(Luận văn thạc sĩ) Pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi ở Việt Nam Thực trạng và một số kiến nghị(Luận văn thạc sĩ) Pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi ở Việt Nam Thực trạng và một số kiến nghị(Luận văn thạc sĩ) Pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi ở Việt Nam Thực trạng và một số kiến nghị(Luận văn thạc sĩ) Pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi ở Việt Nam Thực trạng và một số kiến nghị(Luận văn thạc sĩ) Pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi ở Việt Nam Thực trạng và một số kiến nghị(Luận văn thạc sĩ) Pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi ở Việt Nam Thực trạng và một số kiến nghị(Luận văn thạc sĩ) Pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi ở Việt Nam Thực trạng và một số kiến nghị(Luận văn thạc sĩ) Pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi ở Việt Nam Thực trạng và một số kiến nghị(Luận văn thạc sĩ) Pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi ở Việt Nam Thực trạng và một số kiến nghị(Luận văn thạc sĩ) Pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi ở Việt Nam Thực trạng và một số kiến nghị(Luận văn thạc sĩ) Pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi ở Việt Nam Thực trạng và một số kiến nghị(Luận văn thạc sĩ) Pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi ở Việt Nam Thực trạng và một số kiến nghị(Luận văn thạc sĩ) Pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi ở Việt Nam Thực trạng và một số kiến nghị(Luận văn thạc sĩ) Pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi ở Việt Nam Thực trạng và một số kiến nghị(Luận văn thạc sĩ) Pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi ở Việt Nam Thực trạng và một số kiến nghị(Luận văn thạc sĩ) Pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi ở Việt Nam Thực trạng và một số kiến nghị(Luận văn thạc sĩ) Pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi ở Việt Nam Thực trạng và một số kiến nghị(Luận văn thạc sĩ) Pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi ở Việt Nam Thực trạng và một số kiến nghị(Luận văn thạc sĩ) Pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi ở Việt Nam Thực trạng và một số kiến nghị(Luận văn thạc sĩ) Pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi ở Việt Nam Thực trạng và một số kiến nghị(Luận văn thạc sĩ) Pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi ở Việt Nam Thực trạng và một số kiến nghị(Luận văn thạc sĩ) Pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi ở Việt Nam Thực trạng và một số kiến nghị(Luận văn thạc sĩ) Pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi ở Việt Nam Thực trạng và một số kiến nghị(Luận văn thạc sĩ) Pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi ở Việt Nam Thực trạng và một số kiến nghị(Luận văn thạc sĩ) Pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi ở Việt Nam Thực trạng và một số kiến nghị(Luận văn thạc sĩ) Pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi ở Việt Nam Thực trạng và một số kiến nghị(Luận văn thạc sĩ) Pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi ở Việt Nam Thực trạng và một số kiến nghị
Trang 13
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
LỜI MỞ ĐẦU 7
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THỜI GIỜ LÀM VIỆC, THỜI GIỜ NGHỈ NGƠI VÀ SỰ ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ THỜI GIỜ LÀM VIỆC, THỜI GIỜ NGHỈ NGƠI 11
1.1 Khái quát chung về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi 11
1.1.1 Khái niệm thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi 11
1.1.2 Sự cần thiết phải có pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi 13
1.1.3 Ý nghĩa của việc điều chỉnh pháp luật đối với thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi 16
1.2 Sự điều chỉnh của pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi 20
1.2.1 Các nguyên tắc điều chỉnh của pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi 20
1.2.2 Nội dung điều chỉnh của pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi 22
1.3 Sơ lược về quá trình hình thành và phát triển pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi 25
1.3.1 Trên thế giới 25
1.3.2 Ở Việt Nam 28
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ THỜI GIỜ LÀM VIỆC, THỜI GIỜ NGHỈ NGƠI 35
2.1 Thực trạng pháp luật về thời giờ làm việc 35
2.1.1 Thời giờ làm việc tiêu chuẩn 35
2.1.2 Thời giờ làm việc rút ngắn 38
2.1.3 Thời giờ làm thêm 39
2.1.4 Thời giờ làm việc ban đêm 43
Trang 24
2.1.5 Thời giờ làm việc linh hoạt 45
2.2 Thực trạng pháp luật về thời giờ nghỉ ngơi 46
2.2.1 Thời giờ nghỉ có hưởng lương 46
2.2.2 Thời giờ nghỉ không hưởng lương 54
2.3 Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi đối với những người làm công việc có tính chất đặc biệt 57
2.3.1 Đối với các đối tượng là những người lao động làm công việc bức xạ, hạt nhân 58
2.3.2 Đối với người lao động làm việc trong các trang trại 59
2.3.3 Đối với người lao động làm các công việc có tính thời vụ và gia công hàng xuất khẩu theo đơn đặt hàng 60
