1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá các nhân tố tác động đến lối sống của sinh viên trường đại học kinh tế và quản trị kinh doanh, đại học thái nguyên

34 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh Giá Các Nhân Tố Tác Động Đến Lối Sống Của Sinh Viên Trường Đại Học Kinh Tế Và Quản Trị Kinh Doanh, Đại Học Thái Nguyên
Trường học Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, Đại học Thái Nguyên
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 1,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, nghiên cứu về vấn đề lối sống nói chung và lối sống của thanhniên, đặc biệt là của sinh viên trong điều kiện xã hội nhiều biến động ngày nay có thể xem là một vấn đề cấp thiết, t

Trang 1

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 3

DANH MỤC BẢNG, BIỂU SỬ DỤNG 4

MỞ ĐẦU 5

1.Tính cấp thiết của đề tài 5

2.Tình hình nghiên cứu của đề tài 5

3 Cách tiếp cận, phương pháp và phạm vi nghiên cứu 6

4.Bố cục của đề tài 6

Chương 1 7

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LỐI SỐNG SINH VIÊN 7

1.1.Sinh viên và các đặc điểm cơ bản của sinh viên 7

1.1.1 Thanh niên và đặc điểm của thanh niên 7

1.1.2 Sinh viên và đặc điểm cơ bản của sinh viên 8

1.2 Phạm trù lối sống và lối sống sinh viên 11

1.2.1 Lối sống và cơ cấu lối sống 11

1.2.2 Mối quan hệ giữa lối sống và văn hóa 14

1.2.3 Lối sống sinh viên 17

1.3 Các nhân tố tác động đến lối sống sinh viên 17

1.3.1.Gia đình 17

1.3.2 Nhà trường 18

1.3.3 Xã hội 19

1.3.4 Văn hoá 19

1.3.5 Kinh tế 20

1.3.6 Sự tự giáo dục của mỗi cá nhân 21

Chương 2 23

CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỚNG ĐẾN LỐI SỐNG CỦA SINH VIÊN 23

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH 23

2.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến lối sống của sinh viên trường đại học Kinh tế & QTKD 23

2.1.1 Gia đình 23

2.1.2 Nhà trường 23

2.1.3 Các yếu tố xã hội 23

Trang 2

2.2 Xu hướng biến đổi lối sống của sinh viên Trường Đại học Kinh tế &

QTKD 25

2.2.1 Một vài đặc điểm nổi bật trong lối sống của sinh viên Trường Đại học Kinh tế & QTKD 25

2.2.2 Phân tích ảnh hưởng các nhân tố đến lối sống của sinh viên 25

2.3 Những vấn đề đặt ra đối với lối sống của sinh viên trường đại học Kinh tế & QTKD 25

Chương 3 26

GIẢI PHÁP ĐỊNH HƯỚNG XÂY DỰNG LỐI SỐNG LÀNH MẠNH CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ & QTKD 26

3.1 Biến đổi xã hội và quan điểm xây dựng lối sống lành mạnh cho thanh niên, sinh viên 26

3.1.1 Những biến đổi trong đời sống xã hội tác động đến lối sống của thanh niên, sinh viên 26

3.1.2 Quan điểm xây dựng lối sống lành mạnh cho thanh niên, sinh viên 26

3.2 Những giải pháp cơ bản định hướng xây dựng lối sống lành mạnh cho sinh viên trường đại học Kinh tế & QTKD 26

3.2.1 Tăng cường nhận thức của lãnh đạo nhà trường, các tổ chức Đảng, Đoàn, Hội SV đối với việc giáo dục SV nói chung và LSSV nói riêng 26

3.2.2 Xây dựng môi trường khoa học, văn hóa, lành mạnh trong nhà trường 26

3.2.3 Tăng cường kỷ cương trong dạy và học, nghiêm minh trong kiểm tra, đánh giá 26

3.2.4 Quan tâm đến nguyện vọng của sinh viên, phát huy nhân tố động lực cá nhân của sinh viên trong học tập và hoạt động xã hội 26

KẾT LUẬN 27

TÀI LIỆU THAM KHẢO 28

PHỤ LỤC 29

Phụ lục 01: Phiếu điều tra thu thập thông tin từ sinh viên 29

Phụ lục 02: Bảng thống kê số lượng phiếu điều tra sinh viên 32

Phụ lục 03: Bảng thống kê kết quả trả lời phiếu điều tra sinh viên 33

Trang 3

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Trang 4

MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài

Đạo đức, lối sống là những phạm trù lớn, là đối tượng nghiên cứu của nhiều lĩnh vực khoa học, trong cuộc sống hàng ngày, chúng gắn liền với mọi hành vi của con người, chi phối hành vi của cá nhân và điều chỉnh các mối quan

hệ xã hội Vì vậy, nghiên cứu về vấn đề lối sống nói chung và lối sống của thanhniên, đặc biệt là của sinh viên trong điều kiện xã hội nhiều biến động ngày nay

có thể xem là một vấn đề cấp thiết, trước một thực tế hiện nay, có một bộ phận sinh viên sống thiếu lý tưởng, ít quan tâm đến tình hình đất nước, thiếu ý thức chấp hành pháp luật, mắc vào các tệ nạn xã hội

Sinh viên là những người ưu tú của thế hệ trẻ, rất nhạy cảm với những tràolưu, xu hướng mới trong khoa học, văn hóa nghệ thuật và đời sống xã hội nói chung Việc tìm hiểu lối sống của sinh viên, đặc biệt là trong thời đại toàn cầu hóa, bùng nổ thông tin và đất nước đang chuyển biến mạnh mẽ sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, vừa là đòi hỏi cấp thiết trong giáo dục đào tạo, vừa có ý nghĩa định hướng cho các tầng lớp thanh niên khác nhằm định hướng và tạo điều kiện cho việc hình thành một lối sống mới lành mạnh cho sinh viên, thanh niên, đồng thời hạn chế những mặt tiêu cực đang này sinh trong một môi trường xã hội ngày càng phức tạp

Với ý nghĩa đó, đề tài “Đánh giá các nhân tố tác động đến lối sống của sinh viên trường đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, Đại học Thái Nguyên”mong muốn sẽ tìm hiểu và đánh giá được những nhân tố tác động đến lối sống của sinh viên trường đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh, Đại học Thái Nguyên thông qua nghiên cứu xã hội học thực nghiệm kết hợp với việc bước đầu ứng dụng mô hình kinh tế lượng nhằm xử lý số liệu Kết quả nghiên cứu của

