Con người được đặt ở vị trí trung tâm nên việc phát triển thị trường hàng hóa sức lao động sao cho hợp lý là một nhu cầu cấp thiết đối với nền kinh tế Việt Nam hiện nay.. Mác: “Sức lao đ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
-*** -BÀI TẬP LỚN MÔN
ĐỀ BÀI:……
Họ và tên SV:
Lớp tín chỉ:
Mã SV:
GVHD:
HÀ NỘI, NĂM 2022
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
PHẦN 2: NỘI DUNG 2
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CỦA C MÁC VỀ HÀNG HÓA SỨC LAO ĐỘNG 2
1.1 Khái niệm 2
1.2 Điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa 2
1.3 Hai thuộc tính của hàng hóa sức lao động 3
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG HÀNG HÓA LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 5
2.1 Thực trạng cung lao động 5
2.2 Thực trạng cầu lao động 7
2.3 Một số biện pháp cho thị trường lao động 8
PHẦN 3: KẾT LUẬN 9
PHẦN 4: TÀI LIỆU THAM KHẢO 10
Trang 3PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong lịch sử phát triển của loài người, bắt đầu từ khi loài vượn cổ xuất hiện biết cầm nắm, hái lượm dần tiến hóa thành người tinh khôn, người đứng thẳng và đến chúng ta loài người hiện đại Loài người không ngừng lao động để cải tạo chính mình, sử dụng đôi tay để tạo ra những dụng cụ phục vụ đời sống, tạo ra lửa
để nấu chín thực phẩm, thuần hóa thú nuôi, trồng trọt, cải tạo thiên nhiên, không còn ở những hang hóc mà biết xây dựng nơi trú ngụ Khi đã lo được cái ăn cái mặc, con người dần hoàn thiện về mặt văn hóa, lao động trí óc để sáng tạo nên những công trình vĩ đại như kim tự tháp, vạn lý trường thành…các phép tính, khám phá thiên nhiên Nhờ lao động, con người dần đạt đến cuộc sống văn minh như hiện nay – con người đã trở thành loài thượng đẳng trên trái đất
Mặt khác, trong những năm gần đây, Việt Nam dần hội nhập với nền kinh tế thế giới, kinh tế tri thức trở thành xu hướng phát triển chung của cả thế giới và Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng đó Con người được đặt ở vị trí trung tâm nên việc phát triển thị trường hàng hóa sức lao động sao cho hợp lý là một nhu cầu cấp thiết đối với nền kinh tế Việt Nam hiện nay Lý luận về loại hàng hóa đặc biệt – sức lao động theo chủ nghĩa Mác đã cung cấp thêm nhiều luận điểm khoa học, toàn diện và biện chứng Trên cở sở đó, tạo lý luận tiền đề vững chắc cho việc lý giải và áp dụng vào thực tiễn thị trường lao động ở Việt Nam hiện nay
Trang 4PHẦN 2: NỘI DUNG CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CỦA C MÁC VỀ HÀNG HÓA SỨC LAO ĐỘNG
1.1 Khái niệm
a) Sức lao động
Theo C Mác: “Sức lao động hay năng lực lao động là toàn bộ những năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong cơ thể, trong một con người đang sống, và được người đó đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó”.[1]
Như vậy, ta có thể hiểu, sức lao động là tổng hợp sức lực và trí lực tồn tại trong cơ thể sống của con người Thể lực và trí lực đó phải làm cho hoạt động để sản xuất ra những vật hay dịch vụ có ích
b) Thị trường lao động
Thị trường lao động được xác định là một hệ thống trao đổi giữa những người có việc làm hoặc người đang tìm việc làm (cung lao động) với những người đang sử dụng lao động hoặc đang tìm kiếm lao động để sử dụng (cầu lao động) Thị trường lao động là thị trường trong đó có người cần bán sức lao động, cung cấp dịch vụ lao động (người lao động); có người cần mua sức lao động (người sử dụng lao động); có các yếu tố cung- cầu lao động, giá cả sức lao động (tiền công, tiền lương)…Trong đó có hai yếu tố cơ bản cấu thành thị trường lao động là cung lao động và cầu lao động
1.2 Điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa
Trong bất cứ xã hội nào, sức lao động cũng là điều kiện cơ bản của sản xuất nhưng không phải trong bất kì điều kiện nào sức lao động cũng trở thành hàng hóa Thực tế cho thấy sức lao động của người nô lệ không phải hàng hóa bởi vì bản thân