2.3.4 Các đối tượng đặc biệt khác 62
2.4 Một số nhận xét về thực trạng áp dụng pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi 72
2.4.1 Thực trạng pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi 72
2.4.2 Thực trạng áp dụng pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi 75
2.4.2.1 Trong các cơ quan, đơn vị thuộc Nhà nước 75
2.4.2.2 Đối với các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế 79
CHƯƠNG 3 HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ THỜI GIỜ LÀM VIỆC, THỜI GIỜ NGHỈ NGƠI 86
3.1 Sự cần thiết của việc hoàn thiện pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi 86
3.1.1 Về mặt kinh tế - xã hội 86
3.1.2 Về chính trị 87
3.1.3 Về mặt pháp lý 89
3.2 Phương hướng hoàn thiện pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi 92
3.2.1 Tăng cường tính hoàn thiện của các quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi 92
3.2.2 Tăng cường đảm bảo việc thực thi các quy định pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi 93
Trang 35
3.2.3 Tăng cường ý thức chấp hành tốt các quy định về thời giờ làm việc,
thời giờ nghỉ ngơi 95
3.2.4 Tăng cường hợp tác quốc tế về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi 97
3.3 Một số kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi 99
3.3.1 Về các quy định của pháp luật 99
3.3.2 Về quá trình tổ chức thực hiện 104
KẾT LUẬN 117 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 46
Trang 57
LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người, nó không chỉ tạo ra của cải vật chất nuôi sống con người, cải tạo xã hội mà nó còn mang lại những giá trị tinh thần làm phong phú thêm cho đời sống con người Tuy nhiên, để các sản phẩm của lao động có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao không phải là chuyện
dễ dàng Sức lao động của con người không phải là vô tận, mà nó sẽ cạn kiệt nếu không được kịp thời phục hồi Vì thế, việc quy định một thời giờ làm việc hợp lý, thời giờ nghỉ ngơi thích hợp sẽ có ý nghĩa rất quan trọng đối với chất lượng lao động
Quyền lao động và nghỉ ngơi là các quyền cơ bản củangười lao động được các nước trên thế giới coi trọng Ở Việt Nam, ngay sau khi dành được độc lập, Đảng
và Nhà nước ta đã rất quan tâm đến quyền lợi của người lao động Điều này được thể hiện trong các bản Hiến pháp, Bộ luật lao động và các văn bản hướng dẫn thi hành.Pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi là một trong những quy định quan trọng của pháp luật lao động, vì nó liên quan thiết thực đến đời sống và việc làm của người lao động Tuy nhiên, hiện nay, tình trạng vi phạm trong lĩnh vực này ngày càng nhiều và phổ biến, các vi phạm về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi chủ yếu là vi phạm trong việc tăng thời giờ làm việc tiêu chuẩn, tăng số giờ làm thêm vượt quá mức cho phép, giảm và cắt bớt thời gian nghỉ ngơi của người lao động v.v.Các hành vi vi phạm về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi chủyếu tập trung ở các doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động như các doanh nghiệp may mặc, thủy sản, da giày v.v Các vi phạm này không những xâm hại nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe của người lao động mà còn tác động tới gia đình và một phần tới xã hội nói chung Theo thống kê của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội thì từ năm
1995 đến năm 2006 trong cả nước đã xảy ra 1.250 cuộc đình công [42]; trong đó, khu vực doanh nghiệp nhà nước xảy ra 67 cuộc, chiếm 7%; khu vực doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài xảy ra 838 cuộc, chiếm 67%; khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh trong nướcxảy ra 325 cuộc, chiếm 26% Chỉ tính riêng năm 2009,
Trang 68
cả nước đã diễn ra 216 cuộc đình công, hầu hêt diễn ra tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với 157 cuộc, chiếm 72,6% [42] Một trong những lý do chính dẫn tới các cuộc đình công nói trên là việc người lao động bị yêu cầu làm việc tăng
ca, bị cắt bớt thời giờ nghỉ ngơi
Từ thực tế nêu trên, để hạn chế và đẩy lùi các vi phạm pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, làm giảm các cuộc đình công của người lao động và nhằm bảo vệ tốt hơn quyền lợi hợp pháp của người lao động, vấn đề đặt ra là phải nghiên cứu sâu sắc các quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi tại Việt Nam, từ đó thấy được thực trạng và nguyên nhân của các hành vi vi phạm pháp luật
về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi và đề xuất giải pháp hoàn thiện các quy
định đó Vì những lý do đó, tác giả chọn đề tài “Pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi ở Việt Nam - Thực trạng và một số kiến nghị” làm luận văn thạc sĩ
của mình với mong muốn góp phần làm hoàn thiện thêm các quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi và đưa ra một số kiến nghị nhằm thực hiện tốt các quy định pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi trên thực tế