đề tài sẽ cho thấy những nét chính trong thực trạng lối sống của sinh viên trong trường, góp phần đề xuất giải pháp cho công tác quản lý, giáo dục sinh viên

2.Tình hình nghiên cứu của đề tài

Liên quan đến vấn đề lối sống nói chung và lối sống của thanh niên, sinh viên trong giai đoạn hiện nay có rất nhiều các công trình nghiên cứu Tiêu biểu là:

Thanh niên và lối sống của thanh niên Việt Nam trong quá trình đổi mới

và hội nhập quốc tế (2011) của PGS.TS Phạm Hồng Tung Trong cuốn sách

chuyên khảo này, với sự nghiên cứu công phu, tác giả đã làm sáng tỏ những vấn

đề lý luận và cách tiếp cận khi nghiên cứu về thanh niên và lối sống của thanh niên, khảo sát và phân tích tình hình, chỉ ra các đặc trưng về lối sống của thanh niên Việt Nam trong hơn hai mươi năm đổi mới Từ đó, tác giả đã đưa ra những khuyến nghị khoa học và đề xuất các giải pháp nhằm xây dựng lối sống của thanh niên Việt Nam phù hợp với tiến trình đổi mới đất nước

Trang 5

Giá trị văn hóa truyền thống dân tộc với việc xây dựng nhân cách sinh viên hiện nay (2014) của PGS.TS Lương Gia Ban và PGS.TS Nguyễn Thế Kiệt

(Đồng chủ biên) Cuốn sách này phân tích tầm quan trọng và nội dung phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc trong xây dựng nhân cách sinh viên, khát quát thực trạng và bước đầu đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm phát huy tốt những giá trị truyền thống dân tộc trong xây dựng nhân cách sinh viên

3 Cách tiếp cận, phương pháp và phạm vi nghiên cứu

3.1.Cách tiếp cận

Đề tài tiếp cận dưới góc độ xã hội học, cụ thể là góc độ xã hội học lối sống

về các nhân tố ảnh hưởng đến lối sống của sinh viên trong giai đoạn hiện nay

3.2.Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng phương pháp luận của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử, trong đó chủ yếu sử dụng phương pháp nghiên cứu của xã hội học (nghiên cứu tài liệu lí luận và thực hiện điều tra xã hội học trong phạm vi đối tượng nghiên cứu)

Ngoài ra, đề tài cũng kết hợp sử dụng các phương pháp khác như thống

kê, so sánh, phân tích, tổng hợp Đề tài cũng kế thừa kết quả nghiên cứu của các tác giả đi trước, đặc biệt là sử dụng các số liệu liên quan đến nội dung nghiên cứu

4.Bố cục của đề tài

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, đề tài gồm có 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về lối sống sinh viên

Chương 2: Các nhân tố ảnh hưởng đến lối sống của sinh viên Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh

Chương 3: Giải pháp định hướng lối sống lành mạnh cho sinh viên Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh

Trang 6

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LỐI SỐNG SINH VIÊN 1.1.Sinh viên và các đặc điểm cơ bản của sinh viên

1.1.1 Thanh niên và đặc điểm của thanh niên

Thanh niên là một bộ phận phức hợp của dân cư của một quốc gia - dân

tộc bao gồm tất cả các cá nhân ở trong độ tuổi từ 15 đến 29 Dưới góc độ xã hội học, thanh niên là một giai đoạn xác định của quá trình xã hội hóa, như là một thời kỳ chuyển tiếp từ tuổi phụ thuộc sang hoạt động độc lập và có trách nhiệm công dân, là lứa tuổi có những vai xã hội, có sự hình thành những định hướng giá trị mang tính chất đặc thù khác với các lứa tuổi khác

Như vậy, bộ phận dân cư được gọi là “thanh niên” này chỉ phân biệt một cách tương đối với các bộ phận dân cư khác của quốc gia - dân tộc ấy trên một tiêu chí duy nhất là giới hạn độ tuổi, các thành viên của nhóm liên tục vào ở đầu này và ra ở đầu kia do quy luật vận động tự nhiên của sự “lớn lên” hay “già đi” của các thành viên Từ đó cho thấy, “thanh niên” là một nhóm xã hội - dân cư

“động” chứ không phải là một nhóm “tĩnh”, ổn định Đặc trưng này hàm chứa cảnhững ưu điểm và cả những nhược điểm của nhóm xã hội - dân cư “thanh niên”.Một mặt, nhờ quy luật là nhóm “động” thường xuyên cho nên nó luôn là chủ thểchuyển tải liên tục các giá trị liên thế hệ, nhưng mặt khác nó rất khó xác lập cho mình những giá trị xác định có thể tạo nên một bản sắc nhóm bền vững Vì vậy, việc nghiên cứu, khám phá những định hướng giá trị, xác định những khía cạnh khách quan và chủ quan của văn hóa và lối sống của nhóm này hết sức khó khăn

và luôn có khả năng biến động lớn

Nhóm xã hội - dân cư, “thanh niên” không chỉ “động” mà còn phức tạp, bởi lẽ nó bao gồm những cá nhân ở độ tuổi thanh niên có nguồn gốc xuất thân khác nhau, thuộc mọi giai tầng trong xã hội, với các trình độ học vấn, tôn giáo, sắc tộc, giới tính, thành thị và nông thôn và với nhiều ngành nghề khác nhau, dưới sự tác động của nhiều định hướng ý thức hệ, tư tưởng, truyền thống, mô hình ứng xử và với nhiều loại thói quen, tập tục vv khác nhau “Thanh niên”

có những đặc trưng nổi bật gắn với lối sống như sau:

Thứ nhất, thanh niên là nhóm nhân khẩu – xã hội có độ phát triển mạnh

mẽ về thể chất, có sức khỏe, nhạy bén, tiếp thu nhanh, có nhu cầu lớn

Thứ hai, về tâm lý, thanh niên rất hăng hái, nhiệt tình, vô tư, ít tính toán,

vị tha, đồng thời dễ bị tha hóa, hư hỏng

Thứ ba, về trí tuệ, thanh niên có nhu cầu cao về kiến thức, muốn học hỏi, muốn sáng tạo Họ mạnh dạn nhưng chưa từng trải, thiếu kinh nghiệm trong lĩnhvực đời sống xã hội cho nên cũng dễ liều lĩnh, mạo hiểm và dễ thất bại hoặc bị lợi dụng, kích động, mua chuộc

Trang 7

Thứ tư, về lý tưởng, đây là lứa tuổi giàu ước mơ nhất Thanh niên luôn hướng tới cái đẹp, cái có giá trị văn hóa, thích được nổi tiếng, được trở thành tài năng, muốn tự do dân chủ, công bằng, song cũng dễ bị hẫng hụt, bi quan khi những thần tượng của mình thay đổi.

