- Dũng khí lên tiếng của nhà khoa học. - Bài học về nhận thức: Khẳng định điều cần thiết của trao đổi và tranh luận; nhìn nhận, suy nghĩ vấn đề một cách đa chiều. - Bài học hành động: T[r]
Trang 1TRƯỜNG THPT NGUYỄN KHUYẾN
ĐỀ THI CUỐI HỌC KÌ 2 NĂM HỌC 2021 - 2022 Môn: Ngữ văn 12
Thời gian: 90 phút (Không kể thời gian giao đề)
ĐỀ THI SỐ 1
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:
Giả sử nếu một ngày đẹp trời nào đó, tinh thần trách nhiệm của loài người bị mất đi, hãy hình
dung một viễn cảnh của xã hội: con người không biết mình sống để làm gì Sống lang thang, bơ vơ, vô
định Tất nhiên lúc đó không còn là sống mà chỉ là tồn tại Con người sẽ vui chơi ăn uống vô độ, hủy
hoại sức khỏe bản thân Con người sẽ chây lười, chẳng làm gì để giữ gìn bản thân Thiết tính trách
nhiệm, con người đánh mất chính mình
[…]
Vì sao ta thiếu trách nhiệm?
Trách nhiệm đồng nghĩa với nguy cơ mình bị tổn thất một điều gì đó Nếu nói dối, làm sai, gây
hại…thì khi nhận trách nhiệm về mình, bạn sẽ bị tổn thất danh dự, tổn thất thời gian khắc phục, tổn thất
niềm tin, mất chức, phải bồi thường hoặc chịu một hình phạt nào đó
Không ai muốn mình phải tổn thất, vì thế nhu cầu an toàn trong mỗi con người khiến họ tìm
cách chốn tránh trách nhiệm cá nhân và đùn đẩy nó cho người khác mà tốt nhất là cho tập thể Vì tập
thể sai thì có nghĩa là không ai sai cả, hoặc cái sai đó sẽ được chan đều và tất nhiên trách nhiệm của
mình sẽ nhẹ đi đáng kể
Tôi phạm luật vì ai cũng làm như thế cả, tôi không làm thì sẽ bị thua thiệt Tôi không có mục
đích sống vì chẳng ai cho tôi mục đích Tôi bị cám dỗ vì xã hội có quá nhiều thứ xấu xa Tôi học tệ vì
thầy cô, vì tôi không đủ điều kiện Tôi vượt đèn đỏ vì hoàn cảnh bắt buộc Tôi xấu xa thế này là bởi gia
đình…
Hãy đánh thức trách nhiệm với bản thân mình – với gia đình – với xã hội bắt đầu bằng cảm xúc
xấu hổ và hành động tự nhận lỗi về mình trước khi đùn đẩy Hiện tại, điều gì đang khiến chúng ta xấu
hổ với chính mình? Điều gì khiến chúng ta hổ thẹn với gia đình và xã hội?
(Trích Sống trách nhiệm – Nguyễn Hoàng Khắc Hiếu)
Câu 1 Chỉ ra phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích
Câu 2 Theo đoạn trích, những nguyên nhân nào khiến con người hay thiếu trách nhiệm?
Câu 3 Vì sao tác giả cho rằng: “Thiếu tính trách nhiệm, con người sẽ đánh mất chính mình”?