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi là một trong những quy định quan trọng của pháp luật lao động, vì nó liên quan thiết thực đến đời sống và việc làm của người lao động Tuy nhiên, hiện nay, tình trạng vi phạm trong lĩnh vực này ngày càng nhiều và phổ biến Trong thời gian vừa qua, đã có một số đề tài, công trình nghiên cứu về các quy định của pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ
nghỉ ngơi như: Đặng Xuân Lợi (2000), Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi theo
Bộ luật lao động Việt Nam, Khóa luận tốt nghiệp, Khoa luật – Đại học Quốc Gia Hà Nội0; Nguyễn Thị Thanh (2010), Pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, thực trạng và một số kiến nghị, Khóa luận tốt nghiệp, Đại học Luật Hà Nội; Đỗ Thị Hằng (2009), Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi - Quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện ở một số doanh nghiệp tại tỉnh Bắc Giang, Khóa luận tốt nghiệp, Đại
học Luật Hà Nội; và một số bài báo đăng trên các tạp chí khoa học pháp lý…
Các công trình, bài viết và bài nghiên cứu trên mới chỉ đi sâu nghiên cứu các quy định pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi áp dụng cho một số đối tượng lao động đặc biệt như lao động chưa thành niên, lao động nữ, người cao tuổi
Trang 79
hoặc chỉ tập trung vào liệt kê một phần nào đó các quy định cơ bản của pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, các hành vi vi phạm pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơimà không đề cập đến tổng thể các quy định pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, thực trạng; đồng thời thiếu sự so sánh đối chiếu với các quy định của pháp luật nước ngoài để từ đó có thể đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật trong lĩnh vực thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ
ngơi Chính vì vậy, việc nghiên cứu một cách hệ thống và đầy đủ về vấn đề: “Pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi ở Việt Nam - Thực trạng và một số kiến nghị” là việc làm mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc
3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn sẽ đi phân tích và làm sáng tỏ về mặt lý luận những quy định pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi tại Việt Nam và so sánh đối chiếu với các quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi của một sốnước trong khu vực
và trên thế giới Nêu ra thực trạng việc áp dụng pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi trên thực tế tại các doanh nghiệp trong phạm vi toàn quốcmà chủ yếu
là các thành phố lớn, tập trung đông các doanh nghiệp và khu công nghiệp như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh v.v và một số hạn chế, tồn tại trong các quy định hiện hành của pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện hơn nữa các quy định pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi nhằm bảo vệ tốt hơn quyền lợi của người lao động
Mục đích nghiên cứu của luận văn được cụ thể hóa ở những nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Khái quát chung về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi
- Làm rõ thực trạng pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi ở Việt Nam
- Đánh giá những ưu điển, nhược điểm của pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi và việc thực hiện các quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi ở Việt Nam
- Đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi ở Việt Nam
Trang 810
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu một số vấn đề lý luận cơ bản của pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi theo quy định của pháp luật hiện hành và các quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi trong Dự thảo Bộ luật Lao động đang được Quốc hội nước ta xem xét thông qua vàCác quy định cụ thể của pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi trong mối quan hệ so sánh với các quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi của các nước trong khu vực và trên thế giới Trên cơ sở đó, kết hợp với việc tham khảo tổng hợp thực trạng thực hiện các quy định pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi trên thực tế Từ đó bước đầu đưa ra kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu về vấn đề này, Tác giả đã vận dụng những phương pháp của chủ nghĩa Mác- Lênin như phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp duy vật lịch sử, tư tương Hồ Chí Minh và những quan điểm của Đảng cộng sản Việt
Nam về phát triển lực lượng lao động ở Việt Nam trong giai đoạn mới
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp khác như: phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, phương pháp điều tra xã hội học, phương pháp diễn giải và quy nạp
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu thành 03 chương,cụ thể như sau:
Chương 1: Khái quát chung về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi và sự
điều chỉnh của pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi
Chương 2: Thực trạng pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi Chương 3: Hoàn thiện pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi
Trang 911
