1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn THẠC sĩ NHẬT bản và TRUNG HOA dân QUỐC với PHONG TRÀO đấu TRANH GIÀNH độc lập của VIỆT NAM nửa đầu THẾ kỷ XX

77 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 613,42 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC DUY TÂN NGUYỄN THỊ KIM NHUNG NHẬT BẢN VÀ TRUNG HOA DÂN QUỐC VỚI PHONG TRÀO ĐẤU TRANH GIÀNH ĐỘC LẬP CỦA VIỆT NAM NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX LUẬN VĂN THẠC SĨ QUAN HỆ QUỐC TẾ ĐÀ NẴNG, 2020 LỜI CẢM ƠN Trong thời gian thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình, sự đóng góp quý báu của nhiều cá nhân và tập thể, đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành bản luận văn này Tôi xin chân thành cảm ơn TS Lê Nam Trung Hiếu, là người trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thàn.

Trang 1

NGUYỄN THỊ KIM NHUNG

NHẬT BẢN VÀ TRUNG HOA DÂN QUỐC VỚI PHONG TRÀO ĐẤU TRANH GIÀNH ĐỘC LẬP CỦA VIỆT NAM NỬA ĐẦU THẾ

KỶ XX

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUAN HỆ QUỐC TẾ

ĐÀ NẴNG, 2020

Trang 2

Trong thời gian thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình, sự đóng góp quý báu của nhiều cá nhân và tập thể, đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành bản luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn TS Lê Nam Trung Hiếu, là người trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn.

Chân thành cảm ơn Phòng Khoa Sau Đại học – Đại học Duy Tân đã tạo điều kiện giúp đỡ tác giả hoàn thành khoá học cao học và quá trình thực hiện đề tài này

Cảm ơn gia đình, các anh, chị, bạn bè, đồng nghiệp đã cổ vũ và động viên, giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình nghiên cứu học tập và thực hiện luận văn.

Xin chân thành cảm ơn!

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Kim Nhung

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của riêng tôi.

Những tài liệu tham khảo và phục vụ cho luận văn có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn.

Tác giả luận văn

Nguyên Thị Kim Nhung MỤC LỤ

Trang 4

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 4

5 Phương pháp luận và phương án nghiên cứu 5

6 Cấu trúc luận văn 6

CHƯƠNG 1 NHỮNG CƠ SỞ CHO SỰ CAN THIỆP CỦA NHẬT BẢN VÀ TRUNG HOA DÂN QUỐC VÀO PHONG TRÀO ĐẤU TRANH GIÀNH ĐỘC LẬP CỦA VIỆT NAM VÀO NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX 7

1.1 Cơ sở về lợi ích quốc gia dân tộc 7

1.2 Cơ sở về tình hình thực tiễn trên thế giới, khu vực và Việt Nam 12

1.2.1 Tình hình thế giới 12

1.2.2 Tình hình khu vực 14

1.2.3 Tình hình Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX 22

CHƯƠNG 2 QUÁ TRÌNH NHẬT BẢN VÀ TRUNG HOA DÂN QUỐC CAN THIỆP VÀO PHONG TRÀO ĐẤU TRANH GIÀNH ĐỘC LẬP CỦA VIỆT NAM 30

2.1 Quá trình Nhật Bản can thiệp vào phong trào đấu tranh giành độc lập của Việt Nam 30

2.1.1 Nhật Bản với các phong trào giành độc lập của người Việt 30

2.1.2 Nhật Bản với chiêu bài xây dựng nhà nước Việt Nam độc lập trong Khối Thịnh vượng chung Đại Đông á 38

2.2 Quá trình Trung Hoa dân quốc can thiệp vào phong trào đấu tranh giành độc lập của Việt Nam 44

Trang 5

2.2.2 “Hoa quân nhập Việt” và chính phủ Liên hiệp tại Việt Nam 53

CHƯƠNG 3 NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ VỀ KẾT QUẢ CỦA QUÁ TRÌNH NHẬT BẢN Và TRUNG HOA DÂN QUỐC CAN THIỆP VÀO PHONG TRÀO ĐẤU TRANH GIÀNH ĐỘC LẬP CỦA VIỆT NAM 60

3.1 Về mục tiêu va kết quả của quá trình can thiệp 60

3.2 Về nguyên nhân thất bại của các quá trình can thiệp 62

3.3 Bài học cho Việt Nam trong quan hệ với các nước lớn 64

KẾT LUẬN 67 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Bước vào những năm đầu của thế kỷ XX, do sự phát triển không đồngđều về kinh tế, chính trị của chủ nghĩa tư bản đã tác động mạnh mẽ vào cácmặt của đời sống xã hội Để giành giật nhau thị trường, thuộc địa và phân chialại thế giới, các nước đế quốc đã phát động cuộc Chiến tranh thế giới lần thứnhất

Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918), trật tự Washington được hình thành thông qua việc ký kết các văn kiện, hoà ước vàcác tuyên bố, thoả ước của các nước thắng trận thể hiện tham vọng và ý đồcủa các nước lớn như Anh, Pháp, Mỹ Sự vận động, quá trình sụp đổ của Trật

Versailles-tự Versailles-Washington và con đường dẫn đến Chiến tranh Thế giới thứ haiđược thể hiện thông qua tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới màhậu quả là sự phát triển chủ nghĩa tư bản theo hai hướng khác nhau: một mặt

là thiết lập chủ nghĩa phát xít (Đức, Italia, Nhật bản), mặt khách là duy trì nềndân chủ tư sản (Anh, Pháp, Mỹ) cũng như tác động của nó đến mối quan hệquốc tế trên mọi lĩnh vực

Kế đến là Cuộc chiến tranh thế giới thứ hai nổ ra do sự vận động, đanxen và phức tạp giữa 3 lực lượng trong quan hệ quốc tế (Chính sách đốingoại; cuộc đấu tranh giữa 3 nhóm cường quốc: các nước phát xít Đức, Italia,Nhật bản, các nước phương tây: Anh, Pháp, Mỹ và liên bang Xô viết) Kếtquả cuối cùng là thắng lợi của lực lượng Đồng minh và nhân dân yêu chuộnghoà bình trên thế giới, chủ nghĩa phát xít bị tiêu diệt…

Những chuyển biến quan trọng, to lớn đó của tình hình thế giới khiếncho các nhà nước, quốc gia đều điều chỉnh chính sách ngoại giao và các mốiquan hệ quốc tế cho phù hợp với lợi ích quốc gia, dân tộc và nâng cao vị thế

Trang 7

trên trường quốc tế Nhật Bản và Trung Hoa cũng không nằm ngoài xu thếchung này.

Đối với khu vực châu Á – Thái Bình Dương nói chung và Đông Nam Ánói riêng, Nhật Bản và Trung Hoa là những cường quốc về kinh tế, chính trị

và quân sự Trong giai đoạn Chiến tranh Thế giới thứ hai, Nhật Bản và TrungHoa Dân Quốc mặc dù khác nhau về chiến tuyến nhưng cả hai nước này đềunhắm đến Việt Nam trong các kế hoạch cả trong và sau cuộc chiến của quốcgia mình Liệu mục đích thực sự của họ khi giúp đỡ và tác động vào phongtrào giải phóng dân tộc của Việt Nam là giúp cho Việt Nam trở thành mộtquốc gia độc lập, đủ năng lực để cùng đứng chung hàng ngũ với họ chống lại

sự bá quyền của các nước thực dân da trắng? Hay liệu mục đích của họ làmuốn thay thế Pháp nắm quyền làm chủ Đông Dương nói chung và Việt Namnói riêng để phục vụ cho những kế hoạch hậu chiến của mình, xây dựng mộttrật tự thế giới mới tại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương do mình quyếtđịnh, mà trong đó Việt Nam có địa vị như một nước chư hầu, hoặc một kịchbản tiêu cực hơn? Đây là câu hỏi nghiên cứu mà luận văn này tìm cách giảiđáp

Nhìn từ thực tiễn lịch sử, phong trào giải phóng dân tộc của Việt Nam

có mối quan hệ mật thiết với các nước lớn trong khu vực Vì vậy, việc nghiêncứu và tìm hiểu các chính sách của Nhật Bản và Trung Quốc với phong tràođấu tranh giành độc lập của Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX là việc làm cần thiết

về mặt thực tiễn, giúp Việt Nam sẽ rút ra được những kinh nghiệm lịch sử cầnthiết, dự đoán được tình hình an ninh chính trị ở khu vực để có thể đưa ranhững lựa chọn chính sách phù hợp, nhất là trong việc xây dựng quan hệ đốitác chiến lược, toàn diện với một số cường quốc, nước lớn trong giai đoạnhiện nay

Trang 8

Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, chúng tôi chọn đề tài “ Nhật Bản

và Trung Hoa Dân Quốc với phong trào đấu tranh giành độc lập của ViệtNam nửa đầu thế kỷ XX” làm đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quan hệquốc tế

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu: Phân tích sự can thiệp của Nhật Bản và Trung Hoa Dân Quốcvào sự vận động của phong trào cách mạng Việt Nam để làm rõ bản chấtchính sách đối ngoại của hai nước trong giai đoạn này

Nhiệm vụ nghiên cứu: để đạt được mục đích nghiên cứu, đề tài tập trunggiải quyết các vấn đề sau

- Phân tích những cơ sở cho việc Nhật Bản và Trung Hoa Dân Quốc canthiệp vào phong trào đấu tranh giành độc lập của Việt Nam

- Khảo sát và phân tích quá trình Nhật Bản và Trung Hoa Dân Quốc canthiệp vào phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc của Việt Nam vào nửađầu thế kỷ XX

- Nhận xét, đánh giá về quá trình Nhật Bản và Trung Hoa Dân Quốc canthiệp vào phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc của Việt Nam và rút ranhững bài học kinh nghiệm

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu :

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các hoạt động can thiệp của NhậtBản và Trung Hoa Dân Quốc vào phong trào đấu tranh giành độc lập của ViệtNam nửa đầu thế kỷ XX

3.2 Phạm vi nghiên cứu :

- Về mặt thời gian :

Trọng tâm nghiên cứu là từ những năm đầu của thế kỷ XX đến Chiếntranh Thế giới thứ hai

Trang 9

và giải thuộc địa từ những năm đầu thế kỷ XX cho tới năm 1945 Luận vănchọn Nhật Bản và Trung Hoa Dân Quốc do đây là hai nước đồng chủng đồngvăn có liên hệ chặt chẽ nhất đối với phong trào giành độc lập của dân tộc ta từđầu thế kỷ XX.

