1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn THẠC sĩ PHÁT TRIỂN sản PHẨM DU LỊCH THÀNH PHỐ hội AN

109 142 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phát Triển Sản Phẩm Du Lịch Thành Phố Hội An
Tác giả Nguyễn Minh Hải
Người hướng dẫn PGS. TS. Lê Đức Toàn
Trường học Trường Đại Học Duy Tân
Chuyên ngành Quản Trị Kinh Doanh
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2020
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 172,52 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

A BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC DUY TÂN NGUYỄN MINH HẢI PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM DU LỊCH THÀNH PHỐ HỘI AN LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH Đà Nẵng 2020 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC DUY TÂN NGUYỄN MINH HẢI PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM DU LỊCH THÀNH PHỐ HỘI AN Chuyên ngành Quản trị kinh doanh Mã số 8340101 LUẬN VĂN THẠC SĨ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS TS LÊ ĐỨC TOÀN Đà Nẵng 2020 LỜI CẢM ƠN Đầu tiên cho phép tác giả xin chân thành cảm ơn chân thành đến thầy PGS TS Lê Đức Toàn, trong suốt thờ.

Trang 1

Đà Nẵng - 2020

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC DUY TÂN

PGS TS LÊ ĐỨC TOÀN

Đà Nẵng - 2020

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Đầu tiên cho phép tác giả xin chân thành cảm ơn chân thành đến thầy PGS TS Lê Đức Toàn, trong suốt thời gian qua thầy đã tạo điều kiện, hướng dẫn nhiệt tình, chu đáo cho tác giả trong suốt thời gian nghiên cứu và hoàn thành luận văn.

Tác giả cũng xin đuợc cảm ơn đến quý Thầy cô của trường Đại học Duy Tân trong suốt quá trình học tập tại trường, đã giảng dạy và truyền đạt các kiến thức thực tiễn cho đến nay để làm nền tảng cho nghiên cứu này của tác giả.

Tác giả cũng xin được cảm ơn đến quý cơ quan phòng văn hóa và thông tin thành phố Hội An, trung tâm văn hóa thể thao và truyền thanh, truyền hình thành phố Hội An đã tạo điều kiện giúp đỡ và cung cấp số liệu của ngành du lịch Hội An và cuối cùng xin cảm ơn Đảng ủy, UBND phường Cẩm An và gia đình

đã ủng hộ và động viên tôi hoàn thành luận văn này.

Xin chân thành cảm ơn!

Đà Nẵng, tháng 02 năm 2021

Nguyễn Minh Hải

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của tôi Các số liệu trong luận văn này là trung thực Nội dung công trình nghiên cứu này chưa từng được

ai công bố Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan của tôi.

Tác giả luận văn

Nguyễn Minh Hải

Trang 5

MỤC LỤC

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Lượt khách đến với Hội An giai đoạn 2017-2019 Trang 42Bảng 2.2: Lượt khách tham quan Hội An giai đoạn 2017-2019 Trang 43Bảng 2.3: Khách lưu trú ở Hội An giai đoạn 2017-2019 Trang 44Bảng 2.4: Bảng doanh thu du lịch Hội An giai đoạn 2017-2019 Trang 45Bảng 2.5: Thống kê hiện trạng hạ tầng cấp thiết tại các khu, điểm

Bảng 2.6: Cơ sở lưu trú của thành phố Hội An tính đến 31/12/2019 Trang 61Bảng 2.7: Cơ sở đạt chuẩn văn minh (loại cửa hàng- cửa hiệu) Trang 65

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hội An là một thành phố du lịch, là một điểm đến lý tưởng của du khách quốc

tế và nội địa Hội An nổi tiếng với khu Phố cổ được UNESCO công nhận là di sảnvăn hóa thế giới vào ngày 4 tháng 12 năm 1999, khu dự trữ sinh quyển thế giới CùLao Chàm được UNESCO công nhận vào 29 tháng 5 năm 2009 Hội An còn là nơigiao thoa nhiều nền văn hóa như Sa Huỳnh, Chăm Pa với nhiều kiến trúc cổ, mangđậm dấu ấn Trung Hoa, Nhật Bản, là một thương cảng quốc tế sầm uất, nơi gặp gỡnhững thuyền buôn Trung Quốc, Nhật Bản và phương tây trong suốt thế kỷ XVII,XVIII Ngày nay Hội An được biết đến là một Thành Phố du lịch, hội đủ nhiều giátrị truyền thống như khu phố cổ, làng mộc Kim Bồng, làng gốm Thanh Hà, làng rauTrà Quế, bên cạnh đó có nhiều sản phẩm du lịch mới như: làng du lịch An Bàng,rừng dừa nước Cẩm Thanh, dịch vụ may do quần áo góp phần tạo nên phong phú,

đa dạng sản phẩm du lịch trên địa bàn Thành phố Hội An

Trong những nhiệm kỳ qua Đảng bộ và chính quyền Hội An xác định chuyểndịch cơ cấu theo hướng du lịch, dịch vụ, thu hút đầu tư, đẩy mạnh phát triển cơ sở

hạ tầng du lịch, sản phẩm du lịch tạo nét riêng cho Hội An như: Hội An - Thành phốsinh thái, Hội An – Nhân tình thuần hậu Từ đó lượng khách trong nước và Quốc tếđến với Hội An năm sau cao hơn năm trước Năm 2019 tổng lượt khách tham quanlưu trú đến Hội An ước đạt 5,35 triệu lược, tăng 5,24% so với cùng kỳ (khách quốc

tế đạt 4 triệu lược, tăng 5,16%); tổng lượng khách lưu trú đạt 1,97 triệu lượt, tăng13,56%, doanh thu bán vế tham quan phố cổ đath 287 tỷ đồng Du lịch Hội An tiếptục được bình chọn và đạt nhiều giải thưởng Quốc tế uy tín như “Thành phố tuyệtvời nhất thế giới”, “Điểm đến thành phố văn hóa hàng đầu châu Á năm 2019”, “Hội

An thành phố quyến rủ nhất thế giới”

Tuy nhiên, các sản phẩm du lịch tại thành phố Hội An chưa phát huy hết cáclợi thế tiềm năng, chưa đáp ứng nhu cầu đa dạng của các thị trường khách du lịchtrong từng loại hình sản phẩm, trong những năm qua lượng khách đến với Hội Anđều tăng nhưng thiếu bền vững, lượt khách quay trở lại Hội An còn hạn chế, các sản

Trang 8

phẩm du lịch thiếu tính đa dạng, thiếu nhiều dịch vụ vui chơi, giải trí về đêm, ít sảnphẩm du lịch thủ công, truyền thống mang đậm nét văn hóa và con người Hội An.

Xuất phát từ các vấn đề nêu trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu “Phát triển sản phẩm

du lịch thành phố Hội An” làm đề tài nghiên cứu luận văn tốt nghiệp của mình.

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận liên quan đến các sản phẩm du lịch nhằmđáp ứng yêu cầu phát triển sản phẩm du lịch

- Đánh giá thực trạng các sản phẩm du lịch của thành phố Hội An trong thờigian qua

- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển sản phẩm du lịch tại thành phố Hội

An trong thời gian tới đạt được các mục tiêu thỏa mãn đầy đủ nhất các nhu cầu củakhách du lịch, nâng cao hiệu quả kinh doanh du lịch, phát triển sản xuất - kinhdoanh, tạo nhiều việc làm cho cộng đồng dân cư địa phương, phát triển một cáchbền vững

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến pháttriển sản phẩm du lịch tại thành phố Hội An trong thời gian qua

Trang 9

5 Bố cục luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văngồm có 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển sản phẩm du lịch

Chương 2: Thực trạng sản phẩm du lịch thành phố Hội An

Chương 3: Giải pháp phát triển sản phẩm du lịch thành phố Hội An

6 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Trong những năm qua phát triển du lịch nói chung và phát triển sản phẩm dulịch nói riêng đã có nhiều tác giả nghiên cứu ở nhiều khía cạnh, phạm vi khácnhau.Trong quá trình nghiên cứu tác giả có tham khảo một số công trình nghiên cứu

có liên quan đến đề tài như sau:

- Nguyễn Duy Điền (2018), Luận văn thạc sỹ Phát triển sản phẩm du lịchhuyện đảo Phú Quốc, Đại học Duy Tân [3]

Luận văn đã thể hiện được thực tiễn phát triển sản phẩm du lịch tại huyện đảoPhú Quốc Đã nêu ra những thuận lợi và tồn tại trong quá trình phát triển sản phẩm

du lịch tại huyện đảo, qua đó đề ra 5 giải pháp phát triển sản phẩm du lịch củahuyện đảo Phú Quốc: (1) Phát triển thị trường du lịch, (2) Quy hoạch phát triển dulịch, (3) Xây dựng cơ sở hạ tầng, (4) Phân kỳ đầu tư và phát triển các loại hình dulịch, (5) Nâng cao chất lượng du lịch

- Hoàng Thị Thu Thảo (2012), Luận văn thạc sỹ Phát triển sản phẩm du lịch tạithành phố Đà Nẵng, Đại học Đà Nẵng [9]

Luận văn đã đưa ra được một số cơ sở lý luận về phát triển sản phẩm du lịch,đánh giá thực trạng phát triển sản phẩm du lịch tại thành phố Đà Nẵng và xác địnhsản phẩm du lịch biển là sản phẩm đặc thù của du lịch Đà Nẵng Bên cạnh đó khaithác các giá trị văn hóa làm nền tảng cho mục đích của các tour và tựa vào văn hóa

để phát triển Qua những phân tích đó, luận văn đã đưa ra được các giải pháp pháttriển sản phẩm du lịch tại thành phố Đà Nẵng về phát triển thị trường khách du lịch,sản phẩm du lịch, đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng du lịch, cơ chế chính sách, đầutư

Trang 10

- Đặng Vĩnh Thạch (2018), Luận văn Thạc sỹ Phát triển sản phẩm du lịchthành phố Tam Kỳ, Đại học Duy Tân [8].