CHƯƠNG 1.KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THỜI GIỜ LÀM VIỆC, THỜI GIỜ NGHỈ NGƠI VÀ SỰ ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ THỜI GIỜ LÀM VIỆC, THỜI GIỜ NGHỈ NGƠI
1.1 Khái quát chung về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi
1.1.1 Khái niệm thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi
Trong quan hệ lao động, thời giờ làm việc, nghỉ ngơi là hai khái niệm khác nhau nhưng có mối quan hệ mật thiết với nhau tạo thành một chế định độc lập và không thể tách rời trong luật lao động Trên thực tế, không có ai chỉ làm việc mà không nghỉ ngơi và ngược lại, với những người không làm việc thì vấn đề nghỉ ngơi cũng không đặt ra, nhất là trong điều kiện hiện nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế, sự cạnh tranh khốc liệt của con người càng làm cho người lao động làm việc với cường độ cao hơn Do vậy nhu cầu làm việc và nghỉ ngơi ngày càng trở nên cấp bách hơn
Trong khoa học kinh tế - lao động, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi được xem xét chủ yếu dưới góc độ của việc tổ chức quá trình lao động Theo đó, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi phải được đặt trong mối quan hệ hữu cơ với năng suất, chất lượng và hiệu quả lao động với mục tiêu: sử dụng ít nhất thời gian làm việc mà vẫn đạt được hiệu quả kinh tế cao nhất Dưới góc độ này, thời giờ làm việc chính là khoảng thời gian cần và đủ để năng suất lao động hoàn thành, thời giờ nghỉ ngơi là khoảng thời gian cần thiết để người lao động tái sản xuất lại sức lao động đã hao phí nhằm đảm bảo quá trình lao động diễn ra liên tục
Dưới góc độ pháp lý, thời giờ làm việc và thời giờ nghỉ ngơi được biểu hiện dưới dạng quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật lao động Quan hệ này thể hiện sự ràng buộc trách nhiệm giữa người lao động và người sử dụng lao động Khi tham gia quan hệ này, người lao động phải trực tiếp hoàn thành nghĩa vụ lao động của mình, phải tuân thủ những quy định nội bộ và có quyền được hưởng những thành quả trong khoảng thời gian đó Ngoài thời giờ làm việc là thời
Trang 10Thời giờ làm việc: là khoảng thời gian do pháp luật quy định hoặc do sự
thỏa thuận của các bên, trong thời gian đó người lao động phải có mặt tại địa điểm
để thực hiện những công việc, nhiệm vụ được giao phù hợp với các quy định của pháp luật và sự thỏa thuận trong hợp đồng lao động
Thời giờ nghỉ ngơi: là khoảng thời gian trong đó người lao động không phải
thực hiện những nghĩa vụ lao động và có quyền sử dụng thời gian đó theo ý muốn của mình
Trong khoa học luật lao động, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau Nó được coi là một trong những nguyên tắc cần đảm bảo của luật lao động, hoặc một định mức lao động, hoặc một nội dung của quan hệ pháp luật lao động, một chế định của luật lao động
Với tư cách là một nguyên tắc cơ bản của luật lao động, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi được coi là quyền và nghĩa vụ cơ bản của người lao động và người sử dụng lao động mà các quy phạm pháp luật lao động cần phản ánh rõ tư tưởng đó
Nếu xem thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi với tư cách là một định mức lao động thì chúng ta hiểu là một quỹ thời gian cần thiết cho người lao động để hoàn thành công việc được giao và kịp thời tái tạo sức lao động cho quá trình lao động
Nếu xem thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi là một nội dung của quan hệ pháp luật lao động thì trong thời gian làm việc, người lao động phải có mặt tại địa điểm làm việc và thực hiện nhiệm vụ được giao như đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động Ngoài thời gian đó, người lao động được toàn quyền sử dụng thời gian nghỉ ngơi theo ý muốn của mình
Trang 1113
Là một chế định pháp luật, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi bao gồm tổng thể các quy định pháp luật quy định về thời gian người lao động phảỉ làm việc, phải thực hiện nhiệm vụ được giao và những khoảng thời gian cần thiết để người lao động được nghỉ ngơi, phục hồi sức khỏe và tái sản xuất sức lao động của mình
Tóm lại, dù thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi có được nghiên cứu dưới góc độ gì đi nữa thì mục đích chính của việc nghiên cứu đó cũng là để tìm ra một thời giờ làm việc hợp lý, một thời gian nghỉ ngơi thích hợp nhằm tăng năng suất lao động đồng thời bảo vệ sức khỏe cho người lao động
1.1.2 Sự cần thiết phải có pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi
Năm 1986, Đại hội toàn quốc lần thứ VI, Việt Nam chủ trương chuyển hướng phát triển kinh tế Từ đó, quan hệ lao động và vị thế người lao động trong quan hệ đó bắt đầu có sự thay đổi Trước đây người lao động chủ yếu tham gia quan
hệ lao động trong khu vực Nhà nước Khi phát triển kinh tế thị trường, họ có thể được sử dụng trong tất cả các thành phần kinh tế Trong cơ chế quản lý kinh tế tập trung, pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi đã được đưa vào nội dung của luật lao động Trong cơ chế kinh tế thị trường, pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi ngoài những lý do truyền thống còn có lý do khác do cơ chế thị trường mang đến
