NGUYỄN TUẤN QUYẾTTên chuyên đề: “THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG TRỊ BỆNH TRÊN ĐÀN LỢN NÁI SINH SẢN TẠI TRẠI LỢN BẢY TUÂN, HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI’’ KHÓA LUẬN
Trang 1NGUYỄN TUẤN QUYẾT
Tên chuyên đề:
“THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG TRỊ BỆNH TRÊN ĐÀN LỢN NÁI SINH SẢN TẠI TRẠI LỢN BẢY TUÂN, HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI’’
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
2016 - 2021
Thái Nguyên - năm 2021
Trang 2NGUYỄN TUẤN QUYẾT
Tên chuyên đề:
“THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG TRỊ BỆNH TRÊN ĐÀN LỢN NÁI SINH SẢN TẠI TRẠI LỢN BẢY TUÂN, HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI’’
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Giảng viên hướng dẫn: TS Nguyễn Thị Bích Đào
Thái Nguyên - năm 2021
Trang 3Nhân dịp này em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo hướng dẫn
TS Nguyễn Thị Bích Đào đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn em trong suốt quá trình thực tập để hoàn thành báo cáo tốt nghiệp.
Em xin cảm ơn ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên,lãnh đạo khoa Chăn nuôi Thú y đã tạo điều kiện thuận lợi cho em thực hiệnkhóa luận này
Đồng thời, cho em được gửi lời cảm ơn tới cô Nguyễn Thị Bảy là chủ
của cơ sở thực tập cũng như toàn thể anh chị em quản lý, kỹ sư, công nhân,sinh viên thực tập trong trang trại Bảy Tuân về sự hợp tác giúp đỡ, theo dõicác chỉ tiêu và thu thập số liệu làm cơ sở cho khóa luận này
Cuối cùng, em xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, ngườithân cùng bạn bè đồng nghiệp đã giúp đỡ động viên em trong suốt thời gianhoàn thành khóa luận
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2021
Sinh viên
Nguyễn Tuấn Quyết
Trang 4DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Chế độ ăn cho đàn lợn tại trại 24
Bảng 3.2 Lịch khử trùng chuồng trại của trại lợn 26
Bảng 4.1 Thống kê số lượng lợn và một số chỉ tiêu sinh sản tại trang trại Bảy Tuân, qua 3 năm (2018-11/2020) 29
Bảng 4.2 Số lượng lợn nái theo dõi và chăm sóc nuôi dưỡng tại trại trong 6 tháng thực tập 30
Bảng 4.3 Kết quả thực hiện quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc đàn lợn 31
Bảng 4.4 Kết quả thực hiện vệ sinh, sát trùng tại trại 32
Bảng 4.5 Kết quả tiêm phòng vắc-xin cho lợn nái sinh sản tại trại 33
Bảng 4.6 Kết quả việc thực hiện phối giống cho đàn lợn 34
Bảng 4.7 Tình hình mắc bệnh ở đàn lợn nái sinh sản tại trại 35
Bảng 4.8 Kết quả điều trị bệnh trên đàn lợn nái sinh sản tại trại 36
Bảng 4.9 Kết quả thực hiện quy trình đỡ lợn đẻ tại trại 37
Bảng 4.10 Kết quả thực hiện các thao tác trên lợn con 38
Bảng 4.11 Kết quả tiêm vắc-xin cho lợn con từ sơ sinh đến cai sữa tại trại 41
Bảng 4.12 Kết quả chẩn đoán bệnh trên đàn lợn con 42
Bảng 4.13 Kết quả điều trị bệnh cho lợn con 43
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT iii
MỤC LỤC iv
Phần 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích và yêu cầu của chuyên đề 2
1.2.1 Mục đích 2
1.2.2 Yêu cầu 2
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3
2.1.1 Điều kiện của trang trại 3
2.1.2 Thuận lợi và khó khăn 6
2.2 Cơ sở khoa học 7
2.2.1 Đặc điểm sinh lý, sinh dục lợn nái 7
2.2.2 Nguyên lý về phòng, trị bệnh cho vật nuôi 9
2.2.3 Một số bệnh thường gặp trên đàn lợn nái đẻ và lợn nái nuôi con 11
2.2.4 Một số bệnh thường gặp ở lợn con 17
2.3 Tổng quan nghiên cứu trong và ngoài nước 19
2.3.1 Các nghiên cứu trong nước 19
2.3.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 21
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 23
3.1 Đối tượng thực hiện 23
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 23
3.3 Nội dung tiến hành 23
Trang 73.4 Các chỉ tiêu và phương pháp thực hiện 23
3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi và thu thập thông tin 23
3.4.2 Phương pháp thực hiện 24
3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu và công thức tính 28
PHẦN 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 29
4.1 Kết quả tình hình chăn nuôi lợn tại trại lợn Bảy Tuân 29
4.2 Kết quả thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng đàn lợn nái sinh sản30 4.3 Kết quả thực hiện quy trình phòng bệnh tại trại 32
4.3.1 Phòng bệnh bằng phương pháp vệ sinh, sát trùng tại trại 32
4.3.2 Kết quả phòng bệnh cho đàn lợn tại trại bằng vắc-xin 33
4.3.3 Kết quả phối giống cho đàn lợn nái và lợn hậu bị 34
4.4 Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh cho lợn nái sinh sản tại trại 35
4.4.1 Tình hình mắc bệnh ở đàn lợn nái sinh sản tại trại 35
4.4.2 Kết quả điều trị bệnh trên đàn lợn nái sinh sản tại trại 36
4.5 Kết quả thực hiện quy trình đỡ đẻ cho lợn nái tại trại 36
4.6 Kết quả thực hiện các thao tác trên lợn con tại cơ sở 38
4.7 Chăm sóc lợn con mới sinh 39
4.7.1 Kết quả trực tiếp tiêm vắc-xin phòng bệnh cho lợn con từ sơ sinh đến lúc cai sữa tại trại lợn Bảy Tuân 41
4.7.2 Kết quả thực hiện các biện pháp chẩn đoán, điều trị bệnh cho lợn con từ sơ sinh đến lúc cai sữa tại trại lợn Bảy Tuân 42
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 44
5.1 Kết luận 44
5.2 Đề nghị 45
TÀI LIỆU THAM KHẢO 46
Trang 8hộ gia đình Chăn nuôi công nghiệp bệnh còn xảy ra nhiều do đa số là lợn náingoại khả năng thích nghi chưa cao với điều kiện khí hậu nước ta Trong quátrình đỡ đẻ hay những ca đẻ khó bị các vi khuẩn xâm nhập gây mộ số bệnh cholợn nái như viêm tử cung, đẻ khó, sót nhau… Các bệnh về lợn nái ảnh hưởngkhông nhỏ đến kết quả, năng suất, chất lượng của toàn ngành chăn nuôi Chính
vì vậy chúng ta phải có biện pháp chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cholợn nái an toàn và đạt hiệu quả cao
Xuất phát từ tình hình thực tiễn và được sự đồng ý của Ban Chủ NhiệmKhoa Chăn Nuôi Thú y cùng với sự giúp đỡ của thầy giáo hướng dẫn và cơ sở
thực tập, em đã tiến hành đề tài: “Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng
và phòng trị bệnh trên đàn lợn nái sinh sản tại trại lợn Bảy Tuân, huyện Chương Mỹ - thành phố Hà Nội”.