Luận văn thể hiện thực trạng và tiềm năng phát triển các sản phẩm du lịchthành phố Tam Kỳ và nêu ra 9 giải pháp phát triển sản phẩm duc lịch: (1) Quyhoạch phát triển du lịch; (2) Đầu tư cơ sở hạ tầng du lịch; (3) Công tác xây dựng sảnphẩm du lịch; (4) Phát triển các sản phẩm, dịch vụ hỗ trợ du lịch; (5) Công tác xúctiến đầu tư, xúc tiến quảng bá du lịch, xây dựng thương hiệu du lịch; (6) Hỗ trợ pháttriển du lịch và dịch vụ du lịch; (7) Công tác quản lý; (8) Xây dựng môi trường dulịch văn hóa, văn minh, an toàn và thân thiện; (9) Phát triển và nâng cao chất lượngnguồn nhân lực du lịch

- Phạm Thị Bích Thủy (2011), Luận văn thạc sỹ Nghiên cứu phát triển du lịchvăn hóa tỉnh Thái Bình, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn [10]

Luận văn này thể hiện rõ được thực trạng của du lịch văn hóa tỉnh Thái Bình.Qua đó cũng đánh giá được điểm mạnh, điểm yếu của du lịch của tỉnh và đã đề xuất

7 giải pháp nhằm phát triển gồm: (1) Giải pháp về tổ chức, quản lý hoạt động dulịch văn hóa; (2) Giải pháp về đầu tư hoàn thiện cơ sở vật chất kỹ thuật; (3) Giảipháp về nguồn nhân lực du lịch; (4) Giải pháp về thị trường du lịch; (5) Giải pháp

về sản phẩm du lịch văn hóa; (6) Giải pháp về đẩy mạnh xúc tiến, quảng bá du lịch;(7) Giải pháp về bảo tồn di sản

Cao Thị Nguyệt (2014), Luận văn thạc sỹ Phát triển du lịch sinh thái huyệnVĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai theo hướng bền vững, Đại học Sư phạm Thành phố HồChí Minh [5]

Luận văn này thể hiện rõ được tiềm năng, thực trạng của phát triển du lịch sinhthái huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai Tác giả đã xác định được những yếu tố tácđộng của Du lịch sinh thái đến kinh tế xã hội và cảnh quan du lịch, bên cạnh đó cònnêu ra được tầm quan trọng của sự bền vững trong quá trình phát triển du lịch sinhthái, từ đó đã đề ra 8 giải pháp chủ yếu nhằm giải quyết vấn đề phát triển bền vữngđối với du lịch sinh thái huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai

Trang 11

Qua tham khảo một số đề tài nghiên cứu trên, tác giả nhận thấy đến nay ở ViệtNam đã có rất nhiều tác giả nghiên cứu về sự phát triển sản phẩm du lịch Các tácgiả đã đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau của vấn đề phát triển sản phẩm du lịch;mỗi tác giả có cách nghiên cứu sản phẩm du lịch, dịch vụ khác nhau ở những địađiểm khác nhau, có thực trạng và tiềm năng khác nhau, từ đó đề ra được các giảipháp cụ thể để phát triển sản phẩm du lịch Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có côngtrình nghiên cứu nào về phát triển sản phẩm du lịch tại thành phố Hội An, tỉnhQuảng Nam Xác định thành phố Hội An là thành phố du lịch, tuy nhiên các sảnphẩm du lịch hiện nay chưa phát huy hết lợi thế ,tiềm năng sẵn có Chính vì vậy, đềtài nghiên cứu này sẽ hệ thống các cơ sở lý thuyết về phát triển sản phẩm du lịch vàphân tích sản phẩm du lịch của thành phố Hội An cũng như tiềm năng phát triển sảnphẩm du lịch của thành phố Qua đó, đề tài đưa ra một số giải pháp góp phần vàoviệc phát triển sản phẩm du lịch của thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam.

Trang 12

Có thể nói, sản phẩm du lịch là sự kết hợp của các yếu tố vật chất và phi vậtchất nhằm thỏa mãn một nhu cầu, mong muốn nào đó Vấn đề của khái niệm sảnphẩm du lịch trước hết là ở chỗ cần xác định sự khác biệt trong cái mà sản phẩm dulịch mang lại, tức sự khác biệt giá trị sử dụng của sản phẩm du lịch so với các sảnphẩm khác.

Những du khách khác nhau có nhu cầu, mong muốn rất khác nhau đối vớichuyến du lịch Rõ ràng, họ không tìm ở bản thân các hàng hóa, dịch vụ họ mua.Chắc hẳn không phải là người ta đi du lịch nhằm để được ở khách sạn, được đi máybay, không hẳn là để được tiện nghi hơn ở nhà… Có một số khách du lịch muốn tìm

ở chuyến đi sự giải trí, số khác lại tìm ở chuyến đi một cơ hội nâng cao sự hiểu biết,lại có những người đi du lịch tìm những người bạn mới và những người khác muốnthông qua chuyến du lịch để giải tỏa những áp lực tâm lý… Một cách tổng quát, sảnphẩm du lịch cung cấp điều gì cho du khách? Khi một du khách bỏ tiền ra đi dulịch, kết thúc chuyến đi, tiền đã chi tiêu xong, họ được cái gì? Họ mong chờ gì ởchuyến du lịch? Đâu là giá trị sử dụng của sản phẩm du lịch?

Điều chung nhất mà sản phẩm du lịch mang lại cho khách là sự hài lòng vềviệc được trải qua một khoảng thời gian thú vị tại một nơi mình mong muốn, kếtthúc chuyến đi, điều trải qua sẽ tồn tại trong ký ức của du khách (cũng vì vậy, người

ta thường nói bán sản phẩm du lịch là bán giấc mơ cho du khách) Như vậy: “Sảnphẩm du lịch là sự kết hợp những dịch vụ và phương tiện vật chất trên cơ sở khai

Trang 13

thác các tiềm năng du lịch nhằm cung cấp cho du khách một khoảng thời gian thú

vị, một trải nghiệm du lịch trọn vẹn và sự hài lòng”

Một cách ngắn gọn hơn, khoản 5, điều 5 Luật Du lịch Việt Nam năm 2017 xácđịnh "Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ trên cơ sở khai thác giá trị tài nguyên

du lịch để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch”

Sản phẩm du lịch được định nghĩa như trên là sản phẩm du lịch hoàn chỉnh, nó

là sự tập hợp tất cả các hàng hóa và dịch vụ tạo nên toàn bộ chuyến đi Mỗi bộ phậncủa nó thỏa mãn một nhu cầu riêng lẻ nào đó trong chuyến đi, tạo nên các sản phẩm

du lịch riêng lẻ Các dịch vụ tham quan, giải trí, đi lại, lưu trú, ăn uống, mua sắm,…cũng là những sản phẩm du lịch nhưng là những sản phẩm du lịch riêng lẻ tạo nênsản phẩm du lịch hoàn chỉnh

1.1.2 Các yếu tố cấu thành sản phẩm du lịch

1.1.2.1 Dịch vụ tham quan, giải trí

Khách du lịch muốn đạt được sự thú vị, vui vẻ cao nhất trong suốt chuyến dulịch của mình Để thỏa mãn nhu cầu mà họ có thể lại chọn nhiều chiến đi khác nhau

để đem lại mong muốn và thỏa mãn nhu cầu đó như: đi tham quan, vãn cảnh, tìmhiểu và tham quan các di sản văn hóa và di tích lịch sử, chơi hoặc xem thể thao,tham quan viện bảo tàng, tham dự festival, tham quan tượng đài, chơi cờ bạc…Hầuhết các hoạt động này được tổ chức trên cơ sở khai thác các giá trị có sẵn của điểm

du lịch như điều kiện khí hậu, địa hình, các công trình văn hóa,… gọi là tài nguyên

du lịch

Dịch vụ tham quan, giải trí là những hoạt động được tổ chức nhằm đáp ứngnhu cầu về tìm hiểu, thưởng thức những giá trị của tài nguyên du lịch hoặc làm chođầu óc được thư giản thông qua việc tham gia các hoạt động vui chơi

Với hầu hết khách du lịch, chính nhu cầu tham quan, giải trí việc khiến người

ta ra khỏi nhà để đi du lịch Với những khách du lịch khác, tranh thủ thực hiện cuộctham quan, giải trí tại điểm đến cũng là nhu cầu rất phổ biến Vì vậy, dịch vụ thamquan, giải trí là một bộ phận không thể thiếu được, là bộ phận thỏa mãn nhu cầu đặctrưng của khách du lịch

Trang 14

Dịch vụ tham quan, giải trí được hình thành trên cơ sở khai thác tài nguyên dulịch Sự hấp dẫn, độc đáo, đa dạng của tài nguyên du lịch và theo đó của dịch vụtham quan, giải trí tạo nên sức thu hút và lưu giữ khách của điểm đến du lịch.

1.1.2.2 Dịch vụ lưu trú, ăn uống

Rời khỏi nhà để tham quan, giải trí,… yếu tố đi kèm với khách du lịch lànhững nhu cầu thiết yếu của họ về nghỉ ngơi, ăn uống, thưởng thức những hương vịđặc sản mà nơi họ muốn đến Vì vậy, họ cần có dịch vụ đảm bảo nơi ăn ở tại nơiđến trong quá trình thực hiện chuyến đi du lịch của mình

Dịch vụ lưu trú là những hoạt động nhằm đáp ứng cho khách hàng những nhucầu nghỉ ngơi, ăn uống trong quá trình rời khỏi nhà đi du lịch

Khách du lịch có thể chọn một trong những khả năng: khách sạn, nhà trọ, nhànghỉ, nhà người quen, …Ngoài ra dịch vụ lưu trú còn bao gồm cả việc cho thuê đất

để cắm trại và các hình thức quan trọng khác Để thỏa mãn nhu cầu nghỉ ngơi, ănuống, khách du lịch có thể tự mình chuẩn bị bữa ăn, hay đến nhà hàng để ăn, hayđược mời

Tuy sức hấp dẫn của một điểm đến du lịch chủ yếu là từ dịch vụ tham quan,giải trí nhưng chính dịch vụ lưu trú mới thường mang lại phần thu nhập chủ yếu chođiểm đến Ý nghĩa của phát triển dịch vụ lưu trú còn ở chỗ, nếu dịch vụ lưu trú củađiểm đến có chất lượng kém hoặc giá cả đắt đỏ, du khách cũng không thể lưu lại lâu

và viếng nhiều điểm tham quan, giải trí được

Một cơ sở kinh doanh dịch vụ lưu trú sẽ có lợi thế cạnh tranh, thường là lợi thếcạnh tranh cốt lõi, khi nó có vị trí gần với tài nguyên du lịch

1.1.2.3 Dịch vụ vận chuyển

Du lịch gắn liền với sự đi lại Dịch vụ vận chuyển nhằm tạo điều kiện chokhách du lịch tiếp cận tài nguyên du lịch theo cách mà họ thích, nhưng nói chung lànhanh chóng, tiết kiệm và tiện nghi Nó bao gồm việc đưa du khách từ nơi cư trúđến các điểm đến du lịch và trong phạm vi một điểm đến du lịch Để thực hiện dịch

vụ này, người ta có thể sứ dụng các loại phương tiện vận chuyển khác nhau củađường không, đường thủy, đường sắt và đường bộ

Trang 15

Nếu dịch vụ lưu trú là thu nhập chủ yếu của điểm đến thì dịch vụ vận chuyểnthường là phần chi tiêu có tỷ trọng lớn nhất của khách du lịch, nhất là trong trườnghợp khách du lịch quốc tế.

