Các khái niệm liên quan đến hạch toán quản lý môi trường Để nắm vững được khái niệm EMA là gì trước tiên cần phải hiểu cáckhái niệm liên quan để thấy được vai trò và tầm quan trọng của E
Trang 1Khi đời sống của người dân được nâng cao thì nhận thức về môi trườngngày càng phát triển họ bắt đầu có những đòi hỏi sản phẩm và hoạt động sảnxuất “thân thiện với môi trường” hơn Đồng thời các doanh nghiệp cũng chịu
áp lực từ phía các nhà đầu tư, người lao động, các cơ quan pháp luật, ngânhàng…Chính vì vậy mà các doanh nghiệp cần phải có sự tiếp cận với phươngpháp hạch toán quản lý môi trường mới ngoài cách quản lý truyền thống hiệnnay Với phương pháp này toàn bộ các chi phí môi trường được phân biệt rõràng với các chi phí khác, từ đó cho doanh nghiệp xác định rõ các chi phí môitrường trong quản lý và sản xuất, giúp doanh nghiêp đánh giá được đầy đủcác chi phí môi trường trực tiếp và gián tiếp vào trong bảng cân đối thu chinội bộ của doanh nghiệp và phân bổ nó hợp lý hơn đối với từng sản phẩm.Các doanh nghiệp cần xem xét vấn đề môi trường một cách hệ thống và cóphương pháp để đảm bảo duy trì mục đích cao nhất là lợi nhuận Cần phảibiết chi phí môi trường gồm những chi phí gì, chiếm bao nhiêu phần trămtrong giá thành sản phẩm, những hoạt động nào làm tăng chi phí môi trường
Từ đó để phát triển sản xuất, kinh doanh bền vững, giảm thiểu những tác động
ô nhiễm trực tiếp bằng các hệ thống xử lý hoặc gián tiếp bằng các hoạt độngnhằm nâng cao ý thức, sức khoẻ, và cải thiện điều kiện làm việc cho cán bộ
Trang 2công nhân viên Mặt khác có thể giảm hoặc tránh được các chi phí môi trườngqua các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm như thay đổi sản phẩm, thay nguyênliệu đầu vào, cải tiến quá trình hoạt động…
Do đó tôi quyết định chọn đề tài : “ÁP dụng hạch toán quản lý môi
trường tại công ty giấy Bãi Bằng”.
Đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Phương pháp luận về Hạch toán quản lý môi trường
Chương 2: Hạch toán chi phí môi trường
Chương 3: Ứng dụng hạch toán quản lý môi trường tại Công ty giấy BãiBằng
2 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu việc áp dụng Hạch toán quản lý môi trường tại công
ty giấy Bãi Bằng, để từ đó nhận dạng toàn bộ chi phí môi trường trong tổng chi phí, và thể hiện nó trên bảng báo cáo thu chi của công ty
3 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp như:
- Phương pháp phân tích giá thành
- Phương pháp điều tra, thống kê
Trang 3CHƯƠNG 1 PHƯƠNG PHÁP LUẬN HẠCH TOÁN
QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG
1.1 Các khái niệm liên quan đến hạch toán quản lý môi trường
Để nắm vững được khái niệm EMA là gì trước tiên cần phải hiểu cáckhái niệm liên quan để thấy được vai trò và tầm quan trọng của EMA
Trước hết là khái niệm Hệ thống hạch toán môi trường là một cơ chế quản trịkinh doanh, cho phép doanh nghiệp xác định, phân tích, tổng hợp các chi phí vàhiệu quả bảo vệ môi trường trong quá trình hoạt động kinh doanh nhằm nâng caohiệu quả bảo vệ môi trường thiên nhiên duy trì mối quan hệ thân thiện với cộngđồng xã hội theo nguyên tắc phát triển bền vững Mặt khác, hạch toán môi trườngcũng có thể được hiểu là một thuật ngữ rộng đề cập tới sự hoà nhập của yếu tố chiphí và thông tin môi trường vào những nội dung khác nhau của hệ thống hạchtoán kinh doanh của doanh nghiệp Do đó hạch toán môi trường là một phươngpháp trợ giúp cho quá trình ra quyết định kinh doanh có tính đến các cơ hội vàthách thức môi trường doanh nghiệp ngày nay đang phải đối mặt
Hệ thống hạch toán môi trường có thể chia làm 3 loại:
* Hạch toán quản lý môi trường (EMA)
* Hạch toán môi trường bên ngoài (EEA), cả tiền tệ và phi tiền tệ
* Các hệ thống hạch toán môi trường khác
Hạch toán quản lý (MA) là quá trình xác định, thu thập, phân tích cácthông tin cho mục đích kinh doanh của công ty theo nguyên tắc đã định Vìmục đích chính của MA là giúp cho quá trình ra quyết định về quản lý kinhdoanh nên nó cũng được xem xét kỹ càng MA có thể bao gồm các dữ liệu vềchi phí, mức độ sản xuất, tồn kho, ứ đọng và các khía cạnh quan trọng kháccuả kinh doanh Các thông tin thu thập được từ hệ thống MA được sử dụng để
Trang 4lập kế hoạch, đánh giá và kiểm soát bằng nhiều cách Hiểu theo cách thôngthường, MA là một công cụ quản lý bên ngoài quyết định cho cả các tổ chức
Vậy MA có thể định nghĩa “ MA là sự nhận dạng, đo lường, tích luỹ,
phân tích, chuẩn bị, giải thích và truyền đạt thông tin giúp đỡ các nhà quản
lý thực hiện các mục tiêu của tổ chức”
Có thể xem xét nhiều khía cạnh khác nhau của MA:
- Là một phần của công tác quản lý thông tin nội bộ, phần này liên quanđến vấn đề thu thập thông tin tiền tệ và phi tiền tệ nhưng những thông tin nàyphải xác định và đo đạt được
- Hỗ trợ công tác ra quyết định ở mọi cấp trong một công ty là làm thếnào đạt được mong muốn, mục tiêu từ cấp quản lý cao nhất đến các cấp quản
lý sản xuất, bộ phận
- Hỗ trợ việc lập kế hoạch hành động, và chiến lược, hình dung đượcmục tiêu, dự đoán trước các kết quả tiềm năng theo các hoàn cảnh và các cáchkhác nhau để đạt mục tiêu Một mục tiêu thích hợp có thể là cải thiện hiệu quảsinh thái của doanh nghiệp Điều này có thể được thực hiện qua việc giớithiệu một hệ thống có khả năng đo lường các quá trình kinh tế và môi trườngnhằm hướng tới hiệu quả sinh thái
- Có tác dụng bổ trợ cho việc hạch toán bên ngoài công ty như hạch toántài chính và hạch toán thuế
Trang 5Thông qua các chức năng chủ yếu của mình, MA cung cấp thông tinthích hợp để có được cách thức quản lý công ty tiết kiệm nhất Khi các vấn đềmôi trường bắt đầu có ảnh hưởng ngày càng lớn đến việc thực hiện kinh tếcủa doanh nghiệp, do đó ảnh hưởng đến hiệu quả sinh thái của công ty nênchúng cần được thể chế hoá trong các hệ thống MA.
MA là công cụ thông tin nội bộ cung cấp cho chúng ta mọi thông tin màchúng ta cần nhưng thông tin đó được đưa ra bên ngoài hay không là hoàntoàn tự nguyện MA bao gồm cả EMA, nó là một công cụ bên trong khônglàm nhiệm vụ thiết lập báo cáo bên ngoài mà cung cấp thông tin để ta có thểlập báo cáo tốt MA cho ta thông tin liên quan đến sản phẩm và quy trình sảnxuất cụ thể cho khách hàng
Hình 1: Sơ đồ hạch toán quả lý và hạch toán bên ngoài công ty
Câu hỏi mà các nhà quản lý cao nhất của một công ty thường đưa ra là:
“Tôi có cần thông tin môi trường để ra quyết định quản lý của công ty?” Bởi
vì đa số doanh nghiệp đều nghĩ rằng vấn đề môi trường không quan trọng
Hạch toán quản lý (bao gồm cả hạch toán quản lý môi trường)
Thông tin hạch toáncho khách hàng
Hạch toán môi trường
Hạch toán khác
HẠCH TOÁN NGOÀI CÔNG TY
HẠCH TOÁN NỘI BỘ
Trang 6hoặc ít ảnh hưởng đến vấn đề kinh doanh của họ.Theo điều tra thì khi hỏi cáccấp quản lý khác nhau trong một công ty rằng họ nghĩ thế nào về chi phí domôi trường gây ra thì đa số họ đánh giá, ước tính chi phí môi trường chiếmkhoảng 3% trong tổng chi phí của doanh nghiệp, nhưng sau kết quả đo đạc cụthể thì các chuyên gia EMA đã chứng minh rằng các chi phí dành cho môitrường không phải là 3% mà thực chất nó chiếm tới 22% trên tổng chi phí củatoàn doanh nghiệp Lý do của sự sai khác này không phải do công ty không
có cán bộ kế toán giỏi mà do chi phí môi trường bị ẩn trong chi phí quản lýchung và một số chi phí khác EMA sẽ giúp chúng ta có thể so sánh và cânnhắc hai mặt của các biện pháp môi trường của doanh nghiệp là tạo ra chi phí
và tạo ra lợi nhuận cần phải so sánh đúng, chính xác giữa các chi phí bỏ ra vàlợi ích thu được của doanh nghiệp
1.2 Khái niệm hạch toán quản lý môi trường
EMA là một phần của MA, nó được sử dụng để cung cấp thông tin choviệc ra quyết định cho một tổ chức Phương pháp luận của EMA được xemxét từ hai góc độ: công tác kế toán và công tác quản lý môi trường Mục tiêuchính của doanh nghiệp là tối đa hoá lợi nhuận và việc ra quyết định kinhdoanh của công ty liên quan đến khía cạnh môi trường thường bị xem nhẹ Dovậy nhiệm cụ của những kỹ sư, những nhà quản lý trong công ty phải có đầy
đủ thông tin để chỉ ra được những người ra quyết định thấy tầm quan trọngcủa môi trường liên quan đến hoạt động kinh doanh Câu hỏi đặt ra là hậu quảtài chính (có thể thu được hay mất đi) của các hoạt động môi trường là nhưthế nào? Những lợi ích từ các quyết định môi trường của doanh nghiệp haynói cách khác liệu có thể lồng ghép yếu tố môi trường vào trong quyết địnhcủa doanh nghệp hay không EMA là công cụ liên kết hai nhóm kỹ sư, nhữngngười quản lý môi trường với những người làm công tác tài chính, nhữngnhân viên kế toán của công ty
Trang 7Theo liên đoàn kế toán quốc tế (IFAC): EMA là quản lý hoạt động môi
trường và hoạt động kinh tế thông qua việc phát triển và thực hiện các hệ thống và phương thức thực hiện hạch toán liên quan đến môi trường
Bản chât của EMA: Là công cụ thông tin quản lý trong nội bộ công ty
* EMA có các chức năng sau:
- Hỗ trợ việc ra quyết định nội bộ trong hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp nhằm hướng tới hai mục đích là cải thiện kết quả hoạt động tài chính
và kết quả hoạt động môi trường
- Cung cấp thông tin về chi phí thông thường, chi phí liên quan đến môitrường, thông tin thực tế về các dòng vật chất và năng lượng
- Là cơ sở cho các nhiệm vụ bên ngoài công ty (như báo cáo tài chính,báo cáo môi trường)
EMA điển hình bao gồm chi phí vòng đời, hạch toán chi phí toàn bộ,đánh giá lợi ích và kế hoạch chiến lược cho quản lý môi trường Tuy nhiêntrong luận văn tốt nghiệp này sẽ tập trung vào hạch toán chi phí môi trường
và đánh giá lợi ích cho các hoạt động quản lý môi trường của doanh nghiệp.Ngoài ra cơ quan phát triển bền vững liên hợp quốc (UNDSD) năm 2001
đã đưa ra một định nghĩa khác về EMA Định nghĩa này cho thấy tầm quantrọng của hệ thống EMA tạo ra thông tin cho việc ra quyết định bên trong, nơi
mà thông tin có thể hoặc phi tiền tệ hoặc tiền tệ trong sự tập trung Như
UNDSD tuyên bố: “ Sử dụng thông tin EMA nói chung là cho việc tính toán
tổ chức bên trong và ra quyết định Các thủ tục EMA cho việc ra quyết định nội bộ của công ty bao gồm cả các thủ tục phi tiền tệ cho việc tiêu thụ nguyên liệu và năng lượng chôn lấp thải và thải bỏ cuối cùng, và các quy trình tiền tệ của các chi phí, các khoản tiết kiệm và doanh thu liên quan đến các hoạt động môi trường tiềm ẩn”.