Như vậy, đặc điểm chung, thống nhất căn bản nhất của “thanh niên” chính là ở tuổi trẻ, đi cùng với sự năng động, ưa thử nghiệm và dễ phạm sai lầm, dễ xung đột với thế hệ đi trước Trong thời đại ngày nay, sự phát triển kinh

tế - xã hội và hội nhập sâu rộng dẫn đến những vấn đề xã hội trầm trọng liên quan đến thanh niên, nhất là sinh viên, xuất hiện những nguy cơ tha hóa trong lối sống của thế hệ tương lai của xã hội Vì thế, việc nghiên cứu và đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến lối sống của thanh niên nói chung và sinh viên nói riêng

là cần thiết, để định hướng giá trị phát triển cho nhóm dân cư là “mùa xuân của dân tộc”

1.1.2 Sinh viên và đặc điểm cơ bản của sinh viên

Nằm trong nhóm xã hội thanh niên sinh viên, là thuật ngữ dùng để chỉ những người đang học tập ở các trường đại học, cao đẳng Độ tuổi của họ trong khoảng từ 18 đến 25 tuổi, là độ tuổi đã có những bước trưởng thành nhất định vềmặt sinh học và mặt xã hội

Ở cấp độ xã hội, sinh viên là một nhóm đặc biệt đang chuẩn bị cho hoạt động lao động trong một lĩnh vực nghề nghiệp nhất định Họ là những người đang chuẩn bị gia nhập vào đội ngũ tri thức của xã hội Họ là một bộ phận của thanh niên đang theo học ở các trường đại học và cao đẳng

Ở cấp độ cá nhân, sinh viên là những người đang trưởng thành về mặt xã hội, hoàn thiện về thể lực, định hình về nhân cách, học tập để tiếp thu những tri thức, kỹ năng - kỹ xảo của một lĩnh vực nghề nghiệp

Sinh viên là một nhóm xã hội đặc biệt, bao gồm những thanh niên xuất thân từ các giai cấp, tầng lớp xã hội khác nhau, đang trong quá trình học tập, chuẩn bị bước vào cuộc sống tự lập lực lượng kế tiếp, bổ sung cho đội ngũ trí thức tương lai Họ là lớp người có văn hóa cao và có điều kiện để thu thập các thông tin về mọi lĩnh vực trong cuộc sống V.I Lênin đã từng đánh giá: “sinh viên là bộ phận nhạy cảm nhất của giới tri thức, là tầng lớp có trình độ tiên tiến nhất trong hàng ngũ thanh niên

1.1.2.1.Đặc điểm tâm sinh lý của sinh viên

Về mặt sinh lý

Độ tuổi của thanh niên thường nằm trong khoảng 15 đến 29, trong đó giai đoạn 1 từ 15 đến 17 tuổi, giai đoạn 2 từ 18 đến 29 tuổi Như vậy, sinh viên nằm

ở giai đoạn thứ 2 trong lứa tuổi thanh niên

Ở giai đoạn này, hình thể đã đạt được sự hoàn chỉnh về cấu trúc và phối hợp giữa các chức năng Con người đã đạt được 9/10 chiều cao và 2/3 trọng

Trang 8

lượng của cơ thể trưởng thành Bộ não đạt được trọng lượng tối đa, khoảng 1400gr, hoạt động thần kinh cao cấp đã đến mức trưởng thành vì số tế bào thần kinh phát triển tương đối đầy đủ Lứa tuổi này đã gần hoàn thành giai đoạn dậy thì, các chức năng sinh sản bắt đầu hoàn thiện, giới tính phân biệt và phát triển đầy đủ ở mỗi giới cả về hình thể và nội tiết tố.

Về mặt tâm lý

Từ 18 đến 25 tuổi là thời kỳ phát triển trí tuệ được đặc trưng bởi sự nâng cao năng lực trí tuệ, biểu hiện rõ nhất ở khả năng tư duy sâu sắc và mở rộng, có năng lực giải quyết những nhiệm vụ trí tuệ ngày càng khó khăn hơn, có khả năng lập luận lôgíc, trí tưởng tượng phong phú Thời kỳ này cũng phát triển tư duy trừu tượng, khả năng phán đoán, nhu cầu hiểu biết và học tập cao

Ở độ tuổi này, sinh viên có tính nhạy bén cao, khả năng giải thích và gắn

ý nghĩa cho những ấn tượng cảm tính nhờ vào kinh nghiệm và tri thức có trước đây Sự phát triển này cùng với óc quan sát tích cực và nghiêm túc sẽ tạo ra khả năng lĩnh hội tri thức tối ưu cho lứa tuổi này – cơ sở quan trọng cho quá trình học tập và nghiên cứu khoa học của sinh viên

Sinh viên có đặc điểm tâm lý lứa tuổi nổi bật là sự phát triển khả năng tự

ý thức Tự ý thức có chức năng điều chỉnh nhận thức, sự đánh giá toàn diện về

bản thân và vị trí của mình trong cuộc sống, là điều kiện để phát triển và hoàn thiện nhân cách, lối sống của sinh viên theo các yêu cầu của xã hội