4 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Lịch sử nghiên cứu vấn đề tại Việt Nam

Đối với nội dung nghiên cứu liên quan đến lý thuyết quan hệ quốc tế, córất nhiều tác giả nghiên cứu về vấn đề này như Nguyễn Hoàng Giáp, Lê HồngHiệp, Hoàng Khắc Nam , Tuy nhiên GS.TS Hoàng Khắc Nam là người có rấtnhiều nghiên cứu và bài viết về lý thuyết quan hệ quốc tế về lợi ích quốc giadân tộc là nội dung chính trong đề tài này

Về nội dung nghiên cứu quan hệ Nhật Bản – Việt Nam trước năm 1945,

tác giả chủ yếu khảo cứu từ Phan Bội Châu niên biểu và các bài viết về Phan

Bội Châu của GS Chương Thâu Đây là những tài liệu thể hiện một cách

“toàn diện, hệ thống” chính sách của chính phủ Nhật Bản đối với Việt Nam

nói chung và phong trào yêu nước giải phóng dân tộc Việt Nam nói riêng.Đối với quan hệ Trung Hoa Dân Quốc – Việt Nam trước năm 1945, tácgiả khảo cứu hồi ký của các nhà cách mạng yêu nước, đảm bảo cung cấpnhiều thông tin chân nhật và có cái nhìn đúng đắn về lịch sử đấu tranh giảiphóng đất nước của dân tộc

Trang 10

Lịch sử nghiên cứu vấn đề ở nước ngoài

Do khó khăn trong việc tìm kiếm tài liệu nên có một số hạn chế nhấtđịnh:

Về quan hệ Nhật Bản- Việt Nam trước năm 1945, các tài liệu của cácnhà sử học tập trung chủ yếu vào cuộc đời Phan Bội Châu và Cường Để,trong khi đó các nhà nghiên cứu chính trị học-quan hệ quốc tế lại tập trungvào học thuyết Đại Đông Á của Nhật Bản , minh hoạ bằng tư liệu lịch sửViệt Nam

Về quan hệ Trung Hoa Dân Quốc – Việt Nam trước năm 1945, “hiệnnay căn cứ các nguồn tài liệu tiếng Trung hoặc tiếng Trung đã được dịch sangtiếng Việt, các học giả Trung Quốc và Đài Loan (Trung Quốc) chủ yếu tậptrung nghiên cứu các hoạt động tiếp xúc và hỗ trợ giữa những người cáchmạng cộng sản Việt Nam và chính quyền Trung Hoa Dân Quốc thời đó.Mảng tư liệu về quan hệ “giữa những người yêu nước theo chủ nghĩa dân tộcthuần tuý và chính quyền Trung Hoa Dân Quốc tương đối ít và thiếu đầy đủ”,

“Các tài liệu bằng tiếng Anh về quan hệ giữa Trung Hoa Dân Quốc với các tổchức yêu nước Việt Nam chủ yếu mang tính khái quát, chưa đi sâu chi tiết,nhất là từ góc nhìn của những nhân chứng Việt Nam”

5 Phương pháp luận và phương án nghiên cứu

Công trình này nghiên về lịch sử ngoại giao, do đó áp dụng phương phápliên ngành lịch sử và quan hệ quốc tế Một mặt, dựa trên phương pháp lịch sử

và phương pháp logic của phương pháp luận sử học Marxism, công trình tiếnhành một số phương pháp chuyên ngành, cụ thể là phương pháp sử liệu học

và phương pháp nghiên cứu lịch sử Mặt khác, công trình vận dụng cácphương pháp của chuyên ngành quan hệ quốc tế như nghiên cứu chính sáchđối ngoại, quan hệ quốc tế theo cấp độ liên quốc gia, khu vực, toàn cầu/ hệthống Ngoài ra, một số các phương pháp khoa học xã hội như phương pháp

Trang 11

phân tích tổng hợp và phương pháp phân tích văn bản, phương pháp so sánh,

…sẽ được sử dụng trong quá trình chuẩn bị và làm luận văn

Do hạn chế về khả năng tiếp cận các trung tâm lưu trữ của Nhật Bản vàĐài Loan, cũng như khả năng ngôn ngữ hạn chế, công trình chỉ chủ yếu khaithác nguồn tài liệu tiếng Anh và tiếng Việt liên quan tới chủ đề nghiên cứu, cụthể :

- Nguồn tư liệu gốc: Chủ yếu thông qua hồi ký của một số chứng nhânlịch sử trong và ngoài nước

- Nguồn tài liệu thứ cấp: Các sách chuyên khảo, tham khảo và bài báo đãđược xuất bản trong và ngoài nước; các luận văn, luận án có liên quan

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chínhcủa luận văn chia làm 3 chương:

Chương 1 : Những cơ sở cho sự can thiệp của Nhật Bản và Trung Hoa Dân Quốc vào phong trào đấu tranh giành độc lập của Việt Nam vào nửa đầu thế kỷ XX

Chương 2: Quá trình Nhật Bản và Trung Hoa Dân Quốc can thiệp vào phong trào đấu tranh giành độc lập của Việt Nam

Chương 3 : Nhận xét, đánh giá về kết quả của quá trình Nhật Bản và Trung Hoa Dân Quốc can thiệp vào phong trào đấu tranh giành độc lập của Việt Nam

Trang 12

CHƯƠNG 1 NHỮNG CƠ SỞ CHO SỰ CAN THIỆP CỦA NHẬT BẢN VÀ TRUNG HOA DÂN QUỐC VÀO PHONG TRÀO ĐẤU TRANH GIÀNH

ĐỘC LẬP CỦA VIỆT NAM VÀO NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX

1.1 Cơ sở về lợi ích quốc gia dân tộc

Trong số các lý thuyết Quan hệ quốc tế, Chủ nghĩa Hiện thực (Realism)thuộc loại nổi bật nhất Lý thuyết này có ảnh hưởng lớn trong Quan hệ quốc

tế trên cả phương diện lý luận lẫn trong thực tiễn Theo quan điểm Chủ nghĩaHiện thực: để phát triển hơn, con người cần tập hợp trong những cộng đồng

có tổ chức, cộng đồng đó chính là quốc gia Đến lượt mình, chủ nghĩa quốcgia là cái gắn kết cá nhân vào trong quốc gia – dân tộc Trong quốc gia, cónhà nước được thành lập1 để thực hiện các chức năng đối nội và đối ngoại củaquốc gia Nhà nước chính là đại diện của quốc gia trong việc hoạch địnhchính sách đối ngoại và thực hiện các mục tiêu trong Quan hệ quốc tế Vì thếquốc gia – dân tộc chính là chủ thể Quan hệ quốc tế cơ bản và quan trọngnhất Điều đó có nghĩa chỉ có quan hệ giữa các quốc gia mới là Quan hệ quốc

tế Các chủ thể phi quốc gia khác nếu có cũng chỉ là công cụ của quốc gia vàđóng vai trò thứ yếu Quan hệ quốc tế của các chủ thể này nếu có thì cũngchịu chi phối của quan hệ giữa các quốc gia và nhằm thực hiện lợi ích quốcgia trong quan hệ quốc tế mà thôi Đối với mỗi quốc gia, chủ quyền quốc giachính là sự tự do cao nhất tựa như lẽ sống của quốc gia Vì thế, mọi quốc giađều tìm mọi cách đấu tranh để bảo vệ chủ quyền quốc gia của mình Nhànước chính là đại diện của quốc gia trong việc hoạch định chính sách đốingoại và thực hiện các mục tiêu trong quan hệ quốc tế Vì thế, quốc gia – dântộc chính là chủ thể quan hệ quốc tế cơ bản và quan trọng nhất [13; 33-34]

1 Quốc gia ở đây là quốc gia nói chung bao gồm cả các mô hình quốc gia sơ khai có từ thời cổ trung đại chứ không phải mỗi quốc gia theo mẫu hình hiện đại Westphalia từ thời cận hiện đại Sở dĩ phải chú giải điều này vì có quan điểm cho rằng trước năm 1648 chỉ có nhà nước trong các thực thể địa- chính trị chứ chưa phải quốc gia.

Trang 13

Từ cơ sở lý luận Quan hệ quốc tế của của Chủ nghĩa Hiện thực chothấy Lợi ích quốc gia (State’s Interest) là một trong những khái niệm cơ bảntrong quan hệ quốc tế Có thể nói, việc xác định Lợi ích quốc gia dân tộctrong hoạt động đối ngoại là một hoạt động chính trị thường xuyên của tất cảcác nhà nước kể từ khi xuất hiện Lợi ích quốc gia dân tộc bao gồm các mụctiêu chiến lược, đôi khi cả các công cụ thực hiện mục tiêu, mà quốc gia theođuổi trên trường quốc tế Lợi ích quốc gia dân tộc của một nước sẽ chỉ đạocác nguyên tắc, phương châm, chính sách đối ngoại và các hoạt động ngoạigiao của quốc gia đó Hay nói cách khác, chính sách đối ngoại của một quốcgia là tổng hợp các chiến lược, chính sách mà quốc gia đó sử dụng trong quátrình tương tác với các quốc gia khác và các tổ chức quốc tế trên các lĩnh vựcchính trị, quốc phòng, kinh tế, văn hóa và xã hội nhằm đạt được những mụctiêu phù hợp với lợi ích của quốc gia.

Do đó, xác định đúng Lợi ích quốc gia dân tộc chính đáng là yếu tố rấtquan trọng khi hoạch định và triển khai chính sách đối ngoại của quốc gia.Hay nói cách khác, chỉ có quốc gia dân tộc mới làm ra quan hệ quốc tế và cókhả năng quyết định sự vận động của quan hệ quốc tế

Ở mỗi quốc gida, việc hình thành lợi ích quốc gia/ lợi ích dân tộc/ lợiích quốc gia – dân tộc là quá trình lịch sử lâu dài, phức tạp của việc kết hợpcác nhân tố khác nhau như: chính trị, kinh tế, văn hóa, lịch sử, tâm lý, kinhnghiệm…

Trong lịch sử, ngay khi con người bắt đầu xây dựng quan hệ quốc tế,người ta đã nhận thức được lợi ích quốc gia/ lợi ích dân tộc/ lợi ích quốc gia –dân tộc trong chính sách đối ngoại của mỗi quốc gia Tuy nhiên đến tận năm

1935, khái niệm “Lợi ích quốc gia” mới chính thức được sử dụng như một

thuật ngữ khoa học đầu tiên trong giới khoa học Mỹ Cuốn The International

Relations Dictionar xuất bản ở Mỹ đưa ra khái niệm: “Lợi ích quốc gia là

Trang 14

mục tiêu cơ bản và nhân tố quyết định cuối cùng trong việc hoạch định chínhsách đối ngoại Lợi ích quốc gia là khái niệm có tính khái quát hóa cao baogồm những nhu cầu sống còn của quốc gia đó Đó là tự bảo vệ, độc lập, toànvẹn lãnh thổ, an ninh quân sự và thịnh vượng về kinh tế” [9; 24] Tiếp cận vềlợi ích quốc gia/ lợi ích dân tộc/ lợi ích quốc gia – dân tộc, Cựu Thủ tướngAnh Palmerston đã nhận định: “Nước Anh không có kẻ thù vĩnh viễn và đồngminh vĩnh viễn Nước Anh chỉ có lợi ích là vĩnh viễn” [10; 12].