EMA là một yếu tố không thể tách rời khỏi công việc quản lý trong mộtcông ty, nó là một trong những công cụ thông tin quan trọng nhất để nhậndạng, thu thập, ước lượng, phân tích tài chính và thông tin phi tài chính, báo
Trang 8cáo nội bộ sử dụng thông tin dòng phi tiền tệ (thông tin về nguyên vật liệu vàcác dạng năng lượng) thông tin chi phí môi trường khác mà dựa vào đó đưa racác quyết đinh ở một doanh nghiệp cụ thể.
* Lợi ích hạch toán quản lý môi trường
- Phát hiện các lợi ích tài chính và tiềm năng tiết kiệm chi phí khi nhậndạng các chi phí ẩn, các chi phí gián tiếp, từ đó tiết kiệm và giảm bớt các chiphí nguyên vật liệu, năng lượng, điện năng hay giảm được nhân công… mà
có thể đạt được thông qua việc nhằm vào các khía cạnh môi trường mà côngviệc kinh doanh đang phải đối mặt
- Hỗ trợ việc ra quyết định ở cấp quản lý cao nhất trong một chiến lượckinh doanh hay đầu tư công nghệ mới, mở rộng sản xuất…đặc biệt là các cơhội kinh doanh trong tương lai nhằm xác định được đầy đủ tất cả các thôngtin, các chi phí thực hiện của doanh nghiệp để vừa đảm bảo kết quả tài chínhvừa đảm bảo hiệu quả hoạt động môi trường Đặc biệt thông tin được sử dụngkhông chỉ tạo điều kiện thuận lợi cho việc ra quyết định mà nâng cao tinhthần trách nhiệm của các cấp quản lý và thúc đẩy các nhân viên chịu tráchnhiệm về sản phẩm, môi trường của doanh nghiệp
- Tạo ra lợi thế mang tính chiến lược, khi một doanh nghiệp nắm đượctoàn bộ các chi phí kể cả chi phí môi trường bị ẩn đi thì doanh nghiệp đó sẽ cólợi thế chiến lược rõ ràng so với doanh nghiệp mà không xác định được cácchi phí không nhận thấy
- Cung cấp thông tin đầy đủ cho các cổ đông, các khách hàng, đối táckinh doanh, các khách hàng và những bên liên quan làm hài lòng và củng cốlòng tin đối với họ, mặt khác vừa cải thiện được kết quả hoạt động kinh doanhvừa cải thiện được kết quả môi trường và tất nhiên sẽ nâng cao tính cạnhtranh và danh tiếng, hình ảnh của doanh nghiệp trên thị trường
EMA bao gồm các chi phí môi trường ước tính và đôi khi nó cũng đượcxem như là hạch toán chi phí, EMA có thể được sử dụng để hỗ trợ việc raquyết định liên quan đến thiết kế sản phẩm, thiết kế quy trình sản xuất, lựa
Trang 9chọn địa điểm nhà máy, quản lý chất thải, phân bổ chi phí, giá thành sảnphẩm…
Có nhiều khái niệm liên quan đến EMA khác như: Hạch toán môi trường(EA), hạch toán chi phí đầy đủ (FCA), đánh giá chi phí tổng cộng (TCA),hạch toán nguyên vật liệu, hạch toán tài nguyên và nhiều loại khác,
EMA giám sát và đánh giá thông tin chất lượng từ hệ thống hạch toán tàichính, MA và các số liệu về nguyên vật liệu cũng như các dạng năng lượngtrong mối quan hệ tương hỗ nhằm nâng cao hiệu quả của việc sử dụng nguyênvật liệu và năng lượng, giảm nhẹ các tác động của môi trường trong các hoạtđộng của công ty, sản phẩm và dịch vụ, giảm rủi ro môi trường và cải thiệncác kết quả quản lý cho doanh nghiệp
Các chi phí được xác định là sự tiêu thụ của các yếu tố sản xuất đượctính bằng đơn vị tiền tệ, là kết quả từ doanh thu của công ty Các chi phí nàykhông chỉ bao gồm việc giảm bớt vốn đối với đối tượng kinh doanh (ví dụ đốivới đầu ra) mà còn đối với đối tượng khác như chi phí xã hội, chi phí dokhông tuân thủ luật pháp và các quy định về môi trường (các khoản tiền phạt),các chi phí gây ra do các nhân tố bất thường (thiệt hại), chi phí do việc thựchiện chính sách kinh tế của chính phủ (thuế lợi tức) và các vấn đề khác (nhưcác chi phí giải trí, các chi phí trả cho việc chăm sóc thân thể)
1.3 Tổng quan hiện trạng ứng dụng phương pháp luận hạch toán quản lý môi trường
1.3.1 Những ứng dụng hạch toán quản lý môi trường trên thế giới
Năm 1998, tại phiên họp thường kỳ của Hội đồng bảo an liên hợp quốc
về phát triển bền vững, nhóm làm việc nhằm cải thiện vai trò của chính phủtrong việc thúc đẩy EMA đã được thành lập trong bối cảnh các cuộc thươnglượng về các công nghệ thân thiện môi trường Các buổi thảo luận đã chỉ rarằng một số chính phủ đã quan tâm đến việc thúc đẩy EMA, nhưng ít có sựthông tin giữa các cơ quan có liên quan Nhóm làm việc này đã họp 5 lầnkhác nhau tại các địa điểm khác nhau là thủ đô Washington vào tháng 8 năm
Trang 101999; thủ đô Viên, Áo vào tháng 5 năm 2000; tại Bon; Đức, vào tháng 11năm 2000; cuộc họp lần thứ tư đã được tổ chức tại Tokyo; Nhật Bản, vàotháng 6 năm 2001 và cuộc họp lần thứ 5 được tổ chức tại Bristol, vương QuốcAnh, vào tháng 2 năm 2002.
