trang thiết bị y tế của TOCONTAP Hanoi II.2.1.Dung lượng thị trường trang thiết bị y tế của TOCONTAP Hanoi:

Trước sự thay đổi mạnh mẽ từ bên ngoài, nền kinh tế giới liên tục thayđổi, sự phát triển không ngừng của các ngành khoa học: điện tử viễn thông, tinhọc , hoá học, sinh học…TOCONTAP Hanoi liên tục đổi mới, chủ động timkiếm thị trường trong nước, ngoài nước, thận trọng trong từng bước đi Nhữngnăm gần đây sự chuyển hướng kinh doanh sang các lĩnh vực máy móc thiết bị

Trang 35

Giỏ trị sản lượng trang thiết bị y tế nhập khẩu từ năm 2003 đến năm

2005

2003 (5,5%)

2004 (1,3%)

TT(%)2004/2003

2005 (6,1%)

TT(%)2005/2004

ánh một thực trạng yếu kém trong hoạt động tìm kiếm nguồn hàng cung cấp

và tìm kiếm đầu ra cho sản phẩm trong nớc cũng nh thị trờng ngoài nớc Phảinói rằng năm 2004 là năm có nhiều biến động về kinh tế, chính trị trên thếgiới: khủng bố ở các khu vực có ảnh hởng đến thị trờng hàng hoá, thị trờngtiền tệ, làm giảm các hoạt động đầu t vào các khu vực nhạy cảm nh: khu vựcChâu á, đặc biệt là khu vực Đông Nam á, chịu ảnh hởng lớn bởi lạm phát,khủng bố, xung đột sắc tộc: Inđônêxia, Thái Lan, Malayxia Nhng sang đếnnăm 2005 thị trờng đã đợc mở rộng cả về số lợng và giá trị thu đợc, thị trờngnguồn cung cấp tăng lên từ 4

hiểm thỡ nay đó nối được mối quan hệ làm ăn và giỏ trị thực hiện cũngrất khả quan như: Italia, Đài loan, Mỹ hứa hẹn tiềm năng cung cấp rất lớn

Trang 36

Các nguồn cung cấp đã có từ trước đã rất tin tưởng vào kinh nghiệm buôn bánngoại thương của cán bộ công nhân viên công ty trong những năm qua và

`hông ngừng tăng giá trị sản lượng như: các nhà cung cấp của Đức,Singapore Năm 2004 mặc dù gặp rất nhiều khó khăn trong công tác tìm kiếmthị trường mới, nhưng định hướng tiếp tục duy trì mối quan hệ lâu dài với cácnguồn cung cấp đã có từ trước đem lại rất nhiều thuận lợi cho TOCONTAPHanoi trong các hoạt động kinh doanh trong và ngoài nước Thị trường Đứctăng lên: 240% năm 2004, và tăng 162% năm 2005 Thị trường Singapore,mặc dù năm 2004 chỉ thực hiện được 6.28% so với năm 2003 nhưng sangnăm 2005 thì TOCONTAP Hanoi đã khai thác triệt để nguồn cung cấp này vàđạt giá trị sản lượng tăng 424.55% so với năm 2004 và tăng 261.25% so vớinăm 2003 Đây là con số đáng để các mặt hàng khác của TOCONTAP Hanoiphải học tập kinh nghiệm Năm 2005 kim ngạch nhập khẩu thiết bị máy móccao nhất trong tổng danh mực hàng hoá có mức doanh thu cao nhất hiện nay.Mặc dù kim ngạch chung của toàn công ty trong năm 2005 vẫn thấp hơn năm

2004, thể hiện sự mạnh dạn chuyển hướng kinh doanh tập chung của công tytrong điều kiện các ngành nghề kinh doanh đang ngày càng gia tăng Năm

2005 giá trị nhập khẩu tăng 116% so với năm 2003, tăng 458% so vói năm

2004, con số này còn tiếp tục gia tăng trong 4 tháng đầu năm 2006

Dung lượng thị trường tiêu thụ

Sự hình thành các bệnh viện gắn liền với quá trình phát triển của nền y

tế nước nhà.Vào thời điểm năm 1955 sau khi kết thúc cuộc kháng chiến chốngthực dân Pháp, miền Bắc hoàn toàn giải phóng, có 57 bệnh viện các loại, 17bệnh xá, 3 trại phong, 4 cơ sở điều dưỡng với tổng số 14.302 giường bệnh.Trong giai đoạn từ năm 1955 đến năm 1975 hệ thống bệnh viện liên tục pháttriển cả về số lượng và quy mô giường bệnh phục vụ công cuộc sự nghiệp xâydựng và bảo vệ đất nước Sau khi thống nhất đất nước và đặc biệt là sau đại

Trang 37

hội đảng toàn quốc lần thứ VII, không còn bệnh xá do giải thể hoặc chuyểnthành phòng khám đa khoa hoặc chuyên khoa, nhiều cơ sơ được xây mới baogồm các bệnh viện đa khoa tỉnh huyện đặc biệt là các bệnh viện chuyên khoa (

kể cả bệnh viện y học cổ truyền ), nhằm đáp ứng nhu cầu của nhân dân tronggiai đoạn mới

Ngày đăng: 19/02/2014, 11:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
9. "Quản lý trang thiết bị bệnh viện" của tài liệu do tổ chức y tế thế giới WHO ban hành năm 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý trang thiết bị bệnh viện
1. Giáo trình Kinh tế thương m ại - Trường Đại học Kinh tế Quốc dân 2. Giáo trình Marketing thương mại quốc tế - ĐHKTQD xuất bản 2005 3. Giáo trình Marketing PHILIP KOLER.4. Luận văn tốt nghiệp Khác
5. Dự thảo chiến lược phát triển trang thiết bị y tế của Việt Nam đến năm 2020 Khác
6. Thông tin trang thiết bị y tế của Bộ y tế hàng quý Khác
7. Nghị Định số 52/1999/NĐ- CP ngày 8/7/1999 của Chính phủ về việc ban hành quy chế quản lý đầu tư và xây dựng Khác
8. Thông ty số 08/1996/TT-BYT ngày 8/7/1996 của Bộ trưởng Bộ y tế hướng dẫn mua sắm trang thiết bị y tế Khác
10. Định hướng chiến lược công tác chăm sóc sức khỏe 11. Sách quản lý bệnh viện của Bộ y tế phát hành Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3 : Tổng số các loại hình bệnh viện - giải pháp mở rộng thị trường trang thiết bị y tế của công ty xuất nhập khẩu tạp phẩm hà nội _tocontap hanoi
Bảng 3 Tổng số các loại hình bệnh viện (Trang 21)
Bảng số liệu số bệnh viện, giường bệnh theo các năm: - giải pháp mở rộng thị trường trang thiết bị y tế của công ty xuất nhập khẩu tạp phẩm hà nội _tocontap hanoi
Bảng s ố liệu số bệnh viện, giường bệnh theo các năm: (Trang 38)
Bảng5: Bảng số liệu tên khách hàng và giá trị thực hiện - giải pháp mở rộng thị trường trang thiết bị y tế của công ty xuất nhập khẩu tạp phẩm hà nội _tocontap hanoi
Bảng 5 Bảng số liệu tên khách hàng và giá trị thực hiện (Trang 44)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w