Tại Việt Nam hiện nay có nhiều định nghĩa cũng thể hiện nội hàmtương ứng, tiêu biểu như định nghĩa rằng: là “lợi ích chung của cộng đồngnhững người sống trên một đất nước, có chung nguồn gốc, lịch sử, phong tục,tập quán và phần nhiều còn chung cả tiếng nói, chữ viết” [11; 63] Tuy nhiên,các nhà nghiên cứu Việt Nam có sự phân biệt giữa lợi ích quốc gia, lợi ích

dân tộc, và lợi ích quốc gia - dân tộc Theo cuốn Từ điển Thuật ngữ Ngoại

giao Việt – Anh – Pháp : “Lợi ích dân tộc thường được hiểu là lợi ích của tất

cả mọi người dân của một nước Lợi ích quốc gia được hiểu là lợi ích của giaicấp cầm quyền đại diện cho quốc gia Lợi ích quốc gia - dân tộc được hiểutheo hướng tổng hợp cả hai khái niệm trên” [12; 115] Thông qua những kháiniệm trên và với tình hình thực tiễn ở Việt nam, có thể nhận thấy rằng lợi íchquốc gia/ lợi ích dân tộc/ lợi ích quốc gia - dân tộc thường được xem là cóchung nội hàm và có thể sử dụng thay thế lẫn nhau trong nhiều trường hợp

Để lý giải lý do tại sao Nhật Bản và Trung Hoa Dân Quốc đều can dự ởmột mức độ ít nhiều khác nhau vào tình hình Việt Nam thời điểm đó, chúng takhông thể không đánh giá xem xét vấn đề này từ góc độ những lợi ích quốcgia dân tộc của hai cường quốc khu vực này

Đông Dương nói chung và Việt Nam nói riêng vào thời điểm đó của lịch

sử vốn là vùng đất thuộc quyền bảo hộ của Pháp Điều 1 hiệp ước Patenôtre ghi

rõ như sau:

Trang 15

“Nước An Nam thừa nhận và chấp thuận nền bảo hộ của nước Pháp Nước Pháp sẽ đại diện cho nước An Nam trên mọi quan hệ ngoại giao Những người dân An Nam nằm ở nước ngoài đều đặt dưới quyền bảo

hộ của nước Pháp”.

Điều khoản này cho tới giai đoạn mà luận văn này khảo cứu vẫn cònnguyên giá trị Như vậy, về mặt lý thuyết, việc Nhật Bản hay Trung Hoa DânQuốc giúp đỡ hay tác động vào phong trào yêu nước của nhân dân ta chốngPháp là trái với thông lệ quốc tế đương thời Cũng vì lý do này, sự can dự củangười Nhật và người Trung Hoa đối với phong trào giải phóng dân tộc củanước ta là ngấm ngầm, không thực sự công khai, bởi hai nước này khôngmuốn gây ra sự cố ngoại giao với phía Pháp Tuy nhiên, các quan chức củahai nước này trong những lần liên lạc với các chí sĩ yêu nước Việt Nam đềubày tỏ sự đồng tình của họ trước nguyện vọng của nhân dân Việt Nam, và tỏ

ra không hài lòng với sự cai trị của người Pháp ở Đông Dương vì nhiều lý do.Trong những lý do ấy, việc sự có mặt của Pháp ở Đông Dương khiến cho hainước này bị hạn chế phạm vi ảnh hưởng, thậm chí bị khống chế, có thể xem làmột trong những nguyên nhân chính khiến hai nước này quyết định can dự ởmột chừng mực nhất định vào phong trào yêu nước kháng Pháp của ngườiViệt

Việt Nam - nằm ở rìa phía Đông của bán đảo Đông Dương, phía Bắcgiáp Trung Quốc, phía Tây Nam giáp Vịnh Thái Lan, phía Tây giáp Lào vàCampuchia, phía Đông giáp với biển Đông rộng lớn Với vị trí nằm ngay cửangõ ra vào của khu vực Đông Nam Á, nơi tiếp giáp của các tuyến đường biểngiữa Nam Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, là một tiền đồn quan trọng tạikhu vực Nam Thái Bình Dương Việt Nam có vai trò quan trọng trong các kếhoạch khu vực và toàn cầu của các nước lớn trong khu vực Đông Á Nắm giữ

Trang 16

Việt Nam sẽ là bước đệm để nắm giữ toàn bộ Đông Dương tiến tới kiểm soát

cả khu vực Đông Nam Á đất liền giàu tài nguyên và màu mỡ

Nhìn vào thực tiễn lịch sử của Việt Nam trong suốt quá trình khai thácthuộc địa của tư bản Pháp, Chính phủ Pháp luôn xem Việt Nam là “cái kho vôhạn”, nền kinh tế của Việt Nam từ nông nghiệp đến công thương nghiệp chỉnhằm phục vụ một mục đích duy nhất là tăng ngân quỹ cho chính quốc, vựcdậy nước Pháp sau thất bại nặng nề của Chiến tranh thế giới thứ nhất Và thực

tế là các chính sách kinh tế thời chiến mà Pháp áp dụng tại Việt Nam đã manglại cho nước Pháp chính quốc nguồn lợi khổng lồ Đông Dương trong đó cóViệt Nam luôn được xem là “đóa hoa thuộc địa đẹp nhất”, “niềm tự hào” của

Tư bản Pháp

Bên cạnh nguồn tài nguyên dồi dào và nhân công rẻ mạt, một lợi íchlớn hơn mà các nước lớn có được nếu làm chủ Việt Nam và toàn cõi ĐôngDương là hệ thống vận chuyển hàng hóa đường sắt được xem là hiện đại nhấtthời bấy giờ do người Pháp xây dựng cùng với quá trình khai thác thuộc địa

kể từ năm 1898 Tuyến xe lửa này không chỉ trải dài trong lãnh thổ Việt Nam

mà còn kéo dài toàn Đông Dương và xuyên đến tỉnh Vân Nam (Trung Quốc).Trong thời đại mà việc vận chuyển hàng hóa và phương tiện chiến tranh cóquá nhiều bất trắc và mối nguy do ảnh hưởng của cuộc chiến tranh đang diễn

ra mang lại, hệ thống vận chuyển đường sắt trải dài tại Việt Nam sẽ là conđường vận chuyển hàng hóa an toàn và hiệu quả nhất khu vực Đông Nam Á

Khi Nhật Bản phát động Chiến tranh Thái Bình Dương, Đông Dươnggần như trở thành ngọn núi lửa trực chờ phun trào Đặc biệt là sau khi quânđội Anh rút lui khỏi Hồng Kong, Malaysia, Singapore và Miến Điện theo sau

đó là sự chiến đóng của quân Nhật, Đông Dương hậu chiến không chỉ là vấn

đề của riêng Đông Dương mà nó đã mở rộng ra là vấn đề quyền lợi và ảnhhưởng của các nước tại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương

Trang 17

Trong các kế hoạch chiến tranh của mình, cả Nhật Bản và Trung HoaDân Quốc dù khác nhau về chiến tuyến nhưng đều nhắm đến Việt Nam như là

cơ sở để đạt được lợi ích quốc gia, thể hiện vị thế của mình trên trường quốc

Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc với sự thất bại của phe liên minhĐức – Áo – Hung, Thổ Nhĩ Kỳ, Bulgaria Để giải quyết hậu quả chiến tranh

và lập lại trật tự thế giới mới được gọi là trật tự Versailles – Washington,hàng loạt Văn kiện, Hoà ước và các Tuyên bố,…được ký kết với tham vọng

và ý đồ của các nước lớn Những kế hoạch của Mỹ, Anh, Pháp hầu như chiphối việc xây dựng lại thế giới tư bản sau chiến tranh, Nhật Bản và Italia cũngđưa ra những yêu sách của riêng mình Trước tác động của cuộc khủng hoảng

Trang 18

kinh tế thế giới 1929 – 1933, vào cuối những năm 30 của thế kỷ XX, quan hệquốc tế trở nên vô cùng phức tạp và căng thẳng Sự đan xen, chuyển hoá mâuthuẫn giữa các nước tư bản hết sức gay cấn hình thành nên hai khối đế quốcđối lập nhau Khối Phát xít do Đức, Italia, Nhật Bản cầm đầu và khối đế quốc

do Anh, Pháp, Mỹ lãnh đạo đều tích cực và ráo riết chạy đua vũ trang chuẩn

bị chiến tranh Mặt khác, cả hai khối nước tư bản trên mặc dù mâu thuẫn nhau

về vấn đề lợi ích tranh giành lãnh thổ, thống trị thế giới nhưng đều thống nhấtvới nhau trong mục tiêu chống Liên Xô, tiêu diệt Nhà nước xã hội chủ nghĩađầu tiên trên thế giới Các nước Anh – Pháp – Mỹ muốn giữ nguyên trật tựthế giới mới Họ lo ngại phát xít nhưng vẫn thù ghét cộng sản Vì thế Anh,Pháp đã thi hành chính sách hai mặt Một mặt hợp tác với Liên Xô để tăngcường sức mạnh cho mình; mặt khác, họ thoả hiệp và nhượng bộ phát xít đểtránh chiến tranh về phía mình và đẩy chiến tranh về phía Liên Xô Liên Xôcoi chủ nghĩa phát xít là kẻ thù nguy hiểm nhất, nên đã liên kết với các nước tưbản dân chủ để chống phát xít và nguy cơ chiến tranh Quan hệ quốc tế thờiđiểm này diễn ra cuộc đấu tranh chằng chéo, phức tạp và hết sức căng thẳnggiữa ba lực lượng trong quan hệ quốc tế: Liên Xô, khối Đức – Italia – Nhật Bản

và khối Anh – Pháp – Mỹ

Từ những mâu thuẫn trên, để phân chia lại thế giới cho phù hợp vớitương quan lực lượng, chiến tranh thế giới thứ hai đã bùng nổ từ tháng 9/1939đến tháng 8/1945 Đây là cuộc chiến tranh có qui mô lớn nhất trong lịch sửnhân loại Chiến tranh lan rộng hầu khắp các châu lục và diễn ra trên nhiều mặttrận: Mặt trận Tây Âu (Mặt trận phía Tây), Mặt trận Xô – Đức (Mặt trận phíaĐông), Mặt trận Bắc Phi, Mặt trận châu Á – Thái Bình Dương Ngoài ra, ở cácnước bị phát xít chiếm đóng, nhân dân liên tục đấu tranh chống chiến tranh vàchống chủ nghĩa phát xít nhằm bảo vệ hoà bình thế giới Chiến tranh thế giới