Trang 91.2 Mục đích và yêu cầu của chuyên đề
1.2.1 Mục đích
- Đánh giá tình hình chăn nuôi tại cơ sở
- Thực hiện tốt quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái nuôi tại cơ sở
- Thực hiện quy trình phòng, trị bệnh trên đàn lợn nái
- Nắm được các loại thức ăn dành cho lợn nái sinh sản, khẩu phần ăn vàcách cho lợn nái ăn qua từng giai đoạn mang thai
- Chẩn đoán và điều trị bệnh thông thường trên đàn lợn của cơ sở
1.2.2 Yêu cầu
- Trực tiếp thực hiện chăn nuôi tại trại Bảy Tuân, xã Tiên Phương, huyện
- Thu thập thông tin, phân tích và xử lý thông tin
- Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn nái nuôi tại trại
- Chăm chỉ, học hỏi nâng cao kỹ thuật, tay nghề của bản thân
Trang 10PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập
2.1.1 Điều kiện của trang trại
Trại lợn Bảy Tuân có diện tích khoảng 10 ha Trại được xây dựng cách
xa khu dân cư, cách quốc lộ 6 khoảng 7 km
Trong trại có hệ thống ao hồ nuôi trồng thủy sản, lượng nước đượccung cấp chủ yếu thông qua lượng nước mưa tự nhiên
Trại cách xa khu dân cư, luôn đảm bảo độ thông thoáng, không ảnhhưởng đến môi trường, thuận tiện cho việc phòng chống dịch bệnh ở trại
2.1.1.2 Đặc điểm khí hậu
Khí hậu ở đây mang đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng và ẩmướt Có 2 mùa chính trong năm là mùa hè và mùa đông Mùa hè kéo dài từ tháng
5 đến tháng 9, mùa đông thường kéo dài từ giữa tháng 11 đến giữa tháng
3 Do trang trại nằm trong vùng đồng bằng sông Hồng có nhiều con sông lớnchảy qua nên lượng nước ngầm tương đối phong phú Giếng đào ở độ sâu 4 - 5 m
m có nước quanh năm, chất lượng nước đảm bảo, không cần đòi hỏi những biệnpháp xử lý đặc biệt
Trang 11Nhiệt độ trung bình năm 23 - 24°C, tổng lượng mưa trung bình năm là
1900 - 2000 mm
Độ ẩm không khí trung bình năm là 85 %
Nhiệt độ chênh lệnh giữa mùa hè và mùa đông là 10 - 15°C
2.1.1.3 Điều kiện giao thông, địa hình
Hệ thống giao thông đi vào trang trại là đường đất rộng 3 m
Địa hình: Trại nằm trên địa bàn của khu vực đồng bằng sông Hồng, địahình bằng phẳng với tổng diện tích của trại là 10 ha
Nguồn nước: Trong trại có hệ thống ao hồ nuôi trồng thủy sản, lượngnước được cung chấp chủ yếu thông qua lượng nước mưa tự nhiên Ngoài racòn có trữ lượng nước mưa khá lớn, khả năng khai thác và sử dụng tương đối
dễ dàng, hiện nay đã được trại khai thác và sử dụng để phục vụ cho sinh hoạt
và chăn nuôi
2.1.1.4 Cơ cấu tổ chức của trại
Cơ cấu tổ chức của trại được tổ chức như sau:
+ 1 kỹ thuật điện nước
Trang trại có đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật giỏi, giàu kinh nghiệmthực tế, có ban lãnh đạo năng động, nhiệt tình Đội ngũ công nhân giỏi, yêunghề và đã có nhiều năm kinh nghiệm trong nghề nghiệp
Trang 122.1.1.5 Cơ sở vật chất của trang trại
* Khu chuồng nuôi:
- Khu vực chuồng nuôi của trại được xây dựng trên một khu đất cao, dễthoát nước Bao gồm 2 chuồng đẻ (tổng có 200 ô kích thước 2,4 × 1,6 m/ô), 2 chuồngbầu (có 800 ô kích thước 2,4 m × 0,65 m/ô, một chuồng đực giống + nái hậu bị có 12
ô kích thước 5 m × 6 m), 6 chuồng thương phẩm (mỗi chuồng có 12 ô kích thước 5 m
x 6 m), 2 chuồng cai sữa (gồm 40 ô kích thước mỗi ô
là 25 m2 mỗi ô nuôi 50 - 60 con, 2 ô cuối dãy chuồng dùng để chứa lợn cai sữa
có vấn đề) Cùng một số công trình phụ phục vụ cho chăn nuôi như: kho thức
ăn, phòng sát trùng, phòng pha tinh, kho thuốc
- Hệ thống chuồng nuôi xây dựng khép kín hoàn toàn Phía đầu chuồng
là hệ thống giàn mát, cuối chuồng có 4 quạt thông gió đối với các chuồng đẻ, 5quạt đối với các chuồng bầu, các chuồng thương phẩm, chuồng nái hậu bị, chuồngđực giống và chuồng úm Chuồng nuôi xây dựng theo kiểu 2 mái và
được lắp đặt hệ thống điện chiếu sáng và hệ thống vòi uống nước tự động ở mỗi
Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa các ô chuồng, các khu khác đềuđược đổ bê tông và có các hố sát trùng
Hệ thống nước trong khu chăn nuôi đều là nước giếng khoan Nước uốngcho lợn được cấp từ một bể lớn được xây dựng ở đầu chuồng đẻ 3 Nước tắm,
Trang 13nước xả gầm và nước phục vụ cho công tác khác được bố trí từ tháp bể lọc vàđược bơm qua hệ thống ống dẫn tới bể chứa ở giữa các chuồng.