Đặc điểm tâm lý chung của sinh viên là thích cái mới lạ, nhạy cảm, ưa tìm

tòi khám phá, sáng tạo Họ là những người giàu mơ ước, giàu trí tưởng tượng,

có hoài bão và luôn mong muốn tự khẳng định mình, không lệ thuộc vào người khác Đồng thời, họ cũng có nhu cầu cao về học vấn, thích giao lưu và các hoạt động xã hội, thích kết bạn và tìm hiểu các mối quan hệ tình cảm nam nữ, đề cao

sự công bằng trong các mối quan hệ

1.1.2.2.Các hoạt động cơ bản của sinh viên

Hoạt động diễn ra có tổ chức, kế hoạch với các phương tiện học tập được trang bị: sách vở, đồ dùng học tập, thư viện, phòng thí nghiệm… Khi tham gia vào hoạt động, sinh viên phải năng động, tích cực, tự giác, tâm lý căng thẳng, nhất là trong các kỳ thi, bảo vệ khóa luận hay luận văn

Do tính chất của đào tạo đại học mà còn có thêm hoạt động nghiên cứu khoa học Nghiên cứu khoa học là một hoạt động song song với hoạt động học

Trang 9

tập của sinh viên và ngày càng chiếm một vị trí cao Có thể dựa trên hoạt động nghiên cứu khoa học để phân biệt sự khác nhau giữa phương pháp học đại học

so với cách học của học sinh phổ thông Chính qua nghiên cứu khoa học mà chúng ta nhận thấy sự chủ động, tích cực say mê tìm tòi và muốn khám phá những điều mới lạ của sinh viên

Hoạt động xã hội chủ yếu chi phối sinh viên là học tập, nhưng trong quá trình “quá độ” chuyển sang giai đoạn hoạt động chủ đạo là lao động sau này, đồng thời, sinh viên cũng chuyển dần từ vị trí “người học” sang vị thế “nhà trí thức” trong cả hiện tại và tương lai Dưới sự hướng dẫn, giảng dạy của giảng viên, hoạt động học tập của sinh viên có tính chất nghiên cứu nhằm nắm bắt tri thức, kỹ năng, kỹ xảo cần thiết cho nghề nghiệp của mình sau này Hoạt động rèn luyện trong nhà trường làm sinh viên lớn lên về mọi mặt, đặc biệt là khả năng tư duy sáng tạo, năng lực khái quát hóa và khối lượng tri thức, thông tin nhiều hơn theo thời gian

Hoạt động giao tiếp - ứng xử

Đây cũng được coi là một hoạt động cơ bản của sinh viên nói riêng và của

xã hội loài người nói chung Thông qua các mối quan hệ giao tiếp mà sinh viên tạo dựng được cho mình hàng loạt mối quan hệ xã hội phong phú và phức tạp giữa cá nhân sinh viên với gia đình, với thầy cô, cộng động, với bạn bè cùng lứa tuổi, cùng giới, khác giới Tất cả góp phần quan trọng cho sự phát triển đời sống tâm lý và sự trưởng thành về nhân cách, lối sống của sinh viên

Thông qua giao tiếp - ứng xử, sinh viên cũng thể hiện lối sống lành mạnh,

có văn hoá Quan hệ giữa người với người phải là quan hệ nhân ái, dựa trên tình đồng loại “thương người như thể thương thân, “lá lành đùm lá rách”, tôn trọng giúp đỡ lẫn nhau, không ích kỷ hẹp hòi, thờ ơ lãnh đạm khi thấy đồng loại gặp hoạn nạn Lối sống đẹp phải là lối sống đề cao tính cộng đồng, hoà nhập và hợp tác, dám vì lợi ích chung mà lên án cái xấu, cái sai để cùng nhau giữ gìn những giá trị chuẩn mực chung của xã hội

Hoạt động chính trị - xã hội

Đây là một hoạt động thể hiện ý thức, quan điểm chính trị, thái độ và trách nhiệm của sinh viên đối với tập thể, cộng đồng và xã hội Thái độ và tính tích cực hoạt động chính trị - xã hội của sinh viên thể hiện rõ sự trưởng thành vềnhân cách của họ

Hoạt động chính trị - xã hội của sinh được tiến hành qua nhiều hình thức

đa dạng và phong phú Khi tham gia vào các hoạt động đó, sinh viên có cơ hội hiểu sâu sắc hơn những tri thức lý luận đã tiếp thu từ sách vở, giảng đường và quan trọng hơn cả là đem áp dụng chúng vào thực tiễn đời sống để kiểm nghiệm, chứng minh tính đúng đắn Bên cạnh đó các hình thức đa dạng và phong phú của hoạt động chính trị – xã hội phát huy khả năng quan sát tinh vi,

Trang 10

nhạy bén, óc tò mò khoa học, năng lực hoạt động thực tiễn và đặc biệt là tình cảm nghĩa vụ, ý thức trách nhiệm xã hội, ý thức công dân và quan niệm sống được biểu hiện hình thành và phát triển.

Sinh hoạt cá nhân

Sinh hoạt cá nhân của sinh viên được xét trên nhu cầu và phương thức thoả mãn nhu cầu của cá nhân như: sử dụng thời gian rảnh rỗi, lựa chọn hình thức giải trí hay lựa chọn cuộc sống vật chất Nó thể hiện tính cách, ý chí của cá nhân sinh viên trong việc điều tiết các nhu cầu sinh hoạt hằng ngày

Những biểu hiện tích cực trong sinh hoạt cá nhân như: biết sử dụng thời gian hợp lý, không lãng phí, không a dua, hùa theo những hình thức giải trí không lành mạnh, không đòi hỏi hưởng thụ, biết tiết kiệm giản dị trong sinh hoạt Bên cạnh đó, mặt tiêu cực vẫn luôn tồn tại trong sinh hoạt cá nhân của sinhviên: phung phí tiền bạc trong chi tiêu, học cách ăn chơi, đua đòi, nhất là tham gia vào các hình thức giải trí không lành mạnh – bài bạc, nhậu nhẹt, xem phim cấm…

Như vậy, so với lực lượng thanh niên trong xã hội, sinh viên là tầng lớp cónhững điểm nổi bật hơn về mặt kiến thức, trình độ văn hóa, năng lực chuyên môn nghiệp vụ, đồng thời mang tất cả những đặc trưng tâm lý – xã hội và lối sống của nhóm dân cư trẻ tuổi này của xã hội

1.2 Phạm trù lối sống và lối sống sinh viên

1.2.1 Lối sống và cơ cấu lối sống

1.2.1.1 Phạm trù lối sống

Dưới góc độ xã hội học lối sống, lối sống là một hệ thống những đặc

điểm chủ yếu nói lên hoạt động của các dân tộc, các giai cấp, các nhóm xã hội, các cá nhân trong những điều kiện của một hình thái kinh tế - xã hội nhất định

