1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

bước đầu nghiên cứu mô hình quản lý bảo tồn loài voọc dựa vào cộng đồng ở vườn quốc gia cát bà

82 1,1K 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bước đầu nghiên cứu mô hình quản lý bảo tồn loài voọc dựa vào cộng đồng ở vườn quốc gia cát bà
Tác giả Bùi Thị Huệ
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế Môi Trường
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2006
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 441 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

và mang lại hiệu quả cho công tác bảo vệ môi trường là thực sự cần thiết.Một trong những hình thức quản lý môi trường thu được hiệu quảcao là quản lý môi trường dựa vào cộng đồng Communi

Trang 1

và mang lại hiệu quả cho công tác bảo vệ môi trường là thực sự cần thiết.

Một trong những hình thức quản lý môi trường thu được hiệu quảcao là quản lý môi trường dựa vào cộng đồng (Community – BasedEnvironment Manager – CBEM) Mô hình này là một phương tiện chongười dân trong cộng đồng tham gia vào quá trình ra quyết định Quá trìnhnày đưa ra một giới hạn đầy đủ về các bên tham gia, từ đó phá vỡ nhữngrào cản giữa các bên liên quan và đưa ra những mục tiêu rõ ràng, tạo cơ hộicho cộng đồng tham gia vào quá trình quản lý và xác lập khả năng tự trị

Do đó, đây là một cơ chế quan trọng cho sự tham gia từ đó tạo hiệu quả caotrong việc xây dựng năng lực quản lý của chính quyền địa phương

Hiện nay, mô hình quản lý này đã và đang được áp dụng ở nhiềuvùng khác nhau trên thế giới Các mô hình này qua thực tế đã thể hiệnnhiều ưu điểm mà công tác quản lý nhà nước không đạt được Mô hìnhquản lý môi trường dựa vào cộng đồng được áp dụng vào nhiều lĩnh vựckhác nhau, như các mô hình quản lý bảo tồn, mô hình thu gom rác tại cácphường, xã

Ở Việt Nam, mô hình người dân tham gia vào hoạt động quản lý môitrường không phải là hiếm thấy nhưng mô hình quản lý môi trường dựa vào

Trang 2

cộng đồng theo đúng nghĩa của nó thì không nhiều Cần thiết có sự nghiêncứu, tìm hiểu những hình thức mà người dân tham gia vào quản lý môitrường ở nước ta và thực trạng áp dụng hình thức quản lý này.

Mô hình quản lý môi trường dựa vào cộng đồng nhằm bảo vệ loàiVoọc đầu trắng ở Vườn quốc gia Cát Bà là một mô hình tiêu biểu, điểnhình cho hình thức quản lý này Mô hình này đang được áp dụng ở Vườnquốc gia Cát Bà và đang tỏ ra là rất hiệu quả và có nhiều ưu việt, xứngđáng được nghiên cứu xem xét để các vùng khác học tập kinh nghiệm, vàquảng bá rộng dãi

Vì vậy trong khuôn khổ của luận văn em quyết định lựa chọn đề tài

“Bước đầu nghiên cứu mô hình quản lý bảo tồn loài Voọc dựa vào cộng

đồng ở Vườn quốc gia Cát Bà”

2 Mục tiêu nghiên cứu.

Trên cơ sở nghiên cứu đề tài này nhằm hướng tới các mục tiêu sau:

- Đưa ra cơ sở lý luận và thực tiễn của việc quản lý dựa vào cộngđồng

- Nghiên cứu và phân tích, mô hình quản lý bảo tồn loài Voọc đầutrắng dựa vào người dân ở Vườn quốc gia Cát Bà

- Đánh giá những thành tựu, những tồn tại, khó khăn thuận lợi mà

mô hình gặp phải và đề xuất một số kiến nghị giải pháp nhằm nâng caohiệu quả hoạt động của mô hình

3 ` Phương pháp nghiên cứu.

-Tổng hợp tài liệu, số liệu, phân tích , đánh giá

- Khảo sát thực địa

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu.

- Về không gian địa điểm nghiên cứu: Vườn quốc gia Cát Bà baogồm cả vùng lõi và vùng đệm, thời điểm nghiên cứu là năm 2006

Trang 3

5 Nội dung nghiên cứu.

Chương I: Cơ sở lý luận về quản lý môi trường dựa vào cộng đồng

và thực trạng quản lý môi trường dựa vào cộng đồng ở Việt Nam

Chương II: Nghiên cứu mô hình quản lý dựa vào cộng đồng nhằm

bảo tồn loài Voọc đầu trắng ở Vườn quốc gia Cát Bà

Chương III: Đánh giá hiệu quả hoạt động của mô hình, những thuận

lợi, khó khăn và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạtđộng

Trang 4

CHƯƠNG I

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG

DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG VÀ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG Ở VIỆT NAM.

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG.

1.1.1 Một số khái niệm.

* Khái niệm về tài nguyên sở hữu chung

Tài nguyên sở hữu chung là tài nguyên được quản lý và sử dụng bởimột nhóm người (không phải một người) Để quản lý tài nguyên này thìnhóm người quản lý phải đặt ra các luật lệ và giám sát thực hiện các luật lệnày

Đối với tài nguyên sở hữu chung vấn đề luật lệ là rất quan trọng Bởi

vì khi dân số phát triển hay các yếu tố về luật bị phá vỡ thì hệ thống khác

sẽ không vận hành hiệu quả nữa và chuyển sang một dạng tài nguyên khácđược gọi là tài nguyên tự do tiếp cận Khi đó việc sử dụng tài nguyên nàykhông bị loại trừ và có tính cạnh tranh là cho việc khai thác tài nguyênkhông bị ràng buộc, mạnh ai người ấy khai thác, khai thác cho tới khikhông thể khai thác được nữa thì thôi

* Khái niệm cộng đồng.

Có nhiều khái niệm khác nhau về cộng đồng thông thường, cộngđồng được hiểu là tập hợp những người có chung lịch sử hình thành, cóchung địa bàn sinh sống, có cùng luật lệ và quy định hay tập hợp nhữngngười có cùng những đặc điểm tương tự về kinh tế- xã hội và văn hoá

Cũng có khái niệm khác, cộng đồng là một nhóm người có chung sởthích và lợi ích, có chung địa bàn sinh sống, có chung ngôn ngữ (hoặc loạingôn ngữ) và có những đặc điểm tương đồng

Trang 5

Tuỳ theo lịch sử hình thành hay đặc điểm của cộng đồng, có các loạicộng đồng sau:

- Cộng đồng người địa phương, là những người có quan hệ gần gũivới nhau, thường xuyên gặp mặt ở địa bàn sinh sống

- Cộng đồng những người có chung quan tâm đặc điểm, tính chất(cộng đồng các nhà nghiên cứu khoa học, cộng đồng doanh nhân )

- Cộng đồng những người có chung những quan tâm đặc điểm, tínhchất, màu da (cộng đồng người dân tộc thiểu số, cộng đồng người damàu )

- Cộng đồng có quan niệm chung về các vấn đề quan hệ xã hội, cóchung mục tiêu, quan điểm chung về giá trị, cùng tham gia vào quá trình raquyết định (cộng đồng ASEAN, các nước Pháp ngữ )

* Khái niệm sự tham gia của cộng đồng.

Có nhiều cách hiểu khác nhau về sự tham gia của cộng đồng Nhưngtheo tổ chức phát triển quốc tế Canada quan niệm :

Tham gia cộng đồng là thu hút các nhóm đối tượng mục tiêu vào cáckhâu của chu trình dự án từ thiết kế, thực hiện và đánh giá dự án với mụctiêu nhằm xây dựng năng lực của người nghèo để duy trì được cơ sở hạtầng và kết quả mà dự án đã tạo ra được trong quá trình thực hiện, và tiếptục phát triển sau khi tổ chức hay cơ quan tài trợ rút khơi dự án Cách tiếpcận này đựơc sử dụng khá phổ biến trong các lĩnh vực, các dự án trên thếgiới

Trước những năm 80, các hoạt động, chương trình có mục tiêu phục vụcộng đồng đều được đề xuất, xây dựng và tổ chức thực hiện từ cơ quantrung ương Thời kì này người ta mới khuyến khích sự tham gia của cácngành vào các chương trình, hành động Sự hiện diện của cộng đồng là rất

ít Vì thề tính bền vững của chương trình hay hoạt động không được đảmbảo Cách tiếp cận sự tham gia của cộng đồng được phát triển mạnh mẽ vàonhững năm 80-90 của thế kỷ 20, đặc biệt là áp dụng cho các chương trình

Trang 6

của tổ chức Phi chính phủ, chương trình thí điểm liên quan nhiều đến cộngđồng như phát triển đô thị và nông thôn, xoá đói, giảm nghèo, phát triểnnông nghiệp và nông thôn, chương trình bảo vệ môi trường Cách tiếp cậnphát triển định hướng vào cộng đồng hay còn gọi là phát triển dựa trêncộng đồng được áp dụng phổ biến từ năm 2000 Các chương trình, dự ánphát triển định hướng cộng đồng có đặc điểm là trao cho cộng đồng quyềnkiểm soát quá trình ra quyết định và đóng góp nguồn lực vào việc lập kếhoạch, thiết kế, thực hiện, vận hành, bảo trì những cơ sở hạ tầng.

* Khái niệm về quản lý môi trường dựa vào cộng đồng(CBEM).