1.1.2.1 Pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi xuất phát từ yêu cầu bảo vệ người lao động trong lĩnh vực lao động
Bảo vệ người lao động là nguyên tắc quan trọng nhất của pháp luật lao động ngay từ những năm đầu phát triển kinh tế thị trường, Đảng và Nhà nước ta đã xác
định động lực và mục tiêu chính của sự phát triển là “Vì con người, phát huy nhân
tố con người, trước hết là người lao động” Tuy nhiên, trên thực tế người lao động
thường có vị thế bất bình đẳng so với người sử dụng lao động Như chúng ta đã biết, quan hệ lao động là quan hệ đặc biệt hướng tới đối tượng là con người và hoạt động mua bán hàng hóa sức lao động, trong đó, người lao động luôn là bên yếu thế hơn so với người sử dụng lao động Về phương diện kinh tế, người sử dụng lao động là người bỏ vốn, đầu tư cơ sở vật chất cho hoạt động kinh doanh, quyết định
Trang 12Bên cạnh đó, khi thiết lập quan hệ lao động, người lao động hướng tới tiền lương, thu nhập, còn người sử dụng lao động hướng tới việc thu được lợi nhuận cao Trong khi đó, năng suất lao động của người lao động chủ yếu phụ thuộc vào tiền lương, thu nhập của họ (đây là yếu tố quan trọng thúc đẩy năng suất lao động tăng cao) Khi năng suất lao động của người lao động tăng cao thì người sử dụng lao động cũng thu được lợi nhuận nhiều hơn Điều đó cũng có nghĩa là để tiền lương và thu nhập cao, người lao động sẽ bất chấp tính mạng, sức khỏe của mình làm thêm giờ, làm ban đêm…Còn người sử dụng lao động vì mục đích tối đa hóa lợi nhuận,
họ có xu hướng tận dụng triệt để các biện pháp, các quy định pháp luật, các lợi thế
để khai thác sức lao động của người lao động trong đó có việc kéo dài thời gian làm việc của người lao động
Như vậy, từ các lý do trên, cần có sự điều chỉnh của pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi để bảo vệ người lao động, tránh sự lạm dụng sức lao động từ phía người sử dụng lao động
1.1.2.2.Pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi xuất phát từ sự tác động của nền kinh tế thị trường
Khi nhận xét về kinh tế thị trường, người ta thường nói về tính hai mặt của
nó Đó là những tác động tích cực không thể phủ nhận đối với sự phát triển kinh tế
Trang 1315
và các tác động tiêu cực không thể không có đến đời sống mỗi quốc gia Mặt tiêu cực này thể hiện rất rõ trong quan hệ lao động vì bản thân lĩnh vực này vừa chứa đựng các yếu tố kinh tế, vừa thể hiện các vấn đề xã hội sâu sắc Mặt khác, sức lao động còn được coi là một loại hàng hóa đặc biệt, không tách rời với bản thân người lao động Khi sức lao động của người lao động bị lạm dụng thì các quy định pháp luật trở thành các chế tài bảo vệ người lao động tránh khỏi những tác động tiêu cực của nền kinh tế thị trường
Trong lĩnh vực lao động, kinh tế thị trường đã mở ra điều kiện thuận lợi để phát huy các nguồn lực, tạo nhiều việc làm cho người lao động đồng thời thúc đẩy năng lực cạnh tranh giữa các doanh nghiệp Điều đó đã tạo ra một nền kinh tế đa dạng, năng động, có tốc độ phát triển cao Tuy nhiên, để đáp ứng nhu cầu linh hoạt của thị trường, các nhà kinh doanh (người sử dụng lao động) thường xuyên phải hay đổi kế hoạch, quy mô sản xuất…Đặc biệt khi mục đích cao nhất là lợi nhuận, người
sử dụng lao động thường có xu hướng kéo dài thời gian làm việc, giảm thời giờ nghỉ ngơi Điều đó không những ảnh hưởng tới sức khỏe, tới khả năng tái sản xuất sức lao động mà còn ảnh hưởng đến các nhu cầu khác trong đời sống, ảnh hưởng đến khả năng phát triển toàn diện của người lao động Vì vậy, các quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi đã trở thành một trong những nội dung cơ bản trong luật lao động ở các quốc gia, để sử dụng sức lao động hợp lý, làm cơ sở bảo vệ người lao động trong những trường hợp cần thiết
1.1.2.3 Pháp luật thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi xuất phát từ bản chất nhà nước pháp quyền XHCN mà nước ta đang xây dựng
Trong nhiều văn kiện quan trọng, Đảng và Nhà nước ta khẳng định chủ
trương “phát triển kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng
xã hội chủ nghĩa” [13] Về mặt lý thuyết kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa (XHCN) được xác định với mục tiêu: “Thực hiện dân giàu, nước mạnh, tiến
lên hiện đại trong một xã hội nhân dân làm chủ, nhân ái, có văn hóa, kỉ cương, xóa
bỏ áp lực, bất công, tạo điều kiện cho mọi người có cuộc sống ấm no, hạnh phúc”
[15] Tư tưởng của Nhà nước XHCN coi mục tiêu và động lực của sự phát triển là
“con người, phát huy nhân tố con người, trước hết là người lao động” Về phân
Trang 3436
vững chắc bảo vệ quyền lợi cho người lao động, đảm bảo tái sản xuất sức lao động, ngăn chặn các hậu quả có thể xảy ra, đồng thời đảm bảo lợi ích lâu dài cho người sử dụng lao động Trên cơ sở quy định này, các bên thỏa thuận thời gian làm việc trong hợp đồng lao động hay thỏa ước lao động tập thể không được cao hơn mức thời gian định Cách quy định như trên khuyến khích cả hai bên có những thỏa thuận có lợi cho người lao động, khuyến khích các đơn vị sử dụng lao động cạnh tranh giảm giờ làm cho người lao động Mức 40 giờ/tuần áp dụng cho các đơn vị hành chính,
