i BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC DUY TÂN TRẦN THỊ NGỌC BÍCH QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG TMCP SÀI GÒN THƯƠNG TÍN – CHI NHÁNH QUẢNG BÌNH LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH NĂM 2021 MỤC LỤC 1PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ 1 Tính cấp thiết của đề tài 1 2 Mục tiêu nghiên cứu 3 2 1 Mục tiêu hung 3 2 2 Mục tiêu cụ thể 3 3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3 3 1 Đối tượng nghiên cứu 3 4 Phương pháp nghiên cứu 4 4 2 Phương pháp tổng hợp và phân tích 5 4 3 Một số.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC DUY TÂN
TRẦN THỊ NGỌC BÍCH
QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG TMCP SÀI GÒN THƯƠNG TÍN – CHI NHÁNH QUẢNG BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
NĂM 2021
Trang 2MỤC LỤC
Trang 3DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH ẢNH
Sơ đồ 1.2: Quy trình tín dụng tại các NHTM Error: Reference source not found
Bảng 2.1: Tình hình nhân sự tại Sacombank chi nhánh Quảng Bình từ năm 2017 –2019 Error: Reference source not foundBảng 2.2: Tình hình tài sản - nguồn vốn của Chi nhánh, giai đoạn 2017 – 2019 Error: Reference source not foundBảng 2.3: Kết quả kinh doanh của Ngân hàng Sacombank – Chi nhánh Quảng Bình,giai đoạn 2017 - 2019 Error: Reference source not foundBảng 2.4: Tình hình về tín dụng của Chi nhánh, giai đoạn 2017 - 2019 Error:Reference source not found
Bảng 2.5: Tình hình cho vay tín dụng đối với KHCN giai đoạn 2017-2019 Error:Reference source not found
Bảng 2.6: Tình hình thu nợ đối với khách hàng cá nhân .Error: Reference source notfound
Bảng 2.7: Nợ quá hạn đối với khách hàng cá nhân tại Sacombank CN Quảng Bình Error: Reference source not foundBảng 2.8: Nợ xấu Khách hàng cá nhân năm 2017-2019 .Error: Reference source notfound
Trang 4PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản trị rủi ro tín dụng trongNHTM Chương 2: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng KHCN tại Ngân hàngTMCP Sài Gòn Thương Tín - Chi nhánh Quảng Bình
Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện công tác quản trị rủi rotín dụng KHCN tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín - Chi nhánh QuảngBình
PHẦN III: KẾTLUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Trang 5PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hệ thống Ngân hàng thương mại (NHTM) ở nước ta đang trong quá trình đổimới để bắt kịp với xu thế hội nhập và phát triển của nền kinh tế và thực tế cho thấycác ngân hàng đã thực sự là ngành tiên phong trong quá trình đổi mới cơ chế kinh
tế Đặc biệt trong những năm qua, hoạt động của các NHTM nước ta đã góp phầntích cực huy động vốn, mở rộng vốn đầu tư cho lĩnh vực sản xuất phát triển, tạođiều kiện thu hút vốn nước ngoài để tăng trưởng kinh tế trong nước Đồng thời,ngân hàng là công cụ điều tiết nền kinh tế và là công cụ đắc lực hỗ trợ cho Nhànước trong việc kiềm chế, đẩy lùi lạm phát, ổn định giá cả Cùng với quá trình đóvấn đề rủi ro tín dụng ngân hàng cũng đang diễn ra hết sức phức tạp, gây ra nhữngtác động to lớn không thể lường hết được cho nền kinh tế nói chung và hệ thốngNHTM nói riêng NHTM nói riêng
Thực tiễn hoạt động của các NHTM Việt Nam trong hơn 20 năm đổi mới vừaqua, đã cho thấy tình trạng khó khăn về tài chính của một ngân hàng thường phátsinh từ những khoản cấp tín dụng khó đòi, điển hình như: việc đổ vỡ hàng loạt quỹtín dụng, NHTM của những năm 1989-1990, việc đặt một số NHTM vào tình trạnggiám sát đặc biệt những năm 1999-2000, hay những vụ án lớn và việc tiến hành xử
lý một khối lượng nợ tồnđọng khá lớn của các NHTM nước ngoài từ năm 2000 trở
về trước đã chứngminh rất rõ điều này Trong giai đoạn từ năm 2010 đến nay thìviệc sát nhập ngân hàng diễn ra mạnh, đặc biệt giai đoạn từ năm 2010 đến 2015 đốivới các ngân hàng yếu, sở hữu chéo giữa các nhóm lợi ích, các ngân hàng có nợ quáhạn, nợ xấu cao Đã dẫn đến tình trạng phải sáp nhập giữa các ngân hàng yếu vàocác ngân hàng mạnh như: Hợp nhất ba ngân hàng TMCP Sài Gòn (SCB), Việt NamTín Nghĩa (TinNghiaBank), Đệ Nhất (Ficombank) thành ngân hàng SCB; sáp nhậpngân hàng ĐạiABank và HDBank; Ngân hàng TMCP Phương Nam (Southen Bank)sáp nhập vào ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank)… Bên cạnh đó,nhiều ngân hàng được Ngân hàng nhà nước đưa vào diện kiểm soát đặc biệt như:
Trang 6Dongabank, Ngân hàng xây dựng…… Đặc biệt trong năm 2013 với sự vàocuộc quyết liệt của Chính phủ, Ngân hàng nhà nước đã quyết định thành lập Công
ty TNHH MTV Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (Viết tắt: VAMC)
để mua nợ xấu, thu hồi nợ… tại các ngân hàng, nhằm xử lý các khoản nợ xấu, nợmất vốn để đảm bảo an toàn vốn của toàn hệ thống ngân hàng
Nhìn vào kết cấu tài sản của các Ngân hàng Thương mại Việt Nam chúng tanhận thấy: tài sản sinh lời là các khoản cấp tín dụng luôn chiếm tỷ trọng khá lớn60%-70% tài sản có, thậm chí có một số Ngân hàng Thương mai tỷ lệ này lên đến80% Chính vì vậy, tín dụng luôn được đánh giá là một trong các loại nghiệp vụngân hàng phức tạp và có độ rủi ro cao và vấn đề quản trị rủi ro tín dụng là vấn đềluôn được các Ngân hàng Thương mại Việt Nam quan tâm hàng đầu Cùng với sựphát triển nhanh chóng của nền kinh tế, cách mạng 4.0, quá trình toàn cầu hóa củanền kinh tế dẫn đến nhu cầu giao dịch cá nhân trong nước và quốc tế ngày càng mởrộng, đây chính là điều kiện và cơ hội cho các ngân hàng thương mai khai thác thịtrường tiềm năng lớn cho vay khách hàng cá nhân
Mặc dù, số tiền vay của mỗi cá nhân nhỏ hơn nhiều so với doanhnghiệp,nhưng do qui mô số lượng khách hàng cá nhân lớn nên tổng số tiền của cánhân lớn và được phân tán bởi các món vay nhỏ lẻ, chi phí quản lý cao, địa bàn chovay rộng, vậy, mức độ rủi ro đối với tín dụng cá nhân luôn tiềm ẩn và là thách thứclớn đối với các tổ chức tín dụng ngân hàng
Chi nhánh Quảng Bình thì tỷ lệ khách hàng cá nhân chiếm đến gần hơn 50%cho vay, là nhóm khách hàng đóng vai trò quan trọng tạo ra nguồn lợi nhuận chongân hàng hoạt động Song, trong thực tế tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn ThươngTín, Chi nhánh Quảng Bình, Chi nhánh Quảng Bình cho thấy việc cho vay kháchhàng cá nhân luôn tiềm ẩn rủi ro, mặc dù Ngân hàng đã có những chính sách, quytrình, quy định nhằm kiểm soát và quản trị rủi ro, nhưng nợ xấu, nợ quá hạn đối vớikhách hàng cá nhân vẫn liên tục tăng qua các năm
Từ ý nghĩa có tính lý luận và thực tiễn, cũng như nhận thức được vai trò quan
trọng của công tác quản trị rủi ro tín dụng, tôi đã chọn đề tài luận văn: “Quản trị
Trang 7rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín, Chi nhánh Quảng Bình" làm đề tài nghiên cứu Luận văn thạc sĩ kinh tế
2.Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu hung
Từ nghiên cứu lý luận và đánh giá thực trạng, Luận văn nhằm đề xuất một sốgiải pháp góp phần hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tín dụng khách hàng cá nhântại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín - Chi nhánh Quảng Bình
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tín dụngkhách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín - Chi nhánh QuảngBình
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Quản trị rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân tại Ngân
hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín - Chi nhánh Quảng Bình
- Đối tượng điều tra: CBNV và Cán bộ hội sở làm việc tại Ngân hàng liên
quan đến công tác cho vay và kiểm soát cho vay
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung: Đề tài nghiên cứu quản trị rủi ro tín dụng khách hàng cá
nhân tại Ngân hàng
- Phạm vi không gian: Tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín - Chi nhánh
Quảng Bình
Trang 8- Phạm vi thời gian: Số liệu thứ cấp thu thập để đánh giá thực trạng công tác
quản trị rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn ThươngTín - Chi nhánh Quảng Bình giai đoạn 2017 - 2019
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp thu thập thông tin, số liệu
- Thu thập số liệu, thông tin thứ cấp
+Hệ thống văn bản pháp luật, các qui định, qui chế và các văn bản của Ngânhàng và các ban ngành liên quan đến tín dụng và rủi ro tín dụng
+Số liệu bảng Cân đối kế toán, kết quả hoạt động kinh doanh và các báo cáoliên quan khác
+Các nội dung lý thuyết liên quan rủi ro tín dụng và các thông tin cần thiếtkhác
Từ các website, sách, báo, tạp chí nội bộ, giáo trình, khóa luận, chuyên đề…
có liên quan ở trong nước và quốc tế và các nguồn khác
- Nguồn thu thập sơ cấp:
+ Khảo sát ý kiến của 58 cán bộ gồm Quản lý khách hàng/ Trưởng phòng/Ban Giám Đốc/ Giám Đốc phòng giao dịch và Cán bộ hội sở làm việc tại Ngânhàng bằng các phiếu khảo sát
Dựa trên kết quả tổng hợp tài liệu, phiếu khảo sát ý kiến được xây dựng để thuthập ý kiến quản lý khách hàngcủa Sacombank Chi nhánh Quảng Bình Phiếu khảosát được xây dựng gồm các phần sau: Bảng 1 Câu hỏi được thiết kết nhằm đánh giácủa quản lý khách hàng về quản trịrủi ro, Bảng 2 được thiết kết với các câu hỏi vềnguyên nhân của rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân và phần cuối cùng của bảnghỏi là các câu hỏi nhằm đánh giá công tác quản trị rủi ro tín dụng KHCN tạiSacombank Chi nhánh Quảng Bình
Đối tượng khảo sát được lựa chọn từ toàn thể Quản lý khách hàng từ cán bộlãnh đạo đến nhân viên: Trưởng phó phòng và nhân viên của của các phòng Kháchhàng cá nhân, phòng Khách hàng doanh nghiệp, 2 phòng Giao dịch, Bộ phận hỗ trợGiao dịch tín dụng tại Sacombank Chi nhánh Quảng Bình và Cán bộ hội sở làm
Trang 9việc tại chi nhánh theo hình thức phát phiếu điều tra trực tiếp và thu hồi phiếu saukhi hoàn thành.
