HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN KHOA KIẾN THỨC GIÁO GIỤC ĐẠI CƯƠNG TIỀU LUẬN TIẾNG VIỆT THỰC HÀNH Khảo sát, đánh giá những thành công và những hạn chế về mặt ngôn ngữ trên báo mạng điện tử Khoahoc tv[.]
Trang 1HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN KHOA KIẾN THỨC GIÁO GIỤC ĐẠI CƯƠNG
TIỀU LUẬN TIẾNG VIỆT THỰC HÀNH
Khảo sát, đánh giá những thành công và
những hạn chế về mặt ngôn ngữ trên báo mạng điện tử Khoahoc.tv
Sinh viên thực hiện : Đỗ Thị Minh Huệ
Mã sinh viên : 1852010015 Giảng viên hướng dẫn : PGS TS Hoàng Minh Lường
: TS Đặng Thúy Hạnh
Hà Nội, ngày 25 tháng 5 năm 2021
Trang 2Mục lục
MỞ ĐẦU 2
1 Lý do chọn vấn đề nghiên cứu 2
2 Mục đích và phương pháp nghiên cứu 3
2.1 Mục đích nghiên cứu 3
2.2 Phương pháp nghiên cứu 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
4 Ý nghĩa đề tài 3
NỘI DUNG 4
1 Khái quát về văn bản trên trang báo mạng Khoahoc.tv 4
1.1 Các đặc trưng cơ bản của văn bản 4
1.2 Thể loại văn bản trên trang báo mạng Khoahoc.tv 4
2 Phân tích văn bản trên trang báo mạng Khoahoc.tv 6
2.1 Đoạn văn không có câu chủ đề 6
2.2 Lập luận trong văn bản 7
2.3 Bố cục toàn văn bản 8
3 Phân tích câu trong văn bản trên trang báo mạng Khoahoc.tv 10
3.1 Thống kê kiểu câu 10
3.2 Các lỗi về câu 12
4 Phân tích từ trong văn bản trên trang báo mạng Khoahoc.tv 14
4.1 Đánh giá chung 14
4.2 Các lỗi dùng từ 15
5 Phân tích chữ viết và hệ thống dấu câu trong văn bản trên trang báo mạng Khoahoc.tv 17
TÀI LIỆU THAM KHẢO 20
PHỤ LỤC 21
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn vấn đề nghiên cứu
Bước vào thời đại công nghệ số, báo chí Việt Nam đã thay đổi mạnh mẽ để bắt kịp xu hướng chung của sự phát triển Nhiều cơ quan báo chí hiện nay đã sẵn sàng đón nhận thách thức của thời đại công nghệ số PGS TS Đinh Thị Thúy Hằng, Giám đốc Trung tâm Bồi dưỡng nghiệp vụ, Hội Nhà báo Việt Nam cho rằng nói đến khái niệm báo chí truyền thống từ trước là nhắc đến báo in, phát thanh, truyền hình nhưng hiện nay, khái niệm về báo chí truyền thống đã được “hòa tan.”
