Ngoài các chiphí thông tin này, quá trình thực tế cho vay hoặc mua một chứng khoán cần đến các chi phí giao dịch ;trong trường hợp cho vay vốn, phải viết ra một hợp đồng vay thích hợp, c
Trang 1ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN
NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN
Trang 2Câu 1: Vấn đề cơ bản về học thuyết Cung tiền: M1?
- Trong quá trình cung tiền, ai là người quyết định cung tiền trong nền kinh tế?
Ý 1:cung tiền chỉ lượng cung cấp tiền tệ trong nền kinh tế nhằm đáp ứng nhu cầu mua hànghóa, dịch vụ, tài sản, v.v của các cá nhân (hộ gia đình) và doanh nghiệp(không kể các tổ chứctín dụng)
M1: bằng tổng lượng tiền mặt (M0) và tiền mà các ngân hàng thương mại gửi tại ngân hàng trung ương.M1 còn được gọi là đồng tiền mạnh.Có 4 đối tượng quyết định cung tiền trong nền kinh tế
- Ngân Hàng trung ương
Ngân hàng trung ương (có khi gọi là ngân hàng dự trữ, hoặc cơ quan hữu trách về tiền tệ) là cơ quan đặctrách quản lý hệ thống tiền tệ của quốc gia/nhóm quốc gia/vùng lãnh thổ và chịu trách nhiệm thihành chính sách tiền tệ Mục đích hoạt động của ngân hàng trung ương là ổn định giá trị của tiền tệ, ổnđịnh cung tiền, kiểm soát lãi suất, cứu các ngân hàng thương mại có nguy cơ đổ vỡ Hầu hết các ngânhàng trung ương thuộc sở hữu của Nhà nước, nhưng vẫn có một mức độ độc lập nhất định đối với Chínhphủ
- Các tổ chức nhận tiền gửi
Hay còn gọi là Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng vớinội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán
Tổ chức tín dụng bao gồm hai loại: ngân hàng và tổ chức tín dụng phi ngân hàng
- Những người gửi tiền
- Những người đi vay
Từ đây giúp ta biết được nhưng chủ thể mà ta cần tác động đến nếu muốn điều chỉnh cung tiền
Ý 2:Chính sách tiền tệ là một chính sách kinh tế vĩ mô do Ngân hàng trung ương khởi thảo và
thực thi, thông qua các công cụ , biện pháp của mình nhằm đạt các mục tiêu: ổn định giá trị đồngtiền, tạo công ăn việc làm ,tăng trưởng kinh tế
Chúng ta có thể hiểu, chính sách tiền tệ là tổng hòa các phương thức mà NHTW thông qua các hoạt độngcủa mình tác động đến khối lượng tiền tệ trong lưu thông, nhằm phục vụ cho việc thực hiện các mục tiêu
Trang 3kinh tế - xã hội của đất nước trong một thời kì nhất định Mặt khác, nó là một bộ phận quan trọng trong hệthống chính sách kinh tế - tài chính vĩ mô của chính phủ.
Tùy điều kiện mỗi quốc gia, chính sách tiền tệ có thể được xác lập theo hai hướng: chính sách tiền tệ mởrộng (tăng cung tiền, giảm lãi suất để thúc đẩy sản xuất kinh doanh, giảm thất nghiệp nhưng lạm phát tăng
- chính sách tiền tệ chống thất nghiệp) hoặc chính sách tiền tệ thắt chặt (giảm cung tiền, tăng lãi suất làmgiảm đầu tư vào sản xuất kinh doanh từ đó làm giảm lạm phát nhưng thất nghiệp tăng - chính sách tiền tệ
ổn định giá trị đồng tiền)
Mục tiêu cuối cùng của CSTT:
- Ổn định giá trị đồng tiền:
- Tăng trưởng kinh tế
- Đảm bảo công ăn việc làm
Ngân hàng trung ương có thể sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ
- Ngân hàng trung ương có thể thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc của các ngân hàng thương mại, qua đó thayđổi lượng tiền dự trữ R, và tổng lượng cung tiền M
TH1: khi ngân hàng TW mua trải phiếu
B tg MS tg và i giảm C tg, I tg AD tg (slg Y tg, thất nghiệp tăng, giá tăng)
Mua khi nền kinh tế suy thoái
Trang 4Và ngược lại khi bán trái phiếu khi nền kinh tế lạm phát cao
- Ý nghĩa của học thuyết cung tiền trong điều hành CSTT của NHNN Việt Nam?
Gắn liền với công cuộc đổi mới & mở cửa của nước ta, có nhiều yêu cầu cần giảI quyết cùng lúc như: vừa
ổn định vừa phát triển KT trong nước,vừa mở rộng giao lưu, quan hệ quốc tế, thu hút vốn đầu tư nướcngoài,nhu cầu mở rộng lượng tiền cung ứng ngày càng lớn dẫn đến sự xác lập quan hệ cung-cầu mới vềtiền, trong khi đó vẫn phải tiếp tục ổn định KT Vĩ mô với hạt nhân là ổn định tiền tệ,tạo lập nền tảng cho
sự phát triển chung
Ở Việt Nam,Dựa vào học thuyết cung tiền, Ngân hàng nhà nước đã đẩy mạnh dùng các công cụ sẵn có đểthực thi chính sách tiền tệ cho việc ổn định tình hình kinh tế cho từng thời điểm thích hợp
Ta có lấy ví dụ về việc khi ngân hàng NNVN quyết định tung trái phiếu ra bán ở thời kỳ 1999 để thu hồi
1 lượng lớn tiền mặt đang có trong dân giảm lạm phát
Hay việc thắt chặt tiền tệ khi ngân hàng NNVN sử dụng vào năm 2011, với mức dự trữ bắt buộc tăng lêngấp đôi, giảm bớt múc tăng trưởng tín dụng…giúp nền kinh tế nước ta dần hồi phục trước tình hình khủnghoảng chung trên toàn thế giới
Bước vào thế kỉ 21, Việt Nam xác định mục tiêu tăng trưởng KT &công bằng XH, vì vậy việc lựa chọngiaỉ pháp nào để xây dựng &điêù hành chính sách tiền tệ quốc gia có hiệu quả nhất vẫn là 1 vấn đề khókhăn,phức tạp
Câu 2: Vai trò trung gian tài chính
Các tổ chức tài chính trung gian là các tổ chức tài chính thực hiện chức năng dẫn vốn từ người có vốn tớingười cần vốn Tuy nhiên không như dạng tài chính trực tiếp, người cần vốn và người có vốn trao đổi trựctiếp với nhau ở thị trường tài chính, các trung gian tài chính thực hiện sự dẫn vốn thông qua một cầu nối.Nghĩa là người cần vốn muốn có được vốn phải thông qua người thứ ba, đó chính là các tổ chức tài chínhgián tiếp hay các tổ chức tài chính trung gian
Vốn luân chuyển trong nền kinh tế chủ yếu thông qua các tổ chức tài chính, các ngân hàngthương mại mà không phải qua thị trường tài chính bởi có những chi phí thông tin và chi phí giao dịch lớntrong nền kinh tế
Để những người cho vay nhân ra được những người muốn vay và để những người đi vay nhận rađược những người muốn ch vay là một vấn đề đòi hỏi chi phí đắt tiền Khi một người cho vay tìm ra được
Trang 5một người muốn cho vay, người này còn có thêm một khó khăn là phải chi phí thì giờ và tiền cho mộtcuộc kiểm tra tín nhiệm để biết được liệu người vay có thể hoàn trả vốn của ông ta không Ngoài các chiphí thông tin này, quá trình thực tế cho vay hoặc mua một chứng khoán cần đến các chi phí giao dịch ;trong trường hợp cho vay vốn, phải viết ra một hợp đồng vay thích hợp, còn trong trường hợp mua mộtchứng khoán, phải thanh toán cho người môi giới.
Trung gian tài chính và ngân hàng thương mại có thể giúp giảm chi phí giao dịch trên cơ sở: tiếtkiệm do quy mô( góp những vốn muốn cho vay của nhiều nhà đầu tư với nhau cho vậy họ có thể thu đượclợi ích nhờ phương pháp tiết kiệm do quy mô, tức là, sự giảm chi phí giao dịch cho mỗi đô la đầu tư khiquy mô giao dịch tăng lên) và mở rộng hiểu biết để giảm chi phí ( chẳng hạn, một ngân hàng có thể chinhiều tiền trong việc thuê một luật sư để soạn một hợp đồng pháp lý vay tiền hoàn hảo thì họ có thể sửdụng hợp đồng này nhiều lần trong những giao dịch cho vay của họ, như thế hạ thấp chi phí về luật phápcho mỗi giao dịch) Như vậy, trung gian tài chính có thể cung cấp cho các khách hàng của mình nhữngdịch vụ linh hoạt, tức là những dịch vụ làm dễ dàng cho các khách hàng thực hiện giao dịch
Hơn nữa, trong nền kinh tế luôn tồn tại tình trạng thông tin không cân xứng nên xuất hiện rủi rođạo đức và lựa chọn đối nghịch trong hoạt động luân chuyển vốn Là nơi nắm bắt nhiều thông tin củakhách hàng cũng như các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, các trung gian tài chính sẽ giúp làm giảm nhữngloại rủi ro này và khiến cho các đồng vốn được đảm bảo an toàn hơn Người cho vay sẽ an tâm hơn vềkhoản tiền của mình
Một đặc điểm nữa khiến các trung gian tài chính và ngân hàng thương mại được ưa chuộng hơnthị trường tài chính, đó là: đối với những người có quy mô vốn nhỏ thì khả năng họ có thể tham gia thịtrường tài chính là rất thấp bởi những rào cản về chi phí hay điều kiện để tham gia Còn đối với nhữngngười có nhu cầu sử dụng vốn không quá lớn nhưng vẫn muốn có nhu cầu sử dụng vốn cho công việc củamình thì việc tham gia trên thị trường tài chính là điều không thể Trong những trường hợp trên, phương
án khôn ngoan nhất chính là thông qua tổ chức tài chính trung gian để đáp ứng nhu cầu về vốn của mình
2 Tại sao vốn luân chuyển trong nền kinh tế lại chủ yếu thông qua các tổ chức tài chính, các NHTM mà không phải qua thị trường tài chính?
Các tổ chức tài chính trung gian là các tổ chức tài chính thự chiện chức năng dẫn vốn từngườicóvốntớingườicầnvốn.Tuynhiênkhôngnhưdạngtàichínhtrựctiếp,ngườicầnvốnvàngườicóvốntraođổitrựctiếpvớinhauởthịtrườngtàichính,cáctrunggiantàichínhthựchiệnsựdẫnvốnthôngquamộtcầunối.Nghĩalàngườicầnvốnmuốncóđượcvốnphảithông qua ngườithứba, đóchínhlàcáctổchứctàichínhgiántiếp haycáctổchứctàichínhtrunggian
Trang 6Vốnluânchuyểntrongnềnkinhtếchủyếuthông qua cáctổchứctàichính,cácngânhàngthươngmạimàkhôngphải qua thịtrườngtàichínhbởicónhững chi phíthông tin và chiphígiaodịchlớntrongnềnkinhtế.