Trang 19

thứ hai trải qua những giai đoạn gay go, quyết liệt, với những bức tranh đa sắcmàu cùng những chuyển biến phức tạp trong quan hệ quốc tế [14, 127]

1.2.2 Tình hình khu vực

Đối với Châu Á, Bồ Đào Nha là nước Châu Âu đầu tiên xây dựng đếquốc thuộc địa của mình ở các nước Châu Á vào cuối thế kỷ XV đầu thế kỷXVI, còn Tây Ban Nha xâm lược thuộc địa chủ yếu ở Châu Mỹ Nhưng dầndần Bồ Đào Nha bị suy yếu, các nước Tư bản ở Châu Âu trỗi dậy (Hà lan,Anh, Pháp) đã canh tranh mạnh mẽ các vùng đất thuộc địa rộng lớn của BồĐào Nha lần lượt rơi vào các nước đó Indonesia là nước đầu tiên ở Châu Á bịthực dân phương Tây đô hộ vào thế kỷ XVI, lúc đầu là Bồ Đào Nha sau đó là

Hà Lan rồi đến Anh (1811) nhưng đến năm 1814 Anh trả lại cho Hà Lan Từcuối thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XIX, nhất là từ nửa sau thế kỷ XIX cácnước tư bản phương Tây đã đẩy mạnh hơn nữa việc xâm chiếm thuộc địa ởcác nước Châu Á Đế quốc anh chiếm Ấn Độ, Mã Lai, Miến Điện; Phápchiếm ba nươc Đông Dương, Xiêm trở thành nước “đệm” giữa các nướcthuộc địa Anh và Pháp và do sự suy tàn đất nước dưới triều đại của các vuaRama IV và Rama V vào cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX, nên Xiêm giữđược độc lập về chính trị, song vẫn bị phụ thuộc vào các nước đế quốc trướchết là Anh Trung quốc là một nước rộng lớn, giàu tài nguyên đông dân nên

đã trở thành miếng mồi chia xẻ của nhiều đế quốc thực dân, bao gồm Đức,Pháp, Nga, Nhật

Đến cuối thế kỷ XIX, Nhật Bản sau những đụng độ với phương Tây đãsớm nhận thức sức mạnh của nền sản xuất công nghiệp, cử kỹ thuật hiện đại

và sức công phá của những loại vũ khí mới Là một dân tộc có tri thức, giàu

tư duy thực tiễn, người Nhật đã quyết tâm từ bỏ những định chế cũ để vươntới lựa chọn cho mình một định hướng phát triển phù hợp Các nhà lãnh đạo

thời Minh Trị đưa ra chiến lược dựa trên khẩu hiệu bốn chữ fukukoku kyohei

Trang 20

“phú quốc/cường binh”, vận dụng Tây học để xây dựng quốc gia cường thịnh

và từ đó tạo ra một lực lượng hải quân và quân đội hiện đại Lịch sử đã chứng

kiến sự vươn lên kỳ diệu của Nhật Bản sau mấy thập kỷ tiến hành duy tântrong khi đó hầu hết các nước Đông Nam Á đã thất bại trong cuộc đấu tranh

vũ trang và đánh mất độc lập vào tay thực dân phương Tây Đầu thế kỷ XXNhật Bản tiếp tục gây tiếng vang với chiến thắng trước Nga Nguyên nhândẫn đến chiến tranh Nhật – Nga là sự bành trướng ngày càng gia tăng của Nga

ở Mãn Châu và Triều Tiên Sau khi giành được những lợi thế ban đầu, ngày10/2/1904, Thiên hoàng chính thức tuyên chiến với Nga Ngày 27/5/1905,hạm đội Nga bị hải quân Nhật Bản phục kích và đánh bại hoàn toàn ở eo biểnTsushima (giữa Nhật Bản và Triều Tiên), cuộc chiến kết thúc Theo Hòa ướcPortsmouth ký vào ngày 5/9/1905, Nhật Bản giành được quyền bá chủ ở TriềuTiên và có ưu thế lớn ở Đông Bắc Trung Quốc Ngoài ra, Nga còn phải cắtcho Nhật miền Nam bán đảo Sakhalin (từ vĩ tuyến 50 trở xuống) và Nhật cóquyền đánh cá ở các vùng biển Viễn Đông Lần đầu tiên trong lịch sử cận đại,

một quốc gia châu Á đã đánh bại được một cường quốc châu Âu “…Nhật

Bản đã trả thù được Nga, tự tin và nhận thức về sứ mệnh của mình, là kiểu mẫu của văn minh hóa phương Tây, là chiến thắng của châu Á trước phương Tây” [15] Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ, tranh thủ các cường quốc

phương Tây bận đối phó với chiến tranh bùng nổ ở châu Âu, Nhật Bản tiếptục mở rộng cuộc chiến tranh xâm lược Trung Quốc và Viễn Đông, thực sựtrở thành một cường quốc của khu vực Chính phủ Nhật Bản công bố kếhoạch xây dựng “Khu vực thịnh vượng chung Đại Đông Á” Quân Nhật tiếnvào đóng quân và xây dựng căn cứ quân sự Bắc Kỳ (Việt Nam) để phục vụcho Nhật tiến công vào phía Nam Trung Quốc, chuẩn bị xâm lược khu vựcĐông Nam Á

Trang 21

Cũng trong giai đoạn này, đến giữa thế kỷ 19, Trung Quốc bước vàogiai đoạn khủng hoảng trầm trọng, nền thống trị Mãn Thanh đã tạo ra một xãhội phong kiến lạc hậu, bảo thủ, tha hóa, thấp kém hơn nhiều so với mặt bằngthế giới lúc bấy giờ Lực lượng sản xuất chính của xã hội là nông dân bị ápbức, bóc lột nặng nề Họ không có ruộng hoặc có rất ít Phần lớn ruộng đấttập trung trong tay bọn địa chủ Nông dân gánh vác tô thuế nặng nề Thườngthường địa chủ thu 50-80% thu hoạch Thương nhân cho vay nặng lãi cũng lợidụng lúc nông dân gặp khó khăn như thiên tai, sưu thuế cao để bóp nặn nôngdân Thuế má, phu phen tạp dịch là gánh nặng đè lên cuộc sống người dân.Chính vì vậy phong trào nông dân nổi dậy liên tục ở khắp nơi Mặc dù bị thấtbại song các các phong trào nổi dậy này đã làm cho chính quyền Mãn Thanhcàng trở nên kiệt quệ, lực lượng quân đội đã dần dần tha hoá, không còn đủsức chiến đấu Trung Quốc lúc này giống như một bàn tiệc đã dọn sẵn chờ đợiphương Tây đến xâm lược Chính quyền Mãn nhà Thanh đầu hàng năm 1842đánh dấu một tai họa mang tính quyết định và nhục nhã của Trung Quốc.Hiệp ước Nam Kinh, buộc Trung Quốc phải trả các khoản bồi thường lớn,cho phép các thương gia Châu Âu đi lại không hạn chế tại các cảng, HồngKông bị nhượng cho Anh…Đây là mốc mở đầu quá trình biến Trung Quốc từmột nước phong kiến độc lập trở thành một nước thuộc địa nữa phong kiến.Tình trạng này cho thấy sự tồi tệ, suy tàn đến đỉnh điểm của chính phủ nhàThanh, là nguyên nhân khiến cho nhiều cuộc khởi nghĩa chống triều đình nổ

ra như Khởi nghĩa Thái Bình Thiên Quốc, phong trào Duy Tân, phong trào

Nghĩa Hoà Đoàn Tới đầu thế kỷ 20, hàng loạt các vụ náo động dân sự xảy

ra và ngày càng phát triển Từ Hi và Hoàng đế Quang Tự cùng mất năm 1908,

để lại một khoảng trống quyền lực và một chính quyền trung ương bất

ổn Phổ Nghi, con trai lớn nhất của Thuần Thân Vương, được chỉ định làmngười kế vị khi mới hai tuổi, và Thân Vương trở thành người nhiếp chính

Trang 22

Mâu thuẫn của nhân dân Trung Quốc với đế quốc phong kiến ngày càngmạnh mẽ, đỉnh điểm là việc hính quyền nhà Thanh trao quyền kiểm soátđường sắt cho Đế Quốc, bán rẻ quyền lợi dân tộc, nhân cơ hội đó Đồng MinhHội phát động đấu tranh vào ngày 29-12-1911 Chính phủ Trung Hoa DânQuốc chính thức thành lập năm 1912 tại Nam Kinh, với Tôn Trung Sơn là Đạitổng thống lâm thời Trung Hoa Dân Quốc theo Hiến pháp lâm thời Cùng thời

đó, cùng trên lãnh thổ Trung Quốc, có một loạt các chính phủ độc lập khácđược hình thành ở các địa phương, ly khai với chính quyền Bắc Dương, đôikhi chống đối lẫn nhau Trong số đó, trội lên chính phủ ly khai do TrungQuốc Quốc dân Đảng lãnh đạo, ban đầu được thành lập như một chính phủquân sự đối thủ dưới sự bảo trợ của Tôn Trung Sơn tại Quảng Châu vàonăm 1917 Sau khi Tôn Trung Sơn qua đời năm 1925, Tưởng Giới Thạch lãnhđạo Bắc phạt (1926-1928) để thống nhất đất nước và thành lập thủ đô ở NamKinh Chính phủ của Tưởng tuyên bố dựa trên nền tảng Tam dân chủ nghĩa và

kế thừa chính phủ Bắc Dương, mở rộng dân chủ, kết hợp tham chính củanhiều đảng phái chính trị hơn, bao gồm cả Đảng Cộng sản Trung Quốc, lậpHiến pháp năm 1931 Trên thực tế, chính phủ của Tưởng tuy có được sự côngnhận ngoại giao nhưng không kiểm soát toàn bộ lãnh thổ Trung Quốc Bêncạnh những chính phủ địa phương của các quân phiệt cát cứ, chính phủTưởng còn bị các đảng phái đối lập công kích là chính quyền độc tài độcđảng Nổi lên có chính quyền Xô viết ly khai do đảng Cộng sản thành lập.Trong thời kỳ Chiến tranh Trung-Nhật lần thứ hai (1937-1945), một loạtchính phủ bù nhìn do người Nhật lập nên cũng mang danh nghĩa Chính phủTrung Hoa Dân quốc Để phân biệt, đương thời chính quyền của Tưởng đượcgọi là Chính phủ Quốc dân

Trong giai đoạn Chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật Bản thuộc phe Trụccòn Trung Hoa Dân Quốc thì luôn nhận mình là đồng minh quan trọng của

Trang 23

Hoa Kỳ tại khu vực Đông Á Mặc dù khác nhau về chiến tuyến nhưng cả hainước này đều nhắm đến Việt Nam trong các kế hoạch cả trong và sau cuộcchiến của quốc gia mình.

