Tính cấp thiết Trong các loại cây lâm sản thì cây Quế được biết đến như loài cây đặc sản của vùng nhiệt đới và từ lâu Quế đã trở thành một sản phẩm trong đời sống sinh hoạt của mọi người
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
ĐÀM THU HẢO
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
NÂNG CAO HIỆU QUẢ RỪNG TRỒNG QUẾ
TẠI HUYỆN BẮC SƠN, TỈNH LẠNG SƠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM NGHIỆP
THÁI NGUYÊN – 2021
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
ĐÀM THU HẢO
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
NÂNG CAO HIỆU QUẢ RỪNG TRỒNG QUẾ
TẠI HUYỆN BẮC SƠN, TỈNH LẠNG SƠN
NGÀNH: LÂM HỌC
MÃ SỐ: 8.62.02.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Quốc Hưng
CHỮ KÝ PHÒNG QLĐTSĐH CHỮ KÝ KHOA CHUYÊN MÔN CHỮ KÝ GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
THÁI NGUYÊN - 2021
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tên tôi là: Đàm Thu Hảo
Học viên cao học khóa 27 chuyên ngành: Lâm học, niên khóa 2019 -2021, tại trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân tôi trong suốt thời gian nghiên cứu từ tháng 9 năm 2020 đến tháng 9 năm 2021 với sự hướng dẫn tận tình của PGS.TS Trần Quốc Hưng, đến nay tôi đã hoàn thành xong luận văn của mình
Các nội dung nghiên cứu trình bày trong luận văn: “Nghiên cứu thực
trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả rừng trồng quế tại huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn” hoàn toàn do tôi điều tra, đo đếm Các số liệu và kết quả
nghiên cứu trình bày trong luận văn này hoàn toàn trung thực và chưa từng công bố trong bất kỳ luận văn, luận án nào Các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những lời cam đoan trên./
Thái Nguyên, ngày… tháng … năm 2021
Tác giả
Đàm Thu Hảo
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Được sự đồng ý của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Lâm Nghiệp, giáo viên hướng dẫn và sự nhất trí của UBND huyện Bắc Sơn, tỉnh
Lạng Sơn tôi thực hiện nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất
giải pháp nâng cao hiệu quả rừng trồng quế tại huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn”
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự quan tâm của nhà trường, khoa Lâm Nghiệp, thầy giáo hướng dẫn, UBND Huyện Bắc Sơn, UBND xã Vạn Thủy và Tân Tri cùng toàn bộ bà con nhân dân trong các xã Tôi xin gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu nhà trường, Ban Chủ Nhiệm khoa, các thầy cô giáo của trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên nói chung và khoa Lâm Nghiệp nói riêng đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đơc tôi trong quá trình học tập và làm việc tại trường và trong quá trình hoàn thành luận văn tốt nghiệp này Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo hướng dẫn PGS.TS Trần Quốc Hưng cùng với các cơ quan, toàn thể nhân dân địa phương nơi tôi thực tập đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài Một lần nữa, tôi xin kính chúc toàn thể thầy, cô giáo nhà trường, khoa Lâm Nghiệp sức khỏe, hạnh phúc và thành đạt Chúc toàn thể cán
bộ trong xã Vạn Thủy, Tân Tri công tác tốt, chúc các bạn sinh viên mạnh khỏe học tập tốt, thành công trong cuộc sống!
Thái Nguyên, ngày… tháng … năm 2021
Học viên
Đàm Thu Hảo
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN VĂN vi
DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN VĂN vi
DANH MỤC CÁC HÌNH TRONG LUẬN VĂN vii
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
2.1 Mục tiêu chung 3
2.2 Mục tiêu cụ thể 3
3 Ý nghĩa đề tài 3
3.1 Ý nghĩa khoa học 3
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu 4
1.2 Tổng quan kết quả nghiên cứu về cây Quế 5
1.2.1 Tình hình sản xuất Quế trên thế giới 5
1.2.2 Tình hình nghiên cứu cây Quế trên thế giới 7
1.2.3 Những nghiên cứu cây Quế ở Việt Nam 10
1.3 Tổng quan về khu vực nghiên cứu 24
1.3.1 Điều kiện tự nhiên 24
1.3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 28
1.3.3 Những thuận lợi và khó khăn tại khu vực nghiên cứu 30
Trang 6Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 33
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 33
2.3 Nội dung nghiên cứu 33
2.4 Phương pháp nghiên cứu 34
2.4.1 Phương pháp kế thừa tài liệu 34
2.4.2 Phương pháp điều tra và thu thập số liệu 34
2.4.3 Phương pháp điều tra OTC 34
2.4.4 Phương pháp đánh giá các yếu tố sinh thái khu vực trồng Quế, năng suất và chất lượng Quế tại Bắc Sơn 36
2.4.5 Phương pháp nội nghiệp 37
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 38
3.1 Thực trạng trồng, khai thác, chế biến và thị trường tiêu thụ Quế ở Bắc Sơn 38
3.1.1 Thực trạng trồng 40
3.1.2 Khai thác 42
3.1.3 Chế biến 43
3.1.4 Thị trường tiêu thụ Quế 44
3.2 Các yếu tố sinh thái khu vực gây trồng cây Quế ở huyện Bắc Sơn 38
3.2.1 Đặc điểm khí hậu 38
3.2.2 Đặc điểm địa hình 39
3.3 Nghiên cứu tình hình sinh trưởng, năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế cây Quế tại huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn 46
3.3.1 Tình hình sinh trưởng cây Quế tại khu vực nghiên cứu 46
3.3.2 Năng suất và chất lượng Quế tại khu vực nghiên cứu 48
3.3.3 Hiệu quả kinh tế cây Quế đem lại tại khu vực nghiên cứu 50
3.5 Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển bền vững cây Quế trên địa bàn huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn 53
Trang 73.5.1 Giải pháp về giống 53
3.5.2 Giải pháp về quy hoạch 53
3.5.3 Giải pháp về kỹ thuật 54
3.5.4 Giải pháp về chính sách 55
3.5.5 Các giải pháp khác 56
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 57
1 Kết luận 57
2 Kiến nghị 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO 60 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN VĂN
Bảng 1.1: Giá trị sản xuất Quế trên thế giới từ năm 2003 - 2011 6
Bảng 3.1: Hiện trạng sử dụng đất tại khu vực nghiên cứu 40
Bảng 3.2: Cách thức và thời gian khai thác Quế tại khu vực nghiên cứu 42
Bảng 3.3: Cách chế biến Quế tại khu vực nghiên cứu 43
Bảng 3.4: Đặc điểm khí hậu tại khu vực nghiên cứu 38
Bảng 3.5: Đặc điểm địa hình tại khu vực nghiên cứu 39
Bảng 3.6: Kết quả về tình hình sinh trưởng của cây Quế tại khu vực nghiên cứu 46
Bảng 3.7: Đánh giá năng suất và chất lượng Quế tại khu vực nghiên cứu 48
Bảng 3.8: Hàm lượng tinh dầu trong các mẫu phân tích 49
Bảng 3.9: Điều tra thu - chi của rừng trồng Quế chu kỳ 9 năm/ha tại xã Vạn Thuỷ, huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn 50
Bảng 3.10: Điều tra thu - chi của rừng trồng Quế chu kỳ 11 năm/ha tại xã Tân Tri, huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn 52
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH TRONG LUẬN VĂN
Hình 2.1: Đồng bào người Dao trên địa bàn trồng Quế của địa phương 30
