1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả rừng trồng quế tại huyện bắc sơn tỉnh lạng sơn

84 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 16,56 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính cấp thiết Trong các loại cây lâm sản thì cây Quế được biết đến như loài cây đặcsản của vùng nhiệt đới và từ lâu Quế đã trở thành một sản phẩm trong đờisống sinh hoạt của mọi người..

Trang 1

ĐÀM THU HẢO

NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ RỪNG TRỒNG QUẾ TẠI

HUYỆN BẮC SƠN, TỈNH LẠNG SƠN

LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM NGHIỆP

THÁI NGUYÊN – 2021

Trang 2

ĐÀM THU HẢO

NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ RỪNG TRỒNG QUẾ TẠI HUYỆN BẮC SƠN, TỈNH

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tên tôi là: Đàm Thu Hảo

Học viên cao học khóa 27 chuyên ngành: Lâm học, niên khóa 2019

-2021, tại trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân tôi trongsuốt thời gian nghiên cứu từ tháng 9 năm 2020 đến tháng 9 năm 2021 với sựhướng dẫn tận tình của PGS.TS Trần Quốc Hưng, đến nay tôi đã hoàn thànhxong luận văn của mình

Các nội dung nghiên cứu trình bày trong luận văn: “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả rừng trồng quế tại huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn” hoàn toàn do tôi điều tra, đo đếm Các số liệu và kết

quả nghiên cứu trình bày trong luận văn này hoàn toàn trung thực và chưatừng công bố trong bất kỳ luận văn, luận án nào Các thông tin trích dẫn trongluận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những lời cam đoan trên./

Thái Nguyên, ngày… tháng … năm 2021

Tác giả

Đàm Thu Hảo

Trang 5

Thái Nguyên, ngày… tháng … năm 2021

Học viên

Đàm Thu Hảo

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN VĂN vi

DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN VĂN vi

DANH MỤC CÁC HÌNH TRONG LUẬN VĂN vii

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN viii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

2.1 Mục tiêu chung 3

2.2 Mục tiêu cụ thể 3

3 Ý nghĩa đề tài 3

3.1 Ý nghĩa khoa học 3

3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4

1.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu 4

1.2 Tổng quan kết quả nghiên cứu về cây Quế 5

1.2.1 Tình hình sản xuất Quế trên thế giới 5

1.2.2 Tình hình nghiên cứu cây Quế trên thế giới 7

1.2.3 Những nghiên cứu cây Quế ở Việt Nam 10

1.3 Tổng quan về khu vực nghiên cứu 24

1.3.1 Điều kiện tự nhiên 24

1.3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 28

1.3.3 Những thuận lợi và khó khăn tại khu vực nghiên cứu 30

Trang 7

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 33

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 33

2.3 Nội dung nghiên cứu 33

2.4 Phương pháp nghiên cứu 34

2.4.1 Phương pháp kế thừa tài liệu 34

2.4.2 Phương pháp điều tra và thu thập số liệu 34

2.4.3 Phương pháp điều tra OTC 34

2.4.4 Phương pháp đánh giá các yếu tố sinh thái khu vực trồng Quế, năng suất và chất lượng Quế tại Bắc Sơn 36

2.4.5 Phương pháp nội nghiệp 37

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 38

3.1 Thực trạng trồng, khai thác, chế biến và thị trường tiêu thụ Quế ở Bắc Sơn 38

3.1.1 Thực trạng trồng 40

3.1.2 Khai thác 42

3.1.3 Chế biến 43

3.1.4 Thị trường tiêu thụ Quế 44

3.2 Các yếu tố sinh thái khu vực gây trồng cây Quế ở huyện Bắc Sơn. 38

3.2.1 Đặc điểm khí hậu 38

3.2.2 Đặc điểm địa hình 39

3.3 Nghiên cứu tình hình sinh trưởng, năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế cây Quế tại huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn. 46

3.3.1 Tình hình sinh trưởng cây Quế tại khu vực nghiên cứu 46

3.3.2 Năng suất và chất lượng Quế tại khu vực nghiên cứu 48

3.3.3 Hiệu quả kinh tế cây Quế đem lại tại khu vực nghiên cứu 50

3.5 Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển bền vững cây Quế trên địa bàn huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn. 53

Trang 8

3.5.1 Giải pháp về giống 53

3.5.2 Giải pháp về quy hoạch 53

3.5.3 Giải pháp về kỹ thuật 54

3.5.4 Giải pháp về chính sách 55

3.5.5 Các giải pháp khác 56

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 57

1 Kết luận 57

2 Kiến nghị 58

TÀI LIỆU THAM KHẢO 60 PHỤ LỤC

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN VĂN

Bảng 1.1: Giá trị sản xuất Quế trên thế giới từ năm 2003 - 2011 6

Bảng 3.1: Hiện trạng sử dụng đất tại khu vực nghiên cứu 40

Bảng 3.2: Cách thức và thời gian khai thác Quế tại khu vực nghiên cứu 42

Bảng 3.3: Cách chế biến Quế tại khu vực nghiên cứu 43

Bảng 3.4: Đặc điểm khí hậu tại khu vực nghiên cứu 38

Bảng 3.5: Đặc điểm địa hình tại khu vực nghiên cứu 39

Bảng 3.6: Kết quả về tình hình sinh trưởng của cây Quế tại khu vực nghiên cứu 46

Bảng 3.7: Đánh giá năng suất và chất lượng Quế tại khu vực nghiên cứu 48

Bảng 3.8: Hàm lượng tinh dầu trong các mẫu phân tích 49

Bảng 3.9: Điều tra thu - chi của rừng trồng Quế chu kỳ 9 năm/ha tại xã Vạn Thuỷ, huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn 50

Bảng 3.10: Điều tra thu - chi của rừng trồng Quế chu kỳ 11 năm/ha tại xã Tân Tri, huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn 52

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH TRONG LUẬN VĂN

Hình 2.1: Đồng bào người Dao trên địa bàn trồng Quế của địa phương 30

Trang 11

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

D 1.3 Đường kính của cây ở vị trí 1m3

ΔDD1.3

Tăng trưởng bình quân năm của đường kính tại vịtrí 1m3

ΔD Dt Tăng trưởng bình quân năm của đường kính tán

ΔD Hvn Tăng trưởng bình quân năm của chiều dài thân cây

COMTRADE-LHQ Cơ sở Thống kê dữ liệu Thương mại của Liên Hợp Quốc

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết

Trong các loại cây lâm sản thì cây Quế được biết đến như loài cây đặcsản của vùng nhiệt đới và từ lâu Quế đã trở thành một sản phẩm trong đờisống sinh hoạt của mọi người Trong thời phong kiến cây quế cũng đã được

sử dụng làm lễ vật để các vua chúa Việt Nam đi tiến cống Trên thế giới chỉ

có một số nước như Trung Quốc, Srilanca, Ấn Độ, Indonesia, Nhật Bản mới

có điều kiện thuận lợi để có thể phát triển cây Quế Hầu như tất cả các bộphận trên cây Quế đều đem lại giá trị cao, giá trị mà cây Quế mang lại khôngnhững cho người trồng Quế mà còn đem lại các giá trị về môi trường

Cây quế (Cinnamomum cassia) thuộc họ Long não (Lauraceae) là

cây đa tác dụng, cây có thể cao 18 - 20m, đường kính đạt 10 - 45cm Quế làcây phân bố rộng, có thể sinh trưởng tốt cả ở miền Nam và miền Bắc ViệtNam Quế thích hợp với vùng núi cao, độ cao địa hình ở đai cao từ 300 –700m so với mặt biển Vùng có khí hậu mát ẩm, nhiệt độ bình quân năm từ 22– 240C, lượng mưa bình quân năm trên 2000mm, độ ẩm không khí trên 80%.Quế có thể trồng trên nhiều loại đất có thành phần cơ giới thịt nhẹ đến thịttrung bình, tầng đất dày, ẩm độ đất cao thoát nước tốt (Hoàng Cầu, 1993)

Tinh dầu Quế được sử dụng nhiều trong công nghiệp y dược, côngnghiệp chế biến thực phẩm, hương liệu và chăn nuôi Trước đây, cây quế chỉbán được vỏ, hiện nay, thân, cành, lá đều bán được với giá cao Thân Quế saukhi bóc vỏ được bán cho các cơ sở chế biến gỗ làm ván gép thanh, ván sàn, đồgia dụng hoặc làm cột chống… Các sản phẩm từ Quế có thể tổ chức sản suấtthành nguồn hàng lớn có giá trị suất khẩu đem lại nguồn lợi kinh tế to lớn vàgắn liền với đời sống của nhân dân các dân tộc ít người như Dao, Tày…

Quế được sử dụng làm thuốc chữa bệnh, vỏ Quế được mài ra trong nướcđun sôi để nguội để uống, hoặc trong các bài thuốc có Quế để chữa một số bệnh

Trang 13

đường tiêu hoá, đường hô hấp, kích thích sự tuần hoàn của máu, lưu thông thuyếtmạch, làm cho cơ thể ấm lên Chống lại giá lạnh và có tính chất sát trùng Quếđược nhân dân coi như một trong bốn vị thuốc rất có giá trị Sâm, Nhung, Quế,Phụ (Theo tác giả Lê Trần Đức trong “Cây thuốc Việt Nam” trang

263 “… Nhục Quế vị ngọt cay tính nóng, thông huyết mạch, làm mạnh tim,tăng sức nóng, chữa các chứng trúng hàn, hôn mê, mạch chạy chậm, nhỏ, tim yếu(truỵ mạch, huyết áp hạ) và bệnh dịch tả nguy cấp…”)