Lối sống tổng hòa những hình thức hoạt động cơ bản phụ thuộc vào điều kiện vànhững nhu cầu của con người do những điều kiện đó qui định Nghiên cứu lối sống là nghiên cứu hoạt động của con người trong mối quan hệ với điều kiện sống

Lối sống bị qui định bởi hoàn cảnh khách quan của xã hội, bởi những điềukiện sống của các giai cấp, dân tộc… Nghĩa là, lối sống một mặt, do quan hệ thực tế của con người với tự nhiên, do trình độ trang bị kỹ thuật, năng suất lao động của họ, trạng thái của lực lượng sản xuất và do đó cả tính chất tiêu dùng, mặt khác do tính chất quan hệ sản xuất, chế độ kinh tế của xã hội là cơ sở của toàn bộ hệ thống quan hệ xã hội, qui định Tuy nhiên, nhấn mạnh hoàn cảnh khách quan của lối sống không có nghĩa là loại trừ khả năng lựa chọn của con người về một hình thức hoạt động nào đó Những phương hướng có mục đích rõràng, những định hướng giá trị của con người tạo nên mặt chủ quan của lối sống

Trang 11

Lối sống của con người phải được hiểu trong sự thống nhất giữa mặt lượng và mặt chất Nhân tố quyết định mặt chất của lối sống là tính chất của chế

độ xã hội, địa vị giai cấp trong hệ thống các quan hệ kinh tế và chính trị Các nhân tố quyết định mặt lượng và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và tiêu dùng, thể hiện trước hết ở mức sống và một số chỉ tiêu khác Khái niệm lối sống luôn chứa đựng câu trả lời cho câu hỏi: con người làm gì và làm như thế nào

Trong định nghĩa khái niệm lối sống, việc phân biệt nó với khái niệm những điều kiện sống, hệ thống những nhân tố xã hội và tự nhiên chứa đựng nội dung và tính chất của lối sống có một ý nghĩa quan trọng mang tính nguyên tắc

Vì lối sống không phải là cái gì khác ngoài cách thức đặc thù mà trong đó nhữngđiều kiện sống, và trước hết, phương thức sản xuất trong hoạt động sống hàng ngày của con người, đã được nhận biết, được phản ánh và biểu hiện trong sự cảm thụ, nhận thức và sự tái tạo hiện thực

Trong nghiên cứu này, lối sống được hiểu là sinh hoạt cá nhân, chủ quan

hóa của hệ thống những quan hệ xã hội, của toàn bộ tổng thể những điều kiện sống, thể hiện ra trong những hoạt động của con người.

1.2.1.2 Cơ cấu lối sống

Lối sống là sự phản xạ động có mục đích và tích cực của hệ thống xã hội

Nó là sự tái hiện trở lại của hiện thực xã hội ở cấp độ cá nhân Vì vậy, cơ cấu

của lối sống về căn bản là có sự tương đồng với cơ cấu xã hội Cơ cấu của lối

sống là một hệ thống những yếu tố, thành phần và những mối quan hệ cơ bản cấu tạo nên lối sống, qui định chất của lối sống Thành phần cơ bản của lối sống

là các loại, kiểu, biến dạng hoạt động sống của con người (trả lời câu hỏi con người làm gì) và các yếu tố thuộc mặt khách quan, chủ quan của hành động con người (trả lời câu hỏi con người làm như thế nào)

Cơ cấu lối sống gồm: Các loại hoạt động cơ bản qui định chất lối sống và

mặt khách quan và chủ quan trong hoạt động con người quy định chất lối sống

Các loại hoạt động cơ bản qui định chất lối sống (Các chỉ số phản ánh con người làm gì):

Xét những hoạt động sống cơ bản của con người và xã hội với tư cách một tổng thể và xét theo chỗ con người ta làm cái gì, thì hoạt động sống có thể được chia thành các loại, kiểu và biến dạng khác nhau Những loại hoạt động cơ bản cũng sẽ là những thành phần cơ bản của lối sống xét theo tính chất các loại khác nhau của hoạt động nhằm thỏa mãn những nhu cầu tương ứng Thường người ta chia các hoạt động của con người thành các loại cơ bản sau đây [V.Đôbơ-ri-a-nốp.1985.218]:

1 Hoạt động sản xuất vật chất (lao động)

2 Hoạt động chính trị – xã hội

Trang 12

3 Hoạt động văn hóa

4 Hoạt động tái sinh sản

5 Hoạt động giao tiếp

Trong mỗi loại hoạt động cơ bản đó, đều có thể đưa ra những dấu hiệu xácđịnh những chỉ số nhờ đó mà người ta đưa vào thực nghiệm những khái niệm vềcác hoạt động cơ bản cần nghiên cứu Chẳng hạn như trong hoạt động sản xuất vật chất có thể được cụ thể hóa thông qua việc phân loại các kiểu và các biến dạng hoạt động của con người và tần số của từng loại hoạt động riêng biệt như: nông nghiệp, công nghiệp…

Hoạt động chính trị - xã hội được cụ thể hóa thông qua những khái niệm

về thành phần chính trị, về sự tham gia vào hoạt động của những cơ quan nhà nước và những tổ chức xã hội khác nhau

Hoạt động văn hóa được bao gồm bởi những khái niệm về sự tham gia vào những hình thức hoạt động văn hóa khác nhau như: khoa học, giáo dục, nghệ thuật

Hoạt động tái sinh sản được cụ thể hóa trong những hoạt động nhằm tái sản xuất ra mức sống của cá nhân như: nhà ở, thức ăn và quần áo, y tế và sức khỏe, hoạt động thể dục thể thao và nghỉ ngơi; cũng như trong những hoạt động nhằm tái sản xuất ra dân cư và xã hội hóa dân cư như: chăm sóc và giáo dục trẻ

em, dạy nghề, các hoạt động nghi lễ

Hoạt động giao tiếp thể hiện trong những hoạt động trao đổi thông tin, tình cảm như: thăm hỏi, tiếp xúc bạn bè, đọc sách báo, tham gia câu lạc bộ tâm lý

