2.3.1.4 Khả năng tự vững của TYM 632.3.2 Tác động xã hội tới các thành viên của TYM 652.3.2.2 Cải thiện chất lượng cuộc sống của các thành viên 70 2.4 Tổng kết về hiệu quả của họat động
Trang 11.1 Giới thiệu chung về họat động tài chính vi mô 6
1.1.2 Quá trình hình thành và phát triển của hoạt động tài chính vi mô 71.1.3 Vai trò của hoạt động tài chính vi mô 9
1.2.2 Phân loại các tổ chức tài chính vi mô 111.3 Các sản phẩm tài chính chủ yếu được cung cấp bởi các tổ chức tài chính vi
1.4 Hiệu quả cung cấp các sản phẩm tài chính của tổ chức tài chính vi mô 191.4.1 Hiệu quá đánh giá trên giác độ nội bộ tổ chức 201.4.1.1 Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng cho vay 201.4.1.2 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả và hiệu suất 25
1.4.1.4 Các chỉ tiêu phản ánh mức độ bền vững 281.4.2 Hiệu quả đánh giá trên phương diện cải thiện cuộc sống của khách hàng 32
1.4.2.2 Nâng cao chất lượng cuộc sống của khách hàng 35
CHƯƠNG 2: Hiệu quả cung cấp các sản phẩm tài chính của Qũy Tình thương
2.3 Phân tích hiệu quả cung cấp dịch vụ tài chính của TYM 542.3.1 Hiệu quả cung cấp dịch vụ tài chính xét theo góc độ của tổ chức 552.3.1.1 Chất lượng họat động cho vay của TYM 55
Trang 22.3.1.4 Khả năng tự vững của TYM 632.3.2 Tác động xã hội tới các thành viên của TYM 65
2.3.2.2 Cải thiện chất lượng cuộc sống của các thành viên 70
2.4 Tổng kết về hiệu quả của họat động cung cấp các dịch vụ tài chính của TYM 772.4.1 Những thành công và thách thức trong tổ chức của TYM 772.4.2 Những thành công và hạn chế trong các tác động xã hội 79CHƯƠNG 3: Định hướng và Giải pháp để nâng cao hiệu quả họat động cung cấp
3.1 Định hướng phát triển trong tương lai của TYM 823.2 Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động cung cấp dịch vụ tài chính
3.2.1 Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và điều hành của TYM 843.2.2 Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay 873.2.3 Giải pháp cho họat động huy động tiết kiệm 89
PHỤ LỤC 1: Các phương pháp tiếp cận trong họat động tài chính vi mô 95PHỤ LỤC 2: Các điều chỉnh trên báo cáo tài chính của tổ chức tài chính vi mô 102PHỤ LỤC 3: Điều chỉnh loại trừ các khoản tài trợ trên báo cáo kết quả kinh
PHỤ LỤC 4: Điều chỉnh đối với lạm phát và chi phí vốn trên báo cáo kết quả
PHỤ LỤC 5: Mẫu bảng hỏi được sử dụng trong cuộc khảo sát năm 2007 tại chi
DANH MỤC CÁC TỪ NGỮ VIẾT TẮT
ADB Ngân hàng phát triển Châu Á
MAF Quỹ Tương trợ của Qũy tính thương
TYM Quỹ Tình thương của Hội Liên Hiệp Phụ Nữ Việt Nam
ROA Lợi nhuận trên tổng tài sản
ROE Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu
Trang 3DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ
Hộp 2.1: Số lượng thành viên tham gia Quỹ TYM giai đoạn 2001-2006 43
Bảng 2.2: Tình hình học vấn của các thành viên của TYM trong năm 2002 và
Hộp 2.5: Tiết kiệm tự nguyện và tiết kiệm bắt buộc của TYM trong giai đoàn
Bảng 2.6: Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng hoạt động cho vay của TYM 56
Hộp 2.9: Các chỉ tiêu về lợi nhuận của TYM và tỷ lệ lạm phát trong giai đoạn
Hộp 2.13: Tình hình nhà ở của các thành viên trong hai năm 2002 và 2007 70
Hộp 2.14: Tình hình học hành của con các thành viên 73
Hộp 2.15: Phân bổ cấp học cao nhất của con theo học vấn của người mẹ 73
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU Thế giới đang nỗ lực thực hiện mục tiêu thiên niên kỷ là xóa đói giảm nghèo.
Trong quá trình thực hiện mục tiêu này, tài chính vi mô được xem là một trongnhững họat động trọng tâm Chính bởi thế mà các tổ chức tài chính vi mô được đầu
tư và hỗ trợ rất nhiều để mở rộng họat động nhằm giúp đỡ được nhiều người nghèohơn nữa
Cùng với sự phát triển của ngành tài chính vi mô, rất nhiều tổ chức đã phát triểnlớn mạnh và trở thành điển hình thành công trên thế giới Tuy nhiên, trong mộtngành tài chính vi mô đang trong giai đoạn phát triển thì việc định nghĩa thế nào làmột tổ chức tài chính vi mô đang thực sự đạt được hiệu quả đằng sau những thànhcông hào nhoáng và làm thế nào để các tổ chức tài chính vi mô thực sự họat độnghiệu quả là những yêu cầu được đặt ra
Mục tiêu của bài nghiên cứu này là đưa ra những giải pháp để nâng cao họat độngcung cấp dịch vụ tài chính của TYM, một tổ chức tài chính vi mô thành công ở ViệtNam Để làm được điều này, bài nghiên cứu trước hết phải đánh giá và tổng kết lạinhững mặt được và chưa được của TYM dựa trên những chỉ tiêu đánh giá cơ bảnđược sử dụng cho các tổ chức tài chính vi mô Các đánh giá sẽ được xem xét trên haigóc độ: (i) tác động tới nội bộ tổ chức và (ii) tác động tới khách hàng của tổ chức Các nghiên cứu hiệu quả của tổ chức sẽ được dựa trên các báo cáo tài chính vàbáo cáo họat động của TYM Trên các báo cáo tài chính, để phục vụ cho nghiên cứu,một số điều chỉnh cần thiết đối với các khỏan tài trợ và lạm phát đã được thực hiện Các đánh giá tác động xã hội được xây dựng trên kết quả các cuộc điều tra tácđộng của TYM tại 5 chi nhánh lớn năm 2002 và cuộc điều tra do nhóm sinh viênthực tập thực hiện năm 2007 tại hai chi nhánh Sóc Sơn 1 và 2 Do điều kiện nghiêncứu hạn chế nên nhóm sinh viên chỉ thu thập được số liệu của hai chính nhánhnhưng những chi nhánh này có thời gian họat động dài và mang đầy đủ các đặc điểmcủa các chi nhánh khác của TYM
Trang 5CHƯƠNG I – HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH
CỦA TỔ CHỨC TÀI CHÍNH VI MÔ
1.1Giới thiệu chung về họat động tài chính vi mô
- Định nghĩa tài chính vi mô
Hiện nay, trong giới thực hành và nghiên cứu tài chính vi mô tồn tại một số cáchđịnh nghĩa khác nhau về hoạt động này Dứơi đây là một số định nghĩa tiêu biểu vềtài chính vi mô:
Tài chính vi mô, theo định nghĩa của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), là
hoạt động cung cấp một phạm vị rộng lớn các dịch vụ tài chính như các khoản cho vay nhỏ, tiết kiệm vi mô, bao hiểm vi mô, chuyển tiền, thanh toán … cho các hộ gia đình nghèo hoặc có thu nhập thấp, cũng như tài trợ cho các hoạt động kinh doanh rất nhỏ của họ.
Một định nghĩa khác được đưa ra bởi Ngân hàng Thế Giới(World Bank – WB):” Tài chính vi mô được coi là một phương pháp phát triển kinh tế nhằm mang lại lợi ích cho dân cư thu nhập thấp (kể cả phụ nữ và nam giới) Thuật ngữ này đề cập tới dịch vụ tài chính cho các khách hàng có thu nhập thấp, bao gồm cả những đối tượng làm ăn cá thể Các dịch vụ tài chính nói chung bao gồm tiết kiệm và tín dụng, tuy nhiên một số tổ chức tài chính vi mô cung cấp các dịch vụ như bảo hiểm và thanh toán”.
Để tạo điều kiện cho hoạt động tài chính vi mô trong nước phát triển, trong năm
2005, Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam ban hành Nghị Định số 28 để điều chỉnh họatđộng này Trong Điều 2, khoản 1 đã định nghĩa tài chính vi mô (tài chính quy mô
nhỏ) như sau: “Tài chính quy mô nhỏ là hoạt động cung cấp một số dịch vụ tài chính, ngân hàng nhỏ và đơn giản cho các hộ gia đình, cá nhân có thu nhập thấp, đặc biệt là những người nghèo và hộ gia đình nghèo”.
Trang 6Mặc dù có thể định nghĩa theo nhiều cách khác nhau, nhưng thuật ngữ tài chính vi
mô nói chung bao gồm ba nôi dung sau:
- Đối tượng khách hàng là những người có thu nhập không cao Mức thu nhập củanhững người này có thể thay đổi từ ở trên ranh giới nghèo đói tới mức rất thấp
xa ranh giới nghèo đói Nhưng mức thu nhập của họ không hoặc khó đảm bảocho vịêc duy trì và nâng cao chất lượng cuộc sống cũng như họat động sản xuấthiện tại
- Các sản phẩm tài chính được cung cấp tới cho khách hàng chủ yếu là Tiết kiệm
và cho vay Tuy nhiên, cùng với thời gian nhiều tổ chức đã mở rộng thêm cácsản phẩm bảo hiểm và thanh toán
- Việc cung cấp sản phẩm tài chính được thực hiện một cách 6ien tục và bền vữngtới các khách hàng
1.1.2 Quá trình hình thành và phát triển của hoạt động tài chính vi mô
Theo định nghĩa trên, tài chính vi mô là họat động tài chính cho người nghèo vàhướng tới người nghèo Trọng tâm lớn nhất và không thay đổi từ khi hình thành củahọat động này là xóa đói giảm nghèo, cải thiện đời sống cho bộ phận những người
có thu nhập thấp Có lẽ chính bởi mục tiêu này, mà khi bắt đầu hình thành, người tathường coi đây là một hoạt động mang tính chất từ thiện
Theo lý thuyết “Cái vòng luẩn quẩn”, cách hiệu quả nhất để giúp những ngườinghèo không còn nghèo nữa là cung cấp vốn cho họ Chính từ suy nghĩ này, trườngphái đầu tiên trong họat động tài chính vi mô ra đời, trong khoảng thời gian nhữngnăm 1940 đến cúôi những năm 1960, với trọng tâm cung cấp càng nhiều càng tốt cáckhỏan vốn cho người nghèo Đối với họ, một phần do nhầm lẫn với hoạt động từthiện, việc hòan trả các khỏan vay thường không được chú trọng tới Bên cạnh đó,lãi suất áp dụng cho các khỏan vay thường rất thấp Nếu đứng trên khía cạnh chínhsách lãi suất để phân chia các trường phái hoạt động tài chính vi mô thì đây được coi
là giai đoạn chạy theo lãi suất bao cấp được chủ động không chỉ bởi tổ chức cungcấp mà còn được khuyến khích bới chính các chính phủ
Trang 7Sau một thời gian áp dụng phương châm họat động tài chính vi mô trên, các chínhphủ cũng như các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực tài chính vi mô nhận thấy nhữnghiệu quả không đáng kể của hoạt động này Vào những năm 1970, trường phái hạnchế tín dụng được hình thành Theo đó, việc cung cấp các khỏan vay được nhìn nhận
và đánh giá thận trọng hơn Tuy nhiên, việc áp dụng lãi suất cho hoạt động tài chính
vi mô trong thời gian này vẫn là lãi suất bao cấp Điều này có thể được giải thích bởinhững định kiến về người nghèo cũng như khả năng tài chính của họ vẫn còn nặng
nề trong một bộ phận lớn những nhà hoạch định cũng như những nhà họat động tàichính vi mô
Vào giữa những năm 1970, những người theo tư tưởng mới bắt đầu thủ nghiệmnhững mô hình cung cấp dịch vụ tài chính vi mô mới cũng như áp dụng lãi suấtthương mại vào họat động này Đây là những người cởi bỏ những quan điểm đã cũ
và không đúng về người nghèo Theo họ, người nghèo hoàn toàn có khả năng tiêtkiệm và trả nợ Điều quan trọng khi thiết kế một sản phẩm tài chính cho ngườinghèo không nằm ở việc làm cho giá thật rẻ mà làm sao cho người nghèo có thể tiếpcận tới một cách nhanh chóng và hiệu quả Một lọat các điển hình thành công đãxuất hiện trong giai đoạn này như Grameen Bank ở Bangladesh, ACCION ở Brazil,
… Tuy nhiên, đứng trên các nhà hoạch định chính sách, sự bất đồng với quan điểm
về lãi suất cho vay đối với tín dụng vi mô vẫn cọn mạnh mẽ Rât nhiều chương trìnhcủa chính phủ vẫn tiếp tục sử dụng lãi suât trợ cấp bởi nhiều lý do
Kể từ những năm 1980 tới nay, họat động tài chính vi mô đã thực sự phát triểnmạnh mẽ Về phía các sản phẩm và dịch vụ, các tổ chức tài chính vi mô không chỉcung cấp đơn thuần các khỏan vay nhỏ mà còn mở rộng ra nhiều sản phẩm tài chínhkhác như tiết kiệm, bảo hiểm, giáo dục đào tạo… Về số lượng các tổ chức tài chính
vi mô thì tính cho tới năm 2003, đã có trên 10.000 tổ chức cung cấp các dịch vụ tớihơn 80 triệu người nghèo tại các nước đang phát triển ở Châu Á, Nam Mỹ và ChâuPhi Với sự mở rộng này, mạg lưới 7ien kết các tổ chức được mở ra rộng rãi, hànglọat các nghiên cứu và hợp tác phát triển đã được thực hiện với mục tiêu là mở rộnghơn nữa họat động tài chính vi mô Các nghiên cứu mở rộng và những quy chuẩn
Trang 8chung cho tài chính vi mô được thiết lập nhằm hướng tới mục tiêu là hoạt động tàichính vi mô bền vững và phát triển.