Trang 5người nô lệ thuộc sỏ hữu của chủ nô nên họ không có quyền bán sức lao động của mình Người thợ thủ công được tự ý sử dụng sức lao động của họ nhưng sức lao động đó cũng không phải hàng hóa vì họ có tư liệu sản xuất để làm ra sản phẩm nuôi sống chính mình chứ chưa đến mức cần bán sức lao động để sống
Sức lao động chỉ trở thành hàng hóa khi nó có những điều kiện nhất định Hai điều kiện đó là: thứ nhất, người có sức lao động được tự do về thân thể, làm chủ sức lao động của mình và có quyền bán sức lao động của mình như một hàng hóa Thứ hai, nguời lao động bị tước hết tư liệu sản xuất và tư liệu sinh hoạt, họ trở thành người vô sản theo đúng nghĩa của từ đó Để tồn tại, họ phải bán sức lao động của mình để sống
1.3 Hai thuộc tính của hàng hóa sức lao động
Cũng giống như mọi hàng hóa khác, hàng hóa sức lao động cũng có hai thuộc tính đó là giá trị và giá trị sử dụng
a) Giá trị của hàng hóa sức lao động
Về giá trị hàng hóa sức lao động, giá trị hàng hóa sức lao động do thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất và tái sản xuất sức lao động quyết định Sức lao động chỉ tồn tại như năng lực sống của con người Muốn tái sản xuất ra năng lực đó, người công nhân trong chủ nghĩa tư bản phải tiêu dùng một lượng tư liệu sản xuất nhất định để ăn, uống, mặc, ở, đi lại, học nghề… Ngoài ra người lao động còn phải thỏa mãn những nhu cầu của gia đình, con cái họ Chỉ có như vậy, thì sức lao động mới được sản xuất và tái sản xuất ra một cách liên tục
Như vậy, thời gian lao động xã hội cần thiết để tái sản xuất ra sức lao động
sẽ được quy thành thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt nuôi sống bản thân người công nhân và gia đình anh ta Hay nói một cách
Trang 6khác, giá trị hàng hóa sức lao động được đo gián tiếp bằng giá trị của những tư liệu sản xuất cần thiết để tái sản xuất ra sức lao động
Hàng hóa sức lao động là một hàng hóa đặc biệt vì nó khác với hàng hóa thông thường ở chỗ nó còn bao hàm cả yếu tố tinh thần và lịch sử Yếu tố tinh thần tức là ngoài những nhu cầu về vật chất như các nhu cầu về ăn, uống, mặc, ở, đi lại… thì người công nhân còn có những nhu cầu về tinh thần, văn hóa… Về yếu tố lịch sử, nhu cầu của con người phụ thuộc vào yếu tố lịch sử của mỗi nước ở từng thời kì, đồng thời nó còn phụ thuộc vào điều kiện địa lý… của quốc gia đó
Đối với một quốc gia nhất định và trong một thời kì xã hội nhất định, quy
mô những tư liệu sinh hoạt cho người lao động là một đại lượng nhất định, do đó,
có thể xác định được lượng giá trị hàng hóa sức lao động do những bộ phận sau đây hợp thành: giá trị những tư liệu sinh hoạt về vật chất hoặc tinh thần cần thiết
để tái sản xuất sức lao động, duy trì đời sống của bản thân người công nhân Thứ hai, đó là những phí tổn về đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn cho người công nhân Thứ ba, giá trị những tư liệu vật chất và tinh thần cho con cái, gia đình người công nhân
b) Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động
Về giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động, giá trị này được thể hiện ra qua quá trình tiêu dùng sức lao động, tức là quá trình lao động của người công nhân Quá trình tiêu dùng hàng hóa sức lao động khác với quá trình sử dụng hàng hóa thông thường ở chỗ, đối với các hàng hóa thông thường, sau khi sử dụng, cả giá trị và giá trị sử dụng của nó đều tiêu biến theo thời gian Đối với hàng hóa sức lao động, quá trình tiêu dùng chính là quá trình sản xuất ra một loại hàng hóa nào
đó, đồng thời là quá trình tạo ra một giá trị mới lớn hơn giá trị của bản thân sức lao động Phần lớn hơn đó chính là giá trị thặng dư nhà tư bản sẽ chiếm đoạt
Trang 7Như vậy, giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động có tính chất đặc biệt, nó
có thể tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị của bản thân nó Đây chính là chìa khóa để giải thích mâu thuẫn của công thức chung của tư bản Chính đặc tính này đã làm cho sự xuất hiện của hàng hóa sức lao động trở thành điều kiện để tiền chuyển hóa thành tư bản
