ĐẠI HỌC QUỐC GIA ĐẠI HỌC BÁCH KHOA TP HỒ CHÍ MINH BÀI TẬP LỚN MÔN TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN ĐỀ TÀI Định nghĩa vật chất của V I Lênin, phương thức và hình thức tồn tại của vật chất Nghiên cứu vấn đề vật chất đối với khoa học hiện nay LỚP NHÓM HK 201 Ngày nộp Giảng viên hướng dẫn An Thị Ngọc Trinh Sinh viên thực hiện Mã số sinh viên Điểm số Thành phố Hồ Chí Minh – 2020 ĐỀ TÀI 3 Định nghĩa vật chất của V I Lênin, phương thức và hình thức tồn tại của vật chất Nghiên cứu vấn đề vật chất đối với khoa học.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA ĐẠI HỌC BÁCH KHOA TP HỒ CHÍ MINH
BÀI TẬP LỚN MÔN TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN
ĐỀ TÀI:
Định nghĩa vật chất của V.I Lênin, phương thức
và hình thức tồn tại của vật chất Nghiên cứu vấn
đề vật chất đối với khoa học hiện nay.
LỚP - NHÓM - HK 201
Ngày nộp:
Giảng viên hướng dẫn: An Thị Ngọc Trinh
Thành phố Hồ Chí Minh – 2020
Trang 2ĐỀ TÀI 3: Định nghĩa vật chất của V.I Lênin, phương thức và hình thức tồn tại của vật chất Nghiên cứu vấn đề vật chất đối với khoa học hiện nay.
MỤC LỤC
Trang
1 PHẦN MỞ ĐẦU 1
2 PHẦN NỘI DUNG 4
Chương I: Định nghĩa vật chất của Lênin 4
1 Vật chất:
1.1 Quan điểm của chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật trước C.Mác về phạm trù vật chất: 4
1.2 Cuộc cách mạng trong khoa học tự nhiên cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX và sự phá sản của các quan điểm duy vật siêu hình về vật chất: 5
1.3 Quan niệm vật chất của Lênin: 5
2: Phương thức và hình thức tồn tại của vật chất: 7
2.1.Phương thức tồn tại của vật chất: 7
2.1.1.Khái niệm vận động 7
2.1.2 Nguyên nhân vận động 7
2.1.3 Bản chất của vận động 7
2.1.4 Nguyên tắc phân chia vận động và các hình thức vận động cơ bản 8
2.2 Hình thức tồn tại của vật chất: 10 2.2.1 Không gian:
2.2.2 Thời gian:
2.2.3 Mối quan hệ giữa không gian và thời gian:
Chương 2: Nghiên cứu vấn đề vật chất đối với sự phát triển của khoa học tự nhiên:
2.1 Sự phát triển của khoa học tự nhiên cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX:
Trang 32.2 Giá trị định nghĩa vật chất của Lênin trong sự phát triển của Khoa Học Tự Nhiên hiện nay 12 2.3 Hạn chế trong nghiên cứu về khoa học tự nhiên khi giải thích về tính vật chất của thế giới:
2.4 Giải pháp khắc phục:
3 TÀI LIỆU THAM KHẢO: 15
Trang 4
1 PHẦN MỞ ĐẦU:
Trong lịch sử triết học Mác – Lênin khái niệm vật chất được hiểu là tất cả những
gì tồn tại khách quan tức là những sự tồn tại của nó không phụ thuộc vào ý thức của con người, không phụ thuộc vào quan niệm của con người Theo đó thì vật chất là vô cùng tận, là không có giới hạn, nó tồn tại giữa vô lượng các hình thức khác nhau, có thể là những tồn tại mà con người đã biết hoặc là những tồn tại
mà con người chưa biết Đó là những vật chất tự nhiên hoặc là những tồn tại của vật chất trong đời sống xã hội Vật chất tồn tại vô cùng lớn ví dụ: như thiên hà, hoặc vô cùng bé là những hạt cơ bản Đó có thể là những tồn tại mà người ta trực tiếp giác quan được nhưng cũng có thể là những tồn tại mà không thể trực tiếp giác quan được nhưng nó là tồn tại khách quan Vật chất với tư cách là tồn tại khách quan thì không tồn tại có nghĩa là con người không thể dùng giác quan
để nhận biết những vật chất với tư cách là những biểu hiện tồn tại cụ thể dưới những hình thức nhất định thì nó tồn tại cảm tính Thông qua đó thì con người mới nhận thức được về nó Khi nhắc tới vật chất ta không thể không nhắc tới quan niệm về vật chất của V.I.Lênin, quan niệm đó đã khắc phục được những hạn chế mà các quan niệm về vật chất trước đó đang gặp phải Vậy thì quan niệm về vật chất của V.I.Lênin là gì? Phương thức và hình thức của nó ra sao? Vật chất đối với nền khoa học hiện nay có tác động như thế nào? Với mong muốn tìm hiểu kĩ hơn về vấn đề này nên nhóm em chọn chủ đề “Định nghĩa vật chất của V.I Lênin, phương thức và hình thức tồn tại của vật chất Nghiên cứu vấn đề vật chất đối với khoa học hiện nay.”