Quản lý cộng đồng là phương thức bảo vệ môi trường trên cơ sở mộtvấn đề môi trường cụ thể ở địa phương, thông qua việc tập hợp các cá nhân

và tổ chức cần thiết để giải quyết vấn đề đó Phương pháp này sử dụng cáccông cụ sẵn có để tập trung cải tạo hoặc bảo vệ một tài nguyên nào đó haytạo ra lợi ích về môi trường như dự án tái tạo năng lượng, phục hồi lưuvực Và đồng quản lý tài nguyên đó thông qua sự hợp tác giữa các đối tácchính quyền, doanh nghiệp, các tổ chức phi chính phủ và cộng đồng dâncư

Phương pháp quản lý môi trường dựa vào cộng đồng là lấy cộngđồng làm trọng tâm trong việc quản lý môi trường Đưa cộng đồng thamgia trực tiếp vào hệ thống quản lý môi trường, họ trực tiếp tham gia trongnhiều công đoạn của quá trình quản lý, từ khâu bàn bạc ban đầu tới việc lên

kế hoạch thực hiện, triển khai các hoạt động và nhận xét, đánh giá sau khithực hiện Đây là hình thức quản lý đi từ dưới lên, thực hiện theo nguyệnvọng, nhu cầu thực tế và ý tưởng của chính cộng đồng trong đó các tổ chứcquần chúng đóng vai trò như một công cụ hỗ trợ thúc đẩy cho các hoạtđộng cộng đồng

Trang 7

1.1.2 Vai trò của người dân trong quản lý môi trường dựa vào cộng đồng.

Sự tham gia của người dân địa phương làm cho dự án phù hợp hơnvới đặc điểm nhu cầu của địa phương Thông qua việc tham khảo ý kiếncủa người dân, hay người dân đóng góp ý kiến sẽ cung cấp những thông tin

có giá trị cho dự án Do vậy dự án dễ được chấp nhận và khả năng bềnvững cao hơn

Bởi lẽ, họ có kiến thức về địa bàn sinh sống, chính vì vậy họ nắm rõcác đặc thù điều kiện cũng như vấn đề văn hoá, xã hội ở địa bàn, nắm rõcác nhu cầu cũng như các phương tiện hiện có của quản lý Các quyết định

có sự tham gia của cộng đồng sẽ trở nên có cơ sở thực tiễn và đây là căn cứđảm bảo cho tính khả thi của các quyết định về quản lý môi trường về mặtkinh tế Chẳng hạn, việc đề ra phí thu gom chất thải không thể nào áp dụngmột mức như nhau cho tất cả các địa phương mà phải phân cấp cho các địaphương quyết định trên cơ sở lấy ý kiến cộng đồng

Người dân tham gia vào các dự án giúp cho dự án có thể tiếp tục vậnhành tốt, và có hiệu quả sau khi dự án kết thúc Bởi vì hoạt động của dự ánđem lại lợi ích cho họ Và có thể được nhân rộng ra nhằm giải quyết vấn đềtrên phạm vi rộng hơn

Sự tham gia của người dân sẽ góp phần điều tiết trong sử dụngnguồn lực đảm bảo tính bền vững trong quản lý môi trường, tài nguyênthiên nhiên được sử dụng hiệu quả nhất khi biết vận dụng kiến thức củangười dân và huy động được các nguồn lực tài chính sẵn có trong cộngđồng vào việc làm kinh tế, từ đó tạo có hội tăng thu nhập cho người dân

Có sự tham gia của cộng đồng sẽ đảm bảo giám sát và đánh giá cácchương trình liên quan đến quản lý tổng hợp, duy trì được các hoạt độngthông qua hợp tác trong cộng đồng và thể chế hoá sự tham gia của cộngđồng Những dự án từ khi bắt đầu đến khi vận hành thì đều phải gắn vớimôi trường dân cư trong vùng, người dân trong vùng là người hiểu rõ nhất

Trang 8

những nảy sinh, những hiện tượng khi dự án hoạt động Họ sẽ là người đưa

ra những đánh giá trung thực nhất, sát sao nhất về dự án qua đó đánh giáđược thực chất của dự án

Sự tham gia của cộng đồng vào các dự án sẽ giải quyết được vấn đềnhận thức của người dân thông qua sự tác động lẫn nhau giữa các thànhviên trong cộng đồng Người dân sống trong một cộng đồng nên họ dễdàng chia sẻ và bảo ban nhau vì vậy khi có người vi phạm hoặc đi ngượclại hoạt động của quản lý thì họ là người tác động đem lại hiệu quả nhất

1.1.3 Các nguyên tắc trong quản lý môi trường dựa vào cộng đồng.

Nguyên tắc: Xác định danh giới rõ ràng.

Nguyên tắc này cho rằng việc tổ chức quản lý dựa vào cộng đồngphải được phân công rõ dàng cụ thể tới từng đối tượng Xác định được đốitượng cần quản lý, từ đó tiếp tục chia nhỏ đối tượng quản lý để dễ phânchia công việc Phải phân công rõ dàng từng công việc tới từng đối tượng.Nếu không dễ dẫn tới tình trạng không biết được mình quản lý cái gì hayđối tượng thuộc ai quản lý Tránh tình trạng “Cha chung không ai khóc”.Trong quá trình phân công công việc, phân công trách nhiệm phải chú ý làphân công được tất cả công việc tới tất cả các đối tượng tham gia không đểsảy ra tình trạng người muốn tham gia không được tham gia hay công việcdồn quá nhiều vào một người như thế dễ sảy ra xung đột trong quản lý

Nguyên tắc: Cân đối giữa chi phí và lợi ích

Để lôi kéo được người dân tham gia vào việc quản lý môi trường cần

có cơ chế tăng thu nhập cho họ Tức là cần gắn kết giữa mục tiêu quản lýmôi trường với tăng thu nhập của người dân Người dân tham gia vào việcquản lý tích cực khi họ tìm thấy ở đó lợi ích đem lại cho họ mà ngoài lợiích gián tiếp là các lợi ích trực tiếp thu được hàng ngày Khi người dântham gia vào các hoạt động kinh tế mà do dự án tổ chức thì họ phải thuđược thu nhập từ hoạt động này để duy trì đời sống của mình và gia đình,

Trang 9

vì thế mà các dự án ngoài việc đầu tư cho các hoạt động phục vụ mục đíchchính cần hỗ trợ người dân ở đó phát triển kinh tế đảm bảo người dân thamgia là có lợi ích kinh tế ví dụ như: hỗ trợ kĩ thuật, giống cây, tiêu thụ sảnphẩm

Nguyên tắc: Được đưa ra, được tiếp thu ý kiến

Cộng đồng dân cư được phép và được khuyến khích đưa ra ý kiếncủa mình trong các cuộc thảo luận Họ được đưa ra những đánh giá về hoạtđộng của hệ thống quản lý Người dân địa phương thông qua việc đóng góp

ý kiến sẽ cung cấp cho cơ quan quản lý cao hơn những thông tin, nhữngphản hồi từ phía họ Những vấn đề mà người dân có thể sẽ gặp phải khi hệthống đi vào vận hành Những ý kiến từ phía người dân là rất quan trọng vìkhi hệ thông hoạt động sẽ ảnh hưởng tới lợi ích, cuộc sống của họ và không

ai hơn họ là người cung cấp thông tin đúng đắn, sát thực nhất Đồng thời,người dân địa phương là người sống lâu ở địa bàn, họ có kinh nghiệm vềđịa bàn sinh sống vì vậy họ có thể đưa ra những giải pháp đơn giản mà hiệuquả cho những vấn đề đặt ra

Nguyên tắc: Người dân tham gia giám sát

Mọi hoạt động, muốn thực hiện có hiệu quả cần có sự giám sát, và lẽtất nhiên khi người dân tham gia vào hệ thống quản lý thì họ cũng có quyềnđược giám sát Sự giám sát của người dân là hoạt động giám sát đối với hệthống quản lý cấp trên giám sát đối với đối tượng quản lý, và giám sát lẫnnhau Người dân tham gia giám sát giúp cho dự án hoạt động hiệu quả vềthời gian, chất lượng Giám sát của người dân là một nguyên tắc giúp cho

dự án vận hành tốt, đi chệch hướng khi dự án kết thúc, không còn sự giámsát từ phía dự án Sự giám sát của dân giúp phản ánh kịp thời những saiphạm của các khâu khi thực hiện dự án vấp phải, nêu nên mong muốn củadân trong quá trình triển khai dự án

Nguyên tắc: Thưởng phạt rõ ràng.

Trang 10

Những cá nhân trong cộng đồng chịu sự giám sát của các tổ chức,đặc biệt là sự giám sát của cộng đồng mình về các hoạt động của mình.Nếu có hành vi vi phạm thì sẽ bị phạt, còn nếu lập công thì sẽ được thưởng.Những cá nhân không tham gia vào hoạt động của dự án có thể bị loại trừkhỏi các hoạt động công cộng khác, đây là cơ chế để khuyến khích ngườidân tham gia vào mô hình quản lý Đồng thời cuốn hút người dân tham gianhiệt tình hơn Nhưng cơ chế thưởng phạt phải thật rõ ràng và đủ khả năngkhuyến khích và lôi kéo sự quan tâm của mọi người.

Nguyên tắc: Công nhận quyền tối thiểu đối với các tổ chức.

Người dân được phép đưa ra ý kiến của mình với các cơ quan quản

lý nhà nước trong hệ thống quản lý môi trường mà không bị cản trở bởi các

tổ chức nhà nước khác Có nghĩa là khi người dân đưa ra ý kiến của mình

họ không phải bận tâm về việc có động chạm vào các tổ chức khác không,

và nếu có động chạm vào thì họ có phải chịu trách nhiệm gì không? Điềunày có ý nghĩa rất quan trọng vì vấn đề người dân đưa ra nhiều khi có liênquan tới nhiều lĩnh vực liên quan khác chứ không phải chỉ về môi trường,

vì thế nguyên tắc này đưa ra nhằm khuyến khích người dân nêu ra ý kiếncủa mình, và khuyến khích họ đưa ra ý kiến trung thực nhất

Trang 11

1.1.4 Tiến trình quản lý môi trường dựa vào cộng đồng (CBEM).

Hình1.1.4.1: Tiến trình quản lý môi trường dựa vào cộng đồng( CBEM)

Xác định các thách

thức của cộng đồng

Xây dựng sự nhất trí

Chỉ định người triệu

tập(người đầu tầu)

Ký kết thoả thuận

Xây dựng nhóm làm

việc cộng đồng (nhóm CBEM)

Tổ chức NGO

Tổ chức các cuộc họp để xác định các thách thức và mục tiêu, thông tin và các yếu tố cần thiết, đề ra hướng giải quyết có thể

Trang 12

* Xác định các thách thức của cộng đồng.

Quá trình xác định các thách thức của cộng đồng là sự tham gia củanhiều bên liên quan, các bên cùng thảo luận để đưa ra vấn đề môi trường cụthể của khu vực như các vấn đề về ô nhiễm nước, không khí, cải tạo cơ sở

hạ tầng Từ đó xác định các vấn đề ưu tiên, tìm kiếm các giải pháp để xâydựng sự đồng thuận rộng rãi trong cộng đồng Trong suốt quá trình cộngđồng ra quyết định thì việc thảo luận được tiến hành với nhiều mức độ khácnhau, hình thức và tỷ lệ khác nhau Điều này có thể đưa ra nhiều vấn đềkhác nhau nhưng cuối cùng sẽ tập chung chủ yếu vào ý kiến tổng hợp củamột tỷ lệ dân cư rộng lớn

- Ai là người trong cộng đồng có thể tham gia là người triệu tập?

- Ai có được sự hỗ trợ từ địa phương, có mối liên quan tới quản lýnhà nước để bênh vực cho dự án ?