Trang 2Câu 4 Lời khuyên “Hãy đánh thức trách nhiệm với bản thân mình – với gia đình – với xã hội bắt
đầu bằng cảm xúc xấu hổ và hành động tự nhận lỗi về mình trước khi đùn đẩy” trong đoạn trích có ý
nghĩa gì với anh/chị? (Viết 01 đoạn văn khoảng 5-6 dòng)
II LÀM VĂN (7.0 điểm)
Anh/chị hãy phân tích nhân vật người vợ nhặt trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân (Ngữ văn 12,
tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2017)
-HẾT - ĐÁP ÁN ĐỀ THI SỐ 1
I ĐỌC - HIỂU (3,0 điểm)
Câu 1
* Phương pháp: Căn cứ vào các phương thức biểu đạt đã học: Miêu tả, biểu cảm, tự sự, thuyết
minh, nghị luận, hành chính – công vụ
* Cách giải:
- Phương thức biểu đạt: nghị luận
Câu 2
* Phương pháp: phân tích, tổng hợp
* Cách giải
- Những nguyên nhân khiến con người sống thiếu trách nhiệm: Trách nhiệm đồng nghĩa với nguy cơ
mình bị tổn thất một điều gì đó Nếu nói dối, làm sai, gây hại…thì khi nhận trách nhiệm về mình, bạn sẽ
bị tổn thất danh dự, tổn thất thời gian khắc phục, tổn thất niềm tin, mất chức, phải bồi thường hoặc chịu một hình phạt nào đó
Câu 3
* Phương pháp: phân tích, tổng hợp
* Cách giải:
- Khi thiếu trách nhiệm, con người sẽ không biết mình sống để làm gì, thiếu mục đích sống, con
người sống buông thả, không giữ gìn bản thân Vì vậy tác giả cho rằng “Thiếu tính trách nhiệm, con
người sẽ đánh mất đi chính mình”
Câu 4
Trang 3* Phương pháp: Phân tích, tổng hợp
* Gợi ý:
- Dám nhận trách nhiệm về mình, dám nhận sai và sửa sai Trong cuộc sống, hãy là một người có
trách nhiệm với bản thân, hãy nhận lỗi và sửa lỗi Vì hành vi này của bạn sẽ giúp chính bạn trở lên đúng
đắn, cao thượng, có tín ngưỡng chân chính và có một cuộc sống tốt đẹp Chúng ta, xin đừng trốn tránh
lỗi lầm của bản thân mà trở nên lầm lỡ, từ bỏ cuộc sống tốt đẹp Hãy chân thành, trách nhiệm trong mọi
hành động của bạn Bởi vì có như vậy, bạn mới có một phẩm chất đạo đức tốt đẹp
II LÀM VĂN (7.0 điểm)
* Phương pháp:
- Phân tích (Phân tích đề để xác định thể loại, yêu cầu, phạm vi dẫn chứng)
- Sử dụng các thao tác lập luận (phân tích, tổng hợp, bàn luận,…) để tạo lập một văn bản nghị luận
văn học
* Cách giải:
Yêu cầu hình thức:
- Thí sinh biết kết hợp kiến thức và kĩ năng làm nghị luận văn học để tạo lập văn bản
- Bài viết phải có bố cục đầy đủ, rõ ràng; văn viết có cảm xúc; diễn đạt trôi chảy, bảo đảm tính liên
kết; không mắc lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp
Yêu cầu nội dung:
1 Giới thiệu tác, tác phẩm
- Kim Lân là cây bút xuất sắc của văn học hiện đại Việt Nam và nhà văn chuyên viết truyện ngắn
Thế giới nghệ thuật của ông là khung cảnh làng quê và hình tượng người nông dân – mảng hiện thực mà
ông gắn bó và hiểu biết sâu sắc Ông viết chân thực và xúc động về đời sống người dân quê mà ông hiểu
sâu sắc cảnh ngộ và tâm lí của họ - những con người gắn bó tha thiết, thủy chung với quê hương và cách
mạng Sáng lên trong tác phẩm của ông là vẻ đẹp tâm hồn của người nông dân Việt Nam, những người
sống cực nhọc, lam lũ, nghèo khổ nhưng vẫn yêu đời, chất phác, lạc quan, hóm hỉnh và tài hoa
- Vợ nhặt là một trong những sáng tác xuất sắc của ông Có nhà nghiên cứu văn học đã xếp Vợ
nhặt vào loại gần như “thần bút”
- Truyện ngắn được xây dựng trên cái nền hiện thực của nạn đói khủng khiếp năm Ất Dậu (1945) và
được in trong tập Con chó xấu xí (1962) Tiền thân của truyện ngắn này là tiểu thuyết Xóm ngụ cư –
được viết ngay sau Cách mạng tháng Tám nhưng dang dở và thất lạc bản thảo Sau khi hòa bình lập lại
(1954), ông dựa vào một phần cốt truyện cũ để viết truyện ngắn này
Trang 42 Phân tích
2.1 Cảm nhận vẻ đẹp của nhân vật “thị”
a Giới thiệu chân dung, lai lịch:
* Lai lịch: không rõ ràng:
- Không tên tuổi
- Không gia đình, quê hương
- Không nghề nghiệp
- Không tài sản
- Không quá khứ