sự biến động và xu thế của hiện tượng nghiên cứu theo thời gian
+ Phương pháp thống kê mô tả: Được vận dụng qua các công đoạn phân tích
và xử lý số liệu
4.3 Một số phương pháp khác
Phương pháp chuyên gia chuyên khảo, phương pháp phân tích kinh tế
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần đặt vấn đề và kết luận, nội dung chính của Luận văn được kết cấugồm 3 chương như sau:
Trang 10PHẦN II NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 1:CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN
DỤNG KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TRONG CÁC NHTM
1.1 Tín dụng và rủi ro tín dụng trong Ngân hàng thương mại
1.1.1 Tín dụng của Ngân hàng thương mại
1.1.1.1 Khái niệm tín dụng
Tín dụng (TD) là một phạm trù kinh tế, ra đời, tồn tại và phát triển cùng với sựphát triển của nền sản xuất và lưu thông hàng hóa Mặc dù, hoạt động tín dụng rađời từ rất lâu nhưng cho đến nay người ta vẫn chưa thống nhất khi định nghĩa đầy
đủ về tín dụng
Khái niệm “tín dụng” có nguồn gốc từ thuật ngữ Latinh “credittum” có nghĩa
là sự tin tưởng, tín nhiệm Hiểu một cách nôm na thì tín dụng là sự vay mượn giữa hàng hoá) giữa bên cho vay (ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi hai bên (bên cho vay và bên vay)
Mặc khác, Tín dụng có thể được hiểu là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thoả thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán.
Theo quan niệm của các nhà nghiên cứu kinh tế, tín dụng được coi là mộtquan hệ vay mượn lẫn nhau giữa người cho vay và người đi vay với điều kiện có
hoàn trả cả vốn lẫn lãi sau một thời gian nhất định Hay nói một cách khác “Tín
dụng là một phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ kinh tế mà trong đó mỗi cá nhân hay tổ chức nhường quyền sử dụng (chuyển nhượng) một khối lượng giá trị hoặc hiện vật cho một cá nhân hay tổ chức khác với những ràng buộc nhất định về:
số tiền hoàn trả (gốc và lãi), thời gian hoàn trả, lãi suất, cách thức vay mượn và thu hồi…”
Trang 11Theo Luật các Tổ chức tín dụng (TCTD) được sửa đổi bổ sung năm 2010 doQuốc hội Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ban hành có quy định cụ thể
về Cấp tín dụng của TCTD như sau: “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá
nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”
Hoạt động tín dụng là việc tổ chức tín dụng sử dụng nguồn vốn tự có, vốn huyđộng để cấp tín dụng
Cấp tín dụng là việc các tổ chức tín dụng thỏa thuận để khách hàng sử dụngmột khoản tiền với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu,cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các dịch vụ khác Hoạt động chuyểnnhượng sử dụng vốn này kèm theo chi phí và phát sinh rủi ro
Như vậy, Tín dụng ngân hàng mang bản chất chung của quan hệ tín dụng Đó
là quan hệ tin cậy lẫn nhau trong việc vay và cho vay giữa các ngân hàng, cácTCTD với các doanh nghiệp và cá nhân, được thực hiện theo nguyên tắc hoàn trả và
có lãi
1.1.1.2 Phân loại tín dụng
Căn cứ vào các cách tiếp cận cũng như các tiêu chí khác nhau và tùy thuộc vàoyêu cầu quản lý của từng TCTD mà tín dụng có thể phân loại theo nhiều cách khácnhau Theo những tiêu chí và cách tiếp cận cơ bản nhất chúng ta có thể phân loại tíndụng của các TCTD theo các cách sau:
- Phân loại theo thời gian cho vay (thời hạn cấp tín dụng):
Thời hạn tín dụng được tính từ thời điểm cấp tín dụng (Khách hàng đượcnhận vốn/bảo lãnh có hiệu lực) đến thời điểm tất toán khoản cấp tín dụng đó (Kháchhàng phải hoàn trả toàn bộ gốc và lãi từ số tiền được vay được quy định trong Hợpđồng tín dụng/thời hạn bảo lãnh hết hiệu lực được ghi trong thư bảo lãnh)
+Tín dụng ngắn hạn: Là các khoản tín dụng có thời hạn từ 12 tháng trở xuống.
Các khoản tín dụng này thường được cấp cho khách hàng có nhu cầu bổ sung vốnlưu động trong kinh doanh hoặc nhu cầu tiêu dùng trong thời gian ngắn
Trang 12+Tín dụng trung hạn: Là các khoản tín dụng này thường được cấp có thời hạn
từ trên 12 tháng đến 60 tháng cho khách hàng có nhu cầu đầu tư, cải tạo, sửa chữatài sản cố định, mở rộng sản xuất kinh doanh có thời gian thu hồi vốn nhanh Cácnhu cầu tiêu dùng trung hạn có nguồn trả dần từ thu nhập nhưng không quá dài nhưmua sắm ô tô, du học
+Tín dụng dài hạn: Theo quy định của NHNN Việt Nam là các khoản tín dụng
có thời hạn từ trên 60 tháng trở lên Các khoản tín dụng này thường được cấp chokhách hàng để đầu tư các tài sản cố định có thời gian sử dụng dài, thời gian thu hồivốn trên 60 tháng, có giá trị lớn phục vụ sản xuất kinh doanh như nhà xưởng, tàu
biển, máy móc thiết bị ; nhu cầu tiêu dùng có giá trị lớn, thời gian trả nợ dài cho
các doanh nghiệp để họ tiến hành sản xuất và kinh doanh như mua sắm nhà cửa
- Phân loại theo mục đích của tín dụng:
Theo tiêu thức này, tín dụng có thể phân chia thành các loại sau:
+ Tín dụng sản xuất và lưu thông hàng hóa: Là loại tín dụng được cung cấp + Tín dụng tiêu dùng: Là loại tín dụng được cấp phát cho cả nhân để đáp ứng
nhu cầu tiêu dùng Loại tín dụng này thường được dùng để mua sắm nhà của, xe cộ,các thiết bị gia đình… Tín dụng tiêu dùng ngày càng có xu hướng tăng lên
- Phân loại dựa vào mức độ tín nhiệm đối với khách hàng
+ Cho vay không có bảo đảm: là tín dụng không có tài sản cầm cố, thế chấphay không có bảo lãnh của người thứ ba
+ Cho vay có bảo đảm: là tín dụng có tài sản cầm cố, thế chấp hoặc có bảolãnh của người thứ ba
1.1.1.3 Các phương thức tín dụng
- Cho vay từng lần: Mỗi lần vay vốn, khách hàng và TCTD làm thủ tục vay
vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng
- Cho vay theo hạn mức tín dụng: TCTD và khách hàng xác định và thỏa
thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong thời hạn nhất định hoặc theo chu kỳ sảnxuất kinh doanh
Trang 13- Cho vay theo dự án đầu tư: TCTD cho khách hàng vay vốn để thực hiện các
dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, các dự án đầu tư phục vụ đời
sống
- Cho vay hợp vốn: Một nhóm TCTD cùng cho vay đối với một dự án hoặc
phương án vay vốn của khách hàng Trong đó có một TCTD làm đầu mối dàn xếp,phối hợp với TCTD khác Việc cho vay hợp vốn thực hiện theo quy định của cơ chếnày và quy chế đồng tài trợ của TCTD do Thống đốc NHNN ban hành
- Cho vay trả góp: Khi vay vốn, TCTD và khách hàng xác định, thỏa thuận số
lãi tiền vay phải trả cộng với số nợ gốc được chia ra để trả nợ theo nhiều kỳ hạntrong thời gian cho vay
- Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: TCTD cam kết đảm bảo sẵn sàng
cho khách hàng vay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng nhất định TCTD vàkhách hàng thỏa thuận thời hạn hiệu lực của hạn mức tín dụng dự phòng, mức phítrả cho hạn mức tín dụng dự phòng
- Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng
khách hàng chi vượt trên tài khoản thanh toán của khách hàng để chi tiêu chocác hoạt động mà pháp luật không cấm
- Cho vay mở L/C thanh toán hàng nhập khẩu
- Cho vay có bảo đảm bằng số dư tài khoản tiền gửi, sổ tiết kiệm hoặc giấy tờ
có giá do các TCTD phát hành
- Các phương thức cho vay khác mà pháp luật không cấm, phù hợp với quy
định, điều kiện hoạt động kinh doanh của TCTD và đặc điểm của khách hàng vay
1.1.2 Rủi ro tín dụng trong các Ngân hàng thương mại
Rủi ro tín dụng (RRTD) được hiểu là những rủi ro do khách hàng vay khôngthực hiện đúng các điều khoản hợp đồng tín dụng, với biểu hiện cụ thể là kháchhàng chậm trả nợ, trả nợ không đầy đủ hoặc không trả nợ khi đến hạn các khoảngốc và lãi, gây ra những tổn thất về tài chính và hoạt động kinh doanh của NHTM
Quan điểm của A Saunder và H.Langge thì: “Rủi ro tín dụng là khoản lỗ tiềm
tàng khi ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng, nghĩa là khả năng luồng thu
Trang 14nhập dự tính mang lại từ khoản cho vay của ngan hàng không thể thực hiện đầy đủ
về cả số lượng và thời gian” Rủi ro tín dụng theo định nghĩa của Uỷ ban Basle
thuộc Ngân hàng Thanh toán Quốc tế là: “Rủi ro tín dụng là khả năng mà khách
hàng vay hoặc bên đối tác không thực hiện được các nghĩa vụ của mình theo những điều khoản đã thoả thuận”; cũng theo Uỷ ban này, một định nghĩa khác có thể nêu
ra là “Rủi ro thất thoát đối với một ngân hàng là sự vỡ nợ của người giao ước trong
hợp đồng”, trong đó sự vỡ nợ được xác định là bất kỳ sự vi phạm nghiêm trọng nào đối với nghĩa vụ hợp đồng khi hoàn trả gốc và/hoặc lãi”.