Từ khi Internet ra đời, trên thế giới cũng như ở Việt Nam hình thành những
cơ quan báo chí mới Vẫn có những độc giả, khán giả xem báo in, truyền hình, nghe phát thanh nhưng điều quan trọng là cơ quan báo chí đó phải sử dụng Internet để làm ra trang phiên bản điện tử và đó là chính là thể loại để vươn tới độc giả nhiều hơn
Sự phát triển của Internet và các trang báo mạng điện tử giống như “con dao hai lưỡi” đối với đội ngũ làm báo Các bài báo được phát trên nền tảng trực tuyến có thể tiếp cận đến độc giả chỉ trong vòng vài giây, tiết kiệm được thời gian in ấn và vận chuyển Mặt khác, cạnh tranh về tốc độ dẫn đến việc biên tập thiếu cẩn thận, thiếu chỉn chu, còn nhiều sai sót về mặt ngôn ngữ
Trên cơ sở kế thừa có chọn lọc các thành quả của những nhà nghiên cứu ngôn ngữ tiếng Việt; tổng hợp kiến thức sau học phần “Tiếng Việt thực hành,”
chuyên đề “Khảo sát, đánh giá những thành công và những hạn chế về mặt
ngôn ngữ trên báo mạng điện tử Khoahoc.tv” sẽ chỉ ra ưu, nhược điểm để
học tập, rút kinh nghiệm trong việc cẩn trọng khi hoạt động trong lĩnh vực báo chí sau này
Trang 42 Mục đích và phương pháp nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Giúp người đọc phân biệt được các loại hình văn bản, các tạo lập văn bản và diễn đạt nội dung một cách tự nhiên; bên cạnh đó đưa ra các cách đặt câu, sử dụng từ chính xác; đồng thời hiểu rõ quy tắc chính tả, dấu câu trong soạn thảo văn bản nói chung và tạo lập văn bản báo chí nói riêng
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Chuyên đề sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp cùng logic, thống kê cùng khái quát hóa và hệ thống hóa
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Ưu điểm và nhược điểm cùng những đặc trưng cơ bản về mặt ngôn ngữ trên trang báo mạng Khoahoc.tv
Trang 5NỘI DUNG
1 Khái quát về văn bản trên trang báo mạng Khoahoc.tv
1.1 Các đặc trưng cơ bản của văn bản
Tính chỉnh thể:
Về nội dung, văn bản phải đáp ứng được hai yêu cầu Thứ nhất, có tính trọn vẹn, nghĩa là phải làm cho người khác hiểu được sự việc, một tư tưởng hay cảm xúc nào đó Thứ hai, có tính nhất quán về chủ đề Mỗi văn bản chỉ tập trung vào thể hiện một chủ đề nhất định
Về hình thức, văn bản phải có kết cấu hoàn chỉnh tạo nên sự hài hòa, cân xứng giữa các thành tố, và kèm theo đó là sự hợp lý, nhất quán của dấu hiệu chữ viết
Tính mục đích:
Mỗi văn bản đều hướng tới một mục đích nhất định Mục đích của văn bản có thể được bộc lộ một cách trực tiếp (theo cơ chế hiển ngôn) hoặc gián tiếp (theo cơ chế hàm ngôn) Nó quy định việc lựa chọn các chất liệu nội dung, cách thức tổ chức các chất liệu nội dung cũng như việc lựa chọn các phương tiện ngôn ngữ
Như vậy, chúng ta có thể định nghĩa khái quát văn bản như sau: Văn bản là sản phẩm của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, chủ yếu tồn tại ở dạng viết, thường là tập hợp các câu, có tính trọn vẹn về nội dung, hoàn chỉnh về hình thức, có tính liên kết chặt chẽ và hướng tới một mục đích giao tiếp nhất định
1.2 Thể loại văn bản trên trang báo mạng Khoahoc.tv
Trang 6Văn bản trên trang báo mạng Khoahoc.tv đều là các văn bản khoa học và đáp ứng đủ các tiêu chí đặc trưng cơ bản của văn bản về tính chỉnh thể và tính mục đích, được chứng minh qua những nội dung cụ thể sau:
Khái niệm về văn bản khoa học: Là các văn bản dùng trong lĩnh vực hoạt
động khoa học, với chức năng chủ yếu là thông báo và chứng minh Nó bao gồm các văn bản khoa học chuyên sâu và các văn bản phổ cập khoa học Các văn bản khoa học trên trang báo mạng Khoahoc.tv đều thuộc các văn bản phổ cập khoa học, truyền thụ kiến thức một cách sơ giản và dễ hiểu
Đặc trưng của văn bản khoa học là thông báo, chứng minh những tính quy
luật đã được phát hiện ra bằng tư duy khoa học, mà tư duy khoa học là tư duy
