Phần lớn tựa đề đã nêu rõ đối tượng và mục đích bài viết: Nghiên cứu truyền thuyết, những vấn đề đặt ra [1], Suy nghĩ mới về bản chất thể loại truyền thuyết [3], Bàn thêm về thể loại tru
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VÕ PHÚC CHÂU
TRUYỀN THUYẾT DÂN GIAN
VỀ NHỮNG CUỘC KHỞI NGHĨA
CHỐNG PHÁP Ở NAM BỘ
(1858 – 1918)
Chuyên ngành VĂN HỌC VIỆT NAM
MÃ SỐ: 62 22 34 01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2010
THƯ
VIỆN
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu riêng của tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong Luận án là trung thực
Nếu nội dung Luận án có sự gian dối, sao chép thành quả nghiên cứu của người khác, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Tác giả Luận án
Võ Phúc Châu
Trang 3QUY ƯỚC TRÌNH BÀY LUẬN ÁN
***
1 Cách trình bày trích dẫn ý kiến
Trong quá trình diễn giải vấn đề, khi cần nêu địa chỉ tham khảo hoặc dẫn lại một số nhận xét, ý kiến của các nhà nghiên cứu, chúng tôi xin được trình bày theo quy ước:
Phần trích dẫn ngắn: đặt trong dấu ngoặc kép, in nghiêng
Phần trích dẫn dài: tách thành đoạn riêng, lề trái lùi thêm 2 cm, không dùng ngoặc kép, cỡ chữ nhỏ hơn, không in nghiêng
Phần ghi địa chỉ tham khảo: [205] (có nghĩa là xem tài liệu số 205 ở phần Tài liệu tham khảo)
Phần chú thích trực tiếp: viết liên tục, đặt trong dấu ngoặc đơn, có thể in chữ nghiêng Ví dụ:
“nhu cầu gắn truyền thuyết với một chứng tích văn hóa nào đó (lăng mộ, địa danh, lễ hội…)”
Phần chú thích thêm: đặt cuối trang, mỗi chú thích đều có số thứ tự
3 Quy ước viết tắt một số từ ngữ được dùng nhiều lần trong Luận án
1 Truyền thuyết dân gian về những cuộc khởi nghĩa
chống Pháp ở Nam Bộ (1858 – 1918) Truyền thuyết dân gian
2 Hệ thống truyền thuyết dân gian về những cuộc khởi
nghĩa chống Pháp ở Nam Bộ (1858 – 1918)
Hệ thống truyền thuyết dân gian
Trang 4MỞ ĐẦU
***
1 Lý do chọn đề tài - mục đích nghiên cứu
Kể từ khi người Việt đến khai khẩn, mở đất, mảnh đất Nam Bộ đã có hơn ba trăm năm tồn tại và ngày càng phát triển Trong hơn ba trăm năm ấy, con người bao phen chứng kiến
sự biến thiên lịch sử Một trong những sự kiện oai hùng nhất của dân tộc ta nói chung, của Nam Bộ nói riêng trong thời kỳ “khổ nhục nhưng vĩ đại” (Phạm Văn Đồng) là cuộc đối đầu không cân sức với thực dân Pháp xâm lược Cuộc kháng chiến này đã tạo nên hào khí rạng ngời: Hào khí Đồng Nai
Chỉ xét chặng đường ngắn ngủi, từ 1858 đến 1918, biết bao người con ưu tú của Nam
Bộ đã vùng lên chiến đấu và hy sinh lẫm liệt Họ in dấu ấn đời mình vào thời gian và không gian Họ đã trở thành bất tử Nhưng sự hy sinh của họ đã được nhìn nhận bởi các đánh giá, xem xét của những thái độ tình cảm, cách nhìn khác nhau Triều Nguyễn, thông qua lịch sử chính thống, đã khe khắt và hẹp hòi khi đánh giá công trạng những anh hùng kháng Pháp Chỉ có nhân dân mới nhìn thấy hết tầm vóc và sự bất tử của những tấm gương vì dân mộ nghĩa Chỉ có nhân dân mới hiểu hết giá trị phải đánh đổi để còn được mảnh đất này
Từ xa xưa, quần chúng nhân dân đã có cách nhìn riêng đối với con người và sự kiện lịch sử Họ biết ngợi ca, tôn vinh, tưởng nhớ các anh hùng, thông qua truyền thuyết dân gian Những truyền thuyết về anh hùng kháng Pháp, về những địa danh lịch sử đã hiện diện nơi này nơi khác, tập trung hoặc rời rạc… trong các tư liệu sưu tầm văn học dân gian, trong tư liệu khảo cứu, từ ký ức người dân… Chúng báo hiệu những mỏ quặng truyền thuyết dân gian phong phú, phức tạp nhưng chưa được tập hợp, nghiên cứu đầy đủ
Nghiên cứu vấn đề này, chúng tôi hy vọng thấy được phần nào đặc điểm của thể loại truyền thuyết trong thời cận đại Bởi, truyền thuyết chỉ phổ biến, phát triển mạnh ở những giai đoạn trước Qua đó, trong chừng mực tư liệu cho phép, chúng tôi cũng mong muốn phát hiện màu sắc địa phương, tính thống nhất và đa dạng của tác phẩm truyền thuyết dân gian Nam Bộ so với truyền thuyết các vùng miền trong cả nước
Nghiên cứu truyền thuyết dân gian về những cuộc khởi nghĩa chống Pháp ở Nam Bộ, luận án đồng thời sẽ giúp công việc giảng dạy lịch sử, văn học địa phương thêm chiều sâu và hiệu quả
Trang 52 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1 Các công trình nghiên cứu, bài viết về thể loại truyền thuyết:
Đây là những bài viết, những tập sách được đăng tải rải rác, không liên tục, chưa thành
hệ thống chuyên đề Tuy nhiên, mỗi bài viết đều xoáy vào một khía cạnh đặc trưng, mới mẻ
và phức tạp của truyền thuyết Phần lớn tựa đề đã nêu rõ đối tượng và mục đích bài viết: Nghiên cứu truyền thuyết, những vấn đề đặt ra [1], Suy nghĩ mới về bản chất thể loại truyền thuyết [3], Bàn thêm về thể loại truyền thuyết [4], Thể loại truyền thuyết dưới mắt các nhà nghiên cứu Folklore Nhật Bản và Trung Quốc [72], Quan điểm quần chúng trong truyền thuyết dân gian Việt Nam [80], Truyền thuyết Việt Nam & vấn đề thể loại [84], Mối quan hệ giữa truyền thuyết người Việt và hội lễ về các anh hùng [106], Tìm hiểu kết cấu của dạng truyền thuyết anh hùng [193], Truyền thuyết dân gian với tâm lý cộng đồng người Việt [194], Tinh thần dân tộc qua các truyền thuyết lịch sử [220], Dạy “An Dương Vương và Mỵ Châu - Trọng Thủy” từ góc nhìn truyền thuyết [188] Ở các công trình này, các nhà nghiên cứu thường chú ý khảo sát thể loại truyền thuyết qua mấy phương diện: dạng thức tác phẩm, thời gian được phản ánh, mối quan hệ với cộng đồng, đặc điểm nội dung, đặc điểm nghệ thuật, tâm lý tiếp nhận văn bản
Nguồn tư liệu này giúp hình dung sự hình thành và vận động của thể loại truyền thuyết trong đời sống văn học
Cũng có lúc, một số nhà nghiên cứu không thừa nhận sự tồn tại của thể loại truyền thuyết hoặc gọi chúng bằng những tên khác: huyền thoại, truyền văn, truyền ngoa, cổ tích lịch sử Nhưng giờ đây, trong nhiều nền văn học dân gian trên thế giới, truyền thuyết luôn được xem là một thể loại lớn; có mối quan hệ đặc biệt với lịch sử, văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng; có sự giao thoa với thần thoại, giai thoại, cổ tích Ra đời sau thần thoại, trước cả cổ tích, truyện thơ dân gian nhưng truyền thuyết lại “trường thọ” hơn tất cả các thể loại này Đấy là sức sống kỳ lạ của thể loại truyền thuyết
Nhìn chung, lý thuyết thể loại khá rõ Tuy nhiên, khi vận dụng nguồn lý thuyết này để sưu tầm và khảo sát truyền thuyết dân gian Nam Bộ (từ sau 1858), chúng tôi gặp nhiều khó khăn Cụ thể, quá ít công trình nghiên cứu giúp phân biệt rõ truyền thuyết và giai thoại, truyền thuyết lịch sử và giai thoại lịch sử Trong khi đó, do ra đời muộn (thời cận đại), nhiều câu chuyện về nhân vật và sự kiện lịch sử tuy mang đặc điểm truyền thuyết nhưng thiếu đi chất kỳ ảo, hoang đường hoặc vẫn chưa thoát hẳn màu sắc giai thoại Một số truyền thuyết dân gian lại nằm ngay trong tư liệu lịch sử, bằng cảm tính không dễ gì bóc tách ra được
Trang 62.2 Một số tư liệu sưu tầm, biên khảo truyền thuyết dân gian, văn học dân gian, văn hóa dân gian Nam Bộ
Nguồn tư liệu này bao gồm các công trình sưu tầm, biên khảo về tác phẩm truyền thuyết; một số khai thác truyện dân gian nói chung; còn phần lớn là những công trình sưu tầm, biên khảo văn học dân gian địa phương, văn hóa dân gian Nam Bộ, địa phương chí
Để tiện khảo sát, chúng tôi phân nguồn tư liệu thành nhiều nhóm:
- Nhóm tư liệu về truyền thuyết, truyện dân gian (của cả nước)
- Nhóm tư liệu về văn học dân gian địa phương
- Nhóm tư liệu về văn hóa dân gian Nam Bộ, địa phương chí
Dưới đây xin giới thiệu tóm tắt đặc điểm một vài tư liệu:
2.2.1 Nhóm tư liệu về truyền thuyết, truyện dân gian:
* Truyện tích Việt Nam [88], Kho tàng truyện truyền kỳ Việt Nam [94], Truyền thuyết Việt Nam [96], Truyền thuyết Việt Nam [108], Chuyện kể địa danh Việt Nam [98], Chuyện xưa tích cũ [149], Việt Nam - thần thoại và truyền thuyết [153]: Các tập sách này tuyển chọn những truyền thuyết đặc sắc, phổ biến của Việt Nam, nhưng mốc thời gian chỉ dừng lại trong (hoặc trước) thời kỳ quốc gia phong kiến độc lập Không truyền thuyết nào kể về cuộc những cuộc khởi nghĩa buổi đầu chống Pháp ở Nam Bộ Chỉ trong Truyện tích Việt Nam [88], có truyện số 24 kể về Thiên Hộ Dương, truyện số 25 kể chung về những anh hùng chống Pháp Tuy nhiên, cả hai còn dừng ở mức độ ghi chép, sưu khảo Các truyện không ghi xuất xứ
* Giai thoại dân gian Đồng Tháp Mười [65]: Cả 42 truyện đều có bối cảnh không gian
là vùng Đồng Tháp Mười, thời gian trải dài từ “ngày xưa” cho đến nửa đầu thế kỷ XX Tập sách lần lượt nhắc lại sự tích những địa danh; những câu chuyện hào hùng, cảm động về các anh hùng hào kiệt đã sống, chiến đấu và ngã xuống trên quê hương Đồng Tháp Các câu chuyện được gọi chung là giai thoại dân gian, mặc dù một số nên gọi là truyền thuyết dân gian Vài truyện sưu tầm không ghi xuất xứ
* Truyền thuyết Thiên Hộ Dương – Đốc Binh Kiều [66]: Tuyển tập giới thiệu những câu chuyện liên quan đến cuộc khởi nghĩa Thiên Hộ Dương và phó tướng Đốc Binh Kiều Các truyện này hầu hết đã được in trong “Giai thoại dân gian Đồng Tháp Mười” Có điều, những tác phẩm trước đây được gọi là giai thoại thì nay được xác định là truyền thuyết Đây
là công trình sưu tầm truyền thuyết dân gian Nam Bộ duy nhất mà chúng tôi có được
Trang 7* Nam Kỳ cố sự [67]: Phần lớn tác phẩm được sưu tầm tại Đồng Tháp, kể về đất và người Đồng Tháp Trong đó có một số truyền thuyết dân gian Tác phẩm được gọi chung là chuyện xưa (cố sự) Một số truyện không ghi xuất xứ
2.2.2 Nhóm tư liệu về văn học dân gian địa phương:
* Văn học dân gian – những tác phẩm chọn lọc [163]: Tập sách được sắp xếp theo thể loại Tác phẩm được phân theo tiểu loại hoặc thời kỳ mà chúng phản ánh Một số tiểu loại, tác phẩm có kèm phần tiểu dẫn, nhằm giúp người đọc hiểu đúng văn bản Ở thể loại truyền thuyết, tác phẩm được xếp theo thời kỳ lịch sử Riêng thời kỳ chống Pháp, tập sách giới thiệu
3 truyền thuyết về Nguyễn Trung Trực, 2 truyền thuyết về Thiên Hộ Dương Các truyện đều
có ghi xuất xứ
* Văn học dân gian Đồng bằng sông Cửu Long [101]: Tác phẩm được sắp xếp thành hai phần: văn xuôi, văn vần Ở phần văn xuôi dân gian, căn cứ vào nội dung, truyện được chia theo nhóm Có một số truyền thuyết dân gian thời chống Pháp Tuy nhiên, các truyện không
được xem xét ở góc độ thể loại, bởi theo các tác giả: “Nhiều truyện không còn giữ được tính chất thể loại của nó Một số truyện có thể là truyền thuyết nhưng lại mang màu sắc cổ tích, một số truyện loài vật có màu sắc ngụ ngôn… Biện pháp khả thi ở đây là sắp xếp các truyện theo nội dung” [169,14] Do đó, một số truyền thuyết về các anh hùng chống Pháp được xem
là giai thoại
* Nghìn năm bia miệng, 2 tập [215]: Ở lời giới thiệu, các tác giả có nhận xét về sự kế thừa những mẫu đề, môtif truyền thống trong một số tác phẩm tự sự dân gian… Đặc biệt, mảng truyền thuyết dân gian về các anh hùng chống Pháp được nhận xét khá sâu sắc và trang trọng Do được sắp xếp theo đề tài, bộ sách có hẳn mảng truyện về những nhân vật lịch sử, đặc biệt là những anh hùng chống Pháp đã làm rạng rỡ hào khí đất Gia Định – Đồng Nai Các câu chuyện đều có ghi xuất xứ nhưng không được xác định về mặt thể loại
* Thơ văn Đồng Tháp [235]: Bộ sách gồm 2 tập Tập I dành riêng cho Thơ văn dân gian Riêng truyền thuyết có 16 truyện, nội dung kể về sự tích các địa danh, những anh hùng hào kiệt buổi đầu chống Pháp Một số truyện không ghi xuất xứ
* Tài liệu hướng dẫn học tập thơ văn Kiên Giang trong nhà trường [236], Thơ văn Đồng Tháp trong nhà trường [237]: Đây là giáo trình giảng dạy văn học địa phương trong nhà trường Mỗi bài học có in nguyên văn tác phẩm, sau đó là phần hướng dẫn đọc thêm Một số truyền thuyết về anh hùng chống Pháp ở Nam Bộ được tuyển từ Thơ văn Đồng Tháp,
tập I
Trang 82.2.3 Nhóm tư liệu về văn hóa dân gian Nam Bộ, địa phương chí:
* Sổ tay Hành hương đất phương Nam [218]: Nội dung tập sách, sau Chuyên luận là phần Sổ tay hành hương Trong phần này, nhóm tác giả giới thiệu những dạng thức tín ngưỡng, tôn giáo ở Nam Bộ, những địa điểm hành hương tại 18 tỉnh thành của vùng đất mới phương Nam Lồng trong việc giới thiệu tín ngưỡng, tôn giáo có một vài mẩu chuyện về nhân vật khởi nghĩa chống Pháp Ví dụ đạo Bửu Sơn Kỳ Hương có Đức Cố Quản Trần Văn Thành và các con Trần Văn Chái, Trần Văn Nhu Bên cạnh đó, nhiều đền, miếu, lăng mộ trên khắp tỉnh thành Nam Bộ gắn với việc thờ tự những anh hùng buổi đầu chống Pháp Ví
dụ, đình Mỹ Khánh (Biên Hòa) thờ Nguyễn Tri Phương; chùa Cô Hồn (Biên Hòa) thờ 9 người lãnh đạo trại Lâm Trung chống Pháp; dinh thờ ở ấp Hàng Sao (Hóc Môn- TP.HCM) thờ Nguyễn Ảnh Thủ; đình chánh Tân Kim (Long An) thờ ông Mai Văn Phận – tùy tướng của Trương Định
* Nam Bộ xưa và nay [241]: Tác phẩm tập hợp những bài viết về lĩnh vực lịch sử, văn hóa của miền đất Nam Bộ xưa và nay Một số bài viết về sự kiện, nhân vật lịch sử buổi đầu chống Pháp (1858 – 1918)
* Địa chí Văn hóa thành phố Hồ Chí Minh [46]: Bộ sách gồm bốn tập Riêng tập I viết
về các chặng đường lịch sử ngót 300 năm của đất Sài Gòn – Gia Định Tập II tổng kết thành tựu văn học, báo chí và nghệ thuật của vùng đất này Tập I có phần viết riêng về Sài Gòn dưới ách thống trị thực dân Pháp từ 1859 đến 1918 Một số gương anh hùng chống Pháp được ghi nhận (Hồ Huân Nghiệp, Trương Định, Phan Văn Hớn, Nguyễn Hữu Trí, Phan Xích Long…) Qui mô, tính chất các cuộc khởi nghĩa được phân tích dưới góc độ sử học Ở tập II, phần Văn học có bài về Văn học dân gian Gia Định – Sài Gòn Tuy dẫn chứng trong giới hạn địa phương nhưng bài viết đã gợi mở cách nhìn về diện mạo và đặc điểm chung của văn học dân gian cả miền đất Nam Bộ Bài viết có đề cập truyện kể dân gian về anh hùng chống Pháp
và giai thoại về những nhà nho làm thơ đánh giặc
* Bến Nghé xưa [143], Đất Gia Định xưa [145]: Bộ sách được viết theo dạng địa phương chí Tác giả không chủ định sưu tầm văn học dân gian Tuy nhiên, có một số mẩu chuyện mang màu sắc truyền thuyết Chuyện kể thường có thêm đoạn tả cảnh và diễn biến tâm lý nhân vật, thể hiện phần nhuận sắc của tác giả
* Bạc Liêu xưa [130], Cần Thơ xưa [131], Định Tường (Mỹ Tho) xưa [132], Gia Định xưa [133], Gò Công xưa [134], Kiến Hòa (Bến Tre) xưa [135], Sa Đéc xưa [136], Tây Ninh xưa [137], Vĩnh Long xưa [138], Vũng Tàu xưa [139], Tân Châu xưa [104] : Đây là bộ sách
Trang 9sưu khảo của Huỳnh Minh, được viết theo dạng địa phương chí Mỗi tập sách tổng hợp kiến thức về địa lý, lịch sử, nhân vật, giai thoại, huyền thoại, di tích, thắng cảnh, cũng như các địa danh năm xưa của một tỉnh ở Nam Bộ Mỗi tập sách được chia thành từng phần mục cụ thể Những địa danh lịch sử, gương anh hùng chống Pháp thường xuất hiện trong phần mục về nhân vật, giai thoại, huyền thoại Chuyện về các anh hùng chống Pháp phần nhiều được thể hiện dưới dạng bút kí Các mẩu chuyện thường tản mạn Một số sự kiện còn dừng ở dạng liệt
kê (gạch đầu dòng) Tác giả không xác định được thể loại truyền thuyết
2.3 Các tư liệu lịch sử ghi chép về con người và sự kiện lịch sử buổi đầu chống Pháp ở Nam
Bộ
Để tiện khảo sát, chúng tôi phân nguồn tư liệu thành hai nhóm:
2.3.1 Tư liệu về giai đoạn lịch sử: Chống xâm lăng (quyển I) [47], Việt Nam Pháp thuộc sử (1884 – 1945) [102], Việt Nam thế kỷ XIX (1802 – 1884) [181], Việt Nam – những
sự kiện lịch sử (1858 – 1918) [186]
Các bộ sách này chủ yếu trình bày theo hướng biên niên sử, qua cái nhìn hệ thống Mỗi phần mục khai thác một vấn đề lớn trong lịch sử; nội dung sự kiện được ghi cụ thể, hàm súc, chính xác Những sự kiện, câu chuyện diễn ra từ 1858 đến 1918 đã phần nào nêu bật vai trò lịch sử của những anh hùng chống Pháp ở Nam Bộ
2.3.2 Tư liệu về nhân vật lịch sử: Nguyễn Trung Trực [148], Anh hùng kháng Pháp Nguyễn Trung Trực [100], Nguyễn Trung Trực – thân thế và sự nghiệp [13], 130 năm nhìn lại cuộc đời và sự nghiệp Trương Định [189], Khởi nghĩa Trương Định [180]
Đây là tư liệu về những nhân vật lịch sử, được viết theo dạng nhân vật chí Mỗi công trình tập trung khắc hoạ thân thế, sự nghiệp, vai trò lịch sử… của một nhân vật anh hùng chống Pháp Từng chương mục lần lượt tái hiện, diễn giải nguồn gốc xuất thân, động cơ khởi binh đánh giặc, chiến công… của nhân vật Một số vấn đề, sự kiện được minh giải qua nhiều nguồn cứ liệu, nhiều quan điểm khác nhau Ví dụ, nguyên nhân Nguyễn Trung Trực sa vào tay giặc Một số đoạn, bài mang tính chất gợi ý khai thác nội dung, ý nghĩa của truyền thuyết dân gian Ví dụ, bài nghiên cứu truyền thuyết dân gian về Nguyễn Trung Trực của Bùi Mạnh Nhị [13] Mặt khác, trong một số chương mục của các tư liệu này, không ít mẩu chuyện mang đặc điểm của văn bản tự sự dân gian, cụ thể là truyền thuyết dân gian [189] Điều này
có lẽ xuất phát từ nhu cầu phục hiện sống động quá khứ, nhưng nguồn sử chính thống quá khe khắt và hiếm hoi, các nhà sử học buộc phải cần đến sự viện trợ đắc lực của kho tàng chuyện kể dân gian Những mẩu truyền thuyết ấy cần sự soi rọi bởi lý thuyết folklore
Trang 10* Đại Nam liệt truyện, 4 tập [183], Đại Nam nhất thống chí, 3 tập [184]: Đây là hai bộ
sử triều Nguyễn Tác phẩm có qui mô khá đồ sộ trong kho tàng thư tịch cổ viết bằng chữ Hán của Việt Nam, giữa thế kỷ XIX Mỗi bộ gồm nhiều tập Mỗi tập có nhiều quyển Mỗi quyển viết nhiều chủ đề khác nhau Đại Nam nhất thống chí trình bày nội dung theo nhóm hành chính (Kinh Sư, Phủ Thừa Thiên, Tỉnh Quảng Bình, Đạo Hà Tĩnh…) Trong mỗi vùng, các sử quan đều có phần viết về nhân vật Riêng Đại Nam liệt truyện trình bày theo nhóm nhân vật (nhân vật dòng dõi tôn thất, các bậc nữ liệt, các vị anh hùng trung nghĩa, những kẻ phản nghịch…) Một số anh hùng chống Pháp ở Nam Bộ được ghi chép công trạng (Phan Văn Đạt, Trần Xuân Hòa, Nguyễn Hữu Huân, Trương Định…) Tuy nhiên các truyện chưa hội đủ yêu cầu của một tự sự dân gian
2.4 Nhận xét chung
2.4.1 Các công trình nghiên cứu về truyền thuyết dân gian, cho đến nay, đã soi rõ đặc trưng thể loại này Tuy nhiên, vẫn chưa có công trình nào khảo sát toàn diện kho truyền thuyết thời cận đại (trong Luận án, chúng tôi xin gọi là truyền thuyết muộn) Cụ thể, chưa có bài viết nào đề cập và lý giải sự phai mờ của yếu tố kỳ ảo, hoang đường trong truyền thuyết muộn; các công trình cũng chưa lý giải đầy đủ sự đan xen giữa truyền thuyết và giai thoại; giữa truyền thuyết lịch sử và chuyện kể lịch sử
2.4.2 Các công trình sưu tầm truyền thuyết, truyện dân gian Việt Nam nói chung hầu hết chỉ tập hợp những câu chuyện xảy ra trước 1858 Do vậy thiếu vắng những truyền thuyết
về anh hùng buổi đầu chống Pháp Phải chăng, thành tựu truyền thuyết dân gian từ sau 1858 (nhất là ở Nam Bộ) chưa đủ đầy đặn để được các nhà nghiên cứu lưu tâm khảo sát và thẩm định?
2.4.3 Các công trình sưu tầm truyện dân gian Nam Bộ thực ra có đăng tải khá nhiều truyền thuyết về các anh hùng buổi đầu chống Pháp ở Nam Bộ Tuy nhiên, hầu hết tác phẩm chưa được phân định rạch ròi về thể loại Chúng thường được gọi chung là chuyện xưa (cố sự), truyện dân gian, hoặc là giai thoại Điều này buộc chúng tôi, để sưu tầm, tuyển chọn đúng tác phẩm, cần phải định danh tất cả tự sự dân gian có nội dung kể về những cuộc khởi nghĩa chống Pháp ở Nam Bộ
2.4.4 Một số công trình sưu tầm, biên khảo truyện dân gian Nam Bộ được thực hiện bởi một cá nhân, lại được biên tập và in ấn bởi các nhà xuất bản địa phương Từ đó phát sinh một số điều “chưa ổn” Cụ thể, đó là lối diễn đạt riêng, theo phong cách ngôn ngữ viết làm
Trang 11mất đi sự tươi mới, sinh động của phương ngữ Nam Bộ Đó là hiện tượng sai chính tả, lỗi cú pháp trong các văn bản kể - hoàn toàn không phải phong cách dân gian Điều này buộc chúng tôi, khi sưu tầm, biên soạn, phải cố gắng đưa bản kể về lối diễn đạt gần “chất dân gian” hơn
2.4.5 Một số công trình biên khảo văn hóa dân gian, tư liệu lịch sử đã xem những mẩu chuyện về nhân vật và sự kiện lịch sử chỉ như nguồn dữ liệu cho bài viết Do không chủ định công bố tác phẩm truyền thuyết nên tác giả không kể chúng theo hình thức văn bản tự sự dân gian Điều này gợi ý chúng tôi nên học cách biên soạn các mẩu chuyện rời rạc ấy thành những văn bản truyền thuyết dân gian
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Như tên đề tài, Truyền thuyết dân gian về những cuộc khởi nghĩa chống Pháp ở Nam
Bộ (1858 – 1918), đó là đối tượng nghiên cứu của chúng tôi
Bản thân thể loại truyền thuyết vốn đã phức tạp Sự hiện diện của nó trong giai đoạn lịch sử từ nửa cuối thế kỷ XIX, ở Nam Bộ, lại càng phức tạp hơn Những truyền thuyết kể về thời này, hầu hết, đều mang vết nhuận sắc của cá nhân người đời sau, tồn tại qua các loại văn bản Điều đó buộc chúng tôi phải cân nhắc, khi ranh giới giữa dân gian và sử biên niên khá
mờ nhạt, giữa truyền thuyết và giai thoại vẫn chưa định rõ
Chúng tôi tự giới hạn đối tượng nghiên cứu là những cuộc khởi nghĩa chống Pháp ở đất Gia Định xưa, sau được gọi là Nam Kỳ lục tỉnh, giờ là các tỉnh thành Nam Bộ - miền đất trải dài từ lưu vực sông Đồng Nai đến phần hạ lưu của chín nhánh sông Cửu Long Còn giới hạn thời gian, chọn giai đoạn từ 1858 đến 1918, chúng tôi dựa vào mốc khảo sát của một số nhà nghiên cứu sử học để tìm bản chất của đối tượng, tính chân thật của sự kiện Mặt khác, giới hạn này phù hợp với nguồn tư liệu mà chúng tôi đã sưu tầm, biên soạn được Dĩ nhiên, mốc thời gian 1858 – 1918 chỉ mang tính tương đối và đúng hơn, các mốc này chỉ có ý nghĩa trong giới hạn đề tài mà chúng tôi đề cập đến
4 Mục tiêu nghiên cứu
Chúng tôi cố gắng đạt đến, trong chừng mực tốt nhất có thể, những mục tiêu chính sau đây:
4.1 Hệ thống hóa truyền thuyết dân gian về những cuộc khởi nghĩa chống Pháp ở Nam Bộ (1858 – 1918)
Trang 124.1.1 Dựa vào đặc điểm thể loại và tiêu chí nội dung, tiến hành sưu tầm, tuyển chọn các văn bản truyền thuyết dân gian về những cuộc khởi nghĩa chống Pháp ở Nam Bộ (1858 – 1918);
4.1.2 Dựa vào nội dung (nhân vật và sự kiện lịch sử), hệ thống hóa các truyền thuyết tìm được (trên cơ sở xây dựng các mảng truyện, nhóm truyện)
4.2 Khảo sát Hệ thống truyền thuyết dân gian về những cuộc khởi nghĩa chống Pháp ở Nam
Bộ (1858 – 1918)
4.2.1 Nhận xét tình hình văn bản, đặc điểm kết cấu tác phẩm trong từng nhóm truyện; 4.2.2 Mô tả nội dung lịch sử từng nhóm truyền thuyết, kết hợp so sánh với chính sử để thấy được phần đóng góp đáng kể của truyền thuyết đối với lịch sử dân tộc
4.3 Giới thiệu những motif đặc sắc, tiêu biểu cho diện mạo của truyền thuyết dân gian về những cuộc khởi nghĩa chống Pháp ở Nam Bộ (1858 – 1918)
4.3.1 Qua khảo sát tần số xuất hiện của các tình tiết trong từng tác phẩm, từng nhóm truyện, đề xuất những motif, nhóm motif đặc sắc cần khảo sát
4.3.2 Qua đối sánh với những motif truyền thống trong các tự sự dân gian giai đoạn trước, làm rõ sự kế thừa và vẻ đẹp mới mẻ, độc đáo của các motif trong hệ thống truyền thuyết vừa xây dựng
4.4 Khảo sát một số nhóm chứng tích văn hóa liên quan đến truyền thuyết dân gian về những cuộc khởi nghĩa chống Pháp ở Nam Bộ (1858 – 1918)
4.4.1 Ghi nhận những nhóm chứng tích văn hóa quan trọng, gắn liền với hệ thống truyền thuyết vừa khảo sát như địa danh; phần mộ; miếu, đền, đình, chùa; lễ hội
4.4.2 Bước đầu phân tích cơ sở hình thành và ý nghĩa các chứng tich văn hóa, xét từ phương diện văn hóa – lịch sử - xã hội
4.4.3 Khẳng định sức sống và ý nghĩa thiêng liêng của truyền thuyết dân gian (1858 – 1918) đối với đời sống tâm linh của đồng bào Nam Bộ Khẳng định sự tồn tại vững chãi của thể loại truyền thuyết trong tiến trình lịch sử và vai trò đặc biệt của nó đối với sự trưởng thành của một dân tộc
5 Phương pháp nghiên cứu