Xét trong trường hợp của Chính phủ Nhật Bản, trước khi sự quan tâmcủa Nhật Bản đối với Đông Dương gia tăng vì vai trò là cơ sở cung ứng choChính phủ Tưởng Giới Thạch, quan hệ giữa Nhật Bản với khu vực này hầunhư chỉ tồn tại trên lĩnh vực kinh tế từ những chuyến thương thuyền củathương nhân Nhật Bản đến Đàng Trong Việt Nam Khi Nhật Bản bắt đầu tấncông Trung Quốc, Chính phủ Nhật Bản bắt đầu đặt Đông Dương vào tầmngắm Chiến tranh thế giới thứ hai bắt đầu, Nhật Bản đã xác định rõ hai mụctiêu quan trọng đối với Đông Dương trong đó có Việt Nam đó là:

Thứ nhất, ngăn chặn sự tiếp viện từ bên ngoài đến Trung Hoa (cụ thể làHoa Kỳ) bằng tuyến đường sắt Hải Phòng - Côn Minh, tiến đến dùng chínhtuyến xe lửa này để thâm nhập vào Nam Trung Hoa

Thứ hai, là mục tiêu dài hạn mà Chính phủ Nhật hướng đến, loại bỏ sựảnh hưởng của các nước tư bản phương Tây ra khỏi các thuộc địa tại Đông Nam

Á nhằm thực hiện chính sách “Đại Đông Á” và thiết lập khu vực Thịnh vượngchung của Nhật Bản

Trong chính sách dài hạn của Chính phủ Nhật Bản, nắm giữ Việt Nam

là bước khởi đầu để Nhật Bản xây dựng căn cứ quân sự nhằm dễ dàng đàn ápcác phong trào kháng Nhật đang diễn ra âm ỉ tại Trung Hoa Bên cạnh đó, nhờvào vị trí địa lý thuận lợi của Việt Nam, Nhật Bản có thể tiến quân cướp lấycác thuộc địa của Anh, Mỹ và hạn chế quyền lực của các nước này tại khuvực Châu Á - Thái Bình Dương Cùng với việc thành lập Mãn Châu Quốc,Chính sách Đại Đông Á của Nhật Bản sẽ biến Nhật Bản trở thành nước nắmquyền làm chủ tại khu vực Châu Á, loại bỏ sức ảnh hưởng của các nước tưbản phương Tây

Trang 24

Các chính sách này của Nhật Bản đã được triển khai bằng các hànhđộng cụ thể Lợi dụng sự thất bại của nước Pháp tại chiến trường Châu Âu,Nhật Bản bắt đầu “gõ cửa Đông Dương” Yêu sách đầu tiên của Nhật Bản làyêu cầu Pháp đình chỉ việc vận chuyển phương tiện chiến tranh của Hoa Kỳ

từ cảng Hải Phòng lên vùng Hoa Nam cho quân đội Trung Hoa Dân Quốc2 vàphải đóng cửa biên giới Việt - Trung3, Toàn quyền Pháp lúc đó, TướngCatroux, dù không muốn, buộc phải đáp ứng, bởi lẽ, ông ta không thể trôngchờ gì từ sự trợ giúp từ chính quốc xa xôi lúc này đang đối mặt với sức mạnhcủa Phát xít Đức Từ giữa tháng 6/1940, sự thỏa hiệp dần dần của Toàn quyềnĐông Dương với những yêu sách của Phát xít Nhật khiến Đông Dương ngàycàng trở thành chiếc cầu nối quan trọng của Quân đội Nhật trên đường tiếnquân xuống phía Nam Hiệp ước Pháp - Nhật được ký ngày 29/7/1940 nhằm

mở đường cho quân đội Nhật tiến vào Đông Dương đã thành công biến ĐôngDương trở thành một trong những căn cứ chiến lược quan trọng của Chínhphủ Nhật chuẩn bị cho sự phát động cuộc chiến tranh Thái Bình Dương(7/12/1941) đồng thời, miền Nam Việt Nam sẽ trở thành nguồn cung cấpnguyên vật liệu cho nền công nghiệp quân sự của Nhật Bản

Mặc dù trên thực tế, trong những năm 1942 - 1943, Nhật Bản mới làngười làm chủ Việt Nam, tuy nhiên, Chính phủ Nhật nhận thấy rằng tình hình ởđây đang ổn định và không cần thiết phải có sự thay thế chính quyền từ tayPháp sang Nhật, điều này sẽ khiến Nhật rãnh tay tập trung giao chiến ở cácchiến trường khác Người Nhật tin rằng đến cuối cùng họ sẽ dành thắng lợitrong cuộc chiến với phe Đồng Minh, tình hình chính trị ở đây hiễn nhiên sẽ

2 Tuyến giao thông đường xe lửa Hà Nội - Hải Phòng - Vân Nam là con đường vận chuyển hàng hóa nhanh và chắc chắn nhất so với tuyến đường sắt qua Miến Điện Con đường này dài 850km, đoạn đường chạy qua Việt Nam dài 384km Tuyến đường này được đặc nhượng cho một công ty tư nhân Pháp thành lập năm 1901, nhưng đến năm 1921 mới bắt tay vào xây dựng Đường sắt Hải Phòng - Vân Nam là tuyến đường mang lại nhiều lợi nhuận nhất cho tư bản Pháp trong suốt quá trình thống trị tại Đông Dương.

3 Nhật Bản tăng thêm ba sư đoàn hải quân ở Vịnh Bắc Bộ, đồng thời đưa quân đội ở Nam Trung Quốc tiến sát biên giới Việt - Trung chờ đợi cơ hội tràn qua.

Trang 25

tuân theo sự sắp xếp của họ Dù rằng vẫn tồn tại khả năng Pháp sẽ phá bỏ sự ổnđịnh ngoài mặt này và ngã về phe Đồng Minh nhưng Chính phủ Nhật tin tưởngrằng với sức mạnh quân sự của mình, việc ngăn chặn sự phản kháng của quânPháp tại Việt Nam là nằm trong tầm kiểm soát

Trong khi tại chiến trường Châu Âu, lực lượng Đồng minh đang chiếnđấu vì một mục tiêu chung là chiến thắng quân Phát xít thì tại chiến trườngViễn đông tình hình lại khác biệt, bỡi lẽ, mục đích của các nước Đồng minhtại chiến trường này là có sự xung đột về mặt lợi ích Tại Trung Quốc, quânNhật đang “kiểm soát hết các đường giao thông trên đất liền, ngoài biển vàhầu hết các khu thành thị - công nghiệp nhưng không kiểm soát được cácnông thôn rộng lớn chung quanh Ở đó đang diễn ra cuộc chiến tranh phân liệtgiữa các lực lượng gọi là Quốc gia của Tưởng Giới Thạch và những ngườiCộng sản của Mao Trạch Đông” [17; 8] Tình hình nội chiến phức tạp cùngvới việc phải chống lại các cuộc tấn công của quân Nhật khiến nội lực củaChính quyền Trung Hoa Dân Quốc dần cạn kiệt Tuy vậy, với vai trò là “đồngminh thân cận” của Hoa Kỳ tại chiến trường Viễn Đông, Tưởng Giới Thạchmuốn dựa vào Hoa Kỳ để thay thế Pháp nắm quyền làm chủ Đông Dương nóichung và Việt Nam nói riêng Mặc dù tuyên bố không có tham vọng về lãnhthổ với Việt Nam nhưng thực chất vấn đề Việt Nam luôn được chính quyềnTưởng Giới Thạch coi là một món hàng, một điều kiện đặc biệt để trao đổi vàmặc cả, giành quyền lợi với các nước lớn, nhất là Pháp

Trên thực tế, giữa Chính quyền Tưởng Giới Thạch và Pháp đã tồn tạinhiều vấn đề cần phải giải quyết Đó là các tô giới, nhượng địa ở Thiên Tân,Thượng Hải, Vũ Hán, Sa Điện, Quảng Châu Loan, Côn Minh mà Pháp đãchiếm của Trung Quốc từ những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Đặcbiệt là vấn đề kiểm soát tuyến đường xe lửa Vân Nam, đây là con đườnghuyết mạch cực kỳ quan trọng đối với các tỉnh miền Nam Trung Quốc, nhất là

Trang 26

tỉnh Vân Nam Trước khi quân Nhật vào Đông Dương, từ năm 1938 - 1940Pháp đã cho Tưởng sử dụng tuyến đường này để vận chuyển hàng viện trợquân sự, bán than Bên cạnh đó, các vấn đề khác cũng không kém phần quantrọng như vấn đề quyền lợi của 50 vạn Hoa kiều sống ở Đông Dương, vấn đềquyền lãnh sự tài phán của Pháp trên đất Trung Quốc.