- Ai có thể đóng vai trò lãnh đạo, có kỹ năng điều phối và biểu lộ sựtập chung?

- Ai có thể đủ thời gian tham gia?

- Chính quyền có bằng lòng bổ nhiệm người triệu tập không ?

Trong ví dụ này, với 5 câu hỏi trên, nguời nhận được câu trả lời tốtnhiều nhất sẽ được lựa chọn là người triệu tập của dự án

* Xây dựng nhóm cộng đồng.

Nhóm cộng đồng bao gồm các thành phần sau:

Nhà tài trợ: Đó là một nhà lãnh đạo hoặc cơ quan, cộng đồng, nhóm

dân cư, doanh nghiệp Trách nhiệm của họ là nhận diện các vấn đề và đưa

ra đánh giá

Trang 13

Người triệu tập, nhà lãnh đạo: Có thể là nhà lập pháp, chủ tịch

UBND, đại biểu hội đồng nhân dân, người đứng đầu trong cộng đồng đượckính trọng Với trách nhiệm tập hợp mọi người bàn bạc cùng nhau (quátrình đồng thuận của tất cả các đối tác tham gia) viết văn bản thoả thuậncủa tất cả các đối tác, đảm bảo sự phát triển bền vững, hiệu quả và quátrình tiến hành lâu dài của dự án

Nhóm trung lập: Đó là các trường đại học, trung tâm đồng thuận,

các tổ chức dân sự, chương trình mở rộng

Các nhóm trên chính là nhóm làm việc cộng đồng, trong quá trìnhthực hiện dự án cần phải có sự phối hợp đồng bộ và có sự phân chia tráchnhiệm rõ ràng cho các nhóm

* Xây dựng sự nhất trí

Sự nhất trí được duy trì trên nguyên tắc hoạt động là công bằng, cởi

mở và tin tưởng lẫn nhau Tiến hành bằng cách tổ chức các cuộc họp, hộithảo để xác định các thách thức và mục tiêu, xác định thông tin và các yếu

tố cấn thiết, đề ra hướng giải quyết có thể Sự hình thành sự nhất trí khôngphải thông qua hình thức biểu quyết trong các cuộc hội thảo mà bằng cáchình thức tìm hiểu, giải thích, cùng bàn bạc đi đến quyết định cuối cùng.Tạo không khí thân mật, cởi mở để mọi người đều đưa ra ý kiến của mình

* Đề ra các mục tiêu.

Việc đề ra các mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường nhằm giúp dự

án xác định rõ kết quả đạt được về từng lĩnh vực cụ thể là như thế nào, từ

đó càng thấy rõ tầm quan trọng của dự án cũng như của cộng đồng trongviệc phối hợp giải quyết các vấn đề môi trường Việc đề ra các mục tiêuchính là cơ sở để xây dựng các mục tiêu nhỏ, cụ thể để từng bước thực hiệncác mục tiêu lớn Có thể đề ra các mục tiêu trên thông qua việc xác địnhcác chỉ tiêu chính Các chỉ tiêu đưa ra phải được nghiên cứu kĩ lưỡngnhững điều kiện hiện có để có những chi tiêu phù hợp, nếu chỉ tiêu quá caohoặc quá thấp đều không có tác dụng thúc đẩy hoạt động Chỉ tiêu quá thấp

Trang 14

sẽ không thực hiện được mục tiêu đề ra, chỉ tiêu quá cao, khó hoàn thành sẽkìm hãm sự cố gắng hoàn thành.

Hình 1.1.4.2 Sơ đồ xác định các chỉ tiêu, mục tiêu.

* Xây dựng các giải pháp tích hợp.

Việc xây dựng các giải pháp tích hợp được thực hiện thông qua việc

lập kế hoạch Chúng bao gồm các bước sau:

- Xác hoạt động của dự án.

Là bước quan trọng nhất trong giai đoạn lên kế hoạch dự án, thờigian và nỗ lực đầu tư cho bước này giúp dự án có nhiều khả năng thànhcông Việc xác định các hoạt động cần có sự tham gia đầy đủ của các bênliên quan và phải dựa trên các mục tiêu cụ thể của dự án, kể cả những

nguồn lực và trở ngại Dự án được thực hiện một cách có hệ thống khi các

hoạt động được vạch ra một cách chi tiết và kĩ lưỡng ở giai đoạn chuẩn bị

2 Kinh tế

3 Xã hội

chỉ tiêu 1.1chỉ tiêu 1.2

chỉ tiêu 2.1

Chỉ tiêu 2.2

Chỉ tiêu 3.1Chỉ tiêu 3.2

Bước 2Đối vớimỗimụctiêu,trìnhbày rõtừngloại chỉtiêu

Bước 3: Sử dụng bảng danh sách các mục tiêu và chỉ tiêu

để truyền đạt những lợi ích đến cộng đồng và các đối tác

Trang 15

Khả năng quyết định một loạt hoạt động theo trình tự với nhau và những đềmục hoạt động là một kĩ năng quan trọng mà nhà lập kế hoạch cần phải có.

- Trình tự các hoạt động.

Khi đã định được các hoạt động thì vấn đề cần thiết là lập được mộttrình tự đúng đắn cho các hoạt động Biết trình tự đúng đắn sẽ tránh lãngphí thời gian và nguồn lực Thông thường một dự án được thực hiện bởimột nhóm cá nhân, do đó khi đã có khởi động thì cần phải có sự giám sát

và phối hợp các hoạt động để tiến hành theo một trình tự hợp lý Vì vậy,sắp xếp các hoạt động phải được làm trong giai đoạn chuẩn bị

Việc vạch kế hoạch về thời gian cho các hoạt động chính, phụ sẽgiúp dự án dự án được mỗi hoạt động, khởi sự và hoàn tất trong khuôn khổcác nguồn lực sẵn có Điều này cũng giúp giám sát các hoạt động của dự ántrong quá trình thực hiện, kiểm tra xem công việc có tiến triển theo đúng kếhoạch không

- Phân công trách nhiệm.

Việc phân công trách nhiệm cần tiến hành có phương pháp để đảmbảo sự tham gia đầy đủ của cộng đồng, vì quá trình lên kế hoạch của dự án

sẽ không hoàn chỉnh nếu không phân công trách nhiệm cho từng cá nhânhoặc nhóm thực hiện những hoạt động khác nhau Khi phân công tráchnhiệm điều quan trọng là động cơ của những người thực hiện, các cá nhân

sẽ có động lực tốt nếu họ được phân công công việc họ muốn đảm nhận vàhoàn thành Do đó, cần phải tìm hiểu những kĩ năng, chuyên môn và sởthích của các thành viên, nhóm cộng đồng để có những phân công hợp lý

* Ký kết thoả thuận.

Kí kết thoả thuận áp dụng sau hội thảo lập kế hoạch hành động nhằmmục đích dẫn chứng - bằng văn bản - các vai trò và sự giao phó cho mỗiđối tác chủ yếu có liên quan tới quy trình CBEM

Quy trình thực hiện ký kết thoả thuận có thể bao gồm bước:

Trang 16

- Người triệu tập xác nhận lại các đối tác chủ yếu đã ký tên vào bảngcông bố.

- Điều phối viên dự án chuẩn bị bản công bố và thu thập ý kiến tánthành của từng thành viên, nhóm

- Người triệu tập họp các đối tác để cùng nhau ký thoả thuận chínhthức

Bản ký kết sẽ diễn đạt tất cả các thông tin cần thiết để thuyết phục vàdẫn chứng sự thoả thuận mà các đối tác đạt được trong việc thực hiện môhình CBEM

* Thực hiện dự án.

Thực hiện dự án là quá trình triển khai các kế hoạch đã lập ra trongcác hội thảo trước đó dựa trên sự đóng góp của các bên theo thoả thuận,bao gồm các hoạt động phối hợp của nhiều bên nhằm đảm bảo sự tham giacủa các lực lượng vào quá trình triển khai mô hình Để triển khai mô hìnhthành công cần chú ý tới các vấn đề sau:

- Cần xác định rõ vấn đề môi trường cần giải quyết

- Lựa chọn được công cụ phù hợp, dưới cái nhìn toàn diện

- Trong quá trình thực hiện cần sự điều chỉnh linh hoạt và phối hợptốt giữa các đối tác

- Đạt được các cam kết của các bên liên quan, cần thiết trong phốihợp giữa chính quyền và nhân dân

- Cần xác định rõ vai trò của người đầu tầu trong dự án CBEM,người đầu tầu phải được chỉ định bởi chính quyền và có uy tín trong cộngđồng Người đầu tầu phải quan tâm đến những tác động tích cực và tiêu cựccủa dự án, và hoạt động vì lợi ích chung

Trang 17

1.2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG

Nghị quyết 41/NQ-TW ngày 15/11/2004 của bộ chính trị về chủ

trương “đẩy mạnh xã hội hoá hoạt động bảo vệ môi trường”

Quy định số 256/ 2003/ QĐ-TTg của, ngày 2-12-2003 của thủ tướngchính phủ về việc phê duyệt chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến

năm 2010 và định hướng đến năm 2020 cũng nhấn mạnh “Bảo vệ môi

trường là nhiện vụ của toàn xã hội, của các cấp các ngành, các tổ chức, cộng đồng và của người dân”

Trong chỉ thị 36/CT-TW, ngày 25-6-1998 “BVMT là sự nghiệp của

toàn đảng, toàn quân, toàn dân”.