Ngoài lợi ích về mặt kinh tế, cây Quế còn đóng góp vào bảo vệ môitrường sinh thái, làm tăng độ che phủ rừng, giữ đất, giữ nước ở các vùng đấtđồi núi dốc, bảo tồn và phát triển sự đa dạng các nguồn gen quý cây bản địa –cây Quế còn đóng góp vào định canh - định cư, xoá đói giảm nghèo tạo thêmcông ăn việc làm cho nông dân miền núi nước ta

Bắc Sơn là một huyện miền núi của tỉnh Lạng Sơn tiếp giáp với TháiNguyên, với diện tích 20.000 ha diện tích đất lâm nghiệp trong đó rừng tự nhiênchiếm trên 40% diện tích, còn lại là rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sảnxuất nên huyện Bắc Sơn đã đẩy mạnh việc phát triển kinh tế lâm nghiệp Cụ thểtrong năm 2015 toàn huyện đã trồng được 761 ha rừng vượt 17% kế hoạch tỉnhgiao, tăng gần 5% so với cùng kỳ Trong đó, rừng phòng hộ 17ha, trồng cây phântán 202ha, riêng rừng trồng rừng sản xuất 541 ha với các loại cây như Quế, Hồi,cây Keo… Góp phần nâng độ che phủ rừng lên 57%

Từ việc đẩy mạnh phát triển lâm nghiệp, trên địa bàn huyện Bắc Sơn cónhiều hộ dân tập trung phát triển kinh tế lâm nghiệp Để đánh giá một cách đầy

đủ hơn về phát triển kinh tế lâm nghiệp bằng cây có giá trị, tác giả đã triển khai

đề tài “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả rừng trồng Quế tại huyện Bắc Sơn tỉnh Lạng Sơn”.

Trang 14

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu chung

Đề tài nghiên cứu nhằm tìm hiểu thực trạng gây trồng và phát triển củacây Quế tại huyện Bắc Sơn, từ đó làm cơ sở đề xuất giải pháp để phát triểnbền vững cho cây Quế tại địa bàn nghiên cứu

2.2 Mục tiêu cụ thể

- Xác định được thực trạng sản xuất, khai thác, sử dụng và kinh doanh sản phẩm cây Quế trên địa bàn nghiên cứu

- Đánh giá được năng suất và chất lượng Quế của huyện Bắc Sơn

- Đề xuất được một số giải pháp nhằm phát triển bền vững cây Quế trênđịa bàn huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn

3 Ý nghĩa đề tài

3.1 Ý nghĩa khoa học

Đề tài nghiên cứu về cây Quế với mục tiêu để đánh giá thực trạng từ đótìm ra những điểm yếu, điểm mạnh trong gây trồng và chăm sóc cây quế hiệnnay Trên cơ sở đó áp dụng khoa học kĩ thuật để khắc phục những điểm yếuphát triển những điểm mạnh trong gây trồng cây Quế hiện nay của huyện BắcSơn nói riêng và cả nước nói chung

Trang 15

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu

Quế là một loại cây lâm sản ngoài gỗ (LSNG) và là đặc sản lâm nghiệp

có giá trị kinh tế cao, tinh dầu Quế là nguyên liệu quý trong công nghiệp dượcphẩm và thực phẩm, vì thế Quế cũng có thể được xếp vào nhóm cây côngnghiệp (Trần Cửu, 2013), (Lê Đình Khả và cs., 2013) Ngoài ra, do có tán lákhá dày, rậm và xanh quanh năm nên rừng trồng Quế còn có tác dụng phòng

hộ khá hiệu quả

Cây Quế là loài cây thân gỗ, sống lâu năm, ở cây trưởng thành có thểcao trên 15m, đường kính ngang ngực (1,3m) có thể đạt đến 40cm Quế có láđơn mọc cách hay gần đối lá có 3 gân gốc kéo dài đến tận đầu lá và nổi rõ ởmặt dưới của lá, các gân bên gần như song song, mặt trên của lá xanh bóng,mặt dưới lá xanh đậm, lá trưởng thành dài khoảng 18 – 20cm, rộng khoảng 6

– 8cm, cuống lá dài khoảng 1cm Quế có tán lá hình trứng, thường xanh quanhnăm, thân cây tròn đều, vỏ ngoài màu xám, hơi nứt rạn theo chiều dọc Trongcác bộ phận của cây Quế như vỏ, lá, hoa, gỗ, rễ đều có chứa tinh dầu, đặc biệttrong vỏ có hàm lượng tinh dầu cao nhất, có khi đạt đến 4 – 5% Tinh dầu Quế

có màu vàng, thành phần chủ yếu là Aldehyt Cinamic chiếm khoảng 70 – 90%.Cây Quế khoảng 8 đến 10 tuổi thì bắt đầu ra hoa, hoa Quế mọc ở nách lá đầucành, hoa tự chùm, nhỏ chỉ bằng nửa hạt gạo, vươn lên phía trên của lá, màutrắng hay phớt vàng Quế ra hoa vào tháng 4 và tháng 5 và quả chín vào tháng 1

và tháng 2 năm sau Quả Quế khi chưa chín có màu xanh, khi chín chuyển sangmàu tím than, quả mọng trong chứa một hạt, quả dài 1 đến 1,2 cm, hạt hình bầudục, 1 kg hạt Quế có khoảng 2500 – 3000 hạt Bộ rễ Quế phát triển mạnh, rễ cọccắm sâu vào lòng đất, rễ bàng lan rộng, đan chéo nhau vì vậy

Trang 16

Quế có khả năng sinh sống tốt trên các vùng đồi núi dốc Cây Quế lúc cònnhỏ cần có bóng che thích hợp mới sinh trưởng và phát triển tốt, càng lớn lênmức độ chịu bóng càng giảm dần và sau khoảng 3 – 4 năm trồng thì cây Quếhoàn toàn ưa sáng Tinh dầu Quế có vị thơm, cay, ngọt rất được ưa chuộng.

Do đó, Quế còn được gọi là cây đa mục đích và là một trong những loàicây trồng được lựa chọn trong chương trình dự án góp phần xoá đói giảmnghèo, giúp người dân miền núi có cơ hội vươn lên làm giàu

Tuy nhiên, nguồn nguyên liệu Quế hiện đã không còn dồi dào Nhất làhiện nay, người dân chuyển sang trồng cây gỗ Keo nhiều hơn cây Quế, do câyKeo sớm thu lợi nhuận hơn (chỉ khoảng 4-5 năm là thu hoạch) Vì lợi íchtrước mắt, rừng trồng có diện tích trồng hẹp và khó mở rộng, làm giảm sảnlượng sản phẩm

1.2 Tổng quan kết quả nghiên cứu về cây Quế

1.2.1 Tình hình sản xuất Quế trên thế giới

Các số liệu thống kê của FAO được cung cấp dưới đây cho thấy mộtbức tranh toàn cầu về Quế trên toàn cầu trong 10 năm qua Trong những nămgần đây nghiên cứu tài liệu thị trường cho thấy thị trường Quế không cónhững thay đổi đáng kể trong việc cung cấp Quế Như vậy dữ liệu của FAO

về sản xuất Quế được coi là có giá trị và hữu ích cho việc phân tích Quế ở cácnước trên thế giới

Trang 17

Bảng 1.1: Giá trị sản xuất Quế trên thế giới từ năm 2012 - 2020

Thế giới 151.297 157.102 179.632 190.425 225.531 218.126 224.524 223.652 227.529 In-đô-nê-xi-a 73.000 80.000 80.000 80.000 104.651 101.961 102.633 99.300 100.102 Việt nam

Diện 17.000 28.000 30.475 40.000 48.000 48.000 53.000 53.120 54.079Trung Quốc

tích 31.675 39.000 40.000 42.000 45.000 38.756 38.537 40.000 39.789Sri Lanka

thu

26.110 25.090 26.100 25.620 25.760 26.777 28.090 28.860 29.160

hoạch Các tiểu quốc đảo đang phát triển 2.728 2.223 2.076 1.787 1.320 1.839 1.314 1.022 1.101

Trang 19

Hơn 10 năm qua diện tích trồng Quế trên toàn thế giới đã tăng với tốc

độ tăng trưởng bình quân hàng năm là 5,2% từ 151.297ha năm 2003 lên đến227.529ha vào năm 2011 và đặc biệt đáng chú ý đó là Vệt Nam đạt mức tăngtrưởng hai chữ số với tỷ lệ 15,6% Diện tích Quế trên toàn quốc tăng gấp 3 lần

từ 17.000ha trong năm 2012 lên 54.000 ha trong năm 2020 In-đô-nê-xi-a,Việt Nam, Trung Quốc và Sri Lanka hiển nhiên là cường quốc sản xuất Quếchính trên thế giới In-đô-nê-xi-a chiếm 45% tổng diện tích đất trồng Quế, tiếptheo là Việt Nam, Trung Quốc và Sri Lanka với số phần tương ứng là 24%,17% và 13%

1.2.2 Tình hình nghiên cứu cây Quế trên thế giới

Chi Quế (tên khoa học: Cinnamomum) là một chi các loài thực vậtthường xanh thuộc họ Nguyệt Quế (Lauraceae) Lá và vỏ cây các loài thuộcchi này có tinh dầu thơm Chi này có khoảng hơn 300 loài, phân bố chủ yếutại các khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới của Bắc Mỹ, Trung Mỹ, Nam Mỹ,châu Á, châu Đại Dương và Australasia

1.2.2.1 Đặc điểm sinh vật học, sinh thái học và kỹ thuật gây

trồng - Đặc điểm sinh vật học

Quế (Cinnamomum cassia) là cây thường xanh được trồng rộng rãi ở miềnNam và miền Đông châu Á (Ấn Độ, Indonesia, Lào, Malaysia, Đài Loan, TháiLan và Việt Nam) Cây cao từ 10-15 m, vỏ màu xám, lá thuôn dài từ 10-