=> Trong nạn đói khủng khiếp, thân phận con người trở nên hết sức vô nghĩa
* Chân dung:
- Ngoại hình:
+ Áo quần tả tơi như tổ đỉa
+ Gầy sọp
+ Mặt lưỡi cày xám xịt
+ Ngực gầy lép
+ Hai con mắt trũng hoáy
=> Ngoại hình thảm hại do cái đói tạo ra
* Ngôn ngữ, cử chỉ, hành động:
- “Điêu! Người thế mà điêu!”, “Ăn thật nhá”, “Hà, ngon Về chị ấy thấy hụt tiền thì bỏ bố”⟶ đanh
đá, chua ngoa, chao chát, chỏng lỏn
- “Ton ton chạy lại”, “liếc mắt cười tít”, “sầm sập chạy đến”, “xưng xỉa nói”, “cong cớn”, “cắm
đầu ăn”, “ăn xong lấy đũa quẹt một cái”, bám lấy câu nói đùa của người ta để theo về làm vợ
thật ⟶ vô duyên, táo bạo đến mức trơ trẽn
b Vẻ đẹp nhân vật:
* Khát vọng sống mãnh liệt:
Trang 5- Khi nhìn dưới góc độ nhân bản thì tất cả hành động, cử chỉ trơ trẽn, vô duyên của thị lại là biểu
hiện của khát vọng sống mãnh liệt ⟶ khâm phục thị
* Vẻ đẹp nữ tính:
- Trên đường về nhà chồng:
+ Rón rén, e thẹn: “Thị cắp cái thúng con, cái đầu hơi cúi xuống; cái nón rách tả tơi nghiêng
nghiêng che khuất đi nửa mặt”
+ Ngượng nghịu: “Chân nọ ríu vào chân kia”
=> Bẽn lẽn, thẹn thùng như bất kì cô dâu mới nào
- Khi về đến nhà chồng:
+ Thấy gia cảnh nhà chồng: “nén tiếng thở dài”
+ “Ngồi mớm ở mép giường”
- Khi gặp gỡ mẹ chồng:
+ Đứng dậy nghênh đón, lễ phép chào
+ Ngượng nghịu cúi đầu, tay vân vê vạt áo
+ Đứng im lắng nghe bà cụ Tứ dặn dò
- Sáng hôm sau:
+ Dọn dẹp, vun vén nhà cửa
+ Bưng bát cháo khoán điềm nhiên và vào miệng
=> Hiền hậu đúng mực
* Niềm tin vào tương lai:
- Đưa đến thông tin mang tính chất như định hướng để mở ra lối thoát
* Nghệ thuật xây dựng nhân vật: chú trọng khắc họa cử chỉ, hành động, ngoại hình để người đọc
nhận ra vẻ đẹp của thị
3 Kết luận
ĐỀ THI SỐ 2
I ĐỌC - HIỂU (3 điểm)
Trang 6Đọc đoạn trích sau đây và thực hiện các yêu cầu từ Câu 1 đến Câu 4:
Đối với những vấn đề chưa giải quyết, sẽ có nhiều ý kiến, nhiều giả thuyết khác nhau Sẽ có tranh luận, có trao đổi Không tranh luận, không trao đổi, không có khoa học Không có gì nguy hiểm bằng là không bao giờ được nghe một ý kiến khác ý của mình Nghe mà phải tôn trọng, dù điều ấy có thể làm sụp
đổ bao nhiêu suy nghĩ mà mình đã công phu xây dựng lên Chỉ muốn nghe những người nhất trí với mình, những điều thuận tai là một thái độ phản khoa học Vì vậy, khoa học không chỉ lấy uy quyền mà giải quyết, óc khoa học nhất định phải đi đôi với óc dân chủ Một người khoa học bao giờ cũng hành động và suy nghĩ theo hai chiều hướng trái ngược nhau Trong hành động thì tinh thần tổ chức kỉ luật rất cao, chính vì biết rõ quan hệ chặt chẽ giữa ý kiến và hành động, biết rõ ý kiến là cơ sở của hành động, không thể vì chủ quan mà gây nên tai họa cho người khác và xã hội Nhưng khi suy nghĩ thì hoàn toàn giữ quyền độc lập và cố gắng tìm hiểu ý kiến của người khác Nếu chưa được thuyết phục và nếu đủ lý để nghĩ rằng
ý của mình đúng hơn, thì dù có phải tranh luận với bất kì ai, có khi bị cả một số đông phản đối vẫn bảo
vệ lấy ý riêng Khoa học phải đi đôi với dũng khí
(Theo Nguyễn Khắc Viện, trong tạp chí Học tập, số 2/1974, Ngữ Văn 11, tập một, NXBGD Việt Nam,
2016, tr 44)
Câu 1 Chỉ ra phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích (0,5 điểm)
Câu 2 Theo tác giả, “dũng khí” trong làm khoa học có nghĩa là gì? (0,5 điểm)
Câu 3 Nêu nội dung cơ bản của đoạn trích (1,0 điểm)
Câu 4 Từ quan điểm của tác giả: “Không tranh luận, không trao đổi, không có khoa học”, anh/chị rút ra
được bài học gì cho quá trình học tập của mình? (1,0 điểm)
II LÀM VĂN (7,0 điểm )
Phân tích bi kịch của nhân vật Hồn Trương Ba trong đoạn trích vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng
thịt của Lưu Quang Vũ Từ đó, liên hệ với nhân vật Chí Phèo trong truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao
để làm sáng tỏ ý kiến: "Được sống, chưa quan trọng Vấn đề là sống như thế nào?”