Hệ thống điện: Điện cung cấp cho trang trại được được lấy từ Điện lựchuyện Chương Mỹ Đối với chuồng đẻ, hệ thống điện được cung cấp đầy đủđảm bảo độ sáng phục vụ cho công tác đỡ đẻ, chăm sóc nuôi dưỡng lợn mẹ vàlợn con Mỗi dãy chuồng đẻ được lắp đặt cố định 6 bóng thắp sáng và có hệthống bóng sưởi cho lợn con mới đẻ
Hệ thống xử lý môi trường: Cuối mỗi chuồng sẽ có rãnh thu nước thảirộng 30 cm, sâu 40 cm sau đó đấu nối vào hệ thống bể gom, bể Biogas để xử
lý rồi chảy xuống mương thoát nước phía Tây Nam trang trại và có hố hủylợn xa khu vực chăn nuôi
* Khu vực nhà ở và sinh hoạt:
- Khu nhà ở rộng rãi có đầy đủ các trang thiết bị, máy móc phục vụ chocông nhân và sinh viên sinh hoạt hàng ngày như bình nóng lạnh, tivi, điều hòa, tủlạnh, quạt…
- Những vật dụng cá nhân cũng được trại chuẩn bị như: kem đánh răng,
xà phòng, dầu gội, xà bông tắm…
- Khu nhà ở rộng rãi có đầy đủ nhà tắm, nhà vệ sinh tiện nghi
- Khu nhà bếp rộng rãi, sạch sẽ và hợp vệ sinh
- Ngoài ra trại còn đầu tư thêm khu giải trí cho công nhân và sinh viên sau giờ làm việc như sau: Sân bóng, chỗ tập thể hình nâng cao sức khỏe…
2.1.2 Thuận lợi và khó khăn
2.1.2.1 Thuận lợi
- Trại được xây dựng ở vị trí cách xa khu dân cư
- Đội ngũ quản lý và cán bộ kỹ thuật có trình độ chuyên môn cao, có tinhthần trách nhiệm trong công việc
- Công nhân có tay nghề cao, năng động, nhiệt tình và yêu nghề
Trang 14- Trại được xây dựng theo mô hình công nghiệp, trang thiết bị hiện đại
do vậy rất phù hợp với điều kiện chăn nuôi lợn công nghiệp hiện nay
- Trên thị trường giá thịt lợn giảm sâu không chỉ làm ảnh hưởng đến tâm
lý người tiêu dùng, mà còn gây không ít khó khăn đối với các trang trại chănnuôi
2.2 Cơ sở khoa học
2.2.1 Đặc điểm sinh lý, sinh dục lợn nái
Khả năng sinh sản của lợn nái: Người ta đánh giá khả năng sinh sản củalợn nái thông qua các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật như: Số con sơ sinh sống đến24h trên lứa đẻ, số con cai sữa trên lứa, số con bán, tỷ lệ lợn con chết trongthời gian bú sữa mẹ, thời gian động dục trở lại sau cai sữa, thời gian lợn contheo mẹ, số lợn con cai sữa/nái
Sinh lý sinh dục của lợn nái:
Phạm Hữu Doanh và cs (2003) [3] cho rằng: Tuổi động dục đầu tiên ởlợn nội (Ỉ, Móng Cái) rất sớm từ 4 - 5 tháng khi khối lượng đạt từ 20 - 25 kg
Ở lợn nái ngoại (Yorkshire, Landrace) tuổi động dục đầu tiên vào 6 - 7 thángtuổi với khối lượng 65 - 70 kg, còn lợn nái lai F1 tuổi động dục đầu tiên lúc 6tháng tuổi với khối lượng cơ thể 50 - 55 kg
Trần Văn Phùng và cs (2004) [14], Lê Hồng Mận (2002) [12] cho biết: tuỳtheo giống, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng và quản lý mà có tuổi động dục lầnđầu khác nhau Lợn Ỉ, Móng Cái có tuổi động dục lần đầu vào 4 - 5 tháng
Trang 15tuổi (121 - 158 ngày tuổi), lợn nái lai lúc 6 tháng tuổi, các giống lợn ngoại(Yorkshire, Landrace) có tuổi động dục lần đầu muộn hơn từ 7 - 8 tháng tuổi.
+ Tuổi phối giống lần đầu:
Phạm Hữu Doanh và cs (2003) [3], Lê Hồng Mận (2002) [12] cho rằng:Không nên cho phối giống ở lần động dục đầu tiên vì lợn nái động dục lầnđầu cơ thể lợn chưa phát triển đầy đủ, chưa tích tụ được chất dinh dưỡng nuôithai, trứng chưa chín một cách hoàn chỉnh Để đạt được hiệu quả sinh sản tốt
và duy trì con nái lâu bền cần bỏ qua 1 - 2 chu kỳ động dục rồi mới cho phốigiống Thường cho phối giống vào lần động dục thứ 2 - 3
Lê Hồng Mận và cs (2002) [12] cho biết: Lợn nái sau khi đẻ có hiệntượng động dục trở lại sau 3 - 4 ngày thấy nhiều ở giống lợn nội Những lúcnày bộ máy sinh dục của lợn mẹ chưa phục hồi, trứng chín chưa đều, vì thếkhông nên cho lấy đực Thường sau khi cai sữa lợn con sớm từ 28 - 35 ngàytuổi hoặc muộn hơn (50 - 55 ngày) khoảng 3 - 5 ngày thì lợn mẹ động dục trởlại, cho lấy đực dễ đậu thai và trứng chín nhiều
+ Giai đoạn tiết sữa và nuôi con
Trần Văn Phùng và cs (2004) [14] cho biết: quá trình sinh trưởng của lợncon từ khi mới đẻ đến khi cai sữa gặp phải thời kỳ khủng hoảng lúc 3 tuần tuổi.Thể trọng hầu như tăng theo tuần tuổi, nhưng tỷ lệ tăng có sự biến đổi khá rõ rệt.Vào 4 tuần tuổi, tăng khối lượng giảm xuống vì giai đoạn đó nhu cầu dinh dưỡngcủa lợn con không đủ do sữa mẹ thiếu, thức ăn bổ sung chưa có hoặc kém Vìvậy, muốn đảm bảo cho lợn con sinh trưởng tốt cần bổ sung thức ăn sớm Tronggiai đoạn nái đang nuôi con thì phải cho lợn mẹ ăn tự do, ăn đủ chất, tập ăn sớmcho lợn con, cai sữa sớm (21 đến 28 ngày tuổi) nhằm giảm sự hao mòn và tăngkhả năng sinh sản của lợn mẹ (Trương Lăng, 2000 [10])
Trang 162.2.2 Nguyên lý về phòng, trị bệnh cho vật nuôi
2.2.2.1 Phòng bệnh
Như ta đã biết‚ “Phòng bệnh hơn chữa bệnh“‚ nên khâu phòng bệnhđược đặt lên hàng đầu, nếu phòng bệnh tốt thì có thể hạn chế hoặc ngăn chặnđược bệnh xảy ra Các biện pháp phòng bệnh tổng hợp được đưa lên hàngđầu, xoay quanh các yếu tố môi trường, mầm bệnh, vật chủ Do vậy, việcphòng bệnh cũng như trị, bệnh phải kết hơp nhiều biêṇ pháp khác nhau
