1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp quản lý rừng tại vùng đệm vườn quốc gia hoàng liên thuộc huyện tân uyên, tỉnh lai châu

103 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 450,85 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Sự cần thiết (8)
  • 2. Mục tiêu (10)
  • 3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài (11)
    • 3.1. Lý luận (11)
    • 3.2. Thực tiễn (11)
  • Chương 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU (12)
    • 1.1. Trên thế giới (12)
      • 1.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển rừng đặc dụng (12)
      • 1.1.2. Tổ chức quản lý rừng đặc dụng (13)
      • 1.1.3. Các nghiên cứu về tài nguyên rừng đặc dụng (14)
      • 1.1.4. Các nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến rừng đặc dụng (15)
    • 1.2. Ở Việt Nam (18)
      • 1.2.1. Lịch sử hình thành là phát triển rừng đặc dụng (18)
      • 1.2.2. Tổ chức quản lý rừng đặc dụng (20)
      • 1.2.3. Các nghiên cứu về tài nguyên rừng đặc dụng (22)
      • 1.2.4. Các nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến rừng đặc dụng (23)
    • 1.3. Đánh giá chung (28)
  • Chương 2. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (30)
    • 2.1.1. Đối tượng nghiên cứu (30)
    • 2.1.2. Phạm vị nghiên cứu (30)
    • 2.2. Nội dung nghiên cứu (30)
    • 2.3. Phương pháp nghiên cứu (30)
      • 2.3.1. Phương pháp luận (30)
      • 2.3.2. Phương pháp nghiên cứu (34)
  • Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN (37)
    • 3.1. Kết quả nghiên cứu một số đặc điểm Tài nguyên rừng vùng đệm VQG Hoàng Liên tại Tân Uyên (37)
      • 3.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển Vườn Quốc gia Hoàng liên (37)
      • 3.1.2. Tiềm năng về tài nguyên sinh vật (40)
    • 3.2. Công tác quản lý tại vườn quốc gia Hoàng Liên (51)
      • 3.2.1. Kết quả nghiên cứu về tổ chức và quy hoạch rừng đặc dụng (51)
      • 3.2.2. Cộng đồng người dân vùng đệm tham gia quản lý rừng (61)
    • 3.3. Các yếu tố ảnh hưởng(các mối đe doạ) đến công tác QLBVR khu vực nghiên cứu (71)
      • 3.3.1. Các mối đe dọa, nguyên nhân, ảnh hưởng của nó đến quản lý bảo vệ rừng . 60 3.3.2. Đánh giá từ người dân về các yếu tố ảnh hưởng đến QLBVR (71)
    • 3.4. Đề xuất một số giải pháp thu hút cộng đồng vào quản lý tài nguyên rừng vùng đệm VQG Hoàng Liên (0)
      • 3.4.2. Những giải pháp về kinh tế (88)
      • 3.4.3. Giải pháp về kỹ thuật (89)
      • 3.4.5. Đầu tư phát triển thị trường lâm sản (91)
      • 3.4.6. Một số đề xuất để đẩy mạnh công tác tuyên truyền (91)
    • 1. Kết luận (93)
    • 2. Kiến nghị (94)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (95)
    • Bằng 1.1.Bảng tổng hợp hệ thống rừng đặc dụng (21)

Nội dung

Sự cần thiết

Để bảo vệ môi trường và phát triển bền vững tài nguyên rừng, việc quản lý hiệu quả các khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) và Vườn quốc gia (VQG) là rất quan trọng Những khu vực này không chỉ giúp bảo tồn nguồn gen và đa dạng sinh học mà còn mang lại lợi ích cho cộng đồng và nghiên cứu khoa học Tuy nhiên, hiện nay, các khu bảo tồn đang đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức trong việc quản lý và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên.

Vườn Quốc gia Hoàng Liên được thành lập Ngày 12/7/2002 theo Quyết định số 90/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ với tổng diện tích là 29.845ha.

Vườn Quốc gia Hoàng Liên được thành lập trên địa bàn các xã San Sả Hồ, Lao Chải, Tả Van, Bản Hồ thuộc huyện Sa Pa, cùng với một phần các xã Mường Khoa và Thân Thuộc của huyện Than Uyên, tỉnh Lào Cai.

Ngày 26/11/2003, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 22/2003/QH11, quyết định chia tỉnh Lai Châu thành tỉnh Lai Châu (mới) và tỉnh Điện Biên Đồng thời, huyện Than Uyên của tỉnh Lào Cai được chuyển giao về tỉnh Lai Châu, dẫn đến việc phần diện tích VQG Hoàng Liên thuộc huyện Than Uyên cũng được chuyển về tỉnh Lai Châu.