-HẾT -
ĐÁP ÁN ĐỀ THI SỐ 2
I ĐỌC - HIỂU (3 điểm)
Câu 1 Phương thức biểu đạt chính: Phương thức nghị luận
Câu 2
Theo tác giả, “dũng khí” trong làm khoa học có nghĩa là:
- Độc lập trong suy nghĩ;
Trang 7- Tìm hiểu ý kiến của người khác, nếu chưa thấy thuyết phục và có đủ lý để nghĩ rằng ý của mình đúng hơn thì phải tranh luận đến cùng để bảo vệ ý riêng
Câu 3
Nội dung cơ bản của đoạn trích:
- Vấn đề dân chủ trong tranh luận khoa học;
- Dũng khí lên tiếng của nhà khoa học
Câu 4
- Bài học về nhận thức: Khẳng định điều cần thiết của trao đổi và tranh luận; nhìn nhận, suy nghĩ vấn đề một cách đa chiều
- Bài học hành động: Trau dồi vốn sống, vốn hiểu biết để có được những lý lẽ, minh chứng bảo vệ ý kiến của mình; tranh luận đến cùng để tìm ra chân lý )
II LÀM VĂN (7 điểm)
1 Mở bài
- Giới thiệu tác giả Lưu Quang Vũ
- Giới thiệu tác phẩm Hồn Trương Ba, da hàng thịt
- Dẫn dắt vấn đề cần nghị luận
2 Thân bài
2.1 Giải thích
- Theo từ điển thuật ngữ văn học: Bi kịch là một thể loại kịch thường được coi như là đối lập với hài kịch
Bi kịch phản ánh không phải bằng tự sự mà bằng hành động của nhân vật chính, mối xung đột không thể điều hòa được giữa cái thiện và cái ác, cái cao cả và cái thấp hèn… diễn ra trong một tình huống cực kỳ căng thẳng mà nhân vật thường chỉ thoát ra khỏi nó bằng cái chết bi thảm gây nên những suy tư và xúc động mạnh mẽ đối với công chúng
2.2 Phân tích bi kịch của nhân vật Hồn Trương Ba trong đoạn trích vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt của Lưu Quang Vũ
- Bi kịch sống nhờ, sống gửi tồn tại trái với lẽ tự nhiên (Dẫn chứng: Phân tích màn đối thoại giữa Hồn Trương Ba và xác hàng thịt)
- Bi kịch không được người khác hiểu, tôn trọng, yêu quý (Dẫn chứng: Phân tích màn đối thoại giữa Hồn Trương Ba với những người thân)
Trang 8- Bi kịch sửa sai càng thêm sai (Phân tích màn đối thoại giữa Hồn Trương Ba với Đế Thích)
- Kết thúc tác phẩm, Trương Ba trả lại thân xác cho người hàng thịt, chấp nhận cái chết để không còn là
cái vật quái gở mang tên Hồn Trương Ba, da hàng thịt nữa Một kết cục bi kịch nhưng là sự chiến thắng
của những điều tốt đẹp, của bản lĩnh, của một Hồn Trương Ba “nguyên vẹn, trong sạch, thẳng thắn” Đây
là vở bi kịch lạc quan, Trương Ba chết nhưng giá trị cuộc sống được bảo toàn Không còn thân xác nhưng Trương Ba sẽ còn sống mãi trong lòng người thân, bạn bè với tất cả những gì tốt đẹp nhất Đoạn kết của
vở bi kịch được tác giả viết thêm thể hiện rõ tinh thần lạc quan này và ý nghĩa tư tưởng nhân văn sâu sắc của tác phẩm: sự sống là quý giá nhưng không thể sống bằng mọi cách Sự tồn tại của con người chỉ có ý nghĩa khi họ là mình một cách trọn vẹn, sống hợp quy luật, hòa linh hồn vào thân xác khi sự tồn tại đó mang lại niềm vui, sự thanh thản cho chính mình và hạnh phúc cho những người xung quanh Cái chết là
một điều không thể tránh khỏi, con người cần phải biết chấp nhận nó và hiểu rằng: “người ta chỉ chết thực
sự khi không còn sống trong lòng của những người khác”
2.3 Liên hệ với nhân vật Chí Phèo trong truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao để làm sáng tỏ ý kiến:
“Được sống, chưa quan trọng Vấn đề là sống như thế nào?”
