Ảnh hưởng của hạn chế tín dụng đến lượng vốn phân bổ cho yếu tố đầu vào và năng suất lúa của nông hộ ở Đồng bằng Sông Cửu Long.Ảnh hưởng của hạn chế tín dụng đến lượng vốn phân bổ cho yếu tố đầu vào và năng suất lúa của nông hộ ở Đồng bằng Sông Cửu Long.Ảnh hưởng của hạn chế tín dụng đến lượng vốn phân bổ cho yếu tố đầu vào và năng suất lúa của nông hộ ở Đồng bằng Sông Cửu Long.Ảnh hưởng của hạn chế tín dụng đến lượng vốn phân bổ cho yếu tố đầu vào và năng suất lúa của nông hộ ở Đồng bằng Sông Cửu Long.Ảnh hưởng của hạn chế tín dụng đến lượng vốn phân bổ cho yếu tố đầu vào và năng suất lúa của nông hộ ở Đồng bằng Sông Cửu Long.Ảnh hưởng của hạn chế tín dụng đến lượng vốn phân bổ cho yếu tố đầu vào và năng suất lúa của nông hộ ở Đồng bằng Sông Cửu Long.Ảnh hưởng của hạn chế tín dụng đến lượng vốn phân bổ cho yếu tố đầu vào và năng suất lúa của nông hộ ở Đồng bằng Sông Cửu Long.Ảnh hưởng của hạn chế tín dụng đến lượng vốn phân bổ cho yếu tố đầu vào và năng suất lúa của nông hộ ở Đồng bằng Sông Cửu Long.
Trang 1VÀ NĂNG SUẤT LÚA CỦA NÔNG HỘ
Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
LUẬN ÁN TIẾN SĨNGÀNH TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
MÃ NGÀNH: 62340201
Trang 2VÀ NĂNG SUẤT LÚA CỦA NÔNG HỘ
Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
LUẬN ÁN TIẾN SĨNGÀNH TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
MÃ NGÀNH: 62340201
HƯỚNG DẪN KHOA HỌCPGS.TS LÊ KHƯƠNG NINH
Trang 5TÓM TẮT
Thị trường tín dụng nông thôn các nước đang phát triển thường kém hiệu quả bởitính chia cắt của thị trường và thông tin tín dụng không hoàn hảo làm cho nông hộ khótiếp cận nguồn vốn một cách tối ưu Điều này làm cho sản xuất nông nghiệp của nông
hộ gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là nông hộ sản xuất lúa Do đó, để kiểm chứng ảnhhưởng của hạn chế tín dụng đến lượng vốn phân bổ cho yếu tố đầu vào và năng suất lúacủa nông hộ ở ĐBSCL, luận án sử dụng hệ thống dữ liệu sơ cấp thu thập từ 1.017 nông
hộ trồng lúa trong năm 2015 và 1.065 nông hộ trồng lúa trong năm 2018 để phục vụ chonghiên cứu
Thông qua dữ liệu được thu thập từ chín tỉnh/thành ở Đồng bằng sông Cửu Long(đó là, An Giang, Bạc Liêu, Cà Mau, Cần Thơ, Hậu Giang, Kiên Giang, Sóc Trăng, Trà
Vinh và Vĩnh Long) luận án sử dụng phương pháp điểm xu hướng (PSM – Propensity score matching) để ước lượng ảnh hưởng của hạn chế tín dụng đến lượng vốn phân bổ
cho yếu tố đầu vào và năng suất lúa của nông hộ Theo phương pháp này, trước tiênluận án sử dụng hồi quy Probit để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hạn chế tín dụngđối với nông hộ Sau đó, phương pháp so sánh hạt nhân được thực hiện để so sánh nông
hộ bị hạn chế tín dụng với nông hộ không bị hạn chế tín dụng trên hai phương diện phân
bổ lượng vốn cho yếu tố đầu vào và năng suất lúa Ngoài ra, luận án còn chia nông hộ
bị hạn chế tín dụng thành nhiều nhóm với mức hạn chế tín dụng giảm dần để xem xétảnh hưởng phi tuyến của hạn chế tín dụng đến lượng vốn phân bổ cho yếu tố đầu vào vànăng suất lúa của nông hộ
Kết quả ước lượng hồi quy Probit cho thấy, có năm yếu tố ảnh hưởng đến hạnchế tín dụng đối với nông hộ ở năm 2015 Cụ thể là diện tích đất của nông hộ, thu nhậpbình quân của nông hộ, học vấn của chủ hộ, giới tính của chủ hộ và khoảng cách từ hộđến tổ chức tín dụng gần nhất Bốn yếu tố ảnh hưởng đến hạn chế tín dụng đối với nông
hộ ở năm 2018 là diện tích đất của nông hộ, thu nhập bình quân của nông hộ, học vấncủa chủ hộ và khoảng cách từ hộ đến tổ chức tín dụng gần nhất Kết quả ước lượng chohai thời điểm nêu trên là khá đồng nhất
Kết quả ước lượng ảnh hưởng của hạn chế tín dụng đến lượng vốn phân bổ choyếu tố đầu vào của nông hộ ở ĐBSCL ở năm 2015 và 2018 cho thấy, hạn chế tín dụngảnh hưởng đến lượng vốn phân bổ cho phân bón và lao động thuê Nông hộ bị hạn chếtín dụng giảm lượng vốn phân bổ cho yếu tố đầu vào phân bón và lao động thuê so vớinông hộ không bị hạn chế tín dụng Ngoài ra, khi xem xét mức độ ảnh hưởng khác nhaucủa hạn chế tín dụng, kết quả cho thấy các cặp so sánh đều có ý nghĩa thống kê Điềunày có nghĩa là khi giảm hạn chế tín dụng, nông hộ tăng lượng vốn phân bổ cho phânbón và lao động thuê trong khi lượng vốn phân bổ cho giống và thuốc bảo vệ thực vậtthì không
Trang 6Kết quả ước lượng ảnh hưởng hạn chế tín dụng đến năng suất lúa của nông hộ ởĐBSCL vào hai thời điểm 2015 và 2018 cho thấy, nông hộ bị hạn chế tín dụng có năngsuất lúa giảm 100 kg/1.000m2 ở năm 2015 và 84 kg/1.000m2 ở năm 2018 so với nông
hộ không bị hạn chế tín dụng Bên cạnh đó, khi xem xét mức độ ảnh hưởng khác nhaucủa hạn chế tín dụng, kết quả cho thấy các cặp so sánh đều có ý nghĩa thống kê, nghĩa
là khi nông hộ giảm hạn chế tín dụng năng xuất lúa tăng và mức tăng năng suất cao nhấtđược tìm thấy ở cặp so sánh (nhóm 4) so với (nhóm 3) ở năm 2015 là 110 kg/1.000m2
và cặp so sánh (nhóm 2) so với (nhóm 1) ở năm 2018 là 93 kg/1.000m2
Trên cơ sở kết quả ước lượng kết hợp với kết quả phân tích thực trạng sản xuấtlúa của nông hộ ở Đồng bằng sông Cửu Long, luận án đã đề xuất các hàm ý chính sáchgiúp sử dụng hiệu quả các yếu tố đầu vào, nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất và cảithiện thu nhập cho nông hộ trồng lúa đồng bằng sông Cửu Long
Từ khóa: Đồng bằng sông Cửu Long, yếu tố đầu vào, hạn chế tín dụng, nông hộ, năngsuất lúa, PSM, Việt Nam
Trang 7ABSTRACTRural credit markets in developing countries are often inefficient because themarket fragmentation and credit information asymmetry both prevent farmers fromgetting access to capital optimally Due to limited access to capital, farmer’ agriculturalproduction faces many difficulties, especially rice farmers Therefore, to test the effects
of credit rationing on the amount of capital allocated to inputs and rice yield of farmer
in the Mekong river delta, this thesis uses primary data collected from 1,017 rice farmer
in 2015 and 1,065 rice farmer in 2018
Based on primary data collected from nine provinces/cities in the Mekong riverdelta, namely An Giang, Bac Lieu, Ca Mau, Can Tho, Hau Giang, Kien Giang, SocTrang, Tra Vinh, and Vinh Long, the thesis uses the Propensity score matching method(PSM) to estimate the effects of credit rationing on the amount of capital allocated toinputs and rice yield of farmer According to this method, the first step is to use theProbit regression to determine the factors affecting credit rationing for the farmers Inthe second step, the comparing method is used to examine the difference in the degree
of credit rationing between credit-rationed farmers and non-credit rationed onesregarding capital allocated to inputs and rice yields In addition, the dissertation dividescredit-rationed farmers into several groups with decreasing credit rationing levels toexamine the nonlinear effects of credit rationing on the amount of capital allocated toinputs and the rice yield
Probit regression estimation results show that there are five factors affecting creditrationing to farmers in 2015 Specifically, they are land area, average income, level ofeducation of household head, gender of household head, and distance to the nearestcredit institution In 2018, there are four factors affecting credit rationing to farmers,namely land area, average income, level of education of households head, and distance
to the nearest credit institution The estimation results of these two periods are relativelyconsistent
Estimated results on the effects of credit rationing on the amount of capitalallocated to inputs in rice production of farmers in the Mekong River Delta in 2015 and
2018 show that credit rationing impacted the amount of capital allocated to fertilizerand hired labor The amount of capital allocated to fertilizer and hired labor of Credit-rationed farmers was decreased compared to that of non-credit-rationed farmers in 2015and in 2018 In addition, when considering the effects of various degrees of creditrationing, all comparison pairs’ results are statistically significant for fertilizer and hiredlabor This means that the amount of capital allocated to fertilizers and hired laborincreased while that seeds and pesticides remained unchanged
Estimated results on the effects of credit rationing on rice yield of farmers in theMekong River Delta in 2015 and 2018 show that credit rationing impacted rice yield:
Trang 8rice yield of credit-rationed farmers decreases by 100kg/1,000m2 in 2015 and84kg/1,000m2 in 2018 compared to noncredit-rationed farmers In addition, whenconsidering the effects of various degrees of credit rationing, all comparison pairs’results are statistically significant The highest levels of yields variation are foundbetween group 4 and group 3 in 2015-110 kg/1,000m2, and between group 2 and group
1 in 2018-93 kg/1,000m2
Based on the estimated results combined with the results of analyzing the reality
of rice production of farmers in the Mekong river delta, the thesis proposes somesolutions to help farmers effectivety utilize the input factors, improve the efficiency ofagricultural production activities, and enhance the income of rice farmers in theMekong river delta
Keywords: Credit rationing, Propensity score matching, Input, Mekong river delta, Riceyield, Rice farmer