sự nghiệp (Quyết định 188/1999/QĐ-TTg về thực hiện chế độ tuần làm việc 40 giờ)
đã góp phần vào xu hướng khuyến khích giảm giờ làm cho người lao động đảm bảo tăng cường sức khỏe cũng như đời sống tinh thần cho người lao động Quy định như vậy càng phù hợp với sự phát triển của nền sản xuất cũng như nhu cầu nghỉ ngơi ngày càng tăng của con người trong đời sống hiện đại
Căn cứ vào thời giờ làm việc tối đa do pháp luật quy định và thỏa thuận của
các bên thì “người sử dụng lao động có quyền quy định thời giờ làm việc theo ngày hoặc tuần, nhưng phải thông báo trước cho người lao động biết” (Khoản 1 Điều 68
BLLĐ), người lao động phải đảm bảo nghĩa vụ tuân thủ như nội dung kỷ luật lao động, sau ngày làm việc mới được rời khỏi nơi làm việc Trong một số trường hợp
do tính chất sản xuất, công tác, do thời vụ hoặc sản xuất theo ca kíp mà phải phân
bố lại thời gian làm việc trong tuần, trong tháng cho thích hợp thì người sử dụng lao động phải thống nhất với công đoàn cơ sở trên cơ sở ký thỏa ước lao động tập thể
và nguyên tắc chung về thời giờ làm việc theo quy định pháp luật
Dự thảo Bộ luật lao động sửa đổi (Dự thảo BLLĐ) cũng tiếp nối các quy định
của BLLĐ hiện hành bằng việc quy định “Thời giờ làm việc không quá 8 giờ trong một ngày hoặc 48 giờ trong một tuần Người sử dụng lao động có quyền quy định thời giờ làm việc theo ngày hoặc tuần; trong trường hợp theo tuần thì thời giờ làm việc bình thường không quá 10 giờ trong một ngày Nhà nước khuyến khích người sử dụng lao động thực hiện tuần làm việc 40 giờ” (Điều 109) Việc quy định cụ thể số
giờ làm việc như trong Dự thảo BLLĐ là phù hợp chung với thông lệ quốc tế
Theo ILO, thời giờ làm việc bình thường là “số giờ mà mỗi nước ấn định bằng hoặc theo luật, pháp quy, thỏa ước tâp thể hay phán quyết trọng tài, hoặc là,
Trang 3537
ở những nước không ấn định như vậy, thì là số giờ mà nếu bất kỳ thời gian làm việc nào quá số giờ đó sẽ được trả công làm thêm giờ hoặc sẽ là một ngoại lệ so với những quy tắc hay tập quán đã được thừa nhận trong cơ sở” (Khuyến nghị số 126
năm 1962 về giảm bớt thời giờ làm việc, đoạn 11).Công ước số 47 của ILO về giảm
thời giờ làm việc còn 40 giờ một tuần (có hiệu lực từ ngày 23/6/1957) “mỗi nước
thành viên của Tổ chức Lao động Quốc tế phê chuẩn Công ước này phải thừa nhận nguyên tắc tuần lễ 40 giờ được áp dụng sao cho không gây ra hậu quả là mức sống
bị giảm sút” Chính vì thế, các nước như Philippine“thời giờ làm việc không quá 8 giờ mỗi ngày” [68], Singaporequy định “không được đòi hỏi người làm công làm việc quá 8 giờ một ngày hoặc quá 44 giờ một tuần” [65], Campuchia quy định “Số giờ làm việc của người lao động kể cả nam và nữ không được vượt quá 8 tiếng mỗi ngày, hoặc 48 tiếng mỗi tuần” [74], Indonesia quy định “Người lao động không được phép làm quá 7 giờ một ngày hoặc 40 giờ một tuần”[72], Thái Lan quy định
“giờ làm việc bình thường là không quá 48 giờ/ tuần trong các doanh nghiệp công nghiệp; không quá 8 giờ/ ngày trong các doanh nghiệp vận tải” [77], Lào quy định
thời giờ làm việc của người lao động là 6 ngày/ tuần, giờ làm việc tối đa là 8 giờ/
ngày hoặc 48 giờ/ tuần[73], Nhật Bảnquy định “Nhà tuyển dụng không được quy định thời gian làm việc quá 8 tiếng một ngày, 40 tiếng một tuần”[79]
Như vậy, pháp luật lao động các nước trên thế giới và khu vực Đông Nam Á thường không quy định độ dài thời giờ làm việc cụ thể mà quy định bằng giới hạn
tối đa thường là “không quá 8 giờ trong 1 ngày và không quá 48 giờ trong 1 tuần”
Quy định này nhằm vừa khống chế độ dài tối đa, vừa khuyến khích các bên thương lượng, thỏa thuận độ dài thời gian làm việc, có lợi hơn cho người lao động
Mặc dù hiện tại, Việt Nam chưa phê chuẩn Công ước số 47 của ILO về giảm thời giờ làm việc còn 40 giờ một tuần nhưng quy định về thời giờ làm việc tiêu chuẩn của Việt Nam cũng không nằm trong dòng chảy chung của pháp luật lao động quốc tế về quy định mức tối đa về thời giờ làm việc và xu hướng giảm dần số giờ làm việc tiêu chuẩn
Trên thực tế, việc tăng thời giờ làm việc tiêu chuẩn quá 8 giờ/ ngày là tình trạng diễn ra phổ biến tại các doanh nghiệp, đặc biệt các nhóm các doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động trong lĩnh vực dệt may, gia công v.v Theo thống kê mới nhất
Trang 362.1.2 Thời giờ làm việc rút ngắn
Thời giờ làm việc rút ngắn là loại thời giờ làm việc có độ dài ngắn hơn thời giờ làm việc bình thường mà vẫn hưởng đủ lương, áp dụng đối với một số lao động đặc biệt, đó là: người lao động làm các công việc trong điều kiện lao động đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; người lao động nữ; lao động chưa thành niên; lao động khuyết tật; và lao động cao tuổi
Đối với người lao động nữ làm công việc nặng nhọc khi có thai đến tháng thứ bảy được chuyển làm công việc nhẹ hơn hoặc được bớt một giờ làm việc hằng ngày mà vẫn hưởng đủ lương (Điều 115 BLLĐ)