2 PHẦN NỘI DUNG:
CHƯƠNG I: ĐỊNH NGHĨA VẬT CHẤT CỦA V.I LÊNIN: 1.1.Quan niệm chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật trước C.Mác về phạm trù vật chất:
1.1.1 Quan điểm duy tâm:
a Chủ nghĩa duy tâm chủ quan:
Đặc trưng cơ bản của mọi sự vật, hiện tượng là sự tồm tại phụ thuộc vào chủ quan
b.Chủ nghĩa duy tâm khách quan:
Thừa nhận sự tồn tại hiện thực của thế giới tự nhiên.
=>kết luận: Con người không thể hoặc chỉ nhận thức được cái bóng , cái bề ngoài Các nhà triết học duy tâm đã phủ nhận đặc tính tồn tại khách quan của vật chất.
Trang 51.1.2.Quan điểm duy vật:
a.Chủ nghĩa duy vật thời Cổ đại:
+ Xuất hiện với quan niệm xuất phát từ tự nhiên, về vật chất đồng nhất vật chất với nước (Talet), lửa (Hêraclit), không khí ( Anaximen), hay nguyên tử phân tử ( Đêmôcrit), ngũ hành ( Trung Quốc).
+ Anaximander cho rằng mọi vật trong vũ trụ là là dạng vật chất đơn nhất,vô định,vô hạn và tồn tại vĩnh viễn.
+ Loxip và Đemocrit cho rằng vật chất là nguyên tử.
b.Chủ nghĩa duy vật thế kỉ XV –XVII:
+ Chủ nghĩa duy vật mang hình thức chủ nghĩa duy vật siêu hình ,máy móc + Song chưa thoát ra khỏi tư duy siêu hình.
+ Có những nhà triết học vạch ra những sai lầm của thuyết nguyên tử như
Đeecacto, Canto.
=>>> + Ưu điểm: Lấy chính bản thân vật chất để giải thích khái niệm vật chất + Hạn chế: Đồng nhất vật chất với những cụ thể nên :
Dễ dàng bị chủ nghĩa duy tâm tấn công bằng truy nguyên
Đưa thế giới vào phạm vi hẹp
Không thể định nghĩa vật chất vì thiếu logic
1.2 Cuộc cách mạng khoa học tự nhiên cuối thế kỉ XIX ,đầu thế kỉ XX và
sự phá sản của các quan điểm siêu hình về vật chất:
-Năm 1895, Rơnghen phát hiện ra tia X Năm 1896, Béccơren phát hiện ra hiện tượng phóng xạ của nguyên tố Ưrani Năm 1897, Tômxơn phát hiện ra điện tử Năm
1901, Kauíman đã chứng minh dược khối lượng của điện tử không phải là bất biến mà thay dồi theo vận tốc vận động của nguyên từ Năm 1898 - 1902, nhà nữ vật lý học Ba Lan Mari Scôlôđốpsca cùng với chồng là Pie Curie, nhà hoá học người Pháp, đã khám phá ra chất phỏng xạ mạnh là pôlồni và rađium Những phát hiện vĩ dại đó chứng tỏ rằng, nguyên tử không phâi là phần tử nhỏ nhát mà nó có thề bị phân chia, chuyển hoá.Năm 1905, Thuyết Tương đối hẹp và năm 1916, Thuyết Tương dối Tổng quát của A Anhxtanh ra đời đã chứng minh: không gian, thời gian, khối lượng luôn biến đồi cùng với sự vận động của vật chất
-Đứng trước những phát hiện trên đây của khoa học tự nhiên, không ít nhà khoa học và triết học đứng trên lập trường duy vật tự phát, siêu hỉnh đã hoang mang, dao
Trang 6động, hoài nghi tính đúng đắn của chủ nghĩa duy vật Họ cho rằng, nguyên tử không phải là phần tử nhò nhất, mà có thể bị phân chia, tan rã, bị “mất di” Do dó, vật chất cũng có thể biến mất; có hiện tượng không có khối lượng cơ học, hạt chuyển thành trường, cũng có nghĩa là vật chất chỉ còn là năng lượng, là sóng phi vật chất; quy luật
cơ học không còn tác dụng gì trong thế giới vật chất “kỳ lạ”.Theo đó, E.Makhơ phủ nhận tính hiện thực khách quan của điện tử Ổtvan phủ nhận sự tồn tại thực tế cùa nguyên tử và phân tử Còn Piếcsơn thì định nghĩa: “Vật chất là cái phi vật chất đang vận động”(!) Đây chính là cuộc khủng hoảng vật lý học hiện đại