Một nguyên nhân khác khiến Trung Hoa Dân Quốc nhắm đến ViệtNam là sự phát triển ngày một mạnh mẽ của một tổ chức gọi là Mặt trận ViệtNam Độc lập Đồng minh (gọi tắt là Việt Minh), một tổ chức liên kết các tầnglớp nhân dân, đảng phái cách mạng và các đoàn thể yêu nước trong công cuộcđấu tranh chống lại Pháp - Nhật, được Chính phủ Tưởng Giới Thạch nhậnđịnh là một tổ chức của những người theo chủ nghĩa cộng sản Trong khitrong nước, cuộc nội chiến giữa Trung Hoa Dân Quốc của Tưởng Giới Thạch

và Đảng Cộng sản Trung Quốc của Mao Trạch Đông luôn trong tình trạngcăng thẳng, Tưởng Giới Thạch hiển nhiên không mong muốn có thêm một tổchức cộng sản nữa xuất hiện ngay tại phía Nam, mở rộng sức mạnh của chủnghĩa cộng sản và uy hiếp trực tiếp đến lãnh thổ của mình

Trong những năm Chiến tranh thế giới thứ Hai, với sự ủng hộ của Hoa

Kỳ, thế lực và tiếng nói của Chính phủ Tưởng Giới Thạch ngày càng đượckhẳng định và củng cố trên trường quốc tế Từ một quốc gia nửa phong kiến

và chịu sự cô lập về ngoại giao từ các chính sách bất bình đẳng buộc phải kýgiữa triều đình Mãn Thanh với liên minh tám nước, nhờ sự liên kết với cáccường quốc phương Tây, Chính phủ Tưởng Giới Thạch đã vươn lên đạt được

vị trí là một trong năm cường quốc (đứng trên cả Pháp) Đồng thời, TrungHoa Dân Quốc được định vị để trở thành nước lĩnh xướng vai trò chỉ huy mớitại khu vực Châu Á Toàn bộ các hoạt động quân sự ở chiến trường Trung

Trang 27

Quốc và Đông Dương được đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của đích thân TưởngGiới Thạch và tướng Mỹ Wedermeyer.4

Trong Hội nghị Cairo (tháng 11/1943), Hoa Kỳ chính thức giao chiếntrường Đông Dương cho Tưởng Giới Thạch dưới hình thức ủy trị quốc tế5 và

đề xuất này nhận được sự tán thành từ phía Stalin Dĩ nhiên, Tưởng luôn luôntán thành và ủng hộ kế hoạch ủy trị quốc tế của Tổng thống Hoa Kỳ vì kếhoạch đó hoàn toàn phù hợp với mưu đồ và tham vọng của Tưởng đối vớiĐông Dương trong việc tranh giành quyền lợi với nước Pháp

Có thể thấy rằng, dù khác biệt về chiến tuyến nhưng cả Nhật Bản vàTrung Hoa Dân Quốc đều nhắm đến việc thay thế Pháp nắm quyền làm chủĐông Dương nói chung và Việt Nam nói riêng để phục vụ cho những kếhoạch hậu chiến của mình Dù nằm trong kế hoạch của bên nào thì đối vớiViệt Nam, việc tiếp tục bị đặt dưới một chính quyền bảo hộ là điều khó có thểtránh khỏi, chỉ là có thể sẽ khác nhau về mặt hình thức mà thôi

1.2.3 Tình hình Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX

Thế giới những năm cuối thế kỷ 19, chủ nghĩa tư bản phát triển lên giaiđoạn chủ nghĩa đế quốc Cùng với nó là việc gây chiến tranh để mở rộng thịtrường, vơ vét tài nguyên thiên nhiên của thuộc địa Việt Nam thuộc ĐôngDương là con mồi béo bở của chủ nghĩa đế quốc

Từ đầu thế kỷ 19, chủ nghĩa tư bản phương Tây trong đó có thực dânPháp, đã dòm ngó, xâm lược nước ta, mở đầu bằng việc khai thông buôn báo

và truyền giáo

Năm 1958, thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta Vua quân triềuđình nhà Nguyễn trong bước đầu hàng chúng Đến năm 1884 triều đình nhà

4 Tham mưu trưởng chiến trường Trung Hoa trong cuộc chiến tranh Thái Bình Dương

5 Kể từ năm 1943 trở đi, Tổng thống Hoa Kỳ Roosevelt luôn muốn đặt Đông Dương dưới cái gọi là chế độ ủy trị quốc tế tương tự như chế độ ủy trị của Hội Quốc liên Nước Pháp sẽ không có mặt trong Ủy ban Bảo trợ mà Hoa Kỳ định hướng và quyền tập trung cũng như quyết định tương lai của Đông Dương sẽ thuộc về Hoa Kỳ Sau này, Tổng thống Roosevelt đã lựa chọn đồng minh thân cận tại khu vực Viễn Đông - Trung Hoa Dân Quốc để thay thế mình đứng đầu ủy ban này

Trang 28

Nguyễn đã kí hiệp ước dâng nước ta cho Pháp Từ đó Việt Nam trở thànhthuộc địa của thực dân Pháp và dưới chế độ thống trị của thực dân Pháp vàtay sai xã hội Việt Nam đã có sự biến đổi mạnh mẽ.

Chính sách thuộc địa của Pháp ở Việt Nam là thực hiện chuyên chế vềchính trị, kìm hãm nô dịch về văn hoá, bóc bột nặng nề về kinh tế nhằm đemlại lợi ích tối đa cho bọn tư bản lũng đoạn Pháp

Về chính trị chúng thi hành chính sách cai trị chuyên chế, mọi quyềnhành thực tế đều nằm trong tay người Pháp, vua quan nhà Nguyễn chỉ là bùnhìn

Về kinh tế tư bản Pháp không phát triển công nghiệp nước ta mà chỉ

mở một số ngành trực tiếp phục vụ cho lệ thống trị và khai thác tài nguyên đểcung cấp nguyên liệu cho nền công nghiệp Pháp chính sách độc quyền kinh tếPháp đã biến Việt Nam thành thị trường của chính quốc, mà vơ vét tài nguyênbóc lột nhân công rẻ mạt Bên cạnh sự bóc lột nhân công và cướp đoạt tàinguyên đất đai bọn thực dân Pháp còn duy trì chế độ phong kiến để giúpchúng bóc lột địa tô, lợi tức và các hình thức thuế khoá nặng nề

Về văn hoá chúng ngăn chặn các luồng văn hoá các tư tưởng tiến bộ dunhập vào Việt Nam, mặt khác khuyến khích các tệ nạn xã hội phát triển, đầuđộc thanh niên Việt Nam bằng rượu cồn và thuốc phiện, thực thi chính sáchngu dân để dễ bề cai trị

Hệ quả của những chính sách cai trị tàn bạo của thực dân Pháp là làmcho kết cấu giai cấp, thái độ chính trị của các giai tầng trong xã hội Việt Namthay đổi căn bản, các mâu thuẫn xã hội ngày càng trở nên sâu sắc mâu thuẫngiữa nhân dân, chủ yếu là nông dân với giai cấp địa chủ phong kiến chưađược giải quyết thì mâu thuẫn giữa dân tộc ta với bọn đế quốc Pháp thống trị

và phong kiến tay sai lại phát sinh Lịch sử đòi hỏi cần phải giải quyết nhữngmâu thuẫn đó Đó cũng chính là nguyên nhân dẫn đến sự xuất hiện và phát

Trang 29

triển của ba khuynh hướng đấu tranh nhằm giải phóng dân tộc liên tiếp nhauxảy ra từ cuối thế kỷ XIX đến nửa đầu thế kỷ XX.

Phong trào yêu nước theo khuynh hướng phong kiến:

Tiêu biểu cho khuynh hướng này là phong trào Cần Vương (1885 –1896) do vua Hàm Nghi và cụ Tôn Thất Thuyết lãnh đạo, hoạt động tại Bắc

Kỳ và Trung Kỳ Ngày 13/7/1885, vua Hàm Nghi xuống chiếu Cần Vương.Phong trào Cần Vương phát triển mạnh ra nhiều địa phương ở Bắc kỳ, Trung

kỳ và Nam kỳ Ngày 1/11/1888, vua Hàm Nghi bị Pháp bắt nhưng phong tràovẫn tiếp tục phát triển cho đến năm 1896 mới kết thúc Liên tiếp các cuộckhởi nghĩa đã nổ ra trong thời kỳ này:

-Khởi nghĩa Ba Đình (1881-1887) do Phạm Bành và Đinh Công Tránglãnh đạo, diễn ra tại Thanh Hóa

-Khởi nghĩa Bãi Sậy (1883-1892) do Nguyễn Thiện Thuật lãnh đạo,diễn ra ở các tỉnh Hải Dương, Hải Phòng, Hưng Yên, Thái Bình

-Khởi nghĩa Hương Khê (1885-1896) do Phan Đình Phùng và CaoThắng lãnh đạo, diễn ra ở địa bàn Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Bình, HàTĩnh

-Khởi nghĩa nông dân Yên Thế (1885 – 1913) do Hoàng Hoa Thám vàLương Văn Nắm lãnh đạo, diễn ra tại Bắc Giang Khởi nghĩa đã đánh thắngPháp nhiều trận và gây cho chúng nhiều khó khăn thiệt hại nhưng đến năm

1913 thì bị dập tắt

Thất bại của các phong trào trên đã chứng tỏ hệ tư tưởng phong kiếnkhông đủ điều kiện để lãnh đạo phong trào yêu nước giải quyết thành côngnhiệm vụ dân tộc Việt Nam.)

Phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản:

Trang 30

Đầu thế kỷ XX, phong trào yêu nước dưới sự lãnh đạo của tầng lớp sĩ phu tiến bộ chịu ảnh hưởng của tư tưởng dân chủ tư sản diễn ra sôi nổi

Tiêu biểu cho khuynh hướng này là các:

Phong trào Đông Du

Với quan điểm “nợ máu chỉ có thể trả bằng máu”, ngay từ đầu PhanBội

Châu đã kiên trì giành độc lập bằng con đường bạo lực vì vậy ngay từ đầu thế

kỷ XX ông đã chuẩn bị công cuộc bạo động đánh Pháp Tuy nhiên như ôngnói : “ Là một nghười trong tay không có một miếng sắt , trên mặt đất không

có lấy mộtchỗ đứng chân, chẳng qua chỉ là một thằng tay không chân trắng ,tài hèn sức yếu, mà lại đòi vật lộn với hùm beo có nanh dài vuốt nhọn”và: “Đến nỗi này tôi không thể nào không sang con đường bạo động Vẫn biết bạođộng với tự sát đều là việc làm của những kẻ kiến thức hẹp hòi, không biết lo

xa, nhưng nếu tình thế buộc phải tự sát thì thà rằng xoay ra bạo động, thà chếtcòn hơn Nếu bạo động thì may ra trông được có chỗ thành công trong muônmột Huống gì tôi đã suy đi tính lại, lúc này bỏ sự bạo động ra thì không cònviệc gì đáng làm nữa” [17]

Phan Bội Châu chủ trương dựa vào sự giúp đỡ bên ngoài, chủ yếu làNhật

Bản, để đánh Pháp dành độc lập dân tộc, thiết lập một nhà nước theo mô hìnhquân chủ lập hiến của Ông tổ chức phong trào Đông Du (1906-1908), tứcphong trào đi du học ở phương tây và ông cho rằng nên cầu viện Nhật Bản lànước đồng Văn, đồng chủng Những người du học sinh được đào tạo về vănhoá và quân sự cần thiết cho công cuộc đánh Pháp cứu nước và kiến thiết đấtnước Phong trào đông du ngày càng lớn mạnh, thực dân Pháp một mặt tiếnhành khủng bố, mặt khác tiến hành cấu kết với Nhật trục xuất những ngườiyêu nước Việt Nam ra khỏi nước Nhật trong đó có cả Phan Bội Châu

Trang 31

Phong tào Duy Tân (1906-1908).