Trang 10DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
D 1.3 Đường kính của cây ở vị trí 1m3
Δ Hvn Tăng trưởng bình quân năm của chiều dài thân cây
COMTRADE-LHQ Cơ sở Thống kê dữ liệu Thương mại của Liên Hợp Quốc
Trang 111 Tính cấp thiết
Trong các loại cây lâm sản thì cây Quế được biết đến như loài cây đặc sản của vùng nhiệt đới và từ lâu Quế đã trở thành một sản phẩm trong đời sống sinh hoạt của mọi người Trong thời phong kiến cây quế cũng đã được sử dụng làm lễ vật để các vua chúa Việt Nam đi tiến cống Trên thế giới chỉ có một số nước như Trung Quốc, Srilanca, Ấn Độ, Indonesia, Nhật Bản mới có điều kiện thuận lợi để có thể phát triển cây Quế Hầu như tất cả các bộ phận trên cây Quế đều đem lại giá trị cao, giá trị mà cây Quế mang lại không những cho người trồng Quế mà còn đem lại các giá trị về môi trường
Cây quế (Cinnamomum cassia) thuộc họ Long não (Lauraceae) là cây đa
tác dụng, cây có thể cao 18 - 20m, đường kính đạt 10 - 45cm Quế là cây phân
bố rộng, có thể sinh trưởng tốt cả ở miền Nam và miền Bắc Việt Nam Quế thích hợp với vùng núi cao, độ cao địa hình ở đai cao từ 300 – 700m so với mặt biển Vùng có khí hậu mát ẩm, nhiệt độ bình quân năm từ 22 – 240C, lượng mưa bình quân năm trên 2000mm, độ ẩm không khí trên 80% Quế có thể trồng trên nhiều loại đất có thành phần cơ giới thịt nhẹ đến thịt trung bình, tầng đất dày, ẩm độ đất cao thoát nước tốt (Hoàng Cầu, 1993)
Tinh dầu Quế được sử dụng nhiều trong công nghiệp y dược, công nghiệp chế biến thực phẩm, hương liệu và chăn nuôi Trước đây, cây quế chỉ bán được
vỏ, hiện nay, thân, cành, lá đều bán được với giá cao Thân Quế sau khi bóc vỏ được bán cho các cơ sở chế biến gỗ làm ván gép thanh, ván sàn, đồ gia dụng hoặc làm cột chống… Các sản phẩm từ Quế có thể tổ chức sản suất thành nguồn hàng lớn có giá trị suất khẩu đem lại nguồn lợi kinh tế to lớn và gắn liền với đời sống của nhân dân các dân tộc ít người như Dao, Tày…
Quế được sử dụng làm thuốc chữa bệnh, vỏ Quế được mài ra trong nước đun sôi để nguội để uống, hoặc trong các bài thuốc có Quế để chữa một số bệnh
Trang 12thuyết mạch, làm cho cơ thể ấm lên Chống lại giá lạnh và có tính chất sát trùng Quế được nhân dân coi như một trong bốn vị thuốc rất có giá trị Sâm, Nhung, Quế, Phụ (Theo tác giả Lê Trần Đức trong “Cây thuốc Việt Nam” trang
263 “… Nhục Quế vị ngọt cay tính nóng, thông huyết mạch, làm mạnh tim, tăng sức nóng, chữa các chứng trúng hàn, hôn mê, mạch chạy chậm, nhỏ, tim yếu (truỵ mạch, huyết áp hạ) và bệnh dịch tả nguy cấp…”)
Ngoài lợi ích về mặt kinh tế, cây Quế còn đóng góp vào bảo vệ môi trường sinh thái, làm tăng độ che phủ rừng, giữ đất, giữ nước ở các vùng đất đồi núi dốc, bảo tồn và phát triển sự đa dạng các nguồn gen quý cây bản địa – cây Quế còn đóng góp vào định canh - định cư, xoá đói giảm nghèo tạo thêm công ăn việc làm cho nông dân miền núi nước ta
Bắc Sơn là một huyện miền núi của tỉnh Lạng Sơn tiếp giáp với Thái Nguyên, với diện tích 20.000 ha diện tích đất lâm nghiệp trong đó rừng tự nhiên chiếm trên 40% diện tích, còn lại là rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất nên huyện Bắc Sơn đã đẩy mạnh việc phát triển kinh tế lâm nghiệp Cụ thể trong năm 2015 toàn huyện đã trồng được 761 ha rừng vượt 17% kế hoạch tỉnh giao, tăng gần 5% so với cùng kỳ Trong đó, rừng phòng hộ 17ha, trồng cây phân tán 202ha, riêng rừng trồng rừng sản xuất 541 ha với các loại cây như Quế, Hồi, cây Keo… Góp phần nâng độ che phủ rừng lên 57%
Từ việc đẩy mạnh phát triển lâm nghiệp, trên địa bàn huyện Bắc Sơn có nhiều hộ dân tập trung phát triển kinh tế lâm nghiệp Để đánh giá một cách đầy
đủ hơn về phát triển kinh tế lâm nghiệp bằng cây có giá trị, tác giả đã triển khai
đề tài “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả rừng
trồng Quế tại huyện Bắc Sơn tỉnh Lạng Sơn”
Trang 132.1 Mục tiêu chung
Đề tài nghiên cứu nhằm tìm hiểu thực trạng gây trồng và phát triển của cây Quế tại huyện Bắc Sơn, từ đó làm cơ sở đề xuất giải pháp để phát triển bền vững cho cây Quế tại địa bàn nghiên cứu
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Xác định được thực trạng sản xuất, khai thác, sử dụng và kinh doanh sản phẩm cây Quế trên địa bàn nghiên cứu
- Đánh giá được năng suất và chất lượng Quế của huyện Bắc Sơn
- Đề xuất được một số giải pháp nhằm phát triển bền vững cây Quế trên địa bàn huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn
3 Ý nghĩa đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học
Đề tài nghiên cứu về cây Quế với mục tiêu để đánh giá thực trạng từ đó tìm ra những điểm yếu, điểm mạnh trong gây trồng và chăm sóc cây quế hiện nay Trên cơ sở đó áp dụng khoa học kĩ thuật để khắc phục những điểm yếu phát triển những điểm mạnh trong gây trồng cây Quế hiện nay của huyện Bắc
Sơn nói riêng và cả nước nói chung
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu
Quế là một loại cây lâm sản ngoài gỗ (LSNG) và là đặc sản lâm nghiệp
có giá trị kinh tế cao, tinh dầu Quế là nguyên liệu quý trong công nghiệp dược phẩm và thực phẩm, vì thế Quế cũng có thể được xếp vào nhóm cây công nghiệp (Trần Cửu, 2013), (Lê Đình Khả và cs., 2013) Ngoài ra, do có tán lá khá dày, rậm và xanh quanh năm nên rừng trồng Quế còn có tác dụng phòng
hộ khá hiệu quả
Cây Quế là loài cây thân gỗ, sống lâu năm, ở cây trưởng thành có thể cao trên 15m, đường kính ngang ngực (1,3m) có thể đạt đến 40cm Quế có lá đơn mọc cách hay gần đối lá có 3 gân gốc kéo dài đến tận đầu lá và nổi rõ ở mặt dưới của lá, các gân bên gần như song song, mặt trên của lá xanh bóng, mặt dưới lá xanh đậm, lá trưởng thành dài khoảng 18 – 20cm, rộng khoảng 6 – 8cm, cuống lá dài khoảng 1cm Quế có tán lá hình trứng, thường xanh quanh năm, thân cây tròn đều, vỏ ngoài màu xám, hơi nứt rạn theo chiều dọc Trong các bộ phận của cây Quế như vỏ, lá, hoa, gỗ, rễ đều có chứa tinh dầu, đặc biệt trong vỏ có hàm lượng tinh dầu cao nhất, có khi đạt đến 4 – 5% Tinh dầu Quế
có màu vàng, thành phần chủ yếu là Aldehyt Cinamic chiếm khoảng 70 – 90% Cây Quế khoảng 8 đến 10 tuổi thì bắt đầu ra hoa, hoa Quế mọc ở nách lá đầu cành, hoa tự chùm, nhỏ chỉ bằng nửa hạt gạo, vươn lên phía trên của lá, màu trắng hay phớt vàng Quế ra hoa vào tháng 4 và tháng 5 và quả chín vào tháng
1 và tháng 2 năm sau Quả Quế khi chưa chín có màu xanh, khi chín chuyển sang màu tím than, quả mọng trong chứa một hạt, quả dài 1 đến 1,2 cm, hạt hình bầu dục, 1 kg hạt Quế có khoảng 2500 – 3000 hạt Bộ rễ Quế phát triển mạnh, rễ cọc cắm sâu vào lòng đất, rễ bàng lan rộng, đan chéo nhau vì vậy
Trang 15Quế có khả năng sinh sống tốt trên các vùng đồi núi dốc Cây Quế lúc còn nhỏ cần có bóng che thích hợp mới sinh trưởng và phát triển tốt, càng lớn lên mức