15 cm, trong các bộ phận của cây Quế như: Vỏ, lá, hoa, gỗ, rễ đều có chứa tinh dầu

Hoa tự chùm, nhỏ màu trắng, quả Quế khi chưa chín có màu xanh, khichín chuyển sang màu tím than, quả mọng trong chứa một hạt, quả dài 1cmđến 1,2 cm, hạt hình bầu dục, 1 kg hạt Quế có khoảng 2500 – 3000 hạt Bộ rễQuế phát triển mạnh, rễ cọc cắm sâu vào lòng đất, rễ lan rộng, đan chéo nhau

Vì vậy, Quế có khả năng sinh sống tốt trên các vùng đồi núi dốc

Trang 20

- Đặc điểm sinh thái học

Quế C.tamala phân bố ở hầu hết các vùng Himalaya nhiệt đới, cận nhiệtđới và mở rộng đến vùng Đông Bắc Ấn Độ, đến độ cao 2000 m Quế C.tamala được trồng ở vùng Khasi, Jaintia, đồi Garo của Meghalaya và vùng đồiCachar Bắc của Assam (Cinnamom and cassia CRS.PRESS.2004)

Quế Inđonêsia có phân bố từ mặt biển đến độ cao 2000m Trung tâm trồngQuế là vùng Padang, ở độ cao từ 500 – 1300m Một biến chủng của loàinày có lánon màu đỏ sinh trưởng ở độ cao hơn trong vùng núi Korintji (còn gọi làKerinci) Loại này chất lượng tốt hơn và được buôn bán trên thị trường thế giớivới tên gọi Quế Korintji (Cinnamom and cassia CRS.PRESS.2004)

- Kỹ thuật gây trồng

Trên thế giới có nhiều nước trồng Quế rất thành công cho sản lượng vànăng suất cao như ở Ấn Độ, cây được trồng với cự li 3m x 2m Cây con đượcgieo trên luống và trồng khi cây 4 – 5 tháng tuổi Khi cây 8 – 10 tuổi được khaithác lá cho đến hàng trăm tuổi Lá già được thu từ tháng 10 – 12 đến tháng 3 nămsau Lá được thu hàng năm ở các cây trẻ và khỏe và luân phiên đối với cây già vàyếu Lá thường được bó thành từng bó, phơi ngoài nắng, rồi đem bán Sản lượngmỗi cây khoảng 9 – 19 kg/năm Trồng teijat là một bộ phận trong hệ thống nônglâm kết hợp ở Ấn Độ (Cinnamom and cassia CRS.PRESS.2004)

Rừng Quế ở đây được chăm sóc như đối với cây rừng Ngoài chăm sóc

về lâm sinh và phân bón, tác động duy nhất là tỉa các cành thấp ở thân cây.Phân bón được khuyến cáo là NPK với tỷ lệ 15-15-15, liều lượng 40 – 100kg/

ha tùy thuộc tuổi cây, nhưng người trồng Quế hiếm khi sử dụng phân bón(Akahil Baruah và Subhan C Nath, 2004)

Trang 21

1.2.2.2 Giá trị sử dụng

Dầu Quế được chiết xuất từ lá, vỏ cây, cành cây bằng cách chưng cấthơi nước Các thành phần hóa học chính của dầu Quế là aldehyd cinnamic,cinnamyl acetate, benzaldehyde, linalool và chavicol

Các đặc tính chữa bệnh của dầu Quế là chống đầy hơi, chống tiêu chảy,chống vi khuẩn và chống nôn Dầu Quế được sử dụng cho các bệnh cảm lạnh,cúm, sốt, viêm khớp và thấp khớp…

Vỏ Quế được dùng làm gia vị trong công nghiệp chế biến thực phẩm(ướp thịt, cá, làm bánh kẹo, sản xuất đồ hộp, nước giải khát) Tinh dầu từ vỏ

và lá được sử dụng nhiều trong công nghiệp dược phẩm và hoá mỹ phẩm Tạicác nước châu Âu, tinh dầu từ vỏ Quế quan được dùng để uống với chè vì nó

có đặc tính kích thích và diệt khuẩn

Ngoài tinh dầu trong vỏ Quế còn chứa tanin, nhựa dầu (oleoresin), protein,pentosan, chất keo, xơ và các chất khoáng Tinh dầu lá Quế thành phần chính làeugenol (70-95%), ngoài ra còn khoảng 50 hợp chất khác, trong đó các hợp chất

có hàm lượng đáng kể là linalool, cinnamyl acetat, β- caryophyllen,

(E)-cinnamic aldehyd, benzyl benzoat… Do có hàm lượng eugenol cao, nêntinh dầu lá Quế quan được dùng làm nguyên liệu để chuyển hoá thành iso-eugenol và tổng hợp vanilin Hạt chứa dầu béo (hàm lượng khoảng 30%) nênđược dùng làm dầu thực phẩm tại Ấn Độ và Sri Lanka

1.2.2.3 Những nghiên cứu về biện pháp phòng

trừ - Biện pháp phòng trừ bệnh hại

Kiểm soát bệnh đốm tảo do Cephaleuros virescens bằng hỗn hợp hợp1% Bordeaux, 50% Topsin và 50% Carbendazim lần lượt là 66,2%, 45,9%, và33,8% (Zheng et al (2004)

Rajapakse and Wasantha (2007), để khống chế bệnh đốm lá do C.gloeesporioides bằng cách phun Chlorothalonil 75% WP, Carbendazim 50%

Trang 22

WP, Mancozeb 80%WP or Thiphanatemethyl 70% WP khoảng 7 -10 ngày, cóthể cải thiện bệnh Bệnh Phấn hồng do Corticicum salmonicolor chưa có biệnpháp hóa học nào được đề xuất quản lý loại bệnh này mà đốt cháy cành hoặcphần của cây bị nhiễm bệnh là biện pháp làm giảm tỷ lệ bị bệnh Phòng trừbệnh loét sọc bằng cách cải thiện hệ thống thoát nước làm cho tỷ lệ bị bệnhthấp đi Việc loại bỏ và tiêu hủy các bộ phận bị nhiễm bệnh và băng vếtthương bằng nhựa đường cũng được đề xuất để kiểm soát bệnh.

1.2.3 Những nghiên cứu cây Quế ở Việt Nam

Quế có tên khoa học là: Cinnamomum cassia BL, thuộc chi:

Cinnamomum, họ: Lauraceae.Tên Việt Nam: Quế Tên địa phương: QuếThanh, Quế Quỳ, Quế Quảng, Quế Yên Bái, Quế Bì, Mạy Quế Tên tiếngAnh: Cinnamo

đã mô tả lại hình thái và công dụng của cây Quế Trong bộ sách “Y tông tâmlĩnh” gồm 66 quyển của Hải Thượng Lãn Ông (1721 - 1792) có nhiều bàithuốc sử dụng vỏ Quế Cũng trong khoảng thời gian này, khi người Pháp đếnViệt Nam, Joanis de Loureiro (1730) đã mô tả 1257 loài cây cỏ ở Nam Bộtrong cuốn Floria Cochichinensis và xác định tên khoa học cho cây Quế làLuarus cinnamomum Lour Từ đó cho đến đầu thế kỷ XIX hầu như không cócông trình nào nghiên cứu thêm về cây Quế (Trần Hợp, 1984)

Từ xa xưa nhân dân các dân tộc nước ta đã nhận biết được lợi ích của câyQuế và sử dụng Quế vào nhiều mục đích Trước hết Quế được sử dụng làm thuốcchữa bệnh, vỏ Quế được mài ra trong nước đun sôi để nguội để uống,

Trang 23

hoặc trong các bài thuốc có Quế để chữa một số bệnh đường tiêu hoá, đường

hô hấp, kích thích sự tuần hoàn của máu, lưu thông thuyết mạch, làm cho cơthể ấm lên Chống lại giá lạnh và có tính chất sát trùng Quế được nhân dâncoi như một trong bốn vị thuốc rất có giá trị: Sâm, Nhung, Quế, Phụ

Theo tác giả Lê Trần Đức trong: “Cây thuốc Việt Nam” Nhục Quế vịngọt cay tính nóng, thông huyết mạch, làm mạnh tim, tăng sức nóng, chữa cácchứng trúng hàn, hôn mê, mạch chạy chậm, nhỏ, tim yếu (trụy mạch, huyết áphạ) và bệnh dịch tả nguy cấp…”

Quế Giao chỉ (Quế Việt Nam) trước đây được coi là sản vật quý giá, cógiá trị như ngà voi, chim công… sử dụng để làm quà ngoại giao, biếu tặngtrong và ngoài nước Nhân dân Thanh Hoá còn gọi Quế địa phương là NgọcQuế Châu Thường Quế được sử dụng một khối lượng lớn để làm gia vị vìQuế có vị thơm, cay và ngọt có thể khử bớt được mùi tanh, gây của cá, thịt,làm cho các món ăn hấp dẫn hơn, kích thích được tiêu hoá Quế còn được sửdụng trong các loại bánh kẹo, rượu: như bánh Quế, kẹo Quế, rượu Quế đượcsản xuất và bán rất rộng rãi

Quế được sử dụng làm hương vị, bột Quế được trộn với các vật liệukhác để làm hương khi đốt lên có mùi thơm được sử dụng nhiều trong các lễhội, đền chùa, thờ cúng trong nhiều nước châu á nhất là các nước có đạo phật,đạo Khổng Tử, đạo Hồi Gần đây nhiều địa phương còn sử dụng gỗ Quế, vỏQuế để làm ra các sản phẩm thủ công mỹ nghệ như bộ Khay, ấm, chén bằng

vỏ Quế, đĩa Quế, đế lót dầy có Quế Bột Quế còn được nghiên cứu thửnghiệm trong thức ăn gia súc để làm tăng chất lượng thịt các loại gia súc, giacầm Ngoài ra, gỗ Quế còn được sử dụng làm ván ghép thanh, cột chống,đóng đồ gia dụng, làm đũa và làm tăm suất khẩu…