Những người tham gia trong nhóm làm việc đến từ các uỷ ban quốc tế
về môi trường và các bộ, các tổ chức quốc tế, công nghiệp, các công ty hạchtoán, các trường đại học, các cơ quan tổ chức quốc tế, cũng như từ cơ quan
“phát triển bền vững” của liên hợp quốc Tham gia cuộc họp còn có các đạibiểu từ các cơ quan chính phủ của Arhentina, Autralia, Áo, Braxin, Canada,Trung quốc, Clômbia, Cộng hoà Séc, Đan mạch, Ai cập, Phần lan, Đức,Hungari, Ấn Độ, Italia, Nhật bản, Mexico, Nepan, Hà lan, Nauy, philipin,Balan, Bồ đào nha, Nước cộng hoà Sovak, Thuỵ Điển, Anh, Mỹ, Zimbabuê
Mục đích của các cuộc họp này là nhằm xác định rõ các quá trình vànguyên tắc cho EMA, tập trung vào các cách thức để xác định các chi phí môitrường và các chi phí này được xem như cơ sở cho sự phát triển của cáckhung EMA mang tính chất quốc gia Và kết quả của các cuộc gặp này là việc
xuất bản cuốn sách “ Quy trình và nguyên tắc hạch toán quản lý môi trường”
do cơ quan phát triển bền vững của liên hợp quốc biên soạn và cung cấp chochính phủ và các tổ chức doanh nghiệp cũng như những người quan tâm đếnEMA ở các quốc gia trên thế giới
Điển hình là rất nhiều trường hợp nghiên cứu mô tả những cố gắng củachính phủ nhằm hỗ trợ và xúc tiến sự phát triển phương pháp luận EMA ở cácquốc gia EMA chủ yếu được nghiên cứu và được xúc tiến nhờ các cơ quancủa chính phủ, tuy nhiên cũng có một số chường trình được ra đời từ sự giúp
đỡ của các chính quyền địa phương và khu vực Ví dụ như một số các chínhsách hay chương trình nghiên cứu đã được khởi xướng bởi các cơ quan chínhphủ như Văn phòng quốc gia của chính quyền địa phương Autralia, chươngtrình phát triển của Liên hợp quốc, văn phòng tổng thống Mỹ, hay dự án Hà
Trang 11Lan đã sáng kiến với sự hỗ trợ ngang nhau từ 5 bộ quốc gia, chỉ 2 trong số các
bộ này có nhiệm vụ về môi trường cụ thể
Một vài ứng dụng EMA trên thế giới:
Ứng dụng đầu tiên là dự án: “Giảm đến mức tối thiểu chất thải doanh
nghiệp và các chi phí môi trường” do Bộ Nông Nghiệp và Lâm nghiệp, môi
trường và quản lý chất thải của Áo chịu trách nhiệm với đối tác là Viện quản
lý môi trường kinh tế và trường đại học công nghệ Graz thực hiện Dự ánnhằm mục đích tiếp cận các chương trình SXSH nhằm đem lại hiệu quả kinh
tế kết hợp với các công nghệ giảm đến mức tối thiểu chất thải với việc giảmcác chi phí môi trường như chi phí xử lý và chôn lấp; chi phí nhân công; chiphí các dịch vụ bên ngoài; chi phí tài chính đầu tư cho môi trường; ước tínhrủi ro… hướng phát triển tiếp theo của dự án này là đưa các công ty của Áodần tiếp cận với các tiêu chuẩn mới như ISO 14001
Dự án tiếp theo là: “Áp dụng khung EMA trong chính quyền địa
phương giai đoạn 1995 -1996 và 1998-1999” do Văn phòng Quốc gia
Autralia về chính quyền địa phương ( NOLG) chịu trách nhiệm và tài trợ,cộng với bộ phận thống kê môi trường và năng lượng của Cục thống kêAutralia (ABS), với Bộ môi trường Autralia và với các cơ quan chính phủbang và liên bang khác NOLG đã sử dụng trách nhiệm góp phần vào cácsáng kiến quản lý tài nguyên thiên nhiên môi trường phù hợp với chính quyềncác bang ở Autralia
Dự án “ Thúc đẩy hạch toán môi trường doanh nghiệp và các hệ thống
báo cáo” do cơ quan môi trường Nhật Bản (JEA) với đối tác là Viện hạch
toán cộng đồng, một số hội doanh nghiệp và các tổ chức khác JEA đã khởiđầu sáng kiến nghiên cứu hạch toán môi trường vào năm 1996 nhằm tạo racác tiêu chuẩn hệ thống hạch toán môi trường trong đó bao gồm cả ISO
14001 Đặc biệt vào tháng 7 năm 1999 thủ tướng Nhật Bản Obuchi đã đề xuấtviệc đầu tư hạch toán môi trường như là một phần của sự cải cách chungnhằm tạo ra việc làm và nâng cao tính cạnh tranh cho ngành công nghiệp
Trang 12Nhật Bản Trọng tâm của dựa án là về các tổ chức kinh doanh,người sử dụng
và người được hưởng lợi ích của hạch toán môi trường JEA nhận dạng 6 loạichi phí môi trường chung nên được hạch toán trong một khu vực kinh doanh,các chi phí quản lý, kinh doanh, các chi phí thiệt hại môi trường, các chi phí
xã hội JEA đã phát triển 3 khung tiêu chuẩn mà công ty có thể sử dụng đểbáo cáo và mở rộng thông tin hạch toán môi trường liên quan đến đầu tư môitrường hoặc thực hiện môi trường, và đang phát triển các công cụ phần mềm.Kết quả là hơn 100 công ty đã bước đầu làm quen với hạch toán môi trường,trong đó có hơn 70 công ty đã chính thức báo cáo thông tin hạch toán môitrường của họ, một vài chính quyền địa phương đã bắt đầu làm quen với kháiniệm hạch toán môi trường
Dự án quan trọng tiếp theo là dự án “Đầu tư SXSH” do cơ quan môi
trường của liên hợp quốc (UNEP) tài trợ về các vấn đề SXSH, quản lý hoáchất an toàn, kinh doanh và môi trường tại các nước đang phát triển làZimbabuê, Tanzania, Việt Nam, Guatêmara, Nicaragoa Những người thamgia dự án bao gồm đại diện cho trường đại học, ngành công nghiệp, ngânhàng, cơ quan tài chính khác ở mỗi nước cùng các chuyên gia quốc tế và cốvấn về các vấn đề liên quan UNEP đã sáng kiến ra dự án này vào năm 1998.Mục tiêu của dự án là tăng mức độ đầu tư SXSH ở các nước đang phát triển,bằng việc thúc đẩy các khoản đầu tư SXSH và liên quan đến xây dựng vốntrong năm nước tham gia và sau đó bằng việc đánh giá các kinh nghiệm đầutiên ở 5 nước, dự án sẽ góp phần đáng kể cho các cuộc đối thoại toàn cầu vềcác chiến lược ngăn ngừa kết hợp với các chính sách tại các doanh nghiệp
Dự án tiếp theo là “ Hướng dẫn về quản lý chi phí môi trường” do Bộ
môi trường, bảo tồn thiên nhiên và an toàn phóng xạ của liên bang Đức quản
lý dự án với các đối tác là viện nghiên cứu kinh tế sinh thái Berlin, Viện quản
lý và môi trường Angsburg, hiệp hội công nghiệp, đại diện doanh nghiệp vàcác nhà khoa học Dự án đã được thực hiện từ năm 2000 để hướng dẫn vềviệc thực hiện EMA cho doanh nghiệp nhằm nhận dạng việc cần thiết của
Trang 13các tiêu chuẩn EMA, một số phương pháp quản lý chi phí môi trường khácnhau Phương pháp luận của dự án bào gồm phương pháp hạch toán chi phímôi trường truyền thống, phương pháp hạch toán dòng chi phí nguyên liệu vànăng lượng, phương pháp tính toán các chi phi đầu tư môi trường liên quan vàlợi nhuận Lý thuyết cơ bản của EMA, khái niệm, định nghĩa và hướng dẫn đã
và đang được phát triển như một phần của dự án Dự án đang được phát triển
và phổ biến tại Đức
Dự án ECOMAC/EMAN “ Thúc đẩy hạch toán quản lý sinh thải như
một công cụ cho quản lý môi trường” được bảo trợ bởi uỷ Ban môi trường và
chương trình khí hậu của cộng đồng Châu Âu Dự án ECOMAC được sángkiến vào năm 1996 đã khảo sát quy mô để “hạch toán quản lý sinh thái” đangxuất hiện trong cộng đồng chung Châu Âu (cụ thể là các nước Đức, Italia, Hàlan, và Anh) Dự án được thực hiện ở 84 công ty lớn nhỏ ở 4 nước và 15nghiên cứu điển hình đã được thực hiện Có thể xem hạch toán quản lý sinhthái gần giống với EMA, chỉ khác là nó đi xa hơn EMA về việc xem xét cácchi phí bên ngoài Hạch toán quản lý sinh thái (EMAN) là một mạng lướigồm các nhà nghiên cứu, cố vấn, thương gia … Những người cố vấn chínhsách quan tâm đến EMA như một công cụ cho việc quản lý môi trường doanhnghiệp Mục đích của mạng lưới là để thúc đẩy sự hiểu biết và việc sử dụngEMA bằng kinh doanh, để khích lệ các nghiên cứu trong phạm vi, thúc đẩy sựgiáo dục về EMA và để nhận dạng các cơ hội cho những nỗ lực của chínhphủ về EMA Thành công của dự án này giúp cho các công ty hiểu sâu sắccác nguyên tắc hạch toán môi trường như thế nào
Một ứng dụng tiếp theo là “ Sáng kiến hạch toán môi trường” do cơ
quan môi trường của Anh đề xuất Sáng kiến này có 3 mục tiêu: phát triểnmột hệ thống hạch toán môi trường bên trong quá trình quản lý tài chính củacông ty: giảm tiêu thụ tài nguyên, thực hiện báo cáo các khoản tiết kiệm chiphí Tác động đến cộng đồng và các tổ chức cá nhân để thông qua, xúc tiến vàphát triển cùng hoặc tương tự việc thực hành Phương pháp luận dựa trên một
Trang 14hệ thống theo dõi chi phí môi trường, phân biệt với chi phí điều hành, các chiphí hỗ trợ hành chính, kết nối dữ liệu tài chính với thông tin định lượng khácnhau như dòng nguyên liệu.
Ứng dụng gần đây nhất của EMA tại Châu Á là dự án: “ Thực hiện và
phổ biến EMA cho các doanh nghiệp của Đông Nam Á nhằm thúc đẩy hoạt động kinh doanh bền vững (EMA- SEA)” hướng tới việc áp dụng phổ biến
EMA tại các công ty ở Đông Nam Á là Thái Lan, Inđôndxia, Philipin, ViệtNam Dự án kéo dài từ tháng 11 -2003 đến tháng 8 – 2007 Cơ quan quản lý
và điều hành dự án là Tổ chức nâng cao năng lực quốc tế (INWent) đặt tạiBonn và Cologne của Cộng Hoà liên bang Đức là một tổ chức về phát triểnnhân lực quốc tế, đào tạo và trao đổi cấp cao được thành lập năm 2002 thôngqua sự hợp nhất từ hai tổ chức Carl Duisberg Gessellschaft và Quỹ phát triểnquốc tế của cộng hoà liên bang Đức Các đối tác chính của dự án ở khu vựcChâu Á là Hội bảo vệ môi trường Châu Á (ASEP), Trung tâm quản lý bềnvững (CSM) của trường đại học tổng hợp Lueneburg, cộng hoà liên bang Đức
và các đối tác phối hợp ở các quốc gia Về mặt nội dung dự án tập trung vàoviệc tổ chức các hội thảo khoa học cung cấp thông tin về EMA, triển khai 16nghiên cứu điển hình tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở 4 nước Đông Nam Á,xây dựng bộ tài liệu đào tạo nhằm chuyển giao kiến thức và kỹ năng EMAcho các công ty và các tổ chức liên bang thông qua các hội thảo đào tạo hayđào tạo thông qua máy tính, mở lớp huấn luyện đào tạo cán bộ EMA tại cácnước để sau khi kết thúc dự án mục tiêu là nhân rộng việc nghiên cứu và phổbiến EMA cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở khu vực Đông Nam Á
Hiện nay trên thế giới hàng trăm doanh nghiệp và tổ chức đã và đang
áp dụng EMA để cải thiện tình hình kinh tế và hiện trạng môi trường củamình Có thể kể đến như công ty Andersen về sản xuất đồ gỗ ( Hoà kỳ), công
ty điện tử Canon, công ty điện tử Fujitsu (Nhật Bản), …
Còn rất nhiều những ứng dụng của EMA trên thế giới khác như dự án “
các hoạt động hạch toán xanh” của cơ quan bảo vệ môi trường Đan Mạch,
Trang 15chương trình “ Lợi ích sinh thái - Các dự án đa dạng sinh học cho các côngnghệ môi trường kết hợp” của Bộ bảo vệ môi trường Á, các hoạt động giảmthiểu ô nhiễm tại New jersey - Mỹ… Tuy nghiên ứng dụng EMA chủ yếumới được thực hiện và diễn ra ở các nước phát triển như Mỹ, Canada, NhậtBản, Châu Âu, các nước ở Châu Á và Châu phi gần như chưa có cách tiếp cậnvới phương pháp luận này.