có tính chất khái quát – trừu tượng và được diễn đạt bằng những phán đoán, suy lí chính xác, logic Cho nên, đặc trưng cơ bản của văn bản khoa học là tính trừu tượng, khái quát cao, tính logic nghiêm ngặt và tính chính xác, khách quan
Ví dụ: “Loài người vẫn đang tiến hóa, cơ thể bạn có thêm một động
mạch và nó đang phát triển rất nhanh.” (Bài báo 5)
Đặc điểm ngôn ngữ của văn bản khoa học:
Về từ vựng: Văn bản khoa học sử dụng nhiều các thuật ngữ chuyên ngành, các từ ngữ khoa học chung, cũng như các từ ngữ trừu tượng (nhất là các văn bản khoa học thuộc hai lĩnh vực triết học và toán học)
Ở đây, từ ngữ phải đơn nghĩa, trung tính về sắc thái biểu cảm; từ loại được dùng nhiều hơn cả là danh từ; các đại từ thường mang ý nghĩa khái quát
Về cú pháp: Văn bản khoa học sử dụng các hình thức câu hoàn chỉnh, với kết cấu chặt chẽ, rõ ràng Loại câu phổ biến nhất là câu ghép chính
Trang 7phụ với các cặp từ quan hệ chỉ nguyên nhân, mục đích, nhượng bộ, tăng tiến Những trường hợp tách các vế của câu ghép có độ dài quá lớn thành các câu độc lập cũng gặp khá nhiều Ngoài ra, trong văn bản khoa học còn có mặt cả những câu khuyết chủ ngữ, hoặc có chủ ngữ không xác định
Về kết cấu: Văn bản khoa học thường được xây dựng theo một khuôn mẫu quy định nghiêm ngặt đòi hỏi người viết phải tuân theo
2 Phân tích văn bản trên trang báo mạng Khoahoc.tv
2.1 Đoạn văn không có câu chủ đề
Đây là loại đoạn văn mà ở đó không có câu nào nêu ý chính của cả đoạn Nghĩa là câu chủ đề không được hiển ngôn Tuy nhiên chủ đề của đoạn văn vẫn được người ta hiểu ngầm thông qua việc khái quát ý nghĩa bộ phận của các câu trong đoạn
Ví dụ 1: “Cuối thời nhà Thanh, tình hình chính trị rối ren, các cuộc nổi dậy
nổ ra liên miên, chính quyền Đại Thanh chỉ tồn tại trên danh nghĩa Năm
1912, vị hoàng đế cuối cùng của nhà Thanh - Phổ Nghi, chính thức thoái vị.”
(Bài báo 9)
Ý nghĩa đoạn văn: Tình hình chính trị cuối thời nhà Thanh
Ví dụ 2: “Một độ được chia thành 60 phút, và một phút thành 60 giây Các
đơn vị này, còn được gọi tương ứng là phút góc hay giây góc, được biểu diễn tương ứng bằng dấu phết đơn hay đôi, hay bằng dấu đóng trích dẫn đơn hay đôi Ví dụ: 40,1875° = 40°31’15” Nếu cần độ chính xác cao hơn, việc lấy phần thập phân của giây thông thường được sử dụng hơn là lấy các giá trị bội số của 1/60 giây.”
(Bài báo 10)
Trang 8Ý nghĩa đoạn văn: Cách tính độ trong toán học chính xác
2.2 Lập luận trong văn bản
2.2.1 Diễn dịch
Là kiểu lập luận đi từ cái chung đến cái riêng, từ cái khái quát đến cái cụ thể
Ở kiểu lập luận này, câu đầu tiên trong đoạn văn là câu chủ đề, còn các câu sau có nhiệm vụ triển khai chủ đề, tức là đưa lí lẽ, dẫn chứng để làm sáng tỏ
nó
Ví dụ: “Trong một đàn kiến, ong, mối, mỗi thành viên đều có trách nhiệm
cụ thể, và việc xử lý xác chết cũng vậy Nhiều nghiên cứu từ những năm
1950 đã xác nhận điều này Kiến thợ hoặc ong thợ sẽ có nhiệm vụ dọn dẹp và vận chuyển xác chết của đồng loại để ngăn chặn mầm bệnh lây lan trong tổ kiến hoặc tổ ong Một số loại kiến hoặc ong sẽ đặt xác của đồng loại ở những nơi cụ thể cách xa khu vực chúng sinh sống Trong khi đó, loài mối sẽ đào những căn phòng nhỏ trong tổ để chôn xác chết.”
(Bài báo 8)
2.2.2 Quy nạp
Là kiểu lập luận ngược lại với diễn dịch, tức là đi từ cái riêng lẻ, cái cụ thể đến cái chung, cái khái quát Câu kết thúc chính là câu chủ đề, nó chốt lại ý tưởng toát ra từ những câu mang thông tin chi tiết, cụ thể đứng phía trước
Ví dụ: “Lượng oxy khi hít vào chiếm khoảng 20% không khí và khoảng 15%
khi thở ra Thực tế, chỉ có khoảng 5% lượng oxy được hấp thụ trong quá trình
hô hấp và chuyển thành carbon dioxide (CO 2 ) Do vậy, để đáp ứng lượng oxy
cần thiết, một con người thường sử dụng khoảng 100 gallon ~ 378 lít oxy
tinh khiết mỗi ngày (tức 5% của 2.000 gallon).”