Trang 91.5.2 Phương pháp phân tích số liệu 6
2.1 CÁC NGHIÊN CỨU VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA HẠN CHẾ TÍN
CỦA NÔNG HỘ
DỤNG ĐẾN NĂNG SUẤT NÔNG NGHIỆP CỦA NÔNG HỘ
3.1.2 Bản chất của thị trường tín dụng nông thôn 30
Trang 103.1.3 Cơ sở lý thuyết về ảnh hưởng của hạn chế tín dụng đến
lượng vốn phân bổ cho yếu tố đầu vào của nông hộ 323.1.4 Cơ sở lý thuyết về ảnh hưởng của hạn chế tín dụng đến
3.2.3.1 Tổng quan về phương pháp ước lượng PSM 43
(Propensity matching score)
tố đến hạn chế tín dụng đối với nông hộ
tín dụng đến lượng vốn phân bổ cho yếu tố đầu vào của nông hộ
tín dụng đến năng suất lúa của nông hộ
PHÂN BỔ VỐN TÍN DỤNG CHO CÁC YẾU TỐ ĐẦU VÀO Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
4.3.2 Hệ thống tín dụng chính thức ở Đồng bằng sông Cửu Long 73
Trang 11Chương 5 ẢNH HƯỞNG CỦA HẠN CHẾ TÍN DỤNG ĐẾN LƯỢNG 92
VỐN PHÂN BỔ CHO YẾU TỐ ĐẦU VÀO VÀ NĂNG SUẤT LÚA
CỦA NÔNG HỘ Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
5.1.3 Đặc điểm nông hộ bị hạn chế và không bị hạn chế tín dụng 96
5.2 ẢNH HƯỞNG CỦA HẠN CHẾ TÍN DỤNG ĐẾN LƯỢNG VỐN
PHÂN BỔ CHO YẾU TỐ ĐẦU VÀO CỦA NÔNG HỘ TRỒNG
LÚA
101
Trang 125.2.1 Ảnh hưởng của các yếu tố đến hạn chế tín dụng đối với 101
nông hộ trồng lúa5.2.2 Kết quả so sánh lượng vốn phân bổ cho yếu tố đầu vào 107
trường hợp nông hộ bị hạn chế so với nông hộ không bị hạnchế tín dụng
5.2.3 Kết quả so sánh lượng vốn phân bổ cho yếu tố đầu vào 108
trong sản xuất lúa của nông hộ trường hợp nông hộ bị hạnchế tín dụng ít so với nông hộ bị hạn chế tín dụng nhiều
LÚA CỦA NÔNG HỘ5.3.1 Kết quả so sánh năng suất lúa giữa nông hộ bị hạn chế với 111
nông hộ không bị hạn chế tín dụng5.3.2 Kết quả so sánh năng suất lúa giữa nông hộ bị hạn chế tín 112
dụng ít với nông hộ bị hạn chế tín dụng nhiều
Trang 136.2 HÀM Ý CHÍNH SÁCH 115
Phụ lục
Phụ lục 1 Bảng câu hỏi
Phụ lục 2 Kết quả ước lượng
Trang 14Bảng 4.6 Dư nợ và tăng trưởng tín dụng ở ĐBSCL (2015–2018) 72Bảng 4.7 Dư nợ tín dụng nông thôn theo kỳ hạn ở ĐBSCL (2015–2018) 75
Bảng 4.9 Thực trạng hoạt động của NHCSXH ở nông thôn ĐBSCL 80
Bảng 4.11 Một số tiêu chí về hoạt động của QTDND ở ĐBSCL(2015-2018) 82Bảng 4.12 Các loại giống lúa được được cung cấp bởi viện lúa ĐBSCL 84
Bảng 4.14 Chủng loại phân bón được phép sử dụng ở Việt Nam 86
Bảng 4.16 Số lượng các hoạt chất và tên thương phẩm thuốc bảo vệ thực vật 88 được sử dụng trong nông nghiệp Việt Nam
Bảng 5.2 Thực trạng hạn chế tín dụng đối với nông hộ 96Bảng 5.3 Đặc điểm nông hộ bị hạn chế tín dụng và không bị hạn chế tín dụng 98
Bảng 5.6 Ảnh hưởng của các yếu tố đến hạn chế tín dụng đối với nông hộ
Trang 15Bảng 5.10 Kết quả so sánh năng suất lúa của nông hộ (bị hạn chế tín dụng so với không bị hạn chế tín dụng và bị hạn chế tín dụng ít so với bị hạn chế tín dụng nhiều)
110
112
Trang 16DANH MỤC HÌNH
Trang
Hình 3.1 Tối ưu hóa của nông hộ bị hạn chế tín dụng37
Hình 3.2 Khung nghiên cứu40
Hình 3.3 Vùng hỗ trợ chung
45Hình 4.1 Suy thoái
và ô nhiễm môi trường ở ĐBSCL63
Hình 5.1 Kết quả ước lượng điểm xu hướng (2015)105
Hình 5.2 Kết quả ước lượng điểm xu hướng (2018)105
Trang 17DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ATT : The average treatment effect on the treated
FAO : Food and Agriculture Organization of the United Nations
NHCSXH : Ngân hàng chính sách xã hội
NHNN&PTNT : Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn
Trang 181.1 TẦM QUAN TRỌNG CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Ở các nước đang phát triển, phần lớn dân số sinh sống ở nông thôn với sinh kếphụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp, vì vậy sản xuất nông nghiệp rất quan trọng đối vớiphúc lợi của người dân và tăng trưởng kinh tế nơi đây Trong đó, sản xuất lúa là ngànhtrọng yếu bởi có đến một nửa dân số thế giới sử dụng lúa gạo và các chế phẩm từ lúagạo cho nhu cầu thiết yếu hàng ngày Đặc biệt, Châu Á là nơi sản xuất và tiêu thụ đến90% sản lượng gạo thế giới Ở Việt Nam, trên 75% dân số phụ thuộc chủ yếu vào hoạtđộng sản xuất nông nghiệp và 100% người dân sử dụng gạo như lương thực chính(FAO, 2015) Sản xuất lúa còn đóng góp 22,1% GDP và gần 30% giá trị xuất khẩu củaViệt Nam, minh chứng cho vai trò quan trọng của cây lương thực này không chỉ đối vớiđời sống người dân nông thôn mà còn là điều kiện tiên quyết để thực hiện công cuộcxóa đói giảm nghèo Sản xuất lúa, ngoài việc để đảm bảo lương thực quốc gia, còn xuấtkhẩu sang nhiều nước thu về nguồn ngoại tệ mạnh nên yêu cầu về chất lượng và tiêuchuẩn hạt ngày một nghiêm ngặt, đặc biệt ở thị trường các nước phát triển với thu nhậpcao Do đó, nông hộ phải thường xuyên cải tiến chất lượng giống cũng như cách thức sửdụng phân bón, nông dược và kỹ thuật bảo quản nhằm đáp ứng ngày một tốt hơn nhucầu của người tiêu dùng
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng sản xuất lúa trọng điểm của ViệtNam, mỗi năm đóng góp trên 50% tổng sản lượng lúa, góp phần đảm bảo an ninh lươngthực quốc gia và cung cấp khoảng 90% lượng gạo xuất khẩu (Niên giám thống kê,2018) Thành tựu đó là kết quả của việc ĐBSCL được bồi đắp bởi một lượng lớn phù sa
từ sông Mê-kông khi đổ vào Việt Nam qua hai nhánh sông Tiền và sông Hậu ĐBSCLcòn được thiên nhiên ưu đãi về khí hậu với mưa nắng thuận hòa, giúp tưới tiêu và xảrửa mầm bệnh gây hại trên cây trồng Nhìn chung, ĐBSCL hội tụ đủ các điều kiện tựnhiên để tăng năng suất và sản lượng lúa Song, thực tế cho thấy phần lớn nông hộ nơiđây chỉ tập trung vào khâu sản xuất (bố trí thời vụ, xuống giống, chăm sóc và phòngchống dịch bệnh) mà chưa chú trọng đến việc chuẩn bị đủ vốn để mua yếu tố đầu vào(vật tư nông nghiệp) và phát triển thị trường đầu ra nhằm đảm bảo giá tốt cho sản phẩmtrong khi các thị trường này biến động rất khó lường Vì vậy, nông hộ trồng lúa ởĐBSCL phải đối mặt với nhiều thách thức bởi quy mô sản xuất nhỏ và bị động trongkhâu tiêu thụ nên
Trang 19thường phải đối mặt với hiện tượng được mùa – mất giá, trong khi liên kết bốn nhà (nhàkhoa học, nhà quản lý, doanh nghiệp và nhà nông) rất yếu Hệ quả là nông hộ trồng lúavẫn còn nghèo bởi thu nhập thấp và bấp bênh, đặc biệt là khi ảnh hưởng của biến đổikhí hậu hiện diện ngày một rõ nét.
Thực tế cho thấy, phần lớn nông hộ trồng lúa có thu nhập thấp do quá lệ thuộc vàogiá bán lúa, trong khi yếu tố này rất bất ổn bởi tình trạng độc quyền mua và thao túngcủa thương lái được trợ giúp đắc lực bởi đội ngũ “cò” lúa len lỏi trên các cánh đồng lúatrải rộng khắp Đồng bằng Thu nhập thấp dẫn đến khó khăn cho nông hộ trong việc đảmbảo nguồn vốn cho sản xuất bởi bị xem là đối tượng rủi ro do hạn chế trong năng lực trả
nợ mà lại thiếu tài sản thế chấp Việc thiếu vốn đầu tư cho sản xuất khiến nông hộkhông thể khai thác hết tiềm năng của bản thân và lãng phí nguồn lực nên không tạođược sự tăng trưởng như kỳ vọng Do thiếu vốn nên nông hộ không thể mua các yếu tốđầu vào tối ưu (về chất lượng, thời điểm và giá) và kết hợp chúng một cách chủ động đểtăng năng suất lúa Bên cạnh đó, nông hộ không thể ứng dụng kỹ thuật mới trong sảnxuất, thu hoạch và bảo quản để đảm bảo chất lượng hạt lúa nếu thiếu vốn
Phân tích trên cho thấy, vốn là yếu tố quan trọng xuyên suốt quá trình sản xuất lúa
từ khâu mua yếu tố đầu vào cho đến khâu thu hoạch và bảo quản nhưng phần lớn nông
hộ khó tiếp cận được tín dụng chính thức Theo Besley (1994), nông hộ khó tiếp cận tíndụng là do khiếm khuyết của thị trường tín dụng nông thôn ở các quốc gia đang pháttriển, thiếu tài sản thế chấp, chính sách hỗ trợ yếu kém và rủi ro cao cả trên phươngdiện sản xuất lẫn thị trường, trong đó nguyên nhân cốt lõi là do thông tin bất đối xứng
và chi phí giao dịch (Jaffee và Stiglitz, 1989; Hoff và Stiglitz, 1990) Thông tin bất đốixứng với hệ quả là chọn lựa sai lầm và động cơ lệch lạc làm tăng chi phí sàng lọc, kiểmsoát, thẩm định và cưỡng chế trả nợ, dẫn đến chi phí vay và cho vay đều cao Chi phígiao dịch cao chỉ khuyến khích người vay có rủi ro cao và loại người vay ít rủi ro rakhỏi thị trường Ngoài ra, thiếu tài sản thế chấp, khả năng cưỡng chế hợp đồng tín dụngyếu và dịch vụ bảo hiểm nông nghiệp kém phát triển không khuyến khích tổ chức tíndụng (TCTD) phát triển hoạt động kinh doanh ở nông thôn (Ghosh và cộng sự, 2000).Khi đó, tín dụng lãi suất thấp được trợ cấp bởi chính phủ là giải pháp được nhiều nướcđang phát triển áp dụng để thúc đẩy hoạt động tín dụng ở khu vực nông thôn Tuynhiên, chính sách này lại bóp méo thị trường tín dụng nông thôn khiến vốn không đếnđược với nông hộ nghèo và dễ tổn thương nhất, làm trầm trọng thêm sự bất bình đẳngthu nhập (Conning và Udry, 2007) Vì vậy, nhiều nông hộ nghèo, ít đất không thể vayđược vốn, bất kể sự can thiệp sâu của chính phủ để điều tiết thị trường tín dụng nôngthôn Ở Việt Nam, Phạm và Izumida (2002) cho rằng có hơn 30% nông hộ không thểvay từ nguồn tín dụng chính thức Khi không thể vay đầy đủ từ nguồn tín dụng chínhthức, nông hộ tìm đến tín dụng phi chính thức (Phạm và Lensink, 2007; Barslund vàTarp, 2008; Lê Khương Ninh và Pham Văn Dương, 2011; Khôi và cộng sự, 2013) Thậtvậy, qua nghiên cứu thực nghiệm ở Bạc Liêu của Lê Khương Ninh và Nguyễn Thị MaiÁnh (2012) thì các nông hộ nuôi tôm luôn muốn vay tín dụng chính thức nhưngthường bị từ chối bởi
Trang 20quá rủi ro và kết quả cho thấy có đến 70,6% số nông hộ được khảo sát ở đây phải vaytín dụng phi chính thức.