1.3.2 Những ứng dụng hạch toán quản lý môi trương tại Việt Nam
EMA là phương pháp luận đã được ra đời hơn một thập kỷ, nó đã đượcnhiều nước trên thế giới biết đến và đặc biệt nhiều công ty trên thế giới từ cáccông ty có quy mô lớn, đến các công ty có quy mô nhỏ, và đã đạt được nhữngthành công nhấ định trong kinh doanh và cải thiện môi trường Tuy nhiên ởViệt Nam EMA còn là một khái niệm hết sức mới mẻ và rất ít người biết đến
Dự án đầu tiên là dự án phổ biến EMA cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ tạiViệt Nam là dự án EMA- SEA kể trên cho các nước Đông Nam Á trong đó cóViệt Nam Đối tác thực hiện dự án phía Việt Nam là Viện khoa học côngnghệ môi trường - trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội Dự án đã chọn 2 công
ty đại diện Việt Nam tham gia vào nghiên cứu điển hình thực hiện áp dụngEMA, và dự án kết thúc vào năm 2007
Ngoài ra còn một ứng dụng khác nữa của EMA tại Hà Nội là đề tài :
“Nghiên cứu ứng dụng phương pháp EMA cho các doanh nghiệp vừa và nhỏcủa thành phố Hà Nội” do sở khoa học công nghệ Hà Nội tiến hành Uỷ bannhân dân thành phố Hà Nội đứng ra quản lý và tài trợ, cơ quan chủ trì và thựchiện đề tài là Vịên khoa học và công nghệ môi trường, đại học Bách Khoa HàNội
Trang 16quan đến môi trường tự nhiên Do áp lực ngày càng tăng từ phía các cấp quản
lý của công ty, các cổ đông, các khách hàng và các bên liên quan về các tácđộng của công ty đối với môi trường và các chi phí cần thiết để khắc phụcnhững hậu quả của những hoạt động đó Vậy tại sao hạch toán truyền thốngkhông thể cung cấp tất cả các thông tin đó? Trong phần này sẽ đưa ra những
ưu nhược điểm của hạch toán truyền thống và cần thiết phải cải tiến nó theohướng mới
* Hạch toán truyền thống bao gồm :Hạch toán quản lý và hạch toán tàichính
- Hạch toán quản lý bao gồm việc nhận dạng, đo lường, tích luỹ,phân tích, sự chuẩn bị và giải thích thông tin trợ giúp cho những người điềuhành đạt được các mục tiêu của tổ chức Hạch toán quản lý truyền thốngkhông được đưa ra rõ ràng, mặc dù đã có sự công nhận riêng biệt về các tácđộng môi trường liên quan đến công ty Thay vào đó hạch toán đưa ra chủ yếu
để đáp ứng nhu cầu của nhà quản lý đang tìm kiếm thông tin về thực hiệnkinh tế của công ty như một cơ sở cho việc ra quyết định
- Hạch toán tài chính truyền thống: Mục đích của báo cáo tài chính là
để cung cấp thông tin về vị trí tài chính, việc thực hiện và những thay đổitrong vị trí tài chính của một doanh nghiệp mà có lợi cho phạm vi rộng nhữngngười sử dụng trong việc ra quyết định kinh tế
- Các loại hệ thống hạch toán khác như hạch toán thuế, hạch toánđiều chỉnh ngân hàng, các loại hạch toán này đều cần thiết và bắt buộc đối vớicác doanh nghiệp
1.4.1 Những ưu điểm của hạch toán truyền thống
Hạch toán truyền thống là một phương pháp hạch toán ra đời và tồn tại
từ rất lâu Do vậy nó trở thành một hệ thống hạch toán phổ biến cho tất cả cáccông ty, doanh nghiệp, các ngành nghề trong xã hội đều phải sử dụng nó nhưmột công cụ thiết yếu
Trang 17Các hệ thống hạch toán là một trong số những công cụ quản lý quantrọng nhất cho mọi công ty Chức năng của hạch toán là để cung cấp thông tinthích hợp, tin cậy và chính xác nhằm hướng dẫn cho việc ra quyết định củacác nhà quản lý, nhà đầu tư và các cổ đông
* Những ưu điểm của hệ thống hạch toán truyền thống
- Hệ thống hạch toán truyền thống cung cấp thông tin tài chính về mộtcông ty một cách có hệ thống cho các cổ đông Các cổ đông của một doanhnghiệp cần các hệ thống thông tin nhằm giảm sự phức tạp của môi trườngkinh doanh để giúp họ ra quyết định trong các điều kiện nhất định
- Các hệ thống hạch toán truyền thống có mục đích trình bày cho nhữngngười không nằm trong doanh nghiệp thấy vị thế tài chính của doanh nghiệp
và những thay đổi trong vị thế tài chính của nó trong một giai đoạn cụ thể Cụthể là các hệ thống hạch toán truyền thống thừa nhận, đo lường, tiết lộ và tạothuận lợi cho việc quản lý tài sản và nguồn vốn Thách thức cho hạch toánmôi trường là phải kết hợp quá trình hạch toán với báo cáo về các khía cạnhtài chính của các hoạt động công ty mà có ảnh hưởng đến môi trường
- Nghiệp vụ hạch toán có mặt trên khắp thế giới và bất kỳ sự thay đổinào trong thực tế hạch toán đều tạo ra những ảnh hưởng cho tất cả các nước
Do đó hạch toán có thể được xem như một trong số các ngôn ngữ quốc tếđược nhiều người sử dụng trên khắp thế giới Điều này thể hiện tầm quantrọng và ảnh hưởng ngày càng tăng của nghề kế toán
Các hệ thống hạch toán truyền thống phản ánh đặc điểm về sự tích luỹtài sản, sức khoẻ, quyền lực đo được bằng các đơn vị tiền tệ Không có nhânviên kế toán nào thừa nhận rằng những thay đổi của hệ thống hạch toántruyền thống là đủ để giải quyết các vấn đề môi truờng to lớn của hôm nay vàtương lai Tuy nhiên hạch toán là một cách làm cần thiết và quan trọng để cócách tiếp cận thực tế hơn nhằm giải quyết các vấn đề môi trường do các công
ty gây ra Vấn đề là các hệ thống hạch toán hiện nay cần được cải tiến nhiềuhơn nữa chứ không phải là cần phải xoá bỏ
Trang 18Các lợi ích chính thu được từ việc điều chỉnh hạch toán truyền thồng đểgiải quyết vấn đề môi trường là:
Cung cấp thông tin dự phòng cho việc xem xét các hậu quả tiềm ẩn thực
tế và tiềm ẩn của các vấn đề môi trường
Cung cấp thông tin dự phòng tạo điều kiện để các doanh nghiệp có thểthích ứng khi phải áp dụng các quy định mới vê môi trường và các công cụkinh tế mới được ra đời do các tác động môi trường
Tạo điều kiện thuận lợi của một triết lý quản lý ra đời để tạo ra sự rõràng và khuyến khích áp dụng các biện pháp bảo vệ môi trường có tính đếnkinh tế
Làm cho phản ứng đối với vấn đề môi trường của các cổ đông tích cực hơn
1.4.2 Những nhược điểm của hạch toán truyền thống
Theo quan điểm luật pháp, các tác động đến môi trường của công tythường xảy ra bên ngoài ranh giới giao dịch và nằm ngoài mối quan tâm củamột doanh nghiệp, do đó các tác động môi trường thường được coi là các yếu
tố bên ngoài, Do các tác động môi trường xảy ra bên ngoài ranh giới luật phápcủa một doanh nghiệp, nên chúng chỉ được họ tính toán đến trong một vàitrường hợp nhất định Nói chung, các hệ thống hạch toán không phản ánh cáctác động môi trường mà công ty gây ra trực tiếp hay gián tiếp Ví dụ nếu tácđộng môi trường xuất hiện do các loại nguyên vật liệu đặc biệt được sử dụngtrong sản xuất thì các tác động này được thể hiện trực tiếp trong các tài khoảndoanh nghiệp Tuy nhiên trong một số trường hợp các khách hàng có thể kiệncông ty hay phạt tiền một cách gián tiếp bằng việc không mua các sản phẩmcủa doanh nghiệp do gây tác động xấu tới môi trường
Các hệ thống hạch toán truyền thống không cung cấp các thông tin vềmôi trường bị thiệt hại gây đối với môi trường có thể khắc phục được haykhông, hay liệu năng lực sản xuất có quá tải hay không Nếu quản lý chỉ dựavào thông tin hạch toán truyền thống thì nó sẽ không thể nhận ra rằng môitrường đã bị thiệt hại do:
Trang 19- Các tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên môi trường không đượcphản ánh trong bảng cân đối kế toán
- Khấu hao nguồn vốn tự nhiên không được tính toán
- Các thiệt hại môi trường được xem xét đến, trừ khi nó được phản ánhtrong các khoản tiền phạt, giấy phép và các chi phí làm sạch môi trường
Do đó người ta cho rằng theo một khía cạnh nào đó, ảnh hưởng bất lợicho môi trường có thể được xem xét như là kết quả từ việc áp dụng hạch toánhiện hành Hệ thống hạch toán hiện hành sẽ không bao giờ có thể phản ảnh tất
cả các tác động đến môi trường Vào thời điểm khi sản phẩm mới được pháttriển hay một hoạt động mới được sáng lập thì không thể ước lượng một cáchchính xác các rủi ro có thể xảy ra trong tương lai mà hạch toán truyền thốngkhông quan tâm đến tương lai
Quan điểm phê phán còn chỉ ra sự khác biệt tiềm ẩn giữa hệ thống hạchtoán truyền thống và hệ thống sinh thải tự nhiên Đối với hệ thống hạch toántruyền thống giới hạn cho các nguồn tài chính không tồn tại từ “đủ”, trong đómôi trường tự nhiên lại có giới hạn này và nó được phản ánh thông qua kháiniệm “quy mô” Dưới góc độ kinh tế vĩ mô, quan điểm này được sử dụng như
là một luận điểm để phê phán khái niệm tổng sản phẩm quốc gia(GNP) khicoi khái niệm này là phương tiện để đánh giá sự giàu có và người ta khôngngừng cố gắng để có GNP cao hơn Trong khi những tác hại với môi trườngkhông được xem xét đến trong nỗ lực để có được thu nhập cao hơn và sự giàu
có hơn nữa, vì không có giá trị nào được thể hiện trong các hàng hoá môitrường Những quan điểm phê phán khác cũng cho rằng tác hại môi trường làkhông cần thiết vì nó sẽ tạo thành mức giá giả tạo cho hàng hoá môi trường.Thế giới tự nhiên phản ứng theo một cách hoàn toàn khác chứ không phảitheo cách thức được tạo lập dựa trên quan điểm của hệ thống hạch toán truyềnthống, cách thức này dựa vào sự liên kết và sự tác động lẫn nhau của con
người và vật thể.