Mỗi chỉ số trong vô số những chỉ số khái niệm cụ thể hóa những loại hoạt động cơ bản đều có thể được đưa vào thực nghiệm và được đo lường thông qua việc xác định xem cá nhân tham gia nhiều ít thế nào vào các hoạt động khác nhau và cũng có thể xác định xem chi phí thời gian bao nhiêu, hoặc thông qua việc ấn định tần số của từng hoạt động riêng biệt (thông qua phương pháp nghiên cứu quĩ thời gian) Mỗi loại, mỗi kiểu và mỗi biến dạng hoạt động được xếp trong quĩ thời gian của từng người, có thể được nhận biết như hoạt động trong thời gian làm việc (sản xuất), trong thời gian hoạt động sinh hoạt gia đình, trong thời gian hoạt động văn hóa (giáo dục, hoạt động xã hội, hoạt động thể dụcthể thao, sức khỏe…), trong thời gian làm thỏa mãn những nhu cầu sinh lý (ngủ,

vệ sinh…), trong thời gian tự do (vui chơi giải trí…)

Những chỉ số khái niệm trên đây trả lời câu hỏi người ta làm cái gì, là mộtphần quan trọng nói lên chất lối sống Mặt khác, không kém phần quan trọng và cũng rất khó khăn là việc đưa ra những chỉ số khái niệm để trả lời câu hỏi con người hoạt động như thế nào Đây cũng là những chỉ số phản ánh chất của lối sống

Trang 13

Mặt khách quan và chủ quan trong hoạt động con người quy định chất lối sống (Các chỉ số phản ánh con người hoạt động như thế nào):

Những chỉ số trả lời cho câu hỏi: con người hoạt động như thế nào được thể hiện thông qua hệ thống những chỉ số khái niệm phản ánh mặt khách quan

và mặt chủ quan của hoạt động con người Theo V.Đô-bơ-ri-a-nốp, hệ thống những chỉ số khách quan về chất của hoạt động có thể có các kiểu:

- Nội dung phong phú về khoa học – kỹ thuật của hoạt động

- Giáo dục và chuyên môn hóa

- Cấp độ tôn ti trật tự của hoạt động

- Tỷ lệ của mỗi hoạt động trong toàn bộ quỹ thời gian của cá nhân

- Sự trả thù lao với tư cách là sự công nhân của xã hội thể hiện bằng vật chất

- Sự công nhận về mặt xã hội dưới hình thức kích thích về mặt tinh thầnTrong hệ thống những chỉ số chủ quan về chất của hoạt động, thì có những cái có ý nghĩa căn bản là:

- Mức độ thỏa mãn về mặt tinh thần do hoạt động

- Động cơ của hoạt động

- Đánh giá chủ quan của cá nhân về chất lượng của hoạt động

- Dư luận xã hội về chất lượng của hoạt động

Trên đây là những chỉ số về các loại, các kiểu, các biến dạng hoạt động và những chỉ số về chất lượng của hoạt động Sự kết hợp giữa các chỉ số đó sẽ mở

ra một phạm vi rộng lớn cho việc đo lường và đánh giá lối sống

Cơ cấu lối sống là nền tảng quan trọng để xây dựng nghiên cứu và lập bảng hỏi điều tra về các nhân tố ảnh hưởng đến lối sống của các nhóm xã hội

1.2.2 Mối quan hệ giữa lối sống và văn hóa

Lối sống và văn hóa là hai phạm trù gắn bó chặt chẽ với nhau, nghiên cứu vềlối sống con người được đặt trong mối liên hệ chặt chẽ với nghiên cứu về văn hóa, và nhiều tài liệu, nhiều học giả đồng nhất văn hóa và lối sống

Trước hết, trong các định nghĩa về văn hóa và lối sống đã được công bố, lối sống thường được xem như một bộ phận của văn hóa

Như trang Wikipedia - dẫn lại quan điểm của D Jary và J Jary, rằng “Văn hóa có thể được định nghĩa là toàn bộ những ứng xử, lối sống, nghệ thuật, đức tin và các thể chế của dân cư được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Văn hóa còn được gọi là "các lối sống của toàn thể xã hội" Và như vậy, nó bao gồm các mã số về phong thái, trang phục, ngôn ngữ, tôn giáo và lễ nghi, các chế định

về ứng xử như luật pháp và đạo đức, và các hệ thống đức tin, kể cả mỹ thuật và nghệ thuật ẩm thực” [2,78]

Trang 14

Hay trong định nghĩa của UNESCO về văn hóa, lối sống cũng được coi là một thành tố của văn hóa: “Văn hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp củanhững đặc trưng về tinh thần, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả các phong cách sống, các lối chung sống, các hệ thống giá trị, các truyền thống

và đức tin” 1

Có thể khẳng định chắc chắn, rằng lối sống có liên quan mật thiết với văn hóa và có thể coi lối sống như một bộ phận hợp thành của văn hóa, hay là một phương thức tồn tại và biểu hiện của văn hóa Tuy nhiên, hai phạm trù lối sống

và văn hóa có những khía cạnh khác nhau rõ nét

Văn hóa là phạm trù có nhiều cấp độ, nhiều tầng lớp khác nhau, ở “tầng đáy” hay nền tảng của văn hóa bao giờ cũng là các giá trị và hệ giá trị, còn ở

“tầng ngọn” hay các “cấu trúc thượng tầng” là các hình thức biểu hiện cụ thể củavăn hóa, như các biểu tượng, các hình thức nghệ thuật, các ứng xử văn hóa, trong đó có lối sống của các cá nhân và các nhóm, các cộng đồng người

Trong khi đó, lối sống, là phạm trù này chỉ dùng để chỉ những quá trình hiện thực hóa các giá trị và hệ giá trị văn hóa trong thực tiễn cuộc sống hằng ngày