Các nghiên cứu thực nghiệm chỉ ra rằng, hạn chế tín dụng ảnh hưởng tiêu cực đếnkết quả sản xuất của nông hộ Theo Guirkinger và Boucher (2008), hạn chế tín dụng ảnhhưởng tiêu cực đến phân bổ nguồn lực và năng suất sản xuất của nông hộ ở Peru bởi,nếu loại bỏ hạn chế tín dụng, sản lượng nông nghiệp ở địa bàn nghiên cứu tăng đến26% Dong và cộng sự (2012) cũng ghi nhận ảnh hưởng tương tự của hạn chế tín dụngđối với nông hộ ở Trung Quốc Thật vậy, thu nhập thấp nên nông hộ không đủ tiền đểmua yếu tố đầu vào theo đúng yêu cầu của sản xuất về số lượng, chất lượng và thờiđiểm, dẫn đến năng suất và thu nhập của nông hộ thấp Do đó, nông hộ tìm vay ở cácTCTD để bù đắp nhưng thường bị từ chối do rủi ro cao và thiếu tài sản thế chấp Kết quả
là, có nhiều người xin vay nhưng một số vay được một phần nhu cầu và một số bị khước
từ hoàn toàn, mặc dù sẵn sàng chấp nhận lãi suất cao hơn Khi đó, xuất hiện hiện tượnghạn chế tín dụng như được phân tích bởi Stiglitz và Weiss (1981) và nhiều nghiên cứukhác sau đó
Do hạn chế tín dụng nên nông hộ không đủ vốn để mua yếu tố đầu vào tối ưu chosản xuất nhằm đảm bảo năng suất tối đa Khi đó, nông hộ có hai phương án lựa chọn làgiảm lượng sử dụng đối với tất cả yếu tố đầu vào (hiệu ứng quy mô) hay giảm lượng sửdụng đối với các loại yếu tố đầu vào ít quan trọng đối với năng suất lúa (hiệu ứng thaythế) Hiệu ứng quy mô khiến năng suất, sản lượng và thu nhập đều giảm nên nông hộrất bất lợi và chú trọng đến hiệu ứng thay thế bằng cách giảm lượng sử dụng các yếu tốđầu vào ít quan trọng với năng suất biên thấp, trong khi vẫn duy trì hay tăng lượng yếu
tố đầu vào quan trọng với kỳ vọng đảm bảo năng suất, sản lượng và thu nhập Giảm sốlượng yếu tố đầu vào sẽ không kịp phòng trị bệnh và đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng thiếtyếu cho cây lúa nên năng suất thấp và chất lượng hạt lúa không đạt yêu cầu Nói cáchkhác, hiện tượng trên làm cho năng suất sản xuất của nông hộ và chất lượng sản phẩmđều thấp so với trường hợp không bị hạn chế tín dụng như được chứng minh thông qua
mô hình kinh tế học ứng dụng trong tài chính – tín dụng (Feder, 1985; Lee vàChambers, 1986; Carter, 1988; Fare và cộng sự, 1990; Carter và Niebe, 1990; Blancard
và cộng sự, 2006; Ciaian và cộng sự, 2012)
Phân tích trên cho thấy, hạn chế tín dụng khiến nông hộ phải điều chỉnh cáchthức sử dụng yếu tố đầu vào theo hướng thu hẹp và không tối ưu nên năng suất sảnxuất bị ảnh hưởng tiêu cực Kết quả là thu nhập thấp và bấp bênh, khiến cho nông hộkhông còn tha thiết với cây lúa Khi thu nhập thấp, nhu cầu vay càng cao bởi cần nhiềuvốn hơn nhưng nông hộ càng dễ bị khước từ do rủi ro không trả nợ cao, buộc họ phảichuyển đổi hình thức sản xuất hoặc di cư tìm việc làm nơi khác Nếu chuyển đổi hìnhthức sản xuất nông hộ sẽ đối mặt với thách thức là thiếu kinh nghiệm, thiếu vốn đầu
tư ban đầu và không đảm bảo thị trường đầu ra cho sản phẩm, dẫn đến năng suất vàthu nhập thấp Bên cạnh đó, xã hội phải giải quyết vấn đề việc làm và các bất ổn xãhội khi dân cư tập trung quá đông, đặc biệt là ở các đô thị và các địa bàn sản xuất công
Trang 21nghiệp tập trung Mặt khác, do bị hạn chế tín dụng nên nông hộ không đủ vốn để muayếu tố đầu vào cho sản xuất Khi đó, nông hộ có thể ưu tiên sử dụng yếu tố đầu vàogiá rẻ với chất lượng thấp và độc tố cao, do đó sức khỏe và môi trường tự nhiên bị tànphá nghiêm trọng nên dẫn đến thiệt hại khó lường trong dài hạn và trên diện rộng.Luận điểm trên cho thấy, vốn rất quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp nhưngnông hộ lại bị hạn chế tín dụng do thông tin bất đối xứng và chi phí giao dịch nên ảnhhưởng vấn đề này đến kết quả sản xuất của nông hộ là chủ đề cần được tìm hiểu để làm
cơ sở khoa học và thực tiễn cho các chính sách phát triển nông nghiệp bền vững Tuynhiên, theo hiểu biết hạn chế của tác giả, chưa có nghiên cứu đi sâu tìm hiểu mối quan
hệ giữa hạn chế tín dụng với lượng vốn phân bổ cho yếu tố đầu vào và năng suất sảnxuất của nông hộ trồng lúa ở nước ta nói chung và ở ĐBSCL nói riêng Do đó, chủ đề
“Ảnh hưởng của hạn chế tín dụng đến lượng vốn phân bổ cho yếu tố đầu vào và năng suất lúa của nông hộ ở Đồng bằng sông Cửu Long” được tác giả lựa chọn để thực hiện
luận án tiến sĩ của mình
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
Mục tiêu chung của luận án là ước lượng ảnh hưởng của hạn chế tín dụng đếnlượng vốn phân bổ cho yếu tố đầu vào và đến năng suất lúa của nông hộ ở ĐBSCLnhằm đề xuất hàm ý chính sách giúp hợp lý hóa việc phân bổ vốn cho sản xuất và cảithiện năng suất lúa của nông hộ ở ĐBSCL
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
Để đáp ứng mục tiêu chung như trên, luận án có các mục tiêu cụ thể như sau:(i) Đánh giá thực trạng hạn chế tín dụng, thực trạng sử dụng yếu tố đầu vào và năng suất lúa của nông hộ ở ĐBSCL
(ii) Ước lượng ảnh hưởng của hạn chế tín dụng đến lượng vốn phân bổ cho yếu tố đầu vào của nông hộ trồng lúa ở ĐBSCL
(iii) Ước lượng ảnh hưởng của hạn chế tín dụng đến năng suất lúa của nông hộ ở ĐBSCL
(iv) Đề xuất hàm ý chính sách giúp nông hộ trồng lúa ở ĐBSCL giảm thiểu hạnchế tín dụng thông qua kết quả nghiên cứu nhằm hợp lý hóa phân bổ vốn cho yếu tố đầuvào và cải thiện năng suất lúa
Trang 22(ii) Trên cơ sở lý thuyết về ảnh hưởng của hạn chế tín dụng đến lượng vốn phân
bổ cho yếu tố đầu vào và năng suất lúa của nông hộ, luận án xây dựng mô hình nghiêncứu thực nghiệm để ước lượng ảnh hưởng của hạn chế tín dụng đến lượng vốn phân bổcho yếu tố đầu vào và đến năng suất lúa của nông hộ
(iii) Với cơ sở dữ liệu sơ cấp thu thập đối với 1.017 nông hộ trồng lúa vào năm
2015 và 1.065 vào năm 2018 ở ĐBSCL, cùng với tư liệu có liên quan, luận án mô tảthực trạng sản xuất lúa, thực trạng hạn chế tín dụng và thực trạng sử dụng yếu tố đầuvào của nông hộ trong sản xuất lúa
(iv) Sau đó, luận án ước lượng ảnh hưởng của hạn chế tín dụng đến lượng vốnphân bổ cho yếu tố đầu vào và đến năng suất lúa của nông hộ
(v) Với kết quả nghiên cứu vừa đạt được, luận án đề xuất các hàm ý chính sáchgiúp nông hộ giảm hạn chế tín dụng, hợp lý hóa việc sử dụng vốn trong hoạt động sảnxuất và cải thiện năng suất lúa của nông hộ ở ĐBSCL Trong chừng mực nhất định, cáchàm ý chính sách do luận án đề xuất có thể được xem là tài liệu tham khảo có giá trịcho nông hộ, các nhà nghiên cứu, các nhà kinh tế cũng như các nhà lập chính sách ởnước ta nhờ tính khoa học và thực tiễn của luận án
1.3.2 Phạm vi không gian
Luận án nghiên cứu ảnh hưởng của hạn chế tín dụng đến lượng vốn phân bổ choyếu tố đầu vào và năng suất lúa của nông hộ ở ĐBSCL, gồm các tỉnh/thành là AnGiang, Bạc Liêu, Cà Mau, Cần Thơ, Hậu Giang, Kiên Giang, Sóc Trăng, Trà Vinh vàVĩnh Long
Trang 231.4 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨUĐối tượng nghiên cứu của luận án là lượng vốn phân bổ cho yếu tố đầu vào vànăng suất lúa của nông hộ ở ĐBSCL dưới ảnh hưởng của hạn chế tín dụng bởi cácTCTD.
1.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.5.1 Phương pháp thu thập thông tin
Để đạt được mục tiêu đề ra, luận án sử dụng cả số liệu sơ cấp và số liệu thứ cấp.Đối với số liệu thứ cấp, luận án sử dụng số liệu từ các cơ quan hữu quan như Tổng cụcThống kê, Ủy ban nhân dân, ngân hàng Nhà nước các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long
và các nghiên cứu có liên quan trong và ngoài nước
Số liệu sơ cấp sử dụng trong luận án được thu thập thông qua phỏng vấn trực tiếpchủ hộ của 1.017 nông hộ trồng lúa vào năm 2015 và 1.065 vào năm 2018 được chọnngẫu nhiên ở các tỉnh (thành phố) thuộc ĐBSCL, sử dụng bảng câu hỏi soạn sẵn vàđược hiệu chỉnh sau các lần khảo sát thử Ở mỗi tỉnh (thành phố) thuộc ĐBSCL, tác giảchọn xã có diện tích lúa lớn nhất thuộc huyện có diện tích có diện tích sản xuất lúa lớnnhất Ở mỗi xã, tác giả căn cứ vào tỷ lệ diện tích sản xuất lúa của tỉnh trên tổng diện tíchsản xuất lúa ở ĐBSCL để phân bổ số quan sát và chọn ngẫu nhiên với kỳ vọng tối đa là
200 nông hộ sản xuất lúa để tiến hành phỏng vấn Tuy nhiên, do các khó khăn trongkinh phí, thời gian, việc tìm gặp chủ hộ, bị từ chối trả lời và thông tin được cung cấpthiếu đầy đủ, tác giả chỉ xây dựng được cơ sở dữ liệu ở hai thời điểm 2015 với 1.017 hộ
và năm 2018 với 1.065 hộ lần lượt như sau: An Giang 99 hộ năm 2015 và 200 hộ ở năm
2018, Bạc liêu 76 và 117 hộ, Cà Mau 85 và 100 hộ, Cần Thơ 110 và 126 hộ, Hậu Giang
105 và 118 hộ, Kiên Giang 91 và 145 hộ, Sóc Trăng 188 và 92 hộ, Trà Vinh 100 và 70
hộ và Vĩnh Long 168 và 97 hộ Trong đó, các nông hộ được phỏng vấn tại hai mốc thờigian năm 2015 và năm 2018 không nhằm mục đích trùng nhau
1.5.2 Phương pháp phân tích số liệu
Việc ước lượng ảnh hưởng của hạn chế tín dụng đến lượng vốn phân bổ cho yếu
tố đầu vào và năng suất lúa của nông hộ gặp khó khăn trong việc lựa chọn nông hộ chomẫu khảo sát Nông hộ tham gia và không tham gia thị trường tín dụng phụ thuộc vàođặc điểm riêng của từng hộ nên việc lựa chọn nông hộ để nghiên cứu có thể không ngẫunhiên và sai lệch Vì vậy, ngoài phương pháp thống kê mô tả được sử dụng để mô tả cácđặc điểm của nông hộ, sử dụng yếu tố đầu vào và năng suất lúa, phương pháp ước
lượng Propensity score matching (PSM) – điểm xu hướng – được lựa chọn thực hiện để
hạn chế khiếm khuyết nói trên Cụ thể từng phương pháp được sử dụng tương ứng vớicác mục tiêu như sau:
Đối với mục tiêu 1, luận án sử dụng phương pháp thống kê mô tả để phân tích trựctrạng hạn chế tín dụng, sử dụng yếu tố đầu vào và năng suất lúa của nông hộ
Trang 24Đối với mục tiêu 2 và 3, luận án sử dụng phương pháp điểm xu hướng Propensy score matching) để ước lượng ảnh hưởng của hạn chế tín dụng đến lượng vốnphân bổ cho yếu tố đầu vào và năng suất lúa của nông hộ.