Đối với lao động chưa thành niên, thời giờ làm việc của người lao động chưa thành niên không được vượt quá 7 giờ một ngày hoặc 42 giờ một tuần (Điều 122 BLLĐ)
Đối với người lao động cao tuổi, nam trên 60 tuổi, nữ trên 55 tuổi, vẫn còn làm việc thì năm cuối cùng trước khi nghỉ hưu được giảm 4 giờ làm việc trong một ngày mà vẫn được trả đủ lương (Điều 123 BLLĐ)
Có thể nói, các quy định trên nhằm bảo vệ sức khỏe cho người lao động, đồng thời là những biện pháp cần thiết để ngăn chặn sự bóc lột sức lao động người
sử dụng lao động
Dự thảo BLLĐ cũng quy định “Người sử dụng lao động không được sử dụng người lao động nữ có thai từ tháng thứ bảy (ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo thì từ tháng thứ sáu) hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi, làm thêm
Trang 3739
giờ, làm việc ban đêm và đi công tác xa” (Khoản 1, Điều 159) Về vấn đề này, luật
lao động của một số nước có quy định về thời giờ làm việc rút ngắn áp dụng cho các đối tượng là người lao động làm các công việc độc hại, nguy hiểm, lao động nữ
và lao động chưa thành niên và người lao động cao tuổi như Luật Tiêu chuẩn lao
động Nhật Bản có quy định: “lao động chưa thành niên mỗi ngày làm việc 7 giờ, mỗi giờ làm việc 42 giờ trong đó bao gồm cả giờ học tập”;luật lao động của Lào quy định “Giờ làm việc tối đa là 6 giờ/ ngày hoặc 36 giờ/ tuần đối với người lao động làm việc trong các ngành nghề liên quan đến tia phóng xạ hoặc các bệnh lây nhiễm; khói độc hại, hóa chất nguy hiểm như chất nổ; trong hầm mỏ hoặc hầm ngầm, dưới nước hoặc trên không” v.v
Nhìn chung, so sánh với các nước trong khu vực và trên thế giới, pháp luật Việt Nam có những quy định khá tiến bộ nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của những người lao động trong những hoàn cảnh đặc biệt như người lao động làm việc trong môi trường nguy hiểm, độc hại, người lao động chưa thành niên, lao động nữ, người lao động cao tuổi
2.1.3 Thời giờ làm thêm
Thời giờ làm thêm là thời giờ làm việc của người lao động ngoài phạm vi thời giờ làm việc tiêu chuẩn, được hưởng thêm tiền lương, theo yêu cầu của người
sử dụng lao động trong những trường hợp cần thiết được pháp luật quy định Có hai trường hợp làm thêm giờ: làm thêm giờ trong ngày làm việc bình thường và làm thêm giờ vào ngày nghỉ hàng tuần hoặc ngày lễ, ngày tết
Thời giờ làm thêm không được vượt quá 50% số giờ làm việc được quy định trong mỗi ngày đối với từng loại công việc Trong trường hợp quy định thời giờ làm việc theo tuần thì tổng cộng thời giờ làm việc bình thường và thời giờ làm thêm trong một ngày không vượt quá 12 giờ Số giờ làm thêm tối đa không quá 200 giờ trong một năm, trường hợp đặc biệt không được quá 300 giờ trong một năm (Khoản
2 Điều 1 Nghị định 109/2002/NĐ-CP) Theo đó, tổng số giờ làm thêm trong một tuần không quá 16 ngày, tổng số giờ làm thêm trong 4 ngày liên tục không quá 14 giờ, riêng đối với những người lao động làm các công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thì tổng số giờ làm thêm trong một tuần không quá 12 giờ, trong 4 ngày
Trang 3840
liên tục không quá 10 giờ Trường hợp nhằm khắc phục hậu quả nghiêm trọng do thiên tai, địch họa, dịch bệnh trong phạm vi đơn vị, pháp luật cho phép huy động vượt quá 4 giờ một ngày với sự đồng ý của người lao động Số giờ làm thêm này không được tính vào tổng số giờ làm thêm trong năm nhưng vẫn được trả lương và đảm bảo thực hiện các chế độ khác có liên quan đến làm thêm của người lao động
Theo Điều 1 và Điều 2 Mục II Thông tư 15/2003/TT-BLĐTBXH ngày 03/06/2003 về việc hướng dẫn làm thêm giờ theo quy định tại nghị định số 109/2003/NĐ-CP thì người sử dụng lao động và người lao động có thể thỏa thuận làm thêm quá 200 giờ trong một năm trong các trường hợp: xử lý sự cố trong sản xuất; giải quyết công việc cấp bách không thể trì hoãn; xử lý kịp thời các mặt hàng tươi sống, công trình xây dựng và sản phẩm do yêu cầu nghiêm ngặt của công nghệ không thể bỏ dở được; giải quyết công việc đòi hỏi lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao mà thị trường lao động không cung ứng đầy đủ, kịp thời; các doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất, kinh doanh có sản xuất hoặc gia công hàng xuất khẩu, bao gồm sản phẩm: dệt, may, da, giày và chế biến thuỷ sản nếu phải giải quyết công việc cấp bách, không thể trì hoãn do yêu cầu cấp thiết của sản xuất hoặc
do tính chất thời vụ của sản xuất hoặc do yếu tố khách quan không dự liệu trước thì được làm thêm giờ từ trên 200 giờ đến 300 giờ trong một năm
Khi tổ chức làm thêm cho người lao động, người sử dụng lao động phải thỏa thuận với người lao động và phải đảm bảo số thời giờ làm thêm quy định trong ngày, tuần, ngày liên tục trong tuần, các quy định về thời giờ nghỉ ngơi, các quy định về cấm hoặc hạn chế làm thêm giờ đối với một số đối tượng và đảm bảo chế
độ trả lương làm thêm giờ cho người lao động
Bên cạnh đó BLLĐ cũng quy định hạn chế làm thêm đối với các đối tượng như lao động nữ có thai từ tháng thứ bảy hoặc đang nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi (Khoản 1 Điều 115 BLLĐ); lao động chưa thành niên trừ một số nghề Bộ Lao động-TBXH quy định (Khoản 2 Điều 122 BLLĐ); người tàn tật đã bị suy giảm khả năng lao động từ 51% trở lên (Điều 127 BLLĐ)