Cùng với sự thành công của họat động tài chính vi mô mới, cái nhìn của các chínhphủ đã thiện cảm hơn với hoạt động này Tại một số nước như Bangladesh, chínhphủ không chỉ tham gia như một cổ đông mà còn có những đạo luật riêng để điềuhành họat động này Tuy nhiên, bên cạnh những điển hình đáng khích lệ thì một sốchính phủ vẫn mang nặng những tư tưởng định kiến, đặc biệt là trong vấn đề lãi suấtcủa hoạt động tài chính vi mô Tại một số nước như Trung Quốc, Campuchia và ViệtNam, những nhà hoạch định chính sách và những nhà thực hành tài chính vi mô thực
sự vẫn không thể đi đến được những đồng ý chung trong việc đưa ra các chính sách
và điều phối hợp lý
1.1.3 Vai trò của tài chính vi mô
Sau một thời gian dài hình thành và phát triển, họat động tài chính vi mô được ghi
nhận là có những thành công sau:
Thứ nhất, hoạt động tài chính vi mô góp phần vào mục tiêu xóa đói giảm nghèo
của thế giới nói chung và của từng quốc gian nói riêng Bằng vịêc cung cấp các dịch
vụ tài chính cho người nghèo, giúp họ có khả năng thực hiện các họat động sản xúâttăng thu nhập, một tỷ lệ lớn dân số của các nước đang phát triển đa thóat khỏi cảnhnghèo đói Bên cạnh đó, việc tăng thu nhập đã tao thêm cơ hội cho những ngườinghèo tiếp cận tới các dịch vụ xã hội như y tế, giáo dục, nước sạch Nói một cáchkhác, tài chính vi mô có tác động tới việc cải thiện đời sống của người nghèo Chínhbởi vai trò này, tài chính vi mô được xem là mắt xích quan trọng trong việc thựchiện mục tiêu thiên niên kỷ của Liên Hợp Quốc
Thứ hai, tài chính vi mô mang lại cho người nghèo, những người rất dễ bị thương
tổn bởi các rủi ro những công cụ phòng ngừa hữu hiệu Việc cung cấp các sản phẩmnhư tiết kiệm và bảo hiểm mang lại cho người nghèo những cái đệm đỡ khi cónhững rủi ro bất thường xảy ra Thêm vào đó, các khỏan vay với mục tiêu mở rộngsản xuất kinh doanh cho người nghèo đã khiến họ có nhiều cơ hôi vươn tới các thịtrường rộng lớn hơn nằm ngoài “lũy tre làng” Chính điều này đã giảm thiểu rủi
Trang 99ien9h họ khi có sự cố bất thường xảy ra đối với khoảng thị trường nhỏ bé này vì họ
có thể mang sản phẩm của mình đi bán ở nơi khác
Thứ ba, hoạt động tài chính vi mô góp phần thúc đẩy sự phát triển của khu vực tài
chính nông thôn Khi những người ngheo đã thoát nghèo nhờ hoạt động tài chính vi
mô thì nhu cầu của họ đối với các sản phẩm tài chính không hề giảm Tuy nhiên, do
họ không còn là những khách hàng mục tiêu của các tổ chức tài chính vi mô nữa, họcần tới những tổ chức tín dụng thương mại Với một lượng lớn các khách hàng tăngthêm hàng năm, thị trường nông thôn sẽ thật là hấp dẫn hơn đối với các tổ chức tíndụng thương mại
1.2Tổ chức tài chính vi mô
1.2.1 Định nghĩa tổ chức tài chính vi mô
Theo như quan điểm của ADB, “tổ chức tài chính vi mô là những tổ chức cung cấp các dịch vụ tài chính cho các hộ gia đình và cá nhân nghèo và có thu nhập thấp” Định nghĩa này của ADB được sử dụng rất rộng rãi trong giới thực hành tài
chính vi mô Đây cũng được coi là định nghĩa chung nhất về một tổ chức tài chính vi
mô Bên cạnh đó vẫn còn tồn tại một số định nghĩa khác nhau về tổ chức tài chính vi
mô Nhìn chung các định nghĩa khác định nghĩa của ADB đều chỉ ra thêm một sốđặc điểm của nguồn vốn hay tổ chức của tổ chức tài chính vi mô tùy thuộc vào đặcđiểm thực hành tài chính vi mô ở từng nơi
Trong Nghị định 28/2005 của ngân hàng nhà nước Việt Nam, tại điều 2 khoản 2
có định nghĩa tổ chức tài chính vi mô (tổ chức tài chính quy mô nhỏ) như sau:” tổ chức tài chính quy mô nhỏ là tổ chức tài chính hoạt động trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, với chức năng chủ yếu là sử dụng vốn tự có, vốn vay và huy động tiết kiệm để cung cấp một số dịch vụ tài chính, ngân hàng nhỏ, đơn giản cho các hộ gia đình và cá nhân có thu nhập thấp” Đây là một định nghĩa chỉ thêm ra đặc điểm về
nguồn vốn của một tổ chức tài chính vi mô, đó là có thể huy động vồn thương mại từcác nguồn như đi vay và huy động tiết kiệm bên ngoài bên cạnh vốn tự có Bên cạnh
đó, mặc dù không được chỉ ra trong định nghĩa này nhưng việc các tổ chức tài chính
vi mô hiện đang họat động ở Việt Nam lại sử dụng rất nhiều vốn tài trợ từ các nhà
Trang 10tài trợ Các nhà tài trợ cho họat động tài chính vi mô có thể là các chính phủ, các tổchức phi chính phủ, các tổ chức và các ngân hàng phát triển
1.2.2 Phân loại tổ chức tài chính vi mô
Ngừơi ta có thể phân loại các tổ chức tài chính vi mô theo nhiều tiêu thức như sựđiều chỉnh của luật pháp, đặc điểm sở hữu, đặc điểm về cơ cấu sản phẩm
Phân loại theo sự điều chỉnh của các văn bản luật do ngân hàng nhà nước ban hành Đây là cách phân loại được sử dụng phổ biến nhất trong giới nghiên
cứu và thực hành tài chính vi mô Theo cách phân loại này, các tổ chức tài chính
vi mô được chia thành ba nhóm:
- Khu vực chính thức gồm các tổ chức chịu hoàn tòan sự điều chỉnh bởi các vănbản của ngân hàng nhà nước Các tổ chức nằm trong nhóm này bao gồm nhữngngân hàng thương mại hoạt động chuyên biệt trong lĩnh vực tài chính vi mô, cácngân hàng hỗ trợ phát triển dành cho người nghèo do chính phủ thành lập, cácngân hàng làng xã Ở Việt Nam, những tổ chức họat động trong lĩnh vực tàichính vi mô thuộc nhóm này gồm : Ngân hàng Chính sách Xã hôi, ngân hàngNông nghiệp và Phát triển Nông Thôn
- Khu vực bán chính thức gồm các tổ chức chịu sự điều chỉnh một phần bởi cácvăn bản pháp quy của ngân hàng nhà nước Tại một số quốc gia, các chính phủ
đã ban hành một số văn bản pháp quy chuyên biệt để điều hành họat động củacác tổ chức này Các tổ chức tài chính vi mô nămg tỏng nhóm này gồm: Các tổchức phi chính phủ, các chương trình cho người có thu nhập thấp của chính phủ,các tổ chức đoàn thể xã hội Ở Việt Nam, một số tổ chức tài chính vi mô đượcxếp vào nhóm này gồm: Quỹ tình thương của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam(TYM), các tổ chức phi chính phủ hoạt động tại Việt Nam như Save Children
US, GRET, Bình Minh CDC
- Khu vực phi chính thức gồm các tổ chức và cá nhân họat động không chịu bất
cứ điều chỉnh nào của các văn bản pháp quy Những tổ chức họat động trongnhóm này là những nhóm cho vay và tiết kiệm tự nguyên trong cộng đồng,những người cho vay nặng lãi, gia đình, những bạn hàng…
Trang 11 Phân loại theo cơ cấu sở hữu
- Nhóm các tổ chức tài chính vi mô thuộc sở hữu của chính phủ gồm những tổchức được thành lập dựa trên vốn của chính phủ và được đìêu hành bởi chínhphủ Hầu hết ở các nước đều có dạng tổ chức như thế này Chúng tồn tại dướidanh nghĩa là những ngân hàng dành cho người nghèo và thực hiện các chươngtrinh phát triển cho người nghèo Những ngân hàng dạng này thường được cácchính phủ sở tại hỗ trợ rất nhiều nên không mấy khi sử dụng tới vồn tài trợ từbên ngòai
- Nhóm các tổ chức tài chính vi mô được thành lập trên cơ sở vốn góp của các cổđông Các cổ đông của nó có thể là các tổ chức tài chính, các cá nhân, các kháchhàng của chính tổ chức và cả các chính phủ Do đặc điểm có sự góp vồn nên các
tổ chức này được đòi hỏi phải chia lợi tức cho các cổ đông của nó từ phần lợinhuận au thuế Cổ phần của các cổ đông có thể được chuyển nhượng dựa trêncác quy định của pháp luật của ở nước sở tại
- Nhóm các tổ chức tài chính vi mô được thành lập bởi các cơ quan đòan thể xãhội và các tổ chức phi chính phủ Đặc điểm quan trọng nhát của nhóm này là sửdụng tương đối nhiều vốn tài trợ của các nhà tài trợ bên ngòai và tổ chức mẹ.Vốn góp của chủ sở hữu của các tổ chức trong nhóm này thường rất nhỏ do phầnlớn là lợi nhuận giữ lại lũy kế qua các năm
Phân loại theo cơ cấu sản phẩm
- Nhóm tổ chức triển khai đơn một sản phẩm tài chính Phổ biến nhất trong nhómnày là những tổ chức chỉ thực hiện duy nhất một chương trình cho vay tới cácthành viên của nó Trên thực tế, tiết kiệm có xuất hiện trong họat động của tổchức này nhưng các khỏan tiết kiệm này lại gắn chặt với họat động cho vay dođược coi như là một phương pháp bảo đảm cho các khỏan vay Các tổ chứctrong nhóm này thường không chỉ tập trung tới họat động tài chính cho ngườinghèo mà còn cung cấp đa dạng các phúc lợi xã hội khác Chẳng hạn, bên cạnhcho vay, một số tổ chức còn cung cấp các khóa đào tạo miễn phí cho người
Trang 12nghèo về nông nghiệp hoặc một số tổ chức lại cung cấp các hỗ trợ cho địaphương để nâng cao năng lực y tế cơ sở …
- Nhóm tổ chức cung cấp đa dạng các sản phẩm tài chính Đặc điểm của các tổchức này là họat động tập trung trong lĩnh vực cung cấp các sản phẩm tài chínhcho người nghèo Các sản phẩm được cung cấp không chỉ bó hẹp trong tiết kiệm
và cho vay mà có thể mở rộng ra các sản phẩm bảo hiểm và thanh toán Đối vớicác tổ chức này, họat động đào tạo cho các thành viên cũng được tiến hànhnhưng không nên hiểu đây là một họat động chuyên biệt của nó Trên thực tế,đây chỉ mà những đạo tạo mang tình phụ trợ nhằm nâng cao hiệu quả cho cáchoạt động cung cấp dịch vụ của tổ chức
1.3Các dịch vụ tài chính chủ yếu được cung cấp bởi các tổ chức tài chính vi mô
Các tổ chức tài chính vi mô trên tòan thế giới hiện đang cung cấp tới những kháchhàng của mình một danh mục đa dạng các sản phẩm tài chính Dứoi đây là các sảnphẩm tài chính chủ yếu được cung cấp bởi các tổ chức tài chính vi mô:
1.3.1 Cung cấp các khỏan tín dụng nhỏ