Đểnhữngngườichovaynhânrađượcnhữngngườimuốnvayvàđểnhữngngườiđivaynhậnrađượcnhữngngườimuốnchvaylàmộtvấnđềđòihỏi chi phíđắttiền.Khimộtngườichovaytìmrađượcmộtngườimuốnchovay,ngườinàycòncóthêmmộtkhókhănlàphảichiphíthìgiờvàtiềnchomộtcuộckiểmtratínnhiệmđểbiếtđượcliệungườivaycóthểhoàntrảvốncủaông ta không.Ngoàicác chi phíthông tin này,quátrìnhthựctếchovayhoặcmuamộtchứngkhoáncầnđếncác chi phígiaodịch ; trongtrườnghợpchovayvốn,phảiviếtramộthợpđồngvaythíchhợp,còntrongtrườnghợpmuamộtchứngkhoán,phảithanhtoánchongườimôigiới
Trunggiantàichínhvàngânhàngthươngmạicóthểgiúpgiảm chi phígiaodịchtrêncơsở: tiếtkiệm doquymô(gópnhữngvốnmuốnchovaycủanhiềunhàđầutưvớinhauchovậyhọcóthểthuđượclợiíchnhờphươngpháptiếtkiệm do quymô, tứclà, sựgiảm chi phígiaodịchchomỗiđô lađầutưkhiquymôgiaodịchtănglên)vàmởrộnghiểubiếtđểgiảm chi phí( chẳnghạn, mộtngânhàngcóthể chinhiềutiềntrongviệcthuêmộtluậtsưđểsoạnmộthợpđồngpháplývaytiềnhoànhảothìhọcóthểsửdụnghợpđồngnàynhiềulầntrongnhữnggiaodịchchovaycủahọ, nhưthếhạthấp chi phívềluậtphápchomỗigiaodịch) Nhưvậy,trunggiantàichínhcóthểcungcấpchocáckháchhàngcủamìnhnhữngdịchvụlinhhoạt,
Mộtđặcđiểmnữakhiếncáctrunggiantàichínhvàngânhàngthươngmạiđượcưachuộnghơnthịtrườngtàichính,đólà:
đốivớinhữngngườicóquymôvốnnhỏthìkhảnănghọcóthểthamgiathịtrườngtàichínhlàrấtthấpbởinhữngràocảnvềchiphíhayđiềukiệnđểthamgia.Cònđốivớinhữngngườicónhucầusửdụngvốnkhôngquálớnnhưngvẫnmuốncónhucầusửdụngvốnchocôngviệccủamìnhthìviệcthamgiatrênthịtrườngtàichínhlàđiềukhôngthể.Trongnhữngtrườnghợptrên,phươngánkhônngoannhấtchínhlàthôngquatổchứctàichínhtrunggianđểđápứngnhucầuvềvốncủ
a mình
Câu 3: Vai trò của tổ chức chuyên biệt với nền kinh tế
Trang 7d) Các công ty Tài chính Phát triển (Development Finance Companies DFC.s)
Thuộc loại này có thể bao gồm nhiều loại thể chế tài chính khác nhau Tuy nhiên, đặc tính chungcủa thể loại này là cung cấp tài chính dài hạn cho các dự án phát triển Loại hình DFC thường hay gặpnhất là ngân hàng phát triển, trong đó có một số chuyên doanh theo loại hình cho vay vốn, chủ yếu là chovay nông nghiệp hoặc công nghiệp
Mặc dầu hiện nay các DFC thường hay chỉ có tại các quốc gia đang phát triển, thực tế không phảilúc nào cũng đúng như vậy Vấn đề đặt ra ở đây là tại sao các nước đang phát triển lại áp dụng hình thức
Tổ chức Tài chính Phát triển với một sự say mê rõ rệt tới như vậy, và liệu làm như vậy là có đúng không?
Câu hỏi thức nhất có thể được trả lời theo hai cách khác nhau Thứ nhất, khu vực tư nhân khôngcung cấp đủ các loại hình thể chế cũng như vốn để có thể cho vay dài hạn nhằm mục đích đầu tư Hậu quảcủa việc không tồn tại các thể chế tài chính tại nhiều nước lại bị làm trầm trọng thêm bởi việc không cóthị trường chứng khoán (bất kể là có tổ chức hay không có tổ chức) cũng như bởi sự khan hiếm của nguồnvốn tự có (retalned earings) là loại vốn đáp ứng phần lớn nhu cầu về vốn cho khu vực công nghiệp vàdịch vụ tại Anh và Mỹ trong thể kỷ 19 Thứ hai, vai trò trung tâm trong phát triển kinh tế của chính phủ
đã buộc họ phải thành lập nên các thể chế để có thể xác định, đánh giá, khuyến khích, cấp tài chính vàthực hiện các dự án phát triển Loại thể chế như vậy chính là ngân hàng phát triển Tại nhiều nước vai tròchủ đạo của chính phủ trong việc thúc đẩy phát triển không phải là xuất phát từ ý muốn “xã hội hóa” hoặc
“tập trung hóa” nền kinh tế, mà chính là từ việc nhận thức được sự thiếu hụt của khu vực tư nhân trongviệc đáp ứng nhu cầu đầu tư của quốc gia Do vậy, ngân hàng phát triển đảm nhiệm một vai trò lớn hơn
so với trường hợp chúng chỉ đơn thuần là một thể chế tài chính của khu vực tư nhân Loại hình ngân hàngphát triển đã trở thành một công cụ chính sách của chính phủ, và thường được mong đợi là sẽ hoạt độngphù hợp với lợi ích phát triển kinh tế lâu dài của quốc gia Đây là một chức năng thường mâu thuẫn vớitiêu chí hoạt động có lợi nhuận của những ngân hàng này
Những mục đích rộng lớn hơn mà chính phủ mong đợi các ngân hàng phát triển thường có:+ Tạo công ăn việc làm
+ Tiết kiệm hoặc tạo ngoại lệ
+ Phân phối thu nhập (giữa các giai cấp xã hội, các khu vực, các nhóm chủng tộc và thậm chígiữa nam và nữ)
+ Đa dạng hóa công nghiệp
Trang 8+ Hiện đại hóa nông nghiệp
+ Phát triển doanh nghiệp nhỏ
+ Khuyến khích hoạt động kinh doanh sáng tạo
ro của tổ chức đó tới một mức độ không còn được coi là hợp lý
+ Ngân lưu của dự án không đáp ứng được các điều kiện thanh toán nợ thông thường Khi đó, cácDFC buộc phải gia hạn thời gian ấn hạn, hoặc các thời hạn cho vay thông thường Có thể các DFC sẽ làmđược như vậy nhưng đối với một DFC hoạt động trên cơ sở vốn lưu chuyển tuần hoàn, việc dự án chậmthanh toán sẽ làm hại tới khả năng cấp vốn vay cho các dự án khác trong tương lai (và có thể là những dự
án đáng được cấp vốn vay hơn)
+ Ít hoặc không có hình thức bảo lãnh thế chấp phù hợp Điều này thường đúng đối với trườnghợp các doanh nghiệp nhỏ (theo Kitchen, 1978) hoặc các doanh nghiệp đã mang thế chấp các tài sản hiện
có Trong trường hợp các doanh nghiệp bị thất bại, thị trường mua bán các loại tài sản này lại rất có thểchỉ mang tính chất hạn hẹp, do vậy khi đem bán chẳng thu được là bao Tại các quốc gia càng nhỏ vàcàng nghèo thì điều này càng đúng
+ Các doanh nghiệp chủ đầu tư có ít kinh nghiệm trong lĩnh vực đang xin đầu tư hoặc trong cáclĩnh vực khác Những rủi ro này rất có thực nếu như ngành công nghiệp hoặc loại hình công nghệ liênquan là mới đối với quốc gia đó
Như vậy, một điều rõ ràng là DFC phải chịu những rủi ro thương mại và tài chính rất lớn, và căn
cứ theo lý thuyết thị trường vốn, điều này sẽ đòi hỏi phải có một tỷ lệ sinh lợi Tuy nhiên, việc phải đápứng được các mục tiêu quốc gia của chính phủ lại thường có nghĩa là các tổ chức ngày thường buộc phảicấp vốn cho các dự án có mức sinh lời dự kiến tương đối thấp, thấp hơn mức sinh lợi có thể chấp nhậnđược theo tiêu chuẩn thương mại thông thường Hơn nữa, các mục tiêu của chính phủ có thể sẽ làm cho
Trang 9các DFC chỉ tập trung vốn cho vay và đầu tư cho một số ngành hoặc lĩnh vực nhất định (ví dụ: nôngnghiệp), do vậy làm các tổ chức này mất đi khả năng đa dạng hóa hình thức đầu tư của mình Dường như
là các mục tiêu tài chính và quốc gia mà các DFC phải đáp ứng thường khó hòa hợp với nhau Chỉ riêngđáp ứng các yêu cầu tài chính của các tổ chức này cũng đã là một kế hoạch đầy tham vọng, nên việc đòihỏi chúng phải hoạt động như một tổ chức “xã hội” có thể là quá mức Việc tồn tại nhiều dự án vừa khảthi về tài chính lại vừa đáng mong ước về mặt xã hội sẽ loại bỏ được sự phân lập này Tuy nhiên, nhữngbiến dạng trong nền kinh tế nhiều nước đang phát triển lại có nghĩa rằng các tổ chức DFC chưa sẵn sàngthỏa mãn được những mục tiêu mâu thuẫn này Đồng thời, còn có mối nguy hiểm khác nữa là các tổ chứcDFC này sẽ trở thành “người cho vay cuối cùng” (lender of last resort) chuyên cấp vốn cho các dự án màcác tổ chức tài chính tư nhân không chấp nhận cho vay
Lý thuyết thị trường vốn có liên quan nhiều tới các ngân hàng phát triển Trong lĩnh vực nhiều rủi
ro, việc theo đuổi mức sinh lợi cao là một việc quan trọng Việc nhận thức được rằng một số lĩnh vực đầu
tư mang tính rủi ro cao hơn so với các lĩnh vực khác sẽ giúp các ngân hàng thấy phải sử dụng mức chiếtkhấu cao hơn đối với các dự án nhiều rủi ro Đồng thời, các tổ chức DFC cần phải đầu tư vào nhiều hìnhthức vốn nợ và vốn cổ phần khác nhau để có thể đa dạng hóa các rủi ro riêng có Nguyên tắc đa dạng hóalập luận rằng không nên thành lập các tổ chức tài chính mang tính chuyên doanh cao do các tổ chức đó sẽ
bị hạn chế trong việc đa dạng hóa rủi ro Nếu các tổ chức DFC được vận hành theo đúng những nguyêntắc nêu trên thì kết quả hoạt động của chúng sẽ ngày càng được cải thiện, giúp chúng thu hút được thêmnguồn vốn mới (ví dụ thông qua phát hành trái phiếu), tạo điều kiện cho việc vay và đầu tư tăng thêm, vànêu một tấm gương sáng cho khu vực tư nhân thấy là doanh nghiệp có thể hoạt động có lãi Một tổ chứcDFC yếu kém vè mặt tài chính thường khó có thể tư vấn cho khách hàng cách thức vận hành doanhnghiệp hoặc cách thức huy động thêm vốn cho mình trên thị trường Tuy vậy, chúng ta cũng nêu nêu lênrằng huy động vốn là vai trò thứ yếu của các DFC Dĩ nhiên, các tổ chức này có thể tham gia vào thịtrường vốn thông qua hình thức phát hành trái phiếu và cổ phiếu (cho mình và cho khách hàng) nhưng các
tổ chức đó không được trang bị để huy động những khoản tích lũy nhỏ trên qui mô toàn quốc Sẽ có hiệuquả hơn nếu để cho các ngân hàng tiết kiệm và cho vay chuyên doanh hoặc các bưu điện thực hiện nhữngchức năng đó,
Đây có thể là một quan điểm gây nhiều tranh cãi, nhưng xem ra chúng ta nên tạo điều kiện choDFC hoạt động như là những thể chế tài chính tốt hơn là như những tổ chức xã hội và nên để cho chínhphủ tập trung giải quyết hoặc giảm bớt các biến dạng kinh tế thường buộc các tổ chức DFC phải giảiquyết những mục tiêu kinh tế và xã hội có thể mâu thuẫn nhau Mối nguy hiểm của csc dự án yếu kém vềtài chính là ở chỗ mức sinh lợi của các dự án này thấp hoặc lâu sinh lợi (hoặc cả hai) Nếu phải cấp tàichính cho những dự án như vậy, thì khả năng cấp vốn tài chính cho các dự án tương lai của các DFC sẽ bị
Trang 10hạn chế, gây hại cho tăng trưởng kinh tế và tài chính quốc gia Kinh nghiệm của DFC (Công ty Tài chínhQuốc Tế) là một ví dụ minh họa cho sự hoạt động kém hiệu quả của các DFC, IFC thu được mức sinh lợitrung bình là 15% cho toàn bộ hoạt động đầu tư của mình, nhưng phần đầu tư của IFC vào các tổ chứcDFC chỉ mang lại được mức sinh lợi 10%.