Theo Joel Bessis đưa ra khái niệm về RRTD trong cuốn Quản trị rủi ro trong
ngân hàng: “Rủi ro tín dụng là rủi ro quan trọng nhất trong ngân hàng Đó là rủi ro
đối tác sẽ vi phạm nghĩa vụ trả nợ Theo các quy định, RRTD chia thành một vài thành phần: rủi ro vỡ nợ; rủi ro giảm uy tín; rủi ro nguy cơnguy cơ, tức là sự bất trắc về giá trị tương lai của khoản tiền có thể thua lỗ vào thời điểm vỡ nợ chưa biết; thua lỗ do vỡ nợ thường ít hơn lượng tiền phải trả bởi vì sự hồi phục nhờ đảm bảo hay thế chấp của bên thứ ba; rủi ro đối tác là hình thức RRTD cụ thể xuất phát
từ phái sinh, có thể chuyển đổi từ đối tác này sang đối tác khác”.
Theo Điều 3, Thông tư 02/2013/TT-NHNN của Thống đốc NHNN thì: “RRTD
trong hoạt động ngân hàng là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nứớc ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện mộtphần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết” Như vậy, đứng trên nhiều góc độ khác nhau để nhìn nhận thì RRTD có thểđược diễn đạt dướicáchình thức khác nhau, song các khái niệm, các quan điểm đều
tựu chung về bản chất của rủi ro tín dụng đó là: Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra
tổn thất, thiệt hại về kinh tế mà tổ chức tín dụng phải gánh chịu do khách hàng vayvốn không thực hiện nghĩa vụ hoàn trả nợ gốc và lãi hoặc hoàn trả không đúnghạn,
1.1.2.2 Các yếu tố rủi ro
Rủi ro gồm 03 yếu tố:
Trang 15- Xác suất xảy ra (Probability): khả năng có thể xảy ra trong một thời gian
nhất định Bản chất của rủi ro là không chắc chắn, nếu chắc chắn (xác suất bằng 0%hoặc 100%) thì không gọi là rủi ro
- Khả năng ảnh hưởng đến đối tượng (Impacts on objectives): Có những rủi ro
có thể mang lại những tổn thất về mặt tài chính khá lớn nhưng ngược lại, cũng cónhững rủi ro có mức độ nghiêm trọng là nhỏ Để đo lường mức độ nghiêm trọngcủa rủi ro, người ta thường cố gắng lượng hóa bằng tiền và sử dụng một đơn vị tiền
tệ nhất định nào đó
- Thời lượng ảnh hưởng (Duration): rủi ro xảy ra có thể chỉ ảnh hưởng thức
thời tại thời điểm xảy ra rủi ro, cũng có thể ảnh hưởng trong suốt thời gian dài sauđó
1.1.2.3 Phân loại rủi ro tín dụng
Tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu có nhiều cách phân loại rủi ro tín dụngchức nhằm bảo đảm nhận biết đầy đủ các yếu tố làm phát sinh rủi ro và phân biệtkhác nhau theo các tiêu chí phân loại khác nhau Đối với ngân hàng, việc phân loại
có ý nghĩa rất quan trọng trong việc thiết kế chính sách, quy trình, thủ tục và môhình tổ trách nhiệm rõ rang giữa các bộ phận, giữa các khâu Căn cứ vào các tiêuthức khác nhau, rủi ro tín dụng có thể phân chia thành nhiều loại khác nhau nhưsau:
* Theo tiêu chí khách hàng, có 3 nhóm chính là:
- Rủi ro khách àng cá thể
- Rủi ro tổ chức kinh tế
- Rủi ro quốc gia hay khu vực địa lý
* Theo tiêu chí giai đoạn phát sinh rủi ro, có 3 loại:
- Rủi ro trước khi cho vay: Là loại rủi ro xảy ra trong quá trình thẩm định,đánh giá khách hàng
- Rủi ro trong khi cho vay: Là loại rủi ro xảy ra trong quá trình giải ngân, tác
nghiệp như giải ngân sai mục đích làm cho khoản vay không phát huy hiệu quả…
Trang 16- Rủi ro sau khi cho vay: Là loại rủi ro xảy ra trong quá trình theo dõi khoản
vay, thu nợ
*Theo tiêu chí sản phẩm, có 2 loại sau:
- Rủi ro các sản phẩm nội bảng: cho vay, thấu chi
- Rủi ro các sản phẩm ngoại bảng: chiết khấu, thư tín dụng, bảo lãnh
*Theo tiêu chí tính chất của rủi ro: có 2 loại:
- Rủi ro do nguyên nhân khách quan như thiên tai, địch họa…
- Rủi ro do nguyên nhân chủ quan như người vay hoặc người cho vay vô tìnhhoặc cố ý làm cho thất thoát vốn vay…
1.1.2.4 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng
Có 04 nguyên nhân cơ bản gây ra rủi ro tín dụng: Nguyên nhân khách quan từbên ngoài (từ phía nền kinh tế và quản lý Nhà nước), nguyên nhân chủ quan từ phíaNHTM, nguyên nhân từ phía khách hàng và từ các bảo đảm tín dụng tạo nên
Nguyên hân khách quan
- Môi trường bên ngoài
+ Do tình hình kinh tế, chính trị, xã hội trong nước
Tình hình kinh tế, chính trị, xã hội sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ hoạt động củamọi đối tượng tham gia vào nền kinh tế đó Kinh tế bị suy thoái, lạm phát sẽ khiếncho DN vay vốn gặp khó khăn, phá sản, không trả nợ được cho ngân hàng; còn cánhân vay vốn sẽ bị thất nghiệp, thu nhập sụt giảm nên cũng khó có khả năng trả nợcho ngân hàng
Việc thay đổi chính sách của quốc gia hay nền kinh tế khủng hoảng, đất nước
có chiến tranh, thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn cũng làm cho các cá nhân, DNkhông kịp thay đổi, thích ứng với những điều kiện mới về môi trường kinh doanh,môi trường sống, từ đó gặp khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh và nhưvậy khoản tín dụng của ngân hàng cũng chứa đựng nhiều rủi ro
+ Do tình hình kinh tế, chính trị thế giới
Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, mọi tình hình biến động về kinh tế, chínhtrị ở bất cứ quốc gia nào, khu vực nào đều ảnh hưởng nhất định đến nền kinh tế của
Trang 17các nước khác trên thế giới, từ đó làm gia tăng nguy cơ rủi ro tín dụng của ngânhàng.
- Tài sản bảo đảm
+ Do giá cả biến động
+ Tài sản bảo đảm có tính khả mại thấp; Tài sản đảm bảo khó định giá; Tài sảnbảo đảm có sự tranh chấp về mặt pháp lý; Tài sản giảm giá trị, thay đổi hiện trạng…
- Nguyên nhân từ phía khách hàng
+Sử dụng vốn sai mục đích, không có thiện chí trong việc trả nợ vay
+Do kinh doanh thua lỗ liên tục, hàng hóa không tiêu thụ được
+Quản lý vốn vay không hợp lý dẫn đến thiếu khả năng thanh khoản
Khách hàng cố tình lừa đảo, chiếm đoạt vốn ngân hàng…
- Nguyên nhân chủ quan
- Rủi ro do các nguyên nhân từ phía ngân hàng cho vay
Xuất phát từ cán bộ quản lý, cán bộ tín dụng, chuyên viên QLKH:
+ Cán bộ vi phạm đạo đức kinh doanh Đạo đức của cán bộ tín dụng là mộttrong những yếu tố quan trọng để giải quyết vấn đề hạn chế rủi ro tín dụng.Một cán bộ hạn chế về năng lực có thể được bồi dưỡng, nhưng một cán bộ chưa đạtđược chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp cần thiết mà lại giỏi về mặt nghiệp vụ thì thật
sự nguy hiểm khi được bố trí trong công tác tín dụng
+ Do cán bộ ngân hàng yếu kém về trình độ chuyên môn nghiệp vụ, khôngthấy được năng lực của khách hàng, không thẩm định kỹ về khách hàng trước khicho vay dẫn đến việc cho vay khống, cho vay không đúng mục đích, thẩm định dự
án đầu tư, phương án kinh doanh không chính xác
+ Cán bộ tín dụng không tuân thủ chính sách tín dụng, không chấp hành đúngquy trình cho vay Định giá tài sản không đảm bảo, không chính xác hoặc khôngthực hiện đầy đủ thủ tục pháp lý cần thiết Bên cạnh vấn đề đạo đức, năng lực, trình
độ, kinh nghiệm của một bộ phận cán bộ tín dụng hiện nay chưa đáp ứng nhu cầucông việc
Trang 18Xuất phát từ chính sách, quy trình tín dụng và sự vận dụng chính sách, quy trình tín dụng chưa nghiêm túc:
+Chính sách tín dụng không hợp lý, quá nhấn mạnh vào lợi nhuận ngân hàngnên khi cho vay quá chú trọng về lợi tức Hiện nay, chính sách tín dụng của cácNHTM phần lớn đều chưa đạt tầm chiến lược,chưa theo nguyên tắc thị trường, thậmchí còn bị cuốn theo phong trào, khẩu hiệu và theo chủ nghĩa thành tích
+Các NHTM hầu như chưa xây dựng được chính sách tín dụng khoa học, phùhợp thể hiện được quan điểm và chiến lược riêng
+Ngoài ra, các NHTM không có chiến lược phát triển rõ nét hay nói cách khácchưa quản trị về danh mục, cho vay tập trung quá nhiều vào một lĩnh vực theo lĩnhvực sở trường
+Chính sách tín dụng với vấn đề lãi suất vẫn còn khá nhiều bất cập
+Mô hình thích hợp cho việc lượng hóa mức độ rủi ro của khách hàng để từ
đó xác định phần bù rủi ro và giới hạn tín dụng an toàn tối đa đối với một kháchhàng cũng như để trích lập dự phòng rủi ro hầu như chưa được các NHTM đầu tưxây dựng trong quá trình vận dụng không ít NHTM đã bỏ qua các bước của quytrình, hạ thấp
+ Do sức ép cạnh tranh trong việc mở rộng thị phần tín dụng, do sự cạnh tranhcủa các ngân hàng mong muốn có tỷ trọng cho vay nhiều hơn các ngân hàng khác,tiêu chuẩn đánh giá khách hàng, nên nảy sinh nhiều sai phạm: về điều kiện vay vốn,
về việc lập hồ sơ vay vốn, về việc kiểm tra, quản lý nợ vay…
- Xuất phát từ công tác thẩm định:
+ Hiện nay, công tác đánh giá uy tín của khách hàng chủ yếu dựa vào cảm tính
và chủ quan của các cán bộ nghiệp vụ, như dựa vào các quan hệ trong quá khứ:khách hàng vay trả đúng hạn được xem là khách hàng có uy tín, còn đối với kháchhàng mới quan hệ thì chủ yếu dựa vào ý kiến chủ quan của cán bộ tín dụng khi tiếpxúc với khách hàng, hoặc qua một số thông tin thu thập được
+ Công việc đánh giá khách hàng chỉ được thực hiện chủ yếu dựa vào việcphân tích số liệu trên các báo cáo tài chính do khách hàng cung cấp
Trang 19+ Khi nhận một dự án, cán bộ thẩm định sẽ phải tiến hành thẩm định các khíacạnh như yếu tố thị trường, kỹ thuật, công nghệ và cả các yếu tố kinh tế, xã hội của
dự án Tuy nhiên, việc thẩm định dự án trong một môi trường thiếu thông tin nhưcủa Việt Nam là một thách thức lớn đối với các cán bộ thẩm định
- Xuất phát từ tài sản đảm bảo:
+ Quản trị danh mục tài sản đảm bảo (TSĐB) là yêu cầu cần thiết trong côngtác quản trị rủi ro tín dụng, và là mắt xích quan trọng trong quy trình cho vay thuhồi nợ,xử lý các khoản nợ có vấn đề Tuy nhiên, việc giám sát, quản lý, đánh giá,phân loại, dự báo, cảnh báo về danh mục các TSBĐ chưa được làm thường xuyên,chưa có tính hệ thống mà chỉ dừng ở mức kiểm tra trên hồ sơ pháp lý, định kỳ đánhgiá lại giá trị
+ Trên thực tế, trừ những động sản có giá trị lớn hàng tỷ đồng, các NHTM mớithuê tổ chức tư vấn, tổ chức chuyên môn định giá, còn lại đa số việc định giá đều docác bên thỏa thuận, và như vậy cho thấy giá trị TSBĐ được định giá còn mang tínhchủ quan và thiếu tính khoa học
+ Ngoài ra, về phương pháp định giá đối với từng loại tài sản chưa được cácNHTM sử dụng một cách thích hợp Việc định giá tài sản đảm bảo là bất động sản,
cổ phiếu đều do cán bộ tín dụng tự định giá theo giá thị trường mà chưa có một bộphận chuyên định giá tài sản trước khi cho vay để lường trước những biến động thịtrường để dự báo mức giá trong tương lai
+ Tâm lý của cán bộ tín dụng (CBTD) hiện nay chủ yếu dựa vào TSBĐ để chovay nên sẽ làm giảm chất lượng thẩm định khoản vay nên sẽ không đánh giá những
dự án rủi ro, khách hàng không uy tín, chính xác được hiệu quả và sự an toàn củakhoản vay, dễ dẫn đến việc cho vay
+ Đối với vấn đề bảo hiểm tài sản, cán bộ tín dụng thường không chú ýđônđốc, kiểm tra việc khách hàng có mua bảo hiểm đúng định kỳ để đến khiphương tiện bị tai nạn, việc trục vớt, sửa chữa phải bỏ thêm rất nhiều vốn, gây khókhăn lâu dài về khả năng thanh toán khoản nợ vay…
Trang 20+ Cơ chế pháp lý về bảo đảm tiền vay chưa rõ ràng, chịu sự điều chỉnh, chiphối của nhiều văn bản luật, dưới luật chồng chéo nhau, đặc biệt đối với TSBĐ làbất động sản
+ Cuối cùng là các vấn đề liên quan đến quá trình xử lý, phát mãi TSBĐ đãgây cản trở không ít cho các NHTM như: gặp khó khăn trước khi bán đấu giá tàisản; các NHTM chưa có thực quyền trong việc bán, quản lý và khai thác tài sảnthuộc quyền tiếp quản; xử lý tài sản mất nhiều thời gian, thủ tục còn quá nhiều kẻhở…
- Xuất phát từ thông tin tín dụng:
+ Các NHTM hiện nay chưa nhận được sự phối hợp hỗ trợ cung cấp thông tin
từ các cơ quan chức năng như cơ quan thuế, chi cục thống kê…
+ Bản thân các NHTM đôi khi cũng lệ thuộc khá nhiều vào các số liệu củakhách hàng cung cấp mà chưa chủ động tìm kiếm thông tin
+ Việc thu thập thông tin của mỗi ngân hàng về khách hàng, về ngành nghề, vềmôi trường kinh tế mà khách hàng đang hoạt động, về các văn bản luật mới đượcban hàng…Chưa được thực hiện một cách thường xuyên và có tính hệ thống
- Xuất phát từ hoạt động kiểm soát nội bộ:
Hiện nay, các NHTM đều có bộ phận kiểm soát nội bộ, tuy nhiên, ở một sốngân hàng, bộ phận này chưa thật sự hoạt động có hiệu quả, nhất là tình trạng thiếunhân sự, cũng như trình độ của cán bộ chưa đáp ứng cả về nghiệp vụ lẫn kinhnghiệm nên không thể phát hiện các sai phạm để có những khuyến cáo kịp thờinhằm chấn chỉnh và tư vấn cho ban điều hành về những rủi ro tín dụng có thể xảyra
- Rủi ro do các nguyên nhân từ phía khách hàng vay
Nguyên nhân từ phía người đi vay là một trong những nguyên nhân chính gây
ra rủi ro tín dụng cho ngân hàng Nhìn chung các nguyên nhân này ngân hàng có thểxác định được thông qua quá trình tìm hiểu, nắm vững “tình hình sức khỏe củakhách hàng” cả trước, trong và sau khi cho vay, tìm hiểu mục đích sử dụng tiền vay
và hiệu quả của phương án sản xuất kinh doanh
Trang 21- Nguyên nhân từ các đảm bảo tín dụng
Khi thực hiện hoạt động tín dụng vay vốn tại ngân hàng, khách hàng phải cótài sản đảm bảo (tài sản thế chấp) để cầm cố vay vốn Tuy nhiên, do sự biến độngcủa nền kinh tế, giá trị tài sản đảm bảo có thể thay đổi theo chiều hướng bất lợi hoặc
có lợi phụ thuộc vào đặc tính của tài sản và thị trường giao dịch các tài sản đó, làmcho tài sản có thể lên giá hoặc xuống giá
1.1.2.5 Hậu quả của rủi ro tín dụng
RRTD có những tác động ảnh hưởng đến hoạt động của các NHTM, khách
hàng và nền kinh tế Cụ thể:
- Đối với Ngân hàng thương mại:
+ Rủi ro làm giảm uy tín của ngân hàng:
- Một khi một ngân hàng có mức độ rủi ro của các tài sản Có là cao thì ngânhàng đó thường đứng trước nguy cơ mất uy tín của mình trên thị trường Không một
ai muốn gửi tiền vào một ngân hàng mà ngân hàng đó có tỷ lệ nợ quá hạn và nợ xấuvượt quá mức cho phép, có chất lượng tín dụng không tốt và gây ra nhiều vụ thấtthoát lớn, điều này sẽ khiến cho việc huy động vốn của ngân hàng gặp rất nhiều khókhăn
+ RRTD làm ảnh hưởng tới khả năng thanh toán của ngân hàng
- Hoạt động chủ yếu của ngân hàng là nhận tiền gửi và cho vay, nếu các khoảntín dụng gặp rủi ro thì việc thu hồi nợ sẽ gặp nhiều khó khăn, trong khi đó cáckhoản tiền gửi vẫn phải thanh toán đúng hạn, người rút tiền ngày càng tăng lên, kếttrường để dự báo mức giá trong tương lai
+ RRTD làm tăng chi phí có tính hiệu ứng
- Thu nhập từ hoạt động tín dụng chiếm tỷ trọng cao (khoảng 50 – 60%) trongngân hàng, do vậy hiệu quả hoạt động tín dụng quyết định hiệu quả hoạt động kinhdoanh của mỗi ngân hàng Khi RRTD xảy ra thì ngân hàng sẽ khó hoặc không thuđược nợ trong khi vẫn phải thanh toán lãihuy động vốn Đồng thời các chi phí khác
có liên quan dẫn đến kết quả kinh doanh thua lỗ
Trang 22+ RRTD làm giảm lợi nhuận của ngân hàng RRTD sẽ làm giảm tốc độ quay
vòng vốn của ngân hàng dẫn tới làm giảm hiệu quả sử dụng vốn, do đó, nó khôngchỉ làm giảm thu nhập của ngân hàng từ hoạt động tín dụng, mà còn làm giảm thunhập từ các hoạt động khác Bên cạnh đó, RRTD cao dẫn đến ngân hàng phải tăngtrích lập DPRR và điều này khiến cho lợi nhuận còn lại càng thấp
+ Rủi ro có thể làm phá sản ngân hàng
- RRTD xảy ra thường tạo cho ngân hàng những tổn thất về tài chính, nhưngnhững thiệt hại về uy tín, về mất lòng tin của xã hội là những tổn thất còn lớn hơnnhiều Nếu rủi ro xảy ra ở mức độ ngân hàng không có khả năng ứng phó thì sẽ gâyphản ứng dây chuyền trong dân chúng, dân chúng sẽ đổ xô đến ngân hàng rút tiềngửi Đối với những khoản vay dài hạn, ngân hàng không thể thu hồi vốn ngay, đồngthời rủi ro tín dụng đã làm mất một phần vốn của ngân hàng, như vậy ngân hàngkhông còn khả năng thanh toán và sẽ đi đến phá sản
• Đối với khách hàng: RRTD không chỉ gây hậu quả nghiêm trọng đối với
ngân hàng mà nó còn có tác động xấu đối với khách hàng
- Đối với người gửi tiền: Vốn để ngân hàng tài trợ các doanh nghiệp chính từ
nguồn tiền gửi của người gửi tiền Khi ngân hàng gặp phải rủi ro, tức là ngân hàngkhông thu hồi được gốc và lãi của những khoản đã cho vay Khi đó người gửi tiềncũng phải đối mặt với rủi ro là họ không thể thu hồi lại khoản tiền đã gửi ngân hàng
- Đối với người đi vay: Khi ngân hàng có RRTD ở mức độ cao ảnh hưởng đến
uy tín, ngân hàng sẽ hạn chế cho vay và áp dụng các điều khoản cho vay chặt chẽhơn, đồng thời phải áp dụng với lãi suất cao hơn để đủ bù đắp lãi suất cao từ cáckhoản tiền gửi Do đó, người đi vay sẽ gặp khó khăn trong việc huy động vốn vàphải huy động vốn với lãi suất cao hơn
- Đối với khách hàng ( nợ xấu, nợ quá hạn): Khách hàng sẽ bị áp dụng một
mức lãi suất phạt cao hơn, làm tăng chi phí kinh doanh Đồng thời họ mất đi hẳnnguồn vốn từ ngân hàng đó và cơ hội để khách hàng tìm các nguồn tài trợ kháctrong nền kinh tế sẽ giảm đi rấtnhiều vì không còn uy tín trong khả năng trả nợ
• Đối với nền kinh tế:
Trang 23Ngày nay, hoạt động của ngân hàng mang tính xã hội hóa cao nên một khiRRTD xảy ra đối với ngân hàng thì nó sẽ ảnh hưởng rất lớn đến hầu như mọi hoạtđộng của nền kinh tế Nếu có sự thất thoát trong hoạt động tín dụng, dù chỉ ở mộtngân hàng mà không được ứng cứu kịp thời thì có thể gây phản ứng dây chuyền đedọa đến tính an toàn và ổn định của cả hệ thống ngân hàng Từ đó sẽ gây ra nhữngbất ổn về kinh tế - xã hội Ngoài ra, RRTD còn ảnh hưởng đến nền kinh tế thế giới
vì ngày nay nền kinh tế của mỗi quốc gia đều phụ thuộc vào nền kinh tế khu vực vàthế giới, cuộc khủng hoảng tài chính bùng phát tại Mỹ năm 2008 đã lan rộng ra toàncầu
1.2 Quản trị rủi ro tín dụng trong Ngân hàng thương mại
1.2.1 Một số khái niệm
1.2.1.1 Khái niệm về quản trị rủi ro tín dụng
Quản trị rủi ro tín dụng (RRTD) là quá trình xây dựng và thực thi các chiếnlược, chính sách quản trị và kinh doanh tín dụng nhằm tối đa hóa lợi nhuận trongphạm vi mức rủi ro có thể chấp nhận
Quản trị rủi ro được coi là hoạt động trọng tâm trong các tổ chức tài chính ngân hàng bởi kiểm soát và quản trị rủi ro chặt chẽ đồng nghĩa với việc sử dụng mộtcách có hiệu quả nguồn vốn huy động Quản trị rủi ro là một nhu cầu tất yếu đặt ratrong quá trình tồn tại và phát triển của NHTM
-Quản trị RRTD là quá trình xây dựng và thực thi các chính sách và biện phápquản lý tín dụng nhằm đạt mục tiêu an toàn, hiệu quả và phát triển bền vững
Kiểm soát RRTD ở mức có thể chấp nhận là việc NHTM tăng cường các biệnpháp phòng ngừa, hạn chế và giảm thấp nợ quá hạn, nợ xấu trong kinh doanh tíndụng, nhằm tăng doanh thu tín dụng, giảm thấp chi phíbù đắp rủi ro, nhằm đạt được
hiệu quả trong kinh doanh tín dụng cả trong ngắn hạn và dài hạn "Hiệu quả quản
trị rủi ro tín dụng là một bộ phận quan trọng trong cách tiếp cận rủi ro tổng thể và được coi là đóng vai trò cốt tử của sự thành công của ngân hàng trong dài hạn".