Cung cấp các khỏan tín dụng nhỏ được xem là dịch vụ đầu tiên được cung cấp tớingười nghèo bởi các tổ chức tài chính vi mô Thật khó để có thể định nghĩa thế nàođược gọi là một khỏan tín dụng nhỏ vì điều này còn phụ thuộc vào tình hình kinh tếcủa mỗi khu vực nơi mà tổ chức cung cấp dịch vụ Thông thường, hiện nay, các tổchức cung cấp các khỏan vay có giá trị bình quân khoảng 300 USD
Về vấn đề lãi suất, hiện nay vẫn còn tồn tại hai chính sách lãi suất trong họat động
tài chính vi mô Chính sách thứ nhất là chính sách lãi suất bao cấp, tức là thục hiệnlãi suât thấp hơn so với lãi suất cho vay bình quân của thị trường (thậm chí ngangbằng hoặc thấp hơn lãi suất huy động trên thị trường) và không đủ bù đắp các chi phíhọat động Có hai hình thức của lãi suất bao cấpi) thực hiện lãi suất bao cấp mộtcách tự nguyện trong các chương trình tín dụng cho người nghèo; (ii) chính phủ banhành các chính sách để buộc các tổ chức phải thực hiện chính sách lãi suất bao cấp.Mục tiêu của chính sách này là mang lại dịch vụ tín dụng rẻ cho người nghèo nhằm
Trang 13khuyến khích họ vay vốn mở rộng sản xuất Tuy nhiên, hậu quả của chính sách này
là sự mất bền vững trong hoạt động tài chính vi mô và lãng phí trầm trọng nguồn lựckhi mà ngừoi ta không nhìn nhận một cách chính xác thực lực tài chính của chínhcác khách hàng của mình
Chính sách lãi suất thứ hai là thực hiện lãi suất thương mại, tức là lãi suất phải bùđắp đủ các chi phí cho hoạt động tín dụng Với việc thực hiện lãi suất này, các tổchức có thể đủ khả năng đảm bảo khả năng tự bền vững và hạn chế sự phụ thuộc vào
hỗ trợ tài chính của các nhà tài trợ để duy trì hoạt động Tuy nhiên, trong một sốtrường hợp để đảm bảo đủ bù đắp các chi phí thì lãi suất đặt ra lại quá cao và tổ chức
có thể bị coi là những kẻ cho vay nặng lãi
Về thời hạn của các khỏan vay Các tổ chức chủ yếu cung cấp các khỏan vốn
trung và ngắn hạn Tỷ trọng của các khỏan vốn ngắn hạn (dưới 1 năm) luôn cao vàchiếm vị thế áp đảo trong cơ cấu cho vay Các khỏan vốn trung hạn cũng được cungcấp, tuy nhiên, hầu như không có tổ chức nào cung cấp khỏan vốn có thời hạn trên 3năm
Mục đích của các khoản cho vay hiện nay cũng được mở rộng Trong thời gian
đầu cung cấp các khỏan vay vi mô, các tổ chức thường chỉ chấp nhận cho vay nếukhỏan vay đó để tài trợ cho họat động sản xuất kinh doanh tạo thu nhập Về sau này,khi nhận ra rằng nhu cầu tiêu dùng của người nghèo là rất lờn và họ có thể sử dụngchính các khỏan vay tạo thu nhập để sử dụng vào mục đích tiêu dùng rồi lấy nhữngkhỏan khác bù vào, các tổ chức đã thực hiện cho vay các khỏan vay với mục đíchtiêu dùng như xây nhà, đào giếng … họăc những khỏan vay phục vụ những trườnghợp khẩn cấp Tuy nhiên, không phải khách hàng nào của tổ chức cũng được tiếpcận tới những khỏan vốn này Để được vay, họ thường phải đảm bảo một số điềukiện về thời gian tham gia tổ chức, kỷ luật hòan trả …
Tài sản thế chấp đựơc xem là một phần đi liền đối với họat động cho vay của bất
cứ một tổ chức tín dụng nào Đối với tài chính vi mô, tài sản thế chấp có một số khácbiệt Rất ít các khỏan vay của tài chính vi mô đòi hỏi tài sản thế chấp dưới dạng hiệnvật Thông thường,tổ chức tài chính vi mô sử dụng những hình thức bảo đảm sau:
Trang 14- Sự bảo đảm của tổ, nhóm Hình thức bảo đảm này xuất hiện trong hình thức chovay theo tổ nhóm Theo đó, tổ nhóm sẽ chịu trách nhiệm về khỏan vay của cácthành viên trong nhóm của mình.
- Tiêt kiệm bắt buộc, loại tiết kiệm này có thể được sử dụng rỗng rãi trong tât cảcác phương pháp tiếp cận Trung bình hàng tuần, khách hàng phải nộp mộtkhỏan tiết kiệm bắt buộc có giá trị tùy thuộc vào giá trị khỏan vay hoặc quy địnhcủa tổ chức Tiết kiệm bắt buộc tạo thành một khỏan bảo đảm cho khỏan vay củakhách hàng Trong trường hợp khách hàng không trả được nợ thì số tiền trongtài khỏan tiết kiệm này sẽ được lấy ra để trừ nợ Bên cạnh đó, tiết kiệm bắt buộccòn có tác dụng là rèn luyện tình thần tiết kiệm trong người nghèo để khi họhòan trả hết nợ thì họ có một khoản tiết kiệm
Về phương pháp tiếp cận, hiện nay có ba hình thức chủ yếu để các tổ chức cung
cấp các dịch vụ của mình tới khách hàng (trình bày cụ thể trong phụ lục 1)
- Cho vay cá thể, tức là tổ chức cung cấp các khỏan vay tới từng cá nhân và người
này không thuộc bất cứ một nhóm hỗ trợ hay bảo đảm nào Phương pháp chovay này không thích hợp đối với đối tượng khách hàng có thu nhập nằm dướiranh giới nghèo đói Hơn nữa, độ rủi ro của phương pháp này cao hơn nên đòihỏi khách hàng của tổ chức phải có hoạt động tạo thu nhập tương đối ổn định.Các khỏan vay thường nhằm mục đích tài trợ cho các tài sản cố định có giá trịtương đối lớn
- Cho vay theo nhóm, hiện phương pháp tiếp cận này được thực hiện theo hai
phương pháp là phương pháp cho vay theo nhóm kiểu của ngân hàng GrameenBank và theo mô hình nhóm tương hỗ Trong phương pháp cho vay này có sựđảm bảo nhóm cho khỏan vay của mỗi thành viên Thêm vào đó, việc tham giavào các buổi sinh họat hàng tuần là bắt buộc đối với những thành viên Tạinhững buổi sinh họat như thế này, việc xem xét các khỏan vay, phát vốn, hòantrả và trao đổi kinh nghiệm giữa các thành viên cũng được diễn ra Tiết kiệm bắtbuộc được thực hiện trong cho vay tổ nhóm Chính bởi những điều này mà
Trang 15phương pháp cho vay theo nhóm thực sự có hiệu quả đối với những khách hàng
có thu nhập ở dưới ranh giới nghèo đói
- Ngân hàng tự quản làng xã, đây là mô hình tiếp cận mà các tổ chức không tham
gia trực tiếp vào họat động quản lý Tất cả các hoạt động được chính cộng đồngquản lý, người góp vốn là chính những người trong cộng đồng Tổ chức chỉ làngười hỗ trợ kỹ thuật Với mô hình này, những người góp vốn vào các ngânhàng này mới có quyền được vay Chính vì vậy mà vô hình chung đã đẩy nhiềungười nghèo ra khỏi sự bao phủ của các ngân hàng này Hai hình thức củaphương pháp này là ngân hàng làng xã và hiệp hội tiết kiệm tự quản
Hoạt động giáo dục đào tạo, được xem là một phần quan trọng trong việc cung
cấp các khỏan vay nhỏ trong tài chính vi mô Thông thường, để tham gia vàomột chương trình cho vay vi mô, các khách hàng được cung cấp miễn phí mộtkhóa học về việc sử dụng và quản lý vốn, ky lụât tín dụng hoặc sinh họatnhóm… Mục tiêu của hoạt động này là nâng cao khả năng quản lý vốn, khảnăng sử dụng vốn và ý thức kỷ luật cho khách hàng Từ đó, nâng cao khả năngtrả nợ của khách hàng Trong quá trình vay vốn sau này, có thể tùy theo tổ chức
mà khách hàng có thể được cung cấp thêm các khóa đào tạo khác về sản xuất,kinh doanh
1.3.2 Huy động tiết kiệm
Cung cấp các khỏan tiết kiệm thường được các tổ chức tung ra một cách đồng thờivới việc cung cấp các khoản cho vay nhỏ Hiện nay, có hai sản phẩm tiết kiệm chủyếu:
- Tiết kiệm không kỳ hạn Trung bình hàng tuần hoặc hàng tháng khách hàng sẽ
nộp thêm một khỏan tiền vào tài khỏan tiết kiệm của họ Giá trị của các khỏannộp thêm này thường khá nhỏ cho phù hợp với điều kiện của khách hàng, đôikhi chúng ngang bằng với những khỏan nộp cho tiết kiệm bắt buộc Việc rút tiềncủa khách hàng được thực hiện nhưng thường phải được báo trước, đặc biệt làđối với phương pháp chp vay tổ nhóm khi mà các cán bộ kỹ thuật chỉ gặp và làmviệc với khách hàng vào một ngày nhất định trong tuần
Trang 16- Tiết kiệm có kỳ hạn, thường là kỳ hạn dứoi một năm Các khỏan tiết kiệm có kỳ
hạn có lãi suất cao hơn so với tiết kiệm không kỳ hạn Khách hàng nộp mộtkhỏan tiền một lần duy nhất và chỉ được rút lại sau khi hết kỳ hạn Trong trườnghợp khách hàng muốn rút tiền trước hạn thì phải chịu lãi suất phạt
1.3.3 Họat động bảo hiểm vi mô
Trong vòng 10 năm trở lại đây, rất nhìêu tổ chức đã bắt đầu cung cấp hoặc mởrộng cung cấp sản phẩm bảo hiểm Lý do rõ rang nhất là đây là một phương phápphòng ngừa hữu hiệu nhất cho những rủi ro bất thường có thể xáy ra đối với kháchhàng của các tổ chức Chính bởi sự tham gia rộng rãi này mà các sản phẩm bảo hiểmngày càng được mở rộng Hiện nay, có các sản phẩm bảo hiểm sau:
- Bảo hiểm cho các khoản vay Loại bảo hiểm này thường được cung cấp cùng vớicác khỏan vay của khách hàng Thông thường, khách hàng sẽ phải trích lại một
tỷ lệ phần trăm nhất định trong số tiền họ nhận được (thường thừ 1 đến 2,5%) đểlàm khỏan bảo hiểm cho khỏan vay Trong trường hợp thành viên xảy ra nhữngrủi ro không trả được nợ thì sẽ được xuất quỹ bảo hiểm để trả cho khỏan dư nợ
- Bảo hiểm nhân thọ Với loại bảo hiểm này, người tham gia sẽ đóng góp nhữngkhỏan phí nhất định thường kỳ để đến khi họ qua đời thì thân nhân của họ nhậnđược một khỏan hỗ trợ từ quỹ bảo hiểm Thời hạn bảo hiểm đối với loại bảohiểm này kéo dài cho tới khi khách hàng ngừng tham gia chương trình của tổchức Nếu thành viên ngừng tham gia giữa chừng thì việc hòan loại phí bảo hiểmcho khách hàng cũng được diễn ra và có thể coi đó như một khỏan tiết kiệm Lãisuất cho những khỏan tiền này tùy thuộc vào quy định của tổ chức nên có thểthấp hơn hoặc bằng lãi suất huy động tiết kiệm thông thường
- Bảo hiểm hưu trí là loại bảo hiểm mà người tham gia sẽ phải đóng một khỏanphí nhất định thường kỳ cho tới một độ tuổi nhất định, quá tuổi này thì ngườitham gia không phải đóng thêm bất cứ khỏan phí nào mà hàng tháng nhận đượcmột khỏan trợ cấp dưới sạng lương hưu Hiện nay, độ tủôi nhận lương hưu đốivới tác tổ chức không giống nhau nhưng thường thì đối với nữ là 55 tủôi và nam
Trang 17là 60 tuổi Trong trường hợp khách hàng qua đời trước khi tới tuổi nhận trợ cấpthì các tổ chức thường có các chính sách hòan trả lại khỏan phí đã nộp.