Lý do tồn tại của một tổ chức DFC trong một nền kinh tế thị trường (hoặc hỗn hợp) là để nhằmcung cấp vốn dài hạn (vốn vay hoặc vốn cổ phần) mà thị trường tài chính không có khả năng cung cấp.Chúng ta không thể phủ nhận được rằng những khoản vốn đó là cần thiết cho công nghiệp, nông nghiệp,một số ngành dịch vụ nhất định và các dự án cơ sở hạ tầng trong những trường hợp chính phủ không trựctiếp cấp tài chính hoặc không dùng được vốn ngắn hạn để cấp vốn do không có khả năng có vốn liên tục
để cấp Các tổ chức DFC đã cung cấp được nguồn vốn dài hạn tới mức độ mà các tổ chức đó có thể làmđược Câu hỏi lúc này đặt ra là liệu các tổ chức DFC lẽ ra đã có thể làm việc đó một cách hiệu quả hơntheo một phương thức khác tốt hơn hay không? Đồng thời, chúng ta cũng có thể thấy một điều rằng các tổchức DFC thường hay cấp vốn tài chính với mức lãi suất thấp hơn mức thị trường, mọt phần là do các tổchức này được nhận vốn ưu đãi từ chính phủ và đợc hưởng lợi bởi chính sách kiềm dchees lãi suất Các tổchức này còn đóng vai trò là cơ quan cho vay lại (on-lending) các khoản vốn của các cơ qan cho vay nướcngoài, chủ yếu cấp cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa là những doanh nghiệp cũng thường được nhận mứclãi suất ưu đãi Trong hầu hết mọi trường hợp, các tổ chức này có một vị trí được ưu ái và bảo hộ trongkhu vực tài chính, là nơi cũng ít diễn ra sự cạnh tranh giữa các thể chế tài chính
Ở những nước chỉ có một số ít các tổ chức tài chính (và các tổ chức này lại hạn hẹp trong chiếnlược cho vay) và các hoạt động kinh doanh chỉ tập trung vào mục đích chộp giật cũng như khả năng bảolãnh vay nợ còn bị hạn chế, thì sự tồn tại của các tổ chức DFC là một sự cần thiết Phần lớn các nước kémphát triển đều ở trong tình trạng như miêu tả trên đây, nhưng các chính phủ theo đuổi mục đích phát triểnmột khu vực tài chính cạnh tranh và ngày càng lớn cũng cần phải thấy rằng về lâ dài, vị trí được ưu ái củaDFC là không phù hợp với mục tiêu mà chính phủ đó đang theo đuổi Hơn nữa, một tổ chức DFC đượcbảo hộ thậm chí còn đưa tới tình trạng không khuyến khích được sự phát triển của các thể chế tài chínhthuộc khu vực tư nhân do khu vực tư nhân sẽ không thể cạnh tranh và hậu quả là việc phát triển khả năngcung cấp tài chính dài hạn của khu vực tư nhân sẽ bị hạn chế Tại một số nước, trong đó có cả Indonesia
và Philippine, các ngân hàng phát triển tư nhân cùng tồn tại với các ngân hàng phát triển của chính phủ vàđiều đó cho thấy các ngân hàng tư nhân hoàn toàn có thể hoạt động được trong điều kiện hạn chế vềthương mại Ngân hàng phát triển của Singapore là một công ty công cộng, có cổ phiếu niên giá trên thịtrường chứng khoán Do đó, xét về mục đích lâu dài xem ra các chính phủ nên cho tư nhân hóa các ngânhàng phát triển của mình và khuyến khích các tổ chức này phát triển và đa dạng hóa sang các loại hìnhhoạt động khác như: cho thuê tài chính, quĩ vốn rủi ro như các loại hình dịch vụ tài chính khác
Trang 11Nếu trong trường hợp không phát triển hình thức các tổ chức DFC thì liệu có phương thức cungcấp vốn dài hạn nào khác được phát triển thay thế hay không? Giải pháp thay thế có khả năng xảy ranhiều nhất là các ngân hàng thương mại thực hiện chức năng cấp vốn tài chính dài hơi hơn, và trên thực tế
sẽ trở thành các ngân hàng tổng hợp, hoặc nếu không thì theo một giải pháp khác thị trường vốn sẽ phảiphát triển mạnh hơn, trong đó có sư tham gia tích cực của các ngân hàng đầu tư, các tổ chức tài chính(như công ty bảo hiểm, quĩ hưu trí) cho vay dài hạn và tham gia đầu tư cổ phần, đồng thời thị trườngchứng khoán sẽ phải phát triển mạnh hơn Tại nhiều nước, giải pháp huy động vốn dài hạn thông qua thịtrường chứng khoán là không thể nghĩ tới trong những năm 50, 60 và thậm chí hiện nay vẫn còn đúng đốivới nhiều nước do ở đó có các tổ chức tài chính và thị trường chứng khoán bị hạn chế rất nhiều do không
có nhu cầu, thu nhập thấp, hoặc do chính sách kiềm chế tài chính Trong hoàn cảnh đó, giải pháp thay thếđối với nhiều nước cho mô hình các tổ chức DFC chuyên doanh sẽ là các ngân hàng thương mại sẽchuyển thành các ngân hàng tổng hợp Điều này sẽ đòi hỏi phải có sự thay đổi lớn trong hoạt động củangân hàng, đi ngược lại với triết lý kinh doanh của ngân hàng cao tuổi Đơn giản hơn, các ngân hàngnước ngoài tại nhiều nước đang phát triển sẽ ngần ngại tham gia vào các cuộc chơi dài hạn khi tương laicủa các cuộc chơi này là không chắc chắn Việc một số quốc gia ngần ngại trong việc cho phép các ngânhàng nước ngoài gắn bó lâu dài với quốc gia mình cũng đã làm cho các ngân hàng nước ngoài càng thêmgắn với quan điểm nêu trên Mặc dù ngày nay các ngân hàng thương mại có xu hướng tham gia nhiều hơnvào hoạt động cho vay dài hạn, xem ra ít có ngân hàng nào lúc trước đây lại sẵn lòng trở thành ngân hàngtổng hợp Do vậy, chúng ta hoàn toàn có thể kết luận được rằng trong những năm 1950 và 1960, không cógiải pháp thực tiễn nào thay thế cho hình thức DFC Tuy nhiên rất nhiều quốc gia và nhiều tổ chức DFCtại các nước đó hiện đã đạt tới mức độ chín muồi nhất định để có thể xem xét kỹ tới vai trò tương lai củacác tổ chức DFC đó
(e) Các ngân hàng đầu tư theo kiểu Anh (merchant bank)
Các ngân hàng đầu tư là hình thức bổ trợ cho các ngân hàng thương mại theo kiểu Anh Ở Mỹ,chúng mang tên gọi là Investment Bank Với việc loại bỏ các ủy ban chứng khoán nhỏ tại Mỹ vào năm
1975, các ngân hàng đầu tư đã chuyển hóa thành các tập đoàn tài chính lớn và tình hình hiện nay cho thấy
là các ngân hàng đầu tư của Anh cũng sẽ phát triển theo hướng tương tự khi chúng ta xét tới thỏa thuận vềviệc xóa bỏ các ủy ban chứng khoán nhỏ tại đây Nhìn chung, các ngân hàng tổng hợp thực hiện chứcnăng của cả ngân hàng thương mại và ngân hàng đầu tư Do vậy, chúng ta sẽ thường chỉ thấy hình thứcđầu tư này (merchant bank) tại những nước có ngân hàng thương mại theo kiểu Anh hoặc Mỹ
Trước đây, các ngân hàng đầu tư này chủ yếu chuyên doanh cung cấp tài chính thương mại, đặcbiệt là chuyên chấp nhận hối phiếu Trong thế kỷ vừa qua, các ngân hàng này chuyển dần thành các ngân
Trang 12hàng phát hành và kinh doanh chứng khoán, lúc đầu chủ yếu là các loại cổ phiếu của Chính phủ nướcngoài và sau đó là cổ phiếu công ty Các ngân hàng này cũng cung cấp nhiều loại dịch vụ công ty khácnhau và thực hiện cả dịch vụ quản lý đầu tư (porttolio manager) cho các công ty và cá nhân Khác với cácngân hàng đầu tư kiểu Mỹ và các ngân hàng tổng hợp, các ngân hàng này không trực tiếp kinh doanhchứng khoán Trong cơ cấu tài chính kiểu Anh hiện nay, chức năng kinh doanh chứng khoán được dànhcho các công ty môi giới và kinh doanh chứng khoán Mặc dù các ngân hàng đầu tư kiểu Anh có cungcấp tài chính công ty (corporalefinace) và nhận tiền gửi, tổng lượng huy động trực tiếp của các ngân hàngnày thường là rất nhỏ Các sản phẩm tài chính trọn gói chủ yếu bao gồm vốn của các tổ chức khác, phầnlớn là của các ngân hàng và các thể chế thương mại Theo quan điểm của chúng tôi, tầm quan trọng chínhcủa các ngân hàng này chính là ở vai trò của chúng trên thị trường chứng khoán, và do vậy tôi sẽ để dànhmục này cho chương 6.
(g) Các quỹ tiết kiệm tại bưu điện (Posst Olllce SavingsBunks – FOSB).
Tại rất nhiều nước đang phát triển, bưu điện chính là thể chế nhận tiền gửi tiết kiệm dễ tiếp cậnnhất đối với đại bộ phận dân chúng, do bưu điện có chi nhánh ở khắp nơi, đặc biệt là các vùng nông thôn,đồng thời lại không quá uỷ quyền trong con mắt của các tầng lớp thấp Do đó, loại thể chế này huy độngđược những khoản tích luỹ mà lẽ ra đã được cất kỹ trong gương hoặc đem ra chi dùng Đồng thời, phươngthức này cũng không đòi hỏi chi phí tốn kém trong khâu điều hành do việc nhận gửi tiết kiệm chỉ là mộttrong nhiều chức năng của bưu điện Tuy nhiên, bưu điện không cung cấp tín dụng, do đó không thể đượccoi là các tổ chức tài chính trung gian Nguồn vốn huy động được của bưu điện thường được dùng để đầu
tư vào tín phiếu và trái phiếu chính phủ, do vậy góp phần vào tài chính Chính phủ Trong chừng mực mứclãi suất bị kiềm chế, chính phủ sẽ nhận được một nguồn vốn tài chính với giá rẻ từ các cơ quan bưu điện,với phần thiệt thuộc về những người gửi phải chịu mức lãi suất bị kiềm chế Hơn nữa, quy trình nàythường có xu hướng hút vốn ra khỏi các vùng nông thôn nghèo khó để đưa tới các vùng trung tâm.UNESCO (1973) đã có nhận xét như sau trong bối cảnh của châu Phi: “Về việc huy động tích luỹ, cácquỹ tiết kiệm tại bưu điện là một hình thức thể chế thụ động và nên có một nỗ lực tích cực hơn đối vớinền kinh tế, đặc biệt là ở cấp địa phương” UNESCO (1973) cũng chỉ ra rằng mức tiền gửi tiết kiệm tạicác tổ chức bưu điện ở Châu Phi cũng đã ở mức trì trệ, thậm chí giảm sút, nhưng tại thời điểm đó chỉ cóhai quốc gia Châu Phi là Algeria và Swaziland là đã thành công trong việc thay thế hình thức quỹ tiếtkiệm tại bưu điện bằng các loại hình thể chế thích hợp hơn đối với việc huy động tiền tiết kiệm của các hộgia đình – như Caisse Nationale d’Epargne et du Prevoyance (1966) và Ngân hàng Tín dụng và Tiết kiệmSwaziland (1965) Rõ ràng, các quỹ tiết kiệm có thể được thực hiện được nhiều loại hình dịch vụ (đặc biệt
là cung cấp tín dụng) và có thể vận hành như là một thể chế địa phương hoặc khu vực, do đó có thể
Trang 13khuyến khích kinh tế địa phương Các tổ chức này cũng có thể cung cấp tín dụng của khu vực tư nhâncũng như của Chính phủ.