Năm 2008 huyện Tân Uyên được thành lập, diện tích VQG Hoàng Liên trên địa bàn tỉnh Lai Châu thuộc xã Phúc Khoa, Trung Đồng huyện Tân Uyên.

Vườn Quốc Gia Hoàng Liên được thành lập với tổng diện tích 29.845 ha, bao gồm các phân khu: 11.875 ha dành cho bảo vệ nghiêm ngặt, 17.900 ha phục hồi sinh thái và 70 ha cho hành chính, du lịch, dịch vụ Ngoài ra, khu vực vùng đệm có diện tích 38.724 ha, bao gồm thị xã Sa Pa và các xã Sa Pả, Lao Chải, Hầu Thào.

Sử Pán, Bản Hồ, Nậm Sài, Nậm Cang thuộc huyện Sa Pa; xã Nậm Xé huyện Văn Bàn; xã Hố Mít, Thân Thuộc, Mường Khoa huyện Than Uyên; và các xã Bản Pho, Bình Lư huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu là những địa điểm nổi bật cần khám phá.

Năm 2006, sau khi rà soát và quy hoạch lại, diện tích ranh giới Vườn Quốc gia Hoàng Liên đã được điều chỉnh còn 28.476,21 ha, trong đó tỉnh Lào Cai quản lý 20.976,2 ha và tỉnh Lai Châu quản lý 7.500 ha.

Ngày 23/5/2013, UBND tỉnh Lào Cai đã ban hành Quyết định số 1255/QĐ-UBND phê duyệt quy hoạch bảo tồn và phát triển bền vững VQG Hoàng Liên giai đoạn 2013 – 2020, với tổng diện tích tự nhiên là 28.509 ha Trong đó, diện tích thuộc tỉnh Lào Cai là 21.009 ha và tỉnh Lai Châu là 7.500 ha Khu vực được chia thành các phân khu: phân khu bảo vệ nghiêm ngặt 10.848,45 ha (Lào Cai 6.227,21 ha, Lai Châu 4.621,24 ha), phân khu phục hồi sinh thái 17.607,87 ha (Lào Cai 14.729,17 ha, Lai Châu 2.878,70 ha) và phân khu hành chính dịch vụ 52,68 ha nằm trong tỉnh Lào Cai.

Huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu, có hai xã là Phúc Khoa và Trung Đồng nằm trong vùng đệm của Vườn quốc gia Hoàng Liên Tổng diện tích đất rừng thuộc vùng đệm này là 6.895,78 ha, trong đó xã Phúc Khoa chiếm 5.137,03 ha và xã Trung Đồng chiếm 1.758,75 ha.

Công tác bảo vệ và phát triển rừng tại Hạt Kiểm lâm được thực hiện thông qua việc phối hợp với chính quyền địa phương nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng về giá trị của rừng Hạt Kiểm lâm đã tích cực vận động nhân dân tham gia bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy, ngăn chặn khai thác trái phép và lấn chiếm đất rừng Việc giao khoán bảo vệ rừng gắn với chi trả DVMTR cho các thôn bản cũng được duy trì, đồng thời củng cố các tổ bảo vệ rừng ngày càng chuyên nghiệp hơn Để nâng cao đời sống người dân và giảm phụ thuộc vào nông, lâm nghiệp truyền thống, nguồn kinh phí từ môi trường rừng được sử dụng hợp lý Ngoài ra, công tác tuần tra, kiểm soát và xử lý vi phạm Luật Lâm nghiệp được thực hiện thường xuyên Bảo vệ và phát triển rừng đã trở thành nhiệm vụ trọng tâm trong các nghị quyết và chương trình của cấp ủy, chính quyền xã.

Công tác quản lý, bảo vệ rừng và bảo tồn đa dạng sinh học tại vùng đệm Vườn quốc gia Hoàng Liên đang gặp nhiều khó khăn như cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng nhu cầu, đời sống người dân còn khó khăn, trình độ dân trí thấp và phong tục canh tác lạc hậu Những vấn đề này dẫn đến hiệu quả tuyên truyền chưa cao, trong khi tình trạng người dân vào rừng để phá rừng, khai thác lâm sản và săn bắt động vật trái phép vẫn tiếp diễn Do đó, nghiên cứu và đề xuất các giải pháp quản lý bảo vệ rừng hiệu quả là rất cần thiết, nhằm khắc phục những hạn chế hiện tại trong khu vực này.

Mục tiêu

- Phân tích, đánh giá được đặc điểm tài nguyên rừng tại vùng đệm VQG Hoàng Liên tại huyện Tân Uyên.