Quản trị RRTD là một trong những nội dung quản trị rủi ro của NHTM baogồm: những đánh giá mức độ rủi ro, thực thi những giải pháp quản trị hạn chế khả
Trang 24năng xảy ra rủi ro Hoạt động quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng gắn chặt vớihoạt động của cấp tín dụng nhưng bản chất là giống nhau và đứng trên góc độ củaquản trị học, có thể diễn giải khái niệm: Quản trị rủi ro tín dụng là quá trình cácngân hàng tiến hành hoạch định, tổ chức triển khai thực hiện và giám sát kiểm tratoàn bộ hoạt động cấp tín dụng, nhằm tối đa hóa lợi nhuận của ngân hàng với mứcrủi ro có thể chấp nhận.
1.2.1.2 Khái niệm, phân loại rủi ro tín dụng cá nhân
Khái niệm rủi ro tín dụng cá nhân:
Rủi ro tín dụng cá nhân là khả năng xảy ra những tổn thất ngoài dự kiến chongân hàng do khách hàng vay là cá nhân, hộ gia đình không trả đúng hạn, không trả,hoặc không trả đầy đủ vốn và lãi
Phân loại rủi ro tín dụng cá nhân
Rủi ro tín dụng nói chung và rủi ro tín dụng cá nhân nói riêng xảy ra khi ngườivay không trả được nợ lãi và nợ gốc đúng hạn, đầy đủ Dựa trên phương thức quản
lý rủi ro tín dụng hiện nay, ta cũng có thể phân chia rủi ro tín dụng KHCN thànhbốn cấp độ theo mức độ rủi ro
1.2.2 Nội dung quản trị rủi ro tín dụng trong các Ngân hàng thương mại
Theo Chrink RS Guill, 2000 & Hoàng Huy Hà, 2012, nội dung chính của hoạtđộng quản trị rủi ro tín dụng sẽ gồm các hoạt động được thực hiện liên tiếp nhau tạothành một quá trình chặt chẽ với khâu trước định hướng:
Xây dựng chiến lược, chính sách và quy trình quản trị RRTD -› Nhận biết rủi
ro -› Đo lường rủi ro + Kiểm soát rủi ro -› Tài trợ rủi ro
1.2.2.1 Xây dựng chiến lược, chính sách và quy trình quản trị rủi ro tín dụng
Chiến lược quản trị RRTD là hệ thống các quan điểm, các mục đích và mụctiêu cơ bản cùng các giải pháp, chính sách nhằm sử dụng một cách tốt nhất cácnguồn lực, lợi thế nhằm đạt được các mục đích, mục tiêu đặt ra trong việc kiểm soátRRTD Việc xây dụng chiến lược quản trị RRTD của NHTM phụ thuộc vào từngthời kỳ nhất định, những điều kiện bên trong và bên ngoài thường dựa trên nhữngcăn cứ cụ thể:
Trang 25- Căn cứ vào môi trường hoạt động kinh doanh như: tình hình kinh tế - xã hộitrên địa bàn hoạt động, tính chất lĩnh vực mà NH chủ trong cấp tín dụng, khả năngcủa đối thủ cạnh tranh
- Căn cứ vào các quy định của cơ quan quản lý và Căn cứ vào hệ thống cácnguyên tắc quản trị RRTD
- Căn cứ vào mô hình tổ chức hoạt động tín dụng hiện tại: Mô hình tổ chứcNHTM cần tuân thủ hai chuẩn mực sau: hoạt động của NHTM ảnh hưởng lớn đếnviệc thực hiện chiến lược quản trị RRTD
Để đạt được hiệu quả quản lý cao nhất, mô hình tổ chức hoạt động tín dụngcủa một lợi nhuận luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau, lợi nhuận luôn phải điliền với
+ Mọi mặt hoạt động quản lý tín dụng phải được tiến hành tập trung
+ Mô hình tổ chức hoạt động tín dụng của NH phải đảm bảo độc lập giữa 3chức năng: Bán hàng (tư vẫn, tiếp thị, đàm phản…); quản trị rủi ro (phân tích, thẩmđịnh, đánh giả định kỳ); tác nghiệp (xử lý hồ sơ, theo dõi TSBĐ,…)
- Căn cứ vào công tác phân tích lợi nhuận rủi ro của ngân hàng Giữa rủi ro vàcác biện pháp giảm thiểu rủi ro Thông qua hoạt động phân tích báo cáo tài chính vàbáo cáo RRTD có thể rút ra những thông tin hữu ích để xác định phạm vi RRTD cóthể chấp nhận được của NHTM
- Căn cứ vào kinh nghiệm của chính NHTM trong quản lý danh mục cho vay,trình độ khoa học của hệ thống đánh giá, Xếp loại RRTD, trình độ nhân lực, bảo cácRRTD kỳ trước,
- Xác định mục tiêu quản trị RRTD: mục tiêu nói chung của quản trị RRTDlàgiúp NH khống chế đến mức thấp nhất những chi phí về rủi ro dưới tất cả các hìnhthức, để kết quả kinh doanh có thể đạt cao nhất và bảo đảm an toàn tài chính choNH
- Xây dựng các chính sách quản trị RRTD: kết tinh của chiến lược quản trịRRTD chính là các chính sách được lựa chọn và ban hành Chính sách này là những
Trang 26quyết định mang tính chiến lược chỉ đạo hoạt động tín dụng sao cho đảm bảo duy trìphạm vi RRTD đã được xác định.
1.2.2.2 Nhận diện rủi ro tín dụng
Việc kinh doanh khó có thể thất bại qua một đêm, do vậy mà sự thất bại đóthường có một vài dấu hiệu báo động Ngân hàng cần có cách nhận ra những dấuhiệu ban đầu của khoản vay có vấn đề và có hành động cầnthiết nhằm ngăn ngừahoặc xử lý chúng Dấu hiệu của các khoản tín dụng cóvấn đề có thể xếp thành cácnhóm sau:
* Dấu hiệu tài chính: Các chỉ số thanh khoản cho thấy dấu hiệu suy yếu; Các
chỉ số khả năng sinh lời cho thấy dấu hiệu suy yếu; Cơ cấu vốn không hợp lý vàCác vòng quay hoạt động thể hiện sự suy yếu…
* Dấu hiệu phi tài chính: Giảm sút mạnh số dư tiền gửi; Công nợ gia tăng;
Mức độ vay thường xuyên ; Yêu cầu khoản cho vay vượt quá nhu cầu dự kiế;Chấp nhận sử dụng nguồn tài trợ lãi suất cao; Chậm thanh toán nợ gốc và lãi chongân hàng…
1.2.2.3 Phân tích và do lường rủi ro tín dụng
Phân tích rủi ro tín dụng: Là nhằm tìm ra những biện pháp hữu hiệu để phòng
ngừa rủi ro Trên cơ sở tìm ra các nguyên nhân, tác động đến các nguyên nhân thayđổi chúng, từ đó sẽ phòng ngừa rủi ro
Đo lường rủi ro tín dụng: Các nhà kinh tế, các nhà phân tích ngân hàng sử
dụng nhiều mô hình khác nhau để đo lường rủi ro tín dụng Một ngân hàng có thể
sử dụng nhiều mô hình để phân tích, đánh giá mức độ rủi ro tín dụng của kháchhàng Sau đây là một số mô hình được sử dụng rộng rãi tại nhiều NHTM trên thếgiới:
*Mô hình đo lường rủi ro: dựa trên yếu tố 6 C, bao gồm:
+Tư cách người vay (Character): Cán bộ tín dụng phải chắc chắn rằng ngườivay có mục đích tín dụng rõ ràng và có thiện chí nghiêm chỉnh trả nợ khi đến hạn
Trang 27+Năng lực của người vay (Capacity): Người đi vay phải có năng lực pháp luật
và năng lực hành vi dân sự, người vay phải là đại diện hợp pháp của Doanhnghiệp…
+Thu nhập của người vay (Cash): Cán bộ tín dụng phải xác định được nguồntrả nợ của người vay như luồng tiền từ doanh thu bán hàng hay từ thu nhập, tiền từbán thanh lý tài sản, tiền từ phát hành chứng khoán
+ Bảo đảm tiền vay (Collateral): Đây là điều kiện để ngân hàng cấp tín dụngcho khách hàng và là nguồn tài sản thứ hai có thể được dùng để trả nợ vay cho ngânhàng
+ Các điều kiện khác (Conditions): Ngân hàng quy định các điều kiện tùythuộc vào chính sách tín dụng theo từng thời kỳ, tùy thuộc vào chính sách tiền tệcủa NHNN theo từng thời kỳ của người vay có đáp ứng được tiêu chuẩn của Ngânhàng?