(g) Các công ty bảo hiểm và quỹ hưu trí.
Các thể chế này tạo ra những cơ chế vô cùng quan trọng cho tích luỹ tại các nước phát triển vàcác khoản đầu tư của các thể chế này chiếm vị trí chủ yếu trên thị trường chứng khoán Ngược lại, tại cácnước đang phát triển, tầm quan trọng của các thể chế tài chính loại này lại rất hạn chế Thứ nhất, yêu cầucủa loại hình thể chế này đòi hỏi người tích luỹ phải góp theo định kỳ (thường là theo thang), do vậy chỉhạn chế ở những người có thu nhập thường xuyên ổn định Số người này ở các nước đang phát triển có íthơn là ở các nước phát triển Thứ hai, các khoản góp nhiều khi không được khuyến khích do không có cácchính sách thuế cần thiết Thứ ba, các thể chế thuộc loại này thường bị buộc phải đầu tư một phần đáng kể(thậm chí toàn bộ) phần vốn của mình để mua chứng khoán chính phủ, mà những chứng khoán loại này ởcác nước bị kiềm chế tài chính lại thường chỉ mang lại mức sinh lợi thực (rcal) thấp hoặc âm Ngoài ra,những đòi hỏi như vậy còn hạn chế việc dùng vốn góp để đầu tư mua trái phiếu và cổ phiếu của công ty
mà lẽ ra các công ty bảo hiểm và quỹ hưu trí có thể thực hiện, vì vậy gây kiềm chế sự tăng trưởng của thịtrường chứng khoán và hạn chế nguồn vốn dài hạn dành cho khu vực tư nhân
Mặc dù tầm quan trọng của các thể chế này trong tiết kiệm và đầu tư vẫn còn nhỏ bé tại các nướcđang phát triển, hiện tình hình cho thấy tại một số nước, các tổ chức này đang phát triển rất nhanh.UNESCO (1973) có nhận xét về: “tốc độ tăng trưởng của các công ty bảo hiểm tại châu phi” TạiIndonesia, nguồn vốn huy động được bởi các công ty bảo hiểm nhân thọ và quỹ bảo hiểm xã hội tăng47% và 45% trong các năm 1978 và 1979 (Mức tăng ưowng ứng trong chỉ số CPI là 28%) Xu hướng cácchính phủ thường cho phép cơ chế tích luỹ này được ưu đãi về thuế sẽ kích thích sự tăng trưởng của hìnhthức này, mặc dù khi đó thị trường tài chính sẽ bị thêm nhiều biến dạng Ngoài ra, có thể chế này đôi lúc
bị coi là những đối tượng đầu tư quá dè dặt và bảo thủ, không chạy theo mức sinh lợi cao Trên thực tế, cómột số trường hợp chỉ mang lại sức sinh lợi vô cùng thấp Trong những trường hợp như vậy, tác động của
sự biến động trên thị trường có thể dẫn tới tình trạng vốn bị hướng vào các khoản đầu tư an toàn nhưnglợi tức thấp thay vì vào các khoản đầu tư mới, rủi ro cao hơn nhưng lợi tức hứa hẹn cũng cao hơn Sự tăngtrưởng của bảo hiểm nhân thọ cũng chịu tác động của tỷ lệ lạm phát cao và tình trạng bị kiềm chế của thịtrường tài chính Emery (1970) có cân nhắc rằng “khu vực bảo hiểm tại hầu hết các nước Đông Nam Ákhông phải là một nguồn vốn đáng kể” Chỉ có ở Malaysia các công ty bảo hiểm mới có vai trò quantrọng trong việc cung cấp nguồn vốn phí ngân hàng Ở Singapre, Philippine và Miến điện, các công tynày chỉ đóng một vai trò tương đối quan trọng Tại các nước khác, khu vực này luôn hoàn toàn khôngquan trọng Emery cho rằng sự tăng trưởng của khu vực này bị hạn chế do “chỉ có một bộ phận nhỏ dân
Trang 14chúng có quan tâm tới bảo hiểm nhân thọ “và “tỷ lệ lạm phát cao ở indonesia và Việt Nam, 2 trong sốnhiều nước khác, cũng làm cho việc bán dịch vụ bảo hiểm bị hạn chế Đối với các nước Mỹ la tinh, Riette(1979) cũng nhận thấy rằng “tỷ lệ tích luỹ qua hình thức bảo hiểm nhân thọ đã ngày một giảm trongnhững năm gần đây, chủ yếu là do tác động của lạm phát đã hạn chế việc bán các hợp đồng và chính sáchbảo hiểm nhân thọ”.
Các số liệu về nguồn vốn đầu tư cho hình thức bảo hiểm nhân thọ tại các nước thứ ba không đượcđầy đủ lắm, mặc dù cảm giác chung là doanh số không lấy gì làm quan trọng Rietti (1979) cho rằng tạiChâu Mỹ la tinh, chí có khoảng 5% bộ phận dân chúng tham gia hoạt động kinh tế là có mua bảo hiểmsinh mạng, và trong toàn khu vực, chỉ khoảng 25% thu nhập quốc dân được mua bảo hiểm nhân thọ, trongkhi đó tại các nước phát triển, con số này là 100%
Tương tự, các quỹ hưu trí cũng không có vị trí quan trọng Emery (1970) báo cáo rằng chỉ có 4nước Đông Nam Á (trên tổng số 10 nước) là có những quỹ hưu trí chính thức Đó là Malaysia, Singapore,Phillipine và Miến điện Tuy nhiên, nguồn quỹ từ các thể chế này tại Malaysia, Singapore và Phillipinecũng chiếm vị trí là một nguồn vốn dài hạn quan trọng và ở Malaysia, tính tại thời điềm cuối năm 1967,tổng đầu tư của các quỹ hưu trí của cán bộ công nhân viên cũng chiếm tới 80% tổng vốn cho vay và đầu
tư của các ngân hàng thương mại Kể từ đó tới nay, khu vực này cũng đã được mở rộng tại các nước kháctrong khu vực, trong đó có cả Indonesia Việc đầu tư của các quỹ hưu trí cũng phải chịu những quy địnhhạn chế của luật pháp và quy chế Ở Nigeria chẳng hạn, Quỹ Hưu trí Quốc gia do chính phủ sở hữu đầu tưphần lớn nguồn vốn của mình vào chứng khoán Chính phủ (theo Ajayi và Ojo) Tại Kenya, tình hình cũngtương tự Mức độ tăng hoặc huy động tích luỹ của các quỹ hưu trí bắt buộc cũng chưa được xác định rõràng Rất nhiều thành viên của các quỹ này có lẽ cũng sẽ tích luỹ một khoản đang kể phần đóng góp củamình tại các quỹ tương tự và sự đóng góp của cán bộ công nhân viên trong các chương trình do chính phủđưa ra cũng chỉ là một khoản thuế lượng phát sinh thêm mà thôi Nhưng tác động của các quỹ này, đặcbiệt đối với các quỹ do chính phủ lập ra, là đã hướng vốn tích luỹ vào trong tay chính phủ Các quy nàycòn thực hiện chức năng chuyển hoá thời hạn, do tính chất dài hạn của phí bảo hiểm cho phép vốn đượccấp vay trên cơ sở dài hạn Phương án tích luỹ khác (ví dụ: gửi tiền tại ngân hàng thương mại) có sẽkhông cho phép thực hiện chức năng chuyển hoá thời hạn như vậy
(h) Các công ty cho vay xây dựng nhà ở (Housing Finance Companies)
Các tổ chức này thường nhận tiền gửi của hội viên để cho các hội viên khác vay mua nhà Ngườitích luỹ thường gửi tiền nhằm mục đích có đủ tieu chuẩn vay mua nhà Trên thực tế, có lẽ đây là lý do duynhất của việc tích luỹ theo phương thức này do một số công ty cho vay xây dựng nhà ở k hông dành chongười gửi những điều khoản ưu đãi lắm Phần lớn những khoản vốn gửi sẽ được dùng để cho vay mua
Trang 15nhà hoặc xây nhà, và đáy là phương tiện quan trọng để có vốn xây dựng nhà ở Phần vốn vay khả dụngđược dùng để đầu tư mua chứng khoán, thường là trái phiếu Chính phủ Tại một số nước, các Chính phủthường có chính sách ưu đãi thuế đối với tiền gửi và tiền trả lãi vay thế chấp nhằm khuyến khích ngườidân mua nhà, sở hữu nhà và tăng cường chất lượng nhà ở nói chung Mặc dù mục tiêu là chính đáng, kếtquả thực tế lại là những biến dạng trên thị trường tài chính, theo đó tiền được đổ vào đầu tư nhà ở đạt mứccao hơn so với trường hợp không có ưu đãi về thuế Tại Anh, việc cấp vốn vay tài chính đầu tư nhà ở đôikhi bị chỉ trích do đã hút một khoản quá lớn tiền tích luỹ vào mục đích đầu tư nhà ở, làm ảnh hưởng tớiđầu tư công nghiệp và kích thích giá nhà tăng cao.
Dĩ nhiên, các tổ chức này vay ngắn cho vay dài Do vậy, chức năng chính của loại hình thể chếnày là chuyển hoá thời hạn, và cũng vì vậy mà các tổ chức này rất dễ bị đổ (run) Nhưng nhìn chung, họcũng tránh được rủi ro này thông qua việc nhận tiền gửi của nhiều đối tượng gửi nhờ, phần lớn các đốitượng muốn gửi tiền để có đủ tiêu chuẩn vay đầu tư nhà ở Mức tiền gửi ổn định và người vay trả nợ đúnghạn là các yếu tố quan trọng đối với hoạt động của các tổ chức này Tại một số nước, các tổ chức nàyđược chính phủ bảo đảm (thậm chí do chính phủ sở hữu) Tại các nước khác, như ở Anh chẳng hạn các tổchức này được bảo đảm bởi các thoả thuận “cứu hộ” ký kết giữa các tổ chức với nhau nhằm được giúp đỡtrong trường hợp đổ bể Các tổ chức này thường thu hút những người tích luỹ nhỏ và có cạnh tranh vớingân hàng và bưu điện trong việc thu hút vốn gửi Tuy nhiên, đối với người gửi tiền thì động cơ chínhchính là lời hứa sẽ được vay đầu tư nhà ờ sau khi đã đạt được một mức tiền gửi nhất định hoặc sau mộtthời hạn tích luỹ nhất định Vì lý do đó, các tổ chức cấp vốn vay xây nhà cũng có tác dụng khuyến khíchtích luỹ và có thể cũng tăng được tích luỹ, chứ không chỉ đơn thuần chuyển tích luỹ từ hình thức thể chếnày sang hình thức thể chế khác
Một điều thú vị là nguồn gốc của các tổ chức cho vay đầu tư xây dựng bắt đầu tư những thể chếtiết kiệm và cho vay phi chính thức tại miền bắc nước Anh trong thế kỷ 19 Có một số tồn tại mãi, songcũng có một số chấm đứt hoạt động sau khi các thành viên của mình đã mua nhà xong Quy mô và tầmquan trọng của loại hình tổ chức này trong khu vực tài chính của Anh cho thấy tiềm năng phát triển thànhcác tổ chức chính thức của các tổ chức tài chính phi chính thức tại các xã hội đang phát triển
Tại các thuộc địa của Anh, mô hình này cũng diễn ra tương tự, ví dụ như tại Malaysia Tuy nhiên,tại các nước khác, các ngân hàng tiết kiệm và cho vay và các ngân hàng cho vay thế chấp mua nhà thường
là nguồn cung cấp vốn vay đầu tư ở nhà chính
(i) Các ngân hàng tiết kiệm và cho vay (Savings and Loans Banks).