1.1.2.4 Dịch vụ mua sắm

Mua sắm cũng là hình thức giải trí, đồng thời đối với nhiều khách du lịch thìviệc mua quà lưu niệm cho chuyến đi là không thể thiếu được Dịch vụ này baogồm các hình thức bán lẻ hàng lưu niệm, hàng thủ công mỹ nghệ, tạp hóa, vảivóc… Những doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ này thường được bố trí ở vị trí gầntài nguyên du lịch và các cơ sở lưu trú, kinh doanh những mặt hàng gắn liền vớihình ảnh của tài nguyên và điểm đến du lịch

1.1.2.5 Các dịch vụ trung gian trong du lịch

Trên đây là bốn bộ phận dịch vụ cơ bản hợp thành sản phẩm du lịch Việc phốihợp các bộ phận hợp thành một sản phẩm du lịch hoàn chỉnh và nhận các dịch vụnày của khách du lịch là quá trình phức tạp và chứa đựng nhiều rủi ro Khách dulịch thường e ngại liệu có thể mua được vé vận chuyển đi và về và đúng thời gian?Điểm tham quan, giải trí nào cần đến, điểm nào không và điểm nào cần đến trước,điểm nào đến sau? Liệu có thể đăng ký được phòng khách sạn và nên ngủ đâu, ăn ởđâu? Đi lại tại điểm đến, sử dụng phương tiện nào là hợp lý nhất? Do đó, sự phốihợp này có thể được tiến hành do công ty du lịch tổ chức dưới hình thức bán mộtchương trình phối hợp các sản phẩm du lịch riêng lẻ nhưng cũng có thể do bản thânkhách du lịch tự lo lấy

Với khách tự tổ chức, họ tự nghiên cứu nơi đến, tự đăng ký phương tiện vậnchuyển, nơi ăn, chốn ở…Sở dĩ khách muốn tự tổ chức vì họ là những người có cảmgiác sâu sắc muốn được độc lập và ghét bị lệ thuộc vào một nhóm Khá nhiều khách

du lịch cảm thấy thú vị khi tự tìm hiểu và tự tổ chức chuyến đi Trong trường hợpnày các sách hướng dẫn khách du lịch là cơ sở tốt nhất giúp họ lựa chọn các điểmtham quan và các cơ sở lưu trú Một phượng diện khác, về lý do kinh tế, là khách dulịch thường nghĩ rằng chính một chuyến du lịch tự tổ chức sẽ cho phép họ khám phánhiều điều hơn với chi phí ít hơn Thực hiện theo cách này là những khách du lịch

Trang 16

có khát khao khám phá cao, chấp nhận rủi ro hay tự tin vào khả năng thu xếp củamình Họ thường là khách du lịch thanh niên, sinh viên hoặc những người có nhiềukinh nghiệm du lịch.

Đối với một số khách du lịch, nhận thức được những khó khăn trong khi lựachọn và sắp xếp theo trình tự hợp lý một loạt các dịch vụ khác nhau tại những nơi

xa lạ, cũng như e ngại những rủi ro có thể thể xảy ra tại điểm đến, họ sử dụng cácchương trình du lịch trọn gói (bảo đảm tất cả những dịch vụ và hàng hóa cần thiếttrong suốt thời gian của chuyến đi) hoặc các chuyến du lịch khô (sec tour- vé khứhồi và vài đêm ở khách sạn) Từ đó xuất hiện những công ty đóng vai trò trung giangiữa các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ tham quan, giải trí, lưu trú, vận chuyển,

và khách du lịch Họ chỉ thu gom, sắp xếp các dịch vụ thành một chương trình dulịch và thương mại hóa chúng Trong thực tế, khách du lịch cũng ý thức rằngchương trình du lịch trọn gói thường rẻ hơn rất nhiều so với tự tổ chức

Dịch vụ trung gian là dịch vụ phối hợp các bộ phận hợp thành sản phẩm dulịch để tạo nên một phần hay toàn bộ các sản phẩm du lịch hoàn chỉnh và thươngmại hóa chúng

Trong việc này có 2 hoạt động chính có thể hợp nhất trong hoạt động của mộtdoanh nghiệp lữ hành, hay được chuyên môn hóa hình thành hai loại doanh nghiệp:

- Tour operator (T.O.): thu gom, sắp xếp các dịch vụ riêng lẻ thành một chươngtrình du lịch, quảng bá và bán sĩ chúng cho hệ thống các đại lý du lịch

- Đại lý du lịch (Travel agency): Mua lại các chương trình du lịch của Touroperator bán lại cho khách du lịch Họ cũng thường đảm nhận việc cung cấp thôngtin du lịch và nhận một số việc như làm thủ tục VISA, đăng ký giữ chỗ khách sạn,bán vé máy bay… cho khách

1.1.3 Đặc điểm của sản phẩm du lịch

1.1.3.1 Những đặc điểm từ tính chất dịch vụ của sản phẩm du lịch

Theo Chris Cooper (2008), "mặc dù sản phẩm du lịch được hình thành từ tàinguyên du lịch, cơ sở hạ tầng cũng như các nguồn lực vật chất khác, nhưng cái màkhách du lịch mua là những trải nghiệm được tạo ra từ cơ sở hạ tầng và các yếu tố

Trang 17

nguồn lực chứ không phải bản thân chúng" [1] Đặc điểm dịch vụ của sản phẩm dulịch thể hiện rõ nhất ở chỗ sản phẩm du lịch, cũng như dịch vụ nói chung, không thểđược sản xuất mà không có sự thỏa thuận và hợp tác của người tiêu dùng Chúng lànhững sản phẩm dựa trên sự trải nghiệm (an experience-based product) và chúng taphải xem xét nó trong sự không thể tách rời giữa quá trình sản xuất và quá trình tiêudùng.

Là một loại dịch vụ, sản phẩm du lịch có những đặc điểm sau:

- Sản phẩm du lịch có tính phi vật thể

Trải nghiệm du lịch mà khách du lịch nhận được là phi vật thể Trong cấu trúcsản phẩm du lịch, các dịch vụ tham quan, giải trí, vận chuyển cho đến lưu trú, ănuống về cơ bản là chuỗi các hành động, chúng có tính không thể sờ mó được(intagible)

- Chất lượng dịch vụ khó đồng nhất

Sự vận hành của máy móc là không đổi dẫn đến chất lượng sản phẩm vật chấtkhá đồng nhất Nhưng trong dịch vụ, chất lượng dịch vụ phụ thuộc nhiều vào yếu tốcon người, bao gồm cả kỹ năng và thái độ phục vụ của nhân viên lẫn kinh nghiệm

sử dụng dịch vụ và sự hợp tác của khách hàng Khó có thể đòi hỏi thao tác của nhânviên luôn luôn có độ chuẩn mực chính xác Đã vậy, thái độ phục vụ của nhân viên

bị chi phối bởi các yếu tố bất định như tình trạng tâm lý, tình cảm, sức khỏe… của

họ và thái độ của khách hàng Đặc điểm này dẫn đến những khó khăn trong quản lýchất lượng dịch vụ Để quản lý chất lượng tốt, giải pháp thường được sử dụng làxây dựng các chuẩn mực chất lượng cụ thể cho từng hoạt động phục vụ trên cơ sởxây dựng quy trình phục vụ hết sức chi tiết

- Khách hàng khó có đánh giá chất lượng dịch vụ một cách có tính phân tích

mà chỉ có một cảm nhận chung về chất lượng và thường là khá mơ hồ

Khi được hỏi về chất lượng của một sản phẩm vật chất, một chiếc xe gắn máychẳng hạn, khách hàng dễ dàng chỉ ra những mặt được và chưa được của sản phẩm.Trong dịch vụ, tuy có thể đánh giá chất lượng chung của dịch vụ, chẳng hạn kháchhàng có thể đánh giá rằng nhà hàng A là sang, nhưng họ thường sẽ lúng túng khi

Trang 18

được hỏi nhà hàng A sang ở những chỗ nào Vì cảm nhận chất lượng dịch vụ là cảmgiác chung nên trong chuỗi hành động tạo nên dịch vụ, chỉ cần một vài hành độngkhông đạt yêu cầu, khách hàng sẽ đánh giá kém về chất lượng của toàn bộ dịch vụ.Xác định các điểm nhạy cảm, quản lý chặt chất lượng ở những điểm này là cầnthiết.

- Do tính phi vật thể, chúng ta khó bảo vệ bản quyền

Một chương trình du lịch mới, hay quy trình phục vụ độc đáo dễ bị sao chép vìchúng ta không thể gắn thương hiệu lên những sản phẩm này Từ đó, người tiêudùng tin tưởng vào thương hiệu của Công ty hơn là thương hiệu của sản phẩm Têncủa một chương trình du lịch cụ thể ít ý nghĩa hơn tên công ty cung cấp chươngtrình đó Xây dựng thương hiệu chung của Công ty, thường xuyên đổi mới sảnphẩm là yêu cầu của kinh doanh du lịch Ngoài ra, vì đặc điểm này, chúng ta cầnchú trọng các bằng chứng vật chất và vật thể hóa các thông tin quảng bá…

- Quá trình sản xuất và tiêu dùng dịch vụ diễn ra cùng lúc, cùng nơi

Do tính phi vật thể, dịch vụ khó có thể thể vận chuyển, đặc biệt là sản phẩm dulịch, các sản phẩm du lịch gắn liền với tài nguyên du lịch, khách du lịch phải đếnnơi cung ứng để thụ hưởng Mặt khác, chỉ với sự có mặt và yêu cầu tiêu dùng dịch

vụ của khách quá trình cung ứng dịch vụ mới được khởi động

- Sản phẩm dịch vụ không thể lưu kho được, sản phẩm không được tiêu thụ là sản phẩm bị mất hoàn toàn

Điều này đặc biệt quan trọng đối với những ngành mà tỷ trọng chi phí cố địnhlớn như ngành khách sạn, nhà hàng, giải trí, vận chuyển hàng không…Điều này dẫnđến yêu cầu khai thác công suất thiết kế là yêu cầu sống còn của doanh nghiệp dulịch

Do không có kho để điều tiết lượng sản phẩm đưa ra thị trường, trong kinhdoanh dịch vụ, vấn đề đăng ký giữ chỗ là cực kỳ quan trọng Nó được coi là sự dựtrữ lượng cầu, bảo đảm sự điều chuyển cầu tương thích với lượng cung cố định.Đối với sản phẩm vật chất, chúng ta có thể kiểm tra chất lượng sản phẩm saukhi sản xuất, trước khi bán cho khách hàng tiêu dùng Trong dịch vụ, chúng ta

Trang 19

không thể đánh giá chất lượng sản phẩm trước khi nó được tiêu dùng Quản lý chấtlượng toàn bộ quá trình là cần thiết trong kinh doanh du lịch.