Trang 20Mặc dù có các ý kiến phê bình khác nhau nhằm vào hệ thống hạch toántruyền thống nhưng hệ thống hạch toán truyền thống đã tự chứng minh rằngqua thời gian tồn tại, phát triển và những ưu điểm kể trên, nó vẫn rất vữngchắc và bất kỳ một hệ thống hạch toán tương lai nào cũng phải dựa vào.
1.5 Nội dung hạch toán quản lý môi trường
Việc xác định EMA là tương tự với việc xác định hạch toán truyền thống
nhưng tóm lại có một vài điều khác nhau cơ bản sau:
* EMA nhấn mạnh hạch toán các chi phí môi trường
* EMA không chỉ bao gồm thông tin thông thường, thông tin môitrường và thông tin tài chi phí khác, mà còn bao gồm cả thông tin về dòngnguyên vật liệu, nước, năng lượng
* Thông tin EMA có thể được sử dụng cho bất kỳ loại hoạt động quản
lý nào hoặc việc ra quyết định trong một tổ chức, nhưng còn có lợi cho cáchoạt động và các quyết định liên quan đến thành phần môi trường cụ thể
EMA là một công cụ đặc biệt đã được liên đoàn kế toán quốc tế côngnhận và đạt nhiều thành tựu khá cao EMA là một hệ thống thích hợp baogồm các cách tiếp cận tiền tệ và phi tiền tệ cho hạch toán trong nội bộ công
ty EMA có thể được xác định như là một thuật ngữ khái quát bao gồm cảhạch toán quản lý môi trường tiền tệ (được viết tắt là MEMA) và hạch toánquản lý môi trường phi tiền tệ (được viết tắt là PEMA) Có hai nhóm chínhliên quan đến các tác động môi trường trong mỗi công ty là:
* Các tác động môi trường lên hệ thống kinh tế liên quan đến “thôngtin môi trường tiền tế” Thông tin môi trường tiền tệ ghi lại tất cả các tác độngliên quan đến công ty như vốn tài chính trong quá khứ, hiện tại hay tương lai
và các dòng vốn của công ty và được thể hiện trong các đơn vị tiền tế ( ví dụ,các phép đo được bộc lộ trong phí tổn về SXSH, các chi phí tiền phạt cho sự
vi phạm các luật môi trường, giá trị tiền tệ có thể được xem xét như một sự
mở rộng phạm vi hay một sự phát triển xa hơn hay sự cải tiến hạch toántruyền thống trong các đơn vị tiền tệ khi chúng được dựa trên các cách thức
Trang 21của các hệ thống hạch toán truyền thống Thông tin môi trường tiền tệ có thểđược xem như các chi phí về nguyên vật liệu, năng lượng, nước… là các tàinguyên thiên nhiên mà doanh nghiệp đã sử dụng nó cho hoạt động kinh tế củamình và các tài nguyên môi trường này được định giá bằng tiền.
* Các tác động liên quan đến các hoạt động công ty lên hệ thống môitrường liên quan đến “thông tin môi trường phi tiền tệ” Do đó, ở mức độcông ty, thông tin môi trường phi tiền tệ bao gồm tất cả dòng vật liệu và nănglượng trong quá khứ, hiện tại và tương lai có tác động lên các hệ sinh thái.Thông tin môi trường phi tiền tệ luôn được thể hiện trong các đơn vị vật lýhay còn gọi là đơn vị phi tiền tệ như kg, m3,, hay jun Thông tin môi trườngphi tiền tệ được xem như các hoạt động sản xuất của công ty gây ra tác độngbằng tiền và có thể không định giá được như một mét khối khí thải là baonhiêu, hay hoạt động doanh nghiệp tác động đến các tài nguyên trong khu vựcnhư thế nào, ảnh hưởng đến sức khoẻ con người ra sao… chưa định giá được
EMA bao gồm cả việc hạch toán nội bộ các khía cạnh môi trường theo
2 mặt tiền tệ và phi tiền tệ
Trang 22Bảng 1: Các hệ thống hạch toán môi trường
Các đơn vị
Nội bộ Hạch toán quản lý môi
trường tiền tệ (MEMA)
Hạch toán quản lý môitrường phi tiền tệ(PEMA)
Hạch toán quản lý môi trường (EMA) Bên ngoài Hạch toán và báo cáo
môi trường bên ngoàitiền tệ (MEEA)
Hạch toán và báo cáo quyđịnh môi trường tiền tệ
Hạch toán và báo cáomôi trường bên ngoàiphi tiền tệ (PEEA)Hạch toán và báo cáoquy định môi trườngphi tiền tệ
Hạch toán môi trường bên ngoài (EEA)
Hạch toán quản lý môi trường tiền tệ (MEMA) liên quan tới các khíacạnh môi trường của các hoạt động công ty được thể hiện trong các đơn vịtiền tệ và tạo ra thông tin cho việc sử dụng quản lý nội bộ Hạch toán quản lýmôi trường tiền tệ là một công cụ trung tâm, rộng khắp, cung cấp cơ sở chohầu hết các quyết định quản lý nội bộ cũng như các vấn đề liên quan đến việclàm thế nào để theo dõi, phát hiện và xử lý các chi phí và các doanh thu xuấthiện do tác động đến môi trường của công ty Hạch toán quản lý môi trườngtiền tệ đóng góp cho việc lập kế hoạch chiến lược và hoạt động, cung cấp cơ
sở quan trọng cho việc ra quyết định để đạt được mục tiêu mong đợi
Hạch toán quan lý môi trường phi tiền tệ (PEMA) cũng đáp ứng nhưmột công cụ thông tin cho việc ra quyết định nội bộ Tuy nhiên, trái với hạchtoán môi trường phi tiền tệ, nó tập trung vào các tác động của công ty vào môitrường tự nhiên, được thể hiện trong các thuật ngữ vật lý như tấn, kg, m3,…Nhiệm vụ của hạch toán quản lý môi trường phi tiền tệ là phân loại, thu thập,ghi chép, phân tích và truyền thông tin nội bộ về các dòng vật chất và nănglượng Những tác động môi trường được định giá theo đại lượng phi tiền tệ vì
Trang 23chúng thường không được định giá bằng tiền trên thị trường Hạch toán quản
lý môi trường phi tiền tệ như một cách tiếp cận hạch toán môi trường nội bộđược dùng cho các mục đích sau:
Một công cụ phân tích được thiết kế để tìm ra những mặt mạnh vànhững nhược điểm sinh thái học
Một công cụ kiểm soát trực tiếp và gián tiếp các hậu quả môi trườngMột phương pháp kỹ thuật để hỗ trợ việc ra quyết định đến chất lượngmôi trường nổi bật
Một công cụ đo lường là một phần không thể thiếu của các phép đomôi trường, như hiệu quả sinh thái
Một công cụ hạch toán cung cấp một cơ sở trung lập và rõ ràng cho nội
bộ, và gián tiếp, cho truyền thông bên ngoài
Một công cụ có sự điều chỉnh chặt chẽ và bổ sung cho một bộ công cụđang được phát triển để giúp cho việc đẩy mạnh phát trỉên bền vững về mặtsinh thái
Khi xem xét đến nội dung EMA, các công cụ hạch toán có thể đượcphân biệt theo độ dài chu kỳ thời gian ngắn hạn và dài hạn và được xem tớitheo quá khứ những yêu cầu khác nhau và do vậy trong một số trường hợpcác nhà quản lý quan tâm đến thông tin trong quá khứ hoặc tương lai, ví dụnhư nhiều lúc họ cần biết đến những thông tin trong quá khứ và ngắn hạn, haymột số quyết định đầu tư cần thông tin dự báo tương lai; hoặc khi quyết địnhđầu tư một dây chuyền công nghệ trong tương lai… Ngoài ra các công cụEMA còn được phân biệt theo thông tin thường xuyên còn đánh giá đầu tưulại cần cả những thông tin thường xuyên và không thường xuyên mang tínhrủi ro
EMA đã nói ở trên không phải là một công cụ đơn lẻ mà là bộ rất nhiềucác công cụ khác nhau gồm hạch toán chi phí, lợi ích, thẩm định đầu tư, lậpngân sách, lập kế hoạch, kiểm kê vòng đời sản phẩm… Trong số các công cụnày, hạch toán chi phí, lợi ích là một công cụ tương đối đơn giản và dễ thuyết
Trang 24phục các doanh nghiệp trong việc đem lại lợi ích cụ thể dễ dàng cho mỗidoanh nghiệp.