Cây Quế có giá trị rất lớn trong đời sống sinh hoạt của nhân dân ta trongnhiều thế kỷ qua Trước hết đây là một vị thuốc quý cả về thuốc Nam lẫn thuốc

Trang 24

Bắc (một trong bốn vị thuốc đầu bảng Sâm – Nhung – Quế - Phụ) Nghiên cứu

về giá trị dược liệu của cây Quế, Đỗ Tất Lợi (1970) chỉ rõ trong Tây y, Quế vàtinh dầu Quế được coi là một vị thuốc có tác dụng kích thích làm cho sự tuầnhoàn máu được lưu thông, hô hấp cũng mạnh lên Đông y coi Quế như là một vịthuốc bổ, có nhiều công dụng có khi chữa cả đau mắt, ho hen, bồi bổ cho phụ nữsau khi sinh nở, chữa bệnh đau bụng, đi tả nguy hiểm đến tính mạng

Từ vỏ và lá Quế chúng ta có thể chưng cất lấy tinh dầu Tinh dầu Quế

là mặt hàng có giá trị trong xuất khẩu Trong y dược, tinh dầu Quế là chất sáttrùng mạnh, trong tinh dầu có eugenol thường dùng để tổng hợp vanilin

Trong các loài cây lâm sản ngoài gỗ của rừng nhiệt đới nước ta cây Quế

có thể tổ chức sản xuất thành nguồn hàng lớn, ổn định lâu dài và có giá trị,nhất là giá trị xuất khẩu Cây Quế là nguồn lợi kinh tế lớn và gắn liền với đờisống của nhân dân các dân tộc ít người nước ta như đồng bào Dao, Mông,Tày… (Lào Cai), Thái, Mường (Nghệ An, Thanh Hoá) Cà tu, Cà toong(Quảng Nam, Quảng Ngãi) và Thanh Y, Thanh Phán (Quảng Ninh)

Về công dụng của các bộ phận trên cây Quế chủ yếu là làm thuốc, giátrị dược liệu của các bộ phận này phụ thuộc vào kỹ thuật khai thác, chế biến

– 8 cm, cuống lá dài khoảng 1 cm Quế có tán lá hình trứng, thường xanh quanhnăm, thân cây tròn đều, vỏ ngoài màu xám, hơi nứt rạn theo chiều dọc Trong

Trang 25

các bộ phận của cây Quế như vỏ, lá, hoa, gỗ, rễ đều có chứa tinh dầu, đặc biệttrong vỏ có hàm lượng tinh dầu cao nhất, có khi đạt đến 4 – 5% Tinh dầuQuế có màu vàng, thành phần chủ yếu là Aldehyt Cinamic chiếm khoảng 70 –90% Cây Quế khoảng 8 đến 10 tuổi thì bắt đầu ra hoa, hoa Quế mọc ở nách

lá đầu cành, hoa tự chùm, nhỏ chỉ bằng nửa hạt gạo, vươn lên phía trên của lá,màu trắng hay phớt vàng Quế ra hoa vào tháng 4,5 và quả chín vào tháng 1,2năm sau Quả Quế khi chưa chín có màu xanh, khi chín chuyển sang màu tímthan, quả mọng trong chứa một hạt, quả dài 1 đến 1,2 cm, hạt hình bầu dục, 1

kg hạt Quế có khoảng 2500 – 3000 hạt Bộ rễ Quế phát triển mạnh, rễ cọccắm sâu vào lòng đất, rễ bàng lan rộng, đan chéo nhau vì vậy Quế có khảnăng sinh sống tốt trên các vùng đồi núi dốc

- Đặc điểm sinh thái học

Đây là lĩnh vực nghiên cứu được nhiều tác giả quan tâm và được tiếnhành trên nhiều vùng trồng Quế khác nhau ở nước ta

Nghiên cứu ảnh hưởng của ánh sáng đến sinh trưởng của cây Quế controng vườn ươm, Vũ Đại Dương (2002), cho rằng độ che sáng có ảnh hưởng

rõ rệt đến tỷ lệ cây sống ở giai đoạn này

Trần Hợp (1991), tại các điểm nghiên cứu Đài Sơn (Yên Bái), QuấtĐộng (Quảng Ninh) và Hom Cán (Thanh Hóa) cho thấy khi còn non, Quế làcây chịu bóng tuổi vườn ươm, che bóng bằng nứa đan lọt ánh sáng là tốt nhất.Nghiên cứu qua các ô dạng bản (1m2) trong rừng tự nhiên thì thấy Quế contái sinh nhiều dưới tán cây mẹ, ra chỗ hết che bóng thì hầu như không thấynữa; mặc dù hạt Quế có thể phát tán khá xa gốc cây mẹ, nhưng có lẽ chỉ nảymầm và thành cây Quế con trong điều kiện dưới tán cây Như vậy, dưới 1 tuổicây Quế là cây chịu bóng cao

Nghiên cứu phân vùng sinh thái: Công trình nghiên cứu của Hoàng Cầu(1993), phân chia nước ta thành 4 vùng trồng Quế đó là:

Trang 26

- Vùng Yên Bái;

- Vùng Trà My, Trà Bồng;

- Vùng Quế Phong, Quỳ Châu và Thường Xuân;

- Vùng Quế Hải Ninh, Quảng Hà, Bình Liêu, Tiên Yên (Quảng Ninh) Tác giả cũng cho rằng do nhu cầu xuất khẩu Quế ngày càng tăng nên

việc mở rộng vùng trồng Quế là rất cần thiết Tuy nhiên, khi mở rộng vùngtrồng rừng ở một số địa phương kết quả đạt được còn thấp, Quế sinh trưởngchậm, vỏ mỏng, hàm lượng tinh dầu thấp và đời sống của cây Quế cũng ngắn.Nguyên nhân chủ yếu có thể là do sự thay đổi của điều kiện sinh thái giữa cácvùng Từ kết quả nghiên cứu đặc điểm tự nhiên của các vùng Quế lâu đời ởnước ta, tác giả nêu một số vấn đề tham khảo trong quá trình mở rộng vùnggây trồng ra ngoài vùng phân bố tự nhiên cây Quế như sau:

- Những vùng trồng Quế có triển vọng cần chú ý kiểm tra chất lượng vỏQuế đạt được qua từng giai đoạn Có thể 5 năm là 1 cấp tuổi để khảo nghiệm cácchỉ tiêu chất lượng như hàm lượng tinh dầu trong vỏ và độ dày của vỏ để so sánhvới các chỉ tiêu chất lượng vùng phân bố tự nhiên và tiêu chuẩn vỏ Quế xuất khẩuhiện hành

- Những vùng có lượng mưa thấp dưới 2000 mm/năm hoặc các vùng cómùa khô kéo dài, ít mưa, mực nước ngầm sâu, cần chú ý theo dõi các mùa sinhtrưởng của Quế, đề phòng Quế bị chết hàng loạt do thiếu độ ẩm

- Đất vùng đồi núi trọc, đất bị thoái hóa, bị bào mòn, đất bị đá ong, chặtbí không nên trồng Quế

- Những vùng có độ cao 800m trở lên cây Quế sinh trưởng chậm và chonăng suất thấp Với độ cao dưới 300m Quế cho vỏ mỏng, hàm lượng dầu trong vỏthấp và dễ bị sâu bệnh

- Những nhận xét trên hầu hết mang tính định tính, ví dụ như việc chia 5năm thành 1 cấp tuổi đối với Quế mới chỉ dựa vào kinh nghiệm, mặc dù vậy có

Trang 27

thể xem đây là một tài liệu có giá trị tham khảo tốt.

Từ những nghiên cứu trên cho thấy phần lớn các tác giả đều thống nhấtQuế là cây chịu bóng ở giai đoạn tuổi nhỏ, từ 5 tuổi trở lên cây Quế ưa sánghoàn toàn Quế được trồng dưới tán rừng, hoặc trồng theo nhiều phương thức

và phương pháp khác nhau Cây Quế có thể dẫn giống để mở rộng phạm viphân bố tự nhiên của nó ra những vùng khác có điều kiện khí hậu và đất đaitương tự như nơi nó đã phát sinh Nhìn chung cây Quế ít bị sâu bệnh khi trồngngoài khu vực phân bố tự nhiên của nói; nhưng bệnh tua mực có thể xuất hiện

ở độ cao trên 400m tại miền Trung (Nguyễn Trung Tín, 2009) Tuy nhiên,chất lượng vỏ Quế ở các vùng này chưa có cơ sở để kết luận Những nghiên cứu sosánh và định lượng quá trình sinh trưởng của Quế ở các vùng trồng Quế tập trungtrong nước chưa được các tác giả trên quan tâm, trong đó có vùng Thanh Hóa

Hoàng Cầu (2013) đã nghiên cứu dẫn giống Quế thanh hóa, Quế Quảng racác tỉnh Hòa Bình, Yên Bái với mục đích khảo nghiệm loài và bệnh tua mực

ở các tỉnh phía Bắc Tác giả cho biết độ cao thích hợp để trồng Quế từ 300 –700m, càng lên cao, Quế sinh trưởng càng chậm và cây thấp hơn Điều này cũng đãđược đề cập trong nghiên cứu của Nguyễn Văn Khánh (2016) khi phân vùng lập địalâm nghiệp Ở Quảng Ngãi, Trần Cửu (2013) cũng nghiên cứu đặc tính sinh vật học,khả năng trồng và di thực cây Quế từ Quảng Ngãi về vùng núi An Lão (Bình Định).Tại Bình Định, phương pháp trồng Quế dưới tán rừng tự nhiên có độ tàn che 0,3 – 0,4

là thích hợp; tác giả đề xuất: tại đây Quế nên trồng ở độ cao trên 200m để tránh bệnhtua mực Năm 1993, Phạm Chí Thành và Lê Thanh Hà đã đánh giá “muốn có sảnlượng Quế ổn định và lâu dài thì chủ trương trồng Quế thuần loài là không hợp lý vìđất sau trồng Quế thường bị khô, xấu, khả năng phục hồi rất lâu” Kết quả nghiên cứunày cũng phù hợp với một số nghiên cứu của Phạm Xuân Hoàn (1998) khi nghiên cứuảnh hưởng

Trang 28

của đất tới sinh trưởng của rừng Quế chồi ở Yên Bái Năm 1996, Ngô ĐìnhQuế đã nghiên cứu khả năng trồng Quế tại Đại Từ - Thái Nguyên và đánh giábước đầu Quế sinh trưởng tốt tại vùng này.