̣ž
- Phòng bệnh bằng vệ sinh và chăm sóc nuôi dưỡng tốt:
Nguyễn Ngọc Phục (2005) [15] bệnh xuất hiện trong một đàn lợnthường do nguyên nhân phức tạp, có thể là bệnh truyền nhiễm, hoặc khôngtruyền nhiễm hoặc có sự kết hợp cả hai Có rất nhiều biện pháp đã được đưa
ra áp dụng nhằm kiểm soát các khả năng xảy ra bệnh tật trên đàn lợn Phầnlớn các biện pháp này đều nhằm làm giảm khả năng lan truyền các tác nhângây bệnh và nâng cao sức đề kháng của đàn lợn
Lê Văn Tạo và cs (1993) [18], vi khuẩn E.coli gây bệnh ở lợn là vi
khuẩn tồn tại trong môi trường, đường tiêu hoá của vật chủ Khi môi trườngquá ô nhiễm do vê žsinh chuồng trại kém, nước uống thức ăn bi žnhiễm vikhuẩn, điều kiện ngoại cảnh thay đổi, lợn giảm sức đề kháng dễ bi žcảm nhiễm
E.coli, bệnh sẽ nổ ra vì vậy mà khâu vê žsinh, chăm sóc có một ý nghĩa to lớn
trong phòng bệnh Trong chăn nuôi việc đảm bảo đúng quy trình kỹ thuật làđiều rất cần thiết, chăm sóc nuôi dưỡng tốt sẽ tạo ra những gia súc khoẻmạnh, có khả năng chống đỡ bệnh tật tốt và ngược lại Ô chuồng lợn nái phảiđược vê žsinh tiêu độc trước khi vào đẻ Nhiệt độ trong chuồng phải đảm bảo
27 - 30 oC đối với lợn sơ sinh và 28 - 30 oC với lợn cai sữa Chuồng phải luônkhô ráo, không thấm ướt Việc giữ gìn chuồng trại sạch sẽ kín, ấm áp vào mùaĐông và đầu Xuân Nên dùng các thiết bị sưởi điện hoặc đèn hồng ngoạitrong những ngày thời tiết lạnh ẩm để đề phòng bệnh lợn con phân trắngmang lại hiệu quả cao trong chăn nuôi
Trang 17Trần Văn Phùng và cs (2004) [14] từ 3 - 5 ngày trước dự kiến đẻ, ôchuồng lợn nái đã được cọ rửa sạch, phun khử trùng bằng hóa chất như Crezin5% hoặc bằng loại hóa chất khác nhằm tiêu độc khử trùng chuồng lợn náitrước khi đẻ.
Vệ sinh chuồng trại và thiết bị chăn nuôi
Chuồng trại phải đảm bảo phù hợp với từng đối tượng vật nuôi, thoángmát mùa Hè, ấm áp mùa Đông, đảm bảo cách ly với môi trường xung quanh.Tẩy uế chuồng trại sau mỗi lứa nuôi bằng phương pháp: Rửa sạch, để khô sau
đó phun khử trùng bằng các loại thuốc khử trùng và trống chuồng ít nhất 15ngày với vật nuôi thương phẩm, 30 ngày đối với vật nuôi sinh sản Với nhữngchuồng nuôi lưu cữu hoặc chuồng nuôi có vật nuôi bị bệnh truyền nhiễm, cần
phải vệ sinh tổng thể và triệt để: Sau khi đưa hết vật nuôi ra khỏi chuồng, xử
lý theo hướng dẫn của thú y, cần phun khử trùng kỹ (pha dung dịch khử trùng
và phun theo hướng dẫn khi chống dịch) toàn bộ chuồng nuôi từ mái, cácdụng cụ và môi trường xung quanh, để khô và dọn, rửa
Nguyễn Bá Hiên và cs (2012) [6] nguyên tắc để điều trị bệnh là:
+ Toàn diện: Phải phối hợp nhiều biện pháp như hộ lý, dinh dưỡng, dùngthuốc
+ Điều trị sớm trên cơ sở chẩn đoán đúng bệnh để dễ lành bệnh và hạn chế lây lan
Trang 18+ Diệt căn bệnh là chủ yếu kết hợp chữa triệu chứng.
+ Tiêu diệt mầm bệnh phải đi đôi với tăng cường sức đề kháng của cơthể, làm cho cơ thể tự nó chống lại mầm bệnh thì bệnh mới chóng khỏi, ít bị táiphát và biến chứng, miễn dịch mới lâu bền
+ Phải có quan điểm khi chữa bệnh, chỉ nên chữa những gia súc có thểchữa lành mà không giảm sức kéo và sản phẩm Nếu chữa kéo dài, tốn kém vượtquá giá trị gia súc thì không nên chữa
+ Những bệnh rất nguy hiểm cho người mà không có thuốc chữa thì không nên chữa
Nguyễn Bá Hiên và cs (2012) [6] các biện pháp chữa bệnh truyền nhiễm:+ Hộ lý: Cho gia súc ốm nghỉ ngơi, nhốt riêng ở chuồng có điều kiện vệsinh tốt (thoáng mát, sạch sẽ, yên tĩnh) Theo dõi thân nhiệt, nhịp tim, hô hấp,phân, nước tiểu Phát hiện sớm những biến chuyển của bệnh để kịp thời đối phó Cho gia súc ăn uống thức ăn tốt và thích hợp với tính chất của bệnh.+ Dùng hóa dược: Phần lớn hóa dược được dùng để chữa triệu chứng, một
số hóa dược dùng chữa nguyên nhân vì có tác dụng đặc hiệu đến mầm bệnh
+ Dùng kháng sinh: Kháng sinh là những thuốc đặc hiệu có tác dụngngăn cản sự sinh sản của vi khuẩn hoặc tiêu diệt vi khuẩn Tuy nhiên sử dụngkháng sinh có thể gây nhiều tai biến do thuốc có tính độc, do phản ứng dị ứng, domột lúc tiêu diệt nhiều vi khuẩn làm giải phóng một lượng lớn độc tố, làm giảmphản ứng miễn dịch của cơ thể
2.2.3 Một số bệnh thường gặp trên đàn lợn nái đẻ và lợn nái nuôi con
Bệnh viêm tử cung:
Nguyên nhân gây bệnh
Lợn là loài sinh sản đa thai, khả năng sinh sản ngày càng cao nên bộphận sinh dục hoạt động nhiều, tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập nhất làtrong điều kiện dinh dưỡng không phù hợp, điều kiện chăm sóc vệ sinh kémthì bệnh dễ xảy ra
Trang 19Khảo sát tình hình viêm nhiễm đường sinh dục lợn nái sau khi sinh vàhiệu quả điều trị của một số loại kháng sinh trên 143 lợn nái sau khi sinh.Trần Ngọc Bích và cs (2016) [1], đã phát hiện 106 con tiết dịch nghi viêmđường sinh dục, chiếm tỷ lệ 74,13%.