Truyền thuyết dân gian là thể loại lớn của văn học dân gian, cũng là một bộ phận quan trọng cấu thành tầm vóc, giá trị của nền văn học dân tộc Do vậy, chọn truyền thuyết dân gian làm đối tượng nghiên cứu, chúng tôi dùng những phương pháp nghiên cứu văn học dân
Trang 13gian làm nền tảng Đồng thời, chúng tôi cũng kết hợp với những phương pháp của khoa nghiên cứu văn học
Trong phạm vi Luận án, chúng tôi đã sử dụng những phương pháp cụ thể sau:
5.1 Phương pháp loại hình lịch sử: khảo sát từng văn bản truyền thuyết và cả hệ thống truyền thuyết dân gian (1858 – 1918), qua việc đặt tác phẩm trở lại bối cảnh lịch sử xã hội, môi trường nó chào đời, nhằm phát hiện những khúc xạ của lịch sử vào trong tác phẩm, kể cả những hào quang mà nó tỏa chiếu trên nền lịch sử
5.2 Phương pháp phân loại, hệ thống hóa:
5.2.1 Phân loại những tác phẩm sưu tầm được, chọn hoặc loại bỏ chúng (dựa trên các tiêu chí thể loại, giới hạn nghiên cứu và đối tượng khảo sát);
5.2.2 Hệ thống hóa các văn bản rời rạc, đưa chúng vào từng mảng, nhóm truyện; khảo sát từng motif qua việc đặt chúng trong một hệ thống motif cụ thể
5.3 Phương pháp thống kê, miêu tả:
5.3.1 Sử dụng số liệu thống kê làm cơ sở phát hiện sự tồn tại của các motif trong Hệ thống truyền thuyết dân gian;
5.3.2 Miêu tả kết cấu, đặc điểm nội dung của từng mảng, nhóm truyện; miêu tả cảm hứng chủ đạo, dấu ấn mới mẻ, độc đáo của Hệ thống truyền thuyết dân gian…
5.4 Phương pháp phân tích, so sánh
5.4.1 Phân tích kết cấu tác phẩm, sự truyền cảm của các chi tiết nghệ thuật, vẻ đẹp lung linh của hình tượng nhân vật; phân tích dấu vết truyền thống và những sáng tạo mới trong từng motif
5.4.2 So sánh tác phẩm với tác phẩm, mảng truyện này với mảng truyện khác, truyền thuyết giai đoạn này với giai đoạn trước, truyền thuyết lịch sử với các thể loại gần gũi, giao thoa (giai thoại, chuyện kể lịch sử…) Đây là cơ sở hữu hiệu để thấy được sự thống nhất của
hệ thống, sự đa dạng của tác phẩm, sự thâm nhập, chuyển hóa giữa các thể loại văn học,… 5.5 Phương pháp sưu tầm và thẩm định tư liệu
5.5.1 Sưu tầm tác phẩm, chủ yếu qua việc khoanh vùng các nguồn tài liệu có trữ lượng lớn về văn học dân gian Nam Bộ, soi rọi chúng dưới ánh sáng của lý thuyết thể loại, dựa vào
“chất dân gian” để đưa chúng vào hệ thống Cố gắng sưu tầm những mẩu truyền thuyết còn
ẩn khuất ở miền quê, qua lời kể của người dân địa phương
5.5.2 Thẩm định từng tác phẩm trong hệ thống, thông qua việc chọn lọc, sắp xếp theo nhóm nội dung, theo đơn vị motif; kết hợp thao tác tìm về một số địa phương để chứng thực
Trang 14sự tồn tại của nó Dựa vào “chất dân gian”, đặc trưng thể loại để thẩm định những trường hợp phức tạp: tồn tại dị bản (nếu có), nhiều bản kể khác nhau, nhiều xuất xứ khác nhau, sự nhập nhằng ở đường biên thể loại…
6 Đóng góp mới của Luận án
Luận án của chúng tôi xin có những đóng góp cụ thể sau:
6.1 Giới thiệu tổng quan những công trình sưu tầm, nghiên cứu văn học dân gian có đề cập thể loại truyền thuyết, đặc biệt là truyền thuyết dân gian thời chống Pháp ở Nam Bộ (1858 – 1918)
6.2 Đề xuất một khung tiêu chí phục vụ việc sưu tầm, biên soạn truyền thuyết dân gian thời cận đại Từ đó hệ thống hóa truyền thuyết dân gian về những cuộc khởi nghĩa chống Pháp ở Nam Bộ (1858 – 1918) Các nhóm, mảng trong hệ thống có khả năng thu nhận bất cứ truyền thuyết nào (thỏa điều kiện) được tiếp tục sưu tầm và phát hiện Hệ thống này sẽ dự phần vào
kế hoạch sưu tầm, hệ thống hóa toàn bộ kho tàng truyền thuyết dân gian ở Việt Nam
6.3 Phân tích vẻ đẹp hồn nhiên, sức hấp dẫn đặc biệt của truyền thuyết dân gian buổi đầu chống Pháp ở Nam Bộ; đồng thời chỉ ra phần bổ sung đáng quý của nó cho sự khe khắt của chính sử triều Nguyễn bấy giờ
6.4 Giới thiệu một số motif, nhóm motif đặc sắc trong hệ thống truyền thuyết vừa xây dựng Qua đó, phát hiện sự kế thừa và sáng tạo trong các truyền thuyết muộn, bước đầu thấy được
sự vận động và những biến đổi của bản thân thể loại
6.5 Giới thiệu một số chứng tích văn hóa liên quan đến truyền thuyết về những cuộc khởi nghĩa chống Pháp ở Nam Bộ để làm sáng tỏ thêm đời sống tâm linh của đồng bào Nam Bộ, đồng thời khẳng định vai trò đặc biệt của truyền thuyết dân gian trong suốt tiến trình giữ nước của dân tộc Việt Nam
7 Kết cấu Luận án
Luận án được chia thành các phần mục như sau:
Chương 1: Hệ thống hóa truyền thuyết dân gian về những cuộc
khởi nghĩa chống Pháp ở Nam Bộ (1858 – 1918) 21 trang
Chương 2: Khảo sát các nhóm truyền thuyết trong hệ thống truyền
thuyết dân gian về những cuộc khởi nghĩa chống Pháp ở
Nam Bộ (1858 – 1918)
33 trang
Trang 15Chương 3: Khảo sát những motif, nhóm motif phổ biến trong hệ
thống truyền thuyết dân gian về những cuộc khởi nghĩa
chống Pháp ở Nam Bộ (1858 – 1918)
63 trang
Chương 4: Khảo sát một số chứng tích văn hóa liên quan đến
truyền thuyết dân gian về những cuộc khởi nghĩa chống
Pháp ở Nam Bộ (1858 – 1918)
23 trang
Luận án có Phụ lục gồm 4 phần: Văn bản tác phẩm truyền thuyết dân gian về những cuộc khởi nghĩa chống Pháp ở Nam Bộ ( 1858 – 1918); Một số văn bản tồn nghi; Các bảng thống kê; Môt số hình ảnh chứng tích văn hóa
*
* *
Trang 16CHƯƠNG 1
HỆ THỐNG HÓA TRUYỀN THUYẾT DÂN GIAN
VỀ NHỮNG CUỘC KHỞI NGHĨA CHỐNG PHÁP
Ở NAM BỘ (1858 – 1918)
***
1 Tiêu chí xác định văn bản truyền thuyết dân gian
Ở phương Đông, theo GS Kiều Thu Hoạch, từ thời cổ đại Trung Quốc, tuy chưa có danh từ “truyền thuyết” nhưng đã có hai từ tương đương là “truyền văn”, “truyền ngoa”
Chúng xuất hiện trong các bộ sách cổ như Sử ký, Hán thư Khái niệm “truyền văn”, “truyền
ngoa” nhằm chỉ những mẩu chuyện hoang đường, kỳ quái lưu truyền trong dân gian mà người kể không hề được trực tiếp tai nghe mắt thấy Chúng chưa có cốt chuyện, chưa thành một câu chuyện hoàn chỉnh Chúng được xem là một loại bia miệng, là “khẩu bi” (chữ dùng của Yanagita Kunio - nhà folklore Nhật Bản), là truyền thuyết - theo nghĩa rộng Để được gọi là truyền thuyết như hiện nay, những mẩu chuyện ấy phải có thêm nhiều tình tiết, phải qua một quá trình phát triển thành câu chuyện văn học có đầu có đuôi Còn ở Nhật Bản, danh
từ “truyền thuyết” khá thông dụng, nhưng nghĩa gốc của nó lại được giải thích là “sự việc khó quên”; hoặc là “cái khó quên” hoặc là “sự việc không thể quên được” [74,tr.94]
Ở phương Tây, theo TS Frank Proschan, thuật ngữ legend (truyền thuyết) có gốc từ La tinh legere (đọc) Khởi thủy, thuật ngữ này nhằm chỉ những tài liệu lý giải về cuộc đời các vị
thánh, được sắp xếp theo theo trật tự của lịch Thiên chúa và được đọc trong những ngày lễ thánh tại lễ nghi thiêng liêng Đến cuối thời kỳ Trung đại, chữ “truyền thuyết” đã mở rộng nghĩa thành “thông tin không chính xác” hay là “một câu chuyện không chắc có thực” Ngày nay, theo cách nói thông thường, “truyền thuyết” vẫn được coi là một câu chuyện không có thực và chỉ những người cả tin mới tin Tuy nhiên, trải suốt nền văn minh phương Tây,
“truyền thuyết” với tư cách là một thể loại văn học dân gian, hiện diện trong các biên niên
sử, lịch sử địa phương và quốc gia, các luận văn (y học, lịch sử tự nhiên, pháp lý và giáo
hội) thì luôn gắn với niềm tin và cái thiêng, bởi “Cốt lõi của truyền thuyết thực sự là một đức tin”[201,tr.315-320-135]
Còn ở Việt Nam, chúng tôi chưa biết chính xác khái niệm “truyền thuyết” được dùng lần đầu tiên khi nào Nhưng khái niệm “truyền kỳ” thì đã có trong văn học trung đại, nhằm chỉ những câu chuyện kỳ lạ lưu truyền trong dân gian và được ghi chép lại (thuật ngữ này
Trang 17xuất phát từ tiểu thuyết truyền kỳ Trung Quốc đời Đường) Một số chuyện trong đó liên quan
ít nhiều đến các nhân vật và sự kiện lịch sử Và những mẩu chuyện ly kỳ mang màu sắc lịch
sử này cũng đồng thời được các sử gia phong kiến quan tâm, dùng bổ sung tư liệu cho chính
sử Để rồi, ngay trong lòng các bộ chính sử, không ít truyền thuyết đã được ghi chép hoàn
chỉnh và tồn tại đến bây giờ Truyền thuyết “Mị Châu – Trọng Thủy” qua Đại Việt sử ký toàn thư và An Nam chí lược là một trong nhiều minh chứng [124,tr.332]
1.1 Khái niệm “truyền thuyết”
Hình như mỗi nhà nghiên cứu truyền thuyết dân gian đều muốn chọn một góc nhìn riêng để khám phá sâu bản chất thể loại này Bằng chứng là đã có nhiều cách định nghĩa
khác nhau về khái niệm “truyền thuyết” Chẳng hạn, theo Từ điển thuật ngữ văn học của Lê
Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (chủ biên), đây là “một thể loại truyện dân gian
mà chức năng chủ yếu là phản ánh và lý giải các nhân vật và sự kiện lịch sử có ảnh hưởng quan trọng đối với một thời kỳ, một dân tộc, một quốc gia hay một địa phương” (NXB Giáo Dục, 1992) Theo Lại Nguyên Ân, truyền thuyết là “khái niệm chỉ một nhóm những sáng tác dân gian mà đặc điểm chung là trong đó có các yếu tố kỳ diệu, huyễn tưởng, nhưng lại được cảm nhận là xác thực, diễn ra ở ranh giới giữa thời gian lịch sử và thời gian thần thoại, hoặc diễn ra ở thời gian lịch sử” (Lại Nguyên Ân (2004), Từ điển Văn học, NXB Thế giới) [64,tr.1835] Còn cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng nhận định: “Truyền thuyết thường có cái lõi là sự thật lịch sử mà nhân dân qua nhiều thế hệ đã lý tưởng hóa, gởi gắm vào đó tâm tình thiết tha của mình cùng với thơ và mộng, chắp đôi cánh của sức tưởng tượng và nghệ thuật dân gian, làm nên những tác phẩm văn hóa mà đời đời con người ưa thích” (Phạm Văn Đồng, “Nhân ngày giỗ tổ Hùng Vương”, Nhân Dân, số ra ngày 29/04/1969) Vũ Ngọc Khánh lại cho rằng “Truyền thuyết là cảm quan của một cộng đồng về những sự kiện và nhân vật lịch sử, là cách đánh giá, phản ánh lịch sử một cách không chính thống của mọi thời đại, cách phản ánh dân dã nhất, vì thế mà hồn nhiên và đầy chất thơ nhất” (Vũ Ngọc Khánh (1998), Truyền thuyết Việt Nam, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội) [96,tr.7]
Từ rất nhiều định nghĩa như trên, chúng tôi nhận ra các nhà nghiên cứu đã chú ý khảo sát thể loại truyền thuyết qua những phương diện: dạng thức tác phẩm, thời gian được phản ánh, quan hệ với cộng đồng, đặc điểm nội dung, đặc điểm nghệ thuật, tâm lý tiếp nhận văn bản
Dưới đây là cách diễn đạt của các nhà nghiên cứu:
Trang 18- Dạng thức tác phẩm: theo Lã Duy Lan, truyền thuyết là “những điều truyền tụng”; Phan Trần nhấn mạnh hơn: “là truyện truyền tụng trong dân gian” Nguyễn Xuân Lạc khẳng định truyền thuyết “là truyện dân gian”; Kiều Thu Hoạch khu biệt nó vào “thể tài của văn học dân gian”; Lại Nguyên Ân quy về “những sáng tác dân gian”; riêng thủ tướng Phạm Văn Đồng gọi nó “là tác phẩm văn hóa”
- Thời gian được phản ánh: Từ chỗ xác định truyền thuyết là chuyện kể về quá khứ, Hồ
Quốc Hùng cho truyền thuyết “là ký ức cộng đồng về quá khứ”; Nguyễn Đổng Chi hình dung nó “là tia hồi quang chân thực của lịch sử”; Lại Nguyên Ân định vị nó “ở ranh giới giữa thời gian lịch sử và thời gian thần thoại, hoặc diễn ra ở thời gian lịch sử”
- Quan hệ với cộng đồng: các nhà nghiên cứu chú ý nhấn mạnh mối quan hệ giữa truyền thuyết và quần chúng nhân dân: truyền thuyết phản ánh vận mệnh của cả cộng đồng,
là sản phẩm của toàn thể cộng đồng Để diễn đạt ý tưởng này, Nguyễn Đổng Chi dùng từ
“quần chúng”; Phạm Văn Đồng dùng chữ “nhân dân”; Vũ Ngọc Khánh, Lã Duy Lan cùng
sử dụng khái niệm “cộng đồng”
- Đặc điểm nội dung: bởi nội dung truyền thuyết phong phú nên các cách phát biểu
cũng đa dạng Phạm Văn Đồng nhấn mạnh “cái lõi là sự thật lịch sử”; Kiều Thu Hoạch cho rằng nó “phản ánh lịch sử ở một mức độ nhất định” Phan Trần nói rõ hơn, đó là “những sự việc và nhân vật có liên quan đến lịch sử”; Vũ Ngọc Khánh rút gọn thành “những sự kiện và nhân vật lịch sử” Nguyễn Đổng Chi thấy được “công cuộc lao động, chiến đấu và sáng tạo của quần chúng”; Lã Duy Lan nêu chi tiết hơn, đó là “các nhân vật, các sự vật, địa danh, các sự kiện liên quan đến sự phát triển của một cộng đồng”