- Bảo hiểm nông nghiệp Hầu hết những khách hàng của họat động tài chính vi
mô là những người ở nông thôn và tham gia vào các họat động nông nghiệp ởmức độ khác nhau Hoạt động nông nghiệp là một họat động mang tính rủi rocao và khi những rủi ro xảy ra thường có tác động mạnh tới người nghèo Chínhbởi nguyên nhân này mà hiện nay một số tổ chức tài chính vi mô và tổ chức phichính phỉ đang thí nghiệm triển khai sản phẩm bảo hiểm nông nghiệp tại một sốnơi Với loại bảo hiểm này, người tham gia sẽ được đền bù trong trường hợp cácrủi ro bất thường như dịch bệnh, hạn hán, lũ lụt … ảnh hưởng tiêu cực tới hoạtđộng nông nghiệp của họ Kết quả là làm cho thu nhập dự kiến của họ giảm vượtquá một ngưỡng cho phép Tuy nhiên, đây là một dạng bảo hiểm tương đối phứctạp và với chi phí cao nên hiện tại các chương trình này hiện vẫn ở trong giaiđoạn thử nghiệm và chưa thể triển khai rộng rãi
Các tổ chức cung cấp dịch vụ bảo hiểm thường triển khai dưới dạng bắt buộc,theo kiểu mua một đựơc 2 hay 3 Ví dụ như rất nhiều tổ chức bắt buộc kháchhàng của mình phải tham gia bảo hiểm tiền vay khi tham gia vay vốn, hoặc khitham gia vào tổ chức thì bắt buộc phải tham gia hoạt động bảo hiểm Như vậy,rất nhiều người nghèo hòan tòan không muốn mua bảo hiểm nhưng họ lại bị bắtbuộc phải tham gia hoạt động này để được vay vốn Trên thực tế, bảo hiểm vi
mô mang lại cho người nghèo rất nhiều lợi ích rõ rang và thực sự là biện pháphữu hiện để giảm thiểu các hậu quả do rủi ro bất thường mang lại Để thu hútngười nghèo tham giá, các tổ chức thường thiết kế sản phẩm với một mức phí rất
“cạnh tranh” so với lợi ích mà người nghèo có thể nhận được Và kết quả là, họgặp phải một vấn đề đau đầu khi rất nhiều người tham gia vào họat động tíndụng chỉ vì họ muốn tham gia họat động bảo hiểm
Một chương trình bảo hiểm tự nguyện giải quyết được hai vướng mắc trên nhưng
nó lại gặp phải một vướng mắc lớn hơn là chi phí Để bảo đảm một mức phí bảohiểm thấp để phù hợp với người nghèo và hoạt động bền vững của tổ chức thì tổ
Trang 18chức cung cấp bảo hiểm bắt buộc phải thu hút được một lượng đông đảo kháchhàng Việc này dường như là rất khó khả thi khi mà không có một biện pháp bắtbuộc áp dụng Người nghèo có thể hỏi là “vì sao tôi phải mua bảo hiểm cho việc tôi
bị ốm mà không chắc chắn rằng tôi có bị ốm không”, hoặc “vì sao tôi phải mua bảohiểm nhân mạng vì chắc chắn rằng tôi sẽ chết và gia đình có thể có những khỏan tiếtkiệm…” Một điều rõ rang là, nếu như một người biết rằng chắc chắn người đó sẽ bịbệnh và biết rằng mình chết khi nào thì có lẽ rằng trên đời sẽ không còn bảo hiểm.Nhưng những rủi ro như vậy thường xảy ra quá bất thường và những hộ gia đìnhnghèo lại không kịp có chuẩn bị thích đáng cho những rủi ro đó
Ngoài những sản phẩm trên, một số tổ chức tài chính vi mô hiện đang triển khaithêm các sản phẩm thanh toán Tuy nhiên, mức độ bao phủ của các sản phẩm nàychưa rộng rãi Các tổ chức thực hiện được các sản phẩm này đều là những tổ chức có
tỷ lệ khách hàng tham gia khu vực buôn bán và dịch vụ rất cao Trong khi đó, phầnlớn các khách hàng của các tổ chức tài chính vi mô hiện nay đang làm vịêc trong khuvực nông nghiệp
1.4 Hiệu quả của họat động cung cấp các dịch vụ tài chính
Định nghĩa về tài chính vi mô là cho thấy họat động này hướng tới người nghèo
và nhằm mục đích cải thiện cuộc sống của người nghèo Chính vì thế, tài chính vi
mô là một hoạt động vừa mang ý nghĩa tài chính nhưng cũng bao hàm trong đó ýnghĩa xã hội
Đối với những tổ chức trung gian tài chính thông thường, để đánh giá hiệu quảtrong họat động cung cấp các sản phẩm tài chính thì người ta thường chỉ chú trọngxem xét dưới góc độ tổ chức Hiệu quả của hoạt động cung cấp dịch vụ có thể hiểu
là làm thỏa mãn một cách tốt nhất các nhu cầu của khách hàng trên cơ sở sử dụnghợp lý những nguồn lực của tổ chức và đảm bảo sự ổn định và phát triển của tổchức Nhìn chung, các tổ chức tài chính vi mô khi được đánh giá về hiệu quả tổ chứccũng được xem xét dựa trên quan điểm về hiệu quả này
Do khía cạnh xã hội của họat động tài chính vi mô mà khi đánh giá hiệu quả cungcấp sản phẩm tài chính, các nhà nghiên cứu còn phải chú ý tới tác động của những
Trang 19sản phẩm ấy đối với những khác hàng của tổ chức Tác động này được coi là tácđộng xã hội của việc cung cấp các sản phẩm và dịch vụ Đối với lĩnh vực tài chính vi
mô, nó thể hiện ở thành công trong việc xóa đói giảm nghèo, nâng cao chất lượngcuộc sống và địa vị của khách hàng
- Hiệu quả đánh giá trên giác độ nội bộ tổ chức
Để đánh giá được hiệu quả tổ chức theo giác độ của tổ chức, các nhà nghiên cứucần số liệu từ chính tổ chức được nghiên cứu Những thông tin cần có được cungcấp từ báo cáo họat động thường niên của tổ chức, bảng cân đối kế tóan, báo cáo kếtquả hoạt động kinh doanh Tùy theo mỗi nhóm chỉ tiêu, các nhà nghiên cứu sẽ sửdụng số liệu từ các báo cáo khác nhau
Các tổ chức tài chính vi mô, về mặt bản chất hoạt động thì tương tự như nhữngtrung gian tài chính thông thường đó là thu hút vốn và cho vay lại Nhưng do cácyếu tố về mục tiêu họat động nên kéo theo nó là sự khác biệt lớn về nguồn vốn họatđộng Các trung gian tài chính thông thường thì trong nguồn vốn bao gồm vốn chủ,các khỏan đi vay và các khỏan huy động tiết kiệm Tuy nhiên, các tổ chức tài chính
vi mô thì lại không chỉ gồm những khoản mục trên Trong quá trình hoạt động củamình, các tổ chức này còn nhận được các khỏan hỗ trợ từ những tổ chức và cá nhân.Các khỏan hỗ trợ này ở dứoi nhiều dạng khác nhau, có thể là tiền mặt, có thể lànhững hỗ trợ về kỹ thuật hay văn phòng hoạt động Trong khi đánh giá các chỉ tiêu
về bền vững, để đảm bảo tính chính xác, người ta phải loại bỏ những yếu tố tài trợnày ra khỏi các yếu tố tài chính như lợi nhuận và chi phí Để làm được điều này,phải thực hiện một bước điều chỉnh các báo cáo tài chính của tổ chức (được trìnhbày cụ thể trong phụ lục 2) Các số liệu sau khi được điều chỉnh sẽ đc sử dụng đểtính tóan và đánh giá các chỉ tiêu dưới đây
- Nhóm chỉ tiêu xác định chất lượng họat động cho vay
Hoạt động cung cấp các khỏan vay là hoạt động quan trọng trong một tổ chức tài
chính vi mô Đây là hoạt động tạo ra thu nhập chính nhưng cũng đòi hỏi nhiều chiphí Chất lượng của hoạt động này ảnh hưởng rất lớn tới tính bền vững của một tổchức mà nó còn có sự liên quan tới một lọat các chỉ tiêu tiếp sau về hiệu quả hoạt
Trang 20động của tổ chức Sở dĩ như vậy vì các tổ chức thường sử dụng phương pháp tiếpcận của họat động cho vay làm phương pháp tiếp cận cho tất cả các họat động cònlại của tổ chức Nếu một họat động cho vay có chất lượng thể hiện khả năng giámsát và tổ chức tốt mô hình tiếp cận Và ngược lại, nếu như họat động cho vay khôngmang lại kết quả, người ta phải xem xét lại thiết kế sản phẩm, phương pháp tiếp cậncũng như phương pháp giám sát Chính vì lẽ đó, khi đánh giá trên khía cạnh tổ chức,các nhà phân tích luôn có sự lưu tâm tới chất lượng họat động cho vay.
Để đánh giá chất lượng của họat động này, người ta có thể sử dụng nhiều chỉ tiêunhưng trong đó, chỉ tiêu thường được sử dụng nhiều nhất là tỷ lệ hoàn trả, tỷ lệ nợquá hạn, tỷ lệ mất vốn (thể hiện qua tỷ lệ dự trữ mất vốn) và tỷ lệ mất vốn mất vốn
Tỷ lệ hoàn trả đo lường số tìên vay đã được trả trên số tiền vay còn đang nợ Mặc
dù tỷ lệ hoàn trả là một thước đo quan trọng được các nhà tài trợ và các tổ chức tàichính vi mô sử dụng nhưng thực tế, nó không chỉ ra được chất lượng của khỏan vay
là như thế nào (ở đay là các số tiền người vay thực tế nắm giữ) Mà chỉ tiêu này lạiphản ảnh tỷ lệ nợ đã được hòan trả trong qúa khứ Hay nói cách khác, chỉ tiêu này có
độ trễ nhất định so với tính hình thực tế Tuy nhiên, điều này không có nghiã rằng tỷ
lệ hoàn trả là không có ý nghĩa, nó là một chỉ tiêu quan trọng khi đo lường tỷ lệ hòan trả trong quá khứ Nó cũng hữu ích khi dự đoán nhu cầu tiền trong tương lai, vì nó cho biết bao nhiêu phần trăm tỷ lệ nợ đến hạn sẽ được hòan trả kỳ trước Tỷ lệ hoàn trả sẽ không còn ý nghĩa nếu như tổ chức đang trong giai đoạn phát triển nhanh và nếu kỳ hạn của khỏan vay là khá dài Vì khi đó, tử số rất lớn hay dư nợ vay quá nhỏ Hiện nay có nhiều cách tính toán tỷ lệ hoàn trả Cách thứ nhất:
Tỷ lệ hòan trả =
Số tiền nhận được(bao gồm cả trả trước hạn)
Số nợ đến hạn (không kể nợ quá hạn) Công thức này chỉ ra rằng số tiền nhận được từ việc hòan trả các món vay đến hạn
và các món vay đã quá hạn (vì các món vay quá hạn không được tính trên mẫu số)
Vì thế nên tại sao đôi khi tỷ lệ hoàn trả lại lớn hơn 100% Tỷ lệ này không cung cấpthông tin hữu ích về chất lượng của các khỏan vay trong tương lai và khi đó, nó sẽkhông được sử dụng Thay vào đó, ta sử dụng công thức sau:
Trang 21Tỷ lệ hòan trả =
Số tiền đến hạn nhận được (bao gồm cả trả quá hạn trừ đi trả trước hạn)
Số nợ đến hạn và quá hạn Công thức này loại trừ ảnh hưởng của các khỏan trả trước và cho thấy ảnh hưởngthực tế của các khỏan tiền vay thực tế được trả trên tổng số tiền vay hay tính cả cáckhỏan nợ quá hạn
Tỷ lệ hòan trả nhìn chung chịu tác động mạnh bởi phương pháp cung cấp cáckhỏan vay của tổ chức Thông thường, các tổ chức cung cấp các khoản vay theophương pháp bảo đảm của nhóm thường có tỷ lệ hoàn trả đúng hạn cao hơn so vớinhững tổ chức cho vay cá nhân Bởi vì trong phương pháp bảo đảm nhóm, nếu mộtthành viên không trả được nợ đúng hạn thì các thành viên trong nhóm phải chịutrách nhiệm với khoản nợ này Việc nhận thêm vốn của các thành viên trong nhóm
sẽ gặp khó khăn nếu như có một khỏan vay nào đó của nhóm bị quá hạn
Tỷ lệ nợ quá hạn là tỷ lệ giữa nợ gốc quá hạn (hoặc tính cả tiền lãi quá hạn) trên tổng dư nợ:
Tổng dư nợ Một số tổ chức tài chính vi mô tính toán tỷ lệ nợ quá hạn bằng 1 trừ (-) tỷ lệ hoàntrả Công thức này chỉ đúng khi tỷ lệ hoàn trả được tính trên tổng dư nợ mà ngườivay đang nắm giữ, bao gồm cả nợ quá hạn chứ không phải trong giai đoạn giải ngânkhoản vay
Tỷ lệ nợ quá hạn cho thấy bao nhiêu khỏan vay đến hạn và bao nhiêu khỏan vayvẫn chưa được hòan trả Tỷ lệ nợ quán hạn ngầm chỉ rủi ro đối với khỏan vay vàhậu quả có thể xảy ra của các khỏan nợ quá hạn vì nó xem xét đến việc hoàn trả khi
đã quá hạn chứ không xem xét tổng dư nợ có nguy có quá hạn
Tỷ lệ nợ quá hạn chịu sự tác động lớn của chính sách phân loại nợ của tổ chức.Thông thường, một khỏan vay quá hạn sau một số ngày nhất định mới được xếp vào
nợ quá hạn Tuy nhiên, cũng có không ít tổ chức có chính sách là khỏan vay chỉ cầnqua ngày đến hạn mà không được hoàn trả thì được coi là nợ quá hạn luôn Trênthực tế, việc quá khắt khe trong việc chuyển nợ quá hạn như thế là rất không nên vìkhỏan nợ chậm trả có thể được hòan trả ngay sau đó một số ít ngày Việc điều chỉnh
Trang 22thời gian để một khỏan nợ chậm trả thành nợ quá hạn tác động tới quy mô của tử sốtrong công thức trên Các tổ chức có nguy cơ làm tăng tỷ lệ nợ quá hạn nếu như tổchức thu hẹp khỏan thời gian chờ đợi lại, từ đó làm tăng tỷ lệ nợ quá hạn.