- Kỹ thuật gây trồng

Nguyễn Huy Sơn và cộng sự (2001) đã tiến hành thu hái quả chín từ 30cây mẹ có tuổi từ 25 – 30 năm, ở rừng trồng của các gia đình ở xã Đại Sơn,Văn Yên, Yên Bái cho kết quả: trọng lượng của quả và hạt Quế có hệ số biếnđộng rất lớn, trung bình 1,0kg quả có 2000 quả, nhưng phạm vi biến động từ

1447 – 2438 hạt, tỷ lệ nảy mầm ban đầu của hạt Quế đạt khá cao (92,5%); hạtQuế thuộc nhóm hạt ưa ẩm và khó bảo quản và độ ẩm hạt lớn hơn 40%, sau 9tháng tỷ lệ nảy mầm vẫn còn đạt 25% Với phương pháp bảo quản này, hạt cóthể cất trữ trong thời gian dài hơn nhiều so với phương pháp cất trữ truyềnthống của nhân dân địa phương (trộn hạt với cát ẩm bảo quản nơi râm mát,thời gian bảo quản chỉ đạt 2 – 3 tuần)

Về mật độ trồng Quế hiện nay rất khác nhau, có thể 2000 cây/ha đến

10000 - 20000 cây/ha tùy theo địa phương

Quy phạm trồng Quế ban hành năm 2000 (TC ngành: 04 – 2000) quy định mật độ trồng từ 2500 cây đến 3000 cây/ha Tuy nhiên, trongthực tế mật độ rất khác nhau

TCN-23-Hoàng Cầu và Nguyễn Hữu Phước (1991) khi nghiên cứu đề tài “Nghiêncứu kỹ thuật, sơ chế và bảo quản vỏ Quế xuất khẩu” đã đưa ra một số kết luận:

- Tuổi cây Quế tăng tỷ lệ thuận với lượng tăng trưởng của vỏ Quế và không nên khai thác Quế dưới 12 tuổi

- Mật độ trồng Quế có quan hệ chặt chẽ với đường kính cây, độ dầy vỏ

và hàm lượng tinh dầu của vỏ Quế

Trang 29

- Có thể khai thác vỏ Quế nhiều lần trên 1 cây, mỗi lần bóc 1/4, 1/3 hay1/2 diện tích vỏ về một phía Tuy nhiên, khai thác chọn theo cấp kính hay khai tháctrắng được áp dụng trong sản xuất.

- Không nên phơi Quế ra ngoài nắng hoặc gác lên sàn bếp, không đểngoài mưa, sương đêm khi sơ chế Quế Tuy nhiên, các tác giả cũng chưa đưa racác số liệu chứng minh cho các kết luận trên

1.2.3.3 Những nghiên cứu về sinh trưởng và sản lượng rừng quế

Những nghiên cứu về sinh trưởng và định lượng quá trình sinh trưởng

về cây Quế ở nước ta còn đang ở mức độ thăm dò Những kết quả thu đượcban đầu cần phải được kiểm định một cách khoa học Lý do là, về phươngpháp nghiên cứu sinh trưởng cho một loài cây mà sản phẩm chính là vỏ, khácvới những loài cây cho sản phẩm chính là gỗ Mặt khác, Quế phân bố ở cả bamiền nhưng phạm vi phân bố ở mỗi vùng lại tương đối hẹp Vì vậy, kết quảnghiên cứu ở mỗi vùng có thể vận dụng ở các vùng khác hay không là vấn đềcần phải nghiên cứu

Trần Hợp (1984) đã nghiên cứu một số “đặc điểm sinh thái” và nhận xét

“cây Quế mang đầy đủ tính chất của một loài cây sinh thái – khí hậu” Nghiêncứu tăng trưởng Quế, Trần Hợp (1984) đã chia quá trình sinh trưởng thành hai:

(i) “thời kỳ lớn”: Thời kỳ cây Quế ở vườn ươm dưới 5 tuổi (thời kỳ còn chịubóng) và; (ii) thời kỳ thành thục, tức là thời kỳ ưa sáng hoàn toàn và ổn định vềchiều cao đường kính cũng như vỏ Tuy nhiên, khi giải tích cây trong đó có tuổicao nhất là 45 tuổi, tác giả đã chia “sự tăng trưởng” của cây Quế làm 3 giai đoạn:

- Giai đoạn I: dưới 10 tuổi Ở giai đoạn này chiều dầy vỏ Quế từ 0,3 –0,4cm Tăng trưởng đường kính trung bình 1,0cm/năm và tăng trưởng chiều caobình quân 1,1m/năm

Trang 30

- Giai đoạn II: 10 – 30 tuổi Giai đoạn này “là giai đoạn ổn định tươngđối” Bề dày vỏ từ 0,5 – 0,7cm Đường kính tăng bình quân 0,7cm/năm và tăngtrưởng chiều cao bình quân đạt 0,5m/năm.

- Giai đoạn III: trên 35 tuổi Giai đoạn này tăng trưởng chậm rõ rệt D1.3tăng bình quân 0,24cm/năm và Hvn tăng 0,2m/năm Bề dày vỏ đạt ở mức 0,7

– 0,8cm/năm Tỷ lệ thể tích vỏ ổn định xấp xỉ 10% so với thể tích thân cây

Căn cứ vào các giai đoạn tăng trưởng trên, Trần Hợp (1984) phân chiacác lâm phần Quế thành 8 cấp tuổi với cự li mỗi cấp tuổi là 5 năm Tác giả kếtluận: “giai đoạn I: cây mọc nhanh nhất, chúng đạt đến chiều cao và đườngkính lý tưởng, sau đó các chỉ số này chậm dần và ổn định ở tuổi 30 Do đó,tuổi khai thác tốt nhất là từ 30 – 35 tuổi” Tuy nhiên, theo tác giả có thể khaithác sớm hơn khoảng 10 tuổi lúc đó Quế đã qua giai đoạn mọc nhanh và bướcvào giai đoạn phát triển bình thường

1.2.3.4 Những nghiên cứu về tình hình sâu bệnh hại

Phạm Quang Thu (2016), điều tra thành phần loài sinh vật hại Quế tại 2tỉnh Yên Bái và Quảng Nam Kết quả thu được 63 loài của động vật gây hại gồmlớp côn trùng có 60 loài thuộc 6 bộ (bộ cánh cứng có 12 loài, thuộc 7 họ; bộ cánhnửa có 6 loài, thuộc 5 họ; bộ cánh đều 12 loài, thuộc 6 họ; bộ cánh bằng có 2loài, thuộc 1 họ; bộ cánh vẩy có 25 loài, thuộc 15 họ; bộ cánh thẳng có 7 loài,thuộc 4 họ), lớp chân bụng có 3 loài Trong đó Bộ cánh vẩy có nhiều loài nhất.Sâu hại lá gồm: Sâu đo 2 loài Biston sp., và Ectropis sp., Bọ nẹt Parasa lepida,Rệp nhung Icerya seychellarum, Sâu đo xám Hyposidra talaca, Sâu xám Agrotisipsilon, Sâu róm Calliteara horsfeldii, Sâu róm 4 túm lông xám Dasychirachekiangensis,… Sâu hại ngọn lá, non: Bọ xít lưng gù Dichocysta pictipes, Rệpnâu Toxoptera aurantii, Bọ xít vân đen vàng Erthesina fullo … Sâu hại thân cànhgồm: Mọt đuôi 2 gai Sinoxylon anale, Mọt sáu gai Xylothrips flavipes,… Sâu hạithân: Vòi voi xám Shirahoshizo rufescens, Xén

Trang 31

tóc cánh xanh Bacchisa sp., Mọt hại vỏ Dryocoetes villosus, Sâu hại vỏ(Indarbela quadrinotata),… Sâu hại rễ: Bọ hung nâu nhỏ Maladera orientalis,

Dế mèn nâu nhỏ Gryllus testaceus,… Nhưng lưu ý nhất đó là các loài gây hạiQuế chính như: Bọ xít lưng gù (Dichocysta pictipes), Rệp nâu(Toxopteraaurantii), Sâu đo (Biston sp.), Sâu hại vỏ (Indarbela quadrinotata) (PhạmQuang Thu (2016))

Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Yên Bái, năm 2016 sâu róm xanh hại Quếlần đầu tiên xuất hiện và gây hại mạnh, tổng diện tích cây Quế bị sâu róm xanh