Trang 16Các ngân hàng tiết kiệm (tên gọi tắt của các loại tổ chức nêu trên) là những trung gian tài chínhphi lợi nhuận, có những mục tiêu sau đây:
+ Nhận tiền gửi tiết kiệm cho đầu tư xây dựng nhà ở, đặc biệt cho nhóm người có thu nhập thấp.+ Cấp tín dụng cho người gửi tiết kiệm và cho các đối tượng khác, chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ
và cá nhân đóng trong vùng hoạt động
Các tổ chức này có thể do chính phủ sở hữu hoặc do chính quyền địa phương, khu vự sở hữu,nhưng cũng có thể hoạt động dưới hình thức hợp tác xã Các tổ chức này có một lịch sử rất lâu đời, bắtnguồn từ Scolland vào năm 1810 Ngân hàng tiết kiệm tín thác được thành lập ở Anh vào năm 1817 và đãphát triển nhanh chóng, đạt số lượng 400 chi nhánh với tổng lượng tiền gửi 14 triệu Bảng Anh của400,000 người gửi Các tổ chức này không hoàn toàn đạt được mục tiêu của mình, vì hấp dẫn với cả tầnglớp trung lưu cấp thấp, tầng lớp tư sản lẫn người nghèo, và vì vậy đã dẫn tới hình thức quỹ tiết kiệm tạibưu điện vào năm 1861 Fishlow (1961) có nhận xét rằng:
Các quỹ tiết kiệm tại bưu điện được thành lập vào năm 1861 chính là để bù đắp cho sự thất vọng với hoạt động của các ngân hàng tiết kiệm Hình thức mới này nhanh chóng vượt ngân hàng tiết kiệm cả
về mức tiền gửi lẫn số lượng người gửi tiền Đồng thời, hình thức này có thể thu hút được người gửi thuộc tầng lớp thấp một cách có hiệu quả hơn Ngân hàng Tín thác, vốn được thành lập với những niềm
hy vọng to lớn, mau chóng bị đưa xuống vai trò th ứ yếu trong việc thu hút các khoản tích luỹ nhỏ.
Mặc dù khái niệm về hình thức ngân hàng tiết kiệm rất hấp dẫn đối với các nước đang phát triển
do thu hút được các khoản tích luỹ mà lẽ ra đã không được sử dụng, hình thức này không thể mặc nhiênđược coi là liều thuốc chữa bệnh đối với khu vực tài chính của các nước đang phát triển Một điều thú vị
là UNESCO (1973) đã có báo cáo rằng xu hướng chung của các nước châu Phi là thực hiện tổ chức lạicác quỹ tiết kiệm tại bưu điện thành các ngân hàng tiết kiệm, hoặc thành lập những ngân hàng tiết kiệmmới Cuối những năm 60 và trong những năm 70 một số nước cũng đi theo một trong số các mô hình trên.Chúng ta hãy cùng đánh giá hoạt động của các tổ chức này sau 10 – 15 năm hoạt động
Cơ cấu cho vay của các ngân hàng tiết kiệm tại các nước rất khác nhau Tại Mỹ, các hiệp hội chovay và tiết kiệm là nguồn cấp vốn lớn nhất cho đầu tư nhà ở nhưng Viện Ngân hàng Tiết kiệm Quốc tếlại không phân loại đó là một ngân hàng tiết kiệm Các tổ chức cho vay đầu tư xây dựng cũng không đượcphân vào loại này Tuy nhiên, một điều rõ ràng là nhìn chung một trong những chức năng cho vay chínhcủa các ngân hàng tiết kiệm là cung cấp tài chính xây dựng nhà ở Tại Tây Ban Nha, các tổ chức này cungcấp tới 75% lượng vốn cho vay thế chấp nhà ở Ở Ý và Đan Mạch, con số tương ứng khoảng 70% TạiArgentina, lượng vốn cho khu vực công cộng vay chiếm khoảng 40% tổng lượng cho vay của các ngân
Trang 17hàng tiết kiệm, tại Úc con số này là 35%, tại Thái Lan là 30% Có một số cho vay các doanh nghiệp nhỏtại địa phương là chủ yếu Các tổ chức xây dựng, quỹ tiết kiệm tại bưu điện, ngân hàng cho vay và tiếtkiệm đều có một chức năng chung là huy động các khoản tích luỹ nhỏ của tư nhân Tại nhiều nước, các tổchức này cùng tồn tại một lúc, (Tại Anh, các tổ chức thuộc loại này cùng tồn tại với Ngân hàng Tiết kiệmQuốc gia của Chính phủ, có chức năng tương tự) và cùng cạnh tranh để thu hút vốn Tuy nhiên, các tổchức này lại rất khác nhau trong việc cấp tín dụng Hiện còn chưa rõ đâu là giải pháp cho phép tối đa hoánguồn vốn huy động hoặc đâu là giải pháp ít tốn kém nhất Tuy nhiên, việc các tổ chức cho vay và tiếtkiệm phát triển với chi nhánh khắp nơi trong nước xem ra là rất hấp dẫn đối với các nước đang phát triển
do các tổ chức này có thể thu hút những khoản tích luỹ nhỏ, tại khu vực nông thôn, đồng thời cung cấp tíndụng cho các loại hình hoạt động khác nhau
Các tổ chức cho vay và tiết kiệm tại các nước châu Mỹ la tinh có xu hướng theo mô hình của Mỹ,với phần lớn là các tổ chức cho vay xây dựng, trừ lại các thuộc địa cũ của Anh Tổ chức cho vay và tiếtkiệm đầu tiên trong khu vực được thành lập tại Peru vào năm 1957 nhưng sau đó trong những năm 60 và
70, rất nhiều nước khác thành lập theo Kết quả là hầu như mọi quốc gia trong vùng đều có loại tổ chứcnày Tuy nhiên, ngay từ năm 30, 40, 50 các ngân hàng thế chấp cũng đã được thành lập để cung cấp vốnxây dựng nhà ở (chủ yếu cho giới trung lưu)
Cho tới năm 1970, Philiopine là nước duy nhất ở Châu Á có các tổ chức cho vay và tiết kiệm Ở
đó cũng có các ngân hàng tiết kiệm và các tổ chức cho vay xây dựng Tại Hồng Kông có các tổ chức chovay và xây dựng, trong khi đó tại Malaysia và Singapore có các công ty cho vay xây dựng Emery (1970)
có nhận xét: một trong các nhóm thành công nhất chính là các tổ chức cho vay xây dựng của Malaysia vàSingapore… Sự hoạt động của các tổ chức này có thể được coi là hình mẫu cho các nước Đông Nam Ákhác
2 CÁC TỔ CHỨC BÁN CHÍNH THỨC VÀ KHÔNG CHÍNH THỨC.
(a) Các hợp tác xã tín dụng và các hiệp hội tín dụng.
Các chương trình cho vay và tiết kiệm hợp tác xã hay tiết kiệm tương hỗ là khu vực chính thứctương đương với các chương trình cho vay và tiết kiệm không chính thức (xem dưới đây) Các tổ chứcnày chính thức ở chỗ chúng có đăng ký với Cục Đăng ký (hay phòng đăng ký) của các hợp tác xã hay cácCục đăng ký của các Tổ chức Tương hoá xã hội Cả Emery (1970) và Drake cho rằng các hợp tác xãthành công nhất là các hợp tác xã đô thị, nơi mà hầu hết thành viên là những người làm công việc vănphòng “công nhân cổ trăng” Các tổ chức này dường như là cung cấp tín dụng tiêu dùng hơn là các quỹđầu tư Các hợp tác xã nông nghiệp, mặt khác đôi thi được các chính phủ và các FDI sử dụng như là
Trang 18phương tiện để chuyển các khoản vay cho các tiểu nông để mua thiết bị, cải thiện đất đai và sử dụng vàovốn lưu động và vì vậy chúng ngay lập tức được coi là công cụ để cung cấp các tài trợ đầu tư Hoạt độngcủa chúng đã trở nên rất tồi tệ ở một số nước do việc thất thu các khoản nợ Hoạt động của chúng đã trởnên rất tồi tệ ở một số nước do việc thất thu các khoản nợ Mặc dầu các tổ chức tín dụng hợp tác xã cóthể là nguồn tài chính cho các tiểu nông, cấc tổ chức này, về mặt số lượng, ít khi cung cấp một khoản lớntín dụng nếu xét trong tổng tín dụng quốc gia.
Các hiệp hội tín dụng thực hiện các chương trình tiết kiệm hợp tác xã tức là cung cấp tín dụngcho các thành viên Với sự động viên của Uỷ ban hiệp hội tín dụng thế giới và một số các Hiệp hội Quốcgia của các hiệp hội tín dụng như ở Canada hay ở Mỹ, chúng ta được thành lập ở một số lớn các nướcđang phát triển Các tổ chức này thường là các tổ chức địa phương xét về mặt các thành viên và các hoạtđộng của chúng, chủ yếu tập trung tại các làng, cơ sở làm việc, thậm chí các tổ chức như nhà thờ Các tổchức này rất thịnh hành tại một số nước Emery (1970) ghi lại rằng ở Philippin có hơn 1000 các hiệp hộitín dụng vào cuối năm 1967 Vào cuối năm 1972, 21 nước Châu phi có các hiệp hội tín dụng Các tư cáchpháp nhân của các hiệp hội tín dụng ở các nước khác nhau thì khác nhau Các tư cách pháp nhân của cáchiệp hội tín dụng ở các nước khác nhau thì khác nhau; ở một số nước chúng là các tổ chức pháp lý do Nhànước quản lý; ở một số nước khác chúng không có tư cách pháp nhân và thực sự thuộc về khu vực tàichính không chính thức
Thường các tổ chức này bao gồm ít thành viên tham gia (tối thiểu là 25 thành viên) và khối lượngvốn nhỏ, các tổ chức này trả lãi cho các khoản tiền gửi và thu lãi (thậm chí lãi cao hơn rất nhiều) đối vớicác khoản cho vay đối với các thành viên Các khoản vay thường là ngắn hay trung hạn (lên tới 2 năm),hầu hết cho các mục đích tiêu dùng như là cưới xin, ma chay, mua sắm ô tô và phần trả trước cho việcmua nhà cửa Trong nhiều trường hợp cấc tổ chức này cung cấp cách tiếp cận các tín dụng mà các khuvực (ví dụ như các ngân hàng thương mại) Việc giám sát và quản lý thường do các chuyên viên được bổnhiệm theo tinh thần tự nguyện thực hiện, nhằm giữ các chi phí ở mức thấp, nhưng việc quản lý kém có lẽ
là nhược điểm lớn nhất của các tổ chức này Thêm vào đó, chúng cũng gặp các trường hợp vay nợ khôngtrả được và đặc biệt khi việc giám sát kém dẫn đến biến thủ vốn Các tổ chức này không cấp tín dụng chonhững người ngoài tổ chức và vì số lượng nhân viên hạn hẹp các tổ chức này có rất ít cơ hội để phát triển.Trong nhiều trường hợp chúng cung cấp tín dụng với lãi suất thực âm cho những người gửi tiền dẫn đếnkhông khuyến khích việc tiết kiệm
Sai lầm của các hiệp hội và hiệp hội và hợp tác xã tín dụng, rất dễ xảy ra, và cần phải thừa nhậnrằng mối quan hệ của tác giả với các tổ chức tín dụng (ở Zambia) cho thấy rằng các tổ chức này còn phảiphấn đấu nhiều hơn nữa Vì vậy thật là hài lòng khi ghi nhận một báo cáo gần đây rằng một số các tổ
Trang 19chức và hiệp hội tín dụng thành công trong việc cung cấp tín dụng nông nghiệp và nông thôn ở Châu Phi(Van Pizchke và Rouse, 1983) Báo cáo cho biết tổ chức Caisse Nationale de Crelit Agricole (Morocco)chương trình tiết kiệm hợp tác xã của Kenya, các hiệp hội tín dụng ở Camcroun, các câu lạc bộ tiết kiệmnông thôn ở Zimbabwe và các nhóm tín dụng ở Malawi đã thành công hay ít nhất là một phần nào đóthành công Những tổ chức này đối ngược với các thất bại chung của các tổ chức tự chovay nông thônhuy động các nguồn vốn nội bộ”.