(PSM-Đối với mục tiêu 4, luận án diễn dịch kết quả có được từ mục tiêu 1, 2 và 3 đề làmcăn cứ đề xuất các kiến nghị và giải pháp giảm hạn chế tín dụng đối với nông hộ nhằmhợp lý hóa việc sử dụng yếu tố đầu vào và tăng năng suất lúa cho nông hộ
1.6 CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN
Bên cạnh Danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án bao gồm 6 chương,với nội dung cụ thể như sau:
Chương 1: Giới thiệu Chương này nhằm mục tiêu giới thiệu khái quát các nội
dung chính của luận án như tầm quan trọng của nghiên cứu, mục tiêu, nội dung, phạm
vi nghiên cứu, cấu trúc và đóng góp của luận án
Chương 2: Tổng quan tài liệu Dựa vào mục tiêu nghiên cứu ở Chương 1, chương
này hệ thống lại kết quả của các nghiên cứu có liên quan trong và ngoài nước để đúc kếtcác luận điểm chính nhằm phục vụ cho việc phân tích, lý giải và đề xuất giải pháp củaluận án
Chương 3: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu Dựa trên kết quả đúc kết
từ các nghiên cứu được xem xét ở Chương 2, chương này xây dựng mô hình ước lượngảnh hưởng của hạn chế tín dụng đến lượng vốn phân bổ cho yếu tố đầu vào và năngsuất lúa của nông hộ trên cơ sở các lý thuyết đã được trình bày phổ biến trong tài chínhnông nghiệp Tiếp theo, chương này trình bày chi tiết phương pháp nghiên cứu, baogồm phương pháp thu thập số liệu và phương pháp ước lượng sử dụng trong luận án
Chương 4: Thực trạng năng suất sản xuất lúa và phân bổ vốn tín dụng cho các yếu tố đầu vào ở đồng bằng sông cửu long Để kết quả nghiên cứu phản ánh đúng bản
chất của vấn đề, chương này tập trung phân tích tình hình sản xuất lúa như diện tích đất,năng suất và sản lượng lúa, cùng với phân tích thực trạng phân bổ tín dụng cho nôngnghiệp ở ĐBSCL, chẳng hạn như chính sách tín dụng áp dụng cho nông nghiệp, nôngthôn, các tổ chức tín dụng tham gia thị trường nông thôn, bên cạnh các chỉ tiêu doanh sốcho vay và dư nợ Ngoài ra, chương này còn phân tích việc sử dụng các yếu tố đầu vàosản xuất lúa như giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và lao động thuê
Chương 5: Ảnh hưởng của hạn chế tín dụng đến lượng vốn phân bổ cho yếu tố đầu vào và năng suất lúa của nông hộ ở Đồng bằng sông Cửu Long Mục tiêu của
chương này là trình bày kết quả ước lượng ảnh hưởng của hạn chế tín dụng đến lượngvốn phân bổ cho yếu tố đầu vào và đến năng xuất lúa của nông hộ ở ĐBSCL bằng sốliệu thực tế khảo sát được Kết quả phân tích được trình bày sẽ là cơ sở khoa học chứngminh cho lý thuyết đã được xây dựng ở phần trên
Trang 25Chương 6: Kết luận và hàm ý chính sách Trên cơ sở kết quả đạt được ở các
chương trước, luận án rút ra kết luận và đề xuất các hàm ý chính sách có liên quan giúpgiảm hạn chế tín dụng, sử dụng đầu vào hiệu quả và gia tăng thu nhập nông hộ
1.7 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁNTrên cơ sở nghiên cứu lý thuyết và thực tiễn của vùng nghiên cứu, kết hợp với kếtquả thực nghiệm từ 1.017 hộ trồng lúa năm 2015 và 1.065 hộ trồng lúa năm 2018 ởĐBSCL, luận án có các đóng góp như sau:
1.7.1 Về lý thuyết
Luận án xây dựng cơ sở lý thuyết về ảnh hưởng của hạn chế tín dụng đến lượngvốn phân bổ cho yếu tố đầu vào và ảnh hưởng của hạn chế tín dụng đến năng suất lúacủa nông hộ Cơ sở lý thuyết này được xây dựng chủ yếu dựa trên các nguyên lý củaKinh tế học vi mô và Tài chính vi mô với trọng tâm ứng dụng vào lĩnh vực tín dụng, đặcbiệt là tín dụng nông nghiệp và nông thôn
1.7.2 Về thực tiễn
Kết quả ước lượng ảnh hưởng của hạn chế tín dụng đến lượng vốn phân bổ cho yếu
tố đầu vào và đến năng suất lúa của nông hộ ở ĐBSCL là cơ sở khoa học có giá trị thựctiễn giúp nhà khoa học và các nhà lập chính sách tham khảo để hoạch định chính sáchphát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững, đặc biệt là ảnh hưởng của hạn chế tíndụng đến lượng vốn phân bổ cho yếu tố đầu vào trong sản xuất lúa, cũng như mối quan
hệ giữa các yếu tố đầu vào (quan hệ bổ sung hay thay thế) – vấn đề ít được quan tâmnghiên cứu trước đây ở nông thôn nước ta
Ngoài ra, tính phi tuyến trong ảnh hưởng của hạn chế tín dụng đến lượng vốn phân
bổ cho yếu tố đầu vào và đến năng suất lúa của nông hộ ở ĐBSCL cũng là một đónggóp mới có giá trị khoa học cao để các nhà khoa học cũng như các nhà lập chính sách
sử dụng để hướng dẫn nông hộ sử dụng lượng đầu vào tối ưu nhằm nâng cao năng suất
và thu nhập, đồng thời bảo vệ sức khỏe người dân và môi trường tự nhiên
Việc sử dụng cơ sở dữ liệu ở hai thời điểm năm 2015 và năm 2018 để phân tíchcũng là một đóng góp của luận án Ngoài việc đánh giá được mức độ ảnh hưởng củahạn chế tín dụng đến lượng vốn phân bổ cho yếu tố đầu vào và đến năng suất lúa củanông hộ, cơ sở dữ liệu lớn ở hai thời điểm giúp kiểm định được độ tin cậy của kết quảước lượng và các phân tích trong luận án
Trang 26Chương 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Hạn chế tín dụng là hiện tượng phổ biến đối với nông hộ ở nhiều nơi trên thế giới,đặc biệt là ở nông thôn các nước đang phát triển như nước ta Nguyên nhân của hiệntượng này được các nhà nghiên cứu đúc kết một cách khá đầy đủ, đó là do thông tin bấtđối xứng (với hệ quả là lựa chọn sai lầm và động cơ lệch lạc) và chi phí giao dịch Hạnchế tín dụng ảnh hưởng đến cách thức phân bổ vốn cho yếu tố đầu vào và năng suấtnông nghiệp của nông hộ Một số lượng khá phong phú các nghiên cứu thực nghiệm đãđược thực hiện để lý giải và minh chứng cho các khía cạnh này Mục tiêu của chươngnày là lược khảo các nghiên cứu có liên quan để củng cố thêm cơ sở lý thuyết và thựctiễn của luận án, đồng thời đảm bảo tính khoa học cho các phân tích và lập luận trongluận án
2.1 CÁC NGHIÊN CỨU VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA HẠN CHẾ TÍN DỤNG ĐẾN PHÂN BỔ VỐN CHO YẾU TỐ ĐẦU VÀO TRONG SẢN XUẤT CỦA NÔNG HỘ
Sản xuất lúa là hoạt động kết hợp các yếu tố đầu vào (đất, phân bón, nông dược vàlao động) để tạo ra sản phẩm Ở các nước đang phát triển, năng suất của các yếu tố đầuvào tùy thuộc rất lớn vào điều kiện tự nhiên, trình độ kỹ thuật và kinh nghiệm sản xuấtcủa nông hộ – chủ thể quan trọng nhất của sản xuất lúa Hoạt động sản xuất lúa đã dầnchuyển đổi từ quảng canh sang thâm canh với việc sử dụng ngày một nhiều các yếu tốđầu vào, đặc biệt là phân bón vô cơ và nông dược sản xuất trong và ngoài nước, để làmtăng năng suất lúa Trong phương thức sản xuất đó, lúa sản xuất ra được sử dụng để đápứng nhu cầu tiêu dùng trên khắp thế giới, dẫn đến việc phức tạp hóa các quyết định sảnxuất từ việc sử dụng yếu tố đầu vào và lượng sản phẩm đầu ra (lúa) cần có vào nhữngthời điểm nhất định
Trên nguyên tắc, đất và lao động là hai yếu tố đầu vào căn bản của sản xuất lúa nóiriêng và của sản xuất nông nghiệp nói chung Tuy nhiên, thâm canh trong sản xuất lúachính là quá trình thay thế hai loại yếu tố đầu vào này bằng vốn Vốn cho phép nông hộtăng cường kiểm soát quá trình sản xuất, chẳng hạn như chuẩn bị đất tốt hơn để làmtăng độ màu mỡ thông qua việc sử dụng phân bón vô cơ hay kiểm soát sâu bệnh bằngcách điều chỉnh lượng nông dược sử dụng Vốn – với vai trò là yếu tố đầu vào quantrọng – sẽ giúp nông hộ khắc phục được sự thiếu hụt của các yếu tố đầu vào để làm tăngnăng suất của đất đai và lao động, qua đó làm tăng thu nhập cho nông hộ Trong phươngthức sản xuất lúa truyền thống, nông hộ kiểm soát hầu hết yếu tố đầu vào được sử dụngnhưng trong phương thức sản xuất lúa hiện đại nông hộ hầu như không thể làm điều đó.Điển hình nhất là nông hộ phụ thuộc vào đại lý vật tư nông nghiệp về loại phân bón vànông dược sử dụng để kiểm soát dịch bệnh trên cây lúa do thiếu thông tin thị trường vàthiếu kiến thức khoa học cần thiết bởi trình độ học vấn có thể còn hạn chế Khi đó, chất
Trang 27lượng,
Trang 28số lượng và hiệu quả (hay giá trị năng suất biên) của yếu tố đầu vào không còn phụthuộc vào năng lực nội tại của nông hộ mà phụ thuộc vào số lượng vốn mà nông hộ cóđược cũng như thực trạng thị trường đầu vào – yếu tố hoàn toàn nằm ngoài khả năngkiểm soát của nông hộ Khi đó, lượng vốn sản xuất thay đổi, hành vi sử dụng yếu tố đầuvào của nông hộ cũng sẽ thay đổi theo, thậm chí rất đáng kể.
Nông hộ sản xuất lúa với phương thức sản xuất hiện đại đáp ứng rất nhanh nhạyđối với các tín hiệu ngoại biên như chính sách của chính phủ (chẳng hạn như quy địnhhạn chế sử dụng các loại yếu tố đầu vào độc hại) và giá yếu tố đầu vào trên thị trường
Sự liên kết không gian của phương thức sản xuất lúa hiện đại để tận hưởng tính kinh tếquy mô trong việc cung ứng yếu tố đầu vào và bán sản phẩm cũng có ảnh hưởng đáng
kể thông qua chuỗi giá trị sản phẩm (lúa gạo) trải dài từ nông thôn đến thành thị và ratận nước ngoài, chẳng hạn như ở các nước có lượng lúa gạo dôi dư Hệ quả của hiệntượng này là thu nhập của nông hộ trồng lúa gia tăng, dẫn đến việc thay thế lao độngbằng các công nghệ mới và yếu tố đầu vào khác trong sản xuất (máy móc làm đất haynông dược) Một hiện tượng nữa là sự gia tăng trong áp lực cạnh tranh giữa các nông hộkhi nhu cầu của người tiêu dùng đối với lương thực (và ngay cả thực phẩm) giảm đi dothu nhập tăng, dẫn đến việc cố gắng cắt giảm chi phí sản xuất nên nhu cầu đối với laođộng sử dụng trong sản xuất lúa giảm dần Trong phương thức sản xuất lúa hiện đại, khimột số kỹ năng của nông hô bị thui chột (như chọn giống), một số kỹ năng khác được
bổ sung, chẳng hạn như tìm kiếm và sử dụng các loại yếu tố đầu vào mới Do việc tăngnăng suất lao động và năng suất đất đai là điều kiện tiên quyết đối với sự tồn tại của cácnông hộ trong phương thức sản xuất hiện đại, việc tiếp cận vốn để đầu tư cho các yếu tốđầu vào và vận dụng kỹ thuật sản xuất mới trở nên hết sức cần thiết Đó cũng là yếu tốlàm thay đổi hành vi sử dụng yếu tố đầu vào của nông hộ trên cơ sở điều kiện nguồnvốn có được (Kochar, 1997)
Theo Kochar (1997), khác biệt trong khả năng tiếp cận tín dụng chính thức lànguyên nhân của khác biệt trong hành vi sử dụng yếu tố đầu vào trong sản xuất giữa cácnông hộ Nếu vì bị hạn chế tín dụng mà nông hộ sử dụng yếu tố đầu vào không hợp lýthì năng suất và sản lượng sẽ bị giảm Do đó, điều cần thiết là phát triển thị trường tíndụng nông thôn, đặc biệt là ở các nước đang phát triển nơi cung ứng phần lớn nông sảntrên thị trường thế giới Tuy nhiên, để đảm bảo tính hiệu quả của việc phát triển thịtrường tín dụng nông thôn, thị trường yếu tố đầu vào cũng cần được quan tâm đúng mứcbởi thị trường này có ảnh hưởng đáng kể đến năng suất và sản lượng nông sản Ở nhữngnơi nông hộ sản xuất với quy mô nhỏ, đất đai manh mún, thiếu vốn và hệ thống kết cấu
hạ tầng kém phát triển, nhu cầu đối với vốn (lưu động) cho sản xuất của nông hộ mặc
dù không lớn nhưng lại khó tiếp cận được nguồn tín dụng chính thức Trong trường hợp
đó, nhiều nông hộ có thể không vay tín dụng phi chính thức mà có thể vay (mượn) từ họhàng hay người thân với lãi suất thấp hay thậm chí bằng không hay mua chịu vật tưnông nghiệp Nông hộ cũng có thể cho thuê bớt đất để có vốn sử dụng cho sản xuất hayhạn chế lượng yếu tố đầu vào cho sản xuất để tránh rơi vào tình trạng nợ nần daidẳng Từ
Trang 29đó, lượng lao động gia đình sẽ giảm đi và chuyển đổi sang các ngành nghề phi nôngnghiệp, trở nên thất nghiệp hay di cư ra thành thị để tìm việc, mặc dù phải đối mặt vớinhiều khó khăn.