độ chịu bóng càng giảm dần và sau khoảng 3 – 4 năm trồng thì cây Quế hoàn toàn ưa sáng Tinh dầu Quế có vị thơm, cay, ngọt rất được ưa chuộng
Do đó, Quế còn được gọi là cây đa mục đích và là một trong những loài cây trồng được lựa chọn trong chương trình dự án góp phần xoá đói giảm nghèo, giúp người dân miền núi có cơ hội vươn lên làm giàu
Tuy nhiên, nguồn nguyên liệu Quế hiện đã không còn dồi dào Nhất là hiện nay, người dân chuyển sang trồng cây gỗ Keo nhiều hơn cây Quế, do cây Keo sớm thu lợi nhuận hơn (chỉ khoảng 4-5 năm là thu hoạch) Vì lợi ích trước mắt, rừng trồng có diện tích trồng hẹp và khó mở rộng, làm giảm sản lượng sản phẩm
1.2 Tổng quan kết quả nghiên cứu về cây Quế
1.2.1 Tình hình sản xuất Quế trên thế giới
Các số liệu thống kê của FAO được cung cấp dưới đây cho thấy một bức tranh toàn cầu về Quế trên toàn cầu trong 10 năm qua Trong những năm gần đây nghiên cứu tài liệu thị trường cho thấy thị trường Quế không có những thay đổi đáng kể trong việc cung cấp Quế Như vậy dữ liệu của FAO về sản xuất Quế được coi là có giá trị và hữu ích cho việc phân tích Quế ở các nước trên thế giới
Trang 16Bảng 1.1: Giá trị sản xuất Quế trên thế giới từ năm 2012 - 2020
Thế giới
Diện tích thu hoạch (ha)
Trang 17Hơn 10 năm qua diện tích trồng Quế trên toàn thế giới đã tăng với tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm là 5,2% từ 151.297ha năm 2003 lên đến 227.529ha vào năm 2011 và đặc biệt đáng chú ý đó là Vệt Nam đạt mức tăng trưởng hai chữ số với tỷ lệ 15,6% Diện tích Quế trên toàn quốc tăng gấp 3 lần
từ 17.000ha trong năm 2012 lên 54.000 ha trong năm 2020 In-đô-nê-xi-a, Việt Nam, Trung Quốc và Sri Lanka hiển nhiên là cường quốc sản xuất Quế chính trên thế giới In-đô-nê-xi-a chiếm 45% tổng diện tích đất trồng Quế, tiếp theo
là Việt Nam, Trung Quốc và Sri Lanka với số phần tương ứng là 24%, 17% và 13%
1.2.2 Tình hình nghiên cứu cây Quế trên thế giới
Chi Quế (tên khoa học: Cinnamomum) là một chi các loài thực vật thường xanh thuộc họ Nguyệt Quế (Lauraceae) Lá và vỏ cây các loài thuộc chi này có tinh dầu thơm Chi này có khoảng hơn 300 loài, phân bố chủ yếu tại các khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới của Bắc Mỹ, Trung Mỹ, Nam Mỹ, châu
Á, châu Đại Dương và Australasia
1.2.2.1 Đặc điểm sinh vật học, sinh thái học và kỹ thuật gây trồng
- Đặc điểm sinh vật học
Quế (Cinnamomum cassia) là cây thường xanh được trồng rộng rãi ở miền Nam và miền Đông châu Á (Ấn Độ, Indonesia, Lào, Malaysia, Đài Loan, Thái Lan và Việt Nam) Cây cao từ 10-15 m, vỏ màu xám, lá thuôn dài từ 10-
15 cm, trong các bộ phận của cây Quế như: Vỏ, lá, hoa, gỗ, rễ đều có chứa tinh dầu
Hoa tự chùm, nhỏ màu trắng, quả Quế khi chưa chín có màu xanh, khi chín chuyển sang màu tím than, quả mọng trong chứa một hạt, quả dài 1cm đến 1,2 cm, hạt hình bầu dục, 1 kg hạt Quế có khoảng 2500 – 3000 hạt Bộ rễ Quế phát triển mạnh, rễ cọc cắm sâu vào lòng đất, rễ lan rộng, đan chéo nhau Vì vậy, Quế có khả năng sinh sống tốt trên các vùng đồi núi dốc
Trang 18- Đặc điểm sinh thái học
Quế C.tamala phân bố ở hầu hết các vùng Himalaya nhiệt đới, cận nhiệt đới và mở rộng đến vùng Đông Bắc Ấn Độ, đến độ cao 2000 m Quế C tamala được trồng ở vùng Khasi, Jaintia, đồi Garo của Meghalaya và vùng đồi Cachar Bắc của Assam (Cinnamom and cassia CRS.PRESS.2004)
Quế Inđonêsia có phân bố từ mặt biển đến độ cao 2000m Trung tâm trồng Quế là vùng Padang, ở độ cao từ 500 – 1300m Một biến chủng của loàinày có lá non màu đỏ sinh trưởng ở độ cao hơn trong vùng núi Korintji (còn gọi là Kerinci) Loại này chất lượng tốt hơn và được buôn bán trên thị trường thế giới với tên gọi Quế Korintji (Cinnamom and cassia CRS.PRESS.2004)
- Kỹ thuật gây trồng
Trên thế giới có nhiều nước trồng Quế rất thành công cho sản lượng và năng suất cao như ở Ấn Độ, cây được trồng với cự li 3m x 2m Cây con được gieo trên luống và trồng khi cây 4 – 5 tháng tuổi Khi cây 8 – 10 tuổi được khai thác lá cho đến hàng trăm tuổi Lá già được thu từ tháng 10 – 12 đến tháng 3 năm sau Lá được thu hàng năm ở các cây trẻ và khỏe và luân phiên đối với cây già và yếu Lá thường được bó thành từng bó, phơi ngoài nắng, rồi đem bán Sản lượng mỗi cây khoảng 9 – 19 kg/năm Trồng teijat là một bộ phận trong hệ thống nông lâm kết hợp ở Ấn Độ (Cinnamom and cassia CRS.PRESS.2004)
Rừng Quế ở đây được chăm sóc như đối với cây rừng Ngoài chăm sóc
về lâm sinh và phân bón, tác động duy nhất là tỉa các cành thấp ở thân cây Phân bón được khuyến cáo là NPK với tỷ lệ 15-15-15, liều lượng 40 – 100kg/ha tùy thuộc tuổi cây, nhưng người trồng Quế hiếm khi sử dụng phân bón (Akahil Baruah và Subhan C Nath, 2004)
Trang 191.2.2.2 Giá trị sử dụng
Dầu Quế được chiết xuất từ lá, vỏ cây, cành cây bằng cách chưng cất hơi nước Các thành phần hóa học chính của dầu Quế là aldehyd cinnamic, cinnamyl acetate, benzaldehyde, linalool và chavicol
Các đặc tính chữa bệnh của dầu Quế là chống đầy hơi, chống tiêu chảy, chống vi khuẩn và chống nôn Dầu Quế được sử dụng cho các bệnh cảm lạnh, cúm, sốt, viêm khớp và thấp khớp…
Vỏ Quế được dùng làm gia vị trong công nghiệp chế biến thực phẩm (ướp thịt, cá, làm bánh kẹo, sản xuất đồ hộp, nước giải khát) Tinh dầu từ vỏ và
lá được sử dụng nhiều trong công nghiệp dược phẩm và hoá mỹ phẩm Tại các nước châu Âu, tinh dầu từ vỏ Quế quan được dùng để uống với chè vì nó có đặc tính kích thích và diệt khuẩn
Ngoài tinh dầu trong vỏ Quế còn chứa tanin, nhựa dầu (oleoresin), protein, pentosan, chất keo, xơ và các chất khoáng Tinh dầu lá Quế thành phần chính là eugenol (70-95%), ngoài ra còn khoảng 50 hợp chất khác, trong đó các hợp chất có hàm lượng đáng kể là linalool, cinnamyl acetat, β- caryophyllen, (E)-cinnamic aldehyd, benzyl benzoat… Do có hàm lượng eugenol cao, nên tinh dầu lá Quế quan được dùng làm nguyên liệu để chuyển hoá thành iso-eugenol và tổng hợp vanilin Hạt chứa dầu béo (hàm lượng khoảng 30%) nên được dùng làm dầu thực phẩm tại Ấn Độ và Sri Lanka
1.2.2.3 Những nghiên cứu về biện pháp phòng trừ
- Biện pháp phòng trừ bệnh hại
Kiểm soát bệnh đốm tảo do Cephaleuros virescens bằng hỗn hợp hợp 1% Bordeaux, 50% Topsin và 50% Carbendazim lần lượt là 66,2%, 45,9%, và 33,8% (Zheng et al (2004)
Rajapakse and Wasantha (2007), để khống chế bệnh đốm lá do C gloeesporioides bằng cách phun Chlorothalonil 75% WP, Carbendazim 50%
Trang 20WP, Mancozeb 80%WP or Thiphanatemethyl 70% WP khoảng 7 -10 ngày, có thể cải thiện bệnh Bệnh Phấn hồng do Corticicum salmonicolor chưa có biện pháp hóa học nào được đề xuất quản lý loại bệnh này mà đốt cháy cành hoặc phần của cây bị nhiễm bệnh là biện pháp làm giảm tỷ lệ bị bệnh Phòng trừ bệnh loét sọc bằng cách cải thiện hệ thống thoát nước làm cho tỷ lệ bị bệnh thấp đi Việc loại bỏ và tiêu hủy các bộ phận bị nhiễm bệnh và băng vết thương bằng nhựa đường cũng được đề xuất để kiểm soát bệnh