+ Kiểm soát (Control): Tập trung vào những vấn đề như các thay đổi trongpháp luật và quy chế có ảnh hưởng xấu đến người vay hay không? Yêu cầu tín dụng
* Mô hình xếp hạng của Moody’s và Standard & Poor’s: Đây là dịch vụ
xếp hạng tư nhân có uy tín xếp hạng về rủi ro tín dụng thể hiện bằng việc xếp hạngtrái phiếu Các thứ hạng từ: C hay DDD-D (chất lượng kém) đến Aaa hay AAA(chất lượng cao nhất) Mô hình này chỉ đưa ra kết quả cuối cùng còn việc xếp hạng,tiêu chí hoàn toàn do các công ty dịch vụ thực hiện
* Mô hình điểm số Z: Đây là mô hình do E.L.Altman phát minh và được
dùng làm công cụ phát hiện nguy cơ phá sản và xếp hạng định mức tín dụng Đạilượng Z dùng làm thước đo tổng hợp để đo lường rủi ro tín dụng đối với người vay
và phụ thuộc vào:
- Trị số của các chỉ số tài chính của người vay
- Tầm quan trọng của các chỉ số này trong việc xác định xác suất vỡ nợ củangười vay trong quá khứ
Từ đó, Altman đã xây dựng mô hình điểm như sau:
Z = 1,2X1 + 1,4X2 + 3,3X3 + 0,6X4 + 1,0X5
Trang 28Trong đó: X1 = Vốn lưu động/Tổng tài sản; X2 = Lợi nhuận giữ lại/Tổng tài
sản; X3 = Lợi nhuận trước lãi vay và thuế/Tổng tài sản; X4 = Giá trị thị trường củaVốn chủ sở hữu/Giá trị sổ sách của Tổng nợ; X5 = Doanh thu/Tổng tài sản
Trị số Z càng cao thì người vay có xác suất vỡ nợ càng thấp Vậy khi trị số Zthấp hoặc là một số âm sẽ làm căn cứ xếp khách hàng vào nhóm nợ có nguy cơ vỡ
nợ cao
+ Nếu Z > 2,99: doanh nghiệp nẳm trong vùng an toàn, chưa có nguy cơ phásản
+ Nếu 1,8 < Z < 2,99: doanh nghiệp nằm trong vùng cảnh báo, có thể có nguy
cơ phá sản, chưa xác định được
+ Nếu Z < 1,8: doanh nghiệp nằm trong vùng nguy hiểm, nguy cơ phá sản cao,
có khả năng xảy ra rủi ro tín dụng
1.2.2.4 Kiểm soát rủi ro tín dụng
Việc kiểm soát RRTD là trọng tâm của công tác quản trị RRTD Mục tiêu củakiểm soát RRTD chính là phòng chống và kiểm soát các rủi ro có thể phát sinhtrong hoạt động ngân hàng, đảm bảo toàn bộ các bộ phận và cá nhân trong ngânhàng tuân thủ các quy định của pháp luật, thực hiện các chiến lược, chính sách đảmbảo mục tiêu an toàn và hiệu quả trong hoạt động ngân hàng Kiểm soát RRTD baogồm kiểm soát trước, trong và sau khi cho vay:
- Kiểm soát trước khi cho vay bao gồm: Kiểm soát quá trình thiết lập chính
sách, thủ tục, quy trình cho vay; kiểm tra quá trình lập hồ sơ vay vốn và thẩm định,kiểm tra tờ trình cho vay và các hồ sơ liên quan
- Kiểm soát trong khi cho vay: Sau khi hợp đồng tín dụng được ký kết và vốn
vay được giải ngân, ngân hàng sẽ tiến hành kiểm soát khách hàng theo các nội dungchính như: khách hàng sử dụng tiền vay có đúng mục đích, tiến độ hay không, quátrình sản xuất kinh doanh có những thay đổi bất lợi gì, có dấu hiệu lừa đảo hoặc làm
ăn thua lỗ hay không… Công việc này cho phép ngân hàng thu thập thêm các thôngtin về khách hàng Nếu các thông tin phản ánh chiều hướng tốt, điều đó cho thấychất tượng tín dụng đang được bảo đảm
Trang 29- Kiểm soát sau khi cho vay: Quan hệ tín dụng sẽ kết thúc khi ngân hàng thu
hồi hết gốc và lãi của khoản vay Các khoản tín dụng đảm bảo hoàn trả đầy đủ vàđúng hạn là các khoản tín dụng an toàn Trong một số trường hợp, người vay khônghoàn trả nợ hoặc hoàn trả không đầy đủ và đúng hạn Điều đó có nghĩa là RRTD đãxảy ra Lúc này cán bộ tín dụng cần xem xét, tìm ra nguyên nhân dẫn đến việckhách hàng không thanh toán nợ cho ngân hàng như đã cam kết trong hợp đồng
•Trích và sử dụng quỹ dự phòng rủi ro (DPRR)tín dụng:
Đối với các khoản tín dụng được tài trợ rủi ro thì chuyển theo dõi ngoại bảng
và ngân hàng tiếp tục sử dụng các biện pháp khắc phục và xử lý để tận thu hồi nợ.Nguồn vốn để tài trợ RRTD bao gồm: Trích lập quỹ DPRR tín dụng, quỹ dự phòngtài chính, trợ cấp của Chính phủ Trong đó, nguồn hình thành từ việc trích lập quỹDPRR là nguồn chủ yếu và sử dụng trước để tài trợ rủi ro, nếu sử dụng nguồnnày không đủ thì tiếp tục sử dụng quỹ dự phòng tài chính để tài trợ RRTD Nếu quỹ
dự bất thường
Quỹ DPRR được hình thành sau khi phân loại các khoản cấp tín dụng trên cơ
sở đánh giá mức độ rủi ro của các khoản cấp tín dụng và được hạch toán vào chi phíhoạt động của ngân hàng Quỹ dự phòng tài chính được hình thành trên cơ sở tỷ lệtrích dự phòng tài chính, lợi nhuận còn lại trước khi trích quỹ dự phòng tài chính vàphụ thuộc vào quy định của mỗi quốc gia Ngoài các nguồn dùng để tài trợ RRTD,các NHTM còn có thể được bù đắp từ các nguồn khác như trợ cấp của Chính phủtrong những trường hợp tổn thất do nguyên nhân bất khả kháng gây ra
Cấp thêm vốn, cơ cấu lại thời gian trả nợ hoặc miễn, giảm lãi, gốc: Việc làmnày thường áp dụng đối với KH được đánh giá tốt, có quan hệ lâu năm với NH, có
dự án khả thi - nhưng do một số điều kiện tác động mà tạm thời chưa thể trả được
nợ cho NH Trường hợp KH không có thiện chí tự nguyện bản tài sản thì NH sẽ tiếnhành bản TSBĐ để thu hồi nợ theo sự giám sát và sự phán quyết của cơ quan phápluật
• Bán nợ:
Trang 30Đây là hình thức bán một phần hoặc toàn bộ khoản nợ cho chủ thể khác để thuhồi khoản nợ đang rủi ro, nhằm giảm thiểu tổn thất cho ngân hàng.
1.2.3 Phương pháp quản trị rủi ro tín dụng
1.2.3.1 Phương pháp xếp hạng và giám sát rủi ro danh mục tín dụng
Các ngân hàng trong suốt thời gian cho vay phải liên tục giám sát danh mụctín dụng nhằm có các hành động kịp thời khi có bất kỳ vấn đề nào nảy sinh đối vớikhoản cho vay
Bước 1: Phân hạng rủi ro danh mục tín dụng
- Mục đích của việc xếp hạng khách hàng theo mức độ rủi ro tín dụng để:
+ Cho phép có một nhận định chung về danh mục cho vay trong bảng cân đốicủa ngân hàng; Phát hiện sớm các khoản cho vay có khả năng bị tổn thất hay đichệch hướng khỏi chính sách tín dụng đã được đề ra của ngân hàng; Có một chínhsách định giá chính xác hơn; Xác định rõ khi nào cần tăng sự giám sát hoặc các hoạtđộng điều chỉnh khoản vay hoặc ngược lại; Làm cơ sở để xác định mức dự phòngrủi ro
- Một hệ thống phân hạng rủi ro là một hệ thống ghi lại các ước tính về mức
độ rủi ro tiềm tàng trong từng khoản tín dụng của một danh mục tín dụng
- Dựa trên những dữ liệu đã có và tầm quan trọng của từng dữ liệu, hệ thốngphân hạng sẽ có một bảng định mức rủi rođối với từng khoản tín dụng (có thể khácnhau đối với mỗi ngân hàng)
- Sau khi xác định được cấp độ rủi ro của từng khách hàng, ngân hàng đánhgiá chất lượng tài sản đảm bảo khoản vay để có nhận định hoàn chỉnh về hướng vay
và hướng xử lý sau này
Bước 2: Giám sát việc xếp hạng rủi ro
Các rủi ro đã được đánh giá, về nguyên tắc phải phản ánh chính xác tình trạngrủi ro ở mọi thời gian Do vậy, mọi biến động ảnh hưởng đến quá trình xếp hạngnày phải được đánh giá lại ngay Việc giám sát được thực hiện bằng nhiều phương
Trang 31pháp khác nhau, tùy vào từng ngân hàng hoặc dùng đồng thời các phương pháp, đólà: Phương pháp dùng bảng so sánh, dùng đồ thị và Phương pháp kiểm tra tại chỗ.