ăn lá lên đến 262ha, trong đó có 163 ha bị hại nhẹ, 83 ha bị hại trung bình và

16 ha bị hại nặng; Gây hại chủ yếu ở huyện Văn Yên và Trấn Yên Trong đầunăm 2017 sâu róm xanh lại xuất hiện trở lại gây hại trên diện tích là 98,5 ha (Theocông văn số 1082/SNN-BVTV ngày 01/12/2016 và công văn số 142/SNN-TT&BVTV ngày 22/3/2017)

Võ Duy Loan (2014) đã điều tra và thu thập thành phần sâu bệnh hại Quếtại huyện Trà Bồng tỉnh Quảng Ngãi và kết quả thu được 14 loại sâu hại gồm:sâu đo, sâu róm, sâu ăn lá, sâu đục đọt, bọ xít nâu sẫm, sâu kèn, sâu cuốn lá, bọvòi voi, sâu phỏng lá, bọ hung, bọ phấn, nhện, rệp ống, rệp muội, rầy đỏ… Trong

đó sâu đục đọt xuất hiện thường xuyên và rất phổ biến có ảnh hưởng đến sinhtrưởng phát triển của Quế, các vườn Quế cấp tuổi 1 bị hại nặng hơn so với cácvườn Quế cấp tuổi 2, vị trí chân đồi bị hại nặng hơn so với vị trí sườn đồi

Theo Trần Quang Tấn (2004) kết quả điều tra sâu hại Quế chính tại 3vùng trồng Quế tập trung thu được 19 loài sâu hại tại vùng Quế Yên Bái, 17 loàigây hại tại Thanh Hóa và 15 loài tại Quảng Nam… Trong đó có 10 loài sâu hại lá

và 9 loài gây hại thân cành Có 5 loài xuất hiện rất phổ biến ở tất cả các vùngtrồng Quế Yên Bái, Thanh Hóa, Quảng Nam như sâu đo ăn lá (Biston maginataShiraki), sâu róm (Creatonotus gangis Linn.), sâu cuốn lá (Ancylis sp.), sâu đụcngọn chồi (Cophopropra sp.), sâu gặm vỏ (Aegeria sp)… sự xuất

Trang 32

hiện của các đối tượng gây hại này phần nào ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây Đặc biệt sâu cuốn lá, sâu đo và sâu đục ngọn chồi ở Quế tuổi nhỏ (Quế 2-

4 tuổi), sâu gặm vỏ ở Quế tuổi lớn… có mật độ khá cao ở tất cả các vùng Đặcbiệt là bọ xít có màu nâu sẫm mới chỉ xác định xuất hiện và gây hại rất nặng ở yênBái, là nguyên nhân gây chết hàng loạt cây Quế tại Yên Bái Bọ xít nâu sẫm cótrứng hình bầu dục, mầu trắng vàng, khi sắp nở có mầu nâu đỏ, trứng đẻ rời từngquả trong phần hốc cành hoặc vết nứt trên thân, bọ xít non có màu đỏ tươi đến nâu

đỏ, khi trưởng thành có màu nâu sẫm Bọ xít nâu sẫm ưa thích thức ăn là đoạncành bánh tẻ, trên cành non hoặc đoạn cành già bọ xít không hoàn thành phát dục,thường chết ở tuổi 2 và tuổi 3 Nuôi bọ xít trên đoạn cành trám, xoan bánh tẻ chothấy các loại thức ăn này bọ xít đều chết ngay ở tuổi 1 Bọ xít gây hại nặng nhấttrên Quế 5 -8 tuổi, nhẹ hơn trên Quế 2 -4 tuổi, Quế trên 8 tuổi ít bị hại nhất Bọ xítbắt đầu gây hại vào mùa xuân, mật độ tăng dần và đạt đỉnh cao vào đầu hè và giữathu, đây là thời kỳ có nhiều cành bánh tẻ Trong nghiên cứu tác giả cũng cho thấyvùng Quảng Nam, Quảng Ngãi thường xuyên bị sâu đo, sâu ăn lá gây hại nặng,Năm 1979 tại Trà Bồng, Quảng Ngãi dịch sâu đo đã ăn trụi toàn bộ lá, năm 2002 –

2003 gây hại nặng ở Quảng Nam, một số vườn Quế bị sâu ăn trụi lá vào mùa khôhạn, không có khả năng hồi phục

Theo Phạm Quang Thu (2016), điều tra thành phần loài sinh vật hạiQuế tại Yên Bái và Quảng Nam Kết quả thu được 23 loài vật gây bệnh, trong

đó gồm có lớp Ulvophyceae có 1 loài; lớp Alphaprobacteria có 1 loài; lớpLeotiomycetes có 2 loài; lớp Sordariomycetes có 8 loài; lớp Dothideomycetes

có 5 loài; lớp Agaricomycetes có 3 loài; lớp Oomycetes có 3 loài Cụ thể gồm,bệnh hại lá: Bệnh thán thư Colletotrichum sp, bệnh khô lá Pestalotiopsisfunerae, bệnh đốm lá Colletotrichum cinnamomi, bệnh phấn trắng Oidium sp.,bệnh đốm lá Gloeosporium cinnamomi,… Bệnh hại thân, cành: Bệnh tua mực

Trang 33

Agrobacterium tumefaciens, bệnh nứt cành Verticillium sp., bệnh khô cànhPhomopsis sp.,… bệnh hại rễ: Bệnh thối rễ do Rhizoctonia solani vàPhytophthora cinamomi, Trong đó các loài gây hại chính cho Quế như:Bệnh tua mực do vi khuẩn Agrobacterium tumefaciens, bệnh phấn trắng donấm Oidium sp., bệnh thán thư do nấm Colletotrichum gloeosporioides.

Trong nghiên cứu của Dang Nhu Quynh và cộng sự (2017) cho biết Bệnhthối rễ do nấm Phytophthora cinnamomi gây hại Quế lần đầu tiên được ghi nhận

ở Việt nam Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng khoảng 10% diện tích rừng Quếtại tỉnh Yên Bái bị chết nguyên nhân là do nấm gây bệnh thối rễ

Võ Duy Loan (2014) đã phát hiện được 12 loại bệnh: bệnh thối rễ nứtthân, bệnh thối rễ tơ, bệnh thối gốc nấm trắng, bệnh lở cổ rễ, bệnh thối nâu rễ,bệnh đốm lá, bệnh thán thư lá, bệnh tua mực, bệnh cao cành, bệnh thán thưđọt non do nấm, tảo nấm hồng và 2 loại tuyến trùng là tuyến trùng mụn u vàtuyến trùng ngoại ký sinh Tuy nhiên đáng chú ý nhất là các loại bệnh gây ảnhhưởng đến sinh trưởng phát triển của Quế như bệnh tua mực, bệnh đốm lá,bệnh thán thư đọt (khô đọt non) Đặc biệt ở đây tác giả cho thấy bệnh tua mựctại huyện Trà Bồng là do Phytoplasma gây ra, khác với các kết quả công bốcủa Phạm Quang Thu (2016) và Trần Quang Tấn (2004) bệnh tua mực doAgrobacterium tumefaciens gây ra Bệnh được truyền qua côn trùng môi giới

là rệp ống Aulacaspis

Trần Quang Tấn (2004) đã công bố về thành phần bệnh hại Quế tại YênBái, Thanh Hóa và Quảng Nam đã thu thập được 11 mẫu bệnh hại và xác địnhđược 10 loại vi sinh vật ký sinh gây bệnh trên Quế bao gồm: bệnh nứt cành donấm Verticilium sp., bệnh cháy lá do Pestalozzia cinnamomi; bệnh đốm lá doGloeosporium cinnamomi; Collectotrichum cinnamomi và Phyllostictacinnamomi; phomopsis sp.; Khô cành do Lasiodiplodia theobromae; bệnh caocành do Septobasidium sp.; bệnh muội đen do Capnodium sp và bệnh tua mực

Trang 34

do Agrobacterium tumefaciens Trong đó bệnh tua mực gây hại trên thân, cành,cuống gân lá lần đầu tiên được phát hiện ở Trấn Yên – Yên Bái và đặc biệt đã vàđang trở thành dịch hại chính quan trọng trên cây Quế tại Quảng Nam Đây cũng

là đối tượng gây hại nguy hiểm hàng đầu ở tất cả các vùng trồng Quế tại QuảngNam và Quảng Ngãi Tại Trà My và Tiên Phước Quảng Nam tỉ lệ bệnh làkhoảng 5 – 10%, cá biệt có những vườn Quế tỉ lệ bệnh lớn hơn 50% Ở QuảngNgãi các vườn Quế tái sinh chồi có vườn tỉ lệ bệnh lên tới 30 – 40% Bệnh tuamực gây hại tất cả các bộ phận của cây, rễ, thân, cành, cuống lá và gân lá Triệuchứng của bệnh có thể tìm thấy từ Quế ở trong vườn ươm trở đi và gây hại ở tất

cả các vùng Quế đồi, Quế vườn Các vườn Quế có độ che phủ cao bệnh nặng hơnnhững vườn Quế được chiếu nắng đầy đủ Cây con bị bệnh nếu triệu chứng

ở đỉnh sinh trưởng của cây, cây thường bị khô chết từ ngọn xuống

Nguyễn Trung Tín (1999), điều tra về bệnh tua mực tại Quảng Nam vàQuảng Ngãi cho rằng tỷ lệ nhiễm bệnh tua mực rừng trồng thuần loài từ 70 –100% Tại Trà Giác, Trà My có 100% số cây bị tua mực Quế thanh hóa trồng

ở Trà My tỷ lệ tua mực thấp hơn khoảng 15 – 20% Tác giả cũng cho thấy nếuQuế Trà My đem trồng ở vùng thấp hơn thì tỷ lệ tua mực thấp hơn