Trong lúc phong trào Đông Du những hoạt động của Duy Tân Hội diễn

ra sôi nổi thì Phan Chu Trinh và một số sĩ phu yêu nước chủ trương tiến hànhmột phong trào Duy Tân Phan Chu Trinh kịch liêt lên án bọn vua quan phongkiến thối nát, tích cực đề xướng tư tưởng dân chủ Tư Sản với các yêu cầu, “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”, hô hào mở mang trường học, pháttriển công thương nghiệp, cải cách phong tục, chống lề thói phong kiến cổ hủ,xem đó là điiêù kiện để giải phóng dân tộc: “không cần hô hào để đánh Phápchỉ cần đề xướng dân quyền , dân đã giác ngộ quyền lợi của mình, bấy giờmới có thể dần mưu tính những việc khác" Để thực hiện mục tiêu trên, PhanChu Trinh chủ trương tạm thời dựa vào Pháp để đánh đổ phong kiến, dành lạiquyền lực cho nhân dân, sau đó sẽ đánh đổ đế quốc, dành độc lập dân tộc

Phong trào Đông Du và phong trào Duy Tân đều có nhiều ý nghĩa kích động lòng yêu nước đòi độc lập dân tộc, xu hướng cải cách không tách rời xu hướng bạo động Tuy nhiên do những hoàn cảnh về lịch sử, về giai cấp nên các phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX đều không tìm được đường lối cứu nước đúng đắn để đấu tranh giải phóng dân tộc nên chỉ sau một thời kỳ phát triển đã bị kẻ thù dập tắt

Ngoài ra, trong thời kỳ này ở Việt nam còn nhiều phong trào đấu tranhkhác như: Phong trào Đông Kinh nghĩa thục (1907); Phong trào “tẩy chayKhách trú”(1919); Phong trào chống độc quyền xuất nhập ở cảng Sài Gòn(1923); đấu tranh trong các hội đồng quản hạt, hội đồng thành phố… đòi cảicách tự do dân chủ

Trong giai đoạn này, Việt Nam Quốc Dân Đảng - Tổ chức chính trị tiêubiểu nhất của khuynh hướng tư sản ở Việt Nam được thành lập trên cơ sở mộtnhóm trí thức tư sản, tiểu tư sản tập hợp các thành phần tư sản, tiểu tư sản, địachủ và cả hạ sĩ quan Việt Nam trong quân đội Pháp Việt Nam Quốc Dân

Trang 32

Đảng tiến hành khởi nghĩa hoàn toàn bị động, trong tình thế tổ chức đảng đang tan rã, lực lượng mỏng, rải nhiều nơi, kế hoạch ngày giờ, địa điểm

không thống nhất, bị lộ Do đó cuộc khởi nghĩa bị dập tắt nhanh chóng Tuy khởi nghĩa thất bại nhưng đã nêu cao tấm gương hi sinh quả cảm của cá chiến

sĩ Việt Nam Quốc Dân Đảng trước đồng bào trong nước và kiều bào ở nước ngoài nên có tác dụng cổ vũ động viên mạnh mẽ

Nhìn chung, các phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tưsản ở Việt Nam đã diễn ra liên tục, sôi nổi, lôi cuốn đông đảo quần chúngtham gia với những hình thức đấu tranh phong phú, thể hiện ý thức dân tộc,tinh thần chống đế quốc của giai cấp tư sản ở Việt Nam nhưng cuối cùng đềuthất bại vì giai cấp tư sản Việt Nam rất nhỏ yếu cả về kinh tế và chính trị nênkhông đủ sức giương cao ngọn cờ lãnh đạo sự nghiệp giải phóng dân tộc,chưa có đường lối chính trị rõ ràng và một hình thức tổ chức chặt chẽ Mặc dùthất bại nhưng các phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản đãgóp phần cổ vũ mạnh mẽ tinh thần yêu nước của nhân dân ta, bồi đắp thêmchủ nghĩa yêu nước ở Việt Nam , đặc biệt góp phần thúc đẩy những nhà yêunước, nhất là lớp thanh niên trí thức tiên tiến chọn lựa một con đường mới,một giải pháp cứu nước, giải phóng dân tộc theo xu thế của thời đại và nhucầu mới củanhân dân Việt Nam Từ đây, ngọn cờ lãnh đạo cách mạng chuyểnsang giai cấp vô sản Cách mạng Việt Nam bắt đầu một quá trình phát triểnmới về chất

Phong trào yêu nước theo khuynh hướng vô sản

Giữa lúc dân tộc ta đứng trước cuộc khủng hoảng về đường lối cứunước, nhiều nhà yêu nước đương thời tiếp tục con đường cứu nước theo lối cũthì người thanh niên trẻ Nguyễn Tất Thành đã ra đi tìm đường cứu nước theophương hướng mới gần ba mươi năm bôn ba khắp các châu lục Người đếnnhững nước thuộc địa và những nước đế quốc như Anh, Pháp, Mỹ người đã

Trang 33

nghiên cứu tìm tòi phát hiện ra một chân lý chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đếquốc, thực dân là cội nguồn của mọi đau khổ của giai cấp công nhân với nhândân lao động ở chính quốc cũng như ở các nước thuộc địa.

Sự ra đời của Đảng cộng sản Việt Nam với nền tảng lý luận là chủnghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là sản phẩm của lịch sử, đánhdấu sự thay đổi căn bản trong đường lối cách mạng Việt Nam Nó là sự kếthợp của chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêunước của Việt Nam, thúc đẩy sự lớn mạnh của cách mạng Việt Nam bởi vìđây là sự kết hợp của một đường lối chính trị đúng đắn với một lực lượngcách mạng hùng hậu, có đủ bản chất của giai cấp tiên phong gánh vác tráchnhiệm lịch sử dân tộc

Sau khi Đảng được thành lập, cao trào cách mạng nổ ra mạnh mẽ ởkhắp nơi, dưới sự lãnh đạo của Đảng Mà đỉnh cao là phong trào xô viết Nghệtĩnh 30 - 31 đánh dấu bước tiến mới của cách mạng Việt Nam, mở đầu chocuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền tháng 8 - 1945 với sự ra đời của Nhànước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Nhà nước công - nông đầu tiên ở ĐôngNam Á

Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời đã phải đối mặt với muôn vàn khó khăn, thử thách: Quân đội các nước Đồng minh dưới danh nghĩa giải giáp quân Nhật đã lũ lượt kéo vào nước ta.Từ vĩ tuyến 16 trở ra Bắc có gần 20vạn quân Trung Hoa dân quốc Theo sau Trung Hoa Dân quốc là Việt Nam Quốc dân Đảng (Việt Quốc), Việt Nam cách mạng đồng minh hội (Việt Cách)với âm mưu xúc tiến thành lập một chính phủ bù nhìn Dã tâm của chúng là tiêu diệt Đảng Cộng sản, phá tan Việt Minh, lật đổ chính quyền cách mạng còn non trẻ của nhân dân Việt Nam Từ vĩ tuyến 16 trở vào Nam có hơn 1 vạnquân Anh kéo vào, tạo điều kiện cho Pháp trở lại xâm lược Việt Nam Ngoài

ra còn quân Nhật đang chờ để giải giáp Một bộ phận theo lệnh đế quốc Anh

Trang 34

đánh lại lực lượng vũ trang cách mạng, tạo điều kiện cho quân Pháp mở rộng chiếm đóng Nam Bộ.[18]

Chưa bao giờ trên đất nước Việt Nam lại có nhiều loại kẻ thù đế quốc cùng xuất hiện một lúc như vậy

Trang 35

CHƯƠNG 2 QUÁ TRÌNH NHẬT BẢN VÀ TRUNG HOA DÂN QUỐC

CAN THIỆP VÀO PHONG TRÀO ĐẤU TRANH GIÀNH

ĐỘC LẬP CỦA VIỆT NAM 2.1 Quá trình Nhật Bản can thiệp vào phong trào đấu tranh giành độc lập của Việt Nam

2.1.1 Nhật Bản với các phong trào giành độc lập của người Việt

Từ sau cuộc Minh Trị Duy Tân (1898), Nhật Bản vươn mình trở thànhmột nước đế quốc lớn mạnh Trước bối cảnh mà phần lớn các nước Châu Átrở thành nước thuộc địa hay lệ thuộc của các nước tư bản phương Tây, NhậtBản vẫn giữ được nền độc lập dân tộc Do vậy, trong mắt nhiều nhà yêu nướcViệt Nam, Nhật Bản xứng đáng là “người anh cả da vàng” mà Việt Nam cóthể trông chờ một sự giúp đỡ trong công cuộc đánh đuổi thực dân da trắng.Những năm đầu thế kỷ XX, với chủ trương ban đầu là cầu viện Nhật Bản,Phan Bội Châu và các cộng sự của ông tổ chức Phong trào Đông Du, với hyvọng nhờ vào sự giúp đỡ của Nhật Bản để giành lại nền độc lập Các lãnh đạoNhật ban đầu đã bày tỏ sự động viên tinh thần cũng như có nhiều động tháigiúp đỡ cho những chí sĩ và thanh niên Việt Nam yêu nước trong quá trìnhsinh sống và học tập ở Nhật Bản Tuy nhiên, chỉ trong một thời gian ngắn sau

đó, Nhật đã ký Hiệp ước Pháp - Nhật (1907) với Pháp, tiến hành trục xuất lưuhọc sinh Việt Nam về ra khỏi nước Nhật, là một trong những nguyên nhânchính khiến Phong trào Đông Du của Phan Bội Châu đi đến tan rã Nguyênnhân của sự hợp tác Pháp Nhật có thể hiểu như một phương án sách lược củaNhật nhằm củng cố tầm ảnh hưởng của mình trong khu vực trong bối cảnhNhật Bản, dù thắng trận trước Nga, lúc này vẫn còn chưa hoàn toàn tự tinthách thức các cường quốc phương Tây còn lại Dù vậy, chính việc Nhật Bản

Trang 36

ký kết hiệp ước với các nước tư bản phương Tây đã mở đầu cho kế hoạchNam tiến vào khu vực Nam Trung Hoa về sau.