- Từ người lao động lương thiện Chí Phèo bị đẩy vào con đường tha hóa, trở thành quỷ dữ, bị loại ra khỏi
xã hội loài người
- Từ quỷ dữ, Chí Phèo thức tỉnh lương tâm, muốn trở lại làm người lương thiện, nhưng Chí Phèo chết thảm khốc trên ngưỡng cửa trở lại làm người
- Niềm khao khát làm người lương thiện của Chí Phèo vẫn chỉ là ước muốn Cơ duyên tìm cuộc sống lương thiện của Chí Phèo đã đứt gãy giữa chừng Ước muốn làm người thật bình dị, đối với Chí Phèo lại quá xa vời, còn lâu anh mới có thể chạm tới, thậm chí đối với một kẻ đã bị xã hội lãng quên như anh đó
là điều không tưởng
- Bi kịch chồng chất bi kịch, dù chết Chí Phèo vẫn không thay đổi được bi kịch đau đớn của mình Vì vậy, tiếng nói khát khao được sống như một con người đối với Chí Phèo là cả một kì vọng
2.4 Đánh giá chung:
* Điểm tương đồng
- Nhìn chung, cả hai tác phẩm cùng nói lên bi kịch của mỗi người Hai tác giả đều thể hiện sự bế tắc, nỗi đau tột cùng của con người, đồng thời cả hai tác phẩm cũng khẳng định nét đẹp không thể mất ở mỗi người đó là: nguyện vọng, khát vọng vươn tới sự hoàn thiện về nhân cách, sống là mình và trân trọng giá
Cả hai nhân vật Trương Ba và Chí Phèo đều phải chịu những bi kịch đau đớn do giai cấp thống trị gây nên: Bi kịch tha hóa và bi kịch bị xã hội, người thân chối bỏ
* Điểm khác biệt:
- Bi kịch của Trương Ba do sự tắc trách của Nam Tào, sự sửa sai một cách vô tâm của họ
Trang 9- Bi kịch của Chí Phèo do bị chế độ phong kiến áp bức đến cùng cực, Chí quay lại tìm cách chống trả mà trở thành lưu manh
- Trương Ba nhận ra bi kịch của mình, còn Chí thì không, Chí không biết đã gây ra bao tội ác cho dân làng
* Quan niệm nghệ thuật về con người mà hai nhà văn gửi gắm qua tác phẩm
- Con người dù sống trong hoàn cảnh bi đát thế nào cũng luôn đấu tranh để loại trừ cái xấu, để gìn giữ nhân cách cao đẹp: Trương Ba quyết định chết và trả lại xác cho anh hàng thịt để mình luôn được sống trong lòng của những người thân yêu với những ấn tượng tốt đẹp; Chí Phèo chết để được là người chứ nhất quyết không sống kiếp quỷ dữ nữa Đó là niềm tin bất diệt của 2 nhà văn vào con người
3 Kết luận
- Khái quát và mở rộng vấn đề
ĐỀ THI SỐ 3
I ĐỌC – HIỂU (4 điểm)
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:
Chúng ta đều biết cuộc sống không có gì là dễ dàng cả Phải mất mát rồi con người ta mới biết trân quý những gì đã từng có, và cố gắng vì những gì đang có Tôi cũng vậy, khi còn trong vòng tay yêu thương của gia đình tôi cũng không hiểu, cứ cho đó là điều đương nhiên, đến khi mất đi rồi mới thấy tiếc nuối, lại càng phải cố gắng hơn vì những người còn hiện hữu Tôi luôn nghĩ rằng, không bao giờ là quá muộn
để quay trở lại, cũng không bao giờ là quá muộn để thực hiện ước mơ của mình Chỉ cần mình còn tin tưởng vào bản thân, còn tin tưởng vào ước mơ, và thêm vào đó là rất nhiều bàn tay đưa ra cho tôi nắm lấy, cùng với sự yêu thương, thông cảm từ những người xung quanh (điều mà tôi đã rất may mắn có được) thì không gì là không thể
Cuộc hành trình đã qua của tất cả chúng ta ở đây chắc chắn không dễ dàng và cuộc hành trình sắp tới hẳn không ít chông gai Tuy nhiên, với hành trang mà chúng ta được trang bị trong đó có kiến thức, kỹ năng được trau dồi qua những ngày ngồi trên giảng đường, bạn bè, thầy cô cùng những kỷ niệm về nơi này, chúng ta sẽ mang theo và mở ra mỗi khi cần động lực để bước tiếp
(Trích Bài phát biểu tại buổi lễ tốt nghiệp trường Cao đẳng nghề Việt Mỹ) của thủ khoa toàn
khóa 2011, Nguyễn Thu Hà – Theo http://www.caodangvietmy.edu.vn)
Câu 1 Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích trên
Câu 2 Anh/Chị hiểu thế nào về câu nói: “Cuộc hành trình đã qua của tất cả chúng ta ở đây chắc chắn
không dễ dàng và cuộc hành trình sắp tới hẳn không ít chông gai”?