- Sự tham gia của khách hàng trong quá trình tạo ra và đánh giá chất lượng dịch vụ

Do không vận chuyển được, khách hàng phải có mặt trong nơi sản xuất dịch

vụ, không những thế, họ còn tham gia vào quá trình tạo ra dịch vụ Vì vậy, chấtlượng dịch vụ còn phụ thuộc vào kinh nghiệm, trình độ và sự hợp tác của kháchhàng Nhưng rủi thay, kinh nghiệm, trình độ và sự hợp tác của khách hàng là nhữngbiến số mà doanh nghiệp không thể kiểm soát được Sự tham gia của khách hàngkhiến việc quản lý sự tham gia của khách hàng và tổ chức luồng khách hàng là mộtnội dung quan trọng trong quản trị cung ứng dịch vụ; Nhân viên tiếp xúc trực tiếpvới khách hàng có vai trò to lớn trong cảm nhận của khách hàng về chất lượng dịchvụ;

1.1.3.2 Những đặc điểm riêng của sản phẩm du lịch

Bên cạnh những đặc điểm xuất phát từ bản chất dịch vụ, sản phẩm du lịch cónhững đặc điểm riêng có của nó như sau:

Sản phẩm du lịch thỏa mãn những nhu cầu đặc biệt và thứ yếu của con người

Sản phẩm du lịch thỏa mãn những nhu cầu đặc biệt như nhu cầu hiểu biết khotàng văn hóa lịch sử, nhu cầu thưởng thức cảnh đẹp thiên nhiên, nhu cầu gặp gỡngười thân,… Đó là những nhu cầu riêng có của con người, nằm ở lớp trên trongTháp nhu cầu Maslow Mặc dù trong cấu thành sản phẩm du lịch, có những hànghóa và dịch vụ thiết yếu thỏa mãn nhu cầu ăn, ở, đi lại…, nhưng mục đích chính củachuyến du lịch là nhằm thỏa mãn những nhu cầu cấp cao Ngoài ra, sản phẩm dulịch là những trải nghiệm và việc tiêu dùng nó đòi hỏi chi phí thời gian Từ đó,

- Ngay cả các nhu cầu thiết yếu trong chuyến đi, khách du lịch có đòi hỏi cao

về chất lượng phục vụ, thường cao hơn mức bình thường hàng ngày của họ;

- Khách du lịch thường là những khách hàng có trình độ văn hóa cao, họ ýthức về về những tác động tiêu cực có thể có do hoạt động du lịch của họ;

Trang 20

- Nhu cầu du lịch chỉ xuất hiện khi con người có thời gian nhàn rỗi và thu nhập

đủ lớn sau khi đã được dùng để đáp ứng được các nhu cầu thiết yếu;

- Nếu việc mua hàng hóa thông thường chỉ bị ràng buộc bởi đường ngân sáchthì việc mua sản phẩm du lịch còn bị ràng buộc thêm bởi quỹ thời gian rảnh dànhcho du lịch;

- Lượng cầu du lịch khá nhạy cảm với những biến động về giá cả, thu nhập vàđiều kiện an toàn, an ninh;

Sản phẩm du lịch sử dụng cả những nguồn lực khan hiếm và không khan hiếm

Kinh tế học giải quyết việc sử dụng có hiệu quả các nguồn lực khan hiếm Tuynhiên, trong du lịch, các tài nguyên du lịch như thắng cảnh, di tích tham quan, khíhậu dễ chịu, lòng hiếu khách của cư dân địa phương… là những nguồn lực khôngkhan hiếm hoặc ít khan hiếm Việc tiêu dùng của du khách này không hoặc ít ảnhhưởng đến sự tiêu dùng của du khách khác Từ đó,

- Nhiều lợi ích tại điểm đến được khách du lịch hưởng thụ miễn phí Ở nhữngnơi có bán vé tham quan thì việc định giá không theo các quy luật kinh tế thôngthường, nó có thể chỉ được sử dụng để hạn chế lượng khách, để hỗ trợ cho kinh phíhoạt động và bảo tồn,…

- Do là nguồn lực không hoặc ít khan hiếm nên có thể bị sử dụng quá mức dẫnđến tình trạng xói mòn nguồn lực, ảnh hưởng đến sự khai thác lâu dài Phát triển dulịch bền vững là vấn đề phải luôn được đặt ra trong chiến lược phát triển của cácđiểm đến

Sản phẩm du lịch được tiêu dùng chủ yếu ở địa điểm ngoài nơi cư trú thường xuyên của khách du lịch

Đặc thù này cần xem xét trên hai khía cạnh Thứ nhất, nơi cư trú và nơi đếncủa du khách thường xa nhau về không gian, khác biệt về điều kiện tự nhiên, vănhóa, xã hội Tùy đặc điểm tâm lý của khách, hướng ngoại hay hướng nội, mà sựkhác biệt nói trên là thu hút hay cản trở du lịch Ngoài ra, chi phí tài chính, chi phíthời gian và hao tổn sức khỏe để đi từ vùng gửi khách đến vùng nhận khách lànhững biến số âm tính ảnh hưởng đến dòng khách (hai vấn đề này sẽ lần lượt được

Trang 21

phân tích sâu hơn ở chương 3) Thứ hai, do dịch vụ du lịch gắn liền với sự tương tácgiữa người tiêu dùng và nhà sản xuất trong suốt quá trình tiêu dùng dịch vụ du lịchnên bản chất di động của du lịch đòi hỏi phải xem xét tiến trình tiêu dùng và vì vậy

cả tiến trình sản xuất theo thời gian và không gian Tại mỗi nơi, mỗi lúc, chúng taxem xét việc làm thế nào các yếu tố khác nhau của tiêu thụ và sản xuất đến với nhautạo ra những trải nghiệm khác nhau và do đó kết quả khác nhau cho người tiêu dùng

lý đặc thù, cluster chẳng hạn (trong du lịch là DMO: Destination ManagementOrganisation), được một số nơi áp dụng thông qua việc hình thành một Hội đồng

mà thành viên sẽ bao gồm đại diện chính quyền một số địa phương, đại diện cơ

Trang 22

quan quản lý nhà nước các ngành có liên quan, các doanh nghiệp du lịch và các tổchức tư vấn du lịch và đại diện các cộng đồng cư dân các địa phương.

Việc kinh doanh sản phẩm du lịch có tính thời vụ

Trong du lịch, lượng cầu biến động có tính chu kỳ theo mùa vụ Trong khi đó,lượng cung khá ổn định trong thời gian tương đối dài Điều đó dẫn đến có lúc cungkhông đáp ứng được cầu du lịch, có lúc cầu du lịch quá thấp so với khả năng cungứng của nguồn cung Hiện tượng này gọi là tính thời vụ trong kinh doanh du lịch.Hiện tượng này làm cho du lịch giữ một khối lượng lớn các nguồn lực xã hội nhưngkhông khai thác đầy đủ Tính thời vụ càng căng thẳng, hiệu quả kinh doanh du lịchcàng thấp Từ đó, thực hiện các giải pháp hạn chế tính thời vụ luôn là sự quan tâmcủa các nhà quản lý vùng du lịch và doanh nghiệp du lịch

1.2 Phát triển sản phẩm du lịch

1.2.1 Khái niệm phát triển sản phẩm du lịch

Theo Peter MacNulty (2013), phát triển sản phẩm du lịch là một quá trìnhtrong đó tài nguyên của điểm đến được sử dụng để đáp ứng nhu cầu của khách dulịch quốc tế và trong nước [6]

Nếu xét trên phạm vi rộng, phát triển sản phẩm du lịch gồm tất cả các thànhphần mà khách tham gia trong quá trình du lịch tại một điểm đến như cơ sở hạ tầng,nhân viên phục vụ, cơ sở lưu trú, điểm tham quan và các hoạt động giải trí, các tiệních kèm theo Nếu xét trên phạm vi hẹp hơn, tập trung hơn vào lĩnh vực du lịch thìphát triển sản phẩm du lịch chỉ bao gồm những điểm tham quan, các hoạt động và

cơ sở vật chất được phục vụ riêng cho khách du lịch

Qua phân tích trên, luận văn tiếp cận phát triển sản phẩm du lịch theo phạm vihẹp, tập trung vào lĩnh vực du lịch Chính vì vậy, phát triển sản phẩm du lịch đượchiểu là một quá trình trong đó tài nguyên du lịch được sử dụng, góp phần tạo ra cácsản phẩm du lịch để đáp ứng nhu cầu của khách như sản phẩm lưu trú, tham quan,vui chơi giải trí …

Phát triển sản phẩm du lịch hiện nay không chỉ chú trọng đến phát triển về quy

mô, số lượng các doanh nghiệp kinh doanh du lịch, dịch vụ du lịch…; kết hợp với

Trang 23

sự tăng trưởng về doanh thu, số lượng khách du lịch đến lưu trú kể cả trong nước vàquốc tế, mà chuyển trọng tâm sang nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ du lịch,hoàn thiện các sản phẩm du lịch, các loại hình du lịch ngày càng được đa dạng hóa,

cơ cấu dịch vụ du lịch tăng lên chiếm tỷ trọng cao trong tổng cơ cấu kinh tế chung.Bên cạnh đó, phát triển sản phẩm du lịch cần quan tâm đến chất lượng nguồn nhânlực du lịch, công tác quản lý điểm đến

1.2.2 Nguyên tắc phát triển sản phẩm du lịch

Trên cơ sở giải quyết hài hòa mối quan hệ biện chứng giữa nhu cầu của thịtrường khách du lịch và khả năng cung cấp sản phẩm du lịch của điểm đến, có thểxác định được các yêu cầu và nguyên tắc sau đối với việc xây dựng và phát triển sảnphẩm du lịch:

- Các yêu cầu và nguyên tắc đối với việc xây dựng, phát triển sản phẩm du lịchtổng thể:

Yêu cầu chủ đạo và xuyên suốt quá trình xây dựng và phát triển sản phẩm dulịch tổng thể là phát triển bền vững: thỏa mãn các nhu cầu du lịch của thị trường,đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội mà không làm suy giảm quá nhiều chất lượng củatài nguyên và môi trường trong tương lai

Để đảm bảo yêu cầu này phát triển sản phẩm phải tuân thủ nguyên tắc sau:+ Nguyên tắc phát triển hệ thống: sản phảm phải được phát triển một cách hệthống và đồng bộ, đúng với chức năng được qui định trong hệ thống Tránh sự pháttriển manh mún, trùng lặp ảnh hưởng đến sức hấp dẫn tổng thể và sự bền vững vềcấu trúc

+ Nguyên tắc kinh tế thị trường: được thể hiện ở chỗ sản phẩm phải có nét đặtthù riêng biệt để tạo ra thương hiệu và sức cạnh tranh lớn trong thị trường khu vực.Sản phẩm phải đáp ứng được toàn diện các nhu cầu đa dạng của thị trường mục tiêu(nhu cầu vật chất, nhu cầu tinh thần, khả năng chi trả, khả năng tiếp cận) Sản phẩmphải phù hợp với điều kện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương vàkhả năng đầu tư sản xuất của doanh nghiệp để tiết kiệm chi phí, đem lại lợi nhuậncao

Trang 24

+ Nguyên tắc bền vững môi trường (bao gồm cả môi trường tự nhiên và xãhội) Sản phẩm phải góp phần bảo tồn và tôn vinh được các giá trị tài nguyên vàmôi trường khu vực.