- Đặc điểm nghệ thuật: nổi trội trong truyền thuyết là yếu tố kỳ ảo, hoang đường Phan
Trần xem đó là sản phẩm của “hư cấu, tưởng tượng”; Lại Nguyên Ân gọi là “yếu tố kỳ diệu, huyễn tưởng”; Vũ Ngọc Khánh quan tâm đến vẻ đẹp “hồn nhiên và đầy chất thơ”; Phạm Văn Đồng thấy được vẻ đẹp “lý tưởng hóa, chất thơ và mộng, đôi cánh của sức tưởng tượng
và nghệ thuật dân gian”
- Tâm lý tiếp nhận: một số phát biểu trên còn quan tâm đến tâm lý tiếp nhận truyền
thuyết Theo Lại Nguyên Ân, truyền thuyết luôn “được cảm nhận là xác thực”; Phạm Văn Đồng tin truyền thuyết sẽ được “đời đời con người ưa thích”; còn Hồ Quốc Hùng lại thấy truyền thuyết “làm đắm say biết bao thế hệ”
Từ nội hàm khái niệm trên, chúng tôi nhận diện được 4 tiêu chí quan trọng dùng xác định một tác phẩm nào đó là truyền thuyết dân gian:
Trang 19 Tiêu chí 1: tác phẩm là một tự sự dân gian
Tiêu chí 2: tác phẩm có nội dung phản ánh con người và sự kiện lịch sử trong quá khứ
Tiêu chí 3: tác phẩm có sử dụng yếu tố hư cấu, tưởng tượng (kỳ ảo)
Tiêu chí 4: tác phẩm được đón nhận bằng niềm tin, sự yêu thích của cả cộng đồng 1.2 Phân biệt truyền thuyết dân gian với giai thoại
Trong văn học dân gian, mỗi thể loại đều tích hợp trong nó nhiều giá trị khác nhau Chúng là nghệ thuật mà cũng là một cái gì lớn hơn nghệ thuật Chúng là một hiện tượng văn hóa phong phú và phức tạp Bởi sinh thành ngay trong dòng chảy văn hóa dân gian nên các thể loại văn học dân gian cũng luôn vận động và biến đổi Trong quá trình đó, sự giao thoa, xâm nhập giữa các thể loại đã diễn ra
Do vậy, cách nhận diện tốt nhất bản chất một thể loại văn học dân gian, theo chúng tôi, chính là đối sánh nó với những thể loại có quan hệ gần gũi Ở đây, chúng tôi xin khảo sát mối quan hệ giữa truyền thuyết và giai thoại Lý do là trong quá trình sưu tầm, nghiên cứu truyền thuyết dân gian Nam Bộ, chúng tôi gặp nhiều nan giải từ chính mối quan hệ này Phân biệt truyền thuyết và giai thoại – vấn đề đặt ra tưởng chừng không cần thiết Bởi
chúng đã là hai thể loại khác nhau Từ điển văn học (bộ mới) giới thuyết chúng rõ ràng qua
việc giải thích thuật ngữ [64,tr.519-1835] Nhiều công trình sưu tầm, nghiên cứu về folklore cũng không xem chúng là một1
Tuy nhiên, việc phân biệt hai thể loại này lại liên quan trực tiếp đến vấn đề lý thuyết lẫn thực tế sưu tầm, biên soạn văn học dân gian
Trong khoa học về folklore, việc đối sánh các thể loại với nhau luôn là thao tác hữu hiệu nhằm củng cố thêm đặc trưng thể loại và tìm hiểu cấu trúc bên trong tác phẩm Thao tác này được xem là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất và khó khăn nhất của người nghiên
cứu văn học dân gian Vì theo Propp, “ranh giới giữa các thể loại không phải bao giờ cũng vững chắc và đôi khi cũng bị phá vỡ” [177,tr.28] Truyền thuyết và giai thoại cũng không có ngoại lệ: “… Trong những ghi chép sớm nhất, giai thoại văn học thường không phân giới rõ rệt với truyền thuyết, truyền kỳ, có những mảng giai thoại xuất hiện thời kỳ sau lại gần với tiếu lâm” [64,tr.519]
1
Xin nêu vài dẫn chứng (chúng tôi gạch dưới):
- Một cách tổng quát, có thể nói rằng thần thoại và cổ tích thực sự chiếm một tỉ lệ quá ít ỏi trong kho tàng chuyện dân gian
Nam Bộ Trái lại, thể loại truyền thuyết (ở đây chúng tôi gọi là sự tích) và giai thoại chiếm đại đa số [215,tr.12]
- Một nhân vật được coi là nhân vật lịch sử khi nhân vật đó có những ảnh hưởng hay đóng góp cho quá trình phát triển của cộng đồng Với những nhân vật này, thường là có truyền thuyết và cũng có cả giai thoại [108,tr.7]
Trang 20Thực tế càng chứng tỏ hai thể loại này chưa được phân giới rõ ràng Khi sưu tầm, khảo sát chuyện dân gian về những anh hùng kháng Pháp ở Nam Bộ, có quan điểm cho rằng:
“Khác với những truyền thuyết danh nhân ở Bắc Bộ, những truyện ở đây có thể xem là những giai thoại vì nó gần gũi với người thật, ít có yếu tố siêu nhiên, thần kỳ” [101,tr.14]
Có công trình gộp chung mọi tự sự dân gian vào giai thoại [65] Có tập sách gọi một số tác
phẩm là giai thoại, trong khi chúng hội đủ những đặc trưng của truyền thuyết: Giai thoại về Thiên Hộ Dương, Giai thoại về ông Phòng Biểu [67]
Về thao tác khoa học, việc đối sánh hai thể loại này tưởng chừng chông chênh Liệu có nên khảo sát một đối tượng khi nó còn đang vận động và biến đổi? Bởi truyền thuyết đôi khi còn nhập nhằng với thần thoại, cổ tích [41,tr.356] Giai thoại thuộc về văn học viết hay văn học dân gian2? Giai thoại có phải là một loại hình của truyện cổ tích hay không? [177,tr.44] v.v
Thực ra, sự phức tạp trên không ngăn trở việc tìm ranh giới giữa truyền thuyết và giai thoại Trái lại, nó còn hỗ trợ cho việc nhận diện rõ hơn đặc trưng, cấu trúc của các thể loại này - cơ sở quan trọng dùng đối sánh Hơn nữa, nếu một thể loại văn học dân gian (biểu hiện qua từng đơn vị tác phẩm cụ thể) luôn có sự biến đổi, giao thoa với thể loại khác thì điều đó càng chứng tỏ nó vẫn đang sống và rất giàu sức sống Về điều này, Propp đã từng khẳng
định: “Tác phẩm phônclo vận động, luôn luôn thay đổi, và sự vận động, sự thay đổi ấy là một trong những dấu hiệu đặc trưng của phônclo” [177,tr.12]
Tiến hành phân biệt truyền thuyết và giai thoại cũng đồng nghĩa với việc quay về khảo sát đặc trưng từng thể loại và đối sánh chúng với nhau Nó gắn với hàng loạt câu hỏi: Truyền thuyết là gì? Giai thoại là gì? Chúng thường nhập nhằng ở phương diện nào? Tại sao có sự nhập nhằng ấy? Những căn cứ nào giúp phân biệt chúng? Có thể rút ra dấu hiệu nhận dạng từng thể loại không?
* Như đã trình bày, truyền thuyết là một thể loại lớn trong văn học dân gian, đã hình thành, vận động và phát triển lâu đời Ở Việt Nam, nhiều công trình nghiên cứu có giá trị đã xác định được bản chất thể loại này
Tựu trung, truyền thuyết là những tự sự dân gian có cái lõi lịch sử; màu sắc ít nhiều huyền ảo; nội dung kể về các nhân vật và sự kiện lịch sử Truyền thuyết không phải là chính
2 Trong Từ điển Văn Học [64,tr.519], Lại Nguyên Ân cho giai thoại “thuộc về văn chương bác học, gắn với sinh hoạt văn học thành văn, nhưng lại tồn tại dưới dạng truyền miệng, tức là dạng thức tồn tại của các chuyện kể dân gian” Còn trong Thông báo Văn hóa dân gian 2002 [73,tr.652], Kiều Thu Hoạch lại xác định “giai thoại là sáng tác folkore, là văn học dân gian, mà tác giả nước ngoài còn gọi rõ là giai thoại dân gian”
Trang 21sử mà chỉ là dã sử Nó là văn học chứ không phải lịch sử Nó thể hiện cách nhìn, cách đánh giá của nhân dân về lịch sử
* Giai thoại là đối tượng nghiên cứu khá mới mẻ của văn học dân gian và cả văn học thành văn Tuy được công nhận là một thể loại nhưng lý thuyết về nó còn ít được chú ý Ở Trung Quốc, thuật ngữ giai thoại xuất hiện ngay từ thời Đường – Tống nhưng chưa thấy ai luận bàn gì về thể loại Ở Nga, những năm 60 của thế kỷ XX, lý thuyết giai thoại mới được giới Folklore học quan tâm Còn ở Việt Nam, thuật ngữ này có lẽ đã được sử dụng từ 1940
qua quyển Việt Sử giai thoại của Đào Trịnh Nhất (Cộng Lực xuất bản, năm 1940) Đến 1965, lại xuất hiện qua tập sách Giai thoại văn học Việt Nam của nhóm soạn giả Hoàng Ngọc
Phách, Kiều Thu Hoạch3 Nhìn chung, theo Vũ Ngọc Khánh: “Tuy vẫn luôn luôn được nhắc đến, kể đến, với nhiều trân trọng, nhưng phải nói rằng giai thoại chưa được nghiên cứu bao nhiêu, và thật ra thì cũng chưa xác định vị trí cho rõ rệt lắm” [97,tr.164]
Cho đến nay, qua một số công trình nghiên cứu về folklore, bản chất của giai thoại, nhìn
chung, đã được xác định Theo GS Kiều Thu Hoạch, “giai thoại vốn là một thuật ngữ gốc Hán, giai có nghĩa là hay, thoại là câu chuyện kể Như vậy, giai thoại là câu chuyện kể hay, đẹp, mà lâu nay, giới nghiên cứu vẫn coi thuật ngữ này là tương đương với thuật ngữ anecdote của phương Tây” [73,tr.644] Vũ Ngọc Khánh cũng xem giai thoại tương đương với thuật ngữ anecdote, đồng thời nhấn mạnh, đó là những mẩu chuyện ngắn, rất ngắn, có tính cách hài hước, dí dỏm, gây được những nụ cười “mang ý nghĩa triết học” [97,tr.164] Chú ý đến không gian sống của nó, Ứng Hòe Nguyễn Văn Tố cho giai thoại “là việc tốt, chuyện hay, thường truyền tụng ở dân gian” [156,tr.243] Có khác đi, Lại Nguyên Ân cho giai thoại là “một thể loại chuyện kể truyền miệng, lưu hành chủ yếu trong giới nhà văn và lớp công chúng yêu thích thơ văn, nhất là những người có hiểu biết Hán học và văn chương chữ Hán” [64,tr.519] Nghiêng về thi pháp thể loại, Guxép định nghĩa, “Chúng tôi gọi là giai thoại, tác phẩm tự sự trào phúng hoặc hài hước, được xây dựng trên một tình tiết có một sức tăng tiến, tới điểm cao, biểu hiện rõ rệt và hết sức bất ngờ” [99,tr.168]
Theo trên, giai thoại là những tự sự dân gian, chủ yếu được truyền miệng Nó là những câu chuyện lý thú, hay, đẹp, có tính chất hài hước, dí dỏm, mang nhiều ý nghĩa triết lý
* Thoạt xem qua, truyền thuyết và giai thoại chỉ giống nhau ở chỗ: cùng là những tự sự dân gian và chủ yếu được truyền miệng Còn lại, một bên gắn liền với những vấn đề, sự kiện
3
Theo Thông báo Văn hóa dân gian 2002 [73,tr.645], bản thảo này hoàn thành từ 1963, Kiều Thu Hoạch biên soạn, Hoàng Ngọc
Phách đọc duyệt, Trần Thanh Mại viết lời giới thiệu
Trang 22lịch sử, thiêng liêng, hệ trọng; một bên là chuyện đời thường, lý thú và hài hước Làm sao có thể nhầm lẫn giữa hai thể loại có nhiều dấu hiệu khác biệt nhau như vậy?
Tuy nhiên vấn đề không đơn giản và không dừng ở đó
Soi vào thực tế tác phẩm, nếu chỉ xem giai thoại là anecdote (theo cách hiểu của phương
Tây) thì chuyện về cuộc đời những anh hùng kháng Pháp ở Nam Bộ sao được phép gọi là
giai thoại? Bởi làm sao có yếu tố trào phúng, hài hước trong những câu chuyện khởi nghĩa,
hy sinh đầy bi tráng? Nhưng tại sao một số công trình sưu tầm, biên soạn văn học dân gian vẫn xem chúng là giai thoại?
Có lẽ mấu chốt nằm ở chỗ này: do đặc thù văn hóa, ở phương Đông và Việt Nam, giai
thoại không dễ phân biệt với truyền thuyết Bởi, giai thoại phương Đông còn được xem “là cuốn sổ biên niên của cuộc sống, là người bạn thường xuyên của con người và của các sự kiện lịch sử xã hội” [84,tr.165] Giai thoại phương Đông đâu chỉ mang ý vị hài hước Nó còn
có những câu chuyện đẹp, được viết, kể thật nghiêm túc, cẩn trọng về các nhân vật lịch sử
Những công trình biên soạn về Việt sử giai thoại của Đào Trinh Nhất và Nguyễn Khắc Thuần là minh chứng4
Vấn đề sẽ càng rõ hơn khi giai thoại được phân nhóm như truyền thuyết Qua khảo sát
kho tàng giai thoại Việt Nam, Vũ Ngọc Khánh đề nghị chia giai thoại làm ba nhóm: giai thoại văn học, giai thoại lịch sử, giai thoại Folklore
Xin ghi lại phần diễn giải của Vũ Ngọc Khánh về ba nhóm giai thoại này [97,tr.174]:
- Giai thoại văn học: những câu chuyện hoàn toàn là chuyện sáng tạo và chuyện những người
sáng tạo trong địa hạt văn chương học thuật
- Giai thoại lịch sử: những câu chuyện khác liên quan với những sự kiện, những nhân vật hoạt
động trong các chính trường, có liên hệ chặt chẽ với tiến trình tồn vong của đất nước
- Giai thoại Folklore: các mẩu chuyện về những tài năng thợ thêu, thợ chạm, những nghệ nhân,
nghệ sĩ tuồng chèo, hội họa, điêu khắc, diễn xướng… gây được những thú vị, bất ngờ; các mẩu chuyện làm nền cho những thành ngữ, phương ngôn, vẫn thường được nhân dân truyền tụng để biểu lộ niềm tin, tự hào về con người, quê hương, dòng họ…
Theo đó, điểm chính tạo nên tình trạng nhập nhằng giữa truyền thuyết và giai thoại là do nhóm giai thoại lịch sử
4
Việt Sử giai thoại của Đào Trịnh Nhất (Cộng Lực xuất bản, 1940) Sau này là bộ Việt Sử giai thoại của Nguyễn Khắc Thuần
(NXB Giáo Dục, 2001)
Trang 23* Vậy có tiêu chí nào dùng phân biệt truyền thuyết lịch sử và giai thoại lịch sử không?