Câu 3 Theo anh/chị, vì sao tác giả cho rằng: “Phải mất mát rồi con người ta mới biết trân quý những gì
đã từng có, và cố gắng vì những gì đang có”?
Trang 10Câu 4 Thông điệp nào của đoạn trích trên có ý nghĩa nhất đối với anh/chị?
II LÀM VĂN: (7.0 điểm)
Câu 1 Nghị luận xã hội (2.0 điểm)
Viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về ý kiến được nêu trong đoạn
trích ở phần Đọc hiểu: “Tôi luôn nghĩ rằng, không bao giờ là quá muộn để quay trở lại, cũng không bao
giờ là quá muộn để thực hiện ước mơ của mình.”
Câu 2 Nghị luận văn học (5.0 điểm)
Phân tích nhân vật bà cụ Tứ trong tác phẩm Vợ nhặt của nhà văn Kim Lân qua đoạn trích bên dưới Từ
đó làm toát lên vẻ đẹp con người trong cảnh khốn cùng của nạn đói năm Ất Dậu
Bà lão cúi đầu nín lặng Bà lão hiểu rồi Lòng người mẹ nghèo khổ ấy còn hiểu ra biết bao nhiêu cơ sự, vừa ai oán vừa xót thương cho số kiếp đứa con mình Chao ôi, người ta dựng vợ gả chồng cho con là lúc trong nhà ăn nên làm nổi, những mong sinh con đẻ cái mở mặt sau này Còn mình thì Trong kẽ mắt kèm nhèm của bà rủ xuống hai dòng nước mắt Biết rằng chúng nó có nuôi nổi nhau sống qua được cơn đói khát này không?
Bà lão khẽ thở dài đứng lên, đăm đăm nhìn người đàn bà Thị cúi mặt xuống, tay vân vê tà áo đã rách bợt Bà lão nhìn thị và bà nghĩ: Người ta có gặp bước khó khăn, đói khổ này, người ta mới lấy đến con mình Mà con mình mới có vợ được Thôi thì bổn phận bà là mẹ, bà đã chẳng lo lắng được cho con May ra mà qua khỏi được cái tao đoạn này thì thằng con bà cũng có vợ, nó yên bề nó, chẳng may ra ông giời bắt chết cũng phải chịu chứ biết thế nào mà lo cho hết được?
Bà lão khẽ dặng hắng một tiếng, nhẹ nhàng nói với “nàng dâu mới”:
- Ừ, thôi thì các con đã phải duyên phải kiếp với nhau, u cũng mừng lòng
………
Bà lão đặt đũa bát xuống, nhìn hai con vui vẻ:
- Chúng mày đợi u nhá Tao có cái này hay lắm cơ
Bà lật đật chạy xuống bếp, lễ mễ bưng ra một cái nồi khói bốc lên nghi ngút Bà lão đặt cái nồi xuống bên cạnh mẹt cơm, cầm cái môi vừa khuấy khuấy vừa cười:
- Chè đây - Bà lão múc ra một bát - Chè khoán đây, ngon đáo để cơ
Người con dâu đón lấy cái bát, đưa lên mắt nhìn, hai con mắt thị tối lại Thị điềm nhiên và vào miệng Tràng cầm cái bát thứ hai mẹ đưa cho, người mẹ vẫn tươi cười, đon đả:
- Cám đấy mày ạ, hì Ngon đáo để, cứ thử ăn mà xem Xóm ta khối nhà còn chả có cám mà ăn đấy