Vì vậy, xét theo chiều thẳng đứng thì lối sống không có nhiều tầng lớp và cấp độ như văn hóa, đồng thời, xét về lý thuyết, chỉ có các giá trị và hệ giá trị nào được hiện thực hóa trong thực tiễn cuộc sống của con người thì mới được coi là chiều sâu văn hóa của lối sống Khi nghiên cứu về lối sống, bắt buộc phải nghiên cứu các chiều sâu văn hóa của nó, phải khám phá xem lối sống đó dựa trên hay là sự hiện thực hóa trong thực tiễn của những giá trị và hệ giá trị nào Hơn nữa, các giá trị và hệ giá trị lại không bao giờ đứng độc lập hay tác động đến lối sống một cách đơn lẻ theo những tuyến tính xác định, mà thường chúng luôn tương tác với nhau, đan xen với nhau và do đó có những hình thức hiện thực hóa đa dạng và phức hợp Vì vậy, nghiên cứu về lối sống lại phải nghiên cứu cả các cách ứng xử văn hóa, các chế định văn hóa và các biểu tượng văn hóa Đây là những bộ phận hợp thành, những tầng lớp văn hóa rất gần gũi với lối sống và thậm chí trùng khớp với lối sống, chính là lối sống

Khi xét theo chiều phẳng ngang, phân biệt văn hóa và lối sống còn phức tạp hơn, bởi dường như lối sống hoàn toàn trùng khớp với văn hóa: bất cứ hoạt độngsống nào của con người cũng là sự hiện thực hóa các giá trị văn hóa Tuy nhiên,

ở đây có ba điểm cần làm rõ để có thể chỉ ra cái ranh giới vô hình, mong manh giữa lối sống và văn hóa:

+ Thứ nhất, hoạt động sống và lối sống của con người chỉ có thể được hiểu

là những chiều cạnh chủ quan của văn hóa mà thôi Những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể được con người sáng tạo ra từ hàng nghìn năm nay và được

1 UNESCO, Universal Declaration on Cultural Diversity, http://en.wikipedia.org/wiki/Culture , 2002.

Trang 15

trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thì vô cùng phong phú và đa dạng Tuy nhiên, không phải tất cả những giá trị đó đều được tiếp nhận, đều được tiếp nhận theo những mức độ và phương thức giống nhau, và không phải tất cả chúng đều được hiện thực hóa như nhau trong thực tiễn cuộc sống của con người Vì vậy, chỉ những giá trị nào được con người chấp nhận và đang hiện thực hóa nó trong cuộc sống mới tạo nên hoạt động sống và góp phần tạo nên lốisống của con người hiện nay

Hơn nữa, cần chú ý là văn hóa hay lối sống luôn luôn tồn tại gắn với và đượcxác định bởi các cá nhân và các nhóm, các cộng đồng người Vì vậy, có thể giá trị hay hệ giá trị văn hóa nào đó được hiện thực trong thực tiễn của cá nhân hay nhóm, cộng đồng này, mà lại không được biết đến và hiện thực hóa trong thực tiễn cuộc sống bởi cá nhân hay cộng đồng người khác Cho nên, chúng có thể là chiều cạnh chủ quan của văn hóa ở nhóm, hay cộng đồng người này mà lại hoàn toàn có thể là các chiều cạnh khách quan của văn hóa đối với nhóm hay cộng đồng khác Do đó mà xét theo bề ngang thì văn hóa và lối sống không phải và không thể lúc nào cũng trùng khớp với nhau, và nhất lọat như nhau đối với tất cảcác nhóm và các cộng đồng người

+ Thứ hai, hoạt động sống và lối sống không đồng nhất với nhau Ở đây chính là mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng, giữa cái đặc thù và cái phổ biến Hoạt động sống của con người thì vô cùng phong phú, đa dạng, đa chiều, nhưng chỉ những hoạt động sống nào được diễn ra lặp đi, lặp lại nhiều lần trong cuộc đời một cá thể thì mới có thể được coi là bộ phận cấu thành nên lối sống của cá thể ấy Tương tự, chỉ những hoạt động sống nào lặp đi, lặp lại và phổ biếntrong đa số cá thể của một cộng đồng xác định nào đó thì những hoạt động sống

đó mới được coi là yếu tố cấu thành nên lối sống của cộng đồng đó Vả lại, lối sống không chủ yếu chỉ là tập hợp các hoạt động sống quen thuộc của các cộng đồng người mà chủ yếu là những cách thức mà các cộng đồng người đó tiến hành những hoạt động sống nói trên

+ Thứ ba, lối sống chỉ là cái hiện hữu, còn văn hóa thì có lịch sử Khi nghiêncứu văn hóa của một cộng đồng người nào đó thường thì phải nghiên cứu toàn

bộ nền văn hóa đó trong cả chiều sâu lịch sử của nó Chỉ có như vậy mới có thể nắm được những đặc trưng lớn, khám phá được những hệ giá trị căn bản tạo nênbản sắc của nền văn hóa đó Trong khi đó, nghiên cứu về lối sống, tức là nghiên cứu sự hiện thực hóa các giá trị trong thực tiễn cuộc sống, và do vậy, mối quan tâm của nhà nghiên cứu chủ yếu là dành cho những cái đang diễn ra, chứ không phải là cho những gì đã diễn ra, tức là chủ yếu cho thời hiện tại chứ không phải thời quá khứ của hoạt động sống và lối sống

Tóm lại, lối sống của con người chính là các chiều cạnh chủ quan của văn hóa, là quá trình hiện thực hóa các giá trị văn hóa thông qua hoạt động sống của

Trang 16

con người trong những điều kiện sống xác định Lối sống thường gắn với những cộng đồng người xác định và cần được đặt trong mối liên hệ mật thiết với văn hóa trong mọi trường hợp nghiên cứu.

1.2.3 Lối sống sinh viên

Như đã phân tích ở trên, tiếp cận lối sống sinh viên là gắn lối sống với những hoạt động của họ Hoạt động là phương thức của quá trình hình thành và phát triển tâm lý, ý thức, nhân cách Vì vậy, lối sống sinh viên chính là các hoạt động và thể hiện trong các hoạt động đặc thù của họ

Lối sống sinh viên là phương thức hoạt động đã xác định của họ; bao gồm tất cả những hoạt động sống đặc trưng mà họ đã lựa chọn trong những điều kiện chủ quan và khách quan nhất định

Hơn nữa, lối sống là tổng hoà các hoạt động sống của con người, mỗi hoạt động thể hiện một cách sinh động từng khía cạnh đời sống tâm lý Cái đóng vai trò là động lực thúc đẩy con người tiến hành các hoạt động trong lối sống là địnhhướng giá trị, giúp cá nhân tách cái có ý nghĩa, cái bản chất thiết thân đối với họkhỏi cái vô nghĩa, cái không bản chất Đây chính là cơ sở bên trong của hành vi, quyết định nhân cách, lối sống của mỗi cá nhân