(b) Các hội Cho vay và Tiết kiệm không chính thức.
Các chương trình tín dụng hợp tác xã và các hiệp hội tín dụng thường đăng ký với chính phủ hay
là một phần của phong trào quốc gia và vì thế được coi là chính thức hoặc là các tổ c hứ bán chính thức.Ngoài các tổ chức kiểu này, các hội cho vay và tiết kiệm không chính thức với chức năng như là các câulạc bộ tiết kiệm cho các thành viên và cũng cung cấp các khoản vay cho các thành viên Chủng được sửdụng bởi phần lớn những người không thể tiếp cận được với các hiệp hội cho vay và tiết kiệm khôngchính thức, và không có các tài khoản ngân hàng, hoặc là vì các tổ chức chính thức không gần về mặt địa
lý, hoặc vì các cá nhân không có vị trí tài chính và xã hội thích hợp Vì vậy hình thức này rất phổ cập ởcác vùng nông thôn nói chung có thể cung cấp các thông tin rẻ hơn những người cho vay khác, và cũngrất phổ cập tại các vùng đô thị nơi mà chúng cung cấp những lãi suất hấp dẫn hơn so với các tổ chức tíndụng đông đúc khác cho những người tiết kiệm
Các hội hội cho vay và tiết kiệm không chính thức có thể hoạt động theo nhiều cách khác nhau
Có thể là các quỹ có vốn cố định (như các ngân hàng), có nguồn vốn biến động, trong đó các thành viênđóng góp theo từng tháng, lần lượt, cố định hay theo kỳ Họ có thể cho vay vì bất cứ mục đích nào hay cóthể giới hạn việc cho vay cho một số các mục đíc nhất định như nhà cửa hay giáo dục Chúng có thể tồntại để tiết kiệm việc chi tiêu của cộng đồng, như là các nhà máy cung cấp điện của làng xã Việc quản lýthường được các thành viên cung cấp miễn phí và vì vậy chi phí rẻ hơn Trong khi các hiệp hội có thểquan trọng đối với các thành viên, nhưng thực tế thì chúng chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng tiết kiệmcủa toàn đất nước Tuy nhiên, Begashaw (1977) ước lượng rằng ở Ethiopia, các hiệp hội không chínhthức thực hiện tiết kiệm và cho vay lên tới 8% hay hơn của tổng thu nhập đất nước
Các ngân hàng di động có thể hoạt động trên cơ sở không chính thức, cung cấp các dịch vụ chocác thương nhân và tại thị trường Chúng có thể trong một số trường hợp hoạt động như là các đại lý củanhững người cho vay hoặc các thương nhân trong khu vực không chính thức, như ví dụ ở Đông Phi theoMiracle, và Cohen (1980) Những người cầm đồ trên toàn thế giới cung cấp các tín dụng trên khu vựckhông chính thức ở các nước như Đông Nam bao gồm Indonêsia vàMiến Điện thì do chính phủ sở hữu vàđiều khiển hoạt động Các tổ chức này có thể khá lớn nhưng các số liệu về chúng thì còn rất hạn chế Ở
Trang 20Indônêsia năm 1979, ví dụ các hiệu cầm đồ cho vay cỡ khoảng 90 tỷ rupi, trong khi đóng góp bảo hiểmnhân thọ chỉ khoảng 66 tỷ rupi (theo báo cáo thường niên của Ngân hàng Indonesia 1980/ 1981) Emery(1970) báo cáo rằng ở Thái Lan các hiệu cầm đồ cung cấp một nguồn rất quan trọng đứng khoảng thứ tưsau các ngân hàng thương mại, Ngân hàng Tiết kiệm Chính phủ và Ngân hàng Trung ương, năm 1968.
(c) Tín dụng nông nghiệp và các thị trường tín dụng nông thôn không chính thức.
Khu vực tài chính nông thôn ở những nước đang phát triển còn rất rời rạc khác biệt với khu vựctài chính đô thị Thường thì các tổ chức đô thị thường tiếp cận các vùng nông thôn một các chắp vá Tuynhiên các cơ hội đối với tiết kiệm và tín dụng ở các vùng nông thôn rất hạn hẹp và ít hơn nhiều so vớithành thị, thường nảy sinh các "sở hữu tay đôi về tài chính" Tại các vùng nông thôn khu vực tài chínhkhông chính thức trở nên quan trọng hơn tại các vùng đô thị, và các tổ chức bán chính thức như các hợptác xã tín dụng thường được thấy nhiều hơn là các ngân hàng và các hiệp hội địa ốc Nhiều chính phủ (vàcác tổ chức trợ giúp) đã cố gắng thiết lập các tổ chức tín dụng nông nghiệp với mục đích là chuyển tíndụng (thường là tín dụng trợ cấp) cho các tiểu nong Các tổ chức như vậy thường không nhận tiền gửi vàcũng không huy động vốn
Thực tế là các chính phủ đã bỏ nhiều công nghiên cứu vấn đề này cho rằng chức năng của các tíndụng nông thôn không thể thực hiện một cách thích đáng bởi khu vực tư nhân hay ít nhất là khu vực tưnhân chính thức Các ngân hàng thương mại cho rằng khối lượng kinh doanh ở các vùng nông thôn làthấp Tính đến chi phí cố định tương đối cao của các chi nhánh ngân hàng, các ngân hàng thấy rằng khó
có thể hoạt động hiệu quả ở nhiều vùng, đặc biệt là nếu họ không được phép điều chỉnh chênh lệch giữalãi suất cho vay và lãi suất vay để trang trải các chi phí giao dịch Thậm chí nếu họ muốn làm điều này họ
có thể sẽ thành công chỉ khi họ phải di chuyển đi lại nhiều Thứ đến họ luôn coi tín dụng nông thôn vàtrang trại nhỏ là tín dụng có rủi ro cao và thường có xu hướng giảm lợi nhuận trừ khi họ có thể tăng lãisuất cho vay mà không giảm cầu về vay
Vì vậy đối với các vùng rộng lớn trên thế giới, các thị trường tài chính nông thôn thường hoạtđộng trên các chương trình hợp tác xã không chính thức hoặc bán chính thức, với những người cho vaytruyền thống (bao gồm thương nhân, người môi giới và các địa chủ) Những người cho vay này thường bịphê phán vì đã thu những lãi suất quá đáng Bottomley (1963, 1964, 1975) đã phân biệt 4 nhân tố quyếtđịnh lãi suất ở các vùng nông thôn
- tỷ lệ lãi suất phi rủi ro (đây là chi phí cơ hội của huy động vốn);
Cộng với - phần thu bù đắp rủi ro
Trang 21Cộng với - phần thu bù đắp chi phí giao dịch
Cộng với - nhân tố của lợi nhuận độc quyền
Khó mà có thể thực hiện việc phân chia các lãi suất nông thôn theo 4 nhân tố này Thường thì,mặc dù kết quả thu được là lãi suất thương mại tại các vùng nông thôn thường lớn hơn nhiều so với lãisuất các tổ chức tín dụng chính thức thu của khách hàng Ngân hàng thế giới (1975) đã ghi lại lãi suấtdanh nghĩa và lãi suất thực tế đối với nông dân, theo nguồn cho vay Tại tất cả các nước được liệt kê, lãisuất thương mại do các cá nhân cho vay thu thường cao hơn nhiều so với lãi suất các tổ chức tín dụng thu.Lãi suất thực tế được liệt kê cho tất cả các ngân hàng thương mại và các tổ chức cho vay ở 23 nước Tómtắt một cách sơ lược, lãi suất thực tế thu, trung bình trên 23 nước, là 3.6% đối với các tổ chức cho vay và54% đối với các cá nhân cho vay Sự chênh lệch thật sửng sốt
Tất nhiên hầu hết các tổ chức tín dụng đều được trợ cấp, nhưng người ta buộc phải nói đến lý dokhác đối với việc thu lãi suất quá cao của các cánhan cho vay Trong số 4 nhân tố quyết định choBottomley đưa ra, 3 lý do hoàn toàn có thể giải thích cho việc thu lãi quá cao này Trên tất cả thị trườngtài chính, lãi suất bao gồm tỷ lệ phi rủi ro cộng với phần trả cho rủi ro chấp nhận cộng với chi phí giaodịch là rất phổ biến Thực tế, thị trường tiền tệ không thể tồn tại nếu không có cơ sở như vậy cho lãi suất.Điều mà không thể chấp nhận được (không nghi ngờ gì chỉ có thể chấp nhận được đối với người cho vay)
là nhân tố lợi nhuận độc quyền, mà tôi sẽ trình bày một cách kỹ hơn dưới đây Một giải thích có thể nữa
là đối với lãi suất rất cao là những người cho vay thường dự đoán quá cao rủi ro của tín dụng nông thôn,
và vì vậy đã thu phí rủi ro cao Chúng tôi có ý định không đề cập nhiều đến lý do này vì cho rằng nhữngngười cho vay có kinh nghiệm và hiểu công việc kinh doanh của họ Phần thu bù đắp cho rủi ro có thể caonhưng dẫu sao cũng có thể điều chỉnh được Tuy vậy còn có một lý do nữa không được nói đến trong cácnhân tố quyết định của Bottomely là sự thiếu hiểu biết của người vay Thật đơn giản là họ không nhậnbiết được lãi suất thực sự mà họ trả, đặc biệt đối với tín dụng ngắn hạn Hơn nữa, họ không biết cácnguồn vốn rẻ hơn để xin vay hoặc là chính thức hoặc là không chính thức Gần đây chính phủ Anh đã đưa
ra yêu cầu rằng tất cả những người cho vay cần phải đưa ra giá thực tế tính theo năm và đầy là điều cầnthiết để bảo hộ người vay, người không bao giờ nhận ra được giá thực của khoản vay Vấn đề cần phảibàn kỹ hơn đối với các nước đang phát triển nơi mà giáo dục và máy tính cá nhân còn chưa được sử dụngrộng rãi Tuy vậy, bằng chứng về vấn đề này dường như là cá biệt hơn là hệ thống
Các tác giả khác nhấn mạnh các nhân tố khác mà tồn tại tại các thị trường chưa hoàn hảo Long(1973) bao gồm:
- Khan hiếm tư bản;
Trang 22- Chi phí quản lý cao;
- Tỷ lệ không trả được nợ cao;
- Tính thời vụ của nhu cầu tín dụng