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG HÀNG HÓA LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1 Thực trạng cung lao động
a) Về số lượng lao động
Theo thông tin của Tổng cục thống kê, trong quý I năm 2022, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên trong quý I năm 2022 là 51,2 triệu người, tăng hơn 0,4 triệu người so với quý trước và tăng 0,2 triệu người so với cùng kỳ năm trước; số người
từ 15 tuổi trở lên có việc làm là 50,0 triệu người, tăng 962,6 nghìn người và tăng 132,2 nghìn người.[2]
Như vậy, hiện nay nguồn cung lao động ở Việt Nam đang có xu hướng gia tăng Lực lượng lao động nước ta khá đông đảo nhưng có sự phân bố không đồng đều giữa thành thị và nông thôn; giữa đồng bằng, ven biển và miền núi; không đồng đều giữa cơ cấu lao động trong các ngành kinh tế
Hiện nay ở Việt Nam cung về sức lao động đang vượt quá cầu và sẽ còn tiếp tục vượt trong tương lai, điều đó tạo ra một áp lực rất lớn về việc làm cho dân cư
Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi quý I năm 2022 là 3,01%, giảm 0,36 điểm phần trăm so với quý trước và tăng 0,81 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi ở khu vực thành thị thấp hơn so với khu vực nông thôn (tương ứng là 2,39% và 3,40%).[2]
Trang 8Mặc dù cả nước vẫn còn hơn 16,9 triệu người từ 15 tuổi trở lên chịu tác động tiêu cực của đại dịch Covid-19 nhưng con số này đã giảm mạnh so với quý trước (giảm 7,8 triệu người).[2] Lực lượng lao động đang dần tìm kiếm được việc làm cho mình sau những tác động của Covid Tình trạng thiếu việc làm đã được cải thiện đáng kể, đặc biệt ở khu vực dịch vụ Tỷ lệ thiếu việc làm giảm mạnh và đang dần trở lại trạng thái như đã quan sát được ở thời kỳ trước khi đại dịch xảy ra
c) Về chất lượng lao động
Về ưu điểm, lao động nước ta cần cù, chịu khó, luôn sáng tạo, có tinh thần ham học hỏi, kinh nghiệm tích lũy qua nhiều thế hệ (đặc biệt trong các ngành truyền thống như Nông – lâm – ngư nghiệp) Mặt khác, cùng với sự phát triển ngày càng văn minh của xã hội, người lao động đang dần trở nên hiểu biết hơn, có trình
độ cao hơn
Tuy nhiên, chất lượng lao động nước ta vẫn còn nhiều hạn chế Về mặt sức khỏe, thể lực của người kém xa so với các nước trong khu vực Về ý thức kỷ luật lao động của người lao động còn thấp do nước ta là một nước nông nghiệp nên phần lớn người lao động còn mang nặng tác phong sản xuất của một nền nhà nước tiểu nông Chúng ta làm trong thời gian dài tuy nhiên không tập trung 100% vào công việc Vẫn còn tình trạng cộng đồng làng xã: vừa làm vừa nói chuyện, tán gẫu…
2.2 Thực trạng cầu lao động
Hiện nay, cả nước có trên 4,145 triệu cơ sở kinh tế, hành chính, sự nghiệp, thu hút gần 17 triệu lao động vào làm việc, trong đó có gần 3,935 triệu cơ sở thuộc khu vực sản xuất kinh doanh (chiếm 94,9%) Tổng số doanh nghiệp hiện đăng ký
Trang 9kinh doanh có 300 nghìn (trong đó có trên 200 nghìn doanh nghiệp hiện đang hoạt động), góp phần thu hút thêm từ 1,2 đến 1,5 triệu lao động vào làm việc/năm.[2]
Tuy nhiên, doanh nghiệp, cơ sở sản xuất phân bố không đều giữa các vùng, chủ yếu tập trung ở Đông Nam Bộ; Đồng bằng sông Hồng; Đồng bằng sông Cửu Long Các doanh nghiệp chủ yếu có qui mô nhỏ, phân tán và trình độ kỹ thuật công nghệ thấp Hiệu quả sử dụng vốn còn thấp, năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp có tiến bộ, nhưng chưa vững chắc và chưa cao
Mặt khác, số người trong độ tuổi lao động đông không có nghĩa là thị trường lao động Việt Nam đáp ứng đủ nhu cầu lao động cho các doanh nghiệp Bởi số lao động có tay nghề, có chất lượng của nước ta dù đang trong xu hướng gia tăng nhưng vẫn đang trong tình trạng hạn chế
Nhìn tổng thể, thị trường lao động Việt Nam vẫn là một thị trường dư thừa lao động và phát triển không đồng đều, quan hệ cung – cầu lao động giữa các vùng, khu vực, ngành nghề kinh tế đang mất cân đối nghiêm trọng Bên cạnh tình trạng phổ biến hiện nay là dư thừa lao động không có kỹ năng và thiếu nhiều lao động kỹ thuật thì nhiều doanh nghiệp đang gặp khó khăn không chỉ trong việc tuyển dụng lao động qua đào tạo mà còn cả trong tuyển dụng lao động phổ thông, chủ yếu xảy ra đối với các doanh nghiệp trong các khu công nghiệp, khu chế xuất