Mức độ hạn chế tín dụng mà nông hộ phải đối mặt ảnh hưởng đến quyết định sửdụng yếu tố đầu vào cho sản xuất (Kochar, 1997) Khả năng tiếp cận tín dụng sẽ ảnhhưởng đến quyết định sử dụng yếu tố đầu vào của nông hộ nếu giá trị thay thế của vốntrong trường hợp không vay được vượt quá chi phí vay vốn Trong trường hợp này, mức
độ sử dụng yếu tố đầu vào phụ thuộc vào các nguồn lực khác sẵn có của nông hộ.Ngược lại, nếu chi phí biên của vốn nhỏ hơn hay bằng chi phí vay, hạn chế tín dụngkhông ảnh hưởng đến mức độ sử dụng yếu tố đầu vào Khi đó, mức độ sử dụng yếu tốđầu vào sẽ không khác biệt giữa trường hợp vay được hay không vay được vốn Kết quả
là các ước lượng giải thích hành vi sử dụng yếu tố đầu vào trong mối quan hệ với khảnăng tiếp cận tín dụng luôn có ý nghĩa sau khi kiểm soát các yếu tố ảnh hưởng đến năngsuất vốn của nông hộ Tuy nhiên, Kochar (1997) lưu ý là tính hiệu lực của các ướclượng này tùy thuộc rất lớn vào đặc điểm của loại yếu tố đầu vào được nghiên cứu,chẳng hạn như hệ số co giãn của (các) loại yếu tố đầu vào theo lượng vốn có thể sửdụng Khi bị hạn chế tín dụng ở mức cao, nông hộ có thể giảm diện tích sản xuất hayngừng sản xuất thông qua việc cho thuê đất, từ đó lượng sử dụng các yếu tố đầu vàokhác (lao động thuê, lao động gia đình hay giống) cũng sẽ thay đổi theo Hành vi nàycủa nông hộ còn có liên quan đến sự vận hành của thị trường tín dụng phi chính thức ởnông thôn, đặc biệt là thị trường mua bán chịu vật tư nông nghiệp
Trong sản xuất nông nghiệp, vai trò của khu vực kinh tế tư nhân trong việc cungứng yếu tố đầu vào cho nông hộ là khá quan trọng (Tripp và Pal, 2000) Do đó, mốiquan tâm của nhiều người – đặc biệt là các nhà lập chính sách trong nông nghiệp – làkhích lệ khu vực kinh tế này sử dụng công cụ thị trường để đáp ứng nhu cầu của nông
hộ để giúp làm tăng hiệu quả của sản xuất, đặc biệt là trong trường hợp nông hộ bị hạnchế tín dụng Tuy nhiên, sự kỳ vọng này không trở thành hiện thực do hiện tượng lợidụng việc thiếu thông tin thị trường của nông hộ để trục lợi từ phía các nhà cung ứngyếu tố đầu vào tư nhân (đại lý vật tư nông nghiệp) Độ tin cậy của hoạt động cung ứngyếu tố đầu vào tùy thuộc rất lớn vào sự chuyển tải thông tin thị trường giữa người cungứng yếu tố đầu vào và nông hộ Tuy nhiên, rất tốn kém để tập hợp, chuyển tải và xử lýthông tin thị trường một cách hợp lý Đặc biệt, chất lượng của các hoạt động này chịuảnh hưởng nghiêm ngặt của sự không hoàn hảo của thị trường và sự thiếu trung thực.Hơn nữa, giá trị của thông tin còn tùy thuộc vào năng lực xử lý của người tiếp nhận, đặcbiệt là các nông hộ nghèo với khả năng xử lý thông tin kém Khi đó, các nông hộ thunhập thấp khó tiếp cận tín dụng có thể “mềm lòng” trước các tuyệt chiêu tiếp thị nênmua chịu các loại yếu tố đầu vào không phù hợp (cả về chất lượng lẫn số lượng) Hệquả là hạn chế tín dụng ảnh hưởng đến hành vi sử dụng yếu tố đầu vào của nông hộ theohướng làm cho năng suất cây trồng giảm nhưng chi phí sản xuất (tính trên mỗi đơn vịsản phẩm) lại tăng bởi sự kém hiệu quả của thị trường vật tư nông nghiệp Khi các cánhân hay doanh
Trang 30nghiệp cung ứng yếu tố đầu vào mở rộng kinh doanh đến các vùng nông thôn hẻo lánh– nơi các nông hộ càng khó tiếp cận tín dụng và ít có kiến thức về hoạt động thươngmại trong kinh tế thị trường – các chiêu thức tiếp thị trở nên rất hiệu quả trong việc hấpdẫn nông hộ mua càng nhiều yếu tố đầu vào cho sản xuất, thậm chí mù mờ về chấtlượng Theo Tripp và Pal (2000), để hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của các hiện tượng trênđến hành vi sử dụng yếu tố đầu vào của nông hộ, việc tăng cường kiểm soát của các cơquan quản lý nhà nước, phát triển các tổ chức do chính nông hộ quản lý với chức năngkiểm soát chất lượng yếu tố đầu vào trên thị trường và đẩy mạnh các nghiên cứu khoahọc về phát triển thị trường hàng hóa ở nông thôn sẽ đóng vai trò quan trọng, bên cạnhviệc tạo cơ hội tiếp cận tín dụng cho nông hộ.
Theo Khandker và Faruquee (2003), vốn rất quan trọng đối với công cuộc pháttriển kinh tế nói chung và sản xuất nông nghiệp nói riêng bởi vốn giúp nông hộ thựchiện đầu tư và tiếp cận các kỹ thuật sản xuất mới Ở nông thôn các nước đang pháttriển, tín dụng chính thức và tín dụng phi chính thức luôn song hành Không yêu cầu thếchấp, cận kề người vay, nhanh chóng và linh hoạt trong các giao dịch cho vay, tín dụngphi chính thức là lựa chọn của không ít nông hộ Tuy nhiên, tín dụng phi chính thức –ngoại trừ mua bán chịu vật tư nông nghiệp – ít được sử dụng vào sản xuất nên đóng vaitrò mờ nhạt đối với hoạt động sản xuất của nông hộ so với tín dụng chính thức bởi cácnguyên nhân như (i) lãi suất (quá) cao, (ii) kỳ hạn ngắn và được sử dụng chủ yếu chotiêu dùng, đặc biệt là trong những trường hợp cấp bách, và (iii) lượng tiền cho vay nhỏnên khó đáp ứng được hầu hết các nhu cầu đầu tư cho sản xuất Trong thực tế đó, tíndụng chính thức trở thành nguồn vốn đầu tư quan trọng cho sản xuất của nông hộ Tuynhiên, lượng tín dụng chính thức nông hộ có thể tiếp cận được bị hạn chế nên khó đápứng đầy đủ nhu cầu của sản xuất bởi các nguyên nhân như thông tin bất đối xứng, rủi rotrong sản xuất nông nghiệp, thiếu cơ chế cưỡng chế trả nợ, sự can thiệp quá sâu củachính phủ vào hoạt động của các tổ chức tín dụng chính thức và hiện tượng trục lợi từ
sự hỗ trợ của chính phủ, đặc biệt là ở các tổ chức tín dụng được chính phủ thành lập vớimục tiêu là ưu tiên cho vay nông hộ nghèo với lãi suất thấp Khandker và Faruquee(2003) còn ghi nhận rằng, ảnh hưởng tích cực của tín dụng đối với sản lượng thu hoạchcủa nông hộ là thông qua sự thay đổi trong hành vi sử dụng giống và phân bón – hailoại yếu tố đầu vào cơ bản của sản xuất nông nghiệp – của nông hộ và ảnh hưởng nàykhác biệt giữa các nông hộ với cơ hội tiếp cận tín dụng không đồng nhất tùy thuộc vàoquy mô đất đai (loại tài sản thế chấp quan trọng trong việc tiếp cận tín dụng chínhthức) Khả năng tiếp cận tín dụng tốt của các nông hộ có quy mô đất lớn sẽ giúp cácnông hộ này có nhiều cơ hội lựa chọn yếu tố đầu vào phù hợp với sản xuất – đặc biệt làgiống và phân bón – để khai thác tối đa tiềm năng và quy mô đất thông qua tận dụnglao động gia đình để đạt hiệu quả cao nhất có thể
Foltz (2004) nhận thấy các yếu điểm của thị trường tín dụng nông thôn trên cáckhía cạnh như (i) tính độc quyền của TCTD bắt nguồn từ sự chia cắt của thị trường tíndụng,
(ii) chi phí giao dịch cao do người vay sống phân tán và giá trị khoản vay nhỏ; và (iii)
Trang 31động cơ lệch lạc của người vay trong việc trả nợ Các khiếm khuyết này dẫn đến việchạn chế tín dụng xuất hiện thường trực đối với nông hộ, đặc biệt là nông hộ thu nhậpthấp với quy mô sản xuất nhỏ Hiện tượng này ảnh hưởng đáng kể đến thu nhập củanông hộ do sự phân bổ bất hợp lý nguồn lực (đặc biệt là nguồn lực vốn) vào hoạt độngđầu tư cho sản xuất (hay cách thức sử dụng yếu tố đầu vào) Trong tình huống đó, cáckhiếm khuyết của thị trường hàng hóa, thị trường lao động và thị trường đất đai làm chovấn đề càng trở nên nghiêm trọng Vào thời điểm xuống giống, nông hộ cần ra quyếtđịnh trong việc phân bổ lượng vốn có được cho tiêu dùng và đầu tư cho sản xuất thôngqua việc mua yếu tố đầu vào Đối với nông hộ không bị hạn chế tín dụng, quyết định tiêudùng hoàn toàn độc lập với hoạt động đầu tư cho sản xuất bởi có đủ nguồn lực vốn đểthực hiện mục tiêu trên một cách tối ưu Nói cách khác, đối với các nông hộ này quyếtđịnh sản xuất không chịu ảnh hưởng của lượng tín dụng có thể tiếp cận được Ngược lại,các nông hộ bị hạn chế tín dụng phải đưa ra quyết định khó khăn cho việc sử dụngnguồn lực vốn (bao gồm vốn tự có và vốn vay) để mua các loại yếu tố đầu vào sao chohợp lý nhất Hệ quả là sẽ làm xuất hiện hiệu ứng giảm đầu tư cho sản xuất và đầu tưthiên lệch cho loại yếu tố đầu vào có ảnh hưởng mạnh đến năng suất của cây trồng trongnhất thời theo nhận định của chính nông hộ Foltz (2004) còn chỉ rõ, nông hộ bị hạn chếtín dụng và không bị hạn chế tín dụng phải mua yếu tố dầu vào với giá khác biệt do hạnchế tín dụng ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của nông hộ (trả ngay bằng tiền mặthay trả chậm vào vụ thu hoạch) khi mua yếu tố đầu vào Nếu phải mua trả chậm (tíndụng thương mại), giá phải trả khi mua sẽ cao hơn Thông qua cơ chế này, hạn chế tíndụng ảnh hưởng đáng kể đến hành vi sử dụng yếu tố dầu vào của nông hộ nên năng suấtcây trồng có thể chịu ảnh hưởng tiêu cực.