Theo Trần Văn Mão (1989) thì có một số loài sâu hại Quế là: Tằm ăn lá(Attacus alfa Linn), Sâu róm (Dasychira mendosa Hueb), Sâu đục thân (Zeuzeracofeae Niel) Về bệnh hại Quế có bệnh đốm lá, bệnh cháy lá, u biếu cành

Ở Quảng Nam và Quảng Ngãi bệnh tua mực đã phát triển mạnh ảnhhưởng đến sinh trưởng và hàm lượng tinh dầu: bệnh tua mực phát triển mạnh ở cáckhu vực trồng Quế có độ ẩm cao, có vườn Quế tỷ lệ bệnh tua mực từ 75

– 85% (Phạm Văn Lực và cộng sự, 1997) Hàm lượng tinh dầu và andehylcinnamic ở các mẫu bị tua mực , đều thấp hơn so với đối chứng Ví dụ hàmlượng tinh dầu ở mẫu khô bị tua mực là 0,77% thì ở mẫu không bị tua mực5,57%, hàm lượng aldehyl cinnamic tương ứng là 47,3% và 92,9%

Trang 35

Năm 2000, Bộ Nông Nghiệp và PTNT đã giao cho viện bảo vệ thực vật

đề tài trọng điểm: nghiên cứu nguyên nhân và giải pháp khắc phục hiện

tượng chết hàng loạt cây quế ở yên bái đã thu thập xác định được 10 loại

sâu, 4 loại bệnh hại tại vùng quế Văn Yên - Yên Bái đã nghi nhận được hiện

tượng chết hàng loạt cây quế tại xã Đại Sơn huyện văn yên có liên quan đếnmột loại bọ xít gây hại

1.2.3.5 Những nghiên cứu về biện pháp phòng trừ

Võ Duy Loan (2014) đã có khuyến cáo có thể sử dụng 4 loại thuốcRegent 800 WG, Padan 95SP, NurelleD 25/2,5EC, Karate 2,5 EC đều có hiệulực cao đối với sâu đục đọt

Theo Trần Quang Tấn (2004), Phòng trừ bọ xít nâu sẫm bằng thuốc hóahọc Admire 50 EC cho hiệu quả cao từ 93,64 – 100% sau 5 ngày phun Biệnpháp kỹ thuật tổng hợp để ngăn chặn dịch hại bọ xít hại Quế bằng các giải phápsau: Trồng cây lâm nghiệp ở đỉnh đồi với 1/4 diện tích gồm những cây bản địalấy gỗ như Pơ mu, dổi, xoan… Trồng các băng Quế và băng cây lâm nghiệp kinh

tế cao xen tiếp nhau: 1/3 diện tích băng cây lâm nghiệp có kinh tế cao (trám,trầm hương…), 2/3 diện tích còn lại là các băng Quế Giữ tỷ lệ diện tích Quế từ

50 - 60% diện tích trồng Duy trì mật độ Quế theo tuổi cây tạo điều kiện lớnnhanh vượt qua giai đoạn mẫn cảm nhất đối với bọ xít: Tuổi 3: 4000 cây/ha, tuổi4: 3000 cây/ha, tuổi 5: 2500 cây/ha và tuổi 6: 2000 cây/ha Phòng trừ bọ xít nâusẫm hại Quế bằng thuốc Admire đúng thời điểm tại những vùng có dịch hại Thửnghiệm mô hình kể trên cho thấy cây sinh trưởng tốt, không có cây bị chết dohiện tượng sùi cành (do bọ xít hại), trong khi đó vườn đối chứng tỷ lệ cây chết là34,69% Phòng trừ sâu đục ngọn cành Quế bằng các thuốc Padan

95 Sp sẽ hạn chế được số ngọn cành Quế bị sâu đục héo sẽ giúp cho Quế sinhtrưởng và phát triển tốt Phun thuốc khi Quế ra lộc rộ vào tháng 3 không những

Trang 36

hạn chế được thiệt hại do sâu đục ngọn gây ra mà còn hạn chế được tác hạicủa sâu đo ăn lá khi sâu bùng phát và gây hại vào tháng 4- 6 tại Quảng Nam.

Trần Quang Tấn (2004) để phòng trừ bệnh tua mực thì vườn trồng loại bỏđược nguồn bệnh, tạo độ thông thoáng đầy đủ ánh sáng cho vườn Quế, duy trìmật độ 3000 cây/ha Phòng trừ sâu đục ngọn cành Quế bằng các thuốc Padan

95 Sp sẽ hạn chế được số ngọn cành Quế bị sâu đục héo sẽ giúp cho Quế sinhtrưởng và phát triển tốt Phun thuốc khi Quế ra lộc rộ vào tháng 3 không những hạnchế được thiệt hại do sâu đục ngọn gây ra mà còn hạn chế được tác hại của sâu đo ăn

lá khi sâu bùng phát và gây hại vào tháng 4- 6 tại Quảng Nam

1.3 Tổng quan về khu vực nghiên cứu

1.3.1 Điều kiện tự nhiên

1.3.1.1 Vị trí địa lý

Trang 37

Xã Vạn Thủy là xã miền núi vùng III, nằm ở phía Tây - Bắc của huyệnBắc Sơn (cách thành phố Lạng Sơn khoảng 98 km) Xã Vạn Thủy có tổngdiện tích tự nhiên theo địa giới hành chính là: 4.065,21 ha có vị trí:

- Phía Đông giáp xã Long Đống;

- Phía Tây giáp xã Tân Tri

- Phía Nam giáp xã Đồng Ý;

- Phía Bắc giáp xã Hòa Bình, Tân Hòa, thuộc huyện Bình Gia;

Xã Tân Tri nằm ở phía Tây Nam của huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn

Có tọa độ địa lý 21° 51′ 39″ vĩ độ Bắc đến 106° 8′ 41″ kinh Đông Cách trungtâm huyện Bắc Sơn 27km Làm một xã miền núi, thuộc cánh cung Bắc Sơncủa vùng Đông Bắc Việt Nam

Xã Tân Tri có tổng số diện tích 3.497,37 ha gồm có 16 thôn là KhauBao, Vũ Thắng A, Vũ Thắng B, Nà Càng, Ngọc Lâu, Pò Đồn, Long Bài, BảnHoàng, Yên Mỹ, Thâm Phè, Bắc Mỏ, Minh Sơn, Thâm Xi, Bình An, SuốiTín, Suối Tát

Xã Tân Tri cách Hà Nội 162km và cách thị trấn Bắc Sơn 24km

Xã Tân Tri là nơi có địa hình núi đá vôi xen lẫn thung lung Tân Tri là

xã miền núi của của vùng Đông Bắc Việt Nam Xã Tân Tri có các ngọn núicao 500-1.200 m, như ngọn núi Khau Pi Ao (cao 1.107m), ngọn núi Pa Lép(503 m) Địa hình Tân Tri nhiều núi đá vôi điển hình của cánh cung Bắc Sơn

có nhiều hang động kỳ vĩ xen lẫn những cánh đồng bằng phẳng mầu mỡ

Trang 38

là 44,5mm; số ngày mưa trong tháng từ 5 đến 6 ngày Mùa này chịu ảnhhưởng của gió mùa đông bắc hay có sương muối và những đợt rét đậm kéodài gây ảnh hưởng lớn đến việc sinh hoạt và sản xuất của nhân dân.

- Nhiệt độ trung bình năm là 20,80C

- Nhiệt độ trung bình cao nhất: 37,7 0 c

- Nhiệt độ trung bình thấp nhất: 1,50 c

- Độ ẩm không khí trung bính năm từ 80 - 85%

- Lượng mưa trung bình trong năm: 1480 mm

Xã Tân Tri nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới nóng ẩm nên mát mẻ, trong lành Mùa hè nhiệt độ dao động từ 20-27 độ C

- Vùng phía Bắc: Có độ cao trung bình 500 m so với mặt nước biển.Đặc điểm vùng này ít mưa, nhiệt độ trung bình 21 - 23ºc Lượng mưa bình quân1.800 mm/năm Độ ẩm thường xuyên 80 – 85%, có những ngày chịu ảnh hưởngcủa gió Lào

Trang 39

- Vùng núi phía Nam: chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc, có lượngmưa lớn, bình quân 1.800 – 2.000 mm/năm, nhiệt độ trung bình 23 - 24ºc, độ ẩmkhông khí 81 – 86%.

- Các hiện tượng thời tiết khác:

+ Sương muối: Xuất hiện chủ yếu ở độ cao trên 600 m, nhiệt độ càng xuống thấp số ngày có sương càng nhiều

+ Mưa đá: Xuất hiện ở một số nơi vào khoảng cuối mùa xuân, đầu mùa

hạ và thường đi kèm với hiện tượng dông và gió xoáy cục bộ

Khí hậu xã Tân Tri ổn định, ít đột biến phù hợp với trồng trọt và chănnuôi, trồng các loại cây lương thực, thực phẩm, cây công nghiệp dài ngày ởphía Nam Cây ăn quả, cây công nghiệp ngắn ngày như: hồi, sắn, quýt, đậu

đỗ, thuốc lá các loại ở phía Bắc

1.3.1.4 Đất đai

Xã Vạn Thủy có 3 nhóm đất chính: Đất phù sa, đất bạc mầu và đất đỏvàng nhạt Đất phù sa có đặc điểm được bồi đắp hằng năm nhờ các con suốinhỏ hay đồi núi khi có những trận mưa lũ, sự bồi đắp từ đồi núi, nương rẫyhay các con suối nhỏ nên nó mang lại độ phì nhiêu, màu mỡ cho đất, phù hợptrồng các loại rau, ngô, lạc, đậu đỗ ; đất bạc màu có đặc điểm khô, cứng phùhợp trồng chè, trồng keo; đất đỏ vàng nhạt có đặc điểm hình thành trên nhiềuloại đá mẹ khác nhau phù hợp trồng lúa

Hiện trạng sử dụng đất

Tổng diện tích đất tự nhiên toàn xã là: 4.065,21ha

· Diện tích đất rừng Lâm nghiệp: 3.503,6ha

· Diện tích đất Nông nghiệp: 357,65ha

· Diện tích đất sử dụng cho mục đích khác: 203,96ha

· Diện tích đất trồng Quế: 425,8ha

Xã Tân Tri có nhóm đất đồi (gồm đất đỏ vàng, đất mùn vàng) phân bổ

Trang 40

rộng khắp trên địa bàn, nhóm đất này có độ phì nhiêu khá cao thích hợp với cây công nghiệp dài ngày (cây quít, hồi, dứa, mía, Quế ).