Những căn cứ pháp lý này có vai trò quan trọng để khuyến khíchviệc áp dụng hình thức quản lý này ở nước ta Và nó cũng tác động tới tâm

lý người dân, làm họ tự tin và tin tuởng hơn khi tham gia vào các dự án cần

sự tham gia của người dân trong việc quản lý môi trường

1.2.2 Các mô hình quản lý môi trường quản lý môi trường dựa vào cộng đồng hiện có ở Việt Nam.

1.2.2.1 Mô hình cam kết bảo vệ môi trường.

Mô hình này được xây dựng trên cơ sở các hương ước, quy ước Đây

Trang 18

là công cụ hỗ trợ đắc lực cho các cuộc vận động duy trì an ninh, trật tự vệsinh môi trường và giải quyết các tranh chấp vi phạm nhỏ trong lĩnh vựcBVMT, hương ước, quy ước ra đời trên cơ sở đoàn kết gắn bó, thống nhấtcủa mỗi thành viên trong cộng đồng làng, xã

Hương ước, quy ước quy định những nội dung hết sức thiết thực gầngũi, hữu ích với cuộc sống hàng ngày Hương ước quy định được cộngđồng lập ra dựa trên các quy ước truyền thống và hướng dẫn của cơ quankiểm lâm Một nội dung không thể thiếu ở bất kì hương ước nào là các quyđịnh về BVMT Những quy định này góp phần quan trọng trong việc nângcao ý thức BVMT

Quy ước là một hình thức của hương ước và ngày càng được sử dụngnhiều, các quy ước thì rất nhiều, đa dạng điều quan trọng là phải phù hợpvới đặc điểm của từng địa phương Quy ước của cộng đồng còn được sửdụng trong việc xây dựng làng văn hoá

Để phát huy những ưu điểm này Bộ nông nghiệp và Phát triển nôngthôn đã ban hành thông tư 56/1999/TT-BNNPTNT hướng dẫn xây dựngquy ước bảo vệ và phát triển rừng trong cộng đồng dân cư thôn, làng, buôn,bản, Tuy nhiên để những hương ước, quy ước BVMT có hiệu qủa cần thiết

có sự tham gia, chỉ đạo của chính quyền cơ sở, đặc biệt nên tránh tình trạngbiến hương ước, quy ước trở thành những văn bản pháp lý của nhà nước.Bên cạnh đó có các hương ước, quy ước thường không bị cưỡng chế bởicác cơ quan thực thi pháp luật, nên dễ bị xâm phạm đòi hỏi cần có cơ chếgiám sát tốt thông qua hình thức giám sát từ dòng họ của các tổ dân phố,cụm dân cư

1.2.2.2 Mô hình tổ chức tự quản xử lý ô nhiễm môi trường.

Trước thực tế ô nhiễm môi trường (ONMT), nhiều loại hình tự quản

xử lý ô nhiễm môi trường với quy mô hoạt động trên địa bàn thôn, xã vàquy mô huyện đã xuất hiện Hiệu quả của các hoạt động này phụ thuộc rất

Trang 19

nhiều vào chính quyền địa phương và cộng đồng dân cư Ngoài ra việc quyđịnh mức phí đóng góp thích hợp của cộng đồng, các hình thức phân chiatrách nhiệm cũng như phân chia lợi nhuận một cách công bằng, bình đẳngtrong nhóm là điều kiện đảm bảo nhóm, tổ chức duy trì và phát triển Môhình này ra đời đã đạt được các mục tiêu: Xử lý rác làm sạch môi trườngvới giải quyết việc làm cho phụ nữ nghèo, tạo đà xây dựng tổ phụ nữ tiếtkiệm lồng ghép vệ sinh môi trường Hoạt động trên cơ sở phát huy nguồnlực cộng đồng, tổ chức thu gom rác thải tại nguồn, phát triển tái sử dụng vàquay vòng sử dụng chất thải rắn, tự trang trải, và quyền được đổ rác hợp vệsinh của người dân.

1.2.2.3 Mô hình lồng ghép xoá đói giảm nghèo với BVMT.

Điển hình cho mô hình này là các làng sinh thái ở Vĩnh Trinh- Thànhphố Cần Thơ, xã Cổ Đô- Ba Vì- Hà Tây, xã Lộc Trì- Phúc Lộc- ThừaThiên Huế và các mô hình làm tăng năng xuất cây xanh của trung tâm năngsuất Việt Nam Hiện nay, các mô hình này đang được người dân đón nhận

và là mục tiêu hướng tới của các nhà quản lý Hoạt động của các mô hìnhnày mang lại lợi ích kinh tế rõ rệt đồng thời bảo vệ được môi trường,hướng tới sự phát triển bền vững Tuy nhiên thực hiện các mô hình này đòihỏi phải có sự đồng thuận cao của cả cộng đồng, sự hướng dẫn chỉ đạo kĩthuật chặt chẽ sát sao của nhà khoa học và vốn đầu tư ban đầu tương đốicao Mô hình lồng ghép xoá đói giảm nghèo với BVMT là một hướng giảiquyết toàn vẹn vừa đáp ứng được nhu cầu tăng thu nhập cho người dân vừagiúp đạt được mục tiêu bảo vệ môi trường

1.2.2.4 Các phong trào tình nguyện

Xuất phát từ mục tiêu khác nhau nhưng các phong trào tình nguyệnđều gặp một điểm chung là cùng nhau giữ gìn phát triển tài nguyên thiênnhiên và BVMT Từ những hoạt động tình nguyện các phong trào đã lôicuốn và thu hút nhiều người tham gia và hưởng ứng, góp phần giải quyết

Trang 20

những vấn đề bức xúc của cộng đồng dân cư và mang lại lợi ích thiết thựccho ngưòi dân Tuy nhiên các phong trào này rất khó duy trì, tính bền vữngkhông cao vì mục đích liên kết và những điều kiện ràng buộc còn lỏng lẻo.

Có không ít phong trào kém hiệu quả, lúc phát động thì trống dong cờ mở,lúc làm thật thì chỉ được thời gian đầu, về sau xẹp dần theo mô hình luẩnquẩn” phát - động - xẹp – phát” Nguyên nhân chính là chưa tuyên truyềnvận động sâu rộng và thường xuyên để góp phần nâng cao cao nhận thứcthực sự và làm thay đổi hành vi ứng sử, không có tổ chức chủ trì việc đônđốc, theo dõi phong trào, hoặc có nhưng tổ chức này chưa làm tròn tráchnhiệm, sự tham gia của cộng đồng, của công chúng còn ít, thiếu khen chê,thưởng phạt kịp thời, công bằng và thoả đáng Thực tế cho thấy các phongtrào tình nguyện đòi hỏi những người tham gia phải là người tâm huyết,nhiệt tình với chương trình đôi khi hộ phải chịu thiệt thòi

1.2.2.5 Mô hình BVMT trong sản xuất công nghiệp.

Nước ta đang hình thành những mô hình tốt gắn sản xuất với BVMTnhư mô hình sản xuất sạch hơn, tiết kiệm năng lượng, nhiên liệu, BVMTcủa các công ty Điển hình như công ty TNHH Chiang shin Việt Nam,công ty thuốc sát trùng Việt Nam, công ty phân lân nung chảy Văn điển,công ty xăng dầu Hà tĩnh…

Qua thực tế cho thấy mô hình đem lại lợi ích rõ rệt về kinh tế và môitrường Một số mô hình đòi hỏi vốn ban đầu tương đối lớn để thành lập hệthống xử lý chất thải nhưng lại thu đuợc những lợi ích to lớn về môi trường

và sức khoẻ người lao động Tuy nhiên các mô hình này mới bước đầu ápdụng ở Việt Nam, chưa được phổ biến rộng rãi do ý thức bảo vệ môitrường trong các doanh nghiệp ở Việt Nam còn kém, một sỗ khác cácdoanh nghiệp chưa có đủ tiềm lực để áp dụng hình thức này Do đó môhình này cần được nghiên cứu kĩ, hỗ trợ từ nhà nước cũng như hoạt độngtuyên truyền thích hợp

Trang 21

1.2.3 Những thuận lợi trong việc áp dụng mô hình quản lý môi trường dựa vào cộng đồng ở Việt Nam.

Ở Việt Nam đã có những văn bản pháp lý với những điều khoản điềuchỉnh, khuyến khích việc huy động người dân tham gia vào công tác bảo vệmôi trường Đây là sự thuận lợi về thể chế chính sách, là thuận lợi ban đầu

để cho thu hút các dự án hỗ trợ xây dựng các mô hình quản lý có sự thamgia của cộng đồng và là cơ sở để vận động người dân tham gia vào hoạtđộng quản lý môi trường Qua việc cộng đồng địa phương có thể đóng góp

ý kiến cho các chủ trương chính sách của nhà nước và các dự án đầu tư,nhất là các tác động trực tiếp tới môi trường, tới sản xuất và đời sống củanhân dân tại đó Vì vậy, thực hiện nguyên tắc ”Dân biết, dân bàn, dân làm,dân kiểm tra” là một trong các biện pháp quan trọng để xã hội hoá cộng tácbảo vệ môi trường

Các cộng đồng dân tộc Việt Nam, các cộng đồng địa phương đã cótruyền thống lâu đời từ nhiều thế kỷ trong việc sống hài hoà với thiênnhiên, bảo vệ môi trường nên việc vận động, thu hút họ vào công tác quản

lý môi trường không gặp quá nhiều khó khăn Đặc biệt là các cộng đồngmiền núi luôn luôn gắn bó với rừng Hầu như tất cả các hoạt động kinh tếcủa cộng đồng đều dựa vào việc quản lý và sử dụng tài nguyên thiên nhiên,trong đó tài nguyên rừng (thậm chí có nơi mà 50-60% tổng thu nhập nhândân địa phương được rừng cung cấp) Từ nhỏ trong sinh hoạt đời sống hàngngày họ đã gắn bó với cây cỏ, rừng núi nên họ có tình cảm với mọi vậtxung quanh họ, chỉ cần giáo dục, phân tích rõ những tác động thiệt hơn tớirừng thì chắc chắn rằng họ sẽ làm theo

Nước ta là một trong những nước có mức đa dạng sinh học cao,chính vì thế đã thu hút được nhiều dự án đầu tư cho hoạt động bảo vệ môitrường Các dự án tác động trực tiếp bằng cách hỗ trợ tài chính cho việcxây dựng mô hình quản lý cộng đồng như các mô hình thu gom rác thải có

sự tham gia của người dân ở các phường xã, hay các mô hình bảo tồn ở các

Trang 22

vườn quốc gia, các khu bảo tồn Các dự án tác động gián tiếp bằng cáchcho vay vốn phát triển kinh tế, hay dự án đầu tư cho tuyên truyền giáo dụcmôi trường tới người dân.