Sản phẩm phải tạo điều kiện cho các ngành nghề địa phương cùng phát triển

và cuốn hút được người dân tham gia vào quá trình đầu tư sản xuất

- Các yêu cầu và nguyên tắc đối với việc phát triển các loại hình dịch vụ dulịch:

Yêu cầu chung đối với tất cả các loại hình dịch vụ du lịch là thông qua cáchoạt động của mình để giới thiệu với du khách các giá trị đặc thù của tài nguyên dulịch Các yêu cầu riêng đối với từng loại dịch vụ là:

+ Dịch vụ lữ hành: phải hoàn chỉnh và đầy đủ ở mức tối đa, phối hợp nhịpnhàng các dịch vụ đơn lẻ theo những cách phù hợp để thỏa mãn hoàn toàn được cácthị trường đa dạng của nó

+ Dịch vụ vận chuyển: cần tạo khả năng tiếp cận tốt nhất với tài nguyên,không gây khói bụi và tiếng ồn và chất thải môi trường Qui mô và kiểm dáng hàihòa với cảnh quan

+ Dịch vụ lưu trú: có số lượng và qui mô phát triển đáp ứng được nhu cầukhách mà không vượt quá sức chứa môi trường Đảm bảo các yêu cầu sự dụngthuận lợi, tiện nghi, vệ sinh Qui hoạch thiết kế công trình kiến trúc phải tạo ra sứchấp dẫn tổng thể cho điểm đến và đáp ứng tốt tâm lý thẩm mỹ của từng đối tượngthị trường khách

+ Dịch vụ vui chơi giải trí: ưu tiên đầu tư các loại hình vui chơi giải trí gắn vớiviệc khai thác đặc thù của tài nguyên du lịch để tạo ra nét đặc trưng riêng biệt Vịtrí, qui mô công trình phải hài hóa với cảnh quan, không vượt khả năng chịu tải củamôi trường

+ Dịch vụ ăn uống: ngoài tiêu chuẩn về vệ sinh và chất lượng thực phẩm, cácdịch vụ ăn uống cần phải thông qua hoạt động của mình để giới thiệu với du khách

về phong tục, tập quán và văn hóa ẩm thực của địa phương

Trang 25

+ Dịch vụ hàng hóa: phù hợp với nhu cầu của khách về nội dung, chất lượng,thẩm mỹ Hàng hóa lưu niệm phải mang đậm nét đặc trưng bản địa mà các địaphương khác không có.

1.2.3 Nội dung phát triển sản phẩm du lịch

1.2.3.1 Xây dựng chiến lược phát triển sản phẩm du lịch

Để có thể phát triển sản phẩm du lịch của một điểm đến, việc xây dựng chiếnlược phát triển sản phẩm là vấn đề trọng tâm cần đặt lên hàng đầu Một chiến lượcđúng đắn giúp điểm đến thiết lập hướng đi đúng cho sản phẩm, giúp các doanhnghiệp trong ngành xác định được phương hướng đầu tư, thiết kế sản phẩm phù hợpvới định hướng phát triển của điểm đến

Việc xây dựng chiến lược phát triển sản phẩm du lịch có 5 bước cơ bản

Thứ nhất, định hướng phát triển sản phẩm du lịch, bao gồm:

+ Xác định vị trí, vai trò du lịch của địa phương

+ Định hướng khai thác tài nguyên du lịch theo không gian và đầu tư pháttriển

+ Định hướng phát triển các loại hình du lịch, tuyến điểm du lịch và loại hìnhdịch vụ phù hợp với nhu cầu thị trường mà không làm tổn hại đến tàinguyên và môi trường trong tương lai

Thứ hai, phân tích nhu cầu sản phẩm du lịch của thị trường, dựa trên việc phân tích các khía cạnh sau:

+ Bối cảnh kinh tế – xã hội, chính trị và trình độ khoa học kỹ thuật thế giới.+ Cơ chế chính sách của Nhà nước có liên quan đến sự phát triển của du lịch

và sản phẩm du lịch

+ Xác định xu hướng phát triển của thị trường

Thứ ba, Phân tích khả năng đáp ứng nhu cầu du lịch của điểm đến, đánh giá tiềm năng du lịch của điểm đến trên cơ sở:

+ Phân tích đánh giá điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội

+ Thống kê, phân tích, đánh giá mức độ hấp dẫn của tài nguyên du lịchvà mức

độ nhạy cảm của môi trường

Trang 26

+ Phân tích đánh giá điều kiện cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất của ngành du lịch.

Thứ 4, phân tích đánh giá hiện trạng khai thác tài nguyên và phát triển sản phẩm du lịch tại địa phương, bao gồm:

+ Hiện trạng khách: số lượng, doanh thu, cơ cấu, đặc điểm nhu cầu…

+ Hiện trạng khai thác tài nguyên và những tác động đến môi trường

+ Hiện trạng tổ chức không gian và tuyến điểm du lịch

+ Những khó khăn về quản lý, kinh doanh, nguồn nhân lực trong quá trình xâydựng sản phẩm

cơ bản để thu hút và giữ chân du khách

Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ trên cơ sở khai thác giá trị tài nguyên

du lịch để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch Theo các chuyên gia du lịch, cácdoanh nghiệp, địa phương muốn thu hút khách du lịch, ngoại trừ những điều kiện cơbản về hạ tầng kỹ thuật thì yếu tố cốt lõi là sản phẩm du lịch phải độc đáo, đa dạng.Cùng một lúc, các loại hình dịch vụ ăn, ở, vui chơi, thăm thú, đi lại phải đáp ứngtốt nhất Ngay trong cùng một nhóm sản phẩm, cơ cấu các loại sản phẩm cũng phảiphong phú Chẳng hạn, về sản phẩm quà lưu niệm, ngoài những mặt hàng phổthông, phải có những mặt hàng cao cấp đáp ứng theo từng phân khúc khách, nhữngsản phẩm phổ thông nơi đâu cũng có yêu cầu bắt buộc phải có đặc sản địa phương,vừa phải đa dạng chủng loại, hình thức Hay tour du lịch, sản phẩm này tương đối

ổn định, nhưng cũng đòi hỏi phải linh hoạt, phong phú Ngoài những tour được định

Trang 27

sẵn, phổ biến, có thể có thêm tour chuyên đề (du lịch văn hóa, du lịch sinh thái, dulịch hội thảo, du lịch mạo hiểm ), tour mở.

Bên cạnh đó, ngành du lịch phát triển không xuất phát từ một đơn vị kinhdoanh du lịch mà phải dựa trên sự phát triển tổng thể của các ngành với đa dạngdịch vụ Do vậy, để đa dạng hóa sản phẩm du lịch cần có sự phát triển đồng bộ về

cơ sở hạ tầng và cả nhân lực phục vụ du lịch

1.2.3.3 Nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch

Chất lượng dịch vụ được hiểu là kết quả của sự so sánh của khách hàng, đượctạo ra giữa sự mong đợi của họ về dịch vụ đó và sự cảm nhận của họ khi sử dụngdịch vụ đó Nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch là toàn bộ những hoạt động đểkhông những duy trì mà còn đưa chất lượng dịch vụ lên mức cao hơn trước nhằmthỏa mãn mong đợi của khách du lịch, xã hội và đem lại hiệu quả cho doanh nghiệp.Berry và Parasuraman đã đưa ra 5 tiêu chí đánh giá chất lượng dịch vụ, cáctiêu chí này được sắp xếp theo thứ tự quan trọng giảm dần đối với khách hàng, baogồm sự tin cậy, tinh thần trách nhiệm, sự đảm bảo, sự đồng hành và tính hữu hình

- Sự tin cậy: sự tin cậy chính là khả năng cung cấp dịch vụ như đã giới thiệu vàhứa hẹn một cách chính xác, nó còn bao gồm sự nhất quán ngay từ lần đầu tiêncung ứng dịch vụ mà doanh nghiệp phải thực hiện Đây là một tiêu chí đảm bảo vềchất lượng dịch vụ và là một trong những mong đợi cơ bản của khách hàng

- Tinh thần trách nhiệm: là sự sẵn dàng giúp đỡ khách hàng một cách tíchcực và cung cấp dịch vụ một cách hăng hái, nhiệt tình Trong trường hợp dịch vụ bịsai hỏng, nếu như khả năng khắc phục kịp thời và nhanh chóng có thể tạo ra sự cảmnhận tích cực về chất lượng

- Sự đảm bảo: là việc thực hiện dịch vụ một cách lịch sự và kính trọng kháchhàng, giao tiếp có kết quả với khách hàng, thực sự quan tâm và giữ bí mật cho họ

- Sự đồng cảm: thể hiện việc chăm sóc chu đáo, chú ý tới cá nhân kháchhàng Sự đồng cảm bao gồm khả năng tiếp cận và nỗ lực tìm hiểu nhu cầu củakhách hàng

Trang 28

- Tính hữu hình: là sự biểu hiện ra bên ngoài về điều kiện làm việc, trangthiết bị, con người, đồng phục, tác phong và các phương tiện thông tin, v.v tất cảcác yếu tố này tạo nên chất lượng của dịch vụ cũng như sự tự tin tưởng đối vớikhách hàng.

Đây cũng là 5 tiêu chí để đánh giá chất lượng dịch vụ du lịch và trong đó cóbốn tiêu chí mang tính vô hình và chỉ có tính hữu hình là tiêu chí mang tính hữuhình Do đó, các nhà cung ứng dịch vụ du lịch thường coi tiêu chí hữu hình chính làbản thông điệp gửi tới khách hàng Dịch vụ càng phức tạp và vô hình thì kháchhàng sẽ càng tin vào các yếu tố hữu hình

Ngoài ra, thông thường khi đánh giá chất lượng dịch vụ du lịch, người ta còndựa vào một số tiêu thức cơ bản như sự đa dạng của các loại hình du lịch, chấtlượng của các điều kiện thực hiện dịch vụ và chất lượng của đội ngũ lao động Khithực hiện việc đánh giá, các chỉ tiêu này được xây dựng thành những chỉ tiêu cụ thể

và được đánh giá theo hình thức cho điểm Công tác xây dựng hệ thống điểm chuẩn

và mức điểm cụ thể khi đánh giá phải dựa trên cơ sở nghiên cứu kỹ về nhu cầu củathị trường mục tiêu, điều kiện cụ thể của cơ sở, v.v

- Sự đa dạng của các loại hình du lịch: Sự đa dạng thể hiện qua số lượng,chủng loại nhiều hay ít của hệ thống các dịch vụ cung cấp Sự đa dạng đảm bảomang lại cho khách du lịch nhiều cơ hội lựa chọn Tùy theo mỗi lĩnh vực dịch vụ sẽ

có sự đa dạng khác nhau Chẳng hạn như đối với dịch vụ lưu trú, sự đa dạng thểhiện qua các thông số về số lượng phòng tối thiểu, cơ cấu phòng và các mức giákhác nhau Trong khi đó, đối với dịch vụ ăn uống thì đó chính là sự phong phúcủa thực đơn và sự linh hoạt về định suất ăn, Và đối với lĩnh vực lữ hành thì lại là

số lượng tuyến đi, chương trình du lịch và sự đa dạng về các chương trình, dịch vụđược tổ chức trên cùng một tuyến

- Chất lượng của các điều kiện thực hiện dịch vụ: Đây chính là yếu tố thuộc

về cơ sở vật chất kỹ thuật Chất lượng thể hiện thông qua hai mặt bao gồm một mặtchính là chất lượng của chính bản thân các trang thiết bị, mặt khác chính là sự đồng

Trang 29

bộ và tổ chức hợp lý đảm bảo được sự thuận lợi cho cả quá trình phục vụ của ngườilao động cũng như khách du lịch trong quá trình tiêu dùng

- Chất lượng của đội ngũ lao động (phương hướng thực hiện các dịch vụ):Chất lượng của đội ngũ lao đông được đánh giá chủ yếu thông qua trình độ của laođộng như trình độ chuyên môn nghiệp vụ, trình độ học vấn và ngoại ngữ, khả nănggiao tiếp, Bên cạnh đó, thái độ phục vụ đối với khách du lịch và tinh thần tráchnhiệm đối với công việc cũng thể hiện được chất lượng của đội ngũ lao động