Theo Nguyễn Văn Thanh (2007) [16]: kết quả khảo sát tình hình mắcbệnh viêm tử cung trên 620 lợn nái ngoại nuôi tại một số trại tại vùng Bắc Bộcho thấy: Tỷ lệ nhiễm viêm tử cung ở đàn lợn tương đối cao, biến động từ36,57 - 61,07% Tỷ lệ mắc tập trung ở những lợn nái đẻ lứa đầu đến lứa thứ 8
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [5], viêm tử cung là một quá trìnhbệnh lý thường xảy ra ở gia súc cái sinh sản sau đẻ Quá trình viêm phá huỷcác tế bào tổ chức của các lớp hay các tầng tử cung gây rối loạn sinh sản ở giasúc cái làm ảnh hưởng lớn, thậm chí làm mất khả năng sinh sản ở gia súc cái
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2002) [8], bệnh viêm tử cung ở lợn náithường do các nguyên nhân sau:
- Lợn nái phối giống trực tiếp, lợn đực mắc bệnh viêm bao dương vậthoặc mang vi khuẩn từ những con lợn nái khác đã bị viêm tử cung, viêm âm
đạo truyền sang cho lợn khoẻ
- Lợn nái đẻ khó phải can thiệp bằng thủ thuật gây tổn thương niêm mạc tử cung, vi khuẩn xâm nhập gây nhiễm trùng, viêm tử cung kế phát
Đoàn Kim Dung, Lê Thị Tài (2002) [4] cho biết: Nguyên nhân gây
viêm tử cung là do vi khuẩn tụ cầu vàng (Staphylococcus aureus) và các loại Proteus vulgais, Klebriella, E coli…
Lê Văn Năm và cs (1999) [13] cho rằng: Có rất nhiều nguyên nhân từngoại cảnh gây bệnh như; do thức ăn nghèo dinh dưỡng, do can thiệp đỡ đẻbằng dụng cụ hay thuốc sản khoa sai kỹ thuật dẫn đến Muxin của chất nhàycác cơ quan sinh dục bị phá hủy hoặc kết tủa
* Triệu chứng:
Trang 20Sản dịch của lợn nái bình thường kéo dài trong vòng 4 - 5 ngày cá biệttới 6 - 7 ngày, sản dịch có màu sắc hơi đỏ do lẫn máu, sau chuyển dần sangvàng hay trắng và trong Trong trường hợp viêm thì sản dịch có thể có màuđen hôi thối, mùi tanh rất khó chịu.
Bệnh viêm tử cung ở lợn nái được chia làm hai thể:
- Thể cấp tính: Con vật sốt 41 - 42oC trong vài ngày đầu âm môn sưngtấy đỏ, dịch xuất tiết từ trong âm đạo chảy ra trắng đục đôi khi có máu lờ lờ
- Thể mãn tính: Không sốt, âm môn không sưng đỏ nhưng vẫn có dịchnhầy trắng đục tiết ra từ âm đạo, dịch nhầy thường không liên tục mà chỈ chảy ratừng đợt từ vài ngày đến 1 tuần Lợn nái thường thụ tinh không có kết quả
hoặc khi đã có thai sẽ bị tiêu thai vì quá trình viêm nhiễm niêm mạc âm đạo tửcung lan sang thai làm chết thai
* Hậu quả của bệnh viêm tử cung
Tử cung là một trong những bộ phận quan trọng nhất trong cơ quansinh dục của lợn nái, nếu tử cung xảy ra bất kỳ quá trình bệnh lý nào thì đềuảnh hưởng rất lớn tới khả năng sinh sản của lợn mẹ và sự sinh trưởng, pháttriển của lợn con
Trần Tiến Dũng và cs (2002) [5], khi lợn nái bị viêm tử cung sẽ dẫn tớimột số hậu quả chính sau:
- Khi lợn bị viêm tử cung dễ dẫn tới sảy thai
Lớp cơ trơn ở thành tử cung có đặc tính co thắt Khi mang thai, sự cothắt của cơ tử cung giảm đi dưới tác dụng của Progesterone, nhờ vậy phôi cóthể bám chặt vào tử cung
- Lợn mẹ bị viêm tử cung bào thai cũng phát triển kém hoặc thai chết lưu
- Sau khi sinh con lượng sữa giảm hoặc mất hẳn sữa nên lợn con tronggiai đoạn theo mẹ thường bị tiêu chảy
- Lợn nái bị viêm tử cung mãn tính sẽ không có khả năng động dục trở lại
Trang 21Nếu tử cung bị viêm mãn tính thì sự phân tiết PGF2α giảm, do đó thểvàng vẫn tồn tại, vẫn tiếp tục tiết Progesterone.