Ta có ví dụ : Một tổ chức có tình hình hòan trả các khỏan nợ như sau Thời điểm xem xét là cuối tuần thứ 5.
Khỏan nợ Trả tuần 1 Trả tuần 2 Trả tuần 3 Trả tuần 4 Trả tuần 5
và D có nợ quá hạn Khỏan nợ gốc quá hạn sẽ được tình lại là : 100+50*3 = 250 đơn
vị tiền tệ
Một yếu tố khác cũng làm thay đổi tỷ lệ nợ quá hạn chính là chính sách xóa nợcủa tổ chức Thông thường, để một báo cáo với số lượng nợ quá hạn nhiều sẽ khiếncho các tổ chức “mất tự tin” về tình hình họat động của mình trước những nhà tàitrợ Một cách đơn giản đối với họ là nhanh chóng xóa bỏ các khỏan nợ này ra khỏibảng cân đối kế toán chỉ bằng một vài bút tóan kế toán Trên thực tế, việc xóa nợkhông ảnh hưởng tới kết quả kinh doanh của tổ chức do quỹ dự phòng rủi ro khitrích lập đã được tính vào chi phí Sau đó, nếu như tổ chức còn có thể truy đòi khỏan
nợ này thì họ sẽ cho khỏan thu được vào mục thu nhập bất thường hoặc thu nhậpkhác
Trang 23chức tài chính vi mô có thể xác định được họ làm thế nào để quản lý nợ quá hạn, làm thế nào
để họ có thể có được một tỷ lệ dự trũ phù hợp.
Tỷ lệ dự trữ mất vốn = Dự trữ mất vốn trong thời kỳ báo
Dự nợ trong thời kỳ báo cáo
Do Dự trữ mất vốn là một số cộng dồn của khỏan mục dự phòng mất vốn và dư
nợ của tổ chức biến đổi mạnh theo thời gian nên để phản ánh chính xác tỷ lệ trên,người ta sử dụng mẫu số là dư nợ trung bình trong kỳ
Tỷ lệ dự trữ mất vốn của tổ chức giảm khi tổ chức tài chính vi mô cải thiện đượcchất lượng tín dụng của mình Thông thường, đối với các tổ chức tài chính vi môthành công tỷ lệ này ít khi vượt qua 5%
Tỷ lệ mất vốn Tỷ lệ mất vốn được tính bằng cách xác định tỷ lệ vốn vay bị mất trong một giai đoạn (thường là 1 năm) Tỷ lệ mất vốn phản ánh số vốn vay được xóa nợ trong một giai đoạn Nó cung cấp một cái nhìn về mối tương quan giữa số vốn cho vay bị mất trong tổng số vốn cho vay ra trung bình.
Tỷ lệ mất vốn = Dự nợ trung bình trong thời kỳ báo cáoMất vốn đã xóa trong thời kỳ báo cáo
Vì các khỏan xóa nợ thường xảy ra với các khỏan nợ cũ, tỷ lệ mất cốn có thểkhông phải là một chỉ tiêu xác định chính xác chất lượng tín dụng như là tỷ lệ dự trữmất vốn Tỷ lệ mất vốn thường thấp hơn tỷ lệ dự trữ mất vốn vì có những khỏan vaythiếp lập dự trữ mất vốn rồi nhưng lại được hòan trả và khi đó, dự trữ mất vốn caohơn số vốn thực tế được xóa nợ
Do tử số là số vốn được xóa nợ trong kỳ nên tỷ lệ mất vốn cũng chịu ảnh hưởnglớn của chính sách xóa nợ của tổ chức Nếu tổ chức quy đinh càng thông thoángtrong việc xóa nợ thì tỷ lệ này sẽ cao hơn
1.4.1.2 Nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu suất và hiệu quả
Hiệu suất
Hiện nay, các tổ chức thường sử dụng các chỉ tiêu sau để phản ảnh hiệu suất củahoạt động
- Số lượng khách hàng trên một cán bộ tín dụng (hay, số khách hàng gửi tiết
kiệm trên một cán bộ huy động tiết kiệm) Chỉ tiêu này này phụ thuộc vào
Trang 24phương pháp cung cấp các sản phẩm dịch vụ của tổ chức tới khách hàng theonhóm hay cá nhân Các tổ chức tài chính vi mô thực hiện cung cấp dịch vụ theonhóm thường có tỷ lệ này cao hơn so với các tổ chức cung cấp dịch vụ cá nhân.Điều này thể hiện sự khác biệt rõ rang khi so sánh số khác hàng vay vốn/một cán
bộ tín dụng giữa các tổ chức sử dụng phương pháp tiếp cận khác nhau
- Dư nợ cho vay (hay số dư tiết kiệm tự nguyện) trên một cán bộ kỹ thuật,
thay đổi phụ thuộc vào quy mô của khỏan tín dụng, thời hạn cho vay và số lượngcác khỏan vay tối ưu Tỷ lệ này sẽ có ích cho việc phân tích hiệu suất trong quản
lý của tổ chức tài chính vi mô Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu khuyên rằng phảithận trọng khi sử dụng để so sánh giữa các tổ chức tài chính vi mô khác nhau.Nếu một cán bộ kỹ thuật có thời gian hoạt động lâu thì số lượng khách hàng mà
họ có thể quản lý sẽ tăng thêm Nhưng không nên đánh đồng rằng con số này sẽtăng lên mãi mà sẽ phải dừng ở một tỷ lệ tối ưu nào đó tùy thuộc vào mô hìnhcung cấp dịch vụ của tổ chức
Hiệu quả
Các chỉ tiêu hiệu quả đo lường chi phí các dịch vụ (hay sản phẩm) tạo ra lợinhuận Các chỉ tiêu này nói lên chi phí họat động và không bao gồm chi phí tàichính cũng như dự trữ mất vốn Người ta có thể mang chi phí họat động là tử số
và sử dụng nhiều mẫu số khác nhau như dư nợ bình quân, tổng tài sản, tổngdoanh số cho vay trong kỳ hoặc tổng số thành viên
Tỷ lệ chi phí họat động trên dư nọ bình quân Tỷ lệ chi phí họat động cung cấp
một cái nhìn về tính hiệu quả của hoạt động tín dụng Chỉ tiêu này bị ảnh hưởng bởi
sự tăng hay giảm tương đối của chi phí hoạt động so với dư nợ bình quân
Tỷ lệ chi phí họat động trên dư nợ = Chi phí hoạt động
Dự nợ bình quân Nếu như tổ chức tài chính vi mô còn huy động thêm tiết kiệm thì nên tính thêm tỷ
lệ chi phí họat động trên tổng tài sản Với tỷ lệ này, cho thấy có bao nhiêu % trongtổng tài sản là những chi phí trực tiếp tạo ra lợi nhuận
Tỷ lệ chi phí họat động trong tổng tài sản= Chi phí hoạt động
Tổng tài sản
Trang 25Một tổ chức tài chính vi mô thành công thường có xu hướng tỷ lệ chi phí họat độn
từ 13 đến 21% trong tổng dư nợ cho vay và khoảng 4 đến 16% tổng tài sản
Chi phí trên một đồng vốn cho vay Chi phí trên một đồng vốn cho vay là một
tỷ lệ cung cấp cho ta thấy được chi phí cho một đồng vốn cho vay ra là bao nhiêu
Cả tỷ lệ này và tỷ lệ chi phí trên một đơn vị tiền tệ cho vay ra tăng hay giảm đềuđược xem xét trong cả một giai đoạn thời gian thì mới xác định được là nó tăng haygiảm một cách tương ứng với doanh số cho vay hay không, từ đó sẽ xác định đượchiệu quả họat động của tổ chức tài chính vi mô Tỷ lệ này được tính như sau:
Chi phí trên một đồng vốn cho vay = Chi phí hoạt động trong kỳ
Tổng doanh số cho vay trong kỳ
Chi phí trên một món vay Chi phí trên một món vay cho thấy chi phí cho một
món vay căn cứ trên số món vay ra Cả chỉ tiêu này và chỉ tiêu chi phí trên một đồngvốn vay cần có thể được xem xét trong cả một gian đoạn để xác định xem chi phíhoạt đọng là tăng hay giảm tương ứng so với số món vay ra, phản ánh tính hiệu quảcủa tổ chức tài chính vi mô Khi tổ chức tài chính vi mô phát triển thì tỷ lệ này giảm
Chi phí trên một món vay = Chi phí hoạt động trong kỳ
Tổng số món vay trong kỳ báo cáo Khó có thể so sánh các chỉ tiêu hiệu quả giữa các tổ chức tài chính vi mô khácnhau vì một số lý do như: quy mô món vay trung bình và kỳ hạn cho vay khác nhau;điều kiện kinh tế ở nhiều nơi khác nhau nên các yếu tố chi phí khác nhau; cách thứccác tổ chức cung cấp các dịch vụ của mình khác nhau
Các tỷ lệ trên chịu tác động lớn của các yếu tố trong chi phí họat động Chi phíhọat động của một tổ chức tài chính vi mô thông thường bao gồm: (i) chi lương nhânviên; (ii) chi phí đi lại; (iii) Chi phí giáo dục và đào tạo cho nhân viên; (iv) chi khấuhao; (v) chi cho thuê mặt bằng, văn phòng; (vi) và một số chi phí khác Do đặc tínhcủa họat động tài chính vi mô nên trong chi phí họat động thì chi cho lương nhânviên và chi về đi lại cho nhân viên chiếm tỷ trọng lớn Hai loại chi phí này chịu ảnhhưởng rất lớn của điều kiện kinh tế xã hội tại khu vực mà tổ chức cung cấp các dịch
vụ Do đời sống nâng cao nên khỏan mục lương cho nhân viên ngày càng cao Bêncạnh đó, mặc dù đường xá đi lại ngày càng được cải thiện nhưng chi phí đi lại của
Trang 26cán bộ kỹ thuật của các tổ chức không giảm mà vẫn tăng do yếu tố tăng giá xăngdầu.