1.2.4 Phát triển các loại hình du lịch

Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả chỉ đề cập đến cơ sở lý luận pháttriển các loại hình du lịch, sản phẩm du lịch biển đảo, sản phẩm du lịch truyềnthống

- Sản phẩm du lịch biển đảo là loại hình du lịch được phát triển dựa trên nhữngtiềm năng sẵn có về biển, diễn ra trong các vùng có tiềm năng về biển đảo hướng tớithỏa mãn nhu cầu của con người về vui chơi giải trí, nghỉ dưỡng, tham quan, tắmbiển, nghiên cứu… sản phẩm du lịch biển đảo là sản phẩm du lịch theo đặc thù tàinguyên, được hiểu là sản phẩm du lịch dựa trên cơ sở khai thác tiềm năng du lịchbiển đảo của địa phương với các loại hình như tắm biển, lặng biển, thể thao biển,nghĩ dưỡng, thăm quan cảnh quan, di tích, các hệ sinh thái biển và thưởng thức hảisản

- Sản phẩm du lịch tham quan và trải nghiệm làng nghề truyền thống ở Hội An

là loại hình du lịch rất tiềm năng của thành phố Hội An, được phát triển dựa trên cáclàng nghề hiện có như làng gốm Thanh Hà, làng rau Trà Quế, làng mộc Kim Bồng,nghề làng lồng đèn là kết hợp, hòa quyện giữa vị trí địa lý, điều kiện thổ nhưỡng vàcon người nơi đây tạo nên những nét riêng không thể pha lẫn Du khách đến vớilàng nghề có thể trải nghiệm và hòa mình vào cuộc sống của những người nôngdân, người thợ nơi đây, để tạo ra những sản phẩm riêng làm quà lưu niệm cho mộtchuyến đi du lịch của mình

Trang 30

1.2.5 Điều kiện phát triển sản phẩm du lịch

1.2.5.1 Tài nguyên du lịch

Theo Pirojnik (1985), tài nguyên du lịch là những tổng thể tự nhiên, văn hóa –lịch sử và những thành phần của chúng, tạo điều kiện cho việc phục hồi và pháttriển thể lực và tinh thần của con người, khả năng lao động và sức khỏe của họ,trong cấu trúc nhu cầu du lịch hiện tại và tương lai, trong khả năng kinh tế, kỹ thuậtcho phép, chúng được dùng để trực tiếp và gián tiếp sản xuất ra những dịch vụ dulịch và nghỉ ngơi

Theo Nguyễn Minh Tuệ và cộng sự (1997), tài nguyên du lịch là tổng thể tựnhiên và văn hóa lịch sử cùng các thành phần của chúng góp phần khôi phục, pháttriển thể lực, tri tuệ của con người, khả năng lao động và sức khỏe của họ Nhữngtài nguyên này được sử dụng cho nhu cầu trực tiếp và gián tiếp, cho việc sản xuấtdịch vụ du lịch”

Theo Luật du lịch Việt Nam 2017: “Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiênnhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử - văn hóa, công trình lao động sáng tạo củacon người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu

du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các điểm du lịch, khu du lịch, tuyến du lịch,

đô thị du lịch”

Như vậy, có thể hiểu tài nguyên du lịch là tất cả những gì thuộc về tự nhiên vàcác giá trị văn hóa do con người sáng tạo ra có sức hấp dẫn du khách, có thể đượcbảo vệ tôn tạo và sử dụng cho ngành du lịch mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội vàmôi trường

Tài nguyên du lịch là yếu tố cơ bản, là điều kiện cần để hình thành các sảnphẩm du lịch, là mục đích chuyến đi của du khách

Sản phẩm du lịch được tạo nên bởi nhiều yếu tố như: Cơ sở vật chất kỹ thuật(vận chuyển, ăn uống, lưu trú), con người , tuy nhiên yếu tố góp phần quan trọngđến sự hình thành các sản phẩm du lịch đó là tài nguyên du lịch Hầu hết các dịch

vụ đựợc tạo ra, được đầu tư, khai thác tại những nơi có tài nguyên du lịch Bên cạnh

đó, các sản phẩm du lịch nhằm mục đích để đáp ứng nhu cầu vốn rất đa dạng của

Trang 31

khách du lịch như tham quan, giải trí, tìm hiểu, nghiên cứu, nghỉ ngơi, nghỉ dưỡng,khám phá… Do đó đòi hỏi các sản phẩm du lịch không thể đơn điệu, nghèo nàn,kém hấp dẫn mà cần phải phong phú, đa dạng, đặc sắc và mới mẻ Chính sự phongphú, đa dạng của tài nguyên du lịch đã tạo nên sự phong phú và đa dạng của sảnphẩm du lịch Tài nguyên du lịch càng đặc sắc, độc đáo thì giá trị của sản phẩm dulịch và độ hấp dẫn khách du lịch càng tăng.

Tài nguyên du lịch chia làm 2 nhóm:

- Tài nguyên tự nhiên bao gồm: Địa hình ngoạn mục, khí hậu phù hợp, thuỷvăn đặc sắc, tài nguyên sinh vật đặc biệt

- Tài nguyên nhân văn bao gồm: các di tích lịch sử - văn hoá, các lễ hội, nghề

và làng nghề thủ công truyền thống, các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học, cácđối tượng văn hoá, thể thao hay những hoạt động có tính sự kiện khác

Trong các yếu tố hạ tầng, hệ thống giao thông là yếu tố quan trọng nhất cho sựphát triển của du lịch vì nó liên quan trực tiếp đến việc: Đảm bảo an toàn, tiện nghicho khách du lịch, cung cấp dịch vụ vận tải với chi phí ngày càng rẻ, tăng tốc độvận chuyển, tiết kiệm được thời gian đi lại, kéo dài thời gian ở lại nơi du lịch và đitận đến cả các nơi xa xôi

Nếu điều kiện về cơ sở hạ tầng tốt thì đó là điều kiện thuận lợi cho việc xâydựng và phát triển sản phẩm du lịch Nếu điều kiện về cơ sở hạ tầng hạn chế, pháttriển sản phẩm du lịch cần phải có yêu cầu hoàn thiện hệ thống để đáp ứng nhu cầuphát triển du lịch Ngoài vấn đề là tiền đề để phát triển hoạt động du lịch nói chung,phát triển sản phẩm du lịch nói riêng, cơ sở hạ tầng còn có vai trò thúc đẩy hoạt

Trang 32

động phát triển sản phẩm du lịch dưới góc độ: Hệ thống cơ sở hạ tầng hoàn thiệncho phép phát triển du lịch ở những vùng sâu, vùng xa; cho phép giảm tải cho cácđiểm du lịch truyền thống, đồng thời khắc phục tính mùa vụ trong du lịch, phânphối lại thu nhập đến với cư dân địa phương Đây là những cơ sở quan trọng chophát triển sản phẩm du lịch trong du lịch Mặt khác, sự phát triển của du lịch cũngđòi hỏi phải có sự hoàn thiện cơ sở hạ tầng theo yêu cầu của phát triển sản phẩm dulịch.

Qua những phân tích trên cho thấy, cơ sở hạ tầng và phát triển sản phẩm dulịch có mối quan hệ mật thiết và hệ thống cơ sở hạ tầng luôn là một căn cứ quantrọng cho công tác xây dựng và thực hiện phát triển sản phẩm du lịch của địaphương

1.2.5.3 Lao động trong ngành du lịch

Du lịch là ngành quan trọng đối với nhiều nước trên thế giới Nó đòi hỏi nguồnlao động lớn với nhiều loại trình độ do tính chất đặc điểm của ngành có mức độ cơgiới hóa thấp và đối tượng phục vụ là khách hàng với nhu cầu rất đa dạng Conngười là yếu tố chính quyết định thành công chung của bất kỳ một đơn vị, tổ chứcnào Đặc biệt, trong công nghiệp dịch vụ nói chung, ngành du lịch nói riêng, vai tròcủa chất lượng lao động lại càng quan trọng hơn

Trong ngành du lịch, phần lớn lao động tiếp xúc trực tiếp với khách hàng và họtham gia thực hiện các công việc nhằm đạt được những mục tiêu của đơn vị Chấtlượng dịch vụ được cung cấp cho khách hàng không chỉ phụ thuộc vào trình độ, kỹnăng tay nghề của người lao động mà còn phụ thuộc vào thái độ làm việc của họ.Chính vì vậy, các doanh nghiệp du lịch muốn tồn tại và phát triển trong điều kiệncạnh tranh ngày càng gay gắt, cần phải nhận thức rõ hơn vai trò đội ngũ lao động,phải có được một đội ngũ lao động có kiến thức sâu rộng, giỏi tay nghề và có đạođức nghề nghiệp tốt

Thực tế cho thấy, lực lượng lao động ngành du lịch trong những năm qua tăngtheo sự phát triển của ngành nhưng vẫn chưa đảm bảo cho phát triển sản phẩm dulịch Nhiều bộ phận vẫn còn thiếu về số lượng, yếu về chất lượng, đặc biệt là trình

Trang 33

độ lao động sử dụng được ngoại ngữ khá thấp; ngoài ra tư duy và kỹ năng làm dulịch của người lao động còn hạn chế, thiếu tính chuyên nghiệp… Do đó, du lịch nếumuốn phát triển thì việc phát triển nguồn nhân lực là nhân tố vô cùng quan trọng.

1.2.5.4 Chính sách phát triển sản phẩm du lịch

Các cơ quan quản lý nhà nước giữ vai trò cân đối mọi nguồn lực để hướng sựphát triển của du lịch đạt đến các mục tiêu đề ra Trong đó, chính sách phát triển sảnphẩm du lịch là nhân tố ảnh hưởng lớn đến việc phát triển sản phẩm du lịch, vớimột đường lối chính sách nhất định có thể kìm hãm hay thúc đẩy các sản phẩm dulịch phát triển Đường lối phát triển du lịch nằm trong đường lối phát triển chung vềphát triển kinh tế - xã hội, vì vậy phát triển du lịch cũng là đang thực hiện sự pháttriển chung của xã hội

Cơ quan quản lý nhà nước sẽ thực hiện chức năng quy hoạch ngành du lịch để

từ đó có sự đầu tư theo lộ trình, đảm bảo đầu tư hiệu quả, phân bổ nguồn lực hợp lýcho từng giai đoạn, lựa chọn phát triển đúng hướng các dự án đầu tư Chú trọng đếncông tác bảo tồn, duy tu các công trình văn hóa; ban hành các quy định, cơ chếchính sách khuyến khích sự tham gia đầu tư của các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệpvào hoạt động phát triển sản phẩm du lịch Cần có chính sách ưu tiên đối với những

dự án đầu tư du lịch có các giải pháp khả thi nhằm giảm thiểu của tác động du lịchđến môi trường; tạo cơ sở hạ tầng đô thị, giao thông, thông tin và dịch vụ tài chínhthuận lợi, hiện đại đáp ứng ngày càng cao cho du khách, đây cũng là điều kiện hỗtrợ cần thiết cho việc thu hút đầu tư phát triển du lịch; xã hội hóa trong việc tạo sảnphẩm du lịch nhằm mang lại chất lượng, giá cả đáp ứng nhu cầu thị trường, tạo sảnphẩm du lịch độc đáo để tăng lợi thế cạnh tranh trong du lịch; tập trung vào công tácthông tin, tuyên truyền