Có thể rút ra dấu hiệu quan trọng nhất nhằm nhận dạng từng thể loại không? Để tìm câu trả lời, chúng tôi tìm hiểu thêm về thi pháp thể loại và kiểm chứng trên văn bản tác phẩm Tác phẩm dùng kiểm chứng, đối sánh là truyền thuyết dân gian về những cuộc khởi nghĩa buổi đầu chống Pháp ở Nam Bộ và những giai thoại lịch sử thế kỷ XIX [208] Sở dĩ chúng tôi chỉ khảo sát trong vùng hẹp này là vì chúng tôi có thuận lợi về tư liệu Mặt khác, ở thế kỷ này, trữ lượng truyền thuyết lịch sử và giai thoại lịch sử khá lớn, đồng thời có nhiều văn bản còn nhập nhằng giữa hai thể loại
Trong quá trình đối sánh, chúng tôi nhận ra truyền thuyết lịch sử và giai thoại lịch sử có không ít chỗ trùng hợp Phải chăng, đây chính là nguyên nhân tạo ra tình trạng nhập nhằng, dẫn đến gây nhầm lẫn giữa hai thể loại này
Theo chúng tôi, điểm trùng hợp giữa truyền thuyết lịch sử và giai thoại lịch sử là cùng phương pháp phản ánh (nhân vật gần với đời thực, ít yếu tố siêu nhiên, thần kỳ; đôi khi còn
ít nhiều yếu tố hư cấu, tưởng tượng)
Ngoài sự trùng hợp trên, truyền thuyết lịch sử và giai thoại lịch sử có rất nhiều điểm khác nhau:
- Về qui mô tác phẩm, giai thoại thường phải hết sức ngắn gọn Một giai thoại hấp dẫn cần phải có lời kể, lời thoại thật ngắn gọn Đây là yếu tố làm tăng kịch tính và độ căng cho câu chuyện Tuy nhiên, truyền thuyết không có nhu cầu được kể ngắn gọn Những truyền thuyết ngắn gọn dễ bị nhầm với giai thoại là vì vậy
- Về hình thức thể hiện, giai thoại bắt buộc phải có lời thoại, tức có đối đáp giữa các nhân vật Không có lời thoại, câu chuyện dù thú vị đến đâu cũng không thể thành giai thoại Trong khi đó, không ít truyền thuyết rất hấp dẫn mà chẳng cần có lời thoại nào
- Về sự kiện, tình tiết trong tác phẩm, giai thoại gắn với không gian, thời gian sinh hoạt đời thường, hàng ngày Còn truyền thuyết luôn gắn với không gian thiêng, thời gian thiêng, liên quan đến vận mệnh nhân vật và dân tộc Trong truyền thuyết, cho dù một vàm sông, con rạch bình thường cũng gắn liền với công đức, sự hy sinh dũng liệt của những người yêu nước (vàm Hổ Cứ, vàm Bà Bầy, rạch Nàng Hai, Vũng Linh…) Trong truyền thuyết, các tình tiết,
sự kiện, cho dù gần với sinh hoạt đời thường cũng gắn liền với một thời khắc lịch sử nào đó,
có ý nghĩa đặc biệt trong cuộc đời nhân vật lịch sử
- Về những sự kiện lịch sử, giai thoại sử dụng nó không nhằm mục đích phản ánh, đánh
giá lịch sử Nó không được kể như “cái đương là” mà phần lớn chỉ được nhắc nhở qua
Trang 24những lời đàm tiếu, sự luận bàn công - tội của vua chúa hay của giới quan lại, đại thần Sự hiện diện của chúng chỉ nhằm phác họa rõ hơn bản chất và cách đối nhân xử thế của các
nhân vật lịch sử (Vũ Ngọc Khánh xem giai thoại “là người bạn thường xuyên của con người
và của các sự kiện lịch sử xã hội” phải chăng cũng vì lý do này?) Riêng với truyền thuyết,
sự kiện lịch sử được xem là phần trung tâm, là cái lõi của tác phẩm Như đã nêu ở mục 1, thủ
tướng Phạm Văn Đồng từng nhận xét, truyền thuyết “thường có cái lõi là sự thật lịch sử”; Nguyễn Xuân Lạc nhấn mạnh “chính cái nội dung lịch sử lại là đặc điểm nổi bật của thể loại văn học dân gian này”; còn Hồ Quốc Hùng xem truyền thuyết là “ký ức cộng đồng về quá khứ” Chúng tôi nghĩ, những cách nói này đều nhằm khẳng định vị trí, vai trò của sự kiện lịch
sử trong truyền thuyết
- Về nhân vật, giai thoại chỉ tập trung kể chuyện sinh hoạt đời thường, chuyện “thâm cung bí sử” của những nhân vật vốn nổi tiếng Một giai thoại, dù đã có tình huống lý thú, lời thoại lý thú nhưng nếu được gán vào một nhân vật nổi tiếng thì tính lý thú của nó càng tăng thêm bội phần Không ít giai thoại văn học đã được lịch sử hóa, có lẽ cũng từ quan niệm này Còn đó, giai thoại về các hoàng tử con vua Gia Long: Nguyễn Phúc Phổ ngổ ngáo, Nguyễn Phúc Đài tham lam, Nguyễn Phúc Quân xấc xược… Rồi chuyện các đại thần: tướng Lê Văn Quân chết rồi vẫn bị đánh 100 gậy, Tả quân Lê Văn Duyệt bị san mộ, Tham tri Nguyễn Tri Phương bị vua nghiêm phê, Tiến sĩ Phan Thanh Giản bảy lần bị trách phạt…
Riêng truyền thuyết, ngoài những anh hùng dân tộc như Trương Định, Thiên Hộ Dương, Nguyễn Trung Trực, Thủ Khoa Huân… tác phẩm có thể chỉ kể về những người xuất thân bình thường hoặc vô danh Đơn cử, đó là chuyện mười tám nghĩa binh phò Trương Định, chuyện ông lực điền Phòng Biểu - tướng tài của Thiên Hộ Dương, chuyện Bà Điều, Bà
Đỏ – nghĩa quân thân tín của Nguyễn Trung Trực, chuyện tướng cướp hoàn lương Sáu Hải - người đánh mõ trung thành của Thủ Khoa Huân…
- Về cách miêu tả, giai thoại thường đưa cuộc đời nhân vật đi từ chỗ bí ẩn trở về gần gũi
với mọi người Nó có xu hướng kéo nhân vật xuống đời thường Có thể kể, đó là chuyện hỉ
nộ hàng ngày của vua Gia Long, chuyện ăn uống của bà Từ Dụ (đời sau quen gọi là Từ Dũ – thân mẫu vua Tự Đức)… Ngược lại, truyền thuyết đưa nhân vật đi từ chỗ bình thường hóa
thành thiêng liêng, bất tử Nó theo xu hướng nâng nhân vật lên ngưỡng đề cao, tôn thờ Ví
dụ, chuyện ông Dương Văn Hạnh, phó xã trưởng đất Lý Nhơn, vì giấu tung tích Trương Định mà bị chặt đầu nên nhân dân tôn thành Ông thần không đầu; chuyện Bà Bầy, vì ủng hộ
Trang 25nghĩa quân Thiên Hộ Dương mà bị giặc bắt tra tấn, hãm hiếp đến chết nên được nhân dân thương tiếc, lấy tên bà đặt cho một vàm sông - vàm Bà Bầy…
- Về chức năng tác phẩm, giai thoại nhằm tạo cảm giác lý thú, từ đó có thể rút ra bài học triết lý nhân sinh Còn truyền thuyết lại nhằm đánh giá lịch sử, đồng thời bày tỏ lòng biết ơn, tôn thờ, ngưỡng mộ của nhân dân với người có công đức Sự khác biệt này từng được GS Lã
Duy Lan lưu ý: “Giai thoại không thể hiện sự ngưỡng mộ như truyền thuyết mà chỉ thể hiện một vài khía cạnh riêng tư, đặc biệt của nhân vật đó mà thôi” [108,tr.7]
- Về thái độ tiếp nhận, khi nghe một giai thoại, mọi người có thể tin hoặc không tin
Ứng Hòe Nguyễn Văn Tố từng chú giải: “giai thoại là chuyện vặt, chuyện dật sử, có cái không đáng tin” [156,tr.243] Thế nhưng, khi nghe một truyền thuyết, ai nấy đều luôn có niềm tin Nói theo Trần Thị An, “hạt nhân quan trọng nhất trong thể loại truyền thuyết đó là niềm tin vào sự hiện diện của cái kỳ ảo trong đời sống…” [3,tr.602] Để củng cố niềm tin,
mọi người có nhu cầu gắn truyền thuyết với một chứng tích văn hóa nào đó (lăng mộ, địa danh, lễ hội…) Ở sự tiếp nhận giai thoại, nhu cầu này không có
Từ quá trình miêu tả, đối sánh trên đây, chúng tôi rút ra vài nhận xét:
- Những tiêu chí dùng đối sánh cũng là dấu hiệu cụ thể, giúp xác định bản chất từng thể loại Hẳn nhiên, không phải bất kỳ giai thoại lịch sử, truyền thuyết lịch sử nào cũng phải đáp ứng đầy đủ các tiêu chí này
- Những tiêu chí dùng đối sánh chính là những định hướng cụ thể, giúp nhận diện một
tự sự dân gian là giai thoại lịch sử hay truyền thuyết lịch sử Nó giúp người sưu tầm, biên soạn văn học dân gian có thể hạn chế tối đa sự nhầm lẫn khi phân loại, khảo sát tác phẩm
- Trong quá trình phân loại, có thể còn một vài văn bản khó xác định là giai thoại lịch
sử hay truyền thuyết lịch sử Nên chăng xem đó là trường hợp chuyển hóa thể loại – biểu hiện cho sự vận động và biến đổi của tác phẩm folklore Nhưng đúng hơn, theo chúng tôi, nên xem đó là hiện tượng giai thoại điểm xuyết thêm cho truyền thuyết, làm cho truyền thuyết gần gũi với đời thường hơn Và phải chăng, đây chính là đặc điểm chủ yếu, khiến truyền thuyết muộn ở Nam Bộ khác với truyền thuyết Đàng Ngoài?
- Ở trường hợp văn bản khó xác định nêu trên, theo chúng tôi, hai tiêu chí phân biệt có
tính quyết định chính là cách thức miêu tả nhân vật, sự kiện và thái độ tiếp nhận tác phẩm
Nếu giai thoại lịch sử tìm cách vén bức màn bí ẩn, kéo những nhân vật vốn nổi tiếng, quyền
uy xuống gần với đời thường (sự giải thiêng) thì truyền thuyết lại tìm cách phủ thêm màn sương huyền ảo, nâng những con người bình thường lên ngưỡng thiêng liêng, bất tử (sự
Trang 26thiêng hóa) Mọi yếu tố trong truyền thuyết đều gắn liền hoặc hướng về cái thiêng, sự tôn thờ, ngưỡng mộ Nếu giai thoại lịch sử chỉ được người nghe (đọc) đón nhận bằng cảm giác
lý thú, có quyền tin hoặc không tin, thì trái lại, truyền thuyết luôn được đón nhận bằng một niềm tin
Trong văn học dân gian, sự vận động của tác phẩm được xem là không ngừng nghỉ
Do vậy, sự phân biệt này cũng chỉ là công việc bước đầu, tạm thời làm công cụ khảo sát trong luận án
2 Hệ thống hóa truyền thuyết dân gian về những cuộc khởi nghĩa chống Pháp ở Nam
Bộ (1858 – 1918)
2.1 Quá trình sưu tầm, biên soạn
2.1.1 Định hướng tiêu chí sưu tầm, biên soạn
Ở đây, bên cạnh công việc sưu tầm, chúng tôi có thêm nhiệm vụ biên soạn truyền thuyết Nguyên nhân là không ít truyền thuyết còn nằm lẫn trong nhiều tư liệu biên khảo lịch
sử, văn hóa dân gian ; một số mẩu truyền thuyết nằm rải rác trong cùng tư liệu cần được xâu chuỗi lại để thành một tự sự dân gian hoàn chỉnh
Việc sưu tầm vốn đã khó, việc biên soạn càng khó khăn hơn Khó khăn là vì một khi đã cần đến thao tác biên soạn tức là phải xử lý những văn bản truyền thuyết chưa hoàn chỉnh Muốn có được một tác phẩm truyền thuyết hoàn chỉnh, người biên soạn tuy có quyền can thiệp vào tư liệu bằng kiến thức folklore, bằng kỹ năng nghiên cứu văn học nhưng lại không được phép tùy tiện sửa đổi tư liệu theo cách hiểu, theo định kiến chủ quan của mình
Một vấn đề nữa, việc khảo sát văn học dân gian Nam Bộ sẽ thành ra phiến diện nếu chỉ thu hẹp trong phần văn học dân gian người Kinh Bởi trên vùng đất mới phương Nam còn nhiều dân tộc anh em cùng chung sống: Hoa, Khơme, Chăm Mỗi dân tộc đều có phần văn học dân gian đặc sắc của riêng mình Trước thực tế này, chúng tôi xin không lấy tiêu chí dân tộc làm cơ sở phân loại tác phẩm và không xem xét những văn bản không được ghi bằng chữ quốc ngữ
Để việc sưu tầm, biên soạn nhất quán, chúng tôi đề ra những tiêu chí xét chọn văn bản truyền thuyết như sau:
2.1.1.1 Văn bản phải là những tự sự dân gian (tự sự + chất “dân gian”)
* Văn bản được chọn trước hết phải theo phương thức phản ánh tự sự, cụ thể là phải có cốt truyện, có nhân vật, tình tiết, ngôn ngữ kể chuyện Do vậy, những văn bản nào tuy đề
Trang 27cập đúng nhân vật và sự kiện lịch sử buổi đầu chống Pháp nhưng nếu chỉ dừng ở mức độ tư liệu ghi chép thì sẽ bị loại
* Văn bản được tuyển chọn đồng thời phải có “chất dân gian” Chất dân gian không đơn giản đồng nghĩa với việc tác phẩm được truyền miệng và không có tên tác giả Chất dân gian được nhìn nhận ở chỗ tác phẩm đã được quần chúng công nhận, đã trải qua đời sống trong dân gian, đã thể hiện được tâm tư, nguyện vọng và quan điểm đánh giá của nhân dân Chất
dân gian, còn được hiểu như Trần Thị An và một nhà nghiên cứu folklore người Pháp: “Là dân gian, tất cả những gì không chính thống”
“Chất dân gian” là tiêu chí để chúng tôi xem xét các trường hợp sau:
- Chỉ có một nội dung câu chuyện nhưng được công bố ở nhiều tài liệu khác nhau, tại nhiều thời điểm khác nhau và mang dấu ấn nhiều phong cách kể khác nhau
- Câu chuyện có trong chính sử, các sách biên khảo về lịch sử, văn hóa nhưng được kể theo quan điểm nhận thức, đánh giá của nhân dân
- Các nhân vật và sự kiện lịch sử tuy không được đưa vào chính sử nhưng lại được ghi chép trong các tài liệu địa phương chí, trong gia phả của dòng tộc Đây là những trang sử
“không chính thống”
2.1.1.2 Văn bản phải kể về những cuộc khởi nghĩa chống Pháp (nội dung), diễn ra ở Nam Bộ (không gian), giai đoạn từ 1858 đến 1918 (thời gian)
Những văn bản nào không hội đủ yêu cầu này sẽ không được xem xét
2.1.1.3 Văn bản phải đúng thể loại truyền thuyết
Những câu chuyện dân gian, sau khi đáp ứng các tiêu chí trên, sẽ được thẩm định lần cuối về mặt thể loại Dựa trên kiến thức về thể loại, chúng tôi chỉ chọn văn bản tự sự dân gian nào hội đủ những đặc điểm thi pháp thể loại truyền thuyết Những tự sự dân gian tuy đáp ứng đúng tiêu chuẩn 2.1.1.2 nhưng còn bị tồn nghi (đậm chất giai thoại hoặc chuyện kể lịch sử) cũng không được chọn