Khi áp dụng EMA vào thực tế, có thể áp dụng cho một hay nhiều loạicông cụ cho một công ty tùy thuộc vào mục đích, yêu cầu cũng như thực tế vềtình hình tài chính và môi trường của mỗi doanh nghiệp
Thông tin EMA có thể được sử dụng cho bất kỳ loại hoạt động quản lýnào hoặc việc ra quyết đinh trong một tổ chức, nhưng còn có ích cho các hoạtđộng và quyết định với các thành phần môi trường cụ thể hoặc các kết quả
Có thể nói, ECA là công cụ quan trọng nhất của EMA, nó là bước đầutiên và cần thiết, nếu thực hiện tốt công cụ này mới có thể mở rộng cho cáccông cụ khác Mục đích củ ECA là nhằm xác định các loại chi phí môi trường
và tìm cách phát hiện, phân tích nguyên nhân sinh ra chúng, phân tích các chiphí ẩn của công ty và tìm cách phân bổ riêng rẽ thay vì đưa vào các chi phíchung khác Mục tiêu của EMA là để tăng lượng thông tin đang có cho nhữngngười ra quyết định và cung cấp thông tin về các tác động tài chính của cácvấn đề liên quan đến môi trường Và mục tiếp theo sẽ giới thiệu về ECA, thếnào là chi phí môi trường, cách xác định, mô hình nguyên tắc để thực hiệnECA và xác định các chi phí môi trường từ góc độ dòng vật chất và nănglượng
Trang 25CHƯƠNG 2 HẠCH TOÁN CHI PHÍ MÔI TRƯỜNG
2.1 Chi phí môi trường và cách xác định
Trong các công cụ của EMA, ECA là định hướng quá khứ, và có mộttrọng tâm ngắn hạn Trong giới hạn luận văn tốt nghiệp, sử dụng công cụECA là công cụ bổ sung thông tin về chi phí môi trường vào các quá trìnhhạch toán chi phí hiện tại hay xác định các chi phí môi trường và phân bổchúng vào quá trình sản xuất phù hợp
2.1.1 Sự cần thiết phải hạch toán CPMT trong doanh nghiệp
Chi phí môi trường là một trong nhiều loại chi phí mà các doanh nghiệpphải chi trả khi cung cấp hàng hoá và dịch vụ cho khách hàng Hoạt động môitrường là một trong những yếu tố quan trọng để dẫn tới thành công trong kinhdoanh Chi phí môi trường và hoạt động môi trường xứng đáng được quantâm trong hệ thống quản trị doanh nghiệp vì:
- Khi có các quyết định về sự thay đổi quy mô hoạt động trong kinhdoanh hoặc đầu tư vào công nghệ thân thiện môi trường (xanh, sạch,…) haythiết kế lại quá trình sản xuất, sản phẩm thì nhiều khoản chi phí môi trường sẽđược giảm đi đáng kể
- Chi phí môi trường có thể đưa vào tài khoản chi phí quản lý, chi phísản xuất, chi phí bất thường hay bị bỏ qua
- Nhiều doanh nghiệp nhận thức được rằng các chi phí môi trường có thểđược bù đắp lại từ các khoản thu được từ việc bán sản phẩm phụ, phế liệu,phế thải, phần thưởng từ việc chống ô nhiễm hày việc cấp giấy phép cho côngnghệ sạch, hay chi phí môi trường có thể gây nên những thiệt hại cho công tynhư các khoản tiền phạt cho việc gây ô nhiễm, không tuân thủ pháp luật vềmôi trường
Trang 26- Hiểu rõ chi phí và hoạt động bảo vệ môi trường có thể cải thiện môitrường làm việc, bảo vệ tốt hơn sức khoẻ cho người lao động, do đó góp phầntạo nên sự thành công trong kinh doanh, tạo nên lợi thế cạnh tranh trongdoanh nghiệp.
- Hạch toán chi phí và các hoạt động bảo vệ môi trường hỗ trợ cho hoạtđộng phát triển của doanh nghiệp trong hệ thống quản lý môi trường chung,
và cần thiết cho doanh nghiệp khi tham gia vào quá trình thương mại quốc tếtheo tiêu chuẩn ISO 14001
2.1.2 Định nghĩa chi phí môi trường (CPMT):
Thuật ngữ hạch toán môi trường luôn sử dụng những cụm từ ‘toàn bộ’
‘đầy đủ’, ‘chu kỳ sống’ để nhấn mạnh một điều rằng các phương pháp truyềnthống là không hoàn thiện vì chúng đã bỏ qua các chi phí môi trường quantrọng Để xác định chi phí môi trường, công cụ ECA sẽ giúp xác định, phânloại và nhận diện các chi phí môi trường Các chi phí môi trường theo quanđiểm truyền thống là các chi phí xử lý cuối đường ống, như các chi phí kếthợp với vị trí làm sạch sau khi sản xuất, các chi phí xử lý chất thải
Thuật ngữ môi trường cũng chứa đựng nguyên liệu và năng lượng đã sửdụng cho sản xuất hàng hoá, dịch vụ, các chi phí đầu vào kết hợp với chất thảiđược tạo ra (bao gồm các chi phí vốn, chi phí lao động, chi phí nguyên liệu vànăng lượng đã sử dụng để sản xuất chất thải) cộng với sự kết hợp các chi phíchôn lấp, chi phí cất giữ nguyên liệu đặc biệt, bảo hiểm trách nhiệm môitrường, và các chi phí điều hoà môi trường như chi phí tuân thủ và các lệ phícấp phép, tiền phạt
Người ta thường chia ECA thành hai nhóm chính sau:
* Các chi phí “cá nhân” là các chi phí có tác động trực tiếp đến các vấn
đề tài chính cốt yếu của công ty, doanh nghiệp có trách nhiệm chi trả và cácchi phí này cũng ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của doanh nghiệp.Chi phí “cánhân” còn được gọi là chi phí bên trong
Trang 27* Các chi phí “xã hôi” hay còn gọi là chi phí bên ngoài, là các chi phí docác tác động của doanh nghiệp đến môi trường và xã hội, là các khoản chi phí
mà công ty không trực tiếp chịu trách nhiệm về mặt tài chính Nó còn đượcgọi là chi phí bên ngoài Các chi phí này được biểu hiện bằng đại lượng tiền tệ
và phi tiền tệ
Rất nhiều chi phí đã được xem xét là chi phí xã hội lại trở thành chi phí
cá nhân, ví dụ như sự thay đổi khí hậu sẽ ngày càng trở thành một chi phí cánhận hơn là một chi phí xã hội vì thuế cácbon và các đầu tư khác đang đènặng lên các tổ chức
Chi phí môi trường là một khái niệm rộng và không có định nghĩa chínhxác Có thể xem chi phí môi trường là các chi phí nhằm mục đích tuân theoluật môi trường Đó là các chi phí dành cho chữa bệnh, thiết bị kiểm soát ônhiễm, tiền phạt do không tuân thủ luật môi trường cũng được gọi là chi phímôi trường, thậm chí khi họ không bị ràng buộc bởi các quy định hoặc ở bênngoài việc tuân thủ các quy định Ngay cả một doanh nghiệp định nghĩa chiphí môi trường như thế nào là tuỳ thuộc vào việc doanh nghiệp đó sử dụngcác thông tin và phạm vi ứng dụng như thế nào Có rất nhiều câu hỏi đặt ra làliệu chi phí này hay chi phí kia có phải là chi phí môi trường không? Phụ lục
1 liệt kê các ví dụ về chi phí được gọi là chi phí truyền thống, ẩn tiềm năng,ngẫu nhiên và chi phí uy tín/quan hệ/hình ảnh
Theo nguyên lý tảng băng ngầm chi phí môi trường được mô phỏng nhưtảng băng ngầm mà các chi phí dễ nhận thấy (phần nổi của tảng băng), các chiphí theo quan điểm truyền thống chỉ là một phần nhỏ so với các chi phí bị ẩn(phần chìm của tảng băng) Đó là do theo quan điểm truyền thống thì người tavẫn chỉ xem một số chi phí thực chất là chi phí môi trường như là chi phí trựctiếp cho sản xuất và các chi phí khác Nhưng thực ra các chi phí không đượcnhìn thấy rõ ràng cũng là các chi phí môi trường và nó thậm chí lớn hơn rấtnhiều các chi phí dễ nhận thấy
Trang 28Nhìn trên hình ta dễ dàng nhận thấy chi phí xử lý chất thải hay thiêu đốtrác nhưng thực ra chi phí này chỉ là một phần nhỏ trong tổng chi phí liên quanđến môi trường vì không phải tự nhiên chất thải sinh ra mà phải mất nănglượng, mất tiền để mua nguyên vật liệu rồi một phần trở thành chất thải Nếugiảm được chất thải đầu ra thì sẽ tiết kiệm được chi phí liên quan khác dẫn tớichi phí chung sẽ được giảm EMA chính là công cụ có thể đo lường tất cả cácchi phí liên quan đến hoạt động bảo vệ môi trường.
Hình 2: Phần chi phí dễ nhận thấy và phần chi phí ẩn liên quan đến chất
thải theo nguyên lý tảng băng ngầm
ECA không chỉ xem xét các chi phí môi trường mà khi thực hiện cáchoạt động bảo vệ môi trường gây ra một phần các chi phí môi trường thì kếtquả của các hoạt động đó còn đem lại doanh thu về môi trường cho các doanhnghiệp Các lợi ích và doanh thu môi trường có thể chia thành lợi ích haydoanh thu trực tiếp và gián tiếp Các doanh thu trực tiếp ví dụ như lợi ích từ
phần chi phí môi
trường dễ nhận thấy
Chi phí tái chế chất thải
Chi phí năng lượng của nguyên liệu thải
Chi phí phát sinh diện tích chứa chất thải
Chi phí cho quản lý chất thải tái chế và quản lý phế liệu
Chi phí nhân công cho xử
lý chất thải và phế liệu
Chi phí mua nguyên liệu thải
Phần chi phí môi trường ẩn
Chi phí thiêu đốt rác
Trang 29việc bán phế phẩm, sản phẩm tái chế, từ doanh thu bán công nghệ không gây
ô nhiễm môi trường và thậm chí lợi ích thu được từ việc kinh doanh cácchứng chỉ ô nhiễm (ví dụ bán chứng chỉ SO2,, liên quan đến chất lượng khôngkhí hay bán chứng chỉ muối liên quan đến chất lượng nước) Các ảnh hưởnggián tiếp là vô hình như việc hình ảnh của doanh nghiệp được cải thiện, làmtăng sự tín nhiệm của khách hàng và tăng sự hài lòng cho người lao động, doviệc chuyển nhượng lại bí quyết sản xuất và sự phát triển thị trường mới chocác sản phẩm tốt cho môi trường