ở phía Nam
2.3 Một số biện pháp cho thị trường lao động
Trong kinh tế thị trường, phát triển cung lao động phải hướng vào đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động, của xã hội và nhu cầu việc làm, tăng thu nhập của người lao động Cụ thể: tăng cường thể lực, trí lực của người lao động, tạo điều kiện để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, thực hiện các chính sách phát triển cho lao động nông thôn, lao động ở vùng sâu, vùng xa…
Trang 10Đối với doanh nghiệp: tạo môi trường bền vững cho doanh nghiệp phát triển Trong lập quy hoạch phát triển các vùng lãnh thổ phải quan tâm đến phát triển các khu vực kinh tế trọng điểm, tập trung, các khu công nghiệp, khu chế xuất , đồng thời quan tâm đúng mức đến phát triển tiểu thủ công nghiệp, phát triển các ngành nghề truyền thống, nghề phụ để sử dụng hợp lý lao động tại chỗ, lao động nông nhàn, lao động phổ thông Đa dạng hóa các loại hình kinh doanh trong các thành phần kinh tế, thu hút đầu tư trong và ngoài nước
Và điều quan trong nhất đó là đảm bảo chính sách tiền lương, tiền thưởng, môi trường làm việc cho người lao động Quan tâm không chi tới đời sống của họ
mà cả con cái, gia đình, người thân của họ Bởi lẽ: Trên thị trường lao động giá cả hàng hóa sức lao động được thể hiện dưới dạng tiền lương/tiền công Theo nguyên tắc của C Mác, tiền lương tối thiểu phải đảm bảo tái sản xuất sức lao động, đảm bảo duy trì và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người lao động cùng gia đình họ Tiền lương cũng được quyết định bởi những quy luật giá cả của tất cả các hàng hoá khác; bởi quan hệ cung – cầu Sự phân phối tiền lương công bằng, hợp lý hay không sẽ quyết định đến sự tận tâm, tận lực của người lao động đối với sự phát triển kinh tế – xã hội Vì vậy, tiền lương và thu nhập phải thể hiện được sự công bằng trong phân phối theo kết quả lao động và hiệu suất công tác của mỗi người
Phát triển mạng lưới việc làm để người lao động dễ dàng tìm việc, cải thiện hành lang pháp lí về lao động theo hướng ngày cảng phát triển của xã hội, đảm bảo cho quyền lợi của người lao động và người sử dụng lao động
Trang 11PHẦN 3: KẾT LUẬN
Tóm lại, sức lao động là tổng hợp sức lực và trí lực tồn tại trong cơ thể sống của con người Thể lực và trí lực đó phải làm cho hoạt động để sản xuất ra những vật hay dịch vụ có ích Sức lao động chỉ trở thành hàng hóa khi nó có những điều kiện nhất định Hai điều kiện đó là: thứ nhất, người có sức lao động được tự do về thân thể, làm chủ sức lao động của mình và có quyền bán sức lao động của mình như một hàng hóa Thứ hai, nguời lao động bị tước hết tư liệu sản xuất và tư liệu sinh hoạt, họ trở thành người vô sản theo đúng nghĩa của từ đó Để tồn tại, họ phải bán sức lao động của mình để sống Cũng giống như mọi hàng hóa khác, hàng hóa sức lao động cũng có hai thuộc tính đó là giá trị và giá trị sử dụng
Trên thị trường lao động Việt Nam hiện nay, thị trường lao động Việt Nam vẫn là một thị trường dư thừa lao động và phát triển không đồng đều, quan hệ cung – cầu lao động giữa các vùng, khu vực, ngành nghề kinh tế đang mất cân đối nghiêm trọng Bên cạnh tình trạng phổ biến hiện nay là dư thừa lao động không có
kỹ năng và thiếu nhiều lao động kỹ thuật thì nhiều doanh nghiệp đang gặp khó khăn không chỉ trong việc tuyển dụng lao động qua đào tạo mà còn cả trong tuyển dụng lao động phổ thông, chủ yếu xảy ra đối với các doanh nghiệp trong các khu công nghiệp, khu chế xuất ở phía Nam
Trang 12PHẦN 4: TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] C Mác và Ph Ăng-ghen, Toàn tập, Tập 25, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2002, Phần I, 47-83
[2] Tổng cục Thống kê Việt Nam, Trang Thông tin điện tử Tổng cục Thống kê,
truy cập từ