Là các lý do có sự chênh lệch giữa lãi suất trong thị trường chính thức và không chính thức Cácchi phí quản lý và tỷ lệ không trả được nợ cao cũng được miêu tả trong sách của Bottomley, nhưng sựkhan hiếm vốn và tính thời vụ của cầu tín dụng được nhấn mạnh ở sự khác biệt giữa cung và cầu giữa khuvực không chính thức và chính thức Wai (1975, 1997) đề cập tới cung (thiếu vốn, lợi nhuận độc quyền,bảo đảm thiếu tin cậy, tỷ lệ không trả nợ) và cầu (mức thu nhập thấp của nông nghiệp, vay phục vụ nhucầu sơ đẳng về thức ăn, quần áo và chỗ ở, nhu cầu thời vụ; và mức giáo dục và tỷ lệ biết chữ thấp) để giảithích cho lãi suất trong thị trường không chính thức
Lợi nhuận độc quyền là nhân tố của tín dụng nông thôn mà gây nên tranh luận trong giới giáo dục
và đã trở thành mục tiêu của những nhà quản lý cop, những người muốn giảm ảnh hưởng bằng việc cungcấp các tín dụng rẻ và các tín dụng từ các tổ chức tín dụng để thay thế Nhưng mức lợi nhuận độc quyền
để đến mức độ nào? Không may là các bằng chứng còn rất hạn chế Xin trích dãn lời Ngân hàng thế giới(1975)
Rất ít nghiên cứu cho thấy các vấn đề về lãi suất trên thị trường không chính thức Các nghiêncứu chỉ ra rằng ở Ecuador, Ấn Độ, Indonesia, Thai Lan và Cộng hòa Việt Nam, cho thấy lãi suất đối vớicác khoản vay thương mại không quá cao so vói lãi suất trên thị trường Nhưng ở Malaysia và Chi lê, lãisuất là quá cao do độc quyền mà những người cho vay có được (p.29)
Wai (1977) đã tính toán một cách sơ bộ sự chênh lệch giữa lãi suất tại các thị trường tiền tệ có tổchức và không có tổ chức, dựa trên các số liệu đối với tín dụng cho nông dân bị quá hạn, ông đã kết luậnrằng các nhân tố rủi ro và lợi nhuận độc quyền cho mỗi tài khoản là khoảng 1/6 tổng chênh lệch, nhu cầucấp thiết là 1/3, với phần còn lại là do các nhân tố khác, chủ yếu do thiếu vốn và thế chấp không an toàn
Chi phí cao và khan hiếm tín dụng trong khu vực không chính thức đã buộc nhiều nước đang pháttriển phải thiết lập tổ chức tín dụng nông nghiệp và nông thôn Tài trợ ngoài nước đã động viên quá trìnhnày với trợ giúp về kỹ thuật và bằng việc sử dụng các tổ chức để thực hiện các chương trình phát triểnnông thôn Mục tiêu của các tổ chức tín dụng này là cung cấp thêm các tín dụng ở lãi suất thấp hơn lãisuất hiện hành trên thị trường không chính thức Wai (1977) thấy rằng trong 13 nước, mục tiêu này đềuđạt được ở một mức độ nào đó nếu so sánh giai đoạn 1948- 51 với 1968- 71 Chênh lệch giữa lãi suấtkhông chính thức và lãi suất chính thức đã thu hẹp từ 34% ở giai đoạn trước đến 19% ở giai đoạn sau, cho
Trang 23thấy 2 thị trường đã xích lại gần nhau Mặt khác, ông cho thấy, các luật nhằm giảm lãi suất không chínhthức không thành công.
Nhiều tổ chức đã được thiết lập, với sở hữu, tài trợ và trợ cấp bởi chính phủ Tuy vậy ở một sốnước, ví dụ Brazil, Ấn Độ, khu vực tư nhân đã dẫn vai trò chủ đạo, mặc cho việc chính phủ khuyến khíchhay kìm hãm Các Ngân hàng thương mại thường đóng vai trò nhỏ Một ngoại lệ là cố gắng của chính phủNigeria vào năm 1977, đã ra lệnh cho các ngân hàng thương mại mở các chi nhánh tại vùng nông thôn.Trong giai đoạn 1977 - 80, 200 chi nhánh nông thôn và sau đó 266 đã được mở Mặc dầu việc này đã dântới việc tăng tín dụng nông thôn và cung cấp nhiều cơ hội hơn cho tiết kiệm nông thôn nhưng chươngtrình này đã đem lại lỗ rất lớn cho ngân hàng Ví dụ vấn đề đi lại, nhân viên, ăn ở, lượng kinh doanh nhỏ
và thế chấp thiếu bảo đảm (Osuntogun và Adewunmi, 1983) Việc tăng nhanh các chi nhánh của các ngânhàng thương mại đã xẩy ra ở Ấn Độ, Indonesia, Philippines và Sri Lanka Về mặt lâu dài, người ta hyvọng rằng hệ thống tín dụng nông thôn sẽ hòa nhập vào thị trường tiền tệ quốc gia thông qua hệ thốngngân hàng thương mại Tuy nhiên, quá trình này sẽ không dễ dàng và Wilson (1980) đã nhấn mạnh yêucầu cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa chính phủ và ngân hàng thương mại nếu muốn thiết lập thành công
hệ thống ngân hàng ở nông thôn
Việc chính phủ cấp tín dụng lãi suất thông qua các tổ chức tín dụng nông thôn mới đầu có vẻ làmột phương án tối ưu Nỗ lực nhằm xóa bỏ lợi nhuận độc quyền trên thị trường tín dụng không chínhthức là rất đáng trọng, và người ta thông cảm với những cố gắng làm giảm khó khăn cho người nghèo.Tuy nhiên, những chương trình này thường gặp phải những khó khăn như lãi suất cố định cao, hệ thốngquản lý tín dụng sơ sài và tốn kém, việc phân bổ tín dụng sai chỗ làm cho tín dụng sai chỗ làm cho tíndụng chủ yếu đến với các phú nông hoặc chỉ được sử dụng như tín dụng tiêu dùng và việc các tổ chức tíndụng không khuyến khích hoạt động tiết kiệm ở địa phương Nhiều tổ chức thậm chí còn không nhận tiềngửi và nếu họ có nhận thì mức lãi suất cũng thường thấp Nhưng có lẽ quan trọng hơn cả là họ làm hỏngthị trường tài chính, dẫn đến sự phân bổ sai các nguồn lực, và theo ý kiến của tôi tình hình này chưa đượclàm một cách đầy đủ để hỗ trợ lớn đối với tín dụng nông thôn bằng chi phí của các ngành khác trong nềnkinh tế Tôi thấy có vẻ như mức lãi suất mà những người cho vay đặt ra chủ yếu phản ánh những rủi ro vàchi phí thực tế của việc cung cấp tín dụng nông thôn, không kể yếu tố lợi nhuận độc quyền mà theo Wai(1977) thì cũng có thể không lớn lắm Thực tế là sản xuất nông nghiệp nhỏ và manh mún lại có rủi ro rấtcao Đây không phải là lỗi của thị trường tín dụng, mà đúng hơn là lỗi của cơ cấu nông nghiệp Nếu nôngthôn đang tiến hành phát triển kinh tế lớn thì nhiều khả năng là giá hàng nông nghiệp ở nhiều nước sẽphải tăng, và các chủ đất sẽ phải liên kết lại với nhau để thiết lập những nông nghiệp ở nhiều nước đangtiến hành phát triển kinh tế lớn thì nhiều khả năng là giá hàng nông nghiệp ở nhiều nước sẽ phải tăng vàcác chủ đất sẽ phải liên kết lại với nhau để thiết lập những nông trang có qui mô hợp lý, được vận hành
Trang 24tốt cũng như được cấp vốn đầy đủ và có đánh giá rủi ro tín dụng tốt hơn nhiều so với nhiều người hiệnđang đi vay Lúc đó thì việc cạnh tranh để cho vay sẽ tăng lên và lãi suất sẽ giảm xuống Tất nhiên đây sẽ
là một quá trình không dễ dàng, và việc thu hút tầng lớp những người không có đất là nước công nghiệpphát triển, và nếu ai đó nghĩ rằng có thể đạt được sự phát triển kinh tế mà không phải trải qua những khókhăn đó thì người đó đang tự lừa dối mình Việc cấp tín dụng lãi suất thấp chỉ kéo dài cơ cấu nông nghiệpkhông thỏa đáng hiện thời, và nếu chính phủ muốn giúp đỡ nông dân nghèo thì tốt hơn cả là chính phủ cóthể làm việc đó bằng cách trợ cấp trực tiếp (bằng tiền hay các hình thức khác) hoặc bằng cách đưa ra giácao hơn đối với hàng nông nghiệp Adarns (1980) nhận xét rằng "Quá nhiều chính sách dành cho thịtrường tài chính nông thôn có tính chất rất lỗi thời và đang nhận được nhiều ý kiến về vấn đề nay, và tôicho rằng đã đến lúc phải kéo các chính sách thị trường tài chính nông thôn sang thế kỷ hai mươi", vàchúng ta thông cảm với quan điểm này
(d) Tín dụng đô thị không chính thức.
Trong khi một số lượng hợp lsy các khảo sát về thị trường tín dụng nông thôn được tiến hành: dotầm quan trọng của nó đối với nông nghiệp thì những thông tin về thị trường tín dụng đô thị lại rất hạnchế
Một nghiên cứu của Timberg và Aiyar (1984) cho thấy thị trường đô thị không chính thức đồngmột vai trò quan trọng trong việc tài trợ cho thương mại và công nghiệp ở các vùng đô thị, cung cấpkhoảng 20% tổng dự nợ tín dụng thương mại của những thị trường được nghiên cứu Những tổ chức côngnghiệp nhỏ tham gia trên thị trường này rất nhiều Theo Rao (1981), một cuộc điều tra của Ngân hàng Dựtrữ Ấn Độ đã cho thấy nguồn vốn tín dụng của những tổ chức phi tài chính đã đáp ứng được:
- 39% tổng số vay nợ của những tổ chức công nghiệp nhỏ mà phần đầu tư vào nhà xưởng và thiết
bị lên tới 1000 Rupi;
- 25% tổng số vay nợ của tất cả các tổ chức công nghiệp nhỏ;
- 3,5% tổng số vay nợ của các công ty tư nhân sở hữu những tổ chức công nghiệp nhỏ;
- 21,4% những khoản vay liên quan đến vốn cổ phần trong lĩnh vực công nghiệp nhỏ
Lãi suát trên thị trường không chính thức nói chung thường cao hơn lãi suất cho vay của ngânhàng khoảng 2- 4%, có khi tới 10% Một điều thú vị là, theo Timberg và Aiyar so với tín dụng ngân hàngthì tín dụng của thị trường không chính thức có chi phí hoạt động thấp hơn So với các ngân hàng thươngmại thì những ngườic cho vay trên thị trường không chính thức có những lợi thế sau:
Trang 25- Họ không phải để một phần vốn nằm im không sinh lời vì không phải dự trữ bắt buộc theo luậtđịnh.