1.3 Quan niệm của triết học Mác- Lênin về vật chất:
1.3.1 Khái niệm về vật chất:
Theo Lê-Nin phạm trù vật chất là một phạm trù “rộng đến cùng cực, rộng nhất, mà cho đến nay, thực ra nhận thức luận vẫn chưa vượt quá được” Khi định nghĩa phạm trù này, không thể quy nó về vật thể hoặc một thuộc tính cụ thể nào đó, cũng không thể quy về phạm trù rộng hơn vì đến nay chưa có phạm trù rộng hơn phạm trù vật chất
Kế thừa tư tưởng của C.Mác và Ph.ăngghen, tổng kết những thành tựu khoa học tự nhiên cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX và từ nhu cầu của cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm, Lê-Nin đã đưa ra một định nghĩa toàn diện sâu sắc và khoa học về phạm trù vật chất “ Vật chất là một phạm trù triết học dung để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác Được cảm giác của chúng ta chép lại phảnánh và được tôn tại không lệ thuộc vào cảm giác”
Ở định nghĩa này, Lê-Nin phân biệt hai vấn đề quan trọng: Trước hết là phân biệt
vật chất với tư cách là phạm trù triết học với các quan niệm của khoa học tự nhiên về
cấu tạo và những thuộc tính cụ thể của các đối tượng các dạng vật chất khác nhau Vật chất với tư cách là phạm trù triết học dung chỉ vật chất nói chung, vô hạn, vô tận, không sinh ra, không mất đi; còn các đối tượng, các dạng vật chất khoa học cụ thể nghiên cứu đều có giới hạn, có sinh ra và mất đi để chuyển hóa thành cái khác Vì vậy,không thể quy vật chất nói chung về vật thể, không thể đồng nhất vật chất nói chung với những dạng cụ thể của vật chất như các nhà duy vật trong lịch sử cổ đai, cận đại đãlàm Thứ hai là trong nhận thức luận, đặc trưng cơ bản quan trọng nhất để nhận biết
vật chất chính là thực tại khách quan Khách quan, theo Lê-Nin là “ cái đang tồn tại
độc lập với loài người và với cảm giác của con người” Trong đời sống xã hội, vật chất
“ theo ý nghĩa tồn tại xã hội không phụ thuộc vào ý thức xã hội của con người” Về mặt nhận thức luận thì khái niệm vật chất không có nghĩa gì khác hơn: “ thực tại kháchquan tồn tại độc lập với ý thức con người phản ánh”
Vật chất là cái gây nên cảm giác ở con người khi gián tiếp hoặc trực tiếp tác động lên giác quan của con người Khi con người cảm nhận được sự tồn tại của vật chất có nghĩa là khi đó một trong những giác quan của con người cảm nhận được sự tồn tại về hình dáng, kích thước, màu sắc, âm thanh… của vật chất Chính những cảm giác này tạo cho con người có cảm giác khác nhau khi nhìn thấy những dạng vật chất khác nhau
Trang 7Cảm giác, tư duy, ý thức chỉ là sự phản ánh của vật chất Trong thế giới hiện tại, con người cảm nhận mọi thứ bằng các giác quan và đồng thời vật chất là cái “được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh”, Lê-Nin muốn nhấn mạnh rằng bằng những phương thức nhận thức khác nhau con người có thể nhận thức được thế giới vật chất Từ cảm giác đến tư duy hay cao hơn nữa là nhận thức thì vật chất vẫn là yếu tố trung gian không thể thiếu.