Trong khi phân tích các chỉ tiêu liên quan tới tiền, người ta thường gặp phảivướng mắc với lạm phát Do tiền chịu sự tác động của lạm phát và các chi phí họatđộng lại được tính bằng tiền nên việc điều chỉnh lại chi phí hoạt động theo lạm phát
có thể được áp dụng khi một số tổ chức đánh giá lại hoạt động của mình
1.4.1.3 Nhóm chỉ tiêu phản ảnh lơi nhuận
Lợi nhuận là một mục tiêu mà các tổ chức đều hướng tới nhằm đạt được cái đíchcuối cùng là tối đa hóa giá trị của chủ sở hữu Đối với các tổ chức tài chính vi mô,lọi nhuận không phải là mục tiêu quan trọng nhưng lợi nhuận vẫn có ý nghĩa lớn đốivới các tổ chức này
- Đảm bảo cho tổ chức có thể tự duy trì và mở rộng họat động của mình
- Củng cố thêm cho nguồn vốn chủ sở hữu Các tổ chức tài chính vi mô họat động
về lâu về dài sẽ không thể phụ thuộc mãi vào vốn trợ cấp từ các nhà tài trợ Các
tổ chức sẽ phải sử dụng chủ yếu là nguồn vốn thương mại (từ huy động tiếtkiêmh và đi vay) và vốn góp Để mở rộng được tổng nguồn vốn thì vốn góp củachủ sở hữu cũng phải tăng lên tương ứng, mà một phần quan trọng của phầntăng lên này là do lợi nhuận giữ lại
Khi xem xét hiệu quả cung cấp dịch vụ của tổ chức trên phương diện tạo ra lợinhuân, người ta thường xem xét hai chỉ tiêu ROA và ROE:
ROA là chỉ tiêu đo lường thu nhập ròng trên tổng tài sản của một tổ chức tài chính
vi mô, hay nói cách khác là nó tính khả năng sinh lời trên tổng tài sản Để tính tóanchỉ tiêu này, tài sản trung bình được sử dụng chứ không phải tổng tài sản, vì tổ chức
sẽ được đo lường trên tổng hoạt động bao gồm các hoạt đồng đầu tư, tài chính
Lợi nhuận trên tài sản (ROA) = Thu nhập điều chỉnh trong kỳ
Tổng tài sản bình quân
Tỷ lệ lợi nhuận trên tổng tái sản cho thấy hiệu quả họat động từ tất cả tài sản củamột tổ chức tài chính vi mô như thế nào bao gồm cả tài sản không tham gia trực tiếpvào sản xuất như tài sản cố định hay đất đai và bất động sản
Trang 27ROE là chỉ tiêu cung cấp cho nhà quản lý và các nhà đầu tư, tỷ lệ thu nhập có thể kiếm được trên vốn tự có Nó khác với tỷ lệ thu nhập trên tài sản ở chỗ nó phản ánh tỷ lệ thu nhập có được trên vốn thuộc quyền sở hữu của tổ chức tài chính vi mô (chứ không phải l tổng tài sản được cấu thành với nguồn vốn gồm cả nợ và vốn tự có).
Thu nhập trên vốn tự có (ROE) = Thu nhập điều chỉnh trong kỳ
Vốn tự có trung bình Nếu ROE nhỏ hơn tỷ lệ lạm phát thì vốn tự có của tổ chức tài chính vi mô giảmmỗi năm bằng sự trênh lệch giữa lạm phát và ROE ROE cũng cho phép các nhà tàitrợ và nhà đầu tư so sánh giữa khỏan đầu tư của họ vào một tổ chức tài chính vi môvới khả năng đầu tư vào một tổ chức tài chính vi mô khác
ROE thay đổi lớn phụ thuộc vào cơ cấu tài sản của tổ chức tài chính vi mô Nếunhư tổ chức tài chính vi mô sử dụng nhiều nợ hơn thì thường có xu hướng của ROEcao hơn những tổ chức tài chính vi mô sử dụng nhiều vốn tự có
- Khả năng tự vững về của tổ chức
Tính bền vững phản ánh khả năng một tổ chức tài chính vi mô có thể trang trảiđược các chi phí của nó mà vẫn có lợi nhuận Để có thể bền vững về tài chính thìmột tổ chức tài chính vi mô không thể dựa vào các nguồn tài trợ hay bao cấp về hoạtđộng của nó
Doanh thu thu được khi tổ chức tài chính vi mô đầu tư vào tài sản hay đưa vào sản
xuất Chi phí sẽ xuất hiện để tạo thành doanh thu Để xác định được tính bền vữngthì phải so sánh giữa doanh thu và chi phí Nếu doanh thu lớn hơn chi phí thì tổ chứctài chính vi mô đó đã bền vững về mặt tài chính Cần chú ý rằng chỉ có doanh thu từhoạt động tín dụng, đầu tư hay tiết kiệm mới được dùng để xác định tính bền vữngcủa tổ chức tài chính vi mô
Chi phí của một tổ chức tài chính vi mô được chia thành 4 nhóm chính: (i) chi phí
tài chính (chi phí trả lãi cho các khỏan vay nợ và huy động tiết kiệm); (ii) chi phí dựtrữ mất vốn; (iii) chi phí họat động và (iv) chi phí vốn Ba nhóm đầu tiên là chi phíthực sự của tổ chức, còn chi phí cuối cùng là chi phí điều chỉnh mà các tổ chức tàichính vi mô phải xem xét
Trang 28Các nhà nghiên cứu về tài chính vi mô thường chia việc bền vững của tổ chức rathành bốn cấp dựa trên khả năng bao phủ các chi phí của doanh thu từ cung cấp dịch
vụ mà tổ chức tạo ra và khả năng tự chủ trong việc hoạch định và điều hành cácchính sách họat động của tổ chức Các cấp bền vững là: (i) bền vững về chênh lệchlãi suất; (ii) bền vững về họat động; (iii) bền vững về tài chính và (iv) bền vững về tổchức
Mức bền vững chênh lệch lãi suất Chênh lệch lãi suất được coi như là bước đầu
tiên để tính tóan tính bền vững của tổ chức tài chính vi mô Chênh lệnh lãi suất chothấy sự khác biệt giữa lãi suất huy động và lãi suất cho vay của tổ chức Từ đó, tathấy được liệu chi phí tài chính có thể được bao phủ bởi doanh thu từ họat động haykhông
Chênh lệch lãi suất = Doanh thu từ họat động – chi phí vốn vayTổng tài sản sinh lời bình quân Nếu tỷ lệ này âm thì chứng tỏ doanh thu từ họat động không thể đủ để bù đắp chiphí tài chính Một số người cho rằng đây là cấp đầu tiên của bền vững tổ chức, tức làdoanh thu đủ bù đắp các chi phí tài chính
Mức độ bền vững về hoạt động Mức độ bền vững này thường được định nghĩa là khi mức thu nhập tao ra đủ để trang trủa chi phí hoạt động, chi phí tài chính và chi phí dự phòng mất vốn.
Bền vững =
về hoạt động
Thu nhập từ họat độngChi phí họat động+chi phí vốn+ phân
bổ thất thoát vốn Tuy nhiên, cần lưu ý với một số tổ chức tài chính vi mô không sử dụng bất cứkhỏan vay hay khỏan huy động tiết kiệm nào thì chi phí tài chính không có Các tổchức này thường sử dụng hoàn toàn vốn chủ hoặc nguồn vốn tài trợ để thực hiệnhoạt động cho vay Do mọi tổ chức đều phải có chi phí họat động và dự phòng mấtvốn nên có thể sử dụng công thức trên nhưng chi phí tài chính có thể coi bằngkhông
Nếu tổ chức tài chính vi mô không đạt đến mức độ bền vững về hoạt động thì cácvốn tự có của nó sẽ giảm đi để bù vào số thua lỗ Điều đó có nghĩa là sẽ có ít vốnhơn cho người nghèo được vay Về lâu về dài, sẽ dẫn tới sự đóng cửa của tổ chức tài
Trang 29chính vi mô Để có thể tăng được mức độ tự chủ về tài chính thì tổ chức tài chính vi
mô sẽ phải tăng lợi nhuận hay giảm chi phí
Bền vững về tài chính Khả năng về bền vững tài chính cho thấy hiện thu nhập có
đủ để trang trải các chi phí trực tiếp và các chi phí gián tiếp (bao gồm cả chi phí vốnđiều chỉnh) không
Chi phí vốn điều chỉnh được coi như chi phí để duy trì giá trị của vốn tự có do ảnhhưởng của lạm phát (hay lãi suất thị trường của vốn tự có) và chi phí để tiếp cận tớinguồn vốn thương mại chứ không phải là các khỏan vay ưu đãi Công thức tính chiphí vốn điều chỉnh:
Chi phí vốn = [tỷ lệ lạm phát*(vốn tự có trung bình-tài sản cố định trung bình)] +(nợtrung bình*lãi suất thương mại) + Chi phí tài chính thực tế
Bộ phận đầu của công thức cho thấy ảnh hưởng của lạm phát đến vốn tự có.Thông thường, ta có thể sử dụng tỷ lệ lạm phát hay lãi suất thị trường đều đượcnhưng một số nhà phân tích và tổ chức tài chính vi mô muốn sử dụng lãi suất thươngmại hơn tỷ lệ lạm phát Sở dĩ như vậy vì họ mong muốn thu được tỷ lệ lợi nhuận caohơn tỷ lệ lạm phát Các Tài sản cố định được loại trừ ra khỏi công thức trên bởi giảđịnh rằng các tài sản này không bị giảm giá trị tương ứng với lạm phát, hơn nữachúng đều được trích khấu hao và chi phí này đã được tính vào chi phí họat động
Bộ phận thứ 2 của công thức cho thấy chi phí của tổ chức tài chính vi mô sẽ phải trảnếu như họ tiếp cận tới nguồn vốn thương mại chứ không phải là vốn bao cấp Cácchỉ tiêu được tính trung bình vì các tổ chức tài chính vi mô có thể thay đổi các chỉtiêu trong thời kỳ nghiên cứu
Khi mà chi phí vốn điều chỉnh đã được tính thì tỷ lệ bền vững về tài chính có thể được tính:
Bền vững về =
tài chính
Thu nhập hoạt độngChi phí họat động+chi phí tài chính+dự phòng mất vốn+chi phí vốn
Tỷ lệ này phản ánh số liệu của báo cáo kết quả kinh doanh đã được điều chỉnh đốivới các khỏan cho vay bao cấp hay biếu tặng và lạm phát Trừ khi đạt được độ bềnvững về tài chính 100%, nếu không hoạt động tài chính trong dài hạn vẫn tiếp tụccần đến các nguồn tài trợ và bao cấp
Trang 30Một cách lý thuyết thì các tổ chức tài chính vi mô sẽ dần dần vươn tới mức độ bềnvững về tài chính Thông thường, khi một tổ chức tài chính vi mô họat động nó sẽtrải qua việc xuất hiện những chi phí tài chính khi mà nó tiếp cận với các nguồn vốnvới lãi suất thương mại, nó sẽ giảm dần dự phòng mất vốn khi chất lượng các khỏanvay được nâng cao và sẽ giảm được chi phí họat động do hiệu quả quản lý cao hơn.Theo thời gian, tổ chức họat động đã bù đắp được các chi phí trực tiếp này Sau đó
nó sử dụng ít những khỏan hỗ trợ hơn Khi tạo ra đủ doanh thu sao cho không có cáckhỏan hỗ trợ này thì nó cũng bì đắp hết các chi phí thì khi đó được coi là bền vữngtài chính
Bền vững về mặt tổ chức, dây là cấp bền vững cao nhất của các tổ chức tài chính
vi mô Trên thực tế họat động, rất hiếm có tổ chức đạt được cấp độ bền vững này.Những tổ chức có thể đạt tới cấp bền vững này thì vốn tài trợ không còn có ý nghĩaquan trọng đối với tổ chức nữa Nguồn vốn của tổ chức chủ yếu là vốn chủ sở hữu
và vốn thương mại Về khía cạnh điều hành, các tổ chức đạt được cấp độ bền vữngnày có khả năng tự đièu hành, giám sát và lập các kế hoạch họat động của mình.Việc sử dụng chuyên gia tư vấn vẫn diễn ra những được tổ chức tự trang trải chi phítheo giá thị trường Hiện nay, các tổ chức đạt được cấp độ bền vững này thường chỉ
là những ngân hàng thương mại họat động chuyên biệt trong lĩnh vực tài chính vimô
- Hiệu quả đánh giá trên phương diện cải thiện cuộc sống của khách hàng (hiệu quả xã hội)
Họat động tài chính vi mô với mục tiêu hàng đầu của nó là mang tới cho ngườinghèo cơ hôi để tiếp cận một cách ổn định và lâu dài với các dịch vụ tài chính nhằmcung cấp cho họ không chỉ vốn để mở rộng sản xuất mà còn cả những phương tiệntài chính để chống lại những rủi ro bất thường xảy ra Nhìn chung, xuất phát điểmcủa hoạt động tài chính vi mô chính là mục tiêu về mặt xã hội chính vì vậy mà xemxét những tác động về khía cạnh xã hội đối với các tổ chức tài chính vi mô là mộtviệc nên làm
Trang 31Các nhà nghiên cứu và phân tích về hoạt động tài chính vi mô thường khuyến cáovới các tổ chức tài chính vi mô rằng họ nên thực hiện các điều tra và báo cáo tácđộng một cách thường xuyên bởi các nguyên nhân sau:
- Xem xét xem liệu các sản phẩm và dịch vụ họ đang cung cấp liệu có phù hợpvới các khách hàng của họ không và các sản phẩm đó thực sự có giúp tổ chứcđạt được các mục tiêu kinh tế và xã hội như mong muốn
- Thu thập các thông tin về khách hàng qua đó hiểu biết thêm những thay đổi củakhách hàng để có những biện pháp điều chỉnh sản phẩm cũng như cách thứcphân phối sản phẩm một cách phù hợp
Không chỉ các nhà phân tích hiểu tầm quan trong của các báo cáo tác động xã hội,
tổ chức tài chính vi mô nào cũng nhận thấy rằng mình phải thường xuyên có nhữngbáo cáo tác động như vậy, nhưng trên thực tế, hầu như không có một tổ chức tàichính vi mô nào thực hiện đánh giá các tác động bên ngoài một cách thường xuyên.Nguyên nhân quan trọng nhất mà các tổ chức này đưa ra là những hạn chế về nguồnlực như tiền bạc, thời gian và nhân sự Chính bởi lẽ đó, các báo cáo tác động thườngchỉ được lập khi có một tổ chức tài trợ nào đó tài trợ và trỉên khai giúp cho họ Tuynhiên, không hẳn là khi nào cũng có thể tìm được các tổ chức tài trợ để điều tra toàn
bộ và sâu mà thông thường thì chỉ có thể điều tra một cách ngẫu nhiên ở một số nhỏcác khách hàng của tổ chức hoặc là điều tra chỉ về tác động của một loại sản phẩmnào đó
Số liệu của các báo cáo tác động là từ các cuộc điều tra xã hội học Phương phápchủ yếu được sử dụng hiện nay là phát các bảng hỏi cho các khách hàng trả lời Tuynhiên, người ta cũng phải nhận thấy khi sử dụng phương pháp này thì có một sốvướng mắc sau:
- Những sai lầm trong thiết kế bảng hỏi Các câu hỏi ở dạng quá phức tạp khiến
cho người được hỏi khó hiểu nên khó mà trả lời chính xác được Để khắc phụcvướng mắc này, thông thường trước mỗi cuộc điều tra quy mô lớn thì người tathường triển khai một cuộc điều tra thử nghiệm ở quy mô nhỏ để đánh giá chất
Trang 32lượng bảng hỏi Nhưng trên thực tế, do hạn chế về nguồn lực nên rất nhiều cuộcđiều tra tác động đã không thể thực hiện được những cuộc tiền điều tra như thế.