2.1.2 Định hướng nguồn sưu tầm, biên soạn
- Quá trình sưu tầm, biên soạn truyền thuyết dựa theo hai nguồn tư liệu: tư liệu điền dã
và tư liệu ghi chép trong sách vở
- Để có tư liệu điền dã, chúng tôi tìm về những vùng đất từng xảy ra các cuộc khởi nghĩa, từng ghi dấu chiến công và nơi hy sinh của người anh hùng Đến các địa phương này, chúng tôi tìm cơ hội gặp gỡ, hỏi chuyện và ghi chép từ những người am hiểu đề tài (các
Trang 28vị cao tuổi ở địa phương; các vị trông coi lăng mộ, miếu thờ; các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian; các nhà văn, nhà báo địa phương )
- Để có tư liệu sách vở, chúng tôi tìm đọc từ nhiều nguồn: tư liệu sưu tầm văn học dân gian địa phương, tư liệu địa phương chí, nhân vật chí; tư liệu biên khảo về lịch sử, văn hóa -
xã hội
2.1.3 Kết quả sưu tầm, biên soạn
Từ những định hướng trên, chúng tôi xem xét, thẩm định từng văn bản cụ thể
2.1.3.1 Văn bản là những tự sự dân gian (tự sự + chất dân gian)
* Do văn bản phải là những tác phẩm tự sự nên chúng tôi đã phải loại bỏ những trường hợp tuy đáp ứng tiêu chí nội dung (mục 2.1.1.1) nhưng chỉ dừng ở mức độ tư liệu ghi chép
Ví dụ, chúng tôi đã không tuyển chọn văn bản sau đây:
Đình Trung Đây là ngôi đình ở vàm rạch Thầy Khâm, cạnh sông Cái Sao (Đồng Tháp) Đình được xây cất vào năm 1884, là một trong những ngôi đình lớn nhứt trong vùng, nhứt là ngôi trung lang, với bốn cây cột lớn đến nỗi hai người đứng hai bên cột không nhìn thấy nhau Cột có chạm trổ rồng chung quanh rất tinh vi
Ngôi đình được dân chúng xây để thờ bốn vị trấn thủ tiền đồn của quân Tây Sơn là ông Thạch, ông Sơn, ông Đông và ông Nam Bốn ông đã chống lại quân của Nguyễn Ánh và ngoại bang, quyết giữ tiền đồn (ở thôn Mỹ Trà) đến hơi thở cuối cùng Gương chiến đấu của bốn ông đã để lại trong lòng dân chúng một niềm thương tiếc không nguôi
Về sau, đình còn thờ thêm bốn vị nữ trung liệt khác:
Thứ nhất là bà Bướm, con một bá hộ ở Hòa An, chỉ đính hôn làm vợ thứ với Đốc Binh Kiều Nhưng sau khi Đốc Binh Kiều hy sinh, bà thủ tiết thờ chồng cho đến chết
Thứ hai là bà Hoàng Thị Quá, con ông Đá, cũng ở Hòa An, vợ thứ của Thống Linh Bà đã nhào
ra ôm lấy thủ cấp của chồng, khi ông Thống Linh bị giặc Pháp chém ở chợ Mỹ Ngãi Và bà cũng thủ tiết thờ chồng cho đến lúc qua đời
Thứ ba là bà Nữ, người làng Mỹ Thọ, đưa nghĩa quân Thiên Hộ Dương từ bên này sang đuôi cồn Vần Vũ Bà bị Pháp bắt và đem về xử tử tại Trường án Cần Lố
Thứ tư là bà vợ của Đốc Binh Vàng Sau khi hay tin chồng tuẫn tiết, bà đến nơi và nhảy xuống sông tự tử để cùng chết với chồng tại vàm Đốc Vàng
Đình thờ hầu hết là các vị trung thần và nữ liệt trung trinh, nên được gọi là đình Trung
Sau Cách mạng tháng Tám, thực dân Pháp trở lại, ta áp dụng chính sách tiêu thổ kháng chiến, đình bị đốt Nhưng trước đó, nhân dân đã trân trọng thỉnh sắc thần và bài vị của các vị trên về thờ ở nhà ông cả Huỳnh Kim Sanh, về sau được chuyển về thờ tại đền thờ ông bà Đỗ Công Tường cho đến ngày nay
Trang 29(Theo Nguyễn Hữu Hiếu - Giai thoại dân gian Đồng Tháp Mười)
* Do văn bản được chọn phải có “chất dân gian” nên chúng tôi đã vận dụng lý thuyết,
xử lý một số tình huống theo quan điểm sau:
- Ưu tiên chọn nguồn tư liệu nào phát hiện và công bố văn bản trước nhất
Ví dụ: Truyền thuyết Sự tích Vàm Bà Bầy được công bố (gần như nguyên văn) ở nhiều
tư liệu khác nhau: Nghìn năm bia miệng, Giai thoại dân gian Đồng Tháp Mười, Thơ văn Đồng Tháp tập I, Thơ văn Đồng Tháp trong nhà trường… Chúng tôi ghi nhận xuất xứ của
văn bản trong từng tư liệu, cuối cùng chọn văn bản được in trong tư liệu gốc, tư liệu đã công
bố văn bản trước nhất (Giai thoại dân gian Đồng Tháp Mười)
- Ưu tiên bản kể nào gọn rõ nhất, có lối diễn đạt gần với cách kể của dân gian
Ví dụ: Truyền thuyết Thà chết chứ không phản bội có hai bản kể khác nhau trong hai tư liệu: Nghìn năm bia miệng, Nam Kỳ cố sự Cả hai bản kể cùng biên soạn từ một tư liệu gốc: Tập san Sử Địa số 3,1966 (chúng tôi không tìm được) Với tình huống này, chúng tôi ưu tiên chọn bản kể trong Nam Kỳ cố sự vì tính chất gọn rõ và lối diễn đạt gần cách kể của dân gian
2.1.3.2 Văn bản có nội dung kể về những cuộc khởi nghĩa chống Pháp ở Nam Bộ, giới hạn thời gian từ 1858 đến 1918
* Theo tiêu chí trên, chúng tôi đã không tuyển chọn các văn bản dưới đây:
- Truyện kể về những cuộc khởi nghĩa chống Pháp, nhưng không xảy ra ở Nam bộ: những truyền thuyết về Hoàng Hoa Thám, Nguyễn Thiện Thuật, Đinh Công Tráng…
- Truyện kể về những cuộc khởi nghĩa chống Pháp ở Nam Bộ, nhưng xảy ra sau thời điểm 1918: truyền thuyết về ông Đạo Tưởng (An Giang); ông Dư Hương, ông Đạo Đèn ở đình Hữu Đạo (Châu Thành, Tiền Giang)…
- Nhân vật trong truyện chỉ có liên quan, ảnh hưởng gián tiếp đến cuộc khởi nghĩa chống Pháp: Phật thầy Tây An…
- Nhân vật chỉ mới mưu sự chống Pháp mà lại không thành, đành giữ tròn tiết tháo người yêu nước: Phan Hiển Đạo uống độc dược để không ra làm việc cho Pháp; cử nhân Nguyễn Văn Thạnh lui về dạy học, làm thơ mắng giặc; Mai Văn Ngọc sống đời ẩn sĩ, quyết không làm tay sai cho Pháp…
* Nhưng cũng theo tiêu chí trên, chúng tôi lại chọn một truyền thuyết mà nhân vật chính không phải người anh hùng chống Pháp: “Hữu phủ Tống Quốc Công huyền thoại” [PL1,6.2.10]
Trang 302.1.3.3 Văn bản phải đúng thể loại truyền thuyết
* Chúng tôi đã loại ra văn bản “Trương Định gặp gỡ cụ Đồ Chiểu” vì tác phẩm còn ở dạng tồn nghi: giai thoại dân gian chưa chuyển hóa hẳn thành truyền thuyết (xem Phụ lục 2)
* Chúng tôi đã không chọn văn bản “Chuyện anh hùng Trương Định” vì tác phẩm còn nhiều đặc điểm của chuyện kể lịch sử (xem Phụ lục 2)
.2.2 Hệ thống hóa Truyền thuyết dân gian về những cuộc khởi nghĩa chống Pháp ở Nam Bộ (1858 – 1918)
2.2.1 Định hướng qui trình hệ thống hóa Truyền thuyết dân gian
2.2.1.1 Do truyền thuyết luôn tồn tại theo hệ thống nên tất cả các truyện được sưu tầm, biên soạn phải cùng nằm trong một hệ thống Đơn vị nhỏ nhất của hệ thống là tác phẩm Những tác phẩm cùng đặc điểm về nội dung sẽ được kết thành một mảng truyện Những mảng truyện cùng liên quan đến một cuộc khởi nghĩa lớn (hoặc một khu vực khởi nghĩa) sẽ được kết thành một nhóm truyện Những nhóm truyện này sẽ hợp thành hệ thống
2.2.1.2 Do nội dung bao trùm Hệ thống truyền thuyết là những cuộc khởi nghĩa chống Pháp ở Nam Bộ (1858 – 1918) nên mỗi nhóm truyện phải theo hướng phản ánh một cuộc khởi nghĩa lớn, trong đó có mảng truyện về lãnh tụ khởi nghĩa, mảng truyện về các tướng lĩnh, mảng truyện về những nhân vật và sự kiện có liên quan đến cuộc khởi nghĩa
2.2.1.3 Do mỗi tác phẩm, mỗi mảng truyện, nhóm truyện trong Hệ thống truyền thuyết đều sẽ là dữ liệu khảo sát trong suốt luận án của chúng tôi nên mỗi đơn vị tác phẩm được gắn
cố định với một ký hiệu số hóa
Ký hiệu được quy ước như sau:
- Nhóm truyện, ký hiệu bằng một con số: 1,2,3
- Mảng truyện, ký hiệu bằng một chuỗi hai con số: 1.1, 2.1, 3.1,
- Tác phẩm cụ thể, ký hiệu bằng một chuỗi ba con số: 1.1.1, 2.1.1, 3.1.1,
2.2.2 Tình hình hệ thống hóa Truyền thuyết dân gian
Như đã trình bày, trong luận án này, chúng tôi dùng nội dung lịch sử làm tiêu chí phân
nhóm cho các truyền thuyết lịch sử Cụ thể, căn cứ vào các tài liệu sử học và số lượng truyền thuyết sưu tầm, biên soạn được, chúng tôi xây dựng Hệ thống truyền thuyết dân gian trên cơ
sở nhiều nhóm truyện Mỗi nhóm trong hệ thống ứng với một cuộc khởi nghĩa lớn ở Nam Bộ (giới hạn từ 1858 đến 1918) Trường hợp những truyền thuyết phản ánh các cuộc khởi nghĩa nhỏ lẻ, chúng tôi gom thành một nhóm
Trang 31Theo cách xây dựng hệ thống truyền thuyết này, chúng tôi xem tập hợp tác phẩm (đang dùng khảo sát) là một hệ thống mở, sẵn sàng thu nhận thêm truyền thuyết mới Hy vọng một ngày không xa, các mảng truyện tăng dần số lượng, đủ tách thành nhóm truyện lớn trong hệ thống; một số nhóm truyện sẽ có thêm nhiều mảng truyện Và như thế, hệ thống truyền thuyết dân gian mà chúng tôi xây dựng sẽ ngày càng phong phú về số lượng và quy mô về kết cấu
2.2.3 Kết quả hệ thống hóa Truyền thuyết dân gian
Hệ thống truyền thuyết dân gian, tính đến thời điểm này, bao gồm 101 truyền thuyết, được phân vào 6 nhóm:
- Nhóm truyền thuyết về cuộc khởi nghĩa của Trương Định (16 truyện)
- Nhóm truyền thuyết về cuộc khởi nghĩa của Thiên Hộ Dương (28 truyện)
- Nhóm truyền thuyết về cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Trung Trực (13 truyện)
- Nhóm truyền thuyết về cuộc khởi nghĩa của Thủ Khoa Huân (5 truyện)
- Nhóm truyền thuyết về cuộc khởi nghĩa vùng Thất Sơn (9 truyện)
- Nhóm truyền thuyết về những cuộc khởi nghĩa khác (30 truyện)
Để hình dung cụ thể Hệ thống truyền thuyết dân gian, xin xem Bảng 1.1
Bảng 1.1 Các nhóm, mảng truyện trong Hệ thống Truyền thuyết dân gian
nghĩa của Trương Định (15 tác phẩm)
2.2 Về tướng lĩnh của Thiên Hộ Dương (7 tác phẩm) 2.3 Về nhân vật, sự kiện liên quan đến cuộc khởi nghĩa của Thiên Hộ Dương (14 tác phẩm)
nghĩa của Nguyễn Trung Trực (7 tác phẩm)
4 Về cuộc khởi nghĩa của Thủ Khoa Huân (5 tác phẩm) 5/101
Trang 32(10 tác phẩm) Tổng
3 Nhận xét chung
3.1 Kết quả sưu tầm và biên soạn cho thấy thể loại truyền thuyết vẫn còn tiếp tục hình thành
và phát triển ở giai đoạn nửa sau thế kỷ XIX Trong các thể loại tự sự dân gian, nếu như thần thoại đã tự kết thúc vai trò lịch sử từ lâu thì truyền thuyết vẫn còn giữ được sứ mệnh của nó:
là bộ sử dân gian, nơi thể hiện quan niệm, cách nhìn, cách đánh giá của nhân dân về lịch sử 3.2 Kết quả sưu tầm và biên soạn khẳng định thể loại truyền thuyết đã cắm rễ và sinh sôi nảy nở trên mảnh đất phương Nam màu mỡ phù sa mà cũng đầy sóng gió Song hành với chính sử, truyền thuyết dân gian Nam Bộ đã kịp lưu giữ, theo cách của mình, tất cả nhân vật
và sự kiện làm nên lịch sử vùng đất mới Nó dự phần khắc sâu thêm những phẩm chất truyền thống của con người Việt Nam đồng thời trực tiếp vẽ nên những tính cách riêng, phẩm chất mới của con người Nam Bộ
3.3 Kết quả sưu tầm và biên soạn đã giúp phục hiện gần như trọn vẹn một quá khứ “đầy khổ nhục nhưng vĩ đại” của cha ông trên mảnh đất “Nam Bộ thành đồng” Hầu như mọi cuộc khởi nghĩa chống Pháp xảy ra trên mảnh đất này đều được nhân dân gởi nhờ truyền thuyết Truyền thuyết dân gian thật sự chứng tỏ sức sống và sự phong phú của nó trong kho tàng văn hóa dân gian Nam Bộ
3.4 Từ Hệ thống truyền thuyết dân gian, chúng tôi nhận rõ truyền thuyết là một thể loại mà tác phẩm rất phong phú và có hệ thống Ở đó, con người và sự kiện lịch sử luôn là đầu mối, giúp đan kết các văn bản truyền thuyết thành từng nhóm, mảng truyện
3.5 Từ Hệ thống truyền thuyết dân gian, chúng tôi nhận thấy, ở những câu chuyện đậm phần
hư cấu, truyền thuyết đúng là tác phẩm nghệ thuật hấp dẫn, bên cạnh việc gắn bó với văn hóa dân gian, với tín ngưỡng, lễ hội, nó còn có đôi cánh đầy “chất thơ và mộng” Còn ở những câu chuyện hầu như chỉ có “cái lõi sự thật lịch sử”, truyền thuyết tuy không có đôi cánh “thơ
Trang 33và mộng” nhưng nó vẫn chứng tỏ là một phần của văn hóa dân gian, liên quan đặc biệt với tín ngưỡng, thờ cúng và lễ hội
3.6 Từ Hệ thống truyền thuyết dân gian, chúng tôi nhìn ra triển vọng của việc sưu tầm truyền thuyết dân gian Nam Bộ Với tính chất mở, các nhóm, mảng truyện có khả năng thu nhận bất cứ truyền thuyết nào (thỏa điều kiện) được tiếp tục sưu tầm và phát hiện Hệ thống trở nên có ích và cần thiết cho kế hoạch sưu tầm, hệ thống hóa kho tàng truyền thuyết dân gian Việt Nam
*
* *
Trang 34CHƯƠNG 2 KHẢO SÁT CÁC NHÓM TRUYỀN THUYẾT TRONG HỆ THỐNG TRUYỀN THUYẾT DÂN GIAN
VỀ NHỮNG CUỘC KHỞI NGHĨA CHỐNG PHÁP
Ở NAM BỘ (1858 – 1918)
***
Ở chương này, chúng tôi lần lượt khảo sát 6 nhóm truyện trong Hệ thống truyền thuyết dân gian:
- Nhóm truyền thuyết về cuộc khởi nghĩa của Trương Định (16 truyện)
- Nhóm truyền thuyết về cuộc khởi nghĩa của Thiên Hộ Dương (28 truyện)
- Nhóm truyền thuyết về cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Trung Trực (13 truyện)