Vốn là yếu tố quan trọng giúp nông hộ đầu tư phát triển sản xuất, đặc biệt là ở cácquốc gia có nền kinh tế chuyển đổi Lý thuyết đầu tư cho rằng quyết định đầu tư cho sảnxuất không phụ thuộc vào khả năng vay nếu thị trường vốn là hoàn hảo Tuy nhiên, cácnghiên cứu thực nghiệm cho thấy luận điểm này không hiện diện ở các quốc gia có nềnkinh tế chuyển đổi (Hanousek và Filer, 2004; Rizov, 2004) Nếu thị trường vốn làkhông hoàn hảo, lý thuyết thông tin bất đối xứng được xây dựng trên cơ sở mối quan hệgiữa người vay và TCTD được vận dụng rộng rãi để lý giải hành vi đầu tư cho sản xuấtcủa nông hộ (Zinych và Odening, 2009) Do thông tin bất đối xứng nên người vaykhông thể vay được số tiền mình cần mặc dù chấp nhận lãi suất thị trường hiện hành Hệquả là đầu tư cho sản xuất sẽ giảm bởi nông hộ bị thiếu vốn Ảnh hưởng của thông tinbất đối xứng có thể được giảm thiểu thông qua việc tăng cường kiểm soát hành vi củangười vay, nhưng việc làm này sẽ là tăng chi phí giao dịch của hoạt động vay nên dẫnđến việc nông hộ phải chọn lựa nguồn vốn sử dụng để tối thiểu hóa chi phí, như được lý
giải bởi lý thuyết Trật tự phân hạng (Pecking order theory) Hệ quả là đầu tư cho sản
xuất của nông hộ phụ thuộc vào vốn tự có nên kết quả sản xuất không thể đạt được mứctối ưu do nông hộ phải xem xét phân bổ lượng vốn này – thường ít ỏi do thu nhập thấp –cho các loại yếu tố đầu vào sử dụng vào sản xuất trên cơ sở (giá trị) năng suất biên củachúng Tuy nhiên, việc xác định năng suất biên của các yếu tố đầu vào có thể khó chính
Trang 32xác đối với nông hộ nên kết quả sản xuất (lợi nhuận) của nông hộ có thể bị ảnh hưởngtiêu cực Khi đó, sự hỗ trợ của chính phủ thông qua các chính sách tăng cường khả năngtiếp cận tín dụng chính thức cho nông hộ trở nên rất ý nghĩa (Zinych và Odening, 2009).Theo De Castro và Teixeira (2012), việc phân tích ảnh hưởng của hạn chế tín dụng– hiện tượng phổ biến ở các nông thôn các nước đang phát triển – đến hành vi sử dụngyếu tố đầu vào và kết quả sản xuất của nông hộ là khá khó khăn do đặc thù của sản xuấtnông nghiệp và của thị trường tín dụng nông thôn, như vấn đề chọn lựa sai lầm và tính
đa dụng của các nguồn lực (đặc biệt là nguồn lực vốn) Bên cạnh đó, kết quả sản xuấtcủa nông hộ còn lệ thuộc rất nhiều vào yếu tố khách quan (điển hình là thời tiết và dịchbệnh), qua đó làm nghiêm trọng thêm ảnh hưởng của hạn chế tín dụng Trong điều kiện
đó, thậm chí vay được thì nông hộ vẫn không thể sử dụng vốn một cách tối ưu do phảiđối mặt với sự không chắc chắn của kết quả sản xuất Các chính sách giúp khắc phụcđược các khiếm khuyết này sẽ khích lệ nông hộ sử dụng thêm yếu tố đầu vào và tiếpcận kỹ thuật sản xuất mới – yếu tố quan trọng đối với tính hiệu quả của các yếu tố đầuvào
– để làm tăng năng suất Ảnh hưởng này khác biệt giữa các nông hộ với quy mô đấtkhác nhau, phụ thuộc vào năng suất sản xuất của đất canh tác dưới tác động của lượngyếu tố đầu vào mà nông hộ sử dụng Cũng chính vì điều này, các nông hộ có điều kiệntiếp cận tín dụng tốt hơn thường có xu hướng mở rộng diện tích trên đất của mình haythuê mướn thêm đất để canh tác nhằm tận dụng năng lực của nguồn vốn mình có được,kéo theo sự thay đổi trong số lượng các yếu tố đầu vào sản xuất có liên quan như giống,phân bón, nông dược và công lao động De Castro và Teixeira (2012) còn ghi nhận,hành vi sử dụng yếu tố đầu vào như phân bón và nông dược còn chịu ảnh hưởng đến giácủa chúng và đặc điểm của thị trường yếu tố đầu vào, đặc biệt là ở khía cạnh cạnh tranhgiữa các nhà cung cấp (đại lý vật tư) Khi đối mặt với sự thay đổi giá không đồng nhấtgiữa các loại yếu tố đầu vào khác nhau, nông hộ có xu hướng xem xét đến tính chấtthay thế giữa các loại yếu tố đầu vào khi quyết định sử dụng chúng vào sản xuất, chẳnghạn như giữa lao động và nông dược bởi trong chừng mực nhất định, hai loại yếu tố đầuvào này có thể thay thế cho nhau Sự thay thế của lao động cho nông dược sử dụng đểdiệt cỏ hay phòng trừ sâu bệnh có thể rất hiệu quả trên phương diện tài chính đối vớicác nông hộ có lực lượng lao động gia đình dồi dào De Castro và Teixeira (2012) kếtluận rằng, nông hộ ở Brazil phản ứng khá nhanh nhạy đối với cơ hội tiếp cận tín dụngthông qua việc thay đổi hành vi sử dụng yếu tố đầu vào, nhất là khi có khiếm khuyếttrên thị trường đầu vào (thông tin thị trường không hoàn hảo hay độc quyền) và có tínhđến tính chất thay thế giữa các loại yếu tố đầu vào được sử dụng trong sản xuất
Jayne và cộng sự (2014) cho rằng, có thể kết hợp các khía cạnh tín dụng, hoạtđộng sử dụng yếu tố đầu vào và tiếp thị sản phẩm để phát triển sản xuất nông nghiệp.Theo nghiên cứu này, phương thức tiếp cận tín dụng có ảnh hưởng đến hành vi sử dụngphân bón để chăm sóc cây trồng của nông hộ, chẳng hạn như trong chương trình tíndụng kết hợp ở Kenya trong đó nông hộ được doanh nghiệp cung ứng yếu tố đầu vàotrả chậm vào cuối vụ Khi tín dụng được mở rộng, nông hộ sẽ ưu tiên mua yếu tố đầu
Trang 33vào được cho là quan trọng đối với sản xuất trên cơ sở ước tính (giá trị) năng suất biêncủa nó Hành vi này có tác dụng lan tỏa làm tăng tính hiệu quả (thể hiện qua giá trịnăng suất biên) của các yếu tố đầu vào khác bởi hầu hết các yếu tố đầu vào tương tácnhau (như giữa phân bón và giống) trong quá trình hỗ trợ sự tăng trưởng của đối tượngsản xuất (như cây lúa) Tuy nhiên, thực tế cho thấy việc uy tín tín dụng thấp và thôngtin bất đối xứng – nguyên nhân của sự chọn lựa sai lầm và động cơ lệch lạc xuất hiệnthường trực trong các giao dịch tín dụng – đã hạn chế sự phát triển của thị trường tíndụng nông thôn nói chung và các hoạt động cho vay nông hộ nói riêng Ngoài ra, do
sự yếu kém của hệ thống phân phối (thị trường) nông sản, nông hộ thường phải bángấp sản phẩm với giá thấp, dẫn đến hệ quả là thu nhập thấp nên nông hộ càng khó tiếpcận tín dụng và có xu hướng thay đổi hành vi sử dụng yếu tố đầu vào cho sản xuất hay
sử dụng các loại yếu tố đầu vào chất lượng thấp với giá rẻ, đặc biệt là khi thị trườngyếu tố đầu vào (vật tư nông nghiệp) không được kiểm soát và quản lý một cách khoahọc
Sản xuất nông nghiệp là một quá trình phức tạp với sự phối hợp của nhiều yếu tốđầu vào tự nhiên với yếu tố đầu vào phi tự nhiên Do đó, theo Sheng và cộng sự (2016),khi đối mặt với các tình huống thực tế mới xuất hiện (chẳng hạn như cơ hội tiếp cận tíndụng) và các tiến bộ trong kỹ thuật sản xuất, nông hộ ở Úc thay đổi cách thức phối hợp
sử dụng các yếu tố đầu vào sao cho hợp lý hơn bằng cách tính đến chi phí (biên) củachúng Khi đó, nông hộ với mục tiêu tối thiểu hóa chi phí (hay tối đa hóa lợi nhuận) sẽđiều chỉnh phối hợp sử dụng vốn theo hướng tăng cường sử dụng các yếu tố đầu vàovới năng suất biên cao được mang lại do tiến bộ kỹ thuật và các yếu tố đặc thù của nông
hộ, chẳng hạn như học vấn, kinh nghiệm sản xuất và độ màu mỡ của đất đai Với sựđiều chỉnh khoa học như vậy, nông hộ vẫn có thể đảm bảo hay thậm chí làm tăng năngsuất cây trồng với lượng yếu tố đầu vào ít đi do bị hạn chế tín dụng Sheng và cộng sự(2016) còn nhận thấy, tính hiệu quả như trên tùy thuộc rất lớn vào tỷ lệ phối hợp cácloại yếu tố đầu vào trước khi nông hộ tiến hành điều chỉnh, hiểu biết của nông hộ vềvai trò của từng loại yếu tố đầu vào đối với sự phát triển của đối tượng cây trồng và chiphí cho từng loại yếu tố đầu vào tính trên mỗi đơn vị sản phẩm làm ra Việc phân bổvốn cho yếu tố đầu vào của nông hộ còn phụ thuộc vào biến động tương đối giữa giácủa các loại yếu tố đầu vào dưới sự tác động của nguồn cung – khía cạnh chịu ảnhhưởng của trình độ phát triển của thị trường yếu tố đầu vào của sản xuất nông nghiệp.Bên cạnh đó, thái độ đối với rủi ro của nông hộ cũng ảnh hưởng đến việc phân bổ vốncho các yếu tố đầu vào của nông hộ, trong đó mức độ sợ rủi ro của nông hộ càng cao sẽcàng e ngại thay đổi cách thức sản xuất nên cũng sẽ ít thay đổi cách thức phân bổ vốncho các yếu tố đầu vào Thái độ đối với rủi ro khác biệt giữa các nông hộ, tùy thuộc vào
độ tuổi, học vấn của chủ hộ, nguồn vốn, mức độ màu mỡ và sự manh mún của đất canhtác
Tín dụng là loại yếu tố đầu vào trung gian giúp nông hộ mua được các loại yếu tốđầu vào có ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và sản lượng cây trồng như phân bón,nông dược, máy nông nghiệp hay các phương tiện thủy lợi Ở Ấn Độ, tín dụng – đặc
Trang 34biệt là tín dụng chính thức – đóng vai trò quan trọng trong việc hạn chế sự sụt giảmtrong sản lượng nông nghiệp và trong lợi nhuận của nông hộ sản xuất lúa (Narayaman,2016) Không những thế, tín dụng nông nghiệp còn có ảnh hưởng lan tỏa đến các khuvực khác của nền kinh tế thông qua cơ chế thị trường Tín dụng chính thức với lãi suấtthấp cho phép nông hộ làm tăng lợi nhuận trong sản xuất thông qua việc giảm chi phí,
từ đó khích lệ việc sử dụng các loại yếu tố đầu vào chất lượng cao nhằm làm tăng (giátrị) năng suất biên của chúng Ảnh hưởng theo hình xoáy trôn ốc này sẽ làm tăng lợi íchcủa tín dụng đối với sản xuất của nông hộ Chính vì vậy, hệ số co giãn của cầu đối vớiyếu tố đầu vào theo lượng tín dụng tiếp cận là khá lớn đối với nông hộ ở quốc gia này.Theo Narayaman (2016), hệ số này đối với phân bón lên đến 0,85, cho thấy rằng nếu tíndụng tăng 10% thì lượng phân bón sử dụng tăng 8–9%, tương tự đối với máy nôngnghiệp và phương tiện tưới tiêu Các hệ số này càng cao đối với nông hộ ở các vùng sảnxuất nông nghiệp còn lạc hậu, vì vậy việc tăng cường cơ hội tiếp cận tín dụng cho nông
hộ nơi đó sẽ tác động tích cực đến sản lượng nông nghiệp cũng như sự phát triển của thịtrường, kể cả thị trường đầu vào cho sản xuất Với tín dụng, nông hộ sẽ có xu hướngthay thế lao động bằng các loại yếu tố đầu vào khác với (giá trị) năng suất biên cao hơn(như máy móc nông nghiệp hay các loại nông dược đặc chủng) Kết quả là đường giớihạn khả năng sản xuất của nông hộ sẽ dịch chuyển mở rộng, qua đó thúc đẩy việc tích
tụ vốn trong chính bản thân nông hộ, tạo động cơ để TCTD cho nông hộ vay với lượngtiền tăng theo thời gian Khi đó, sản xuất nông nghiệp sẽ được hiện đại hóa dần Tuynhiên, Narayaman (2016) cũng ghi nhận rằng khi nông hộ sử dụng phân bón nhiều thêmthì lượng nông dược sử dụng cũng tăng bởi hệ số tương quan giữa lượng sử dụng củahai loại yếu tố đầu vào này là dương và khá cao trong một số trường hợp (trong khoảng0,13–0,97) Đây là hiện tượng đáng lưu ý và cần có giải pháp điều chỉnh để đảm bảotính bền vững của sản xuất nông nghiệp – ngành sản xuất đảm bảo cung ứng các sảnphẩm cơ bản đối với đời sống và sức khỏe của con người – và của môi trường tự nhiên
Ở các quốc gia Hạ Sahara (Châu Phi), do bị hạn chế tín dụng nên nông hộ nơi đây
sử dụng rất ít yếu tố đầu vào cho sản xuất, đặc biệt là phân bón, nông dược và hạt giống(Adjognon và cộng sự, 2017) Mặc dù có các chương trình tín dụng trợ giúp nông hộmua yếu tố đầu vào (như phiếu mua yếu tố đầu vào với giá ưu đãi dưới sự trợ cấp củachỉnh phủ), thực trạng này vẫn ít được cải thiện bởi lượng trợ cấp của chính phủ ít ỏitrong khi các ngân hàng thương mại vẫn thực hiện chính sách hạn chế cho vay đến nông
hộ Nguyên nhân của hiện tượng này là các ngân hàng phải đối mặt với chi phí giaodịch cao khi cho vay ở nông thôn, nông hộ thiếu tài sản thế chấp và sản xuất nôngnghiệp chịu rủi ro nên tỷ lệ không thu hồi được nợ cao Thực tế cho thấy, một số nông
hộ vẫn tiếp cận được nguồn tín dụng thương mại, nhưng chủ yết là các nông hộ có quy
mô sản xuất lớn nên có thể tự khắc phục được các yếu điểm vừa nêu như ở Cameroon,Ghana, Madagascar và Malawi Trước thực tế đó, tín dụng phi chính thức trở nên quantrọng đối với nông hộ trong việc mua yếu tố đầu vào, trong đó phổ biến nhất là loại hìnhtín dụng liên kết với mua sản phẩm dưới dạng mua chịu yếu tố đầu vào bằng hiện vật vàtrả
Trang 35tiền hay trả bằng công lao động vào thời điểm thu hoạch Tuy nhiên, không phải tất cảnông hộ đều có thể được chấp nhận cho mua chịu bởi các doanh nghiệp chế biến, doanhnghiệp xuất khẩu, đại lý và môi giới yếu tố đầu vào – đối tượng bán chịu chủ yếu nơiđây – e rằng nông hộ có thể bán “lén” sản phẩm cho người mua khác với giá cao hơnnhưng lại không có giải pháp cưỡng chế trả nợ Bên cạnh nguồn tín dụng mua chịu,nông hộ ở các quốc gia được khảo sát còn sử dụng thu nhập phi nông nghiệp để khắcphục (mặc dù có thể là một phần) việc thiếu vốn để mua yếu tố đầu vào cho sản xuấtkhi xảy ra các rủi ro đột biến Adjognon và cộng sự (2017) còn ghi nhận rằng, trongđiều kiện thị trường tín dụng nông thôn còn nhiều khiếm khuyết, nguồn tiền mặt tự tạođóng vai trò quan trọng trong việc giúp nông hộ mua yếu tố đầu vào cho sản xuất, đặcbiệt là phân bón.