Trang 9(Bài báo 7)
2.2.3 Vừa diễn dịch, vừa quy nạp
Ở kiểu lập luận này, diễn dịch và quy nạp sẽ được phối hợp với nhau để nhận thức thêm sâu sắc Tuy nhiên, do đặc trưng của văn bản báo chí khoa học, 10 bài báo không có dạng văn bản kết hợp cả diễn dịch và quy nạp
2.2.4 So sánh
So sánh tương đồng bằng cách chỉ ra những nét giống nhau giữa các sự vật,
hiện tượng nào đó cụ thể
Ví dụ: “Cá phổi có thân dài giống với loài lươn, vây ngực và bụng khỏe, giúp
chúng di chuyển dễ dàng trên cạn Chúng thường sống ở vùng nước nông, như đầm lầy và đầm lầy, nhưng đôi lúc cũng được tìm thấy trong các hồ nước lớn.”
(Bài báo 1)
So sánh tương phản bằng cách chỉ ra những nét khác biệt giữa các sự vật,
hiện tượng
Ví dụ: “Không giống như các loài động vật có vú khác, dơi đã tham gia một
cuộc chạy đua vũ trang tiến hóa với những loại virus này trong nhiều thiên
niên kỷ và chúng đã thích nghi để giảm thiểu cơ chế tự tổn thương Hệ thống
miễn dịch của chúng có phản ứng viêm rất thấp, đây là một sự thích nghi tuyệt vời.”
(Bài báo 6)
2.3 Bố cục toàn văn bản
Trang 10Các ý của văn bản bao giờ cũng phải được thể hiện trong một bố cục nhất định Ở dạng đầy đủ nhất, một văn bản có bố cục gồm 3 phần rõ rệt: phần mở đầu, phần triển khai và phần kết thúc
2.3.1 Phần mở đầu
Đây là phần có nhiệm vụ giới thiệu chủ đề, xác lập mối quan hệ giữa tác giả
và đối tượng tham gia giao tiếp với các yêu cầu: ngắn gọn, bám sát chủ đề; có tính khái quát và hấp dẫn
Đa phần, các bài báo được khảo sát trên trang báo mạng Khoahoc.tv đã đáp ứng đủ yêu cầu của phần mở đầu
Ví dụ 1:
“Chắc hẳn bạn đã từng nghe về con tàu Noah (Nô-ê) đã chiến thắng cơn đại
hồng thủy trong kinh thánh Đối với những người theo đạo Thiên Chúa Giáo
và những ai đã từng đọc kinh thánh thì hẳn đã biết ngọn ngành về truyền thuyết này
Và bài viết này nhằm giải đáp một phần nghi vấn xung quanh việc liệu tàu Noah hay một thứ gì tương tự nó có tồn tại hay không Hi vọng sẽ đem lại những thông tin bổ ích.”
Chủ đề văn bản: Huyền thoại con tàu Noah có thật hay không?
(Bài báo 1)
Ví dụ 2:
“Loài dơi bị nhiễm nhiều loại virus nguy hiểm như bệnh dại, SARS và Ebola
Tuy các virus này gây chết người ở các động vật có vú khác nhưng đối với dơi
Trang 11thì không Trên thực tế, chúng có thể sống đến 30 năm một cách bình thường Vậy điều gì đang bảo vệ chúng khỏi những căn bệnh nguy hiểm này?”
Chủ đề văn bản: Vì sao dơi nhiễm nhiều virus nguy hiểm như Corona nhưng không chết?
(Bài báo 6) Tuy nhiên, phần mở đầu của một số bài báo chưa gợi mở được trọng tâm của vấn đề trong bài Ví dụ:
“Mặc dù gene này không ảnh hưởng đến sự tồn tại của con đực, nhưng nó
ngăn cản con cái xây dựng một loại protein thiết yếu và do đó khiến chúng chết trước khi trưởng thành.”