1.3.2 Ý nghĩa của định nghĩa vật chất Lê-Nin
Với những nội dung cơ bản như trên định nghĩa vật chất của Lê-Nin có nhiều ý nghĩa
to lớn Khi khẳng định vật chất là “ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác” , “tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”, Lê-Nin đã thừa nhận rằng, trong nhận thức luận, vật chất là tính thứ nhất, là nguồn gốc khách quan của cảm giác,
ý thức Khi khẳng định vật chất là cái “ được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, ghi lại, phản ánh”, Lê-Nin muốn nhấn mạnh rằng bằng những phương thức nhận thức khác nhau con người có thể nhận thức được thế giới vật chất Như vậy, định nghĩa vật chất của Lê-Nin đac bác bỏ quan điểm của chủ nghĩa duy tâm, bác bỏ thuyết không thểbiết, đã khác phục được những hạn chế trong các quan điểm của chủ nghĩa duy vật trước Mác về vật chất
Đồng thời, định nghĩa vật chất của Lê-Nin còn có ý nghĩa định hướng đối với khoa học cụ thể trong việc tìm kiếm các dạng hoặc các hình thức mới của vật thể trong thế giới Khi nhận thức các hiện tượng thuộc đời sống xã hội, định nghĩa vật chất của Lê-Nin đã cho phép xác định cái gì là vật chất trong lĩnh vực xã hội Từ đó giúp các nhà khoa học có cớ sở lý luận để giải thích những nguyên nhân cuối cùng của các biến cố
xã hội, những nguyên nhân thuộc về sự vận động của phương thức sản xuất, trên cớ sở
ấy người ta có thể tìm ra các phương án tối ưu để hoạt động thúc đẩy xã hội phát triển
2.1.Phương thức tồn tại của vật chất:
2.1.2 Nguyên nhân vận động:
1 Các Mác và Ph Ăngghen (1994), toàn tập, t.20, Sđd tr.751
Trang 8- Vận động là thuộc tính cố hữu của vật chất Không ở đâu và ở nơi nào lại có thể cóvật chất không vận động.
- Sự tồn tại của vật chất là tồn tại bằng cách vận động, tức là vật chất dưới các dạngthức của nó luôn luôn trong quá trình biến đổi không ngừng Các dạng tồn tại cụ thểcủa vật chất không thể không có thuộc tính vận động
- Trong thế giới vật chất, từ những thiên thể khổng lồ đến những hạt cơ bản vô cùng
bé, từ giới vô cơ đến giới hữu cơ, từ hiện tượng tự nhiên đến hiện tượng xã hội, tất cảđều ở trạng thái không ngừng vận động biến đổi Chúng luôn tác động , ảnh hưởng lẫnnhau và chính sự tác động, ảnh hưởng qua lại lẫn nhau ấy gây nên những biến đổi nóichung, tức là vận động
2.1.3 Bản chất của vận động:
- Vận động của vật chất là tự thân vận động và mang tính phổ biến Sở dĩ ta nói vậnđộng là tự thân vận động vì nó được tạo nên từ sự tác động lẫn nhau của chính cácthành phần nội tại trong cấu trúc vật chất (là thuộc tính cố hữu của vật chất) TheoĂng-ghen, vận động của vật chất do tác động qua lại giữa các yếu tố, các bộ phận khácnhau của bản thân sự vật, “sự tác động qua lại đó chính là sự vận động” 2
- Vật chất chỉ có thể tồn tại bằng cách vận động và thông qua vận động mà biểu hiện
sự tồn tại của nó với các hình dạng phong phú, muôn vẻ, vô tận
- Chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo cho rằng, có vận động mà không có vật chất, tức là cólực lượng phi vật chất vận động bên ngoài thế giới vật chất Họ giải thích mối quan hệphụ thuộc lẫn nhau giữa khối lượng và năng lượng thành sự biến đổi của khối lượngthành năng lượng phi vật chất V.I.Lênin cho rằng, quan niệm trên của các nhà triếthọc duy tâm chẳng qua chỉ là “ thứ dùng thuật ngữ “ mới” để ngụy trang cho những sailầm cũ về mặt nhận thức luận” 3