1.2.3 Những nghiên cứu cây Quế ở Việt Nam
Quế có tên khoa học là: Cinnamomum cassia BL, thuộc chi:
Cinnamomum, họ: Lauraceae.Tên Việt Nam: Quế Tên địa phương: Quế Thanh, Quế Quỳ, Quế Quảng, Quế Yên Bái, Quế Bì, Mạy Quế Tên tiếng Anh: Cinnamo
“Vân đài loại ngữ” và Nguyễn Trứ trong “Việt Nam thực vật học” cũng đã mô
tả lại hình thái và công dụng của cây Quế Trong bộ sách “Y tông tâm lĩnh” gồm 66 quyển của Hải Thượng Lãn Ông (1721 - 1792) có nhiều bài thuốc sử dụng vỏ Quế Cũng trong khoảng thời gian này, khi người Pháp đến Việt Nam, Joanis de Loureiro (1730) đã mô tả 1257 loài cây cỏ ở Nam Bộ trong cuốn Floria Cochichinensis và xác định tên khoa học cho cây Quế là Luarus cinnamomum Lour Từ đó cho đến đầu thế kỷ XIX hầu như không có công trình nào nghiên cứu thêm về cây Quế (Trần Hợp, 1984)
Từ xa xưa nhân dân các dân tộc nước ta đã nhận biết được lợi ích của cây Quế và sử dụng Quế vào nhiều mục đích Trước hết Quế được sử dụng làm thuốc chữa bệnh, vỏ Quế được mài ra trong nước đun sôi để nguội để uống,
Trang 21hoặc trong các bài thuốc có Quế để chữa một số bệnh đường tiêu hoá, đường
hô hấp, kích thích sự tuần hoàn của máu, lưu thông thuyết mạch, làm cho cơ thể ấm lên Chống lại giá lạnh và có tính chất sát trùng Quế được nhân dân coi như một trong bốn vị thuốc rất có giá trị: Sâm, Nhung, Quế, Phụ
Theo tác giả Lê Trần Đức trong: “Cây thuốc Việt Nam” Nhục Quế vị ngọt cay tính nóng, thông huyết mạch, làm mạnh tim, tăng sức nóng, chữa các chứng trúng hàn, hôn mê, mạch chạy chậm, nhỏ, tim yếu (trụy mạch, huyết áp hạ) và bệnh dịch tả nguy cấp…”
Quế Giao chỉ (Quế Việt Nam) trước đây được coi là sản vật quý giá, có giá trị như ngà voi, chim công… sử dụng để làm quà ngoại giao, biếu tặng trong
và ngoài nước Nhân dân Thanh Hoá còn gọi Quế địa phương là Ngọc Quế Châu Thường Quế được sử dụng một khối lượng lớn để làm gia vị vì Quế có
vị thơm, cay và ngọt có thể khử bớt được mùi tanh, gây của cá, thịt, làm cho các món ăn hấp dẫn hơn, kích thích được tiêu hoá Quế còn được sử dụng trong các loại bánh kẹo, rượu: như bánh Quế, kẹo Quế, rượu Quế được sản xuất và bán rất rộng rãi
Quế được sử dụng làm hương vị, bột Quế được trộn với các vật liệu khác
để làm hương khi đốt lên có mùi thơm được sử dụng nhiều trong các lễ hội, đền chùa, thờ cúng trong nhiều nước châu á nhất là các nước có đạo phật, đạo Khổng
Tử, đạo Hồi Gần đây nhiều địa phương còn sử dụng gỗ Quế, vỏ Quế để làm ra các sản phẩm thủ công mỹ nghệ như bộ Khay, ấm, chén bằng vỏ Quế, đĩa Quế,
đế lót dầy có Quế Bột Quế còn được nghiên cứu thử nghiệm trong thức ăn gia súc để làm tăng chất lượng thịt các loại gia súc, gia cầm Ngoài ra, gỗ Quế còn được sử dụng làm ván ghép thanh, cột chống, đóng đồ gia dụng, làm đũa và làm tăm suất khẩu…
Cây Quế có giá trị rất lớn trong đời sống sinh hoạt của nhân dân ta trong nhiều thế kỷ qua Trước hết đây là một vị thuốc quý cả về thuốc Nam lẫn thuốc
Trang 22Bắc (một trong bốn vị thuốc đầu bảng Sâm – Nhung – Quế - Phụ) Nghiên cứu
về giá trị dược liệu của cây Quế, Đỗ Tất Lợi (1970) chỉ rõ trong Tây y, Quế và tinh dầu Quế được coi là một vị thuốc có tác dụng kích thích làm cho sự tuần hoàn máu được lưu thông, hô hấp cũng mạnh lên Đông y coi Quế như là một
vị thuốc bổ, có nhiều công dụng có khi chữa cả đau mắt, ho hen, bồi bổ cho phụ nữ sau khi sinh nở, chữa bệnh đau bụng, đi tả nguy hiểm đến tính mạng
Từ vỏ và lá Quế chúng ta có thể chưng cất lấy tinh dầu Tinh dầu Quế là mặt hàng có giá trị trong xuất khẩu Trong y dược, tinh dầu Quế là chất sát trùng mạnh, trong tinh dầu có eugenol thường dùng để tổng hợp vanilin
Trong các loài cây lâm sản ngoài gỗ của rừng nhiệt đới nước ta cây Quế
có thể tổ chức sản xuất thành nguồn hàng lớn, ổn định lâu dài và có giá trị, nhất
là giá trị xuất khẩu Cây Quế là nguồn lợi kinh tế lớn và gắn liền với đời sống của nhân dân các dân tộc ít người nước ta như đồng bào Dao, Mông, Tày… (Lào Cai), Thái, Mường (Nghệ An, Thanh Hoá) Cà tu, Cà toong (Quảng Nam, Quảng Ngãi) và Thanh Y, Thanh Phán (Quảng Ninh)
Về công dụng của các bộ phận trên cây Quế chủ yếu là làm thuốc, giá trị dược liệu của các bộ phận này phụ thuộc vào kỹ thuật khai thác, chế biến vỏ Quế
1.2.3.2 Đặc điểm sinh vật học, sinh thái học và kỹ thuật gây trồng
- Đặc điểm sinh vật học
Cây Quế là loài cây thân gỗ, sống lâu năm, ở cây trưởng thành có thể cao trên 15m, đường kính ngang ngực (1,3m) có thể đạt đến 40cm Quế có lá đơn mọc cách hay gần đối lá có 3 gân gốc kéo dài đến tận đầu lá và nổi rõ ở mặt dưới của lá, các gân bên gần như song song, mặt trên của lá xanh bóng, mặt dưới lá xanh đậm, lá trưởng thành dài khoảng 18 – 20 cm, rộng khoảng 6 – 8 cm, cuống lá dài khoảng 1 cm Quế có tán lá hình trứng, thường xanh quanh năm, thân cây tròn đều, vỏ ngoài màu xám, hơi nứt rạn theo chiều dọc Trong
Trang 23các bộ phận của cây Quế như vỏ, lá, hoa, gỗ, rễ đều có chứa tinh dầu, đặc biệt trong vỏ có hàm lượng tinh dầu cao nhất, có khi đạt đến 4 – 5% Tinh dầu Quế
có màu vàng, thành phần chủ yếu là Aldehyt Cinamic chiếm khoảng 70 – 90% Cây Quế khoảng 8 đến 10 tuổi thì bắt đầu ra hoa, hoa Quế mọc ở nách lá đầu cành, hoa tự chùm, nhỏ chỉ bằng nửa hạt gạo, vươn lên phía trên của lá, màu trắng hay phớt vàng Quế ra hoa vào tháng 4,5 và quả chín vào tháng 1,2 năm sau Quả Quế khi chưa chín có màu xanh, khi chín chuyển sang màu tím than, quả mọng trong chứa một hạt, quả dài 1 đến 1,2 cm, hạt hình bầu dục, 1 kg hạt Quế có khoảng 2500 – 3000 hạt Bộ rễ Quế phát triển mạnh, rễ cọc cắm sâu vào lòng đất, rễ bàng lan rộng, đan chéo nhau vì vậy Quế có khả năng sinh sống tốt trên các vùng đồi núi dốc
- Đặc điểm sinh thái học
Đây là lĩnh vực nghiên cứu được nhiều tác giả quan tâm và được tiến hành trên nhiều vùng trồng Quế khác nhau ở nước ta
Nghiên cứu ảnh hưởng của ánh sáng đến sinh trưởng của cây Quế con trong vườn ươm, Vũ Đại Dương (2002), cho rằng độ che sáng có ảnh hưởng rõ rệt đến tỷ lệ cây sống ở giai đoạn này
Trần Hợp (1991), tại các điểm nghiên cứu Đài Sơn (Yên Bái), Quất Động (Quảng Ninh) và Hom Cán (Thanh Hóa) cho thấy khi còn non, Quế là cây chịu bóng tuổi vườn ươm, che bóng bằng nứa đan lọt ánh sáng là tốt nhất Nghiên cứu qua các ô dạng bản (1m2) trong rừng tự nhiên thì thấy Quế con tái sinh nhiều dưới tán cây mẹ, ra chỗ hết che bóng thì hầu như không thấy nữa; mặc
dù hạt Quế có thể phát tán khá xa gốc cây mẹ, nhưng có lẽ chỉ nảy mầm và thành cây Quế con trong điều kiện dưới tán cây Như vậy, dưới 1 tuổi cây Quế
là cây chịu bóng cao
Nghiên cứu phân vùng sinh thái: Công trình nghiên cứu của Hoàng Cầu (1993), phân chia nước ta thành 4 vùng trồng Quế đó là:
Trang 24- Vùng Yên Bái;
- Vùng Trà My, Trà Bồng;
- Vùng Quế Phong, Quỳ Châu và Thường Xuân;
- Vùng Quế Hải Ninh, Quảng Hà, Bình Liêu, Tiên Yên (Quảng Ninh) Tác giả cũng cho rằng do nhu cầu xuất khẩu Quế ngày càng tăng nên việc mở rộng vùng trồng Quế là rất cần thiết Tuy nhiên, khi mở rộng vùng trồng rừng ở một số địa phương kết quả đạt được còn thấp, Quế sinh trưởng chậm, vỏ mỏng, hàm lượng tinh dầu thấp và đời sống của cây Quế cũng ngắn Nguyên nhân chủ yếu có thể là do sự thay đổi của điều kiện sinh thái giữa các vùng Từ kết quả nghiên cứu đặc điểm tự nhiên của các vùng Quế lâu đời ở nước ta, tác giả nêu một số vấn đề tham khảo trong quá trình mở rộng vùng gây trồng ra ngoài vùng phân bố tự nhiên cây Quế như sau:
- Những vùng trồng Quế có triển vọng cần chú ý kiểm tra chất lượng vỏ Quế đạt được qua từng giai đoạn Có thể 5 năm là 1 cấp tuổi để khảo nghiệm các chỉ tiêu chất lượng như hàm lượng tinh dầu trong vỏ và độ dày của vỏ để
so sánh với các chỉ tiêu chất lượng vùng phân bố tự nhiên và tiêu chuẩn vỏ Quế xuất khẩu hiện hành
- Những vùng có lượng mưa thấp dưới 2000 mm/năm hoặc các vùng có mùa khô kéo dài, ít mưa, mực nước ngầm sâu, cần chú ý theo dõi các mùa sinh trưởng của Quế, đề phòng Quế bị chết hàng loạt do thiếu độ ẩm
- Đất vùng đồi núi trọc, đất bị thoái hóa, bị bào mòn, đất bị đá ong, chặt bí không nên trồng Quế
- Những vùng có độ cao 800m trở lên cây Quế sinh trưởng chậm và cho năng suất thấp Với độ cao dưới 300m Quế cho vỏ mỏng, hàm lượng dầu trong
vỏ thấp và dễ bị sâu bệnh
- Những nhận xét trên hầu hết mang tính định tính, ví dụ như việc chia 5 năm thành 1 cấp tuổi đối với Quế mới chỉ dựa vào kinh nghiệm, mặc dù vậy có
Trang 25thể xem đây là một tài liệu có giá trị tham khảo tốt
Từ những nghiên cứu trên cho thấy phần lớn các tác giả đều thống nhất Quế là cây chịu bóng ở giai đoạn tuổi nhỏ, từ 5 tuổi trở lên cây Quế ưa sáng hoàn toàn Quế được trồng dưới tán rừng, hoặc trồng theo nhiều phương thức
và phương pháp khác nhau Cây Quế có thể dẫn giống để mở rộng phạm vi phân bố tự nhiên của nó ra những vùng khác có điều kiện khí hậu và đất đai tương tự như nơi nó đã phát sinh Nhìn chung cây Quế ít bị sâu bệnh khi trồng ngoài khu vực phân bố tự nhiên của nói; nhưng bệnh tua mực có thể xuất hiện
ở độ cao trên 400m tại miền Trung (Nguyễn Trung Tín, 2009) Tuy nhiên, chất lượng vỏ Quế ở các vùng này chưa có cơ sở để kết luận Những nghiên cứu so sánh và định lượng quá trình sinh trưởng của Quế ở các vùng trồng Quế tập trung trong nước chưa được các tác giả trên quan tâm, trong đó có vùng Thanh Hóa
Hoàng Cầu (2013) đã nghiên cứu dẫn giống Quế thanh hóa, Quế Quảng
ra các tỉnh Hòa Bình, Yên Bái với mục đích khảo nghiệm loài và bệnh tua mực
ở các tỉnh phía Bắc Tác giả cho biết độ cao thích hợp để trồng Quế từ 300 – 700m, càng lên cao, Quế sinh trưởng càng chậm và cây thấp hơn Điều này cũng đã được đề cập trong nghiên cứu của Nguyễn Văn Khánh (2016) khi phân vùng lập địa lâm nghiệp Ở Quảng Ngãi, Trần Cửu (2013) cũng nghiên cứu đặc tính sinh vật học, khả năng trồng và di thực cây Quế từ Quảng Ngãi về vùng núi An Lão (Bình Định) Tại Bình Định, phương pháp trồng Quế dưới tán rừng
tự nhiên có độ tàn che 0,3 – 0,4 là thích hợp; tác giả đề xuất: tại đây Quế nên trồng ở độ cao trên 200m để tránh bệnh tua mực Năm 1993, Phạm Chí Thành
và Lê Thanh Hà đã đánh giá “muốn có sản lượng Quế ổn định và lâu dài thì chủ trương trồng Quế thuần loài là không hợp lý vì đất sau trồng Quế thường
bị khô, xấu, khả năng phục hồi rất lâu” Kết quả nghiên cứu này cũng phù hợp với một số nghiên cứu của Phạm Xuân Hoàn (1998) khi nghiên cứu ảnh hưởng
Trang 26của đất tới sinh trưởng của rừng Quế chồi ở Yên Bái Năm 1996, Ngô Đình Quế đã nghiên cứu khả năng trồng Quế tại Đại Từ - Thái Nguyên và đánh giá bước đầu Quế sinh trưởng tốt tại vùng này
- Kỹ thuật gây trồng
Nguyễn Huy Sơn và cộng sự (2001) đã tiến hành thu hái quả chín từ 30 cây mẹ có tuổi từ 25 – 30 năm, ở rừng trồng của các gia đình ở xã Đại Sơn, Văn Yên, Yên Bái cho kết quả: trọng lượng của quả và hạt Quế có hệ số biến động rất lớn, trung bình 1,0kg quả có 2000 quả, nhưng phạm vi biến động từ
1447 – 2438 hạt, tỷ lệ nảy mầm ban đầu của hạt Quế đạt khá cao (92,5%); hạt Quế thuộc nhóm hạt ưa ẩm và khó bảo quản và độ ẩm hạt lớn hơn 40%, sau 9 tháng tỷ lệ nảy mầm vẫn còn đạt 25% Với phương pháp bảo quản này, hạt có thể cất trữ trong thời gian dài hơn nhiều so với phương pháp cất trữ truyền thống của nhân dân địa phương (trộn hạt với cát ẩm bảo quản nơi râm mát, thời gian bảo quản chỉ đạt 2 – 3 tuần)
Về mật độ trồng Quế hiện nay rất khác nhau, có thể 2000 cây/ha đến
10000 - 20000 cây/ha tùy theo địa phương
Quy phạm trồng Quế ban hành năm 2000 (TC ngành: 04 – TCN-23- 2000) quy định mật độ trồng từ 2500 cây đến 3000 cây/ha Tuy nhiên, trong thực tế mật độ rất khác nhau
Hoàng Cầu và Nguyễn Hữu Phước (1991) khi nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu kỹ thuật, sơ chế và bảo quản vỏ Quế xuất khẩu” đã đưa ra một số kết luận:
- Tuổi cây Quế tăng tỷ lệ thuận với lượng tăng trưởng của vỏ Quế và không nên khai thác Quế dưới 12 tuổi
- Mật độ trồng Quế có quan hệ chặt chẽ với đường kính cây, độ dầy vỏ
và hàm lượng tinh dầu của vỏ Quế
Trang 27- Có thể khai thác vỏ Quế nhiều lần trên 1 cây, mỗi lần bóc 1/4, 1/3 hay 1/2 diện tích vỏ về một phía Tuy nhiên, khai thác chọn theo cấp kính hay khai thác trắng được áp dụng trong sản xuất
- Không nên phơi Quế ra ngoài nắng hoặc gác lên sàn bếp, không để ngoài mưa, sương đêm khi sơ chế Quế Tuy nhiên, các tác giả cũng chưa đưa
ra các số liệu chứng minh cho các kết luận trên
1.2.3.3 Những nghiên cứu về sinh trưởng và sản lượng rừng quế
Những nghiên cứu về sinh trưởng và định lượng quá trình sinh trưởng về cây Quế ở nước ta còn đang ở mức độ thăm dò Những kết quả thu được ban đầu cần phải được kiểm định một cách khoa học Lý do là, về phương pháp nghiên cứu sinh trưởng cho một loài cây mà sản phẩm chính là vỏ, khác với những loài cây cho sản phẩm chính là gỗ Mặt khác, Quế phân bố ở cả ba miền nhưng phạm vi phân bố ở mỗi vùng lại tương đối hẹp Vì vậy, kết quả nghiên cứu ở mỗi vùng có thể vận dụng ở các vùng khác hay không là vấn đề cần phải nghiên cứu
Trần Hợp (1984) đã nghiên cứu một số “đặc điểm sinh thái” và nhận xét
“cây Quế mang đầy đủ tính chất của một loài cây sinh thái – khí hậu” Nghiên cứu tăng trưởng Quế, Trần Hợp (1984) đã chia quá trình sinh trưởng thành hai: (i) “thời kỳ lớn”: Thời kỳ cây Quế ở vườn ươm dưới 5 tuổi (thời kỳ còn chịu bóng) và; (ii) thời kỳ thành thục, tức là thời kỳ ưa sáng hoàn toàn và ổn định
về chiều cao đường kính cũng như vỏ Tuy nhiên, khi giải tích cây trong đó