Trang 34

1.3 Kinh nghiệm phát triển sản phẩm du lịch ở một số nước trên thế giới

và Việt Nam

1.3.1 Kinh nghiệm phát triển sản phẩm du lịch của một số nước trên thế giới

1.3.1.1 Kinh nghiệm phát triển sản phẩm du lịch ở đảo Nami, Hàn Quốc

- Phục hồi hệ sinh thái: Thay điện chiếu sáng, lắp lại đường dây điện, phá bỏcác hàng rào cũ, vứt bỏ các thùng hỏng rác bẩn, đào đất để kiểm tra việc chôn rácthải bất hợp pháp để tiến hành xử lý Đồng thời tiến hành xây dựng mô hình quyhoạch cây xanh, ngừng việc phun thuốc bảo vệ thực vật để tạo thành rừng cây vàthảm thực vật xanh mướt rậm rạp như ngày nay

- Quảng bá hình ảnh qua phim ảnh: bằng chính sách hỗ trợ các đoàn làm phim

để quảng bá hình ảnh ra phạm vi toàn thế giới

- Phát triển về lĩnh vực văn hóa: Thường xuyên tổ chức các chương trình, sựkiện về văn hóa tầm cỡ khu vực và quốc tế để thu hút khách du lịch

- Hợp tác với các Tổ chức quốc tế, hiệp hội và sự tham gia của cộng đồng

1.3.1.2 Phát triển du lịch bền vững tại Đài Loan

- Phát triển du lịch giải trí tại nông thôn phục vụ nhu cầu vui chơi giải trí chocộng đồng và nâng cao thu nhập cho người nông dân

- Phát triển nông trại nghĩ dưỡng để duy trì văn hóa nông thôn, kết hợp giữanguồn tài nguyên nông nghiệp và du lịch nghĩ dưỡng, giáo dục, cung cấp một môitrường lý tưởng cho du lịch sinh thái, thúc đẩy ngành thực phẩm cho sức khỏe vàthực phẩm hữu cơ mà còn tạo nên nét văn hóa đặc thù cho việc phát triển các làngnghề nông thôn và tiếp tục phát triển các thế hệ sau

1.3.1.3 Kinh nghiệm của Singapore phát triển sản phẩm du lịch MICE

- Phát triển các sản phẩm du lịch mới như: du thuyền, du lịch chữa bệnh, dulịch giáo dục, du lịch trăng mật; phát triển các thị trường du lịch mới; tổ chức các lễhội lớn mang tầm cỡ quốc tế; tập trung phát triển nguồn nhân lực phục vụ du lịch;trao các giải thưởng về du lịch; giáo dục, nâng cao nhận thức của người dân về dulịch…

Trang 35

- Phát triển du lịch MICE là trọng tâm: với lợi thế về vị trí địa lý, hệ thống cơ

sở hạ tầng hiện đại, là trung tâm của các hoạt động giao thương lớn trong khu vực,Singapore xác định phát triển du lịch MICE là trọng tâm của chiến lược phát triểnsản phẩm du lịch

1.3.1.4 Kinh nghiệm phát triển sản phẩm du lịch nghỉ dưỡng tại Malaysia

- Phát triển sản phẩm và thị trường với mục tiêu chính là tập trung vào thịtrường có khả năng chi trả cao, đẩy mạnh chương các hoạt động tiêu dùng củakhách du lịch

- Phát triển phải gắn liền bảo vệ, bảo tồn và giữ gìn môi trường: phát triển dulịch xanh, giải thưởng khách sạn xanh, chiến dịch quốc gia về một Malaysia xanh,một Malaysia sạch và phát triển toàn diện, chú trọng tính cân bằng và tính bền vững(tầm quan trọng của lợi ích cộng đồng)

- Phát triển các sản phẩm mới như du lịch chữa bệnh, du lịch giáo dục và dulịch công vụ (M.I.C.E) Để thu hút đông đảo du khách hơn nữa, Malaysia luôn chútrọng sáng tạo các sản phẩm du lịch mới, thoản mãn mọi nhu cầu của du khách khắpnơi trên thế giới…

1.3.1.5 Kinh nghiệm phát triển sản phẩm du lịch nghỉ dưỡng tại Campuchia.

Campuchia với điểm đến nổi tiếng thế giới là Xiêm Riệp, đã có những kinhnghiệm trong xây dựng một thương hiệu được quốc tế công nhận thông qua cácchiến dịch tiếp thị hiệu quả, khả năng tiếp cận cao đối với khách du lịch và một loạtnhững hoạt động kéo dài thời gian lưu trú của khách du lịch Với một số chính sách

cơ bản nhằm thu hút đầu tư nước ngoài, như miễn, giảm thuế, tạo ra môi trường đầu

tư hấp dẫn cho các nhà đầu tư du lịch mong muốn phát triển những dự án du lịchtrong khu vực; chính sách phát triển hàng không Open Sky được triển khai từ năm

1999, cho phép các chuyến bay quốc tế hạ cánh ở Xiêm Riệp, dẫn đến tăng mạnhlượt khách đến

1.3.2 Kinh nghiệm phát triển sản phẩm du lịch trong nước

1.3.2.1 Kinh nghiệm phát triển du lịch bền vững của TP Đà Nẵng

- Phát triển du lịch tại Đà nẵng gắn mục tiêu coi khách du lịch là tâm điểm,

Trang 36

làm cho khách thỏa mãn với nhu cầu chuyến đi và họ luộn có ý định quay trở lạitrong những lần du lịch tiếp theo và luôn quan tâm đến việc bảo tồn, tu tạo cácnguồn tài nguyên thiên nhiên phục vụ cho phát triển trong tương lai, cụ thể:

- Đảm bảo “môi trường du lịch hoàn hảo”: Xây dựng các cơ sở hạ tầng dulịch; đảm bảo an ninh trật tự an toàn xã hội, đảm bảo môi trường xanh sạch không ônhiễm, phát triển các dịch vụ ngân hàng, bảo hiểm, y tế, nâng cao nhận thức về vănminh du lịch và tạo ấn tượng đẹp với du khách trong nước và quốc tế

- “Đặc biệt hóa” sản phẩm du lịch: Sản phẩm du lịch được phát triển mang tính

đa dạng với mọi loại hình: Du lịch nghỉ dưỡng biển, nghỉ dưỡng cao cấp; Du lịchcông vụ hội nghị hội thảo,mua sắm và vui chơi giải trí; Du lịch văn hóa lịch sử đãđược khai thác thông qua các tour du lịch tham quan di tích lịch sử; Du lịch sinhthái, làng quê, làng nghề đã được thành phố và các nhà đầu tư tập trung đầu tư khaithác tạo ra các sản phẩm du lịch hấp dẫn du khách; Du lịch đô thị; Du lịch chăm sócsức khỏe chữa bệnh – làm đẹp,

- Phát triển các hoạt động bổ trợ: Nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ chongành du lịch; các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực du lịch nhận thức đượclợi ích của việc phát triển du lịch bền vững, đã cạnh tranh lành mạnh, cung cấp đầy

đủ thông tin về điểm đến, đảm bảo dịch vụ có chất lượng, uy tín, đáp ứng kỳ vọngcủa du khách với mức giá tối ưu

1.3.2.2 Kinh nghiệm từ việc nghiên cứu một số sản phẩm du lịch điển hình trong nước

Sản phẩm du lịch mới cần phải thu hút được một đối tượng đáng kể kháchkhám phá, trải nghiệm; Sản phẩm đó có điểm độc đáo, khác biệt và đã bước đầuphát huy hiệu quả; Có tác động đối với kinh tế - xã hội địa phương; Có khả năngphát triển, liên kết với các ngành, các lĩnh vực khác trong tương lai

Quyết định số 201/QĐ-TTg ngày 22/1/2013 của Thủ tướng Chính phủ banhành kèm theo Quy hoạch Phát triển Du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đếnnăm 2030 nêu rõ định hướng phát triển sản phẩm du lịch, bao gồm các phương diệnsau:

Trang 37

Phát triển sản phẩm du lịch đặc trưng theo các vùng được tổ chức theo cáckhông gian phát triển du lịch với tính chất đặc trưng nổi trội để tạo dựng thươnghiệu từng vùng có sản phẩm điểm đến tổng hợp.

Đa dạng hóa sản phẩm phục vụ các đối tượng khách với những nhu cầu đadạng như: du lịch MICE Hội họp, Khuyến thưởng, Hội nghị, Triển lãm; du lịch đôthị; du lịch giáo dục; du lịch thể thao; du lịch dưỡng bệnh; du lịch du thuyền; du lịchlàm đẹp…

Tăng cường liên kết giữa các địa phương, doanh nghiệp; theo khu vực, cáchành lang kinh tế; cùng các ngành vận chuyển, các liên kết vùng, liên vùng và quốc

Thứ hai, tổ chức không gian du lịch đã được xác định trong Chiến lược pháttriển Du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030, theo đó, cần xác định rõ cácđịa bàn, không gian trọng điểm du lịch với chức năng du lịch chính

Thứ ba, quy trình thực hiện các quy hoạch, kế hoạch của một điểm đến cần có

sự tham gia của cộng đồng ngay từ giai đoạn đầu, tôn trọng ý kiến cộng đồng trongquá trình xây dựng, thực hiện quy hoạch, kế hoạch du lịch nhằm bảo đảm các nộidung quy hoạch

Thứ tư, ngoài sự hỗ trợ của nhà nước về hạ tầng và đào tạo nguồn nhân lực,cần có sự đầu tư thỏa đáng cho công tác xúc tiến, quảng bá du lịch

Thứ năm, tạo điều kiện thuận lợi về visa để tăng cường thu hút khách quốc tếđến Việt Nam, đặc biệt là từ các thị trường du lịch tiềm năng

Thứ sáu, xây dựng chiến lược phát triển du lịch bền vững, sử dụng công nghệtạo ra những sản phẩm sạch và xanh phục vụ cho du khách

Trang 38

Thứ bảy, hình thành các khu du lịch có sức cạnh tranh mang tầm khu vực vàquốc tế; khai thác tốt tiềm năng du lịch để xây dựng các sản phẩm du lịch đặc sắc;bảo tồn, phát huy các nguồn tài nguyên về văn hóa, lịch sử, tự nhiên, cảnh quan…Với định hướng phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn và tăng cườnghội nhập khu vực ASEAN, việc phát triển sản phẩm du lịch yếu tố đặc biệt quantrọng để du lịchViệt Nam khẳng định thương hiệu trên bản đồ du lịch thế giới Đểtạo nên những sản phẩm du lịch đặc trưng, Việt Nam cần khai thác có hiệu quả cácgiá trị tự nhiên, nhân văn, lịch sử, văn hóa… riêng có, từ đó hình thành những sảnphẩm du lịch đặc thù của từng địa phương, có khả năng cạnh tranh trên thị trườngkhu vực và quốc tế.