1.2.3.2 Phương pháp Quản trị rủi ro tín dụng theo Basel 1, Basel 2
Basel là Uỷ ban Giám sát ngân hàng do Ngân hàng trung ương các nước G10thành lập từ thế kỷ trước dưới sự bảo trợ của Ngân hàng Thanh toán quốc tế Năm
1988, Ủy ban đã nghiên cứu và ban hành basel 1 Do những hạn chế của Basel 1,một hiệp ước mới về vốn đã được ủy ban thông qua vào năm 2001 và gọi là Basel 2
* Quản trị rủi ro tín dụng theo Basel 1:
- Tiêu chuẩn cấp tín dụng và quy trình giám sát tín dụng (Chuẩn mực 7):Một
phần công việc thiết yếu của hệ thống thanh tra là đánh giá chính sách, thông lệ vàquy trình liên quan đến việc cấp tín dụng, thực hiện đầu tư cũng như công tác quản
lý và danh mục đầu tư hiện tại
Chức năng tín dụng và đầu tư ở các ngân hàng là khách quan và dựa trênnguyên tắc lành mạnh Duy trì chính sách cho vay, mục đích cho vay và thủ tục chovay thận trọng với các văn bản cho vay hợp lý là cần thiết đối với quản lý chứcnăng cho vay của ngân hàng Ngân hàng cần phải có một quá trình giám sát hệ tíndụng hiện tại của khách hàng Cơ sở dữ liệu là nhân tố quan trọng của hệ thốngthông tin quản lý, cần phải được chi tiết danh mục cho vay
- Đánh giá chất lượng tài sản và dự phòng rủi ro mất vốn tín dụng (Theo Chuẩn mực 8): Thanh tra ngân hàng cần phải biết rằng ngân hàng thiết lập và duy
trì các chính sách, thói quen và thủ tục phù hợp với việc đánh giá chất lượng tài sản,
dự phòng rủi ro mất vốn tín dụng Ngân hàng phải xây dựng một quy trình quan sátcác khoản nợ có vấn đề và chọn lọc các món nợ quá hạn Khi thực hiện bảo lãnhhoặc nhận vật thế chấp, ngân hàng phải có phương pháp đánh giá uy tín của ngườibảo lãnh và định giá vật thế chấp Khi các khoản nợ có vấn đề thì ngân hàng tăngcường hoạt động cho vay trên cơ sở đảm bảo cấp tín dụng và sức mạnh tài chínhtổng thể
Trang 32- Sự tập trung rủi ro và các rủi ro lớn (Chuẩn mực 9): Ngân hàng phải có hệ
thống thông tin quản lý cho phép xác định những điểm đáng chú ý trong danh mụcđầu tư và phải thiết lập giới hạn an toàn để hạn chế xu hướng ngân hàng tập trungvào các khách hàng đơn lẻ hoặc các nhóm khách hàng có quan hệ
- Cho vay khách hàng có mối quan hệ (Chuẩn mực 10): Để ngăn ngừa sự lạm
dụng phát sinh từ việc cho vay khách hàng có mối quan hệ, quan hệ vay vốn phảidựa trên nguyên tắc “trong tầm kiểm soát” Như thế thì việc mở rộng tín dụng đượcgiám sát một cách có hiệu quả, kiểm soát và giảm thiểu rủi ro Giao dịch cho vaykhách hàng có mối quan hệ thường gây ra những rủi ro đặc biệt cho ngân hàng, vìthế nên có sự chấp thuận của Hội đồng quản trị
* Quản trị rủi ro tín dụng theo Basel 2:
Có 2 phương pháp tiếp cận để tính toán rủi ro tín dụng của ngân hàng:
- Phương pháp thứ nhất: Sẽ đo lường rủi ro tín dụng theo phương pháp tiếp
cận chuẩn hóa phụ thuộc vào đánh giá của các tổ chức xếp hạng tín nhiệm độc lập
- Phương pháp thứ hai: Là ngân hàng sử dụng hệ thống đánh giá xếp hạng nội
bộ (IRB)
- Phương pháp thứ nhất-tiếp cận chuẩn hóa rủi ro tín dụng:
Sử dụng phương pháp chuẩn hóa, các ngân hàng phải phân loại các RRTD dựanghĩa xếp loại có được sử dụng thống nhất ở các phòng, ban và khu vực hay không;trên những đặc điểm có thể quan sát được của rủi ro Phương pháp chuẩn hóa sẽ xếploại rủi ro cố định cho từng loại rủi ro được giám sát và căn cứ đánh giá là độ tín rủiro
- Phương pháp thứ hai-tiếp cận căn cứ vào xếp hạng nội bộ (IRB):
Các ngân hàng phải có các đơn vị kiểm soát RRTD độc lập chịu trách nhiệmthiết kế, thực hiện hoạt động các hệ thống xếp loại nội bộ của mình Các đơn vị nàyphải độc lập về chức năng đối với các bộ phận quản lý phải chịu trách nhiệm vềviệc tạo nên những khoản rủi ro tiềm năng Các lĩnh vực kiểm soát gồm:
Trang 33+ Kiểm tra và theo dõi xếp loại nội bộ; Lập và phân tích các báo cáo tóm lược từ
hệ thống xếp loại của ngân hàng; Thực hiện các quy trình để thẩm tra xem nhữngđịnh
+ Đánh giá và lập hồ sơ mọi thay đổi trong quy trình xếp loại, lý do thayđổi; + Xem xét các tiêu chí xếp loại để xem chúng còn tác dụng dự báo RR haykhông
1.2.4 Một số chỉ tiêu đánh giá công tác quản trị rủi ro tín dụng
Quản trị RRTD là quá trình ngân hàng tác động đến hoạt động tín dụng thôngqua bộ máy và công cụ quản lý để phòng ngừa, cảnh báo, đưa ra các biện phápnhằm hạn chế đến mức tối đa tổn thất từ rủi ro do hoạt động tín dụng gây ra Do đó,
để phản ánh mức độ tăng cường quản trị RRTD đối với một ngân hàng thương mại,người ta xem xét trên cơ sở các chỉ tiêu phản ánh RRTD của một ngân hàng
- Chỉ tiêu phản ánh mức độ tăng cường quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng trên cơ sở tăng trường tín dụng:
Tốc độ tăng trường tín dụng được xem như một trong những nhân tố ảnhhưởng và cảnh báo sớm tới rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh ngân hàng.Việc mở rộng quy mô tín dụng, tăng trởng tín dụng nhanh sẽ khiến cho các NHTMphần nào giảm tiêu chuẩn tín dụng, dẫn đến dòng vốn tín dụng được đưa vào nhữnglĩnh vực, ngành nghề kinh tế rủi ro, gây nguy cơ tăng cao tỷ lệ nợ xấu và gia tăngrủi ro tín dụng
+ Chỉ tiêu Nợ quá hạn và tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ
Nợ quá hạn là khoản nợ mà khách hàng không trả được một phần/toàn bộ nợgốc và/hoặc lãi khi đã đến hạn thỏa thuận ghi trên hợp đồng tín dụng Khi một món
Trang 34nợ không trả được vào kỳ hạn nợ, toàn bộ nợ gốc còn lại của hợp đồng sẽ đượcchuyển thành nợ quá hạn Đây là một trong những chỉ tiêu quan trọng để đánh giárủi ro tín dụng và phản ánh những rủi ro tín dụng mà Ngân hàng phải đối mặt.Hoạt động tín dụng của Ngân hàng luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro do chịu sự tácđộng của nhiều nhân tố, trong đó có những nhân tố tác động nằm ngoài tầm kiểmsoát, ngân hàng không thể không có nợ quá hạn Ngân hàng phải chấp nhận nợ quáhạn và phải cố gắng kiểm soát, duy trì nợ quá hạn ở một mức độ hợp lý.
Tỷ lệ nợ quá hạn được tính như sau:
Dư nợ quá hạn
Tỷ lệ nợ quá hạn = x 100%
Tổng dư nợChỉ tiêu này phản ánh chỉ số tương đối giữa dư nợ mà ngân hàng không thuhồi được đúng như thời hạn cam kết trong các hợp đồng tín dụng và tổng số nợ màngân hàng đã cho vay Tỷ lệ này càng cao thì khả năng xảy ra rủi ro càng cao Thực
tế, rủi ro trong kinh doanh là không tránh khỏi nên Ngân hàng thường chấp nhậnmột tỷ lệ nợ quá hạn nhất định được coi như là giới hạn an toàn Khi tỷ lệ này vượtquá một giới hạn cho phép thì nó thể hiện sự yếu kém của hoạt động quản trị rủi rotín dụng trong ngân hàng
+ Chỉ tiêu Nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ
Nợ xấu là khoản nợ quá hạn và kèm theo một số tiêu chí khác như quá một kỳgia hạn nợ, hoặc không có tài sản đảm bảo, hoặc tài sản không bán được, con nợthua lỗ triền miên, phá sản hoặc khách hàng có dấu hiệu lừa đảo…Nợ xấu là mộtphần của nợ quá hạn song có mức nguy hiểm cao hơn Theo Thông tư 02/2013/1T-mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lýNHNN nợ xấu bao gồm nợ nhóm 3, 4, 5 quy định tại Điều 10 hoặc 11
Để đánh giá rủi ro tín dụng của một tổ chức tín dụng này so với toàn ngành,hoặc so một tổ chức tín dụng khác thì người ta dùng tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ.Đây là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng tín dụng của NHTM Tỷ
lệ này cao so với trung bình ngành và có xu hướng tăng lên có thể là dấu hiệu cho
Trang 35thấy ngân hàng đang gặp khó khăn trong việc quản lý chất lượng các khoản cho rủi
ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng đối với các khoản nợ, bao gồm tài sản cóphân loại nợ, các khoản nợ của ngân hàng được chia thành 5 nhóm vay Tỷ lệ nợxấu cho phép theo quy định của NHNN đối với NHTM là không quá 3%
Trường hợp khách hàng có nhiều hơn một khoản nợ với ngân hàng mà có bất
kỳ khoản nợ bị chuyển sang nhóm nợ có rủi ro cao hơn thì ngân hàng buộc phảiphân loại các khoản nợ còn lại của khách hàng đó vào các nhóm nợ rủi ro cao hơntương ứng với mức độ rủi ro
Ngoài các chỉ tiêu tính toán dựa trên sự phân loại nhóm nợ, có thể sử dụngmột số chỉ tiêu khác giúp cho việc phân tích rủi ro tín dụng để đánh giá mức độ tăngcường quản trị rủi ro tín dụng của một ngân hàng, cụ thể như sau:
- Chỉ tiêu Tỷ lệ dư nợ cho vay có tài sản đảm bảo trong tổng dư nợ
Tỷ lệ dư nợ cho vay có
Tỷ lệ này nói lên sự chuẩn bị của ngân hàng cho các khoản vay bị tổn thất tíndụng thông qua việc trích lập quỹ dự phòng tín dụng hằng năm từ thu nhập củangân hàng Trích lập dự phòng RRTD dựa trên kết quả phân loại toàn bộ danh mục
Trang 36tín dụng của ngân hàng thành các nhóm nợ khác nhau và tỷ lệ trích tăng dần theomức độ rủi ro Tỷ lệ này cao thế hiện mức độ RRTD của toàn bộ danh mục tín dụnglớn Ngay khi có dấu hiệu xảy ra tổn thất, ngân hàng trích lập dự phòng theo mức
độ nghiêm trọng của khả năng xảy ra rủi ro để có nguồn bù đắp tổn thất trong tươnglai mà không làm ảnh hưởng tới vốn của ngân hàng Theo thông tư02/2013/TTNHNN: Dự phòng bao gồm dự phòng chung cụ thể Dự phòng chungbằng 0,75% tổng số dư của các khoản cho vay từ nhóm 1 đến nhóm 4 theo quy địnhtại Điều 10, Điều 11 quy định này Mức trích lập dự phòng cụ thể được tỉnh theocông thức:
R =
Trong đó: R: Tổng số tiền dự phòng cụ thể phải trích của từng khách hàng
: Tổng tiền dự phòng cụ thể của từng khách hàng từ số dư nợ thứ 1 đếnRi: là số tiền dự phòng cụ thể phải trích của từng khách hàng đối với số dư nợgốc của khoản nợ thứ i Ri được xác đinh theo công thức:
Ri = (Ai – Ci) x r
Trong đó: Ai: Số dư nợ gốc thứ i;
Ci: giá trị khấu trừ tài sản bảo đảm, tài sản cho thuê của khoản nợ thứ i;
r: tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể theo nhóm
Trường hợp Ci>Ai thì Ri được tính bằng 0
Riêng đối với các khoản nợ khoanh chờ Chính phủ xử lý, tổ chức tín dụngtrích lập dự phòng cụ thể theo khả năng tài chính của tổ chức tín dụng
Nếu số tiền dự phòng cụ thể và dự phòng chung còn lại của quý trước nhỏ hơn
số tiền dự phòng cụ thể và dự phòng chung phải trích của quỹ trích lập, ngân hàngphải trích bổ sung phần chênh lệch thiếu
Nếu số tiền dự phòng cụ thể và dự phòng chung còn lại của quý trước lớn hơn
số tiền dự phòng cụ thể và dự phòng chung phải trích của quỹ trích lập, ngân hàngphải hoàn nhập phần chênh lệch thừa
Trang 37Ngân hàng thường sử dụng dự phòng để bù đắp tổn thất và đưa nợ ra theo dõingoại hàng khi: Khách hàng là tổ chức, doanh nghiệp bị giải thể, phá sản theo quyđịnh của pháp luật, cả nhân bị chết, mất tích.