2.2 CÁC NGHIÊN CỨU VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA HẠN CHẾ TÍN DỤNG ĐẾN NĂNG SUẤT SẢN XUẤT CỦA NÔNG HỘ
Tín dụng được xem là một kênh quan trọng giúp cải thiện hiệu suất của ngànhnông nghiệp nói chung và của nông hộ nói riêng Khi tiếp cận được tín dụng, nông hộ
có nhiều nguồn lực hơn để mua các yếu tố đầu vào cần thiết cho sản xuất, đặc biệt làgiống, phân bón và nông dược Số lượng đủ kết hợp với chất lượng đầu vào cao được
kỳ vọng sẽ tác động tích cực đến năng suất, sản lượng và thu nhập của nông hộ
Như đã đề cập ở phần cơ sở lý thuyết, hai yếu tố đầu vào cơ bản của sản xuất lúa
là vốn (K
)
và lao động (L) có thể được sử dụng để ước lượng năng suất sản xuất của
nông hộ thông qua đại lượng năng suất biên Theo đó, năng suất vốn là tỷ số giữa sảnlượng đầu ra và vốn (Y / K ) và năng suất lao động là tỷ số giữa sản lượng đầu ra và laođộng (Y / L) Song, hai yếu tố đầu vào này có thể thay thế lẫn nhau, một số nông hộ cóthể sử dụng nhiều vốn, số khác thì sử dụng nhiều lao động để đạt cùng một mức sảnlượng Khi đó, việc so sánh năng suất giữa các nông hộ có mức thâm dụng vốn và laođộng khác nhau có thể cho ra kết quả khác nhau Vì vậy, một cách khác để so sánh năngsuất giữa các nông hộ là hệ số co giãn của sản lượng theo vốn () và theo lao động () Hệ số co giãn cho biết, khi tăng 1% vốn hay 1% lao động thì sản lượng sẽ tăng tươngứng % và % Nói cách khác, tham số và mới là đại lượng thực sự đo lườngnăng suất biên của vốn và lao động Song, vấn đề không dừng ở đó, bởi ngay cả khi hainông hộ có cùng và thì mức độ thay đổi sản lượng của hai nông hộ cũng khônggiống nhau Đó là do sự khác biệt ở năng suất yếu tố tổng hợp (TFP),1 bắt nguồn từ kỹthuật sản xuất, kỹ năng của người lao động và khả năng tiếp cận thị trường (với các giảđịnh về thể chế, chính sách và các nguồn lực khác là như nhau)
Các nghiên cứu trước đây đã cho thấy kết quả khác biệt về tác động của tín dụngđối với năng suất lúa Nếu đủ vốn cho sản xuất, nông hộ sẽ sử dụng số lượng các yếu tốđầu vào với chất lượng tối ưu để tăng năng suất Ngược lại, thiếu vốn khiến các yếu tố
1 TFP là viết tắt của total factor productivity.
Trang 36đầu vào khác (như đất đai và lao động) không được khai thác triệt để, kiến thức và kinhnghiệm sản xuất của nông hộ không được áp dụng để tận dụng các thành tựu của khoahọc – kỹ thuật nhằm tối đa hóa năng suất Thực tế cho thấy, khi tiếp cận được tín dụng,nông hộ sử dụng lao động và vốn với tư cách là hai yếu tố đầu vào bổ sung, dưới sự hỗtrợ tích cực của các yếu tố đầu vào khác Ngược lại, đối với nông hộ bị hạn chế tíndụng, lao động thường được sử dụng thay thế cho vốn và các ưu thế khác của nông hộ
có thể bị bỏ qua nên năng suất lúa bị hạn chế
Đối với việc hiện đại hóa nông nghiệp và phát triển kinh tế nông thôn, tín dụngnông nghiệp đóng một vai trò quan trọng (Zuberi, 1989) Hiện đại hóa nông nghiệp làquá trình áp dụng các thành tựu khoa học – kỹ thuật hiện đại, cải thiện nguồn nhânlực, quản lý hữu hiệu nguồn tài nguyên và môi trường, trong đó tín dụng vẫn là mộttrong những yếu tố quan trọng nhất Tín dụng nông nghiệp tạo cơ hội cho nông hộ sửdụng đầy đủ các yếu tố đầu vào, áp dụng các kỹ thuật sản xuất hiện đại và phân bổnguồn lực hợp lý hơn để tăng năng suất cây trồng Theo Zuberi (1989), năng suất nôngnghiệp của nông hộ ở Pakistan tăng là do nông hộ sử dụng các yếu tố đầu vào tiên tiếnnhư phân bón hóa học, giống cải tiến và các công trình thủy lợi được hiện đại hóa, bêncạnh sự hỗ trợ của các kỹ thuật sản xuất mới chủ yếu được phát triển từ chính trongnước nên có tác động mạnh Nghiên cứu này còn nhấn mạnh rằng, nông hộ tiếp cậnđược tín dụng thúc đẩy áp dụng rộng rãi và kịp thời các kỹ thuật sản xuất mới, qua đólàm giảm rủi ro trong sản xuất Vì vậy, chính phủ có thể xem xét thực thi các chínhsách cung ứng tín dụng theo các điều khoản và điều kiện dễ dàng để nông hộ có thểkhai thác tối đa ưu thế trên Đặc biệt chính phủ cần quan tâm phát triển nguồn nhânlực ở nông thôn để giúp nông hộ đủ kiến thức trong áp dụng và phát minh ra các kỹthuật sản xuất ngày một tiên tiến hơn để cải thiện năng suất cây trồng
Theo Feder và cộng sự (1990), tín dụng cho phép nông hộ thỏa mãn nhu cầu tiềnmặt do chu kỳ sản xuất đặc trưng của nông nghiệp Chuẩn bị đất, xuống giống, chămsóc và thu hoạch thường được thực hiện trong khoảng thời gian vài tháng Nông hộ chỉthu được tiền mặt ở cuối vụ, nhưng chi tiêu cho yếu tố đầu vào thường phải được thựchiện bằng tiền mặt trước đó Nếu không bị hạn chế tín dụng, quyết định sản xuất củanông hộ hoàn toàn độc lập với quyết định chi tiêu cho yếu tố đầu vào, do đó năng suấtkhông bị ảnh hưởng Song, với sự hiện diện của thông tin bất đối xứng, chọn lựa sai lầm
và động cơ lệch lạc, hiển nhiên là nông hộ phải đối mặt với hạn chế tín dụng bởi TCTDmuốn giảm thiểu rủi ro không thu hồi được nợ Khi đó, quyết định sản xuất bị lệ thuộcvào lượng tiền mặt mà nông hộ có được Hệ quả là lượng sử dụng và cách thức kết hợpcác loại yếu tố đầu vào sẽ không còn tối ưu và vai trò của tín dụng là khắc phục khiếmkhuyết này để làm tăng năng suất cây trồng trong điều kiện diện tích đất là cố định Nóicách khác, việc tiếp cận tín dụng của nông hộ chỉ có thể ảnh hưởng đến năng suất của
họ thông qua sử dụng các yếu tố đầu vào bởi nông hộ bị hạn chế tín dụng sẽ có xuhướng sử dụng mức đầu vào thấp hơn trong hoạt động sản xuất so với nông hộ không bịhạn chế Feder và cộng sự (1990) lập luận, nông hộ tiếp cận được tín dụng sẽ cải thiệnđược
Trang 37năng suất trong sản xuất nông nghiệp của họ Tuy nhiên, nghiên cứu này nhận thấy,mức tăng năng suất trong sản xuất nông nghiệp của nông hộ chưa tương xứng với mứctín dụng mà họ nhận được Cụ thể, 1 Nhân dân tệ (yuan) vay được thêm làm tăng giá trịsản lượng khoảng 0,235 Nhân dân tệ Nguyên nhân của hiện tượng này là nông hộkhông sử dụng hết tiền vay cho mục đích sản xuất bởi tính đa dụng của tiền Trong tổng
số tiền vay, khoảng 1/3 được nông hộ chi cho tiêu dùng do các nhu cầu cấp bách nhưngthiết yếu
Junejo (2002) lập luận rằng, tiềm năng nông nghiệp nên được khai thác bằng cáchtăng năng suất của cây trồng thông qua công tác cải tiến giống với sự hỗ trợ của nguồntín dụng mà nông hộ tiếp cận được Giống tốt giúp cây trồng chống chịu ảnh hưởng tiêucực của các yếu tố ngoại biên (thời tiết, khí hậu và sâu bệnh) và đồng thời tăng năngsuất (các giống lúa mới được gieo trồng ở các nước xuất khẩu gạo là minh chứng rõ nétcho điều này), do đó là cách tối ưu để giảm chi phí trong sản xuất lúa Năng suất câytrồng tăng theo cách này đồng nghĩa với việc sử dụng các yếu tố đầu vào (đặc biệt lànông dược) giảm do ít bị sâu, rầy và các dịch bệnh khác phá hại Bên cạnh đó, cây trồng
có năng suất và chất lượng cao sẽ giảm bớt chi phí quảng cáo tính trên đơn vị sản phẩm,đồng thời dễ xuất khẩu ra trị trường thế giới và tăng khả năng cạnh tranh Junejo (2002)còn nhận thấy, nhu cầu tín dụng của nông hộ ở địa bàn nghiên cứu tăng dần bởi họchuyển từ sử dụng phân hữu cơ sang phân hóa học, sử dụng thuốc diệt cỏ và chuyển từthu hoạch thủ công sang phương pháp cơ giới hóa Để thực hiện điều đó, nông hộ cầnnguồn tài chính dồi dào nên có xu hướng vay nhiều hơn để có thể mua được các yếu tốđầu vào cần thiết trên thị trường thay vì tự sản xuất ra như trước đây
Ở Pakistan, chính phủ nhận thấy khiếm khuyết cố hữu của thị trường tín dụng, đặcbiệt trong việc kiểm soát rủi ro liên hoàn trong sản xuất nông nghiệp, nên đã thực thichính sách tín dụng trợ giá cho nông hộ (Khandker và Faruqee, 2003) Sử dụng phươngpháp ước lượng hai giai đoạn có tính đến vấn đề nội sinh của vốn sản xuất, nghiên cứunày chỉ ra rằng nguồn tín dụng chính thức từ các chương trình trên giúp cải thiện năngsuất và đời sống của nông hộ quy mô nhỏ mạnh hơn so với nông hộ quy mô lớn Nóicách khác, hạn chế tín dụng ảnh hưởng đến năng suất nông nghiệp của nông hộ với quy
mô sản xuất nhỏ mạnh hơn đối với nông hộ sản xuất với quy mô lớn Đó là vì hầu hếtnông hộ sản xuất nhỏ thường có thu nhập thấp nên việc tự tài trợ để mua các yếu tố đầuvào cho sản xuất là không dễ dàng Do đó, tín dụng giúp họ mua yếu tố đầu vào cầnthiết để đảm bảo sản lượng nông nghiệp Như vậy, giảm hạn chế tín dụng thông qua cácchương trình tín dụng do chính phủ tài trợ có thể giúp nông hộ thoát nghèo Mặc dù cácchương trình này chưa phải là hoàn hảo bởi có nhiều khiếm khuyết và khá tốn kémnhưng, theo Khandker và Faruqee (2003), lợi ích của chúng cao hơn chi phí khoảng13% Kết quả của nghiên cứu này còn cho thấy, nông hộ sản xuất quy mô nhỏ (có diệntích đất canh tác ít hơn 10.000 m2) sử dụng có hiệu quả vốn vay hơn, đặc biệt là trênphương diện làm tăng năng suất cây trồng thông qua việc thuê mướn lao động và muaphân bón, so với nông hộ quy mô lớn có nhiều đất bởi nhóm nông hộ này bị giới hạn
Trang 38bởi các loại yếu tố đầu vào khác như lao động hay năng lực tổ chức sản xuất Khi lượngtiền vay từ chương trình tín dụng này tăng 10%, giá trị đầu tư cho sản xuất của các nông
hộ được nghiên cứu tăng khoảng 1% Lượng tiền cho vay đến các nông hộ quy mô nhỏcòn có tỷ lệ thu hồi nợ cao hơn do có thể kiểm soát một cách hiệu quả hơn Mặc dù vậy,chương trình tín dụng nói trên chỉ tiếp cận được một tỷ lệ nhỏ nông hộ nên tính hiệuquả của nó còn hạn chế trên phương diện quy mô
Iqbal và cộng sự (2003) nhận thấy, khả năng tiếp cận tín dụng của nông hộ tăng cóthể tạo điều kiện sử dụng đầu vào gần với mức tối ưu nhằm tăng năng suất và ngược lại,hạn chế tín dụng sẽ làm giảm năng suất của nông hộ Cụ thể, nghiên cứu này cho thấytín dụng ảnh hưởng tích cực đến việc sử dụng lao động và nguồn nước, từ đó giúp nông