Như vậy, nghiên cứu lối sống sinh viên, nhóm nghiên cứu tập trung đi sâu vào nghiên cứu định hướng giá trị lối sống của sinh viên để từ đó phản ánh được

xu hướng lối sống sinh viên tại trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh trong giai đoạn hiện nay

1.3 Các nhân tố tác động đến lối sống sinh viên

Cùng với sự hình thành và phát triển nhân cách, lối sống sinh viên gắn với các hoạt động đặc thù của họ trong xã hội I.V Lênin đã từng khẳng định: “cùng với dòng sữa mẹ, con người hấp thu tâm lý, đạo đức của xã hội mà nó là thành viên” Chính vì vậy có rất nhiều yếu tố chi phối lối sống sinh viên

1.3.1.Gia đình

Gia đình là một nhóm xã hội đặc biệt không giống với bất cứ một nhóm xã hội nào Gia đình bao gồm nhiều yếu tố phức hợp như: huyết thống, tâm lý, văn hoá và kinh tế và thông qua đó mỗi cá nhân có sự liên hệ với gia đình Gia đình

có ảnh hưởng đặc biệt tới sự hình thành lối sống của cá nhân

Gia đình là nơi con người được sinh ra và lớn lên và là nơi con người được giúp đỡ có khi trong suốt cả cuộc đời Gia đình là môi trường giáo dục đầu tiên của con người, giúp con người ngay từ khi còn nhỏ đã tiếp nhận những chuẩn mực đúng đắn để hội nhập vào cuộc sống xã hội Những giá trị được tiếp nhận

từ tuổi thơ trong gia đình luôn là hành trang cần thiết cho con người mang theo

để làm phương châm “đối nhân xử thế” Gia đình có văn hoá, sống có tôn ti trật2

2 Đặng Cảnh Khanh (2003), Gia đình, trẻ em và sự kế thừa các giá trị truyền thống, Nxb Lao động, Hà Nội tr45

Trang 17

tự, giản dị và lành mạnh, biết giữ gìn phẩm giá gia phong, mọi người biết yêu thương đùm bọc nhau, đồng thời ông bà cha mẹ là tấm gương cho con cái là gia đình biết giữ gìn và phát huy truyền thống của gia đình Việt nam.

Truyền thống gia đình được hiểu là: “sự ổn định trong tổ chức sinh hoạt gia đình, thái độ và hành vi ứng xử của nhiều thế hệ” và thể hiện ở nhiều phương 3diện: nghề nghiệp, học hành, giáo dục con cái, tổ chức sinh hoạt Nề nếp và thói quen của gia đình trong cách tổ chức sinh hoạt, hành vi ứng xử - “trên kính dưới nhường”, “đói cho sạch, rách cho thơm” có ý nghĩa quyết định phương hướng phát triển toàn bộ cuộc đời của mỗi người và đặc biệt nó chi phối đến lối sống của cá nhân

Với ý nghĩa đó mà dân gian ta đã đúc kết thành: “Giỏ nhà nào quai nhà ấy”, hay “Con nhà tông chẳng giống lông cũng giống cánh” Qua thực tế, chúng ta nhận thấy người đời ngợi ca những gia đình có truyền thống, nề nếp tốt như: sống có nghĩa tình, con cháu ngoan ngoãn thành đạt, quan hệ tốt với láng giềng Nhưng xã hội cũng sẽ chê trách và lên án những gia đình sống thiếu đạo lý, trộmcắp, cha mẹ làm gương xấu cho con cái

Gia đình - cội nguồn của của đạo lý, nhân cách và văn hoá của con người -

đó là một phần quan trọng không thể thiếu trong lối sống cá nhân

1.3.2 Nhà trường

Nhà trường là một tổ chức xã hội với mục đích giáo dục đào tạo, hình thành

và phát triển toàn diện nhân cách con người theo yêu cầu của xã hội Nhà trườnggắn bó với con người từ khi họ cắp sách đến trường Nhà trường có đội ngũ các nhà sư phạm được đào tạo về chuyên môn và được trau dồi phẩm chất đạo đức,

là những tấm gương cho lớp trẻ noi theo Nhà trường chủ động tác động đến conngười một cách có hệ thống, có mục đích, có nội dung, phương pháp rõ ràng và

cụ thể

Nhà trường cũng chính là một xã hội thu nhỏ qua đó nhân cách sống và lối sống của con người được hình thành và phát triển và bộc lộ Cuộc sống của sinh viên gắn bó chặt chẽ với nhà trường Hầu hết các hoạt động của sinh viên được diễn ra tại nhà trường, đặc biệt hoạt động học tập và giao tiếp Trong nhà trường,bên cạnh việc truyền đạt những tri thức cơ bản cho người học, còn phải thực hiện nhiệm vụ giáo dục đạo đức, lối sống cho họ Công tác chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống không chỉ nhằm ổn định tình hình mà còn thuộc về bản chất của việc dạy tốt, học tốt, là bộ phận cấu thành của sản phẩm nhà trường

Ảnh hưởng từ phía nhà trường đến lối sống của mỗi cá nhân khá phong phú, trong đó những yếu tố có tác động mạnh mẽ nhất chính là việc tổ chức hoạt động học tập và các hoạt động vui chơi giải trí cho người học ra sao Qua đó sẽ

3 Võ Thị Cúc (1997), Văn hoá gia đình với việc hình thành và phát triển nhân cách trẻ em, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội, tr26

Ngày đăng: 19/04/2022, 18:10

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Phụ lục 02: Bảng thống kê số lượng phiếu điều tra sinh viên - Đánh giá các nhân tố tác động đến lối sống của sinh viên trường đại học kinh tế và quản trị kinh doanh, đại học thái nguyên
h ụ lục 02: Bảng thống kê số lượng phiếu điều tra sinh viên (Trang 31)
Phụ lục 03: Bảng thống kê kết quả trả lời phiếu điều tra sinh viên - Đánh giá các nhân tố tác động đến lối sống của sinh viên trường đại học kinh tế và quản trị kinh doanh, đại học thái nguyên
h ụ lục 03: Bảng thống kê kết quả trả lời phiếu điều tra sinh viên (Trang 32)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w