- Tỷ lệ phối giống không đạt tăng lên ở đàn lợn nái viêm tử cung saukhi sinh đẻ Hiện tượng viêm tử cung âm ỉ kéo dài từ lứa đẻ trước đến lứa đẻsau là nguyên nhân làm giảm dẫn đến hội chứng MMA, từ đó làm cho tỷ lệlợn con nuôi sống thấp Đặc biệt, nếu viêm tử cung kèm theo viêm bàngquang thì còn ảnh hưởng tới hoạt động của buồng trứng
* Chẩn đoán lâm sàng bệnh viêm tử cung
Xuất phát từ quan điểm lâm sàng thì bệnh viêm tử cung thường biểuhiện vào lúc đẻ và thời kỳ tiền động dục, vì đây là thời gian cổ tử cung mởnên dịch viêm có thể chảy ra ngoài Số lượng mủ không ổn định, từ vài mlcho tới 200 ml hoặc hơn nữa Tính chất mủ cũng khác nhau, từ dạng dungdịch màu trắng loãng cho tới màu xám hoặc vàng, có thể màu máu cá Người
ta thấy rằng thời kì sau sinh đẻ hay xuất hiện viêm tử cung cấp tính, viêm tửcung mạn tính thường gặp trong thời kì cho sữa Hiện tượng chảy mủ ở âm hộ
có thể cho phép nghi viêm nội mạc tử cung
Khi lợn nái mang thai, cổ tử cung sẽ đóng rất chặt vì vậy nếu có mủchảy ra thì có thể là do viêm bàng quang Nếu mủ chảy ở thời kỳ động dục thì
có thể bị nhầm lẫn
Như vậy, việc kiểm tra mủ chảy ra ở âm hộ chỉ có tính chất tương đối
Bệnh viêm vú
* Nguyên nhân gây bệnh viêm vú
Người ta cho biết, khi lợn nái đẻ nếu nuôi không đúng cách, chuồng bẩn
thì các vi khuẩn Mycoplasma, các cầu khuẩn, vi khuẩn đường ruột xâm nhập gây
viêm vú Một trong những nguyên nhân chính gây ra bệnh viêm vú ở lợn nái làthức ăn không phù hợp cho lợn nái, không giảm khẩu phần thức ăn cho lợn náitrước khi đẻ một tuần làm cho lượng sữa tiết ra quá nhiều gây tắc sữa Sau vàingày đẻ mà lợn con không bú hết, sữa lưu là môi trường tốt cho vi
Trang 22khuẩn xâm nhập và gây viêm.
* Triệu chứng
Bình thường bệnh viêm vú xảy ra ngay sau khi đẻ 4 5 giờ cho đến 5
-7 ngày có khi đến một tháng Ngô Nhật Thắng (2006) [1-7], viêm vú thườngxuất hiện ở một vài vú nhưng đôi khi cũng lan ra toàn bộ các vú Vú có màuhồng, sưng đỏ, sờ vào thấy nóng, hơi cứng ấn vào lợn nái có phản ứng đau
Lợn nái giảm ăn, trường hợp nặng thì bỏ ăn, sốt cao 40,5 - 42 oC kéodài trong suốt thời gian viêm, sản lượng sữa giảm, lợn nái thường nằm úp đầu
vú xuống sàn, ít cho con bú Lợn con thiếu sữa kêu la chạy vòng quanh lợn
mẹ đòi bú, lợn con ỉa chảy, xù lông, gầy tọp, tỷ lệ chết cao 30 - 100 % (Theo
Lê Hồng Mận, 2002 [12])
Vắt sữa ở những vú bị viêm thấy sữa loãng, trong sữa có những cặnhoặc cục sữa vón lại, xuất hiện những mảnh cazein màu vàng, xanh lợn cợn,đôi khi có máu
* Hậu quả của bệnh viêm vú
Khi lợn nái bị viêm vú sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sữa, từ đó
sẽ ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng phát triển của lợn con theo mẹ
Mất sữa sau khi đẻ là do kế phát từ bệnh viêm tử cung và viêm vú Do khi
bị viêm cơ thể thường sốt cao liên tục 2 - 3 ngày, nước trong máu và trong môbào bị giảm ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất, nhất là quá trình hấp thuchấtdinh dưỡng trong đường tiêu hóa bị giảm dần dẫn đến mất sữa, khả năng phụchồi chức năng tiết sữa sẽ bị hạn chế thường xảy ra ở lứa đẻ tiếp theo
Bệnh viêm khớp
* Nguyên nhân:
Streptococcus suis là vi khuẩn gram (+), Streptococcus suis gây viêm
khớp lợn cấp và mãn tính ở mọi lứa tuổi Bệnh này thường gây ra trên lợn con
1 - 6 tuần tuổi Vi khuẩn xâm nhập qua đường miệng, rốn, vết thương trên da, đầu gối khi chà sát trên nền chuồng
Trang 23* Triệu chứng:
Lợn đi khập khiễng, khớp chân sưng lên Thường thấy viêm khớp cổ chân,khớp háng và khớp bàn chân Lợn ăn ít, hơi sốt, chân lợn có hiện tượng què, điđứng khó khăn, chỗ khớp viêm tấy đỏ, sưng, sờ nắn vào có phản xạ đau
* Điều trị:
- Vetrimoxin L.A., tiêm bắp 15 mg/ kg P
- Gluco - K - C - Namin: 2 mg/ kg P Tiêm bắp ngày/lần
- Điều trị liên tục trong 3 - 5 ngày
- Ngoài ra hạn chế cho lợn di chuyển đi lại, những tấm đan bị hỏng, kém chất lượng cần phải thay thế
Lợn nái mất sữa sau khi đẻ
* Nguyên nhân:
Theo Nguyễn Đức Lưu và cs (2004) [11], bệnh viêm tử cung và viêm
vú là hai nguyên nhân trực tiếp gây ra sự giảm và mất sữa ở lợn nái nuôi con
Theo Nguyễn Xuân Bình (2000) [2], mất sữa sau khi đẻ là do kế phát từbệnh vêm tử cung và viêm vú Do khi bị viêm cơ thể thường sốt cao liên tục2-3 ngày, nước trong máu và trong mô bào bị giảm ảnh hưởng đến quá trìnhtrao đổi chất, nhất là quá trình hấp thu các chất dinh dưỡng trong đường tiêuhóa bị giảm dần dẫn đến mất sữa, khả năng phục hồi chức năng tiết sữa sẽ bịhạn chế thường xảy ra ở lứa đẻ tiếp theo
Trang 24Sau khi đẻ phải thụt rửa tử cung bằng thuốc tím 0,1%, nước muối 0,9%.Nếu bị viêm tử cung hoặc viêm vú phải điều trị triệt để.
Nếu do kế phát từ các bệnh thì điều trị bằng kháng sinh như: VetrimoxinL.A., oxytetracyclin, ceftifuor đồng thời tiến hành xoa bóp chườm ấm bầuvú
Nếu mất sữa mà bầu vú bị teo lại, cần nhanh chóng ghép con, tiến hànhxoa bóp, chườm ấm bầu vú, tuy nhiên trường hợp này hiệu quả điều trị khôngcao
2.2.4 Một số bệnh thường gặp ở lợn con
Hội chứng tiêu chảy ở lợn con
Theo Trần Đức Hạnh (2013) [7]: Lợn con ở 1 số tỉnh phía bắc mắc tiêuchảy và chết với tỷ lệ trung bình là 31,84 % và 5,37 %, tỷ lệ mắc tiêu chảy vàchết giảm dần theo lứa tuổi, cao nhất ở lợn con giai đoạn từ 21 - 40 ngày(30,97 và 4,93 %) và giảm ở giai đoạn 41 - 46 ngày
Nguyên nhân:
- Do thời tiết khí hậu: các yếu tố nóng, lạnh, mưa, nắng, hanh, ẩm thayđổi thất thường và điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng ảnh hưởng trực tiếp đến cơ thểlợn, nhất là cơ thể lợn con chưa phát triển hoàn chỉnh, các phản ứng thích nghi của
cơ thể
Nguyên nhân gây bệnh phân trắng lợn con chủ yếu là do vệ sinh chuồng trại kém, thức ăn thiếu dinh dưỡng, chăm sóc quản lý không tốt
- Lợn mẹ bị viêm vú, viêm tử cung
- Lợn mẹ ăn không đúng khẩu phần
- Bệnh tiêu chảy trên lợn con do E coli có thể xảy ra ở bất kỳ độ tuổi
theo mẹ nào nhưng thường có hai thời kỳ cao điểm là 0 - 5 ngày tuổi và 7 - 14
ngày tuổi.