- Nhóm truyền thuyết về cuộc khởi nghĩa của Thủ Khoa Huân (5 truyện)
- Nhóm truyền thuyết về cuộc khởi nghĩa vùng Thất Sơn (9 truyện)
- Nhóm truyền thuyết về những cuộc khởi nghĩa khác (30 truyện)
1 Nhóm truyền thuyết về cuộc khởi nghĩa của Trương Định
1.1 Truyện về Trương Định
1.1.1 Cuộc đời và sự nghiệp anh hùng Trương Định được ghi chép nhiều trong các tài liệu sử học, kể cả chính sử triều Nguyễn Tuy nhiên, truyền thuyết về cá nhân Trương Định hầu như không có trong các tài liệu sưu tầm văn học dân gian và văn hóa dân gian Tìm trong tài liệu sử học, chúng tôi chỉ phát hiện 3 tự sự dân gian đáp ứng nội dung tuyển chọn Tuy nhiên, trong đó, 1 văn bản còn tồn nghi là giai thoại lịch sử chưa chuyển hóa hẳn thành truyền thuyết, 1 văn bản là chuyện kể lịch sử mang đậm chất truyền thuyết (xem Phụ lục 2)
Do vậy, truyện về Trương Định hiện chỉ có 1 truyền thuyết: “Phút cuối cùng của Trương Định”
1.1.2 Về nội dung truyền thuyết trên, tài liệu Pháp ghi rằng, Trương Định chết vì một phát đạn trúng vào lưng5 Sử liệu Việt Nam thường chỉ ghi vắn tắt6 Thế nhưng, truyền thuyết dân gian không muốn tin người anh hùng chết trận Nhân dân đã dựng lại tư thế lẫm liệt, đường hoàng của Ông trước làn hơi cuối Theo đó còn có sự “thiêng hóa” mảnh đất người anh hùng ngã xuống [PL1,1.1.1]
Theo sử sách, Trương Định là vị anh hùng dân tộc đã giương ngọn cờ đầu kháng Pháp ở Nam Bộ Đời sau tỏ lòng biết ơn người anh hùng bằng việc chăm sóc mộ phần, lập đền cúng giỗ, xây dựng tượng đài, đặt tên cho đường phố, trường học, đơn vị quân đội Nhưng vì sao nhân dân không đưa người anh hùng vào truyền thuyết dân gian? Sự hiếm hoi truyền thuyết
về Trương Định, với tư cách hình tượng nhân vật chính, khiến chúng tôi nghĩ về quá trình sinh thành của một truyền thuyết lịch sử Phải chăng, muốn trở thành hình tượng trong truyền thuyết, nhân vật lịch sử không chỉ có công đức với dân tộc mà còn phải có thời gian sống gần gũi với nhân dân, được nhân dân dưỡng nuôi, chở che, thấu hiểu Bởi theo sử biên niên, từ khi khởi binh đánh Pháp, chưa kịp lập căn cứ lâu dài, Trương Định đã phải đưa quân rút vào bí mật Ông gần như bị cách ly với cuộc sống sinh hoạt của nhân dân, không được
Trang 35cùng nhân dân dựng xây căn cứ như Thiên Hộ Dương, Nguyễn Trung Trực Hay nhìn xa hơn, Ông không có cơ hội được nhân dân bảo bọc trên đường bôn tẩu, dấy binh như những anh hùng Lê Lợi, Quang Trung
1.1.3 Từ thực tế nêu trên, chúng tôi bước đầu nhận thấy: ở thể loại truyền thuyết, số lượng tác phẩm không nhất thiết phải tỉ lệ thuận với mức độ tình cảm mà nhân dân dành cho người anh hùng Số lượng tác phẩm chủ yếu chỉ phản ánh mức độ gắn bó giữa nhân dân và lãnh tụ nghĩa quân trong quá trình khởi nghĩa Và cho dù truyền thuyết được quyền hư cấu, nhưng nhân dân vẫn không dùng ưu thế đó để lấp đầy khoảng trống trong cuộc đời người anh hùng
Còn con người, sự nghiệp của Trương Định trong chính sử và trong truyền thuyết không mâu thuẫn nhau Công đức quá ngời sáng của vị anh hùng đã tạo nên mẫu số chung
ấy Tuy nhiên, nếu thiếu đi truyền thuyết, Trương Định vẫn chỉ là một tên tuổi được lưu danh, chứ chưa phải một con người bằng xương bằng thịt, đã sống và ngã xuống thật cao đẹp trong vòng tay thương quý của nhân dân Truyền thuyết về ông, dẫu ít ỏi, nhưng đã góp thêm điều đó
1.2 Các truyện về nhân vật, sự kiện liên quan đến cuộc khởi nghĩa của Trương Định
1.2.1 Mảng truyện này có số lượng khá phong phú (15/101 truyện) Chúng được sưu tầm, biên soạn từ tư liệu văn học dân gian (5/15 truyện), tư liệu văn hóa dân gian (5/15 truyện), tư liệu lịch sử (5/15 truyện)
1.2.2 Thời gian trong mảng truyện gắn với các mốc quan trọng trong cuộc đời Trương Định Sớm nhất là lúc Ông làm Quản cơ ở Gia Định Rồi những ngày tháng Ông lui binh, bảo toàn lực lượng Được nhắc nhiều hơn cả là thời gian sau khi ông mất Có thể xem, đây là quãng đường ngắn ngủi nhưng hào hùng, lẫm liệt nhất trong cuộc đời chiến trận của ông và của những người cộng sự
1.2.3 Không gian trong mảng truyện mở ra khá rộng Đó là vùng Bến Nghé xưa, là giồng Sơn Qui, vùng Rạch Gia, Tân Phước (Gò Công), đất Lý Nhơn (Duyên Hải), Bến Chùa (Cửa Tiểu), cù lao An Hóa (Bình Đại - Bến Tre) Mỗi không gian ấy gắn liền với những sự kiện, những con người bình dị mà bất khuất, kiên trung
1.2.4 Nhân vật trong mảng truyện này vừa có tướng lĩnh, vừa có những binh sĩ trung thành, lại không thiếu thành phần phụ nữ
Nổi bật hơn cả là hai hình tượng đẹp: phó tướng Bình Tây Nguyễn Nhựt Chi và Trịnh Viết Bàng Hai vị này có công kéo dài sức sống, âm vang của cuộc kháng chiến Trương Định ngã xuống, nhưng tinh thần quyết tử đã truyền cho tướng lĩnh Nguyễn Nhựt Chi kéo tàn quân về Cửa Tiểu, mong ngày dấy lại muôn binh [PL1,1.2.1] Trịnh Viết Bàng đưa quân
về An Hóa, vừa củng cố lực lượng, vừa trừng trị Việt gian [PL1,1.2.2] Thế nhưng, sức cùng lực tận, thời vận không còn, Nguyễn Nhựt Chi tử tiết, Trịnh Viết Bàng sa vào tay giặc, chịu
án tử hình
Tiếp theo sau là hàng loạt cận tướng của Trương Định, cũng tìm mọi cách duy trì lực lượng, hy vọng kéo dài cuộc khởi nghĩa Đó là ông Trương Điền kéo tàn quân về lập căn cứ Bưng Sen [PL1,1.2.4] Ông Trần Văn Thiện trấn giữ Đồng Sơn trong tuyệt vọng [PL1,1.2.6] Ông Võ Đăng Được thề tử chiến ở Gò Công Tây [PL1,1.2.8] Các vị tuy bị phân tán lực lượng nhưng vẫn chung lòng noi gương Trương Định Có điều, vì rủi ro, thất thế, cuộc chiến không thể kéo dài Ông Trương Điền thất trận, thổ huyết mà chết Ông Mạc Bảo Đường tử trận trên mình ngựa [PL1,1.2.7] Ông Đặng Khánh Tình, ông Trần Văn Thiện cầm gươm tử
thủ, bị kẻ thù hành quyết Các truyện đều khép lại bằng thái độ của nhân dân: cảm thương người dũng liệt Mọi người lén kẻ thù đắp vàng bạc lên thi hài người anh hùng, âm thầm đắp
mộ, lập miếu phụng thờ
Trang 36Như vậy, dẫu chưa kịp lập chiến công nhưng cái chết của những tướng lĩnh cận kề Trương Định vẫn uy nghi, lẫm liệt đâu kém gì chủ tướng Chính sử không ghi công nhưng nhân dân đã xem họ là những bậc “sanh vi tướng, tử vi thần”
Sau các tướng lĩnh là những tấm gương trung thành cùng Trương Định Đó là ông Dương Văn Hạnh – phó xã trưởng đất Lý Nhơn [PL1,1.2.3], là hai anh em vùng Rạch Gia nghèo khổ [PL1,1.2.10], là mười tám nghĩa binh phò chủ tướng [PL1,1.2.9] Họ chỉ xuất hiện khi người anh hùng đến hồi thất thế Kẻ thù bắt được họ, hứa tha mạng sống, nếu họ thuận lòng chỉ nơi ẩn náu của nghĩa quân và Trương Định Trong tình huống nghiệt ngã này,
họ điềm nhiên chọn cho mình cái chết Riêng mười tám dũng sĩ, mặc kẻ thù gươm giáo vây quanh, họ vẫn quyết tâm bảo vệ thi hài chủ tướng, không cho kẻ thù chạm vào xác thân anh hùng dân tộc Khước từ bổng lộc, giàu sang, họ còn dõng dạc nguyền rủa phường buôn dân bán nước, hiên ngang chịu hành hình, quyết không quy hàng nhục nhã Với những hành vi
cao cả ấy, những con người bình thường, vô danh bỗng hóa thành bất tử Có thể nói, trung thành là phẩm chất ngời sáng nhất của những anh hùng vô danh Chính họ đã lặng lẽ tô thắm
thêm màu cờ chính nghĩa của vị Bình Tây nguyên soái
Liên quan đến cuộc khởi nghĩa Trương Định còn có những trang liệt nữ Truyền thuyết
kể về người vợ thứ của Trương Định, bà Trần Thị Sanh [PL1,1.2.11] Chính sử triều Nguyễn không nhắc tên bà Nhưng nhân dân nhớ ơn người phụ nữ quý tộc ấy Bà tự nguyện kề cận chồng trong những tình huống khó khăn Bà chủ động giúp nghĩa quân tiền của và tăng thanh thế Bà chủ động làm cầu nối giữa triều đình và quân kháng chiến Khi Trương Định qua đời,
bà đứng ra xây mộ chồng, thông minh ứng phó với kẻ thù, khiến chúng phải e dè, kính nể Truyền thuyết còn nhắc nhở bà Lưu, người lo hậu cần cho nghĩa quân Trương Định [PL1,1.2.12] Bà bao phen dọ thám tình hình giặc, đưa tin kịp thời, giúp nghĩa quân phục
kích, bẻ gãy các trận càn Bà còn vận động nhà giàu ủng hộ tiền bạc, lương thực cho nghĩa
quân Bị bắt giam, bà kịch liệt chống lại hành động đánh đập tù nhân Ra tù, bà cầm đơn kêu oan cho những đồng chí bị kẻ thù trù dập, giam cầm Lòng yêu nước, sự gan dạ của bà khiến người dân Gò Công yêu quý và kẻ thù nể mặt Về sau, bà phiêu bạt nơi nào không ai biết Truyền thuyết cũng kể về một phụ nữ bất hạnh trong cuộc đời thường, nàng Hai Bến Nghé [PL1,1.2.13] Trẻ trung, xinh đẹp, đã yêu anh học trò nghèo cùng xóm, nhưng nàng phải làm vợ tên lãnh binh lớn tuổi, hung hăng, tàn bạo Bị tên chồng vũ phu hành hạ, làm nhục, rồi vu tội lăng loàn, nàng bị thả bè chuối trôi sông Được cứu sống, nàng trở về nhà cha mẹ Tên chồng cũ vẫn không buông tha, lập mưu, làm nhục nàng lần nữa May nhờ Trương Định giải thoát, nàng nguyện giúp nghĩa quân đánh giặc, dù chết cũng cam lòng Nhờ mưu kế của nàng, nghĩa quân lấy được đầu tên quan Tây cướp nước
Có thể nói, mưu trí, giữ vai trò hậu thuẫn, đó là ấn tượng chung nhất về các phụ nữ theo
ngọn cờ Trương Định Không trực tiếp cầm gươm, nhưng họ có cơ mưu, họ có tài huy động nguồn lực vật chất giúp cuộc khởi nghĩa vững vàng trong gió bão
1.2.5 Nhìn chung, các truyện liên quan đến cuộc khởi nghĩa của Trương Định đã chứng
tỏ ngọn cờ Bình Tây phù hợp lòng dân, nên được nhiều tầng lớp, nhiều thành phần nhân dân nhiệt tình ủng hộ Các tác phẩm tái hiện phần sống động nhất của cuộc khởi nghĩa: những con người, những sự kiện mà chính sử chưa bao giờ chạm đến Ở đó, nhân dân đã tôn vinh những vị thần mà vua chưa hề ra sắc chỉ Ở đó, nhân dân còn thể hiện tình cảm, cái nhìn về mối quan hệ giữa vị Bình Tây nguyên soái với người dân Nam Bộ Bình Tây nguyên soái là tước vị dân gian tặng cho người anh hùng Theo góc nhìn ấy, chính tài năng và đức độ của
Trương Định đã thu phục được nhân tâm Ngược lại, Trương Định cũng “là người nhờ dân
mà giữ vẹn nghĩa trung với nước, kiên trì cùng dân kháng chiến” [47,tr.143]
Trang 37Để khép lại nhóm truyện này, chúng tôi mượn lời của nhà nghiên cứu Bùi Quang
Thanh: “truyền thuyết về cuộc khởi nghĩa của Trương Định được lan truyền từ Nam ra Bắc như khúc ca giáo đầu cho bản trường ca chiến trận ngót trăm năm của dân tộc ta chống ách thực dân” [193,tr.132]
2 Nhóm truyền thuyết về cuộc khởi nghĩa của Thiên Hộ Dương
2.1 Các truyện về Thiên Hộ Dương
2.1.1 So với các lãnh tụ chống Pháp cùng giai đoạn, Thiên Hộ Dương trở thành hình tượng nghệ thuật được kể nhiều trong truyền thuyết dân gian (7/101 tác phẩm) Tất cả xuất
xứ từ tư liệu văn học dân gian Có 2 truyện gần giai thoại về lối kể và tình tiết [PL1,2.1.3],[PL1,2.1.4]
Trong chính sử, Thiên Hộ Dương bị triều đình gọi là giặc, thực dân Pháp xem là kẻ phiến loạn Chỉ có văn học dân gian ca ngợi người anh hùng Đơn cử, đó là “Vè Quản Thành”:
“Nam Kỳ có tướng Quan Thiên Cùng quan lớn Định cầm quyền đánh Tây”
Ở đây, Quan lớn Định chính là Trương Định, còn Quan Thiên chính là Thiên Hộ Dương
dân Gò Tháp… Cách diễn tả thời gian trong truyện thật gần với cổ tích: bắt đầu tự “ngày xưa”, “thời đó”, từ “một hôm” sang “ngày nọ”; hết “từ đó” đến “ít lâu sau”… Khác với
truyện về anh hùng Trương Định, Nguyễn Trung Trực, ở đây, không truyền thuyết nào ghi
tháng năm cụ thể về cuộc đời ngài Thiên Hộ Có thể xem, tương đối, mơ hồ là đặc điểm của
thời gian nghệ thuật trong truyền thuyết về Thiên Hộ Dương Trong khi đó, tư liệu lịch sử
đâu thiếu những con số chính xác, rõ ràng Ví dụ: “Tháng Bảy 1866, Võ Duy Dương mộ
quân chống Pháp và hoạt động mạnh ở 3 tỉnh Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên, được nhân dân
tích cực ủng hộ Tháng Mười 1866, Võ Duy Dương, trên đường ra Bình Thuận, đã bị tai nạn
đắm thuyền và chết ở cửa biển Thần Mẫu…” [186] Qua kiểu giới thiệu thời gian ước lệ, mơ
hồ, các truyền thuyết về Thiên Hộ Dương có lối kể gần với cổ tích Phải chăng, nhờ kiểu thời gian này, truyện về anh hùng Thiên Hộ Dương luôn được bao bọc giữa bầu không khí huyền
ảo