có tuổi cao nhất là 45 tuổi, tác giả đã chia “sự tăng trưởng” của cây Quế làm 3 giai đoạn:
- Giai đoạn I: dưới 10 tuổi Ở giai đoạn này chiều dầy vỏ Quế từ 0,3 – 0,4cm Tăng trưởng đường kính trung bình 1,0cm/năm và tăng trưởng chiều cao bình quân 1,1m/năm
Trang 28- Giai đoạn II: 10 – 30 tuổi Giai đoạn này “là giai đoạn ổn định tương đối” Bề dày vỏ từ 0,5 – 0,7cm Đường kính tăng bình quân 0,7cm/năm và tăng trưởng chiều cao bình quân đạt 0,5m/năm
- Giai đoạn III: trên 35 tuổi Giai đoạn này tăng trưởng chậm rõ rệt D1.3 tăng bình quân 0,24cm/năm và Hvn tăng 0,2m/năm Bề dày vỏ đạt ở mức 0,7 – 0,8cm/năm Tỷ lệ thể tích vỏ ổn định xấp xỉ 10% so với thể tích thân cây
Căn cứ vào các giai đoạn tăng trưởng trên, Trần Hợp (1984) phân chia các lâm phần Quế thành 8 cấp tuổi với cự li mỗi cấp tuổi là 5 năm Tác giả kết luận: “giai đoạn I: cây mọc nhanh nhất, chúng đạt đến chiều cao và đường kính
lý tưởng, sau đó các chỉ số này chậm dần và ổn định ở tuổi 30 Do đó, tuổi khai thác tốt nhất là từ 30 – 35 tuổi” Tuy nhiên, theo tác giả có thể khai thác sớm hơn khoảng 10 tuổi lúc đó Quế đã qua giai đoạn mọc nhanh và bước vào giai đoạn phát triển bình thường
1.2.3.4 Những nghiên cứu về tình hình sâu bệnh hại
Phạm Quang Thu (2016), điều tra thành phần loài sinh vật hại Quế tại 2 tỉnh Yên Bái và Quảng Nam Kết quả thu được 63 loài của động vật gây hại gồm lớp côn trùng có 60 loài thuộc 6 bộ (bộ cánh cứng có 12 loài, thuộc 7 họ;
bộ cánh nửa có 6 loài, thuộc 5 họ; bộ cánh đều 12 loài, thuộc 6 họ; bộ cánh bằng có 2 loài, thuộc 1 họ; bộ cánh vẩy có 25 loài, thuộc 15 họ; bộ cánh thẳng
có 7 loài, thuộc 4 họ), lớp chân bụng có 3 loài Trong đó Bộ cánh vẩy có nhiều loài nhất Sâu hại lá gồm: Sâu đo 2 loài Biston sp., và Ectropis sp., Bọ nẹt Parasa lepida, Rệp nhung Icerya seychellarum, Sâu đo xám Hyposidra talaca, Sâu xám Agrotis ipsilon, Sâu róm Calliteara horsfeldii, Sâu róm 4 túm lông xám Dasychira chekiangensis,… Sâu hại ngọn lá, non: Bọ xít lưng gù Dichocysta pictipes, Rệp nâu Toxoptera aurantii, Bọ xít vân đen vàng Erthesina fullo … Sâu hại thân cành gồm: Mọt đuôi 2 gai Sinoxylon anale, Mọt sáu gai Xylothrips flavipes,… Sâu hại thân: Vòi voi xám Shirahoshizo rufescens, Xén
Trang 29tóc cánh xanh Bacchisa sp., Mọt hại vỏ Dryocoetes villosus, Sâu hại vỏ (Indarbela quadrinotata),… Sâu hại rễ: Bọ hung nâu nhỏ Maladera orientalis,
Dế mèn nâu nhỏ Gryllus testaceus,… Nhưng lưu ý nhất đó là các loài gây hại Quế chính như: Bọ xít lưng gù (Dichocysta pictipes), Rệp nâu(Toxoptera aurantii), Sâu đo (Biston sp.), Sâu hại vỏ (Indarbela quadrinotata) (Phạm Quang Thu (2016))
Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Yên Bái, năm 2016 sâu róm xanh hại Quế lần đầu tiên xuất hiện và gây hại mạnh, tổng diện tích cây Quế bị sâu róm xanh
ăn lá lên đến 262ha, trong đó có 163 ha bị hại nhẹ, 83 ha bị hại trung bình và
16 ha bị hại nặng; Gây hại chủ yếu ở huyện Văn Yên và Trấn Yên Trong đầu năm 2017 sâu róm xanh lại xuất hiện trở lại gây hại trên diện tích là 98,5 ha (Theo công văn số 1082/SNN-BVTV ngày 01/12/2016 và công văn số 142/SNN-TT&BVTV ngày 22/3/2017)
Võ Duy Loan (2014) đã điều tra và thu thập thành phần sâu bệnh hại Quế tại huyện Trà Bồng tỉnh Quảng Ngãi và kết quả thu được 14 loại sâu hại gồm: sâu đo, sâu róm, sâu ăn lá, sâu đục đọt, bọ xít nâu sẫm, sâu kèn, sâu cuốn lá, bọ vòi voi, sâu phỏng lá, bọ hung, bọ phấn, nhện, rệp ống, rệp muội, rầy đỏ… Trong đó sâu đục đọt xuất hiện thường xuyên và rất phổ biến có ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển của Quế, các vườn Quế cấp tuổi 1 bị hại nặng hơn so với các vườn Quế cấp tuổi 2, vị trí chân đồi bị hại nặng hơn so với vị trí sườn đồi
Theo Trần Quang Tấn (2004) kết quả điều tra sâu hại Quế chính tại 3 vùng trồng Quế tập trung thu được 19 loài sâu hại tại vùng Quế Yên Bái, 17 loài gây hại tại Thanh Hóa và 15 loài tại Quảng Nam… Trong đó có 10 loài sâu hại lá và 9 loài gây hại thân cành Có 5 loài xuất hiện rất phổ biến ở tất cả các vùng trồng Quế Yên Bái, Thanh Hóa, Quảng Nam như sâu đo ăn lá (Biston maginata Shiraki), sâu róm (Creatonotus gangis Linn.), sâu cuốn lá (Ancylis sp.), sâu đục ngọn chồi (Cophopropra sp.), sâu gặm vỏ (Aegeria sp)… sự xuất
Trang 30hiện của các đối tượng gây hại này phần nào ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây Đặc biệt sâu cuốn lá, sâu đo và sâu đục ngọn chồi ở Quế tuổi nhỏ (Quế 2-
4 tuổi), sâu gặm vỏ ở Quế tuổi lớn… có mật độ khá cao ở tất cả các vùng Đặc biệt là bọ xít có màu nâu sẫm mới chỉ xác định xuất hiện và gây hại rất nặng ở yên Bái, là nguyên nhân gây chết hàng loạt cây Quế tại Yên Bái Bọ xít nâu sẫm có trứng hình bầu dục, mầu trắng vàng, khi sắp nở có mầu nâu đỏ, trứng
đẻ rời từng quả trong phần hốc cành hoặc vết nứt trên thân, bọ xít non có màu
đỏ tươi đến nâu đỏ, khi trưởng thành có màu nâu sẫm Bọ xít nâu sẫm ưa thích thức ăn là đoạn cành bánh tẻ, trên cành non hoặc đoạn cành già bọ xít không hoàn thành phát dục, thường chết ở tuổi 2 và tuổi 3 Nuôi bọ xít trên đoạn cành trám, xoan bánh tẻ cho thấy các loại thức ăn này bọ xít đều chết ngay ở tuổi 1
Bọ xít gây hại nặng nhất trên Quế 5 -8 tuổi, nhẹ hơn trên Quế 2 -4 tuổi, Quế trên 8 tuổi ít bị hại nhất Bọ xít bắt đầu gây hại vào mùa xuân, mật độ tăng dần
và đạt đỉnh cao vào đầu hè và giữa thu, đây là thời kỳ có nhiều cành bánh tẻ Trong nghiên cứu tác giả cũng cho thấy vùng Quảng Nam, Quảng Ngãi thường xuyên bị sâu đo, sâu ăn lá gây hại nặng, Năm 1979 tại Trà Bồng, Quảng Ngãi dịch sâu đo đã ăn trụi toàn bộ lá, năm 2002 – 2003 gây hại nặng ở Quảng Nam, một số vườn Quế bị sâu ăn trụi lá vào mùa khô hạn, không có khả năng hồi phục
Theo Phạm Quang Thu (2016), điều tra thành phần loài sinh vật hại Quế tại Yên Bái và Quảng Nam Kết quả thu được 23 loài vật gây bệnh, trong đó gồm có lớp Ulvophyceae có 1 loài; lớp Alphaprobacteria có 1 loài; lớp Leotiomycetes có 2 loài; lớp Sordariomycetes có 8 loài; lớp Dothideomycetes
có 5 loài; lớp Agaricomycetes có 3 loài; lớp Oomycetes có 3 loài Cụ thể gồm, bệnh hại lá: Bệnh thán thư Colletotrichum sp, bệnh khô lá Pestalotiopsis funerae, bệnh đốm lá Colletotrichum cinnamomi, bệnh phấn trắng Oidium sp., bệnh đốm lá Gloeosporium cinnamomi,… Bệnh hại thân, cành: Bệnh tua mực
Trang 31Agrobacterium tumefaciens, bệnh nứt cành Verticillium sp., bệnh khô cành Phomopsis sp.,… bệnh hại rễ: Bệnh thối rễ do Rhizoctonia solani và Phytophthora cinamomi, Trong đó các loài gây hại chính cho Quế như: Bệnh tua mực do vi khuẩn Agrobacterium tumefaciens, bệnh phấn trắng do nấm Oidium sp., bệnh thán thư do nấm Colletotrichum gloeosporioides