Sau khi đã sử dụng dự phòng (sau khi trừ phần thu hồi từ TSĐB) để bù đắptổn thất do rủi ro tín dụng, ngân hàng phải chuyển các khoản nợ đu được bù đắpbằng dự phòng từ hạch toán nội hàng ra hạch toán ngoại bảng để tiếp tuc theo dõi
và có các hiện pháp để thu hồi nợ triệt để Nếu dự phòng đã không trích đủ, ngânhàng phải sử dụng đến Quỹ dự phòng tài chính để bù đắp phần tổn thất chưa được
bù đắp bằng dự phòng (bao gồm có dự phòng cụ thể và dự phòng chung)
1.3 Nhân tố ảnh hưởng đến quản trị rủi ro tín dụng trong các NHTM
1.3.1 Nhân tố khách quan
Trong quan hệ tín dụng có hai đối tượng tham gia chính là ngân hàng cho vay
và người đi vay Tuy nhiên, cả ngân hàng cho vay và người đi vay đều hoạt độngtheo sự chi phối của các điều kiện môi trường cụ thể, đó là môi trường kinh doanh
1.3.1.1 Nhân tố về môi trường kinh tế
Môi trường kinh tế ảnh hưởng đến sức mạnh tài chính của người đi vay, sựthành bại trong kinh doanh cũng như hoạt động tín dụng của các NHTM Môitrường kinh tế tốt, ổn định các DN sẽ có điều kiện để mở rộng hoạt động kinhdoanh, tăng doanh thu, tăng lợi nhuận, khi đó có đủ nguồn thu để trả nợ ngân hàng,cũng như các giao dịch với ngân hàng sẽ nhiều hơn, ngân hàng sẽ thu được lợi íchlớn từ Khách hàng Khi môi trường kinh tế bất ổn như lạm phát tăng cao, tốc độtăng trưởng chậm lại thì nhu cầu vốn cho phát triển của các khách hàng sẽ bị hạnchế hơn Trong điều kiện đó, các khách hàng hoạt động với sức ép chi phí sử dụngvốn cao, kém hiệu quả và chứa đựng nhiều rủi ro trong thanh khoản,… dẫn đếnnguy cơ mất khả năng thanh khoản đối với các NHTM, gây ra rủi ro tín dụng ở cácmức độ khác nhau cho ngân hàng tùy thuộc vào mức độ triển khai các giải phápquản trị rủi ro tín dụng của NHTM
1.3.1.2 Nhân tố về môi trường pháp lý
Trang 38Môi trường pháp lý tạo điều kiện cho NHTM hoạt động trong hành lang pháp
lý Tuy nhiên, một môi trường pháp lý chưa hoàn thiện đồng bộ hoặc thay đổi theohướng bất lợi cho doanh nghiệp cũng khiếncho các khoản vay NHTM gặp khó địnhtrong xử lý tài sản bảo đảm của ngân hàng thường gặp khó khăn do chưa có sựkhăn Có thể kể đến một số chính sách liên quan đến giao dịch bảo đảm và các quy
rõ ràng, minh bạch trong các chính sách liên quan đến quyền sở hữu Hơn nữa cácthủ tục pháp lý kiện ra tòa án để thực hiện xử lý tài sản thế chấp cũng rất rườm rà,gây mất chi phí đối với Ngân hàng
1.3.1.3 Nhân tố về môi trường chính trị xã hội, điều kiện tự nhiên
Những yếu tố như sự ổn định về chính trị xã hội cũng ảnh hưởng đến hoạtđộng đầu tư kinh doanh của khách hàng, cũng như hoạt động tín dụng của ngânhàng Tại những nước có tình hình chính trị bất ổn như Pakistan, Iraq hoạt độngcủa các NHTM ở mức cầm chừng, có khi không hoạt động được
Ngoài ra, các yếu tố về điều kiện bất ổn của tự nhiên như thiên tai, lũ lụt, hạnhán, dịch bệnh xảy ra cũng ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của các doanhnghiệp, làm cho khách hàng khó có khả năng trả nợ ngân hàng, rủi ro tín dụng tăngcao, công tác quản trị rủi ro tín dụng không được thực thi hoặc được thực thi nhưngkém hiệu quả
1.3.2 Nhân tố chủ quan
1.3.2.1 Nhân tố thuộc về người đi vay
Xuất phát từ sự yếu kém trong hoạt động kinh doanh, đạo đức trong kinhdoanh của bản thân người đi vay Sự yếu kém trong hoạt động kinh doanh đượchiểu là sự yếu kém trong xây dựng chiến lược kinh doanh, thiếu nhạy bén trongviệc dự báo tình hình thị trường để điều chỉnh chiến lược kinh doanh phù hợp với
sự biến động của môi trường kinh tế; sự yếu kém trong quản lý bộ máy tổ chức hoạtđộng, làm gia tăng chi phí quản lý của khách hàng, giảm hiệu quả trong kinh doanh.Nhiều khách hàng không đánh giá hết được những rủi ro khi sử dụng đồng vốn,đánh giá chi phí vốn cũng như khả năng sinh lợi của đồng vốn
Trang 39Sự yếu kém về đạo đức trong kinh doanh là chủ định lừa đảo cán bộ ngânhàng, sử dụng vốn sai mục đích, chây ỳ trả nợ ngân hàng của người đi vay Tínhtrung thực của khách hàng cũng là một yếu tố có ảnh hưởng lớn đến chất lượngcũng như RRTD của ngân hàng Thực tế, trong hoạt động cho vay của ngân hàng,luôn tiềm ẩn rủi ro đạo đức của người vay, tại một số ngân hàng Việt Nam, trongthời gian qua đã gặp phải rủi ro tín dụng từ sự yếu kém trong đạo đức của người đihàng tại ngân hàng đã không còn, ngân hàng không thể liên hệ được với khách hàngvay Khách hàng cố tình lừa gạt ngân hàng, sử dụng giấy hẹn lấy đăng ký xe giảmạo để vay vốn mua ô tô trả góp, sau đó mang giấy hẹn thật đến phòng cảnh sátgiao thông lấy đăng ký xe gốc và rồi đem bán xe Khi đó, tài sản bảo đảm của khách
để thu hồi nợ…
1.3.2.2 Nhân tố thuộc về ngân hàng cho vay
Ngoài nhân tố xuất phát từ phía người đi vay và môi trường khách quan, nhân
tố thuộc về ngân hàng cho vay cũng có ảnh hưởng tới quản trị rủi ro tín dụng của
- Chính sách tín dụng: Chính sách tín dụng phản ánh cương lĩnh tài trợ của
một ngân hàng, trở thành hướng dẫn chung cho cán bộ tín dụng và các nhân viênngân hàng, tăng cường chuyên môn hóa trong phân tích tín dụng, tạo sự thống nhấtchung trong hoạt động tín dụng nhằm hạn chế RRTD và nâng cao khả năng sinh lời.Một chính sách tín dụng bao gồm các nội dung liên quan đến thị trường tín dụngmục tiêu, đối tượng khách hàng tiếp cận mở rộng, đối tượng khách hàng hạn chế tàitrợ, tiêu chuẩn về danh mục cho vay của ngân hàng, nhóm ngành, kỳ hạn cho vaykhuyến khích tăng trưởng, lãi suất cho vay Việc quản trị RRTD sẽ chịu tác độngtrực tiếp và mạnh mẽ từ những yếu tố này
- Quy trình tín dụng: Quy trình tín dụng là tổng hợp các nguyên tắc, quy định
của ngân hàng trong việc cấp tín dụng Trong đó xây dựng các bước đi cụ thể theomột trình tự nhất định kể từ khi chuẩn bị hồ sơ đề nghị cấp tín dụng cho đến khi mộtngân hàng chấm dứt quan hệ tín dụng Đây là một quy trình bao quát gồm nhiềugiai đoạn mang tính chất liên hoàn, theo một trật tự nhất định và có quan hệ chặtchẽ và gắn bó với nhau
Trang 40Về cơ bản, tại NHTM, hoạt động tín dụng được tiến hành theo quy trình sau:Quy trình tín dụng là quy phạm nghiệp vụ bắt buộc thực hiện trong nội bộ mộtngân hàng và thường được in thành văn bản, hoặc sổ tay nhằm hướng dẫn việc thựchiện thống nhất những nghiệp vụ tín dụng tại ngân hàng.
Sơ đồ 1.2: Quy trình tín dụng tại các NHTM
- Thông tin tín dụng: Để đưa ra quyết định cấp tín dụng đúng đắn, ngân hàng
phải có hệ thống thông tin minh bạch về Khách hàng, về ngành nghề kinh doanh
Hệ thống thông tin tín dụng đầy đủ, nhanh nhạy, chính xác và toàn diện thì khảnăng phòng ngừa rủi ro trong hoạt động tín dụng của ngân hàng càng cao Do đó,việc xây dựng hệ thống thông tin tín dụng là một trong những nhân tố ảnh hưởngđến biện pháp hạn chế RRTD