- Rủi ro từ phía những người được hỏi, khi họ không muốn tra lời đúng sự thật.
Mặc dù một nguyên tắc bất thành văn trong các cuộc điều tra là không nên hỏinhững câu hỏi mà người điều tra biết rằng xác suất người được hỏi trả lời sai làrất lớn nhưng vẫn không thể tránh được rủi ro này Người được hỏi có thể cónhiều nguyên nhân để không trả lời đúng những sự thật của họ, đó sự lung túng,không muốn người khác biết về tình trạng của mình, muốn gây ấn tượng vớingười hỏi, trả lời theo tâm lý bầy đàn…
- Rủi ro từ chính phía những tổ chức được điều tra Khi được các nhà tài trợ thực
hiện giúp những cuộc điều tra tác động như thế này, những tổ chức tài chính vi mô
có thể mong muốn bóp méo các con số nhằm gây ấn tượng tốt đẹp trong con mắtcủa các nhà tài trợ Họ có thể bằng nhiều cách làm sai lệch đi những câu trả lời củacác khách hàng của họ sao 32ien32h được một kết quả điều tra như mong muốn Khi điều tra tác động xã hội, các tổ chức có thể quan tâm tới nhiều các khía cạnh
xã hội và kinh tế khác nhau của các khách hàng của họ Thông thường các cuộc điềutra thường tập trung vào tìm hiểu các nhóm tác động sau:
- Nhóm chỉ tiêu về thu nhập
- Nhóm chỉ tiêu về chất lượng cuộc sống
- Nhóm chỉ tiêu về cải thiện địa vị của khách hàng trong gia đình và xã hội
1.4.2.1 Nhóm tiêu thức về thu nhập:
Thu nhập trung bình
Tạo thêm thu nhập chính là một yếu tố tiền đề để các khách hàng của các tổchức tài chính vi mô thóat nghèo Các tổ chức tài chính vi mô cũng thường lấy chỉ tiêu thu nhập làm yếu tố xác định các nhóm khách hàng mục tiêu cho mình Do đó, việc xem xét thu nhập bình quân của khách hàng là một chỉ tiêu đầu tiên để người ta xem xét xem liệu có biến đổi đáng kể nào trong đời sống của khách hàng không.
Thu nhập bình quân = Tổng thu nhập của cả gia đình
Số thành viên trong gia đình
Trang 33(*Thông thường, người được hỏi rất dễ nhầm lẫn với việc tính toán thu nhập bình
quân của mỗi người trong gia đình hay thu nhập bình quân của bản thân họ, hoặc sai lầm trong cách tính tóan thu nhập bình quân Thậm chí, do trình độ học vấn không cao của các khách hàng, kéo theo là nếu để họ tự tính thì sẽ tính sai nên người ta không đặt câu hỏi trực tiếp về thu nhập bình quân mà thay vào đó hỏi hai câu hỏi mang tính gián tiếp về thu nhập của toàn bộ gia đình và số thành viên trong gia đình.*)
Thu nhập bình quân của mỗi thành viên phụ thuộc rất lớn vào thời gian họ tham
gia vào các chương trình tài chính vi mô Nếu như chỉ tính thu nhập bình quân chotòan bộ các thành viên tham gia vào chương trình thì sẽ bị ảnh hưởng bởi thu nhậpcủa những người mới tham gia vào chương trình và có thể kéo con số bình quân nàyxuống Qua thời gian, con số này có thể không có thay đổi nhiều và như vậy, ta cóthể đưa ra những đánh giá sai lạc Thu nhập bình quân nên tính cho riêng từngnhóm khách hàng phân chia theo thời gian mà họ tham gia vào chương trình Khilàm điều này, ta không chỉ có thêm số liệu đánh giá sâu sắc hơn mà còn có thể cóthêm những ước tính cho tương lai
Các nguồn tạo thu nhập chính.
Các nguồn tạo thu nhập không chỉ là nguồn thu để duy trì họat động sinh hoạt vàsản xuất của các gia đình mà đồng thời cũng là những nguồn tạo ra tiền để trảcác khỏan vay và đóng tiết kiệm Việc xem xét xem liệu các thu nhập của cácgia đình được tạo ra từ đâu còn có thể giúp ta đưa ra một cái nhìn về việc liệucác khỏan đầu tư của gia đình có thật sự hiệu quả không
Các gia đình ở nông thôn thường có rất nhiều hoạt động sản xuất và lao động khácnhau Họ có thể vừa buôn bán, trồng trọt, chăn nuôi và đi làm thuê Rất khó khănnếu yêu cầu các khách hàng khai một cách cụ thể xem là họ kiếm được bao nhiêu từtừng hoạt động trên Thông thường người ta sẽ hỏi các gia đình hiện đang tham giavào các hoạt động tạo thu nhập nào Với việc dựa vào câu trả lời này và đối chiếuvới các hoạt động mà khách hàng đầu tư, người ta có thể đưa ra nhận xét sau:
- Nếu một tỷ lệ lớn các khách hàng hiện đang trực tiếp làm chủ các họat động tạothu nhập và một tỷ lệ nhỏ trong số họ không phải làm thuê thì ta có thể tạm đưa
Trang 34ra đánh giá rằng việc hầu hết đầu tư vào sản xuất có hiệu quả và các hộ gia đình
có thể trông cậy hóan toàn vào công việc sản xuất và kinh doanh của chính họ.Việc mở rộng thêm các khỏan cho vay là hòan tòan cần thiết
- Nếu một tỷ lệ lớn khách hàng vẫn phải đi làm thêm Có hai nguyên nhân, họ đilàm thêm là do các hoạt động sản xuất tạo không đủ thu nhập và họ phải tạothêm thu nhập để trả các khỏan vay đầu tư vào họat động phi sản xuất Dù ởtrường hợp nào thì tổ chức cũng nên xem xét lại chính sách cho vay và chínhsách xác định các dòng tiền của khách hàng Ta không nên chỉ nhìn vào nhữngcon số trên sổ sách ấn tượng về tỷ lệ hoàn trả mà ta nên quan tâm tới sự bềnvững của những con số ấy
1.4.2.2 Nhóm chỉ tiêu về chất lượng cuộc sống
Với việc tăng thêm của thu nhập, các khách hàng thường sử dụng vào hai việc: (i)
tiếp tục đầu tư mở rộng hơn nữa sản xuất và (ii) đầu tư cải thiện chính cuộc sống của
họ Thông thường, với phụ nữ thì họ có xu hướng đầu tư nhiều hơn cho gia đình họ.Chính vì thế các hệ số về cải thiện chất lượng cuộc sống tại các chương trình chovay với phụ nữ thường thay đổi nhanh hơn trong các chương trình cho vay nhiều vớinăm giới Nhưng lại có một sự đánh đổi lại là, những chương trình cho vay với namgiới thì lại có tác động giảm nghèo mạnh hơn về lâu về dài khi mà những người đànông có xu hướng ngày càng mở rộng hơn nữa sản xuất thậm vượt ra khỏi ranh giới
hộ gia đình và thuê người làm
Để đánh giá chất lượng cuộc sống của các khách hàng, thông thường các tổ chứcthường xem xét tới các yếu tố sau:
Sức khỏe của thành viên và gia đình:
Sức khỏe là một vấn đề lưu tâm hàng đầu đối với tất cả mọi người Vấn đề sứckhỏe của các thành viên cần được lưu tâm tới bởi các tổ chức, đặc biệt là các tổ chức
có cung cấp thêm những dạng bảo hiểm vi mô Nhưng thực sự đánh giá xem tínhtrạng sức khỏe của các khách hàng như thế nào thì không phải là chuyên môn của tổchức tài chính vi mô Hơn nữa, việc đi kiểm tra sức khỏe định kỳ với người nghèothực sự là một việc xa xỉ
Trang 35Tình trạng sức khỏe của các thành viên phụ thuộc vào nhiều yếu tố Tuổi tác cótác động rất lớn Khi người ta càng già đi thì khả năng mắc các căn bệnh nặng caolên và khả năng làm việc kém đi, hay nỏi cách khách là người ta sẽ yếu hơn khi vềgià Bên cạnh đó, mối quan tâm và khả năng của khách hàng trong việc tiếp cận tớicác dịch vụ chăm sóc sức khỏe cũng ảnh hưởng lớn Nếu khách hàng có thể tham giakhám sức khỏe thường xuyên thì họ dễ dàng phát hiện sớm bệnh và điều trị kịp thời.Nhưng hầu hết người nghèo thì không có những cơ hội như vậy Tự chăm sóc lấysức khỏe tại nhà là điều duy nhất mà phần lớn người nghèo có thể làm Chế độ dinhdưỡng hàng ngày cũng quyết định tới sức khỏe của khách hàng Nếu họ ăn đủ no và
đủ chất thì mới có thể duy trì được khả năng lao động và làm việc
Khi đặt ra những câu hỏi về sức khỏe của khách hàng, ta không nên đưa ra dạngcâu hỏi như :”Anh/chị thấy sức khỏe của mình so hiện nay so với thời gian trước thìthế nào”; hay “anh chị có thấy mình khỏe hơn khi tham gia vào chương tình không”.Những câu hỏi mang tính vô thưởng vô phạt như thế thật sự không chỉ khó chongười trả lời mà còn cả những người xử lý các số liệu sau này Thông thường, người
ta thường đạt câu hỏi xem liệu khách hàng có mắc các chứng bệnh mãn tính nàokhông Dựa trên các số liệu về tuổi tác của thành viên, người ta có thể đưa ra cácnhận xét về biến đổi sức khỏe nói chung trong các thành viên
Đối với các tổ chức tài chính vi mô chỉ cho vay với phụ nữ thì một cách tốt nhất
để đánh giá sức khỏe của họ và khả năng tiếp cận của họ tới các dịch vụ y tế là xemxét quá trình mang thai của họ Sức khỏe người mẹ có tốt thì mới đảm bảo một quátrình mang thai tốt và sinh ra những đứa con khỏe mạnh Bên cạnh đó, cũng nên xemxét tới ý thức của các bà mẹ trong vấn đề kế hoạch hóa gia đình để đảm bảo một quy
mô gia đình phù hợp với điều kiện kinh tế
Điều kiện học hành cho con cái:
Một khỏan đầu tư lớn trong các gia đình hiện nay là cho con cái Khi một gia đìnhkhấm khá hơn thì vịêc lo cho các con của họ đi học là việc đơn giản hơn Tất nhiên
là việc học hành của con cái không chỉ phụ thuộc vào thu nhập của các bậc phụhuynh nhưng điều kiện kinh tế tốt hơn là tiền đề để trẻ em có cơ hội học tập tốt hơn
Trang 36Về lâu về dài, việc học hành của những đứa trẻ manh lại cho cộng đồng những lợiích rất lớn.