Trong nghiên cứu của Dang Nhu Quynh và cộng sự (2017) cho biết Bệnh thối rễ do nấm Phytophthora cinnamomi gây hại Quế lần đầu tiên được ghi nhận ở Việt nam Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng khoảng 10% diện tích rừng Quế tại tỉnh Yên Bái bị chết nguyên nhân là do nấm gây bệnh thối rễ
Võ Duy Loan (2014) đã phát hiện được 12 loại bệnh: bệnh thối rễ nứt thân, bệnh thối rễ tơ, bệnh thối gốc nấm trắng, bệnh lở cổ rễ, bệnh thối nâu rễ, bệnh đốm lá, bệnh thán thư lá, bệnh tua mực, bệnh cao cành, bệnh thán thư đọt non do nấm, tảo nấm hồng và 2 loại tuyến trùng là tuyến trùng mụn u và tuyến trùng ngoại ký sinh Tuy nhiên đáng chú ý nhất là các loại bệnh gây ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển của Quế như bệnh tua mực, bệnh đốm lá, bệnh thán thư đọt (khô đọt non) Đặc biệt ở đây tác giả cho thấy bệnh tua mực tại huyện Trà Bồng là do Phytoplasma gây ra, khác với các kết quả công bố của Phạm Quang Thu (2016) và Trần Quang Tấn (2004) bệnh tua mực do Agrobacterium tumefaciens gây ra Bệnh được truyền qua côn trùng môi giới là rệp ống Aulacaspis
Trần Quang Tấn (2004) đã công bố về thành phần bệnh hại Quế tại Yên Bái, Thanh Hóa và Quảng Nam đã thu thập được 11 mẫu bệnh hại và xác định được 10 loại vi sinh vật ký sinh gây bệnh trên Quế bao gồm: bệnh nứt cành do nấm Verticilium sp., bệnh cháy lá do Pestalozzia cinnamomi; bệnh đốm lá do Gloeosporium cinnamomi; Collectotrichum cinnamomi và Phyllosticta cinnamomi; phomopsis sp.; Khô cành do Lasiodiplodia theobromae; bệnh cao cành do Septobasidium sp.; bệnh muội đen do Capnodium sp và bệnh tua mực
Trang 32do Agrobacterium tumefaciens Trong đó bệnh tua mực gây hại trên thân, cành, cuống gân lá lần đầu tiên được phát hiện ở Trấn Yên – Yên Bái và đặc biệt đã
và đang trở thành dịch hại chính quan trọng trên cây Quế tại Quảng Nam Đây cũng là đối tượng gây hại nguy hiểm hàng đầu ở tất cả các vùng trồng Quế tại Quảng Nam và Quảng Ngãi Tại Trà My và Tiên Phước Quảng Nam tỉ lệ bệnh
là khoảng 5 – 10%, cá biệt có những vườn Quế tỉ lệ bệnh lớn hơn 50% Ở Quảng Ngãi các vườn Quế tái sinh chồi có vườn tỉ lệ bệnh lên tới 30 – 40% Bệnh tua mực gây hại tất cả các bộ phận của cây, rễ, thân, cành, cuống lá và gân lá Triệu chứng của bệnh có thể tìm thấy từ Quế ở trong vườn ươm trở đi và gây hại ở tất cả các vùng Quế đồi, Quế vườn Các vườn Quế có độ che phủ cao bệnh nặng hơn những vườn Quế được chiếu nắng đầy đủ Cây con bị bệnh nếu triệu chứng
ở đỉnh sinh trưởng của cây, cây thường bị khô chết từ ngọn xuống
Nguyễn Trung Tín (1999), điều tra về bệnh tua mực tại Quảng Nam và Quảng Ngãi cho rằng tỷ lệ nhiễm bệnh tua mực rừng trồng thuần loài từ 70 – 100% Tại Trà Giác, Trà My có 100% số cây bị tua mực Quế thanh hóa trồng
ở Trà My tỷ lệ tua mực thấp hơn khoảng 15 – 20% Tác giả cũng cho thấy nếu Quế Trà My đem trồng ở vùng thấp hơn thì tỷ lệ tua mực thấp hơn
Theo Trần Văn Mão (1989) thì có một số loài sâu hại Quế là: Tằm ăn lá (Attacus alfa Linn), Sâu róm (Dasychira mendosa Hueb), Sâu đục thân (Zeuzera cofeae Niel) Về bệnh hại Quế có bệnh đốm lá, bệnh cháy lá, u biếu cành
Ở Quảng Nam và Quảng Ngãi bệnh tua mực đã phát triển mạnh ảnh hưởng đến sinh trưởng và hàm lượng tinh dầu: bệnh tua mực phát triển mạnh ở các khu vực trồng Quế có độ ẩm cao, có vườn Quế tỷ lệ bệnh tua mực từ 75 – 85% (Phạm Văn Lực và cộng sự, 1997) Hàm lượng tinh dầu và andehyl cinnamic ở các mẫu bị tua mực , đều thấp hơn so với đối chứng Ví dụ hàm lượng tinh dầu ở mẫu khô bị tua mực là 0,77% thì ở mẫu không bị tua mực 5,57%, hàm lượng aldehyl cinnamic tương ứng là 47,3% và 92,9%
Trang 33Năm 2000, Bộ Nông Nghiệp và PTNT đã giao cho viện bảo vệ thực vật
đề tài trọng điểm: nghiên cứu nguyên nhân và giải pháp khắc phục hiện tượng
chết hàng loạt cây quế ở yên bái đã thu thập xác định được 10 loại sâu, 4 loại
bệnh hại tại vùng quế Văn Yên - Yên Bái đã nghi nhận được hiện tượng chết hàng loạt cây quế tại xã Đại Sơn huyện văn yên có liên quan đến một loại bọ xít gây hại
1.2.3.5 Những nghiên cứu về biện pháp phòng trừ
- Phòng trừ sâu hại Quế
Võ Duy Loan (2014) đã có khuyến cáo có thể sử dụng 4 loại thuốc Regent 800 WG, Padan 95SP, NurelleD 25/2,5EC, Karate 2,5 EC đều có hiệu lực cao đối với sâu đục đọt
Theo Trần Quang Tấn (2004), Phòng trừ bọ xít nâu sẫm bằng thuốc hóa học Admire 50 EC cho hiệu quả cao từ 93,64 – 100% sau 5 ngày phun Biện pháp kỹ thuật tổng hợp để ngăn chặn dịch hại bọ xít hại Quế bằng các giải pháp sau: Trồng cây lâm nghiệp ở đỉnh đồi với 1/4 diện tích gồm những cây bản địa lấy gỗ như Pơ mu, dổi, xoan… Trồng các băng Quế và băng cây lâm nghiệp kinh tế cao xen tiếp nhau: 1/3 diện tích băng cây lâm nghiệp có kinh tế cao (trám, trầm hương…), 2/3 diện tích còn lại là các băng Quế Giữ tỷ lệ diện tích Quế từ 50 - 60% diện tích trồng Duy trì mật độ Quế theo tuổi cây tạo điều kiện lớn nhanh vượt qua giai đoạn mẫn cảm nhất đối với bọ xít: Tuổi 3: 4000 cây/ha, tuổi 4: 3000 cây/ha, tuổi 5: 2500 cây/ha và tuổi 6: 2000 cây/ha Phòng trừ bọ xít nâu sẫm hại Quế bằng thuốc Admire đúng thời điểm tại những vùng có dịch hại Thử nghiệm mô hình kể trên cho thấy cây sinh trưởng tốt, không có cây bị chết do hiện tượng sùi cành (do bọ xít hại), trong khi đó vườn đối chứng tỷ lệ cây chết là 34,69% Phòng trừ sâu đục ngọn cành Quế bằng các thuốc Padan
95 Sp sẽ hạn chế được số ngọn cành Quế bị sâu đục héo sẽ giúp cho Quế sinh trưởng và phát triển tốt Phun thuốc khi Quế ra lộc rộ vào tháng 3 không những
Trang 34hạn chế được thiệt hại do sâu đục ngọn gây ra mà còn hạn chế được tác hại của sâu đo ăn lá khi sâu bùng phát và gây hại vào tháng 4- 6 tại Quảng Nam
- Phòng trừ bệnh hại
Võ Duy Loan (2014) bệnh đốm lá do Gleosporium cinnamomi có thể sử dụng các loại thuốc Carbebda 50FL, Sumi-eight 12,5 WP và Ridomil 68 WG đều có hiệu lực Bệnh thán thư do nấm Collectotrichum cinnamomi bằng thuốc Aliette 89WP, Cuzate M8-72WP và Score 250 ND Đối với bệnh tua mực, các thuốc bảo vệ thực vật không có tác dụng phòng trừ nhưng thuốc Bonny 4 Sl có khả năng kiềm hãm sự phát triển của chiều dài tua chứ không có khả năng trừ bệnh Việc phòng trừ tua mực do Phytoplasma gây ra phải áp dụng đồng bộ các biện pháp: trồng theo đúng mật độ khuyến cáo, bón phân để cây sinh trưởng tốt, phòng trừ môi giới truyền bệnh là rệp ống bằng cách cắt bởi các đoạn cành
có rệp đem đi tiêu hủy, nếu mật độ rệp cao thì sử dụng một trong các loại thuốc Actara 25WG, Midan 10WP, Chess 50 WP phun trừ Tác gỉa cũng cho biết biện pháp phòng trừ sâu bệnh tổng hợp trên cây Quế là áp dụng đồng bộ các biện pháp chăm sóc làm cỏ bón phân,tỉa cành tạo tán, phòng trừ sâu bệnh kịp thời
đã đem lại sự khác biệt rõ rệt về sinh trưởng phát triển và cải thiện tình hình sâu bệnh hại so với các vườn Quế chăm sóc theo tập quán của nông dân