Chủ đề văn bản: Mỹ thả muỗi biến đổi gene để làm gì?
(Bài báo 4)
3 Phân tích câu trong văn bản trên trang báo mạng Khoahoc.tv
3.1 Thống kê kiểu câu
3.1.1 Câu đơn
Câu đơn bình thường:
Là loại câu mà trong đó có một cụm chủ vị duy nhất làm nòng cốt Ví dụ:
“Loài này thường được tìm thấy ở Châu phi, Nam Mỹ và Úc.” (Bài báo 1)
“Đây thực sự là một tin xấu đối với virus.” (Bài báo 6)
“Động vật thực sự có thể cảm nhận được cái chết của đồng loại.” (Bài báo 8)
Câu đơn đặc biệt:
Là loại câu mà ở đó chỉ có một từ hay một cụm từ làm nòng cốt và người ta không phân định nó là chủ ngữ hay là vị ngữ Loại câu này thường xuất hiện trong các văn bản nghệ thuật để gợi lên nhiều cảm xúc cho độc giả Vậy nên,
Trang 12trang báo mạng Khoahoc.tv không sử dụng loại câu này trong các bài báo của mình
3.1.2 Câu phức
Câu phức là loại câu mà trong đó một cụm chủ vị chính làm nòng cốt và một hay nhiều cụm chủ vị phụ thuộc Có khá nhiều dạng câu phức, chẳng hạn:
Câu phức thành phần chủ ngữ
“Đối với những người theo đạo Thiên Chúa Giáo và những ai đã từng đọc
kinh thánh thì hẳn đã biết ngọn ngành về truyền thuyết này.” (Bài báo 2)
“Noah ở đây có tên là Utnapishtim đã được cảnh báo về một trận bão lớn và
xây dựng một chiếc thuyền lớn, chia làm sáu phần.” (Bài báo 2)
Câu phức thành phần vị ngữ
“Đỉnh Ararat ở Thổ Nhĩ Kỳ cũng là một tâm điểm cho các nhà khảo cổ.” (Bài
báo 2)
“Hít thở sâu là một bài tập tốt để giảm căng thẳng và nên được luyện tập
hàng ngày.” (Bài báo 6)
Trang 13“Họ lo ngại rằng các hộp trứng muỗi có thể bị phá hoại, Oxitec đã đặt chúng
vào một nơi bí mật và không tiết lộ vị trí chính xác của chúng cho công chúng.” (Bài báo 2)
“Ví dụ, số người có răng khôn ngày càng giảm; Tình trạng Tarsal Coalition ở
trẻ sơ sinh ngày càng tăng; Ngày càng có ít người ở động mạch dưới tuyến giáp, và nó đã hoàn toàn biến mất vào cuối thế kỷ 20.” (Bài báo 5)
Câu ghép chính phụ: là câu ghép mà các kết cấu chủ – vị nòng cốt có quan hệ chính phụ với nhau Chúng thường được nối với nhau bằng các
cặp quan hệ từ tuy/nhưng, dù/nhưng, vì/nên, càng/càng, bao nhiêu/bấy
nhiêu, nếu/thì Loại câu này xuất hiện khá nhiều trong các bài báo của
Khoahoc.tv
“Mặc dù gene này không ảnh hưởng đến sự tồn tại của con đực, nhưng nó
ngăn cản con cái xây dựng một loại protein thiết yếu và do đó khiến chúng chết trước khi trưởng thành.” (Bài báo 4)
“Tuy có thể nói dơi là một vật chủ chứa rất nhiều virus có thể gây hại cho con
người nhưng lợi ích mà chúng mang lại cũng vô cùng đáng kể.” (Bài báo 6)
“Mặc dù nghĩa trang voi chỉ là một truyền thuyết, nhưng hành vi của
những con voi khi đối mặt với cái chết thực sự là một điều gì đó khiến chúng ta khó hiểu.” (Bài báo 8)
3.2 Các lỗi về câu
Trong văn bản tiếng Việt, có một số loại lỗi thông thường sai về câu như sau:
Câu sai về cấu tạo ngữ pháp là những câu văn thiếu thành phần nòng cốt Các trường hợp điển hình là câu thiếu chủ ngữ, câu thiếu vị ngữ,