Hiện trạng sử dụng đất

Tổng diện tích đất tự nhiên toàn xã là 3.497,37 ha

· Diện tích đất rừng Lâm nghiệp: 1.834ha

· Diện tích đất Nông nghiệp: 1.269ha

· Diện tích đất sử dụng cho mục đích khác: 394,37ha

· Diện tích đất trồng Quế: 305ha

1.3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

Vạn Thủy là một xã vùng 3 của huyện Bắc Sơn, toàn xã có 4 thôn (BảnSoong, Nà Thí, Bản Khuổng và Bản Cầm) với hơn 367hộ/1660 nhân khẩu.Chủ yếu là đồng bào thiểu số với 4 dân tộc anh em cùng sinh sống gồm: Tày,Nùng, Dao, Kinh Trình độ dân trí còn tương đối hạn chế Dân cư trên địa bàntoàn xã phân bố không đồng đều Chủ yếu nằm dọc theo các trục đườngchính, đường liên thôn, liên xã Chủ yếu là làm nông nghiệp chỉ có một số ítlàm nghề sản xuất kinh doanh, buôn bán nhỏ

Dịch vụ thương mại phát triển còn chậm, chủ yếu tập trung vào cáchàng quán buôn nhỏ lẻ, không đáp ứng được nhu cầu cung cấp hàng hóa chongười dân trên địa bàn xã

Về trồng trọt: Trong những năm qua người dân trên địa bàn xã VạnThủy đã tiếp thu và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, tổngdiện tích gieo trồng năm 2017 là 417,5, tổng sản lượng lương thực có hạt là1.012,9 tấn, bình quân lương thực có hạt 600kg/người/năm, bình quân thunhập đầu người 15.000.000đ/người/năm

Thuốc lá là cây công nghiệp ngắn ngày, có giá trị kinh tế cao, tuy nhiêntrong những năm gần đây (từ 2013 đến nay) trên địa bàn xã không phát triểntrồng thuốc lá mà chủ yếu là trồng lúa và hoa màu

Ngày đăng: 19/04/2022, 15:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2000. Quy phạm kỹ thuật trồng quế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy phạm kỹ thuật trồng
4. Hoàng Cầu. Phân vùng sinh thái và mở rộng vùng trồng Quế ở nước ta. Tạp chí Lâm nghiệp số 4 – 1993, trang 12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân vùng sinh thái và mở rộng vùng trồng Quế ở nước ta
5. Hoàng Cẩu, Nguyễn Hữu Phước. Kỹ thuật khai thác sơ chế và bảo quản vỏ Quế. Bản tin KHKT và KTLN số 6 - 1991, trang 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật khai thác sơ chế và bảo quản vỏ Quế
6. Trần Cứu, Vấn đề phát triển cây Quế ở huyện Trà Bồng. Lâm nghiệp số 9 - 1983, trang 35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề phát triển cây Quế ở huyện Trà Bồng
8. Vũ Đại Dương, Ảnh hưởng của môi trường PH đất và phân bón đến cây Quế giai đoạn vườn ươm. Tạp chí NN&PTNT số 3, 2002, trang 252 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của môi trường PH đất và phân bón đến"cây Quế giai đoạn vườn ươm
9. Trần Hợp (1984), Một số đặc tính sinh học cây Quế, luận án PTS khoa học nông nghiệp, Đại học Nông lâm Thành phố Hồ Chí Minh 10. Nguyễn Văn Khánh (1996), Góp phần nghiên cứu phân vùng lập địa lâm nghiệp, Luận án PTS khoa học Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc tính sinh học cây Quế," luận án PTS khoa học nông nghiệp, Đại học Nông lâm Thành phố Hồ Chí Minh10.Nguyễn Văn Khánh (1996), "Góp phần nghiên cứu phân vùng lập địa lâm nghiệp
Tác giả: Trần Hợp (1984), Một số đặc tính sinh học cây Quế, luận án PTS khoa học nông nghiệp, Đại học Nông lâm Thành phố Hồ Chí Minh 10. Nguyễn Văn Khánh
Năm: 1996
11. Võ Duy Loan (2014), Chi cục Bảo vệ thực vật Quảng Ngãi, Tác nhân gây bệnh tua mực hại Quế và biện pháp phòng trừ bệnh tại huyện Trà Bồng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác nhân gây
Tác giả: Võ Duy Loan
Năm: 2014
14. Trần Quang Tấn (2004), Báo cáo tổng kết đề tài “Nghiên cứu nguyên nhân chết hàng loạt và đề xuất biện pháp kỹ thuật tổng hợp nhằm góp phần ổn định năng suất, chất lượng Quế ở Việt Nam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứunguyên nhân chết hàng loạt và đề xuất biện pháp kỹ thuật tổng hợpnhằm góp phần ổn định năng suất, chất lượng Quế ở Việt Nam
Tác giả: Trần Quang Tấn
Năm: 2004
15. Nguyễn Trung Tín (1999), “Bệnh tua mực quế”, Tạp chí Lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh tua mực quế”
Tác giả: Nguyễn Trung Tín
Năm: 1999
3. Số liệu thống kê của FAO về Giá trị sản xuất Quế trên Thế Giới năm 2003-2011.http://faostat.fao.org/Việt Nam. T. II (Nguyễn Tiến Bân - Chủ biên). Tr. 65-112. Nxb Nông nghiệp - Hà Nội Link
1. Việt Nam. T. II (Nguyễn Tiến Bân - Chủ biên). Tr. 65 - 112. Nxb Nông nghiệp - Hà Nội Khác
7. Trần Cửu (1983), Lê Đình Khả (2003). Quế là nguyên liệu quý trong Công nghiệp dược phẩm và thực phẩm Khác
12. Phạm Văn Lực (1997), Nhận dạng côn trùng đến các bộ qua đặc điểm của pha trưởng thành, Phương pháp nghiên cứu bảo vệ thực vật, Tập 1, Phương Khác
13. Trần Văn Mão. Sâu bệnh hại Quế và biện pháp phòng trừ. Lâm nghiệp số 10 – 1989 , trang 34 Khác
16. Phạm Quang Thu (2016), Danh lục sinh vật gây hại trên 17 loài cây Lâm nghiệp ở Việt Nam, Nhà xuất bản nông nghiệp.II. Tài liệu tiếng Anh Khác
17. Akahil Baruah and Subhan c. Nath. Indian cassia. (Cinnamon and Cassia. CRC.PRESS, 2004) Khác
18. Akhtar Husain, Virmani, O. P., Ashok Sharma, Anup Kumar, Misra, L Khác
19. Amalendu T., Kunjupillai V. and Beera S. (2014), Cricula Trifestrata (Helfer) (Lepidoptera: Saturniidae). A Silk Producing Wild Insect In India. Trop. Lepid. Res., 24 (1): 22-29 Khác
20. Cinamomum cassia - Casssia bark. Amanual of Organic Materia Medica Khác
21. Devashayam, S. and Koya, K. M. A. (1993), Additions to the insect fauna associated with tree spices. Entomon, Vol. 18, No.1-2, pp. 101-102 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Giá trị sản xuất Quế trên thế giới từn ăm 2012-2020 Qu ốc gia - Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả rừng trồng quế tại huyện bắc sơn tỉnh lạng sơn
Bảng 1.1 Giá trị sản xuất Quế trên thế giới từn ăm 2012-2020 Qu ốc gia (Trang 17)
Hình 2.1: Đồng bào người - Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả rừng trồng quế tại huyện bắc sơn tỉnh lạng sơn
Hình 2.1 Đồng bào người (Trang 42)
+ Địa hình phức tạp hiểm trở gây khó kho cho việc đi lại, vận chuyển, cũng như khai thác Quế - Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả rừng trồng quế tại huyện bắc sơn tỉnh lạng sơn
a hình phức tạp hiểm trở gây khó kho cho việc đi lại, vận chuyển, cũng như khai thác Quế (Trang 53)
3.3.3. Hiệu quả kinh tế cây Quế đem lại tại khu vực nghiên cứu - Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả rừng trồng quế tại huyện bắc sơn tỉnh lạng sơn
3.3.3. Hiệu quả kinh tế cây Quế đem lại tại khu vực nghiên cứu (Trang 65)
Bảng 3.9: Điều tra thu - chic ủa rừng trồng Quế chu kỳ 9 năm/ha tại xã Vạn Thuỷ, huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn - Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả rừng trồng quế tại huyện bắc sơn tỉnh lạng sơn
Bảng 3.9 Điều tra thu - chic ủa rừng trồng Quế chu kỳ 9 năm/ha tại xã Vạn Thuỷ, huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn (Trang 65)
Bảng 3.10: Điều tra thu - chic ủa rừng trồng Quế chu kỳ 11 năm/ha tại xã Tân Tri, huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn - Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả rừng trồng quế tại huyện bắc sơn tỉnh lạng sơn
Bảng 3.10 Điều tra thu - chic ủa rừng trồng Quế chu kỳ 11 năm/ha tại xã Tân Tri, huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn (Trang 67)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w