Các trách nhiệm pháp lý cũng là các chi phí môi trường tương lai, nhưcác chi phí xuất hiện cho việc khôi phục bãi chôn lấp trong tương lai hay chocác hoạt động pháp lý bênh vực công ty trong các vụ kiện chống lại công ty.Các chi phí môi trường thường không được ghi đầy đủ dẫn tới các tínhtoán sai lệch cho các phương án cải thiện Các dự án bảo vệ môi trường nhằmmục đích giảm thiểu phát thải và chất thải tại nguồn bằng cách sử dụng tốthơn các nguyên liệu và phụ liệu và đòi hỏi các nguyên liêu vận hành ít gâyđộc hại hơn không được nhận biết và thực hiện Những ưu điểm về mặt kinh
tế và sinh thái học xuất phát từ những tính toán như vậy không được sử dụng,Những người đứng đầu các công ty thường không nhận thức được rằng việctạo ra chất thải và chất phát thải thường đắt hơn việc thải bỏ chúng
Các nhà quản lý công ty thường chỉ nhận thức được một phần rất nhỏtổng thể các chi phí môi trường Mặt khác, nhà quản lý không có nhiều thôngtin để có thể bóc tách các chi phí môi trường Thêm vào đó, họ bị hạn chế suynghĩ trong phạm vi khung hạch toán hiện hành
2.1.3 Phân loại chi phí môi trường:
Chi phí môi trường có thể chia thành các dạng như sau:
Dạng 1: Các chi phí trực tiếp cho sản xuất: các chi phí trực tiếp của vốn
đầu tư, lao động, nguyên vật liệu và đổ thải Có thể bao gồm chi phí định kỳ
và không định kỳ, bao gồm cả chi phí vốn, chi phí vận hành và chi phí bảodưỡng thiết bị, công trình…
Trang 30Dạng 2: Các chi phí ẩn tiềm năng tổng hợp và tổng chi phí gián tiếp
cho sản xuất: Các chi phí gián tiếp không được phân bổ vào sản phẩm hay
quá trình sản xuất, có thể bao gồm các chi phí vốn và chi phí O & M, gồm cácdịch vụ có nguồn gốc từ bên ngoài
Dạng 3: Các chi phí tương lai và chi phí trách nhiệm pháp lý ngẫu
nhiên: bao gồm các khoản tiền phạt do không tuân thủ các quy định, chi phí
trách nhiệm làm sạch trong tương lai, chi phí kiện cáo, tố tụng do làm hư hạitài sản và sức khoẻ cá nhân, chi phí bồi thường thiệt hại tài nguyên thiênnhiên và chi phí đền bù các tai nạn, sự cố công nghiệp
Dạng 4: Các chi phí vô hình nội tại: được công ty chi trả, bao gồm các
loại chi phí khó định lượng được như sự chấp nhận của người tiêu dùng, sựtrung thành của khách hàng, tinh thần làm việc của các công nhân, sự lànhnghề của công nhân, các quan hệ đoàn thể, hình ảnh doanh nghiệp và cácquan hệ công đồng
Dạng 5: Các chi phí ngoại ứng: doanh nghiệp không phải chi trả một
cách trực tiếp, mà xã hội phải chịu, bao gồm sự suy thoái môi trường do sựphát tán các chất gây ô nhiễm phù hợp với các quy định tương ứng hiện hànhhay sự thiệt hại môi trường gây ra bởi tổ chức mà chúng không được hạchtoán, hoặc các tổ chức đã tạo ra các chất phát thải có hại cho sức khoẻ màkhông phải chịu trách nhiệm
Trang 31Hình 3: Phân loại chi phí môi trường 2.2 Mô hình hạch toán chi phí môi trường
Khung EMA bao gồm 5 loại chi phí môi trường và doanh thu môi trường+ Dạng thứ nhất bao gồm các chi phí liên quan đến xử lý chất thải, quản
lý khí thải và nước thải
+ Dạng thứ hai là các chi phí quản lý và giảm thiểu ô nhiễm và quản lýmôi trường
+ Dạng thứ ba là chi phí phân bổ cho bán sản phẩm và chất thải
Trang 32+ Dạng thư tư là các chi phí cho việc sản xuất đầu ra là phi sảnphẩm(chất thải hoặc khấu hao máy móc…)
+ Dạng thứ năm là doanh thu môi trường bao gồm các tiền trợ cấp vềmôi trường, các phần thưởng hay các giải thưởng về môi trường, bán phế liệuhay các khoản khác đem lại lợi ích cho doanh nghiệp
Các thông tin chi tiết về các chi phí môi trường và doanh thu được thu
thập thể hiện cụ thể trong bảng doanh thu và chi phí môi trường (phụ lục 2),
dùng để xác định mô hình ECA
Bổ xung vào 5 loại chi phí môi trường, khung EMA bao gồm danh mụccác chi phí cần kiểm tra cho 8 yếu tố môi trường cụ thể
- Bảng liệt kê những thông tin cần kiểm tra đối với không khí và khí hậu
- Bảng liệt kê những thông tin cần kiểm tra đối với nước thải
- Bảng liệt kê những thông tin cần kiểm tra đối với chất thải
- Bảng liệt kê những thông tin cần kiểm tra đối với đất và nước ngầm
- Bảng liệt kê những thông tin cần kiểm tra đối với tiếng ồn và độ rung
- Bảng liệt kê những thông tin cần kiểm tra đối với phóng xạ
- Bảng liệt kê những thông tin cần kiểm tra đối với hệ sinh thái và cảnh quan
- Bảng liệt kê những thông tin cần kiểm tra đối với các chi phí môi trườngkhác
- Bảng liệt kê những thông tin cần kiểm tra đối với 8 loại môi trường đặc
thù (phụ lục 3)
2.2.2 Xác định chi tiết các dạng chi phí và doanh thu môi trường
* Chi phí xử lý chất thải, nước thải, khí thải
- Khấu hao thiết bị xử lý nước thải, khí thải và chất thải
Thiết bị xử lý chất thải, nước thải và khí thải gồm: các thùng côngtenơ
và phương tiện thu gom, máy nén ép rác, lò đốt rác, thiết bị lọc khí ô nhiễm,các thiết bị xử lý nước thải… Các thiết bị này nên được ghi chép vào bảnghạch toán một cách độc lập Loại thiết bị này có thể bao gồm việc cải tạo lại
Trang 33đất và khử sự nhiễm độc đất (đối với lĩnh vực đa dạng sinh học và cảnh quan,đất và nước mặt, nước ngầm)
- Bảo dưỡng thiết bị, nguyên liệu hoạt động và các dịch vụ đi kèm
Một khi mà các thiết bị xử lý đã được xác định, các chi phí liên quan đếnthiết bị đã đề cập ở trên cần phải xem xét Các chi phí bao gồm chi phí tiêuthụ nguyên liệu hoạt động, chi phí sửa chữa, bảo trì, chi phí kiểm soát vàkiểm tra…
- Tiền lương nhân công
Phần này tính toán thời gian đã qui định cho việc sử lý thời gian hao phídành cho chất thải tạo ra từ quá trình sản xuất kém năng suất và thời gian dànhcho các hoạt động quản lý giảm thiểu và quản lý môi trường cần phải xác địnhthật rõ Các chi phí gồm tiền lương, nhân công và chi phí nhân công khác phụtrách các bộ phận thu gom chất thải, nhân công phụ trách việc kiểm soát và điềukhiển nước thải và khí thải, nhân công trực tiếp tham gia vào các hoạt động liênquan đến giảm thải và vận hành thiết bị xử lý chất thải, nước thải và khí thải
- Các dịch vụ bên ngoài
Phần này bao gồm việc trả tiền cho các tổ chức bên ngoài liên quan đếnviệc quản lý chất thải, khí thải, nước thải Ví dụ như là kí kết hợp đồng, trảtiền cho các tổ chức bên ngoài chôn lấp thải bỏ chất thải, khử chất thải độchại, đốt chất thải và xử lý nước thải Phần này cũng bao gồm các chi phí dịch
vụ có liên quan đến việc loại bỏ đất bị ô nhiễm, cho thuê các thiết bị xử lý
- Các loại phí và thuế
Các loại lệ phí này bao gồm: Lệ phí chôn lấp chất thải, thu gom, phânloại và tiêu huỷ chất thải, lệ phí liên quan đến nước thải bị ô nhiễm, sử dụngnước ngầm, ô nhiễm không khí, sử dụng chất phá huỷ tầng ôzôn, khai thác tàinguyên khoáng sản
Các loại thuế như thuế đất nông nghiệp lâu dài hay tạm thời, thuế tàinguyên, thuế trồng rừng, thuế môi trường và các chi phí liên quan đến giấy phép
- Các khoản tiền phạt va bồi thường thiệt hại
Trang 34Trong trường hợp vi phạm pháp luật, ví dụ các điều luật được áp dụngchung có thể nộp tiền như là một hình phạt tài chính Đối với sự vi phạm cácnghĩa vụ từ việc kết thúc hợp đồng hay trong trường hợp vi phạm việc trả tiềntheo luật tài chính có thể bị đánh thuế, số lượng bắt nguồn từ thời hạn khôngtrả được nợ và đó được qui định như một tỉ lệ phần trăm thuế số lượng Phầnnày còn bao gồm việc công ty phải trả tiền thiệt hại cho công ty khác hay chocon người về trách nhiệm pháp lý
- Bảo hiểm trách nhiệm pháp lý môi trường
Các công ty có thể tự bảo vệ mình hạn chế các nguy cơ rủi ro bằng cáchđóng bảo hiểm đề phòng thiệt hại gây ra cho con người, hàng hoá do các hoạtđộng nguy hiểm và nguy hiểm tiềm tàng Hay bảo hiểm liên quan đến rủi ro hỏahoạn hay các rủi ro khác cho thiết bị sản xuất hay rủi ro trong quá trình vậnchuyển các chất dễ cháy nguy hiểm và hoạt động của các quá trình nguy hiểm
- Các khoản dự phòng, các chi phí làm sạch và phục hồi
Trách nhiệm pháp lý có thể xảy ra từ các hoạt động của công ty bao gồm ônhiễm nước ngầm, nước mặt, ô nhiễm không khí, phát xạ năng lượng, ô nhiễm đất.Trách nhiệm pháp lý quan hệ đến tổ chức thứ ba có thể xuất phát từ cácqui định hợp pháp và các điều luật Các nghĩa vụ kết quả từ qui định có thểbao gồm nghĩa vụ đối với việc lắp đặt thiết bị và quá trình hoàn hảo, cácnghĩa vụ liên quan đến quản lý chất thải, nghĩa vụ tái chế cải tạo, nghĩa vụchôn lấp trong khoảng thời gian nào đó và nghĩa vụ để làm sạch đất bị nhiễmbẩn và các vị trí nhiễm bẩn
- Các chi phí khác
Phần này qui định các chi phí khác không ghi trong thuật ngữ có trước
và liên quan đến xử lý chất thải, nước thải, khí thải
* Quản lý giảm thiểu và quản lý môi trường
- Các dịch vụ bên ngoài
Phần này bao gồm tất cả các dịch vụ bên ngoài để ngăn ngừa ô nhiễm vàquản lý môi trường như dịch vụ tư vấn, đào tạo, kiểm tra, kiểm toán và thông
Trang 35tin Cần xác định rõ ràng từng loại dịch vụ cho từng lĩnh vực cụ thể Các dịch
vụ bên ngoài liên quan đến xử lý, in ấn, vận chuyển các tài liệu về tác độngmôi trường cũng như các chi phí khác của các hoạt động thông tin đại chúng
- Tiền lương