- Vận động là thuộc tính cố hữu và là phương thức tồn tại của vật chất; do đó, nó tồntại vĩnh viễn, không thể tạo ra và không bị tiêu diệt Điều đó đã được các nhà khoa học
tự nhiên chứng minh bằng quy luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng Có nghĩa là
2
Ph.Ăng-ghen: Biện chứng của tự nhiên, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, năm 1971, trang 94
3 V.I.Lênin(1980), toàn tập, t.18,Sđd.tr.334
Trang 9một hình thức vận động cụ thể thì có thể mất đi để chuyển thành hình thức vận độngkhác, còn vận động nói chung thì tồn tại vĩnh viễn gắn liền với bản thân vật chất 2.1.4 Nguyên tắc phân chia vận động và các hình thức vận động cơ bản:
-Hình thức vận động của vật chất rất đa dạng, được biểu hiện bởi các quy mô, trình độ
và tích chất hết sức khác nhau Dựa vào các thành tựu khoa học của thời đại của mình,Ph.Ăngghen đã chia vận động của vật chất thành năm hình thức cơ bản: cơ học, vật lí,hóa học, sinh học và xã hội
+ Vận động cơ học là sự dịch chuyển vị trí của các vật thể trong không gian Vídụ: chuyển cái bàn từ vị trí A sang vị trí B trong phòng họp
+ Vận động vật lý là vận động của các phân tử, các hạt cơ bản, của điện tử, củacác quá trình nhiệt, điện, v.v Ví dụ: khi ta đun nước, khi nhiệt độ của ngọn lửa tănglên thì nhiệt độ của bình nước cũng tăng dần lên
+ Vận động hoá học là vận động của các nguyên tử, các quá trình hoá hợp vàphân giải các chất Ví dụ: ta cho muối vào bình nước và lắc nhẹ, muối sẽ hoà tan dầntrong nước
+ Vận động sinh học là vận động của sự trao đổi chất giữa cơ thể và môi trường
Ví dụ: khi ta hít thở không khí thì cơ thể ta thực hiện sự trao đổi chất giữa cơ thể vớimôi trường
+ Vận động xã hội là vận động của các hình thái kinh tế - xã hội Ví dụ: sựchuyển từ hình thái kinh tế - xã hội phong kiến sang hình thái kinh tế - xã hội tư bảnchủ nghĩa
- “Vận động trong không gian vũ trụ, vận động cơ học của các vật thể tương đối nhỏtrên một thiên thể riêng biệt, chấn động phân tử dưới hình thức nhiệt, dòng điện, dòng
từ phổ, phân giải và hợp chất hóa học, sự sống hữu cơ cho đến cái sản phẩm cao nhấtcủa nó là tư duy.” 4
- Cơ sở phân chia trên dựa trên các nguyên tắc:
+ Các hình thức vận động phải tương ứng với trình độ nhất định của tổ chức vậtchất
4 Các Mác và Ph Ăngghen (1994), toàn tập, t.20, Sđd tr.833
Trang 10+ Các hình thức vận động có mối liên hệ phát sinh, nghĩa là hình thức vận độngcao này sinh trên cơ sở của hình thức vận động thấp và bao hàm hình thức vận độngthấp
+ Hình thức vận động cao khác về chất so với hình thức vận động thấp và khôngthể quy về hình thức vận động thấp
- Việc phân chia các hình thức có ý nghĩa quan trọng trong việc phân chia các đốitượng và xác định mối quan hệ giữa các ngành khoa học, đồng thời vạch ra các nguyên
lý đặc trưng cho sự tương quan giữa các hình thức vận động của vật chất
- Các hình thức vận động tồn tại trong mối liên hệ không thể tách rời nhau Giữa haihình thức vận động cao và thấp có thể có hình thức vận động trung gian, đó là mắtkhâu chuyển tiếp trong quá trình chuyển hóa lẫn nhau của các hình thức vận động