Kết luận chương 1

Chương 1 của luận văn đã trình bày những vấn đề lý luận về sản phẩm du lịch

và phát triển sản phẩm du lịch Bên cạnh các khái niệm, chương 1 chú trọng đến cácyếu tố cấu thành sản phẩm du lịch gồm: Dịch vụ tham quan, giải trí; dịch vụ lưu trú,

ăn uống; dịch vụ vận chuyển; dịch vụ mua sắm; dịch vụ trung gian du lịch Nhữngnguyên tắc và nội dung phát triển sản phẩm du lịch cũng được phân tích Nhữngđiều kiện phát triển sản phẩm du lịch được làm rõ, bao gồm: Tài nguyên du lịch, cơ

sở hạ tầng du lịch, lao động trong ngành du lịch, chính sách phát triển sản phẩm dulịch Chương 1 cũng giới thiệu một số kinh nghiệm phát triển sản phẩm du lịch tạicác quốc gia trên thế giới, Việt Nam và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam nhằm cócái nhìn thực tế hơn Tuy nhiên những vấn đề nêu ra chưa thật sự đầy đủ như đó lànhững vấn đề cơ bản và thiết thực nhất để làm cơ sở để nghiên cứu để nêu ra thựctrạng và giải pháp phát triển sản phẩm du lịch của Hội An trong Chương 2 vàChương 3

Trang 39

CHƯƠNG 2:

THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM DU LỊCH THÀNH PHỐ HỘI AN 2.1 Giới thiệu về thành phố Hội An

2.1.1 Lịch sử hình thành thành phố Hội An

Do có đặc điểm địa lý thuận lợi nên từ 3.000 năm trước, trên vùng đất Hội Anngày nay đã xuất hiện những lớp cư dân đầu tiên Qua kết qủa nghiên cứu khảo cổhọc đã phát hiện nhiều loại hình mộ chum cùng những công cụ sản xuất, công cụsinh hoạt, đồ trang sức tuyệt xảo bằng đá, gốm, thủy tinh, kim loại, tiền đồng,những hiện vật sắt, đồ trang sức với kỹ thuật chế tác tinh luyện cho phép khẳng địnhchiều dài tồn tại và phát triển nền văn hóa Sa Huỳnh muộn, đỉnh cao của thời kỳtiền - sơ sử (từ thế kỷ thứ II trở về trước)

Đặc biệt, tại các hố khai quật các di chỉ ở Hội An thuộc thời kỳ này đã pháthiện được hai loại tiền đồng Ngũ Thù, Vương Mãng thời Hán, gốm và những hiệnvật sắt kiểu Tây Hán, hiện vật đồng mang dáng dấp văn hóa Đông Sơn (phía Bắc),những hiện vật mang dấu ấn đặc trưng của văn hóa Óc Eo (phía Nam), hoặc đồtrang sức với công nghệ chế tác tinh luyện có nguồn gốc Ấn Độ, Trung Quốc…chứng minh cư dân Hội An thời kỳ văn hóa Sa Huỳnh đã có sự giao lưu rộng rãi vớibên ngoài Điều này cũng cho phép khẳng định đầu công nguyên đã có nền ngoạithương manh nha hình thành ở Hội An

Dưới thời vương quốc Champa (thế kỷ thứ II đến thế kỷ XIV) vùng đất Hội Anlúc bấy giờ có tên gọi là Lâm Ấp phố Đại Chiêm Hải Khẩu (Cửa Đại) và ChiêmBất Lao (Cù Lao Chàm) trở thành điểm dừng chân quan trọng trên con đường hànghải quốc tế Lâm Ấp phố là một thương cảng phát triển, thu hút nhiều thuyền buôn

Ả rập, Ba Tư, Trung Quốc đến buôn bán, trao đổi Hàng hóa xuất khẩu chủ yếu lúcbấy giờ là tơ tằm, ngọc trai, đồi mồi, vàng, trầm hương, nước ngọt Nhiều thư tịch

cổ ghi nhận đã có một thời kỳ khá dài, Chiêm cảng Lâm Ấp phố đóng vai trò quantrọng bậc nhất trong việc tạo nên sự hưng thịnh của kinh thành Trà Kiệu và trungtâm tôn giáo- tín ngưỡng Mỹ Sơn

Trang 40

Với những phế tích nền móng kiến trúc Chăm, những giếng nước Chăm vànhững pho tượng Chăm (tượng Vũ Công Thiên Tiên Gandhara, tượng Nam thần Tàilộc Kubera, tượng Voi thần ) cùng những mảnh gốm- sứ Trung Quốc, Đại Việt,Trung Cận Đông thế kỷ II - XIV và đồ trang sức, những mảnh vật dụng bằng thủytinh màu nổi tiếng của vùng Trung cận Đông, Nam Ấn Độ được phát hiện càng làmsáng tỏ giả thuyết từng có một Lâm Ấp phố (thời Champa) trước Hội An (thời ĐạiViệt), từng tồn tại một Chiêm cảng với nền mậu dịch hàng hải phát triển phồn thịnh.Đầu thế kỷ thứ XIV, sau sự kiện vua Chiêm Thành là Chế Mân cắt hai châu Ô

và Lý để làm sính lễ cưới công chúa Huyền Trân của thượng hoàng Trần NhânTông, biên giới phía Nam của nước Đại Việt đã đến bờ Bắc sông Thu Bồn Đầu thế

kỷ XV, nhà Hồ (Hồ Hán Thương) tiếp tục mở rộng bờ cõi đến cả Chiêm Động, CổLũy (tương ứng vùng Quảng Nam, Quảng Ngãi ngày nay), chia vùng đất mới thành

4 châu: Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa; đặt lộ Thăng Hoa thống lãnh 4 châu, cử An phủ sứ

lộ trông coi việc bình định và khai khẩn Chiến lược di dân từ các vùng phía Bắc đãđược các triều đại phong kiến Đại Việt trong thời kỳ này sơ khởi đã phải gián đoạn;phần thì do sự tranh chấp, thôn tính xảy ra liên miên giữa hai nước Việt - Chiêm,phần thì do quân Minh xâm lược đặt ách đô hộ nước ta

Cho đến giữa thế kỷ XV, năm 1471, đại binh "Nam tiến bình Chiêm" của vua

Lê Thánh Tông kéo vào triệt hạ kinh đô Đồ Bàn của Chiêm Thành, đặt ra Đạo thừatuyên Quảng Nam, bắt đầu cho sự hiện diện chính thức của người Việt ở miềnTrung Tuy nhiên, phải đến thời các chúa Nguyễn vào trấn thủ vùng Thuận Hóa-Quảng Nam thì sự nghiệp khai phá đất Đàng Trong thật sự bước vào thời cao điểm.Khởi phát từ năm 1558, khi Nguyễn Hoàng quyết tâm rời bỏ vùng đất bản hộcủa họ Nguyễn ở Thanh Hóa để tiến về phương Nam, thoát khỏi ách kiềm tỏa củavua Lê - chúa Trịnh, thực hiện kế sách tạo dựng một khu vực quản chế độc lập, pháttriển lâu dài, dựa vào ưu thế của vùng đất “Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân”

Cả vùng đất rộng lớn từ đèo Hải Vân đến đèo Cù Mông mới trở nên ổn định và thuhút đông đảo nhân dân ở các tỉnh đồng bằng Bắc bộ và Bắc Trung bộ vào khaihoang lập làng, xây dựng cuộc sống mới Một bộ phận cư dân Việt phát tích từ các

Ngày đăng: 19/04/2022, 16:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[2] Nguyễn Văn Đính & Trần Thị Minh Hòa (2009), Giáo trình kinh tế du lịch, Hà Nội: NXB ĐH Kinh Tế Quốc Dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kinh tế du lịch
Tác giả: Nguyễn Văn Đính & Trần Thị Minh Hòa
Nhà XB: NXB ĐH Kinh Tế Quốc Dân
Năm: 2009
[4] Nguyễn Thị Minh Nghĩa, Lê Vũ Thị Thảo Nhi, Trần Hữu Tuấn (2017), Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thu hút khách nội địa của điểm đến Hội An, Tạp chí Khoa học Đại học Huế: Kinh tế và Phát triển, Tập 126 (Số 5D), Tr. 29–39 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chíKhoa học Đại học Huế: Kinh tế và Phát triển
Tác giả: Nguyễn Thị Minh Nghĩa, Lê Vũ Thị Thảo Nhi, Trần Hữu Tuấn
Năm: 2017
[6] Peter MacNulty (2013), Tourism Product Development in the COMCEC Region, 2 nd Meeting of the COMCEC Tourism Working Group October 3rd, Ankara Sách, tạp chí
Tiêu đề: 2 nd Meeting of the COMCEC Tourism Working Group October 3rd
Tác giả: Peter MacNulty
Năm: 2013
[1] Chris Cooper (2008),Tourism: Principles and Practice, Financial Times/Prentice Hall; 4 edition Khác
[3] Nguyễn Duy Điền (2018), Luận văn thạc sỹ Phát triển sản phẩm du lịch huyện đảo Phú Quốc, Đại học Duy Tân Khác
[5] Cao Thị Nguyệt (2014), Luận văn thạc sỹ Phát triển du lịch sinh thái huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai theo hướng bền vững, Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh Khác
[7] Pirojnik (1985), Cơ sở địa lý dịch vụ và du lịch (Trần Đức Thanh và Nguyễn Thị Hải biên dịch), trang 57 Khác
[8] Đặng Vĩnh Thạch (2018), Luận văn Thạc sỹ Phát triển sản phẩm du lịch thành phố Tam Kỳ, Đại học Duy Tân Khác
[9] Hoàng Thị Thu Thảo (2012), Luận văn thạc sỹ Phát triển sản phẩm du lịch tại thành phố Đà Nẵng, Đại học Đà Nẵng Khác
[10] Phạm Thị Bích Thủy (2011), Luận văn thạc sỹ Nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa tỉnh Thái Bình, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Khác
[11] Nguyễn Minh Tuệ và cộng sự, Địa lý du lịch, NXB TP. Hồ Chí Minh, 1997, tr.33 Khác
[12] Quyết định số 553/QĐ-TTg ngày 15 tháng 05 năm 2018, Phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

2.2. Tình hình khai thác du lịch của thành phố Hội An - LUẬN văn THẠC sĩ PHÁT TRIỂN sản PHẨM DU LỊCH THÀNH PHỐ hội AN
2.2. Tình hình khai thác du lịch của thành phố Hội An (Trang 49)
Bảng 2.3 :Khách lưu trú ở Hội An giai đoạn 2017 – 2019 - LUẬN văn THẠC sĩ PHÁT TRIỂN sản PHẨM DU LỊCH THÀNH PHỐ hội AN
Bảng 2.3 Khách lưu trú ở Hội An giai đoạn 2017 – 2019 (Trang 51)
Bảng 2.6: Cơ sở lưu trú của thành phố Hội An tính đến 31/12/2019 - LUẬN văn THẠC sĩ PHÁT TRIỂN sản PHẨM DU LỊCH THÀNH PHỐ hội AN
Bảng 2.6 Cơ sở lưu trú của thành phố Hội An tính đến 31/12/2019 (Trang 68)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w