- Các ngành ở một mức độ nào đó đã có sự quan tâm tới hoạt độngquản lý này, thông qua việc hỗ trợ về thể chế chính sách, tạo điều kiệnthuận lợi để triển khai các dự án về môi trường tại các địa phương

1.2.4 Những khó khăn trong việc áp dụng mô quản lý môi trường dựa vào cộng đồng ở Việt Nam.

Bên cạnh những thuận lợi trong việc áp dụng mô hình quản lý cộngđồng ở Việt Nam, thì còn không ít khó khăn gặp phải khi xây dựng môhình, cụ thể:

Điều kiện kinh tế nước ta chưa đủ để người dân quên đi những lolắng về “cơm áo, gạo tiền” mà quan tâm tới chất lượng cuộc sống, khi sốlượng chưa đáp ứng được nhu cầu thì người ta ít quan tâm tới chất lượng

Vì thế mà người dân Việt Nam ít có khả năng, cơ hội tham gia vào công tácquản lý môi trường cho dù là họ có quan tâm đi nữa

Kiến thức của người dân về môi trường và hoạt động bảo vệ môitrường còn hạn chế Điều quan trọng là phải nâng cao nhận thức của cộngđồng Bên cạnh đó, hoạt động nâng cao nhận thức là hoạt động diễn ra trêndiện rộng, cần nhiều thời gian với nguồn kinh phí khá lớn Khi thiếu kiếnthức về bảo vệ môi trường sẽ ảnh hưởng tới sự tham gia rộng lớn của cộngđồng dân cư trong mô hình và cũng ảnh hưởng tới quá trình triển khai môhình Sự tham gia của cộng đồng vào các khâu của mỗi hoạt động (từ thiết

kế, thực hiện, đánh giá) đòi hỏi người dân phải có kiến thức nhất định hoặc

có nhận thức rõ ràng về lợi ích trước mắt và lâu dài, nhưng trong thực tếcác nhóm cộng động nghèo và có địa vị thấp lại gặp khó khăn về mặt này

Vì vậy đòi hỏi người đưa ra sáng kiến phải kiên trì và có phương pháp cũngnhư cách làm việc thích hợp

Trang 23

Trong quá trình chuẩn bị xây dựng kế hoạch, thiết kế và tổ chức thựchiện với cách tiếp cận lấy ý kiến cộng đồng, đòi hỏi nhiều thời gian hơn,nhiều công sức, tài chính hơn vì phải tổ chức các buổi thảo luận, lấy ý kiến.Đây là khó khăn trong việc tiến hành và triển khai mô hình.

Năng lực quản lý của cộng đồng nói chung còn thấp, nhất là cácnhóm dân cư nghèo dẫn đến lúng túng trong tham gia và điều hành côngviệc

Vai trò của chính quyền chưa được thể hiện rõ, các cấp chính quyềnđịa phương còn thiếu hiểu biết về cách huy động cộng đồng tham gia, do

đó việc tiến hành còn lúng túng và kết quả còn hạn chế

Sự hỗ trợ của các ngành các cấp, các vườn quốc gia còn hạn chế ví

dụ việc ngăn cấm bán các loại sản vật quý hiếm ở các khu vực xung quanhcác vườn quốc gia nhiều nơi không được thực hiện

Giao thông, cơ sở hạ tầng, phương tiện phục vụ trong hoạt độngquản lý là một vấn đề bức xúc đối với việc thực hiện hoạt động quản lý

1.2.5 Những thành tựu mà Việt Nam đạt được trong lĩnh vực quản lý môi trường dựa vào cộng đồng trong thời gian vừa qua.

Tuy rằng việc áp dụng mô hình quản lý môi trường dựa vào cộngđồng ở Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn, các mô hình còn nhiều bất cậptrong triển khai vào hoạt động, nhưng trong cho tới hiện tại Việt Nam đãđạt được những thành tựu đáng kể trong việc huy động, lôi cuốn người dântham gia vào quản lý môi trường Nhờ đó mà công tác bảo vệ môi trường

đã đem lại những hiệu quả rõ rệt

Thiết lập được một hệ thống các hương ước, quy ước về môi

trường ở nhiều xã, phường trên cả nước, đặc biệt là các quy ước, hươngước này được sử dụng để xây dựng làng văn hoá Các hương ước bảo vệmôi trường được lập và thực hiện ở nhiều xã, bản như bản Hợp Thành xã

Xá Lượng, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An Quy định về việc không

Trang 24

được bắn vượn, mang nếu chúng mắc bẫy thì phải thả ra, hay ở làng Beng,

xã Bảo Hoà huyện Bảo yên tỉnh Lào Cai quy định về việc bắn nai, số lượngnai được bắn mỗi năm là 3 con nai nếu bắn đủ rồi thì không được bắn nữa,

ai vi phạm thì sẽ bị phạt rất nặng

Nói đến quy ước thì phải đề cập tới quy ước bảo vệ môi trường củalàng Chiết Bi - xã Thuỷ Tân - huyện Hương Thuỷ- Tỉnh Thừa Thiên Huếgồm 4 chương: Chương 1 quy định chung gồm 2 điều nói lên trách nhiệmcủa làng và mỗi người dân trong làng đối với việc chấp hành pháp luật.Chương 2 là quy định về các hành vi gồm 5 điều quy định việc không đượcphóng uế bừa bãi, xây dựng hố xí, hạn chế dùng bao ni lông, mọi gia đình

có trách nhiệm bảo vệ nguồn nước Chương 3 gồm 2 điều nêu ra các quyđịnh về thưởng, phạt Chương 4 gồm 3 điều khoản về thi hành Làng cử raBan thường trực để tổ chức thực hiện, giám sát việc thực hiện quy ước Cáctrưởng làng, trưởng họ, trưởng xóm và tổ trưởng của các đoàn thể như Hộinông dân, Hội liên hiệp phụ nữ, Hội người cao tuổi giúp đõ trong việcgiám sát

Ngoài ra còn các quy ước của làng Vân Cù - xã Hương Toàn - tỉnhThừa Thiên Huế cũng gồm 4 chương và 12 điều nhưng vận dụng phù hợpvới thực tế của địa phương như các điều khoản quy định không vui chơigây tiếng ồn ảnh hưởng tới người khác đặc biệt sau 22h, không được tắm,giặt tại các bến sông trước 8h để đảm bảo nguồn nước lấy từ sông về làmbún Quy ước bảo vệ môi trường ở xã Nậm Loòng - huyện Tam Đường -tỉnh Lai Châu có một số điều khoản như không làm chuồng trâu, bò ở gầnnhà hoặc gần nguồn nước, không hạ cây tươi để làm củi, không đào rãnhthông lấy nước từ ruộng trên xuống ruộng dưới Quy ước bảo vệ môitrường ở xã thạch Hoà, huyện Bến Lức, tỉnh Long An có quy định ngườichết không để quá thời gian quy định, việc kèn trống tế lễ chỉ thực hiệntrước 23h, cấm dùng kích điện, chất nổ để đánh bắt ở ao hồ, kênh mương

Trang 25

Xây dựng được mạng lưới cộng đồng bảo vệ rừng Mỗi cộng đồng

có một mạng lưới chính để chỉ đạo, tập chung toàn bộ lực lượng bảo vệrừng Nhiều tổ chức đoàn thể thành lập các mạng lưới của thanh niênchuyên tuần tra, canh gác, mạng lưới của phụ nữ để phát hiện các bấtthường trong khai thác rừng, mạng lưới của nông dân đảm bảo chung chorừng phát triển tốt, mạng lưới của người cao tuổi phát hiện nguy cơ cháyrừng, lâm tặc Các hoạt động chủ yếu của mạng lưới này là tuyên truyền,giáo dục, phát hiện sự cố, thông tin với các cấp lãnh đạo và các ngànhchuyên môn, tham gia giải quyết, sử lý sự cố khi sảy ra

Phát huy được phong tục, tập quán và truyền thống bảo vệ rừng ở các địa phương có rừng Người dân nhận thức được rằng rừng có vai trò

quan trọng tới cuộc sống của chính họ chính vì thế các cộng đồng gắn bóvới rừng và có truyền thống bảo vệ rừng Tuy nhiên khi mật độ dân số tăngnên gây sức ép nghiêm trọng lên tài nguyên thì các phương thức khai tháctruyền thống không còn thích hợp cần phải tìm kế sinh nhai khác nhưngvẫn giữ được phong tục tập quán trong việc bảo vệ rừng Các dự án đầu tư,nguồn kinh phí của dự án ODA, các chương trình quốc gia, chuơng trìnhcủa địa phương tạo điều kiện cho dân cư ở các vùng đệm ổn định và nângcao đời sống nhờ đó họ mới có thể giữ gìn các truyền thống bảo vệ môitrường

Cộng đồng tham gia bảo tồn đa dạng sinh học Các cộng đồng

tham gia phục hồi tài nguyên rừng dưới nhiều hình thức Nhiều cộng đồng

đã kết hợp chăm sóc cây rừng, nâng cao độ phì nhiêu của đất rừng để pháttriển nông nghiệp Ví dụ ở Sa Pa đồng bào trong vùng đệm của vườn quốcGia Hoàng Liên Sơn, đồng bào Mông, Dao đã chăm sóc cây rừng, bónphân cho đất rừng để phục hồi thảo quả dưới tán cây rừng Đồng bào nhiềunơi cũng tự nhân giống cây rừng để phục vụ đời sống của họ Nhìn chung,cộng đồng tham gia bảo vệ rừng một cách tự nguyện nhằm thực hiện tốchính sách của Nhà nước và bảo vệ quyền lợi thiết thực của mình

Trang 26

Hình thành các doanh nghiệp tư nhân, mô hình tổ, đội, hợp tác xã

hoạt động thu gom, vận chuyển chất thải Điển hình là đội chuyên trách vệsinh môi trường xã Thạch Kim - huyện Thạch Hà - tỉnh Hà Tĩnh do UBND

xã Kim Thành khởi xướng và ra quyết định thành lập đội chuyên trách vệsinh môi trường hoạt động từ năm 1998 trên cơ sở lấy thu bù chi, nguồn là

do các hộ dân đống góp hàng tháng, tổ tự quản môi trường phường HồngHải - thành phố Hạ Long - tỉnh Quảng Ninh có chức năng thu gom rác sinhhoạt từ các hộ dân, phương tiện do nhân dân đóng góp Hoạt động trênnguyên tắc công khai, các mức thu phí có sự đồng ý của UBND phường Ỏ

Hà Nội có tổ thu gom rác dân lập phường Nhân Chính - quận Thanh Xuân

Tổ thu gom này do UBND phường thành lập với nhiệm vụ là thu gom ráctrên địa bàn phường và tập kết đến nơi quy định, khơi thông cống rãnh,phương thức hoạt động lấy thu bù chi và có lợi nhuận

Ngoài sự tham gia của các tổ đội còn là sự tham gia của các doanhnghiệp tư nhân trong lĩnh vực thu gom và vận chuyển rác thải mà điển hình

là công ty TNHH Huy Hoàng - Lạng Sơn, công ty này đảm nhiệm việc thugom, vận chuyển rác trên địa bản tỉnh Lạng Sơn ngoài ra công ty còn cungcấp các dịch vụ liên quan đến môi trường như nhận trở thuê rác, thông bểphốt Công ty không những góp phần vào việc bảo bệ môi trường mà còntạo công ăn việc làm cho người lao động