Triệu chứng:
Trang 25- Sàn chuồng có phân lợn lỏng, màu vàng hoặc màu trắng
- Trong chuồng có hiện tượng lợn nôn ra sữa
- Người lợn con bị bẩn do dính phân
Hội chứng viêm phổi ở lợn con
Nguyên nhân là do Mycoplasma hyopneumoniae gây ra, bệnh xảy ra trên
lợn con ngay từ khi mới sinh ra, bệnh xâm nhập chủ yếu qua đường hô hấp.Bệnh cũng có thể do điều kiện chăn nuôi vệ sinh chuồng trại kém, thời tiếtthay đổi… do sức đề kháng của lợn giảm Bệnh thường lây lan do nhốt chungvới con nhiễm bệnh Lợn mẹ bị bệnh có thể truyền cho con trong thời gianmang thai
+ Triệu chứng: ở lợn con bệnh có thể xảy ra ngay sau khi sinh Lợn gầycòm lông xù, thở thể bụng có khi ngồi thở, bụng hóp lại Lợn bị bệnh không tranh
bú với các con khác được nên ngày càng gầy yếu hơn, dễ mắc kế phát bệnh viêmkhớp Nếu không điều trị kịp thời tỷ lệ chết rất cao
+ Điều trị: bệnh viêm phổi có thể sử dụng nhiều loại thuốc khác nhau để điều trị, ở trong trại thường sử dụng phác đồ sau để điều trị:
MARTYLAN Martylan: 20 mg/kg P Tiêm bắp ngày/lần
Gluco - K - C - Namin: 2 mg/kg P Tiêm bắp ngày/lần
Trang 26Nếu lợn có biểu hiện ho nhiều, thở gấp thì tiêm:
Triệu chứng: Lợn con đi khập khiễng từ 3 - 4 ngày tuổi, khớp chân sưnglên vào ngày 7 - 15 sau khi sinh nhưng tử vong thường xảy ra lúc 2 - 5 tuầntuổi Thường thấy viêm khớp cổ chân, khớp háng và khớp bàn chân Lợn ăn
ít, hơi sốt, chân lợn có hiện tượng què, đi đứng khó khăn, chỗ khớp viêm tấy
đỏ, sưng, sờ nắn vào có phản xạ đau
2.3 Tổng quan nghiên cứu trong và ngoài nước
2.3.1 Các nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam một số nhà khoa học thú y đã có những nghiên cứu tổng kết
về bệnh sinh sản trên đàn lợn nái Bệnh sinh sản có ảnh hưởng rất lớn đến năng
suất sinh sản của lợn nái, nó không chỉ làm giảm sức sinh sản của lợn nái màcòn có thể làm cho nái mất khả năng sinh sản, chậm sinh hay làm giảm khảnăng sống sót của lợn con
Phạm Sỹ Lăng và cs (2014) [9] thì: Bệnh viêm tử cung do vi khuẩn
Streptococcus và Colibacilus nhiễm qua cuống rốn của lợn con sang lợn mẹ
do đẻ khó, sót nhau, sảy thai hay qua dụng cụ thụ tinh nhân tạo cứng gây xây
xát tạo các ổ viêm nhiễm trong tử cung, âm đạo
Trang 27Người ta cho biết: Ở những nái bị viêm tử cung thường biểu hiện sốttheo quy luật sáng chiều (sáng sốt nhẹ, chiều sốt nặng).
Trần Tiến Dũng và cs (2002) [5] khi gia súc bị bệnh viêm tử cung ở thểviêm cơ, viêm tương mạc thì không nên tiến hành thụt rửa bằng các chất khửtrùng với thể tích lớn Vì khi bị tổn thương nặng, cơ tử cung co bóp yếu, cácchất bẩn không được đẩy ra ngoài, lưu trong đó làm cho bệnh nặng thêm Cáctác giả đề nghị nên dùng oxytoxin kết hợp PGF2α hoặc kết hợp với khángsinh điều trị toàn thân và cục bộ
Theo Phạm Hữu Doanh và cs (2003) [3] cho biết: Trước khi đẻ lau, xoa
vú và tắm cho nái Cho con đẻ đầu tiên bú ngay sau 1 giờ đẻ, cắt răng nanhlợn con Chườm nước đá vào bầu vú để giảm sưng, giảm sốt Tiêm khángsinh: Penicillin 1,5 - 2 triệu đơn vị với 10 ml nước cất tiêm quanh vú Nếunhiều vú bị viêm thì pha loãng liều thuốc trên với 20 ml nước cất, tiêm xungquanh các vú viêm Tiêm trong 3 ngày liên tục
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [5] bệnh viêm đường sinh dục ở lợnchiếm tỷ lệ cao từ 30 - 50%, trong đó viêm cơ quan bên ngoài ít, chiếm tỷ lệ20%, còn lại 80% là viêm tử cung
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [5] cho biết: Viêm tử cung là mộtquá bệnh lý thường xảy ra ở gia súc cái sinh sản sau đẻ Quá trình viêm hủycác tế bào tổ chức của các lớp hay các tầng tử cung gây rối loạn sinh sản ở giasúc cái làm ảnh hưởng lớn, thậm chí làm mất khả năng sinh sản ở gia súc cái
Nguyên nhân chính dẫn đến bệnh viêm tử cung của nái là do: Thiếu vềdinh dưỡng, chăm sóc, quản lý, vệ sinh, tiểu khí hậu chuồng nuôi, tuổi, lứa đẻ,tình trạng sức khỏe, kích dục tố, nhiễm trùng sau khi sinh Từ những yếu tố đó ta
có thể đề ra phương pháp phòng bệnh viêm tử cung Do nhiễm vi khuẩn
Staphylococcus, Streptococcus vì các nguyên nhân như lợn con có răng nanh làm
xây xát vú mẹ tạo điều kiện vi trùng xâm nhập Lợn nái nhiều sữa con bú không
Trang 28hết làm sữa ứ đọng nhiều tạo môi trường cho vi trùng sinh sản gây viêm vú.Lợn nái cho con bú một hàng vú, hàng còn lại căng sữa quá nên viêm.