Đây là loại chi phí cho những người tham gia ngăn ngừa ô nhiễm vàquản lý môi trường Các hoạt động này cũng bao gồm việc đào tạo, lập dự án,kiểm toán, thông tin Các chi phí trong phần này bao gồm ví dụ như chi phívận chuyển kinh doanh trong phạm vi quản lý môi trường Các chi phí nàykhông bao gồm chi phí tiền công cho những người phụ trách thiết bị xử lýchất thải, nước thải, khí thải
- Nghiên cứu và phát triển
Gồm các chi phí cho việc thực hiện nghiên cứu, phát triển bởi các tổchức bên ngoài, chi phí cho việc thực hiện nghiên cứu và phát triển bởi nhânviên công ty Phần này cũng chỉ bao gồm các chi phí về nghiên cứu và pháttriển liên quan đến môi trường nhằm giảm thiểu tác động đến môi trường,thay đổi nguyên liệu, nhiên liệu và năng lượng sử dụng
- Nghiên cứu bổ sung cho công nghệ sạch hơn
Để xác định điều này thì cần so sánh chi phí của những giải pháp kémhiệu quả với những chi phí của những công nghệ sạch hơn So sánh này cầnđược xem xét trong cùng một điều kiện Tuy nhiên nếu như công nghệ sạchhơn chỉ là một công nghệ phổ biến ở thời điểm hiện tại và nếu nó thay thế chonhững thiết bị, công nghệ cũ đang tồn tại thì không nên đánh giá đó là mộtkhoản đầu tư cho bảo vệ môi trường
- Các chi phí khác
Phần này nên hiểu là các chi phí khác không được ghi trong các thuậtngữ trước và liên quan đến quản lý môi trường và giảm thiểu ví dụ các chi phíthêm vào kết quả từ việc mua các nguyên liệu thân thiện môi trường, các chiphí cho biện pháp phòng ngừa đối nghịch với ảnh hưởng bất lợi, các chi phíthông tin bên ngoài
Trang 36* Chi phí phân bổ cho bán sản phẩm và chất thải
- Nguyên liệu
Chất thải dưới dạng nguyên liệu phần lớn là được chôn lấp như chất thảirắn Chỉ trong một số trường hợp các đầu ra phi sản phẩm tồn tại dưới dạngthể khí (khí công nghiệp) sẽ làm ô nhiễm không khí Trong một số trườnghợp, chất thải dưới dạng nguyên liệu thô sẽ trở thành một phần của nước thải
- Bao bì
Hầu hết bao bì đều rời khỏi nhà máy cùng với các sản phẩm nhưng sẽ cómột tỷ lệ phần trăm nhất định nên được ghi như một chi phí môi trường Giátrị của vật liệu đóng gói thường bao gồm một phần giá của nguyên liệu.Những vật liệu làm bao bì không có khả năng tái chế sẽ trở thành chất thải vàcần được tiêu huỷ Do đó, cân bằng dòng vật liệu bao gồm chất thải bao góicủa sản phẩm, bao gói của nguyên liệu, phụ liệu và các nguyên liệu hoạtđộng
- Phụ liệu
Trong đầu ra phi sản phẩm có một ý nghĩa nhất định do đó những phụliệu trở thành chất thải cần được quản lý chặt chẽ cũng như tính toán trongcác chi phí về môi trường
- Các nguyên liệu hoạt động
Một phần của nguyên liệu hoạt động này có thể trở thành một đầu ra phisản phẩm Các nguyên liệu hoạt động được sử dụng trong sản xuất cần phânbiệt với các nguyên liệu hoạt động sử dụng cho các mục đích quản lý
Trang 37thoát), và một phần nước đi vào sản phẩm Do đó thuật ngữ này nên bao gồm giácủa lượng nước thải khỏi nhà mày cũng như lượng nước hao phí đã nói ở trên.Đầu ra phi sản phẩm không chỉ có giá mua nguyên liệu bởi vì trải quaquá trình sản xuất đầu ra phi sản phẩm còn làm tiêu tốn các loại chi phí khác-chi phí cho xử lý và tái chế Do đó giá của vật liệu cần cộng thêm các chi phí
về lao động và vốn
* Chi phí tái chế
Đầu ra phi sản phẩm không chỉ có giá mua nguyên liệu bởi vì trải quaquá trình sản xuất đầu ra phi sản phẩm còn làm tiêu tốn các loại chi phí khác-chi phí cho xử lý và tái chế Do đó giá của vật liệu cần cộng thêm chi phí vốn
và lao động
Vấn đề này nên quy định các chi phí lao động dành cho quá trình sảnxuất không hiệu quả, liên quan đến khấu hao máy móc, thiết bị và các chi phíkhác.Chi phí tái chế thường được tính toán dựa trên cơ sở lãi suất phần trămcủa vật liệu tiêu dùng trong một giai đoạn sản xuất nhất định
* Doanh thu môi trường
- Các khoản hỗ trợ tiền thưởng
Các khoản hỗ trợ, thưởng liên quan đến việc bảo vệ môi trường và đượccoi như doanh thu
- Các khoản khác
Phần này bao gồm doanh thu có được từ việc bán các chất thải (ví dụ thunhập từ bán vật liệu thải ra từ thiết bị lọc, doanh thu từ việc bán bùn cặn, …)Các khoản này có thể bao gồm doanh thu từ việc sử dụng nhiệt sản phẩm phụ,doanh thu từ thiết bị xử lý để xử lý nước thải cho các khách hàng bên ngoài
2.2.3 Các bước thực hiện
Để thực hiện và áp dụng được các công cụ EMA ở một công ty, theokinh nghiệm của những người tham gia nghiên cứu điển hình, có thể đưa ramột cái nhìn tổng quát về các bước mà một tổ chức có thể tiến hành khi thựchiện một hệ thống hạch toán môi trường Các bước đó bao gồm:
Trang 38Đạt được sự xác nhận và cam kết của cấp quản lý cao nhất
Trước hết, một dự án EMA ở một công ty muốn thực hiện được thì phải
được sự ủng hộ và đồng ý của cấp cao nhất (ban giám đốc) Sau đó cấp
quản lý cao nhất bắt buộc phải thông báo cho các cấp quản lý sản xuất,
những người lao động trong bắt buộc phải thông báo cho các cấp quản
lý sản xuất, những người lao động trong toàn bộ doanh nghiệp được
biết
Thành lập nhóm thực hiện
Nhóm này tập hợp nhiều nhà chuyên môn thuộc các lĩnh vực khác nhau, bao gồm:
Một cá nhân có chuyên môn kế toán, là người am hiểu hệ thống hạch toán đangtồn tại
Một cá nhân am hiểu làm thế nào để EMA có thể được sử dụng trong khuônkhổ của tổ chức và những cơ hội nào mà việc hạch toán này có thể mang lại
Một cá nhân có chuyên môn về môi trường là người có thể giải thích các tácđộng môi trường đáng kể đối với tổ chức
Một cá nhân am hiểu sự tiêu thụ nguyên liệu hoặc các chi phí môi truờng sẽphát sinh trong quá trình sản xuất hoặc hoạt động cần phải nghiên cứu
Một cá nhân có chuyên môn công nghệ thông tin là người có thể đưa ra ý kiếnxem liệu các đề xuất chuyên sâu về công nghệ thông tin có thực tế và khả thikhông
Một cá nhân từ ban giám đốc có thể bảo vệ dự án trong khuôn khổ tổ chức.Nói tóm lại, một nhóm thực hiện bao gồm kỹ sư, nhà quản lý sản xuất, vận hành,nhân viên tài chính, cán bộ quản lý môi trường, người cung cấp vật tư và các nhânviên kế toán
Xác định quy mô, giới hạn của hệ thống đề xuất
Nhóm nghiên cứu căn cứ tình hình thực tế và đề xuất của cấp lãnh đạo
công ty sẽ giới hạn việc thực hiện, hạch toán một sản phẩm, một bộ phận, một dây chuyền sản xuất hay toàn bộ nhà máy? Phạm vi các chi phí được
cân nhắc đến đâu?
Trang 39Thu thập toàn bộ thông tin tài chính và vật chất
Thông tin bao gồm báo cáo tài chính, số liệu đầu vào, đầu ra của quá trình sản xuất, thông tin về dòng vật chất và năng lượng và các thông tin
về tiền tệ
Nhận dạng các chi phí môi trường
Nhận dạng được toàn bộ các chi phí môi trường bao gồm các chi phí trực tiếp như xử lý chất thải, chôn lấp và đặc biệt phải xác định được các chi phí môi trường ẩn Xem xét các khía cạnh môi trường cụ thể và các tác động đi kèm với các phạm vi hoạt động của công ty và các cổ đông của nó
Các tác động môi trường có thể đo được bằng tiền tệ và cũng có thể bằng đơn vị phi tiền tệ vì chúng không được định giá trên thị trường
Xác định doanh thu tiềm năng bất kỳ hay các cơ hội cắt giảm chi phí
Ví dụ như có thể thực hiện sự cải tiến ở đâu? Có phải chất thải được tạo
ra do việc mua các nguyên liệu kém phẩm chất? có phải việc bao gói hiện nay sẽ được tái chế và nếu không thì tại sao không? Có sử dụng những người cung cấp nguyên liệu khác nhau là những người chiụ trách nhiệm bao gói? Các sáng kiến như vậy ảnh hưởng lên chi phí như thế nào?
Đánh giá các chi phí và doanh thu được xử lý như thế nào trong các
hệ thống hạch toán chi phí hiện hành
Có phải chúng được tính toán cho các sản phẩm hay các quá trình
Có phải chúng bị ẩn trong các hạch toán chi phí tổng? Các chi phí như chất thải, năng lượng, nước, và các chi phí nguyên liệu được xử lý như thế nào thậm chí mặc dù chúng là sản phẩm hay quá trình cụ thể và có các hệ quả về môi trường
Có phải các chi phí và các doanh thu này có thể thu được nhiều hơn, đem lại lợi ích và hiệu quả nhiều hơn?
Có thể tạo ra sự khuyến khích để cải thiện môi trường hay việc thực hiện tài chính như thế nào?
Trang 40Xây dựng các giải pháp
Các giải pháp có thể tính toán lại việc phân bổ giá thành sản phẩm, cải tiến công nghệ, áp dụng sản xuất sạch hơn
Đánh giá các giải pháp, đề xuất thay đổi hệ thống và thực hiện
Sau khi xây dựng giải pháp, cần đánh giá tính khả thi của các giải pháp
đó Nếu phải thay đổi hệ thống thì việc thực hiện những thay đổi đó là điều rất quan trọng Ví dụ như việc khuyên tất cả những người sử dụng
hệ thống cần thay đổi quan niệm, và tại sao phải thay đổi là điều cần thết Giải pháp được đánh giá khả thi thì thực hiện giải pháp đó
Theo dõi kết quả
Sau khi áp dụng EMA tại nhà máy, không phải dự án kết thúc mà cần phải thường xuyên theo dõi tiến bộ, kết quả thực hiện và kịp thời có phương án điều chỉnh nếu sai sót hay thực hiện không hiệu quả ở một khâu nào đó