hộ làm tăng năng suất cây trồng Tuy nhiên, tác giả cho rằng nông hộ có thể bị mất mùa
do mưa lớn và hạn hán kéo dài khiến năng suất nông nghiệp giảm và có thể mất trắng.Khi đó, nếu dễ dàng tiếp cận tín dụng và tín dụng được cung cấp kịp thời, nông hộ họ
sẽ có thể phòng tránh và khắc phục tổn thất, giúp ổn định cuộc sống và tái đầu tư sảnxuất ở vụ tiếp Ngược lại, việc không vay được sẽ ảnh hưởng đến mùa vụ tiếp theo,không những ảnh hưởng đến sản xuất của nông hộ mà còn gây bất ổn về an ninh lươngthực ở phạm vi vĩ mô Đặc biệt, nông hộ có quy mô sản xuất nhỏ mặc dù thường chiếm
số đông và không tiếp tục vay được khi mất mùa bởi TCTD đặt mục tiêu an toàn trongcho vay lên hàng đầu bởi lý do thương mại (tối đa hóa lợi nhuận) Điều này dẫn đếnviệc cơ hội sản xuất không được khai thác, lãng phí tài nguyên quốc gia và gây ra bất
ổn xã hội do nghèo đói Bên cạnh đó, việc thiếu cơ chế bảo hiểm nông nghiệp do hiệntượng thông tin bất đối xứng, chọn lựa sai lầm và động cơ lệch lạc từ phía người đượcbảo hiểm cũng làm cho nông hộ gặp khó khăn khi họ gặp thiên tai, dịch bệnh làm mấtmùa Vì vậy, Iqbal và cộng sự (2003) đề xuất rằng các tổ chức tài chính cần đượckhuyến khích mở rộng tín dụng cho nông nghiệp thông qua việc mở rộng mạng lướikinh doanh đến nông hộ, chú trọng đến các nông hộ quy mô nhỏ Đặc biệt, các tổ chứctín dụng nên mở rộng các khoản vay cho nông hộ nghèo trong trường hợp mất mùa quy
mô lớn, đặc biệt là cho nông hộ có hồ sơ vay tốt và các khoản vay này có thể được cấpngoài tín dụng để giúp nông hộ triển khai hoạt động sản xuất Ngoài ra, cơ chế bảo hiểmmùa màng có thể được thực hiện để bảo hiểm cho nông hộ chống lại thiệt hại do hạnhán, sâu bệnh, mưa đá, giông bão, mưa lớn và các nguy cơ tự nhiên khác
Sự khác biệt trong khả năng tiếp cận tín dụng chính thức có thể dẫn đến sự khácbiệt trong việc khai thác tài sản, làm gia tăng sự khác biệt về năng suất giữa các nông
hộ Guirkinger và Boucher (2008) cho rằng, nông hộ bị hạn chế tín dụng có năng suấtthấp là do tài sản sản xuất (đất) của nông hộ không được khai thác một cách hiệu quảkhi thiếu vốn Thật vậy, khi thiếu vốn nông hộ không thể thuê lao động, mua yếu tố đầuvào tốt nhất để phục vụ cho tài sản sản xuất (đất) một cách hiệu quả Bên cạnh đó, đất
là tài sản có tính thanh khoản thấp nên nông hộ không thể khai thác được giá trị thịtrường của nó, đặc biệt là khi thị trường đất đai còn kém phát triển Vì vậy, nghiên cứunày đề xuất giải pháp nhằm giảm thiểu sự không hoàn hảo của thị trường tín dụng nông
Trang 39thôn thông qua chính sách mở rộng tự do hóa tài chính để nâng cao năng suất nguồn lựccủa nông hộ Cụ thể, tự do hóa tài chính có thể đi kèm với tự do hóa thị trường đất đai
ở nông thôn dưới hình thức cấp đất, đầu tư vào đất đai và xóa bỏ các hạn chế pháp lýđối với chuyển nhượng đất Đặc biệt, chính sách cần tạo điều kiện cho việc sử dụng đấtlàm tài sản thế chấp, qua đó giúp giảm thiểu hạn chế tín dụng Bên cạnh đó, cải cáchnhằm giảm chi phí giao dịch liên quan đến đơn xin vay, đăng ký tài sản thế chấp, cùngvới tăng cường hiệu quả của hệ thống pháp lý và chia sẻ thông tin tín dụng Các chínhsách đã nói ở trên có khả năng ảnh hưởng đến năng suất bằng việc giảm bớt hạn chế tíndụng đối với nông hộ Tăng cường tính hiệu quả của thị trường tín dụng nông thôn cũngđòi hỏi phải khắc phục các khiếm khuyết của thị trường bảo hiểm đối với khu vực nôngthôn ở các nước đang phát triển
Ethiopia là một trong các quốc gia nghèo nhất thế giới mặc dù đứng thứ 14 tính vềquy mô dân số Để đảm bảo lương thực cho số dân đông như vậy, năng suất trong sảnxuất nông nghiệp cần phải được cải thiện bởi phần lớn diện tích đất màu mỡ ở đây đãđược khai thác gần như triệt để (Matsumoto và Yamano, 2010) Từ năm 1994, chínhphủ Ethiopia đã thực thi chính sách tín dụng ưu đãi dành mua phân bón với lãi suất thấp,thậm chí bằng không, nhằm khuyến khích nông hộ tăng sử dụng phân bón để cải thiệnnăng suất cây trồng Tuy nhiên, chương trình này phải đối mặt với nhiều thách thứckhiến cho tính hiệu quả của nó bị ảnh hưởng nghiêm trọng Thứ nhất, hệ thống phânphối phân bón do chính phủ tổ chức và điều hành hoạt động kém hiệu quả nên chấtlượng phân bón thấp và thường đến được tay nông hộ quá trễ (sau thời điểm xuốnggiống) Thứ hai, phân bón cùng số lượng được sử dụng đại trà trên nhiều địa bàn với hệsinh thái tự nhiên khác nhau nên không phát huy được hiệu quả tối đa Chính vì vậy,chương trình tín dụng không được đánh giá cao bởi không giúp làm tăng năng suất vàthu nhập của nông hộ một cách đáng kể Thứ ba, lượng tín dụng được cung cấp theo nhucầu của nông hộ (thể hiện qua diện tích canh tác) thay vì khả năng trả nợ của nông hộnên không bền vững bởi xác suất thu hồi nợ thấp Không những thế, Matsumoto vàYamano (2010) còn cho rằng chương trình tín dụng còn làm tăng chi phí sản xuất củanông hộ Nguyên nhân là do khi tham gia chương trình nông hộ phải thay đổi giống câytrồng (sử dụng loại giống chịu hạn) bởi loại giống hiện tại đảm bảo hiệu quả cho việctăng sử dụng phân bón nhưng chỉ có khoảng 10% số nông hộ được khảo sát có đủ nănglực tài chính và kiến thức để thực hiện việc thay đổi giống cây trồng Thay đổi tập quánsản xuất của nông hộ là tương đối khó và cần có thời gian nên điều kiện cơ bản chươngtrình tín dụng phân bón mà chính phủ đưa ra chưa được hình thành một cách đầy đủ, do
đó chương trình không mang lại kết quả như mong đợi
Hạn chế tín dụng làm giảm chi phí cơ hội của các yếu tố đầu vào kéo theo làmgiảm năng suất của nông hộ Dong và cộng sự (2012) cho rằng, lao động, giáo dục và kỹthuật sản xuất là các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất Thật vậy, khi bị hạn chế tín dụng,hầu hết các nguồn lực của nông hộ không thể phát huy hết khả năng Chẳng hạn, laođộng trẻ tuổi (rất nhiều ở Trung Quốc) với năng lực lao động dồi dào nhưng không đượckhai thác tối
Trang 40đa, người có học vấn cao không được áp dụng để khai thác kỹ thuật sản xuất hiện đạinhằm cải thiện năng suất Chính vì vậy, chính phủ Trung Quốc đã và đang rất nỗ lực cảithiện trình độ học vấn của người dân ở khu vực nông thôn và điều kiện tiếp cận tín dụngcủa họ nhằm phối hợp tối ưu các yếu tố để tăng năng suất trong nông nghiệp Nếu cácđiều kiện tiếp cận tín dụng của nông hộ không được cải thiện, lợi ích của giáo dục sẽkhông hỗ trợ trong việc áp dụng kỹ thuật sản xuất hiện đại để tăng năng suất nôngnghiệp Do đó, phát triển giáo dục để nâng cao năng suất trong nông nghiệp nông thôn
và vấn đề giảm hạn chế tín dụng cần được giải quyết Khả năng tiếp cận tín dụng ảnhhưởng đến việc sử dụng và kết hợp các yếu tố đầu vào trong sản xuất nông nghiệp(Dong và cộng sự, 2012) Để kết hợp tối ưu các yếu tố đầu vào trong sản xuất đòi hỏinông hộ phải có vốn Những khoản vốn cần thiết này có thể đến từ tiết kiệm hoặc thôngqua các khoản vay, vì tiết kiệm của nông hộ khá ít ỏi nên phải vay cho các hoạt động sảnxuất của mình Phần lớn nông hộ, đặc biệt là các nông hộ quy mô nhỏ, không có khảnăng đảm bảo các đầu vào chính (phân bón, hạt giống, kỹ thuật sản xuất và nông dược)
do thiếu vốn Vì vậy, để đáp ứng nhu cầu đầu tư cần thiết để cải thiện năng suất, tíndụng nông nghiệp là thiết yếu Tín dụng nông nghiệp được coi là một trong nhữngnguồn lực chiến lược để làm tăng sản lượng cây trồng, qua đó làm tăng mức sống củacộng đồng nông hộ nghèo ở nông thôn và có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế.Mức độ tiếp cận tín dụng ảnh hưởng khác biệt đến năng suất sản xuất của nông hộ
ở các quốc gia có nền kinh tế chuyển đổi ở các quốc gia Trung Âu và Đông Âu, kể cảkhi tính đến đặc thù của các nông hộ ở từng quốc gia (Ciaian và cộng sự, 2012) Tronggiai đoạn chuyển đổi từ kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường, hệ thốngngân hàng thương mại ở các quốc gia này đối mặt với nhiều hạn chế và thách thức nhưthiếu nguồn nhân lực có đủ kiến thức và kỹ năng kinh doanh, nông hộ thiếu hệ thống sổsách ghi chép phù hợp nên thông tin về năng lực trả nợ rất mù mờ, sự can thiệp quá sâucủa chính phủ vào chính sách tín dụng của các ngân hàng và nông hộ có thu nhập thấp.Đặc biệt, quyền sở hữu tài sản về đất đai chưa được xác định rõ ràng để có thể có thể sửdụng làm thế chấp khi vay trong khi thị trường đất đai ở nông thôn chưa phát triển.Khía cạnh này khiến khả năng tiếp cận tín dụng của nông hộ ở các quốc gia này là rấthạn chế Nghiên cứu này cho thấy, mức độ tiếp cận tín dụng của nông hộ tăng dẫn đếnđầu tư cho nông nghiệp và các yếu tố đầu vào tăng Kết quả là, năng suất các nhân tốtổng hợp (TFP) của nông hộ tăng theo mức tăng giảm dần theo lượng tiền vay Điều nàycho thấy, yếu tố vốn rất quan trọng trong sản xuất của nông hộ nơi đây Tuy nhiên,trong số các yếu tố đầu vào tăng khi nông hộ tiếp cận được tín dụng thì yếu tố lao độnglại giảm, ngụ ý rằng lao động và các yếu tố đầu vào khác có quan hệ thay thế Mặc dùvậy, kết quả nghiên cứu cho thấy lao động không thể thay thế hoàn toàn cho các yếu tốđầu vào khác Bằng chứng là lao động trong sản xuất của nông hộ giảm nhưng năngsuất vẫn tăng Theo Ciaian và cộng sự (2012), mức tăng năng suất trong nghiên cứutương đối ít 1,6%, do vùng nghiên cứu được thực hiện ở nơi nông hộ dễ tiếp cận tíndụng và thừa lao động Tác giả cũng đã chia mẫu khảo sát để phân tích riêng cho từngquốc gia, bao