Trần Quang Tấn (2004) để phòng trừ bệnh tua mực thì vườn trồng loại
bỏ được nguồn bệnh, tạo độ thông thoáng đầy đủ ánh sáng cho vườn Quế, duy trì mật độ 3000 cây/ha Phòng trừ sâu đục ngọn cành Quế bằng các thuốc Padan
95 Sp sẽ hạn chế được số ngọn cành Quế bị sâu đục héo sẽ giúp cho Quế sinh trưởng và phát triển tốt Phun thuốc khi Quế ra lộc rộ vào tháng 3 không những hạn chế được thiệt hại do sâu đục ngọn gây ra mà còn hạn chế được tác hại của sâu đo ăn lá khi sâu bùng phát và gây hại vào tháng 4- 6 tại Quảng Nam
1.3 Tổng quan về khu vực nghiên cứu
1.3.1 Điều kiện tự nhiên
1.3.1.1 Vị trí địa lý
Trang 35Xã Vạn Thủy là xã miền núi vùng III, nằm ở phía Tây - Bắc của huyện
Bắc Sơn (cách thành phố Lạng Sơn khoảng 98 km) Xã Vạn Thủy có tổng diện
tích tự nhiên theo địa giới hành chính là: 4.065,21 ha có vị trí:
- Phía Đông giáp xã Long Đống;
- Phía Tây giáp xã Tân Tri
- Phía Nam giáp xã Đồng Ý;
- Phía Bắc giáp xã Hòa Bình, Tân Hòa, thuộc huyện Bình Gia;
Xã Tân Tri nằm ở phía Tây Nam của huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn Có tọa độ địa lý 21° 51′ 39″ vĩ độ Bắc đến 106° 8′ 41″ kinh Đông Cách trung tâm huyện Bắc Sơn 27km Làm một xã miền núi, thuộc cánh cung Bắc Sơn của vùng Đông Bắc Việt Nam
Xã Tân Tri có tổng số diện tích 3.497,37 ha gồm có 16 thôn là Khau Bao,
Vũ Thắng A, Vũ Thắng B, Nà Càng, Ngọc Lâu, Pò Đồn, Long Bài, Bản Hoàng, Yên Mỹ, Thâm Phè, Bắc Mỏ, Minh Sơn, Thâm Xi, Bình An, Suối Tín, Suối Tát
Xã Tân Tri cách Hà Nội 162km và cách thị trấn Bắc Sơn 24km
Xã Tân Tri là nơi có địa hình núi đá vôi xen lẫn thung lung Tân Tri là
xã miền núi của của vùng Đông Bắc Việt Nam Xã Tân Tri có các ngọn núi cao 500-1.200 m, như ngọn núi Khau Pi Ao (cao 1.107m), ngọn núi Pa Lép (503 m) Địa hình Tân Tri nhiều núi đá vôi điển hình của cánh cung Bắc Sơn có nhiều hang động kỳ vĩ xen lẫn những cánh đồng bằng phẳng mầu mỡ
Trang 36- Nhiệt độ trung bình năm là 20,80C
- Nhiệt độ trung bình cao nhất: 37,7 0 c
- Nhiệt độ trung bình thấp nhất: 1,50 c
- Độ ẩm không khí trung bính năm từ 80 - 85%
- Lượng mưa trung bình trong năm: 1480 mm
Xã Tân Tri nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới nóng ẩm nên mát mẻ, trong lành Mùa hè nhiệt độ dao động từ 20-27 độ C
- Vùng phía Bắc: Có độ cao trung bình 500 m so với mặt nước biển Đặc điểm vùng này ít mưa, nhiệt độ trung bình 21 - 23ºc Lượng mưa bình quân 1.800 mm/năm Độ ẩm thường xuyên 80 – 85%, có những ngày chịu ảnh hưởng của gió Lào
Trang 37- Vùng núi phía Nam: chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc, có lượng mưa lớn, bình quân 1.800 – 2.000 mm/năm, nhiệt độ trung bình 23 - 24ºc, độ
ẩm không khí 81 – 86%
- Các hiện tượng thời tiết khác:
+ Sương muối: Xuất hiện chủ yếu ở độ cao trên 600 m, nhiệt độ càng xuống thấp số ngày có sương càng nhiều
+ Mưa đá: Xuất hiện ở một số nơi vào khoảng cuối mùa xuân, đầu mùa
hạ và thường đi kèm với hiện tượng dông và gió xoáy cục bộ
Khí hậu xã Tân Tri ổn định, ít đột biến phù hợp với trồng trọt và chăn nuôi, trồng các loại cây lương thực, thực phẩm, cây công nghiệp dài ngày ở phía Nam Cây ăn quả, cây công nghiệp ngắn ngày như: hồi, sắn, quýt, đậu đỗ, thuốc lá các loại ở phía Bắc
1.3.1.4 Đất đai
Xã Vạn Thủy có 3 nhóm đất chính: Đất phù sa, đất bạc mầu và đất đỏ vàng nhạt Đất phù sa có đặc điểm được bồi đắp hằng năm nhờ các con suối nhỏ hay đồi núi khi có những trận mưa lũ, sự bồi đắp từ đồi núi, nương rẫy hay các con suối nhỏ nên nó mang lại độ phì nhiêu, màu mỡ cho đất, phù hợp trồng các loại rau, ngô, lạc, đậu đỗ ; đất bạc màu có đặc điểm khô, cứng phù hợp trồng chè, trồng keo; đất đỏ vàng nhạt có đặc điểm hình thành trên nhiều loại
đá mẹ khác nhau phù hợp trồng lúa
Hiện trạng sử dụng đất
Tổng diện tích đất tự nhiên toàn xã là: 4.065,21ha
• Diện tích đất rừng Lâm nghiệp: 3.503,6ha
• Diện tích đất Nông nghiệp: 357,65ha
• Diện tích đất sử dụng cho mục đích khác: 203,96ha
• Diện tích đất trồng Quế: 425,8ha
Xã Tân Tri có nhóm đất đồi (gồm đất đỏ vàng, đất mùn vàng) phân bổ
Trang 38rộng khắp trên địa bàn, nhóm đất này có độ phì nhiêu khá cao thích hợp với cây công nghiệp dài ngày (cây quít, hồi, dứa, mía, Quế )
Hiện trạng sử dụng đất
Tổng diện tích đất tự nhiên toàn xã là 3.497,37 ha
• Diện tích đất rừng Lâm nghiệp: 1.834ha
• Diện tích đất Nông nghiệp: 1.269ha
• Diện tích đất sử dụng cho mục đích khác: 394,37ha
• Diện tích đất trồng Quế: 305ha
1.3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Vạn Thủy là một xã vùng 3 của huyện Bắc Sơn, toàn xã có 4 thôn (Bản Soong, Nà Thí, Bản Khuổng và Bản Cầm) với hơn 367hộ/1660 nhân khẩu Chủ yếu là đồng bào thiểu số với 4 dân tộc anh em cùng sinh sống gồm: Tày, Nùng, Dao, Kinh Trình độ dân trí còn tương đối hạn chế Dân cư trên địa bàn toàn xã phân bố không đồng đều Chủ yếu nằm dọc theo các trục đường chính, đường liên thôn, liên xã Chủ yếu là làm nông nghiệp chỉ có một số ít làm nghề sản xuất kinh doanh, buôn bán nhỏ
Dịch vụ thương mại phát triển còn chậm, chủ yếu tập trung vào các hàng quán buôn nhỏ lẻ, không đáp ứng được nhu cầu cung cấp hàng hóa cho người dân trên địa bàn xã
Về trồng trọt: Trong những năm qua người dân trên địa bàn xã Vạn Thủy
đã tiếp thu và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, tổng diện tích gieo trồng năm 2017 là 417,5, tổng sản lượng lương thực có hạt là 1.012,9 tấn, bình quân lương thực có hạt 600kg/người/năm, bình quân thu nhập đầu người 15.000.000đ/người/năm
Thuốc lá là cây công nghiệp ngắn ngày, có giá trị kinh tế cao, tuy nhiên trong những năm gần đây (từ 2013 đến nay) trên địa bàn xã không phát triển trồng thuốc lá mà chủ yếu là trồng lúa và hoa màu
Trang 39Về trồng cây lâm nghiệp: Trong những năm gần đây thế mạnh của xã là phát triển trồng rừng, đến nay diện tích trồng rừng là 389ha nâng độ che phủ rừng đạt 48%; trồng cây ăn quả được nhân dân tích cực thực hiện cho đến thời điểm này nhân dân tự trồng trên khoảng 5.000 cây/hộ gia đình, nhiều hộ gia đình có thu nhập từ đồi rừng và cây ăn quả trung bình khoảng trên 60 triệu đồng/năm
Tình hình an ninh luôn được giữ vững ổn định Các tín ngưỡng tôn giáo sinh hoạt đúng pháp luật
Xã Tân Tri:
Năm 2017 xã có 1023 hộ, 4618 nhân khẩu Trong đó dân tộc Tày là 613
hộ, Dao là 407 hộ, Kinh 3 hộ
- Tỷ lệ hộ nghèo tính đến năm 2019 là 11%
- Dân cư – an ninh xã hội:
• Thanh niên làm nông và hầu hết đi làm ăn xa
• Tình hình an ninh luôn được giữ vững ổn định Các tín ngưỡng tôn giáo sinh hoạt đúng pháp luật
- Kinh tế: Chủ yếu tập trung vào trồng cây nông nghiệp, lâm nghiệp, chăn nuôi và trồng trọt cây ăn quả
- Dịch vụ thương mại phát triển còn chậm, chủ yếu tập trung vào các hàng quán buôn nhỏ lẻ, không đáp ứng được nhu cầu cung cấp hàng hóa cho người dân trên địa bàn xã