- Trong lịch sử, các nhà triết học duy vật ở thế kỉ XVII và XVIII, do quan niệm siêuhình đã quy mọi hình thức vận động thành một hình thức duy nhất đó là vận động cơhọc Họ coi hoạt động của tự nhiên và con người không khác gì những cổ máy, từ đóhình thành chủ nghĩa cơ giới Quan niệm sai lầm của chủ nghĩa cơ giới là nguyên nhândẫn đến những bế tắc trong việc lí giải những biến đổi của thể giới sinh vật và xã hội
- Đến giữa thế kỉ XIX, những người theo chủ nghĩa Đác-uyn xã hội lại quy vận độnng
xã hội là vận động sinh học, coi con người như một sinh vật thuần túy Họ cho rằng, sựtồn tại phát triển của xã hội là quá trình chọn lọc tự nhiên, trong đó con người đấu đá,tiêu diệt lẫn nhau, kẻ nào mạnh, thích ứng được thì tồn tại, ngược lại thì bị tiêu diệt.Trong khi thuyết tiến hóa của Đác-uyn được coi là chân chính, thì chủ nghĩa Đác-uyn
xã hội lại là sai lầm vì hạ thấp con người xuống hàng con vật
- Việc nghiên cứu sự thống nhất và khác nhau của các hình thức vận động của vật chấtvừa là vấn đề có ý nghĩa phương pháp luận quan trọng, đồng thời là vấn đề có ý nghĩathực tiễn sâu sắc, giúp chúng ta đề phòng và khắc phục những sai lầm trong nghiêncứu khoa học và thực tiễn xã hội
2.1.5 Vận động và đứng im:
- Sự vận động không ngừng của vật chất không những không loại trừ mà trái lại cònbao hàm trong đó là sự đứng im tương đối
Trang 11- Đứng im là trạng thái ổn định về chất của sự vật, hiện tượng trong những mối quan
hệ và điều kiện cụ thể Đứng im chỉ có tính tạm thời, chỉ xảy ra trong một mối quan hệnhất định chứ không phải trong mọi mối quan hệ cùng một thời điểm, chỉ xảy ra vớimột hình thức vận động nào đó, tại một thời điểm nào đó chứ không cùng một lúc vớimọi hình thức vận động
- Nói cách khác, đứng im là một dạng của vận động, trong đó sự vật chưa thay đổi cănbản về chất, nó còn là nó chứ chưa chuyển hóa thành cái khác Mặc dù mang tính chấttương đối tạm thời, nhưng “đứng im” lại chứng thực cho hình thức tồn tại thực sự củavật chất, là điều kiện cho sự vận động chuyển hóa của vật chất
- Ph.Ăngghen viết: “ Vận động riêng biệt có xu hướng chuyển hóa thành cân bằng, vậnđộng toàn bộ phá hoại sự cân bằng riêng biệt.” 5
-Vận động và đứng im tạo nên sự thống nhất biện chứng của các mặt đối lập trong sựphát sinh, tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng Trong đó vận động là tuyệt đối,đứng im là tương đối
-Sự vật, hiện tượng khác nhau, hoặc cùng một sự vật, hiện tượng nhưng mối quan hệkhác nhau, ở các điều kiện khác nhau thì đứng im cũng khác nhau Ví dụ: Đứng im củamột xã hội về mặt chính trị sẽ khác đứng im của một xã hội về mặt kinh tế
2.2 Hình thức tồn tại của vật chất:
Hình thức tồn tại qua 2 hình thức không gian và thời gian Trong lịch sử triết học,xung quanh các phạm trù không gian và thời gian đã từng có rất nhiều vấn đề nan giảigây tranh cãi vì chúng ta có hệ thống quan điểm khác nhau:
Về phía duy tâm chủ quan cho rằng hình thức trực quan tiên nghiệm do tri giác chủquan của con người qui định, là sự sắp xếp cảm giác thu được theo một trật tự nhấtđịnh, hoặc là chỉ hệ thống liên kết chặt chẽ với chuỗi cảm giác mà con người sinh ra.Đại diện cho luồng tư tưởng này là E.Cantơ, E.Makho E.canto được cho là một trongnhững nhà triết học vĩ đại nhất từ trước đến nay Trong học thuyết của mình về chủnghĩa duy tâm siêu việt, ông cho rằng không gian, thời gian và nhân quả đơn thuần lànhững thứ cảm nhận được Khi phân tích về quan điểm này V.I Lênin cho rằng “Đó là
5 Các Mác và Ph Ăngghen, toàn tập, NXB CTQG, H.1994, t.20, tr.740