Các nghiên cứu của A.V.Trekaxova (1983) [20] về chữa bệnh viêm vúcho lợn nái hướng vào việc đưa ra các phương pháp chữa kết hợp DùngNovocain phong bế phối hợp với điều trị bằng kháng sinh cho kết quả tốt Đểphong bế thần kinh tuyến sữa, tác giả đã dùng dung dịch Novocain 0,5 % liều
từ 30 - 40 ml cho mỗi túi vú Thuốc tiêm vào mỗi thuỳ vú bệnh, sâu 88 - 10
cm Dung dịch Novocain còn được bổ sung 100 - 200 ngàn đơn vị Penicillinhay kháng sinh khác Đồng thời, lợn nái còn được tiêm bắp cùng một loạikháng sinh trong Novocain này, từ 400 - 600 đơn vị, mỗi ngày 2 - 3 lần
Ở Pháp các tác giả Pierre Brouillt và Bernarrd Farouilt (2003) [21] đãnghiên cứu và kết luận: Điều trị bệnh viêm vú trong thời kỳ cho sữa là mộtyếu tố cơ bản trong khống chế bệnh viêm vú Nó phải được tiến hành sớm vàđạt kết quả, xác định nguyên nhân không chỉ dựa vào triệu chứng lâm sàng
mà phải tính đến các chỉ tiêu chăn nuôi và có thể dựa vào các kết quả của 30phòng thí nghiệm Sự hiểu biết đầy đủ các phương pháp điều trị, nhất là vềdược lực học và dược động học cho phép đáp ứng tốt hơn cách điều trị
2.3.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Hiện nay, ngành chăn nuôi lợn trên thế giới đang rất phát triển, cácnước không ngừng đầu tư cải tạo chất lượng đàn giống và áp dụng các biệnpháp khoa học kỹ thuật tiên tiến nhằm nâng cao năng suất chăn nuôi Tuynhiên vấn đề hạn chế bệnh sinh sản là một vấn đề tất yếu cần phải giải quyết,đặc biệt là bệnh viêm đường sinh dục Đã có rất nhiều nhà khoa học nghiêncứu về bệnh viêm đường sinh dục và đã đưa ra các kết luận giúp cho ngườichăn nuôi lợn nái sinh sản hạn chế được bệnh này Tuy vậy, tỷ lệ mắc bệnhviêm đường sinh dục trên đàn lợn nái sinh sản vẫn rất cao
Trang 29Do đó theo Smith (1995) [22], Taylor (1995) [23] tăng cường vệ sinhchuồng trại, vệ sinh thân thể lợn nái là yếu tố quan trọng trong việc phòngngừa nhiễm trùng sau khi sinh Winson khi mổ khám những lợn vô sinh đãxác định được nguyên nhân do cơ quan sinh sản là 52,5 %, lợn nái đẻ lứa đầu
là 32,1 %, lợn nái cơ bản có những biến đổi bệnh lý: Viêm vòi tử cung có mủ
Theo Urban V.P., SchnurV.I., Grechukhin A.N (1983) [24], các vikhuẩn gây nhiễm trùng tử cung có nguồn gốc từ nước tiểu, các tác giả đã phânlập vi khuẩn từ mẫu nước tiểu lợn nái sắp sinh thường có chứa các vi khuẩn
E.coli, Staphylococcus aureus, Streptococcus spp Tuy nhiên, các nghiên cứu
của các tác giả khác lại ghi nhận các vi khuẩn gây nhiễm trùng tử cung là các
vi khuẩn cơ hội thuộc nhóm vi sinh vật hiếu khí có mặt ở nền chuồng, lúc lợnnái sinh cổ tử cung mở, vi khuẩn xâm nhập và gây bệnh Do đó tăng cường vệ sinhchuồng trại, vệ sinh thân thể lợn nái là yếu tố quan trọng trong việc phòng ngừanhiễm trùng sau khi sinh
Trang 30PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH
3.1 Đối tượng thực hiện
- Đàn lợn nái sinh sản nuôi tại Công Ty TNHH Bảo Lộc (trại Bảy Tuân) tại Thôn Tiên Lữ, Xã Tiên Phương, Huyện Chương Mỹ TP Hà Nội
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành
- Địa điểm: Trang trại Bảy Tuân, xã Tiên Phương, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội
- Thời gian tiến hành: từ ngày 28/05/2020 đến ngày 28/11/2020
3.3 Nội dung tiến hành
- Đánh giá tình hình chăn nuôi tại trang trại Bảy Tuân, huyện Chương
Mỹ, thành phố Hà Nội
- Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng đàn lợn nái sinh sản của trại
- Thực hiện quy trình phòng và trị bệnh cho đàn lợn nái tại trại
- Thực hiện một số công tác khác tại trại
3.4 Các chỉ tiêu và phương pháp thực hiện
3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi và thu thập thông tin
- Tình hình chăn nuôi lợn tại tại trang trại Bảy Tuân, huyện Chương
Mỹ, thành phố Hà Nội qua các năm 2018 - 2020
- Khối lượng công việc về chăm sóc nuôi dưỡng đàn lợn
- Theo dõi một số chỉ tiêu sinh sản của đàn lợn nái của trại
- Thực hiện vệ sinh phòng bệnh cho đàn lợn nái sinh sản tại trại
- Thực hiện công việc về chẩn đoán và điều trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản tại trại
- Thực hiện các thao tác trên lợn con tại trại
- Chăm sóc và nuôi dưỡng lợn con mới sinh
- Thực hiện quy trình phòng bệnh cho lợn con từ sơ sinh đến lúc cai sữatại trại
- Thực hiện công việc về chẩn đoán và điều trị bệnh cho đàn lợn con tại trại.
Trang 313.4.2.2 Quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc đàn lợn của trại
Bảng 3.1 Chế độ ăn cho đàn lợn tại trại
Lợn nái chửa được chuyển lên chuồng đẻ trước ngày đẻ dự kiến 7 - 10ngày Trước khi chuyển lợn lên chuồng đẻ, chuồng phải được dọn dẹp và rửasạch sẽ Lợn chuyển lên phải được ghi đầy đủ thông tin lên bảng ở đầu mỗi ôchuồng Thức ăn của lợn chờ đẻ được cho ăn với tiêu chuẩn ăn 3 kg/ngày,chia làm 2 bữa sáng, chiều