- Có thêm nguồn nhân lực chất lựơng cao hơn Nguồn nhân lực là yếu tố quantrọng trong phát triển kinh tế Chất lượng lao động cao sẽ thu hút nhiều đâu tưhơn tới địa phương trong điều kiện các yếu tố khác không đổi
- Người ta nhận thấy rằng, những người có học vấn càng cao thì xác suất để họphải lâm vào cảnh nghèo túng càng giảm Học vấn, tất nhiên, không phải khiếntất cả mọi người trở nên giàu có nhưng nó giúp con người ta tiếp thu đượcnhững cái mới và áp dụng nó để làm cuộc sống tốt hơn
Điều kiện nhà ở
Điều kiện nhà ở là một trong những chỉ tiêu xác định chất lượng cuộc sống của
khách hàng Các tổ chức tài chính vi mô ngày nay đã nhận thấy nhu cầu rất lớn trongkhách hàng trong vấn để cải thiện nhà ở Hầu hết các tổ chức tài chính vi mô hiệnnay đang cung cấp những khỏan vay nhằm mục đích cải thiện nhà cửa Trên thực tế,
dù không nhận được khỏan vốn cho mục đích này thì các hộ gia đình luôn có ý thứccải tạo ngôi nhà của mình khi có điều kiện
Ngôi nhà có tươm tất hay không phụ thuộc rất lớn vào thu nhập hay điều kiệnkinh tế của chủ nhân Nếu chủ nhân có điều kiện càng tốt thì họ không ngại ngần gìkhi xây cho mình một ngôi nhà gạch chắc chắc Ngôi nhà trong tâm lý của nhữngngười ở nông thôn có một ý nghĩa quan trọng với tòan gia đình nên thường họ sẽlàm hết khả năng khi xây dựng ngôi nhà Do đó, nhìn vào điều kiện nhà ở ta cũng cóthể nhận thấy khả năng về kinh tế của chủ nhân
Thông thường, khi xem xét tình trạng nhà ở, người ta thường để ý tới các chất liệutao nên ngôi nhà Chật liệu càng chắc chắn thì giá tiền càng cao và giá trị của ngôinhà vì thế mà cũng cao theo Ngoài ra, một số yếu tố như giếng nước, công trình phụcũng nên được xem xét Những khu vực này nếu khang trang và giữ vệ sinh tốt thìkhông chỉ là điều kiện ở của khách hàng tốt hơn mà sức khỏe của họ cũng có thểđược bảo vệ tốt hơn
Các tiêu dùng trong gia đình
Trang 37Khi xem xét tới việc tiêu dùng của gia đình, ta nên quan tâm tới việc các thànhviên tiêu tiền cuả mình như thế nào vào ba nhóm (i) thức ăn hàng ngay; (ii) mua sắmcác thiết bị điện tử gia đình; (iii) mua sắm các phương tiện đi lại.
Khi thu nhập tăng thì người ta sẽ có nhiều điều kiện hơn để cải thiện bữa cơm giađình Việc xem xét các gia đình chi tiêu bao nhiêu cho thức ăn và với mức chi tiêunhư vậy, liệu các gia đình có đủ ăn và ăn đủ chất không là một yếu tố đánh gia chấtlượng thực sự đằng sau những con số tăng lên của thu nhập bình quân Bên cạnh đó,bữa ăn cũng là một yếu tố ảnh hưởng tới sức khỏe của khách hàng
Mua sắm các thiết bị gia đình như Tivi hay Radio không chỉ là phương tiện mangtính giải trí mà còn là phương tiện kết nối các khách hàng với thế giới rộng lớn bênngoài Thông qua những phương tiện truyền thông như vậy, người nghèo có thể tiếpcận tới những hoạt động chính trị văn hóa bên ngoài, hiểu rõ hơn về tình hình xã hội.Một cách thiết thực hơn là trên các chương trình như vậy có thể mang tới cho ngườinghèo nhiều kiến thức mới về nông nghiệp và phát triển sản xuất
Phương tiện đi lại mang tới cho người nghèo cơ hôi mở rộng thị trường cho hànghóa của họ Thay vì chỉ bán hàng ở những ngôi chợ gần nhà, họ có thể mang hànghóa đi tới những nơi xa hơn và có thể bán với giá hời hơn Mở rộng thị trường nhưvậy thực sự là một cách giảm thiểu rủi ro thị trường cho bản thân họ khi mà họkhông còn phải phụ thuộc vào một thị trường duy nhất Ngòai ra, ở một số nước,phương tiện đi lại cũng có thể giúp người nghèo mở ra họat động tạo thu nhập mớinhư chở hàng thuê, chở người thuê…
1.4.2.3 Nhóm chỉ tiêu về cải thiện địa vị của khách hàng trong gia
đình và xã hội
Vị thế của một người trong xã hội phụ thuộc rất nhiều vào khả năng kinh tế củangười đó Khi một người cải thiện được tiềm lực kinh tế của mình thì cũng là lúcngười đó tự tin hơn vào địa vị xã hội Việc xem xét địa vị xã hội của một người làvấn đề nhạy cảm và tương đối khó Người ta không thể tìm ra một chỉ tiêu trực tiếpnào để phản ảnh điều này mà chỉ tìm những yếu tố gián tiếp, đó có thể là việc mộtngười có tham gia thường xuyên vào các họat động xã hội không Ngòai yếu tố tiền
Trang 38bạc, việc tham gia vào các công việc của cộng đồng phụ thuộc vào ý thức của mỗingười khi họ tự nhận thấy rằng tiếng nói của mình có trọng lượng hơn, mà điều nàythì không phải tiền làm được Ở một khía cạnh khác, khi tham gia vào các chươngtrình tín dụng thì người tham gia có sức ép phải lao động để trả nợ Sức ép này đôikhi là một rào cản lớn trong việc tham gia vào họat động của cộng đồng Chính vìthế, chỉ tiêu về việc tham gia vào họat động cộng đồng đáng để xem xét nhưngkhông phải là yếu tố phản ánh chính xác tình hình.
Đối với các chương trình tài chính vi mô chỉ mở ra cho phụ nữ, những nhà điềuhành chương trình đặc biệt quan tâm tới vị thế của khách hàng của họ trong gia đình
Vị thế này thể hiện ở vịêc người phụ nữ liệu có quỳên tham gia bàn bạc và quyếtđịnh các vấn đề trong gia đình như họat động đầu tư kinh doanh, xây nhà ở, họchành cho con cái … Tiếng nói của người phụ nữ trong gia đình càng được tôn trọngthì sự chắc chắn trong họat động của chương trình càng cao bởi phụ nữ mới chính làngười đứng ra vay vốn và trả nợ Ngòai ra, các tổ chức có thể quan tâm tới liệu cáckhách hàng của họ có chịu cảnh bạo hành trong gia đình hay không Nhưng nhìnchung, việc này khó mà có thể thu thập được số liệu vì văn hóa của một số nơi kìmkẹp người phụ nữ và họ cam chịu vấn đề này
Trên đây là một số chỉ tiêu chủ yếu nhằm xác định ba nhóm tác động quan trong
mà một tổ chức tài chính vi mô muốn biết ở các thành viên của mình Trên thực tế,còn nhiều những tiêu thức khác có thể được sử dụng để phản ánh các nhóm tác độngnày Ngòai ra, còn những nhóm chỉ tiêu phụ trợ khác có thể được sử dung để làm rõhơn ý nghĩa của các chỉ tiêu trên Tuy nhiên, do thời gian nghiên cứu có hạn nên bàinghiên cứu này mới chỉ có thể tập trung được những chỉ tiêu được xem là tiêu biểunhất và tập trung phân tích các chỉ tiêu này của các khách hàng của TYM trongchương sau
Trang 39CHƯƠNG 2 – HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH CỦA QUỸ TÌNH THƯƠNG (TYM)
2.1 Giới thiệu chung về TYM
Năm 1989, Hội Liên Hiệp Phụ Nữ Việt nam phát động phong trào “Phụ nữgiúp nhau phát triển kinh tế gia đình”, đã gây được tiếng vang và được sự ủng hộ
to lớn Các mô hình tiết kiệm của hội bắt đầu được triển khai Cùng thời gian này,Hội phụ nữ đã chú ý tới mô hình tiếp cận của ngân hàng Grameen tại Bangladesh.Một đoàn học tập đã được cử sang nước bạn và nghiên cứu về cách thức vậnđộng của mô hình này
Năm 1991, Tiến sỹ Aris Alip, cố vấn tín dụng của FAO đồng thời là chủ tịchcủa tổ chức phát trỉển nông nghiệp nông thôn (CARD) tại Phippines, tới làm vịêctại Việt Nam, cảm kích trước sự làm việc chăm chỉ và nhiệt huyết của các cán bộHội, ông đã giúp Hội xây dựng dự án tín dụng với tên gọi Quỹ Tình Thương Dự
án tín dụng này được hoạt động theo mô hình của Grameen Bank, một điểm hìnhthành công trong hoạt động tài chính vi mô tại Bangladesh Chương trình nàynhận được khỏan tài trợ 55000USD từ quỹ hỗ trợ Grameen và tổ chức phát triểnChâu Á Thái Bình Dương Trong thời gian hoạt động của mình, Quỹ TYM nhận
Trang 40được sự hỗ trợ tài chính và kỹ thuật của nhiều tổ chức quốc tế như ACT, CARD,Quỹ ủy thác Grameen, CASHPOR, Oxfam và các tổ chức khác
Năm 1993, Quỹ Tình Thương họat động Quỹ lấy tên gọi tắt là TYM – “TaoYêu Mày” – “I Love You” Thời gian đầu, Quỹ TYM thực hiện cung cấp các sảnphẩm của mình trong phạm vi những địa phương nghèo gần Hà Nội như Sóc Sơn,
Hà Tây Sau này, cùng với sự mở rộng hoạt động, Quỹ đã triển khai sang các tỉnhlân cận Đến nay, Quỹ đã có 17 chi nhánh ở 7 tinh thành phố Địa phương ở xanhất là Nghệ An
Năm 1996, TYM chính thức giới thiệu Quỹ Tương trợ của TYM Đây là mộtquỹ được xây dựng bởi các thành viên tham gia TYM với mục tiêu đóng góp tựbảo hiểm cho những rủi ro bất thường có thể xảy ra.Việc tham gia vào Quỹ tươngtrợ là bắt buộc với tất cả các thành viên của TYM Trong tương lai, TYM đã có
kế hoạch tách quỹ tương trợ này ra thành một Quỹ bảo hiểm độc lập và tách rờivới TYM Mục đích của của quỹ tương trợ trong tương lai sẽ là mở rộng thêm cácsản phẩm bảo hiểm cho người nghèo và người có thu nhập thấp
Hiện nay, bên cạnh việc mở rộng quy mô hoạt động với mong muốn nâng caokhả năng tiếp cận tới nhiều hơn nữa phụ nữ nghèo trên khắp Việt Nam, TYMđang dần nâng cao hiệu quả họat động của mình Đặc biệt, trong tháng 1 năm
2007, TYM đã chính thức chuyển đổi thành một tổ chức tài chính vi mô hoạtđộng dưới sự quản lý của Hội Liên Hiệp Phụ nữ Việt nam, theo quy định củaQuyết định 28 của Ngân hàng Nhà Nước
Hiện nay, Quỹ TYM đang được thêm sự hỗ trợ của các dự án Đức, dự án TâyBan Nha và Dự án SWAM Với những nguồn hỗ trợ này, TYM đang cố gắng mởrộng thêm các sản phẩm tín dụng và tiết kiệm của mình sao cho phù hợp hơn nữacác nhu cầu của thành viên Bên cạnh đó, TYM hiện đang triển khai một hệ thốngcông nghệ thông tin hiện đại nhằm phục vụ cho nhu cầu quản lý hoạt động trongtòan quỹ Với những cố gắng không ngừng, hiện TYM đang phát triển thành