Trên thực tế, để nhằm tối đa hóa lợi nhuận, tránh việc phải tuyển thêm lao động, nhiều ngườisử dụng lao động đã cố tình vi phạm các quy định về làm thêm
Trang 3941
giờ Theo một khảo sát mới đây của Ban Nữ công Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam, các doanh nghiệp đều vi phạm quy định về thời giờ làm việc và nghỉ ngơi Cụ thể, các doanh nghiệp đều kéo dài thời giờ làm việc từ 12 đến 14 giờ/ngày Đối với lao động nữ tại doanh nghiệp may mặc, thủy sản, da giày, thời gian làm thêm từ 2 giờ đến 5 giờ/ngày, khoảng 600 giờ đến 1.000 giờ/năm, vượt quá xa quy định Trong số lao động được hỏi có 35,8% người cho rằng phải làm thêm ít nhất 2 giờ/ngày; 18,8% phải làm 3 giờ/ngày và 7,5% phải làm thêm từ 4 giờ đến 5 giờ/ngày [33]
Để khắc phục thực trạng trên, Điều 112 Dự thảo BLLĐ quy định người sử dụng lao động chỉ được huy động làm thêm giờ khi được sự đồng ý của người lao động và phải đảm bảo số giờ làm thêm của người lao động tối đa không quá 50% số giờ làm việc chính thức trong một ngày và không quá 30 giờ trong một tháng.Dự thảo BLLĐ đã thay thế mức giới hạn số giờ làm thêm tối đa trong một năm không quá 200 giờ (theo quy định của BLLĐ hiện hành) bằng mức tối đa của từng tháng (không quá 30 giờ/ tháng) Việc quy định giờ làm thêm với mức tối đa theo tháng sẽ giúp người lao động dễ dàng tính toán được giới hạn thời giờ làm thêm; tuy nhiên, mức tối đa không quá 30 giờ/ tháng là mức quá cao và không phù hợp với thực tế Việc dự thảo thời giờ làm thêm không quá 30 giờ/ tháng đã nhận được sự phản đối của nhiều đại biểu quốc hội tại Kỳ họp thứ 2 Quốc hội khóa XIII với lý do là việc quy định như vậy thì một năm thời giờ làm thêm sẽ không quá 360 giờ, rõ ràng mức này cao hơn so với mức thực tế (200 giờ) Theo quan điểm cá nhân Tác giả thì quy định như trên có thể coi là bước lùi của pháp luật về thời giờ làm thêm bởi vì quy định này không những không bảo vệ quyền lợi của người lao động mà còn đi ngược với xu thế chung của thế giới trong việc giảm dần số giờ làm thêm Vì thế, chỉ nên quy định thời giờ làm thêm tối đa mỗi tháng không quá 15 giờ
Trên thế giới, pháp luật các nước cũng quy định chặt chẽ và cụ thể về làm thêm giờ từ việc giới hạn số giờ làm thêm tối đa như Malaysia quy định số giờ làm thêm tối đa được giới hạn ở mức 64 giờ trong 1 tháng [64], Nhật bản quy định mỗi ngày không được làm thêm quá 2 giờ [79], Liên Bang Nga quy định thời giờ làm thêm không được vượt quá 4 giờ trong 2 ngày liên tục và 120 giờ trong một năm [76] Một số nước còn hạn chế làm thêm giờ với một số đối tượng đặc biệt như
Trang 4042
Nhật Bản quy định số giờ làm thêm đối với lao động nữ không quá 2 giờ/ngày, 6 giờ/tuần, 150 giờ/năm [79] Bên cạnh đó, pháp luật các nước cũng quy định rõ ràng điều kiện và thủ tục làm thêm giờ như ở Đài Loan chủ lao động chỉ được huy động làm thêm do thiên tai, sự cố, sau khi được công đoàn đồng ý, doanh nghiệp có thể huy động làm thêm giờ nhưng mỗi ngày không quá 12 giờ, tính chung tổng số giờ làm thêm mỗi tháng không được quá 46 giờ [78].Việc pháp luật các nước quy định hạn chế số giờ làm thêm là nhằm mục đích tránh không để người sử dụng lao động lạm dụng đòi hỏi người lao động làm việc quá sức vượt quá giới hạn sinh lý và tâm lý; đồng thời trong điều kiện nguồn cung của sức lao động lớn hơn nhiều so với nhu cầu về sức lao động thì việc khống chế này nhằm để dành chỗ làm việc cho những người chưa có việc làm hoặc thiếu việc làm Điều này được thể hiện rõ nhất trong
Bộ luật Lao động Pháp, Điều 212-7 ghi rõ: “trong trường hợp có thất nghiệp, thanh tra lao động có thể cấm các doanh nghiệp sử dụng lao động làm thêm để cho phép tuyển dụng những người lao động không có việc làm” [71]
Việc quy định chế độ làm thêm giờ giới hạn ở mức tối đa là hết sức cần thiết trong việc bảo vệ sức khỏe của người lao động, đặc biệt đối với các lao động đặc thù Tuy nhiên, người lao động thường không biết hoặc không có điều kiện sử dụng các quy định để bảo vệ mình hiệu quả Thực tế, trong những năm qua, khoảng 90% những cuộc đình công ở Việt Nam đều có nguyên nhân từ sự vi phạm quyền lợi người lao động Trong đó, vi phạm về thời giờ làm việc, đặc biệt là vấn đề làm thêm giờ khá phổ biến, xếp hàng thứ hai trong nguyên nhân đình công Theo Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam, đối chiếu với các quy định của Luật lao động về thời giờ làm việc và nghỉ ngơi thì hiện nay phần lớn các Doanh nghiệp đều vi phạm Luật lao động Thể hiện rõ nhất là các Doanh nghiệp đều kéo dài thời gian làm việc từ 12 đến
14 giờ/ngày, đối với lao động nữ tại Doanh nghiệp may mặc, thuỷ sản, da giày, thời gian làm thêm giờ từ 2 đến 5 giờ/ngày, khoảng 600 đến 1.000 giờ/năm, vượt quá xa mức quy định trong luật Số liệu khảo sát cho thấy, trong số lao động được hỏi có 35,8% người cho rằng ít nhất phải làm thêm 2 giờ/ngày, 18,8% người trả lời cho rằng phải làm 3 giờ/ngày, 7,5% trả lời phải làm thêm giờ từ 4 đến 5 giờ/ngày [33]