2.1.3 Về không gian, các truyện in rõ dáng hình miền đất phương Nam Nơi đó, lắm gò bãi, ruộng đồng, nhiều rạch con, sông cái Nơi đó, đồng cỏ mênh mông, trẻ con thỏa sức chăn trâu tập trận, còn nghĩa quân mặc tình gom cỏ khô chờ đốt giặc Nơi đó có những con rạch nước chảy lớn ròng, người anh hùng ngày ngày xuống tắm, rồi cỡi trâu, luyện rèn võ nghệ Không gian cụ thể được nhắc nhiều nhất chính là quê hương Đồng Tháp, qua những
tên gọi quen thân: Đồng Tháp, vùng Gò Tháp, căn cứ Đồng Tháp Mười, đại đồn Tháp Mười, vàm Cần Lố, ngã Sáu, ấp Trung…
2.1.4 Riêng về hình tượng nhân vật, các truyền thuyết dựng lên một Thiên Hộ Dương thật bình dị, thân thương, gần gũi Chính sử chỉ gọi ông là Võ Duy Dương Nhưng nhân dân
Trang 38cung kính gọi là ngài Thiên Hộ, Thiên Hộ Dương, ông Ngũ Linh Thiên Hộ Sử sách chỉ biết một Võ Duy Dương từ khi mộ binh chống Pháp Nhưng nhân dân đã gần gũi ông từ nhỏ Ông vốn là đứa con của ruộng đồng: nhà nghèo, đi chăn trâu ở mướn… Lớn lên, chàng trai họ Võ được vua chứng kiến tài năng, cho ở lại kinh đô luyện tập Thế nhưng, không thích chốn cung son ràng buộc, ông tình nguyện theo Nguyễn Tri Phương mộ lính đồn điền Nhờ có công, ông được phong làm chánh bát phẩm Thiên Hộ Lại thêm kỳ tích một lần cử được năm trái linh7, ông được mệnh danh là ngài Ngũ Linh Thiên Hộ
Theo góc nhìn sử học, Võ Duy Dương chỉ được quan tâm ở các khía cạnh thời điểm khởi binh, động cơ kháng Pháp, địa bàn hoạt động, qui mô căn cứ, phương thức đấu tranh… Nhưng từ góc nhìn truyền thuyết, Thiên Hộ Dương được soi sáng toàn diện, từ nguồn gốc xuất thân, sức khoẻ, tài năng, võ nghệ, đến những kỳ tích, quá trình hoạt động và sự hy sinh… Nhờ vậy, đời sau mới biết một Thiên Hộ Dương từ nhỏ đã ăn khỏe, sức mạnh hơn người, khiến vua quan cùng kinh ngạc và nể phục [PL1,2.1.1] Khi kẻ thù xâm lược, chàng
mộ binh khởi nghĩa ở miền Tây Nam Bộ, lấy bưng biền Đồng Tháp làm căn cứ lâu dài Lúc này, tài năng, khí phách, đức độ của chàng đến hồi tỏa sáng Sức mạnh cử đỉnh trăm cân, đường roi song đôi huyền thoại đã đưa tên tuổi anh hùng vang xa, thu hút bao người tài giỏi Trong trí tưởng nhân dân, hào kiệt đâu cứ phải cưỡi trên ngựa quý Lấy ruộng đồng Nam Bộ làm chiến địa, Thiên Hộ Dương chỉ cần ngồi trên lưng trâu, cầm roi, mà vô cùng oai phong, dũng mãnh Với nhân dân, chú bé ngày nào lam lũ trên lưng trâu, giờ đã là một dũng tướng tài ba, cùng trâu ra trận [PL1,2.1.2] Nhưng đâu phải hạng võ biền, Thiên Hộ Dương là một trang tuấn kiệt song toàn văn võ Mượn tích chuyện Liêm Pha – Lạn Tương Như, vị thủ lĩnh nghĩa quân đã dẹp tan mối bất hòa giữa các tướng hộ vệ, khiến mọi người cùng xúc động và tâm phục [PL1,2.1.3]
Theo lời lẽ vua quan triều Nguyễn, Thiên Hộ Dương chỉ là một tên phản tặc: “Bọn giặc
Võ Duy Dương lưu lại ở Định Tường, tụ tập bè đảng đánh cướp lương thực Tên can phạm này không phải là thần dân của nước ta Phải lấy phép nước mà buộc tội, ai lại chịu dung tha” [235(I),tr.28] Ngược lại.trong truyền thuyết, tên can phạm của triều đình ấy được nhân
dân xem là anh hùng dân tộc Người dân Đồng Tháp lập đền thờ ông Bà con day dứt, ân hận
vì không được chăm sóc chu đáo phần mộ người anh hùng Có năm được mùa, ngày tết được
ăn cá kho, dưa giá, họ nghĩ, chính anh linh ngài Thiên Hộ đã phò trợ đồng bào sống trong no
ấm [PL1,2.1.7]
Riêng về cái chết của ông, sử sách ghi thật rõ ràng: “Tháng Mười 1866, Võ Duy Dương, trên đường ra Bình Thuận, đã bị tai nạn đắm thuyền và chết ở cửa biển Thần Mẫu” [186] Diễn ca cũng theo chân lịch sử Nam Kỳ Phong tục nhân vật diễn ca (NXB Phát Toàn, Sài
Gòn, 1909, tr.67) của Nguyễn Liêng Phong có câu:
“Thoát thân về với ghe bầu, Khỏi nơi Cần Hải tiền xu đoán thoàn
Giấc nồng đêm dậy nhảy khan, Hồn chôn bụng cá ưng oan chẳng cần”8
Tuy nhiên, truyền thuyết lại không dễ dàng chấp thuận nguyên cớ ấy Nhân dân không tin người anh hùng gặp tai nạn bất ngờ Họ chỉ tin Thiên Hộ Dương bị bệnh mà mất, hoặc đã
thanh thản nằm xuống nơi vùng quê nào đó: “sau khi đại đồn Tháp Mười thất thủ, ông Thiên
Hộ nghe đâu có ra miền Trung, sau đó trở vào Nam, rồi mất lúc nào không rõ” [PL1,2.1.7]
Có người còn muốn ông đi tìm Nguyễn Trung Trực và hiên ngang ngã xuống trong sự ăn năn, kính phục của bầy cướp biển [PL1,2.1.6]
Linh là quả sắt hình tròn, có khoen, mỗi quả nặng chừng 60 kg
Dẫn theo Nguyễn Văn Hầu [57]
Trang 392.1.5 Có thể nói, so với tài liệu lịch sử, hình tượng Thiên Hộ Dương trong truyền thuyết dân gian mang vẻ đẹp thật sinh động, mới mẻ, in đậm cốt cách, tâm hồn và bản lĩnh người nông dân Nam Bộ vùng lên đánh giặc
2.2 Các truyện về tướng lĩnh của Thiên Hộ Dương
2.2.1 Trong nhóm truyện về khởi nghĩa Thiên Hộ Dương, có 7 truyền thuyết kể về các tướng lĩnh trung thành với sự nghiệp của ông Chúng chủ yếu được sưu tầm, biên soạn từ tư liệu văn học dân gian (6/7 truyện) Truyện còn lại lấy từ tư liệu văn hóa dân gian
2.2.2 Các chuyện về tướng lĩnh của Thiên Hộ Dương chủ yếu khai thác phần hậu của
cuộc khởi nghĩa Thời gian, nhìn chung, theo lối ước lệ: “sau khi Thiên Hộ Dương mất”,
“sau khi thực dân Pháp chiếm đại đồn Tháp Mười”, “vào khoảng trước thế chiến lần thứ hai”… Có chỗ được kể như cổ tích: ngày xưa, năm nọ, một hôm, lần khác… Nhưng đôi khi cũng cụ thể, chính xác: “năm Bính Dần (1866)”, “ngày 14/2/1871”, “ngày 25/12/1902”…
Phải chăng, trong lối kể, truyền thuyết giai đoạn này bắt đầu chịu ảnh hưởng từ sử biên niên
và ngôn ngữ văn học viết?
2.2.3 Về không gian, các truyện xảy ra trong và ngoại vi bưng biền Đồng Tháp: Mỹ Thọ (Cao Lãnh), Cái Thia (Định Tường), Mỹ Lợi (Cái Bè), Hòa Sơn (Cai Lậy)… Không gian
được miêu tả chấm phá nhưng gợi lên sống động cảnh sắc, cái hồn của thiên nhiên Nam Bộ
Ở đó, đồng ruộng mênh mông, có cảnh chim đàn phá lúa, mạ non chất kín ghe lườn Rồi kênh rạch dọc ngang, giúp nghĩa binh bắc cầu, cắm chông, bày mưu giết giặc… Không gian sinh động ấy chính là đất phương Nam, là cái nền tô đậm hình tượng nhân vật chính
2.2.4 Trung tâm của truyền thuyết là những tướng lĩnh dưới quyền ngài Thiên Hộ Được kể nhiều nhất là ông Hùng Dõng (cũng là Hồng Giám, Phòng Biểu, Nguyễn Văn Biểu) (3 truyện) Kế đến là Đốc Binh Kiều, Tứ Kiệt, Lãnh binh Nguyễn Văn Cẩn… Các nhân vật này, sử gia triều Nguyễn không ghi nhận, nhưng nhân dân lại am tường cặn kẽ Nào là ông Phòng Biểu sức khỏe phi thường, có tài vụt quét đuổi chim, ra tay trừng trị quân bán nước [PL1,2.2.1]… Nào là phó tướng Đốc Binh Kiều thay Thiên Hộ Dương củng cố lực lượng
“lập trạm gác, tăng cường vũ khí, đạn dược (…) đào giếng trữ nước ngọt, xây lò, bếp nấu cơm…” [PL1,2.2.4] Nào là Bốn Ông ở Cai Lậy tướng mạo dị thường, võ công biến hóa
[PL1,2.2.5] Rồi Lãnh Binh Cẩn kiên trì cố thủ, nhưng đành khóc hận, về xây chùa thờ Thiên Hộ Dương và Đốc Binh Kiều [PL1,2.2.7] Đặc biệt, sau khi qua đời, các vị đều hiển linh, phù hộ nhân dân, trừng trị phường gian ác…
2.2.5 So nhiều tác phẩm về anh hùng kháng Pháp, chuyện các tướng lĩnh của Thiên Hộ Dương không nặng sự kiện lịch sử Nhiều đoạn gần giống lối kể của cổ tích Nhất là phần kết truyện luôn có hậu, như một cách mà nhân dân có thể làm được, để xoa dịu phần nào nỗi đau, lòng uất hận của các anh hùng ứng nghĩa
2.3 Các truyện về nhân vật và sự kiện liên quan đến cuộc khởi nghĩa Thiên Hộ Dương
2.3.1 Những truyền thuyết này ngợi ca con người và thiên nhiên, vật thể từng hỗ trợ đắc lực cho cuộc khởi nghĩa Nhóm truyện có 14 truyền thuyết, tất cả được sưu tầm, biên soạn từ tư liệu văn học dân gian
2.3.2 Thời gian trong các truyện diễn ra vào độ Thiên Hộ Dương hoạt động mạnh ở căn
cứ Đồng Tháp Mười Trừ chuyện kể về trận đánh Mỹ Trà có ngày giờ cụ thể, các truyện còn
lại diễn tả thời gian theo cách ước lệ, gần cổ tích: ngày xưa, ngày kia, trước đây, thuở ấy, lúc này, bữa nọ…Theo chúng tôi, đây là biểu hiện đậm nét của “chất dân gian” trong truyền
thuyết gắn với người anh hùng Đồng Tháp
2.3.3 Không gian trong các truyện là vùng Đồng Tháp mênh mông, lắm hoang vu, kỳ
bí Ở đó, nhiều chướng khí, muỗi mòng Ở đó, còn cảnh heo rừng táo tợn phá nhà dân; còn
những động rắn, hang rắn, với những “con rắn chúa sáu khoang (…) nay teo lại còn bằng
Trang 40mút đũa”, hay “con rắn hổ mây mình to như chiếc thúng” Rồi những đàn trâu rừng hung
hãn chịu thuần phục con người Không gian còn là khu căn cứ hiểm trở, với những huyệt lộ, đồn canh, trạm nghỉ… Ở đó, nghĩa quân lợi dụng địa hình, đánh kẻ thù tan tác
2.3.4 Về nhân vật đánh Pháp, các truyện giới thiệu thêm những gương mặt anh hùng
mộ nghĩa Đó là Ông Nghề tướng mạo khác thường, sức mạnh vô song, tinh thông võ nghệ
Biết “đường tắt vào Gò Tháp, ông thuộc như lòng bàn tay” nên Thiên Hộ Dương mời ông
làm liên lạc cho quân khởi nghĩa [PL1,2.3.1] Nọ là Trương Tấn Minh, đang cảnh vợ con đầm ấm, nhà cửa khang trang, lại dám từ biệt tất cả, kêu gọi dân trong vùng đứng lên chống Pháp [PL1,2.3.3] Rồi ông Dật, tên Đà, hai người cùng xóm, cùng học một thầy, cùng đỗ tú tài một khoa nhưng có hai chí hướng Ông Đà theo Tây Ông Dật khước từ bổng lộc, tự nguyện góp sức cùng Thiên Hộ Dương đánh giặc Đến khi bị bắt, ông bỏ ngoài tai lời ngon ngọt dụ hàng của tên bán nước [PL1,2.3.2] Đó còn là người nông dân thuần phục trâu rừng Không chỉ dùng trâu kéo cày, kéo xe, kéo cộ…, ông còn biết dùng trâu lập kế đánh Tây, được Thiên Hộ Dương công nhận tài năng và phong là Ngưu quân thượng tướng [PL1,2.3.5] Các nhân vật này tiêu biểu cho đội ngũ hùng hậu những anh hùng chống Pháp Dù trí thức hay nông dân, là Lãnh binh hay người liên lạc, họ vẫn một lòng đi theo kháng chiến, trung thành với sự nghiệp cao cả mà Thiên Hộ Dương dày công gây dựng
2.3.5 Một nội dung độc đáo trong mảng truyện chính là việc nhân dân ghi công những
con vật, đồ dùng từng hỗ trợ đắc lực cho cuộc khởi nghĩa Trước hết, phải kể đến vai trò rắn độc Đất Tháp Mười lắm bụi bờ, gò đống, nơi mãng xà chọn chốn nương thân Có thứ hung
hăng, có con được tu luyện Những con rắn chưa từng nổi giận ấy, như cũng biết căm thù, một ngày vụt trồi lên, cắn chết loài Việt gian bán nước Thiên Hộ Dương nhận ra sức mạnh của chúng, liền âm thầm nuôi giấu, lập mưu tiêu diệt quân thù [PL1,2.3.4] Hay như giống
trâu rừng vô cùng lợi hại Người dân Đồng Tháp ra tay thuần phục chúng, sử dụng trí khôn
và sức mạnh bầy đàn của chúng phá tan trận càn của giặc [PL1,2.3.5] Đề cao sự lợi hại của rắn độc, trâu rừng trong chiến đấu, thực ra, đó là cách nhân dân gián tiếp ngợi ca tài trí của Thiên Hộ Dương và những anh hùng vô danh trên quê hương Đồng Tháp
Cũng từ âm hưởng ngợi ca, nhân dân tự hào về chiếc còi hiệu được chế từ khúc sừng trâu [PL1,2.3.6], về chiếc nóp chống muỗi được đan bởi cọng bàng [PL1,2.3.7] Chúng thô
sơ, mộc mạc nhưng đủ khiến quân thù mất ăn mất ngủ Kẻ thù sao có thể hình dung đó là vũ khí, là quân trang của những nông dân cuốc bẫm cày sâu, giờ thành quân mộ nghĩa Nhân dân cũng không quên nhắc nhở trận Mỹ Trà năm Ất Sửu Đó là chiến công của một tập thể anh hùng, luôn hừng hực quyết tâm, giàu óc thông minh, sáng tạo [PL1,2.3.8]
Những nhân vật, sự kiện trên, sử sách phong kiến không ghi nhận Nhưng nhân dân không quên lãng một ai, không bỏ sót việc gì Điều này minh chứng, một khi phong trào khởi nghĩa đã thuộc về nhân dân thì mỗi bước đi của lãnh tụ; mỗi đóng góp, hy sinh thầm lặng của từng con người… đều được nhân dân khắc ghi, lưu giữ trong truyền thuyết Cuộc khởi nghĩa của Thiên Hộ Dương là nguồn cảm hứng, làm sản sinh hàng loạt truyền thuyết dân gian, với những con người, sự kiện chưa từng có trong chính sử, ấy cũng vì lẽ đó
3 Nhóm truyền thuyết về Nguyễn Trung Trực
3.1 Các truyện về Nguyễn Trung Trực
3.1.1 Về hình tượng Nguyễn Trung Trực, có 6 truyền thuyết 4/6 truyện được sưu tầm, biên soạn từ tư liệu văn học dân gian, 2 truyện còn lại tìm thấy từ tư liệu văn hóa dân gian và
tư liệu lịch sử Các truyện đều đáp ứng đặc trưng thể loại truyền thuyết
3.1.2 Thời gian trong các truyện khởi đầu từ thời niên thiếu của anh chài Lịch đến sau khi người anh hùng Nguyễn Trung Trực lẫm liệt hy sinh Những thời khắc lập chiến công, những lần chuyển dời địa bàn chiến đấu của nghĩa quân đều được nhắc nhở Nhưng được