Bước sang những năm 30 của thế kỷ XX, Đông Dương trong đó cóViệt Nam bắt đầu được đế quốc Nhật để mắt đến là một vùng đất có thể biếnthành thuộc địa nhằm mục đích khai thác lương thực, thực phẩm, nhiên liệu

và xây dựng các căn cứ quân sự cho quân đội Nhật Bản tại khu vực Châu Á Thái Bình Dương

-Lần ngược lại lịch sử, thuật ngữ Nam tiến (Nanshin) được Nhật Bản sửdụng để chỉ các kế hoạch có vai trò quan trọng đối với Nhật Bản tại khu vựcbiển Nam Thái Bình Dương Các nhà chính trị Nhật Bản trong thời kỳ MinhTrị Duy Tân đã định hướng Nhật Bản đi theo con đường tư bản chủ nghĩa để

có thể cạnh tranh một vị trí bình đẳng với các cường quốc phương Tây khi màcác nước này đang đánh dấu chủ quyền lên các vùng lãnh thổ gần với lãnh thổNhật Bản hơn bao giờ hết Các nhà hoạch định chính sách Nhật Bản tin rằngNhật Bản có quyền đứng ngang hàng với các nước thực dân phương Tâytrong việc mở rộng và duy trì thuộc địa của họ tại khu vực Châu Á

Trong những năm 1920 và 1930, “Học thuyết bành trướng phươngNam” dần dần được chính thức hóa Năm 1931, “Hội nghị Năm Bộ trưởng”(Five Ministers Meeting) chính thức đưa Kế hoạch Nanshin trở thành chínhsách quốc gia Ngày 3/11/1938, Chính phủ của Thủ tướng Konoe Fuminarochính thức ban hành chính sách đối ngoại mang tên “Trật tự mới ở Đông Á”,đến ngày 1/8/1940, chính sách này được chỉnh sửa, mở rộng thành “Trật tựmới Đại Đông Á” Ngày 29/6/1940, Bộ trưởng Ngoại giao Nhật Bản AritaHachiko trong một bài phát biểu trên sóng phát thanh của mình đã khẳng địnhrằng “…các nước tại khu vực Đông Á và các khu vực tại Biển Nam có sự gầngũi về mặt địa lý, lịch sử, chủng tộc và kinh tế liên quan mật thiết với nhau.Các quốc gia này được định sẵn hợp tác nhằm phục vụ cho mục đích chung là

Trang 37

sự tồn tại thịnh vượng, thúc đẩy hòa bình và ổn định trong khu vực Sự hợpnhất của khu vực này trong một khối duy nhất trên cơ sở một sự tồn tại chung

và đảm bảo cho sự ổn định của khối là điều tự nhiên”[26; 59] Đại Đông Á ởđây không chỉ bao gồm Nhật Bản, Mãn Châu, Trung Quốc, mà còn cả ĐôngDương thuộc Pháp và Thái Lan Chính quyền Tokyo ra sức tuyên truyền vềviệc thiết lập một “trật tự thế giới mới” nhằm tìm kiếm sự “thịnh vượngchung” cho các quốc gia Châu Á, cùng nhau chia sẻ sự thịnh vượng và hòabình đồng thời hoàn toàn không cần lệ thuộc vào chủ nghĩa thực dân và sựthống trị của phương Tây

Trong trường hợp tại Việt Nam, khẩu hiệu mà chính sách này tung rabao gồm “Đông Á của người Á Đông” hay “Việt Nam độc lập trong Khốithịnh vượng chung Đại Đông Á” Song hành với việc ban hành các chínhsách, các đơn vị tình báo của Chính phủ Nhật Bản tiến hành xâm nhập vàoViệt Nam nhằm thu thập thông tin về đặc tính dân cư và văn hóa đồng thờituyên truyền các khẩu hiệu của chính sách Đại Đông Á

Bên cạnh việc đưa lực lượng trinh thám tiến hành xâm nhập Việt Nam,tại Nhật Bản, từ những năm 1930, Chính phủ Nhật Bản đã nuôi dưỡng Kỳngoại hầu Cường Để tại Tokyo nhằm chuẩn bị một lá bài chính trị cho sự xâmlược Việt Nam sau này Kỳ ngoại hầu Cường Để, tên thật là Nguyễn PhúcDân, cháu trực hệ năm đời Đông cung Hoàng tử Cảnh, trưởng tử vua GiaLong, xuất dương sang Nhật trong Phong trào Đông Du của Phan Bội Châu.Trong tư tưởng cách mạng của Phan Bội Châu những năm đầu thế kỷ XX,người dân Việt Nam trong suốt thời gian dài bị kìm hãm trong các chính sáchcai trị của thực dân Pháp khiến cho trình độ dân trí theo đó cũng bị kìm hãm,xét thấy trình độ dân trí của quốc dân không thể nào theo kịp với sự phát triểncủa thế giới, do vậy, chỉ có mượn ngọn cờ “tôn quân thảo tặc” để làm khẩuhiệu mới có thể kêu gọi sự ủng hộ của lòng dân Kỳ ngoại hầu Cường Để

Trang 38

chính là nhân vật được Phan Bội Châu lựa chọn suy tôn làm minh chủ, vị vuacho tương lai nếu cuộc cách mạng thành công Theo đó, năm 1906, Kỳ ngoạihầu xuất dương sang Nhật, cùng với Phan Bội Châu là những đầu tàu củaPhong trào Đông Du.

Phong trào Đông Du tan rã, Kỳ ngoại hầu rời Nhật Bản, đi qua nhiềunơi6 Tuy nhiên, những hảo cảm ngày còn theo học tại Nhật Bản khiến ôngquyết định trở về Tokyo Trở lại Nhật Bản, Thủ tướng Nhật Bản InukaiTsuyoshi nhiều lần khuyên ông nên tiếp tục lưu lại Nhật Bản, chờ đợi thời cơkhi quân Đức chiến thắng quân Pháp tại chiến trường Châu Âu, nước Nhậtkhắc sẽ giúp đỡ Việt Nam giành lại nền độc lập từ tay quân Pháp [2; 95] Bêncạnh đó, trong những ngày lưu lại Nhật Bản hoạt động, chính Inukai là người

đã giúp đỡ cho Kỳ ngoại hầu vấn đề chi phí sinh hoạt [2; 126-127] Do vậy,ông vẫn luôn có một lòng tin nhất định đối với việc người Nhật sẽ giúp đỡcho phong trào giải phóng dân tộc của Việt Nam với tư cách là cường quốc

“da vàng” Tuy nhiên, đến năm 1932, Thủ tướng Inukai bị ám sát, điều nàyảnh hưởng rất lớn đến sự hỗ trợ về cả tài chính lẫn tư tưởng cho cuộc vậnđộng đấu tranh của Cường Để bởi lẽ chính Inukai đã nhiều lần nói với Cường

Để rằng khi cuộc chiến giữa Đức và Pháp tại Châu Âu kết thúc với chiếnthắng thuộc về nước Đức thì Nhật Bản sẽ giúp đỡ cho sự nghiệp cách mạngcủa Việt Nam

Cuối những năm 30 của thế kỷ XX, Nhật Bản bắt đầu tấn công vào lụcđịa Đông Á Mở đầu cho tham vọng bá chủ Châu Á của Nhật Bản bằng việctấn công vào Trung Quốc năm 1937, tình hình thời cuộc ở Đông Á ngày mộtcăng thẳng, đồng thời, đây cũng được xem là thời cơ cho các dân tộc bị ápbức ở Châu Á tiến hành các cuộc vận động chuẩn bị cho cuộc đấu tranh giành

6 Trong những năm từ 1910 - 1915, Cường Để đi qua Xiêm (Thái Lan), Trung Quốc, Singapore và Châu Âu để tìm kiếm đồng minh và hỗ trợ tài chính cho cuộc đấu tranh, tuy nhiên không thành công.

Ngày đăng: 19/04/2022, 15:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
13. Hoàng Khắc Nam (chủ biên) (2017), Lý thuyết quan hệ quốc tế. NXB Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý thuyết quan hệ quốc tế
Tác giả: Hoàng Khắc Nam (chủ biên)
Nhà XB: NXB Thếgiới
Năm: 2017
14. PGS. TS. Lê Văn Anh – PGS. TS. Hoàng Thị Minh Hoa (Đồng chủ biên), Quan hệ quốc tế thời hiện đại, NXB Đại học Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ quốc tế thời hiện đại
Nhà XB: NXB Đại học Huế
15. Nguyễn Thị Mỹ Tuyên (2013), Chính sách Nam tiến của Nhật Bản cuối thế kỷ XIX – đầu XX, Trường ĐH KHXH & NV, ĐH Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách Nam tiến của Nhật Bản cuốithế kỷ XIX – đầu XX
Tác giả: Nguyễn Thị Mỹ Tuyên
Năm: 2013
16. Phạm Bình Minh (chủ biên) (2010), Định hướng chiến lược đối ngoại Việt Nam đến 2020, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định hướng chiến lược đối ngoạiViệt Nam đến 2020
Tác giả: Phạm Bình Minh (chủ biên)
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2010
18. Trần Văn Giàu, (1957), Lịch sử Việt Nam từ 1897 đến 1914, NXB Xây dựng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Việt Nam từ 1897 đến 1914
Tác giả: Trần Văn Giàu
Nhà XB: NXB Xây dựng
Năm: 1957
20. Archimedes Patti (1980), Why Vietnam, University of California Press 21. Lin Hua (1994), Chiang Kai-Shek, De Gaulle contro Hô Chi Minh: Viêt-nam 1945-1946, NXB. L’Harmattan, Paris Sách, tạp chí
Tiêu đề: Why Vietnam", University of California Press21. Lin Hua (1994), "Chiang Kai-Shek, De Gaulle contro Hô Chi Minh: Viêt-"nam 1945-1946
Tác giả: Archimedes Patti (1980), Why Vietnam, University of California Press 21. Lin Hua
Nhà XB: NXB. L’Harmattan
Năm: 1994
23. Luo Min (2015), The Kuomingtang and the Vietnamese Indepence Moverment, NXB. Khoa học xã hội Văn học và Báo chí, Bắc Kinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Kuomingtang and the Vietnamese IndepenceMoverment
Tác giả: Luo Min
Nhà XB: NXB. Khoa học xã hội Văn học và Báo chí
Năm: 2015
24. Takashi Shiraishi, Mooto Furata (1992), Indochina in the 1940s and 1950s, Cornell University Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: Indochina in the 1940s and1950s
Tác giả: Takashi Shiraishi, Mooto Furata
Năm: 1992
19. Đinh Xuân Lâm (chủ biên), (1999), Đại cương lịch sử Việt Nam, tập 2, NXB Giáo dục, Hà Nội.Tiếng Anh Khác
22. Zhang Fa Kui (2012), Hồi ký Trương Phát Khuê, NXB. Đương đại Trung Quốc, Bắc Kinh Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w