Phong trào tình nguyện ngày càng được mở rộng Nhận thức của

người dân về môi trường ngày càng tăng lên nên những phong trào, hìnhthức vận động rộng lớn cho công tác BVMT đã lôi cuốn nhiều người thamgia thuộc mọi tầng lớp và mọi lứa tuổi Những việc làm tình nguyện nàyxuất phát từ lợi ích trực tiếp hàng ngày của cộng đồng tại cơ sở Các hoạtđộng tình nguyện phát triển dưới nhiều hình thức, quy mô và mức độ khácnhau từ dọn dẹp vệ sinh đường làng ngõ xóm đến việc tổ chức có tínhthường xuyên và dài ngày trong phạm vi cả nước hoặc một địa phương.Đặc biệt phong trào thanh niên, sinh viên tình nguyện do trung ương đoàn

Trang 27

khởi xướng, sinh viên tham gia “mùa hè tình nguyện” toả về các vùng nôngthôn giúp đỡ người dân khó khăn phát triển kinh tế - xã hội, phát triển vănhoá và cải thiện môi trường sống Riêng hai tháng hè 2003 hàng ngàn độithanh niên, sinh viên tình nguyện cả nước đã tổ chức 15000 lớp học xoá mùchữ, phổ cập giáo dục tiểu học, trung học cơ sở cho hàng chục nghìn người

ở vùng sâu vùng xa, bác sỹ trẻ tình nguyện đã khám bệnh, tư vấn cácphương pháp bảo vệ sức khoẻ và phát thuốc miễn phí cho 100000 người

Ngoài ra còn có các đội tình nguyện xanh tham gia vào các nội dungnhư giáo dục nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường, tham gia các hoạtđộng lồng ghép với các chương trình, dự án ở địa phương, giúp đỡ các địaphương xây dựng nề nếp hoạt động vệ sinh môi trường

1.2.6 Những tồn tại trong hoạt động quản lý môi trường dựa vào cộng đồng ở Việt Nam.

Cộng đồng còn bị hạn chế trong việc tham gia vào các khâu lập kếhoạch và giám sát trong các dự án, nhiều khi có lấy ý kiến người dân nhưng

đó chỉ là hình thức, còn những tham gia đóng góp, tiếng nói của người dânvẫn chưa được chú ý đúng mức

Tính bền vững của sự tham gia cộng đồng chưa cao, các dự án saukhi hoàn thành các nhà tài trợ sau khi rút khỏi dự án thì hiệu quả hoạt độngcủa dự án bị giảm xuống rõ rệt, thậm chi nhiều nơi dự án còn bị phá sản dokhông có sự giám sát thường xuyên của các cơ quan chính quyền và khôngđược hỗ trợ kịp thời

Đa phần dân chúng trong các cộng đồng ở địa phương không có khảnăng tiếp cận với các ngồn vốn đầu tư của chính quyền địa phương, vàđiểm này đã ảnh hưởng tới khả năng tham gia rộng rãi của họ vào các hoạtđộng quản lý môi trường mặt khác, sự phân cấp tài chính chưa diễn ramạnh ở địa phương, vì thế chính quyền địa phương lại càng khó trong việc

hỗ trợ hoạt động của cộng đồng

Trang 28

Sự phối hợp của chính quyền địa phương với các tổ chức cộng đồngchưa được thể chế hoá, nếp nghĩ, nếp làm cũng ảnh hưởng không nhỏ tới

sự tham gia của cộng đồng

Các doanh nghiệp chưa tham gia một cách có hiệu quả, thái độ cònthờ ơ do hoạt động không mang lại cho doanh nghiệp những lợi ích về kinh

tế Do đó, thiếu đi nguồn hỗ trợ chủ yếu về kinh phí, các phương tiện, vậtdụng cho quá trình triển khai

Trang 29

CHƯƠNG II NGHIÊN CỨU MÔ HÌNH QUẢN LÝ BẢO TỒN LOÀI VOỌC ĐẦU TRẮNG DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG Ở

VƯỜN QUÔC GIA CÁT BÀ.

2.1 GIỚI THIỆU VỀ VƯỜN QUỐC GIA CÁT BÀ.

2.1.1 Lịch sử hình thành vườn.

Quần đảo Cát Bà thuộc huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng Gồm

366 hòn đảo nhỏ Trong đó đảo Cát Bà là đảo lớn nhất trong số 1969 đảocủa quần thể vịnh Hạ Long Đảo chính Cát Bà với quần thể các đảo nhỏ vàhang động tạo nên một khung cảnh vô cùng hùng vĩ

Vườn quốc gia Cát Bà với rừng nguyên sinh và nhiệt đới và hệ thốngthảm thực vật phong phú, đặc trưng là các loài động thực vật quý hiếm đãđược ghi vào sách đỏ của thế giới cũng như của Việt Nam

Vườn quốc gia Cát Bà được thành lập dựa trên quyết định số 79/CTngày 31/03/1986 của chủ tịch Hội Đồng Bộ Trưởng (Bộ NN &PTNT )

Vườn quốc gia Cát Bà có diện tích 15200 ha bao gồm 9800 ha diệntích của đảo Cát Bà và một số hòn đảo nhỏ và 5400 ha diện tích vùng biểnxung quanh Đây được coi là khu bảo vệ đầu tiên của Việt Nam có phânkhu bảo tồn biển.Trung tâm Vườn quốc gia là đảo Cát Bà, nằm cách thànhphố Hải Phòng 30 km về phía đông và sát ngay phía tây vịnh Hạ Long.Vườn quốc gia Cát Bà nằm trên phần diện tích hành chính của các xã TrânChâu, Hiền Hào, Gia luận, Việt Hải, và thị trấn Cát Bà, Vườn gồm vùnglõi, vùng đệm và vùng chuyển tiếp:

Vùng lõi là vùng không có tác động của con người, trừ các hoạt độngnghiên cứu và giám sát, có thể duy trì một số hoạt động truyền thống củangười dân địa phương cho phù hợp Vùng lõi gồm: vùng lõi phía ĐôngNam, và vùng lõi phía tây Bắc có diện bao gồm cả phần đảo và biển

Trang 30

Vùng đệm là vùng tiếp giáp vùng lõi, có thể tiến hành các hoạt độngkinh tế, nghiên cứu, giáo dục và giải trí nhưng không làm ảnh hưởng đếnmục đích bảo tồn trong vùng lõi Ở Cát Bà gồm hai vùng đệm là vùng đệmtrung tâm nằm giữa vùng lõi Đông Nam (vùng đệm Việt Hải) có diện tích

141 ha và vùng đệm tiếp giáp Đây là vùng có chức năng phát triển điềuhoà, tôn trọng hiện trạng, phù hợp với tiêu chí bảo tồn của vùng lõi, vì vậyphải đảm bảo sự phát triển hạn định trong vùng này

Vùng chuyển tiếp là vùng ngoài cùng, các hoạt động kinh tế ở đâyvẫn duy trì bình thường, trong đó nhân dân địa phương cùng với các nhàkhoa học, bảo tồn, công ty tư nhân, các tổ chức xã hội thoả thuận để cùngquản lý và phát triển bền vững nguồn lợi tài nguyên thiên nhiên mà Vườnquốc gia đem lại, gồm vùng chuyển tiếp phía Nam và vùng chuyển tiếpphía Bắc (xã Gia Luận) Vùng này tập trung đông dân cư nên chú trọngkhuyến khích phát triển cộng đồng, vùng nông thôn như: Nuôi trồng thuỷsản, dịch vụ du lịch, đào tạo lao động có tay nghề kỹ thuật cao để phát triểnnghề cá khơi và du lịch, dịch vụ

2.1.2 Điều kiện tự nhiên.

2.1.2.1 Vị trí địa lí.

Huyện đảo Cát Hải của Hải Phòng có toạ độ địa lý là 1060

50’-107005’ kinh độ đông, 20042’-20053’ vĩ độ bắc Cát Hải có diện tích 322,3

km2 bao gồm hai đảo là đảo Cát Hải có diện tích 30km2 và đảo Cát Bà códiện tích gần 300 km2

Đảo Cát Bà có toạ độ địa lý 20047’46” bắc và 106045’00” đông,phần đảo nổi Cát Bà có diện tích 144 km2 gồm 18 thôn xóm thuộc 6 xã và 1thị trấn

Vườn quốc gia Cát Bà nằm trong khu vực địa lý của đảo Cát Bà Cótoạ độ địa lý :

Trang 31

20043’50” đến 20051’29” vĩ độ bắc

106058’20” đến 107010’05” kinh độ đông

Theo ranh giới phía nam, tây nam và tây bắc, từ phía nam của đảoBầu Dê theo hướng tây đến cửa Hòn Cát Dứa vòng đến cửa Áng Ven, quaĐồng tép nối với đỉnh khoăn Đà Lát theo đường phân thuỷ của dãy núichạy dọc theo ranh giới các xã Trân Châu, Xuân Đán, Hiền Hào tới điểmdốc eo Bùa

2.1.2.2 Địa hình.

Nằm trên Đảo Cát Bà nên địa hình vườn quốc gia Cát Bà mang đặcđiểm địa hình của đảo Cát Bà Địa hình của vườn mang đặc trưng của địahình đá vôi cacsto và địa hình bài bốc

- Địa hình Cacsto.

Với chiều dài khoảng 25 km chạy theo hướng tây bắc- đông namchiều rộng khoảng 10 km, bề mặt địa hình khá hiểm trở xen kẹp nhữngđỉnh núi cao từ 50-200m, có các thành dốc dựng đứng 300-400m là cácthung ang và cánh đồng cacsto Cánh đồng cacsto lớn nhất là áng TrungTrang (lâm trường Cát Bà) có diện tích 300 ha khá bằng phẳng hình thànhgiải đồng bằng trùng với hướng phát triển hệ thống đứt gẫy kiến tạo tây bắc– đông nam chạy giữa đảo

Trang 32

trầm tích ở đây chủ yếu là sản phẩm phá huỷ do phong hoá từ đá vôi, đásilic

2.1.2.3 Khí hậu thuỷ văn.

- Khí hậu.