- Họ có mối quan hệ gần gũi và thường xuyên với khách hàng của mình và với cả cộng đồng kinh
tế nối chung nên có thể cho vay mà không cần đảm bảo
- Họ có ít công việc giấy tờ và các thủ tục hành chính quan liêu
Từ những lợi thế này và từ kinh nghiệm của Ấn Độ có thể thấy rằng thị trường không chính thức
có một vai trò quan trọng tài trợ cho kinh doanh ở các đô thị của những nước đang phát triển Tuy là thiếunhững bằng chứng có hệ thống nhưng những bằng chứng cá biệt có thể chúng mình cho kết luận này
3 KẾT LUẬN
Ở nhiều nước đang phát triển những tổ chức tài chính chính thức vẫn còn lạc hậu và không có khảnăng cạnh tranh Những tổ chức này ít về mặt số lượng và đối với phần đông dân cư thì việc tiếp nhậnnhững tổ chức này lại không phải là chuyên đề dễ dàng Kết quả là các công cụ tiết kiệm bị hạn chế, và vìvậy việc huy động tiết kiệm cũng bị hạn chế theo Do đó các tổ chức tín dụng không chính thức có điềukiện phát triển và chiếm lĩnh những mảng thị trường mà các tổ chức chính thức còn bỏ ngõ Tuy nhiên thịtrường tài hcính không chính thức cũng có nhiều điểm yếu và chưa hoàn thiện hạn chế những tác dụngcủa nó Mặc dù nhiều chính phủ đã cố gắng khắc phục tình trạng kém hiệu quả về mặt tổ chức bằng cáchthiết lập các tổ chức tài chín, những tổ chức này, đến lượt nó lại không có hiệu quả Các tổ chức tài chính
tư nhân thường xuyên cần được khuyến khích để phát triển và mở rộng, và những nỗ lực của chính phủnên hướng vào việc giảm bớt các quy định ngặt nghèo và có lẽ nên có những động cơ thúc đẩy sự pháttriển của các tổ chức này
Câu 3: Một số học thuyết cầu về tiền (2 lý thuyết cơ bản là Cầu tiền của Mak và cầu tiền mặt theo Keynes)
Các yếu tố nào tác động cầu của tiền trong nền kinh tế
1 Cầu về tiền theo quan điểm của C.Mác
Cầu tiền tệ:
- Tỷ lệ thuận với tốc độ tăng trưởng kinh tế
Trang 26- Tỷ lệ nghịch với tốc độ lưu thông tiền tệ (tức là số vòng luân chuyển trong một năm của mứccung tiền giao dịch)
Quan điểm về cân đối cung cầu tiền tệ:
- Số lượng tiền cần thiết cho lưu thông là do số lượng hàng hóa đang lưu thông, mức giá cả hànghóa cao hay thấp và tốc độ lưu thông tiền tệ nhanh hay chậm Hai nhân tố số lượng hàng hóa vàmức giá cả gộp lại thành khái niệm tổng giá cả hàng hóa
- Trên thực tế số lượng tiền trong lưu thông ít hơn nhiều so với tổng số giá cả hàng hóa bán ra, domỗi đơn vị tiền tệ trong một thời gian nhất định được luân chuyển nhiều lần Như vậy, tốc độ lưuthông tiền tệ có mối quan hệ tỷ lệ nghịch với lượng tiền cần thiết
- C.Mác đưa ra một quy luật về lượng tiền cần thiêt trong lưu thông như sau:
Kc = H/V
Trong đó: Kc: khối lượng tiền cần thiết cho lưu thông
H: Là tổng giá cả hàng hóa
V: là tốc độ lưu thông tiền tệ
Nếu gọi Kt là lượng tiền thực có trong lưu thông
- Kt > Kc dẫn tới thừa tiền
- Kt < Kc dẫn tới thiếu tiền, đều có ảnh hưởng không tốt đến đời sống kinh tế xã hội
Vì vậy để đảm bảo tôn trọng quy luật lưu thông tiền tệ theo quan điểm của C.Mác đòi hỏi chúng
ta phải nắm bắt nhu cầu về tiền trong lưu thông, qua đó đưa tiền vào lưu thông cho phù hợp
2 Cầu tiền tệ theo Keynes
Theo Keynes, có cầu tiền gồm các thành phần:
- Cầu giao dịch: các cá nhân, tổ chức nắm giữ tiền vì đó là phương tiện trao đổi có thể tiến hànhcác giao dịch hàng ngày Cầu giao dịch phụ thuộc vào thu nhập, giá cả, tần suất thanh toán…
- Cầu dự phòng: phụ thuộc vào thu nhập và các yếu tố xã hội khác
- Cầu đầu tư: phụ thuộc vào thu nhập, lãi suất và các yếu tố khác
Trang 27Vì vậy mà hàm cầu theo quan điểm của Keynes:
Md = (Y, P, f, i, Z)
Trong đó: Y là thu nhập
P là mức giá
F là tần suất nhận được các khoản thu nhập
i là lãi suất của nền kinh tế
Z là các yếu tố khác của nền kinh tế xã hội
3 Cầu tiền theo M.Friedman: Có thể coi đây là sự phát triển quan điểm của Keynes trong đó:
- Giống quan điểm của Keynes: Về thành phần và nhân tố ảnh hưởng đến cầu tiền tệ
- Khác quan điểm của Keynes: Cầu tiền còn phụ thuộc vào lợi tức kỳ vọng của các tài sản liênquan đến tiền (cổ phiếu, trái phiếu, bất động sản…) và tỷ lệ lạm phát Và do vậy, hàm cầu tiền tệ củaM.FriedMan là:
Md = (Y, P, f, i, ia, ib, is, Z)
Trong đó: ia, ib, is lần lượt là lợi tức kỳ vọng khi đầu tư vào bất động sản, trái phiếu và cổ phiếu
SO SÁNH CÁC HỌC THUYẾT VỀ CẦU TIỀN TỆ
Trang 28thuyết ưu tiênthanh khoản
cá nhân vàkhôngchịu tácđộng củalãi suất
Lãisuất là nhân tốquan trọng xácđịnh mức cầutiền.Cầu tiền
tỷ lệ nghịchvới mức lãisuất hiệnhành
Những thay đổi về lãi suất ít tác độngđến cầu tiền và nhu cầu về những khoản tiềnnhỏ.Nhu cầu về tiền bạc có thể dự đoán mộtcách chính xác theo chức năng của tiền
là hằng số
Vòng quaytiền tệ làhằng số
Vòngquay tiền tệkhông phải làhằng số vàthay đổi tíchcực liên quanđến lãisuất,dao độngđáng kể
đích duy nhất
cho giao dịch
Có bađộng cơ giữtiền: động cơgiao dịch,động
cơ,động cơ dự
Không phân tích các động cơ giữtiền,đơn giản chỉ ra rằng:Cầu tiền phải chịu ảnhhưởng bởi các nhân tố như cầu của bất kì tài sảnnào.Cho rằng tiền bạc và hàng hóa có thể thaythế cho nhau
Trang 29PY V
L i Y P
d
Yp P
M
, ,
là nhu cầu tiềnthực sự củadân
chúng.Cầutiền thực phụthuộc vào thunhập thực Y(đồng biến),lãisuất (nghịchbiến),mứcgiá(đồngbiến), và vòngquay
tiền(nghịchbiến
Cầu tiền phụ thuộc vào giá trị hiện tạicủa tất cả các khoản thu nhập trong tương lai(đồng biến),nghịch biến với tỷ lệ sinh lời tráiphiếu,cổ phiếu so với tiền,nghịch biến với tỷ lệsinh lời của tài sản hữu hình so với tiền
Câu 4: Chính sách tài chính kiềm chế và tự do hóa tài chính có ưu, nhược điểm gì? Liên hệ tại VN? Đặc biệt là tự do hóa lãi suất ở Việt Nam?
1 Chính sách tài chính kiềm chế:
Trang 30a Khái niệm: Kiềm chế tài chính là khái niệm để chỉ luật và chính sách của chính phủ hoặc nhữngbiện pháp phi thị trường nhằm ngăn chặn các tổ chức trung gian tài chính của một nền kinh tế vậnhành tối đa năng lực.
Các chính sách: trần lãi suất, yêu cầu tỷ lệ thanh khoản, kiểm soát vốn, trần tín dụng,…
b Ưu điểm của kiềm chế tài chính:
- Làm tăng tiết kiệm: do lãi suất giảm sẽ dẫn tới việc thu nhập chuyển từ các hộ gia đình sang công
ty và do khu vực công ty có hưởng tiết kiệm cao hơn
- Khắc phục vấn đề lựa chọn bất lợi trong danh mục cho vay của khách hàng
- Tạo giá trị thặng dư cho doanh nghiệp được vay vốn
c Nhược điểm của kiềm chế tài chính:
Kiềm chế tài chính dẫn đến việc phân phối kém hiệu quả nguồn vốn, làm tăng chi phí tài chínhtrung gian và tỷ lệ lãi từ tiết kiệm thâp Theo lý thuyết thì chính đó làm cản trở sự phát triển
2 Tự do hóa tài chính:
a Khái niệm: Tự do hóa tài chính là quá trình giảm thiểu và cuối cùng là hủy bỏ sự kiểm soát củanhà nước với hoạt động của hệ thống tài chính quốc gia, làm cho hệ thống này hoạt động tự dohơn và hiệu quả hơn theo quy luật thị trường
- Không bảo hộ được hàng hóa trong nước trước sự cạnh tranh của hàng hóa bên ngoài
- Không thực hiện được việc áp đặt thuế quan dẫn đến mất đi nguồn thu cho ngân sách, tiết giảmngoại tệ do chi cho mua sắm hàng hóa nước ngoài
Trang 31- Khó khăn trong việc kiểm soát chất lượng hàng hóa để đảm bảo quyền lợi cho người tiêu dùng.
3 Liên hệ tại VN:
Việt Nam chúng ta trước đây là nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp, khép kín và mang tínhchất tự cung, tự cấp Tuy nhiên, để hòa nhập vào xu hướng quốc tế và với những lợi ích do hội nhập quốc
tế mang lại mà ngày nay chúng ta đang theo đuổi chính sách tự do hóa thương mại
Thị trường tài chính (TTTC) Việt Nam gồm thị trường tiền tệ và thị trường vốn Thị trường này
đã trải qua một quá trình tự do hóa dần dần từ những năm cuối thập kỷ 90 của thế kỷ 20 khi ngành ngânhàng chuyển sang 2 cấp và hoạt động theo cơ chế thị trường Thể hiện qua các động thái: nới lỏng quan
hệ lãi suất từ áp đặt sang trần- sàn, đến khống chế trần và cuối cùng là thỏa thuận
Là quá trình thay đổi từ tỷ giá cố định sang tỷ giá cố định có điều chỉnh
Từ phân phối tín dụng cho số ít khách hàng đến tín dụng không phân biệt thành phần kinh tế, từtín dụng đan xen đến tín dụng tách bạch với thị trường để mở rộng khả năng cung ứng dịch vụ ngân hàngcho nền kinh tế
Là quá trình Nhà nước độc quyền mở ngân hàng đến ngân hàng của mọi thành phần kinh tế, kể cảngân hàng thuộc sở hữu nước ngoài
Là quá trình ngành ngân hàng độc quyền cung ứng dịch vụ tin dụng, thanh toán,… đến một thịtrường tài chính đa ngành cùng tham gia cung ứng vốn và dịch vụ ngân hàng cho nền kinh tế
Nền kinh tế VN chuyển dần sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập với nềnkinh tế thế giới
Cơ chế điều hành lãi suất từng bước được đổi mới và tự do hóa theo cơ chế thị trường
Các giao dịch vãng lai được tự do hóa hoàn toàn và các giao dịch vốn được nới lỏng
Hình thành và phát triển các hệ thống điều hành tiền tệ dựa trên cơ sở thị trường và các công cụgián tiếp
4 Tự do hóa lãi suất:
a Khái niệm: Là cơ chế điều hành lãi suất hoàn toàn để cho cung cầu vốn trên thị trường xác địnhlãi suất cân bằng