Nằm ở vùng đông bắc nên khí hậu của Hải Phòng, Cát Bà nói chung

và của Vườn quốc gia Cát Bà nói riêng mang những đặc điểm chung củakhí hậu miền bắc nước ta, đồng thời nằm trên đảo nên Vườn cũng mangđặc điểm của khí hậu của các vùng ven biển Đặc biệt huyện Cát Hải là mộtđảo nhỏ riêng biệt với đất liền nên bị chi phối nhiều của khí hậu đại dương

Nằm trong vành đai khí hậu nhiệt đới nội chí tuyến, khí hậu miềnbắc nước ta nói riêng mang tính chất nhiệt đới nóng ẩm Tổng nhiệt độ cảnăm dao động từ 80000C-85000C Nhiệt độ trung bình tháng khu vực Cát

Bà dao động từ 160C đến 29,20C, trung bình năm dao động từ 21,50C đến24,50C Trung bình nhiều năm là 230C Tương ứng với nhiệt độ trung bìnhnăm là tổng nhiệt trên khu vực Cát Bà dao động trong khoảng 80000C đến

Biến đổi nhiệt độ trong ngày, đêm thường thấp nhất vào buổi sángrồi tăng dần đến trưa đạt giá trị cực đại sau đó là giảm cho đến sáng

- Độ ẩm.

Độ ẩm không khí trung bình tháng tại khu vực Cát Bà dao độngtrong khoảng từ 80-92% Biến trình năm của độ ẩm tương đối đạt lớn nhấtvào tháng 3 (>90%) vào tháng 8 (>86%) và đạt cực tiểu vào tháng 11,tháng 12 (76,78%) Độ ẩm tương đối khu vực Cát Bà trung bình năm đạt

Trang 33

85,9% Về mùa đông độ ẩm phân bố tương đối phù hợp với lượng mưa, nơimưa nhiều độ ẩm lớn, nơi mưa ít độ ẩm nhỏ Độ ẩm cao thường xuất hiệnvào ban đêm, độ ẩm cao nhất thường vào khoảng 4-6 giờ, ban ngày độ ẩmthấp nhất vào khoảng 12- 13 giờ.

- Mưa.

Lượng mưa hàng năm ở Cát Bà dao động trong khoảng từ 1800mm (số liệu từ 1992-1998) Bình quân nhiều năm đạt 1661mm, mưatập trung vào mùa hè Lượng mưa từ tháng 5 đến tháng 10 chiếm khoảng70% -90% lượng mưa cả năm Lượng mưa 6 tháng còn lại chỉ chiếm từ 10-30% Tháng 12, tháng 1, tháng 2 có lượng mưa nhỏ nhất, dao động từ10mm-20mm Lượng mưa bình quân trong 6 tháng mùa mưa dao động từ200mm-300 mm, lượng mưa tháng 7, tháng 8 lớn nhất đạt trên 300mm Sốngày mưa trung bình hàng năm tại Cát Bà là 95 ngày Tháng 7, tháng 8 có

1500mm-số ngày mưa lớn nhất trong năm

2.1.3 Điều kiện kinh tế-xã hội.

Đảo Cát Bà có diện tích trên 29000 ha chủ yếu là đồi núi xen kẽ vớicác thung sâu Do điều kiện thiếu nước ngọt khu vực này chỉ trồng đượcmột vụ lúa năng suất thấp và một số lọai cây màu, cây ăn quả và cây côngnghiệp Men theo bờ biển là hệ thống eo, vụng, vịnh, bãi triều rất thuận tiệncho việc nuôi trồng và đánh bắt thuỷ sản, có nhiều bãi tắm đẹp như Cát cò1,2,3… tạo điều kiện cho phát triển du lịch

2.1.3.1 Hiện trạng dân cư.

Khu vực Đảo Cát Bà cơ bản có thị trấn Cát Bà và 6 xã như: Xã PhùLong, Gia Luận, Hiền Hào, Xuân Đán, Việt Hải, Trân Châu Trong đó cómột xã nằm chọn trong phạm vi vườn quốc gia là xã Việt Hải Dân số đảovào năm 1999 là 10631 người trong đó dân số thị trấn Cát Bà là 7510người Mật độ dân cư trung bình thị trấn Cát Bà là 88 người/ km2, xã Việt

Trang 34

Hải là xã có diện tích tự nhiên lớn thứ nhì trong huyện nhưng dân cư thưathớt với mật độ chỉ 3 người/ km2.

2.1.3.2 Hiện trạng cơ sở hạ tầng

Trong những năm gần đây tình hình cơ sở hạ tầng của đảo được cảithiện đáng kể Trong những năm qua cùng với sự phát triển chung của cảnước nói chung và của Hải Phòng nói riêng, đảo Cát Bà cũng được đầu tưcác dự án về điện, đường, nước sạch….Những năm qua các dự án hoànthành và đưa vào sử dụng kể từ năm 1990 đến nay đã phát huy tốt hiệu quảđầu tư như các dự án: Dự án xây dựng đường điện 35KW ra đảo (11/2002),

dự án đường xuyên ra đảo Hải Phòng - Cát Hải - Cát Bà (hoàn thành4/2002), dự án cấp nước thị trấn Cát Bà (lấy từ khe Sâu, xã trân Châu), dự

án đường hồ, trạm xử lý nước thải Tùng Dinh - thị trấn Cát Bà

2.1.3.3 Hiện trạng phát triển kinh tế- xã hội.

Với đặc điểm là một huyện đảo ở Cát Bà cũng phát triển các ngànhnghề đặc trưng như nuôi trồng thuỷ sản, khai thác thuỷ sản, chế biến thuỷsản Bên cạnh đó được thiên nhiên ban tặng phong cảnh hùng vĩ, nên thơ,đồng thời có các bãi tắm đẹp như cát cò 1, 2, 3 đặc biệt là có vườn quốcgia Cát Bà với đa dạng sinh học phong phú và nhiều loài động vật quýhiếm là điều kiện phát triển ngành du lịch

- Ngành du lịch.

Cát Bà đã tận dụng được ưu thế về vị trí địa lý và tài nguyên thiênnhiên cho việc phát triển ngành du lịch Ngày càng có nhiều khách sạn vànhà hàng được xây dựng để phục vụ du khách đến thăm đảo, đồng thời chấtlượng các dịch vụ cũng ngày càng được nâng lên rõ rệt để thu hút dukhách

Thực tế chứng minh, trong những năm gần đây lượng khách du lịchđến thăm đảo ngày càng nhiều, Cát Bà cơ bản trở thành một trung tâm dulịch có sức hấp dẫn của thành phố và khu vực Lượng khách du lịch đến

Trang 35

Cát Bà tăng từ 25000 lượt năm 1996 lên 75000 lượt năm 1998 và năm

2003 là 220500 lượt Riêng với khách du lịch nước ngoài tăng từ 600 vàonăm1998 lên 15000 vào năm 2003, đến hết năm 2005 số lượng khách dulịch đến với Cát Bà đạt 435000 lượt trong đó người nước ngoài là 122000lượt

Qua con số thống kê về lượng khách du lịch đến thăm đảo chúng ta

có thể thấy sự phát triển nhanh chóng trong ngành du lịch trên đảo, đặc biệt

là khi đường giao thông xuyên ra đảo hoàn thành Đồng thời cũng thấyđược sức phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch trong những năm sắp tới

- Ngành dịch vụ hậu cần nghề cá.

Trên đảo Cát Bà có cảng cá Cát Bà (khu Tùng Vụng) đã hoàn thànhphần cầu cảng với tổng chiều dài 155m có khả năng tiếp nhận tầu đánh cá400-500cv, phần cầu cảng cá Cát Bà có số lượng tàu thuyền đánh cá cậpbến lớn nhất trong số các cảng cá Hải Phòng và vịnh bắc bộ Hầu như tất cảcác tầu thuyền lớn đều nhận dầu tại vịnh Cát Bà

Trong vịnh luôn thường trực 4-5 xà lan có sức chứa 100-150 tấn dầu.Trên đảo không có kho dầu dự trữ cho các hoạt động sản xuất kinh doanh.Vịnh cát Bà là một trong những vị trí neo đậu tránh trú gió bão lớn với sứcchứa 800 chiếc /600cv

- Khai thác thuỷ sản.

Thị trấn Cát Bà và xã Trân Châu nghề nghiệp chủ yếu là rê 3 lớp,nghề câu, nghề đăng đáy và một số tàu chụp mực nhỏ, các tàu đánh cá lớncủa thành phố đều lấy vịnh Cát Bà làm căn cứ để ra khơi đánh cá và bánsản phẩm, nhận dầu

Nhìn chung Cát Bà có tiềm năng khai thác thuỷ sản nhưng chưađược đầu tư phù hợp về phương tiện đánh bắt nên quy mô khai thác cũngnhư hiệu quả hai thác còn hạn chế, đây là cơ hội để Cát Bà phát triển trongtương lai

Trang 36

Bảng2.1.3.3: Danh sách các cơ sở chế biến thuỷ sản tại Cát Bà.

Sx nước mắm và bột cá

(Nguồn, UBND huyện Cát Bà, năm 2005)

- Nông nghiệp.

Do địa hình của đảo chủ yếu là cacsto, đá vôi nên ở Cát Bà không cóđiều kiện thuận lợi cho phát triển ngành nông nghiệp Tổng diện tích lúa cảnăm tập trung chủ yếu tại các xã Xuân Đán (48 ha), Trân Châu(15 ha), ViệtHải (15 ha), Hiền Hào (8 ha) Bên cạnh trồng một vụ lúa năng suất khôngcao, ở Cát Bà còn trồng một số loại hoa màu, cây công nghiệp nhưng nóichung thì sản lượng không cao, chưa đáp ứng được nhu cầu trên đảo

- Y tế

Trên đảo Cát Bà hiện có một trung tâm y tế huyện đóng tại thị trấnCát Bà và 7 trạm y tế đóng tại 6 xã, riêng xã Trân Châu có 2 trạm y tế xã

Trang 37

2.1.4 Các giá trị và vai trò của Vườn quốc gia Cát Bà

2.1.4.1 Các giá trị của vườn quốc gia Cát Bà.

Vườn quốc gia Cát Bà với đặc trưng bao gồm hai phần là Đảo Cát

Bà và một phần biển xung quanh nên ở vườn quốc gia Cát Bà có nhiều loại

hệ sinh thái tiêu biểu của Việt Nam như rừng ngập mặn, rừng mưa nhiệtđới thường xanh quanh năm, rạn san hô, thảm rong… Do vậy mà đa dạngsinh học ở đảo Cát Bà nói chung và Vườn quốc Gia Cát Bà nói riêng là rấtphong phú Theo thống kê cho đến nay riêng khu vực Cát Bà có tới 2320loài động vật và thực vật đang sinh sống bao gồm:

(Nguồn:Theo ghi chép của nhóm nghiên cứu thực địa tại Cát Bà, năm 2005)

Đặc biệt trong số trên 2000 loài động thực vật tại đảo cơ bản có tới

60 loài được coi là đặc hữu và quý hiếm được đưa vào sách đỏ của ViệtNam và thế giới

Trong đó động vật trên cạn có khoảng 30 loài như: đồi mồi, quảnđồng, ác là, quạ khoang, Voọc đầu trắng, Voọc quần đùi trắng, trăn đất, kì

đà nước, rắn hổ chúa, khỉ mặt đỏ, khỉ đuôi lợn, sơn dương, hươu sao

Thực vật trên cạn là 27 loài như: Chi đài, kim giao, lát hoa, re hương,thổ phục linh, trúc đũa, sến mật, và có thêm 8 loài rong biển cần được bảo

vệ như: Rong mơ mền, rong đá cong, rong thun thút, rong thuốc giun, cácloài vật đáy có 7 loài như: ốc đục cái, trai ngọc, bàn mai, con sút, vẹmxanh, mực nang vân hổ

Trang 38

2.1.4.2 Vai trò của Vườn quốc gia Cát Bà.

Là vườn quốc gia đầu tiên của Việt Nam vừa có đảo vừa có biển, đặctrưng này quy dịnh nên vai trò hết sức quan trọng của Vườn quốc gia Cát

Bà Sự phong phú, đa dạng của các loài động thực vật thêm vào đó là sựtồn tại của nhiều loài động thực vật quý hiếm được ghi vào sách đỏ đã tạonên lợi thế cho Vườn so với các khu vực bảo tồn khác của Việt Nam

Vườn quốc gia Cát Bà không chỉ có vai trò quan trọng với Việt Nam

và đối với cả thế giới Tầm quan trọng của vườn quốc gia Cát Bà còn đượcnâng lên khi ở đây là nơi duy nhất trên thế giới còn tồn tại loài Voọc đầutrắng tuy là với số lượng không lớn lắm, được coi là một trong hai loài linhtrưởng quý hiếm nhất thế giới

Vai trò quan trọng của Vườn quốc gia Cát Bà đã được thể hiện rõtrong chiến lược bảo tồn của chính phủ Việt Nam khi chính phủ quyết địnhcoi Vườn là khu vực bảo tồn đa dạng sinh học được ưu tiên nhất của ViệtNam Tầm quan trọng của vườn quốc gia Cát Bà nói riêng và đảo Cát Bànói chung càng được khẳng định rõ khi tháng 11 năm 2004 Quần đảo Cát

Bà được UNESCO công nhận là khu vực bảo tồn sinh quyển trên thế giới

Với vị trí quan trọng của mình đối với Việt Nam và thế giới là mộtlợi thế để thu hút sự quan tâm của các tổ chức, quốc gia nhưng đồng thờicũng đặt ra những khó khăn, sức ép trong việc bảo tồn

2.1.5 Giới thiệu về loài voọc đầu trắng tại vườn quốc gia Cát Bà.

Voọc Cát Bà hay còn gọi là Voọc đầu trắng có tên khoa học là

(trachypihecus) là loài linh trưởng cỡ lớn, thuộc họ khỉ, bộ linh trưởng.

Voọc đầu trắng trưởng thành có trọng lượng cơ thể từ 5-10kg, chiều dài cơthể từ đầu và thân là 0,41m - 0,95m Đầu và vai ở con đực lông màu trắngnhạt, ở con cái lông màu thẫm hơn, vùng mông có vệt lông đuôi màu đen.Lúc mới sinh ra chúng có màu vàng vàng lớn len thì chuyển sang đentrắng

Trang 39

Thức ăn chủ yếu của Voọc đầu trắng là chồi non, lá non, và quả câyrừng Voọc đầu trắng sống thành từng đàn từ 10- 15 con và chúng rất dạnngười Trong đàn Voọc con đi đầu đàn thường là con đực, chúng thườngđứng trên vách đá, quan sát vì thế chúng thường bị bọn săn trộm bắn trước.Voọc Cát Bà có những tập quán rất thú vị, có lúc chúng ngồi yên như photượng nhưng có lúc lại rất linh hoạt

Hiện nay Voọc đầu trắng chỉ còn khoảng 60 cá thể Trước đây Voọccòn nhiều 2400-2700 cá thể giảm xuống 200 cá thể vào những năm 80 vàđến năm 2000 chi còn 105-135 cá thể Sự giảm số lượng Voọc nhanhchóng như vậy là do nạn săn bắn Voọc để lấy xương nấu cao, lấy nước giảicủa Voọc hay làm thức ăn cho khách du lịch Trong những năm gần đây do

có sự quản lý chặt chẽ và các hoạt động bảo tồn Voọc mà số lượng Voọcđược ổn định

2.2 THỰC TRẠNG BẢO TỒN TẠI VƯỜN QUỐC GIA CÁT BÀ TRƯỚC KHI CÓ DỰ ÁN

2.2.1 Thực trạng quản lý tại Vườn quốc gia Cát Bà.

Vườn quốc gia Cát Bà được thành lập theo quyết định 78-CT ngày

31 tháng 3 năm 1986 của chủ tịch hội đồng Bộ Trưởng Vườn quốc gia Cát

Bà trước đây thuộc Bộ Lâm Nghiệp quản lý, hiện nay chịu sự quản lý trựctiếp của thành phố Hải Phòng Ban quản lý vườn gồm 1 giám đốc, 1 phógiám đốc, và các nhân viên hành chính khác Có trách nhiệm trước nhànước về quản lý, bảo vệ, xây dựng và sử dựng Vườn theo các quy định củapháp luật

Thực hiện các biện pháp nhằm phát triển bền vững tài nguyên sinhvật, tài nguyên đất, tài nguyên nước Đồng thời phối hợp với cấp chínhquyền địa phương để bảo vệ các tài nguyên thiên nhiên khác, thực hiện cácbiện pháp phòng tránh, chữa cháy, phòng trừ sâu bệnh, ngăn chặn các hành

vi gây thiệt hại đến rừng

Trang 40

* Về cơ sở hạ tầng hiện nay tại vườn

Cơ sở hạ tầng của vườn vẫn còn rất sơ sài bao gồm:

- Một khu nhà làm việc của ban quản lý vườn kết hợp với nhà nghỉcủa khách, có khu nhà của cán bộ công nhân viên quản lý vườn, nhìn chungbây giờ đã xuống cấp

- Một khu nghiên cứu và nuôi chim thú bán tự nhiên rộng khoảng350m2 nhưng còn thô sơ chưa đủ điều kiện, tiêu chuẩn

- Một số cơ sở trưng bày mẫu động vật, thực vật và phòng thínghiệm

- Ngoài ra còn có 10 trạm bảo vệ, 3 chòi quan sát, một số máng ăn,sân ăn, máng uống cho chim thú và các chuồng dẫn dụ

- Về đường giao thông chỉ có 2km đường Vườn trung tâm còn khangtrang 12500m đường tuần tra bảo vệ rừng đi lại rất khó khăn

- Hệ thống thông tin liên lạc, điện, nước còn thiếu thốn và chưa đápứng được nhu cầu của Vườn

* Về tài chính.

Hoạt động của vườn dựa trên nguồn ngân sách nhà nước cấp hàngnăm khoảng 500 triệu một năm, ngoài ra từ nguồn thu từ bán vé vào thămvườn, và các hoạt động viện viện trợ, các hoạt động nghiên cứu được sửdụng từ vốn sự nghiệp khoa học theo kế hoạch hàng năm

2.2.2 Những vấn đề trong việc bảo tồn mà Vườn quốc gia Cát Bà gặp phải trước khi có dự án.

2.2.2.1 Tình hình thực tế mà loài Voọc đầu trắng tại vườn đang gặp phải

Hiện tại số lượng Voọc trên đảo còn rất ít chỉ con khoảng 60 con Sốlượng Voọc trên đảo hiện tại bị chia nhỏ thành bảy nhóm tách biệt, trong

đó có hai nhóm không còn khả năng sinh sản, mà nguyên nhân phân tánđàn Voọc là do:

Ngày đăng: 19/02/2014, 11:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đỗ Thị Kim Chi, Quản lý môi trường dựa vào cộng đồng- một cách tiếp cận hướng tới phát triển bền vững,, bài giảng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý môi trường dựa vào cộng đồng- một cáchtiếp cận hướng tới phát triển bền vững
2. Mai Loan, Bảo vệ môi trường có sự tham gia của cộng đồng, mô hình điển hình và khả năng nhân rộng, Tạp chí tài nguyên và môi trường số 12(38) - 12/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ môi trường có sự tham gia của cộng đồng, môhình điển hình và khả năng nhân rộng
7. Hội bảo vệ tài nguyên và môi trường Việt Nam “ Việt Nam_ Môi trường và cuộc sống, Nhà xuất bản chính trị Quốc gia, Hà Nội 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Việt Nam_ Môitrường và cuộc sống
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị Quốc gia
8. Trung tâm tài nguyên và môi trường, Đại học quốc gia Hà Nội biên dịch, Cứu lấy trái đất- chiến lược cho sự cuộc sống bền vững, Nhà xuất bản khoa học- Kĩ thuật, Hà Nội 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cứu lấy trái đất- chiến lược cho sự cuộc sống bền vững
Nhà XB: Nhàxuất bản khoa học- Kĩ thuật
9. Quy định số 256/2003/QĐ-TTg, ngày 2-12-2003 của thủ tướng chính phủ về việc phê duyệt chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 256/2003/QĐ-TTg, ngày 2-12-2003 của thủ tướngchính phủ
10. Dự án kinh tế chất thải, Kinh tế chất thải, tài liệu cho các khoá đào tạo về quản lý tổng hợp chất thải, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội - 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế chất thải, tài liệu cho các khoá đàotạo về quản lý tổng hợp chất thải
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
4. Viện chiến lược, Báo cáo diễn biến môi trường Việt Nam (2005)- Đa dạng sinh học Khác
5. Bộ tài nguyên môi trường, Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia, phần tổng quan năm 2005 Khác
6. Bộ KH, CN và MT, Cục MT, Tài liệu tập huấn về quản lý và kiến thức môi trường Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1.4.2  Sơ đồ xác định các chỉ tiêu, mục tiêu. - bước đầu nghiên cứu mô hình quản lý bảo tồn loài voọc dựa vào cộng đồng ở vườn quốc gia cát bà
Hình 1.1.4.2 Sơ đồ xác định các chỉ tiêu, mục tiêu (Trang 14)
Hình 2.3.2.3: Sơ đồ mô hình quản lý - bước đầu nghiên cứu mô hình quản lý bảo tồn loài voọc dựa vào cộng đồng ở vườn quốc gia cát bà
Hình 2.3.2.3 Sơ đồ mô hình quản lý (Trang 51)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w