- Đánh giá được hiện trạng công tác quản lý tại VQG Hoàng Liên.

- Phân tích được các yếu tố ảnh hưởng tới quản lý bảo vệ rừng trong vùng đệm VQG Hoàng liên.

- Đề xuất được các giải nhằm thu hút cộng đồng vào quản lý tài nguyên rừng trong vùng đệm VQG Hoàng Liên.

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Lý luận

Các nghiên cứu đã cung cấp cơ sở khoa học cho việc đề xuất nguyên tắc và giải pháp nhằm quản lý bền vững tài nguyên rừng tại Tân Uyên, tỉnh Lai Châu, cũng như cho các VQG khác có điều kiện tự nhiên và xã hội tương tự.

Thực tiễn

Kết quả nghiên cứu sẽ là tài liệu quý giá cho các địa phương và cơ quan chức năng trong việc điều chỉnh và hoạch định các chính sách quản lý tài nguyên thiên nhiên tại khu vực nghiên cứu.

Các giải pháp được đề xuất nhằm hỗ trợ chính quyền địa phương trong việc nâng cao hiệu quả quản lý bền vững tài nguyên rừng tại khu vực nghiên cứu bao gồm việc tăng cường giáo dục cộng đồng về bảo vệ rừng, áp dụng công nghệ hiện đại trong giám sát tài nguyên, và phát triển các chương trình hợp tác giữa các bên liên quan Những biện pháp này không chỉ giúp bảo vệ môi trường mà còn đảm bảo sự phát triển kinh tế bền vững cho cộng đồng địa phương.

TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Trên thế giới

1.1.1 L ị ch s ử hình thành và phát tri ể n r ừ ng đặ c d ụ ng

Theo IUCN (1994), bảo tồn đa dạng sinh học là mục tiêu chính của khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) KBTTN được định nghĩa là khu vực trên đất liền hoặc biển, được khoanh vùng nhằm bảo vệ đa dạng sinh học, tài nguyên thiên nhiên, cùng với các di tích lịch sử và văn hóa Khu vực này được quản lý thông qua các công cụ pháp luật hoặc các hình thức quản lý hiệu quả khác.

Nguồn gốc của khu bảo tồn thiên nhiên (KBT) "hiện đại" bắt đầu từ thế kỷ 19, với Vườn Quốc gia Yellowstone ở Mỹ, thành lập năm 1872, là VQG đầu tiên trên thế giới Tuy nhiên, sự hình thành các KBT và VQG thường đi kèm với việc cưỡng chế cộng đồng địa phương, như người Crow và Shoshone, rời bỏ đất đai của họ Nhiều quốc gia đã áp dụng mô hình quản lý này, dẫn đến việc cấm người dân địa phương tiếp cận tài nguyên trong các KBT và VQG, gây ra mâu thuẫn giữa cộng đồng địa phương và các khu bảo tồn, làm giảm hiệu quả bảo tồn tài nguyên (IUCN 1994) Hầu hết các KBT được thiết lập với mục tiêu quốc gia, thiếu sự xem xét đến nhu cầu của người dân địa phương Tại Đông Nam Á, phương thức này không phù hợp, vì việc cấm tiếp cận tài nguyên thiên nhiên khiến cộng đồng địa phương gặp khó khăn, trong khi họ rất phụ thuộc vào các nguồn tài nguyên này (Donovan D., Rambo A.T, Fox J., Lê Trọng Cúc, Trần Đức Viên 1997).

Trong vài thập kỷ qua, số lượng và diện tích các khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) trên thế giới đã gia tăng đáng kể, hiện có khoảng 100.000 khu, chiếm 11,7% diện tích đất liền toàn cầu Vườn Quốc gia là loại hình chiếm diện tích và số lượng lớn nhất, tiếp theo là các khu bảo tồn loài và sinh cảnh Tuy nhiên, việc thực hiện một hệ thống quản lý hiệu quả để khai thác các lợi ích tiềm năng từ KBTTN vẫn là một thách thức lớn ở nhiều nơi, bao gồm cả Việt Nam.

1.1.2 T ổ ch ứ c qu ả n lý r ừ ng đặ c d ụ ng

Công ước ĐDSH (1992) nhấn mạnh vai trò quan trọng của các khu bảo tồn thiên nhiên (BTTN) trong việc bảo tồn đa dạng sinh học "tại chỗ" Điều 8 của công ước quy định rằng các quốc gia tham gia phải thiết lập hệ thống các KBTTN, xây dựng hướng dẫn lựa chọn và quản lý các khu này, cũng như quản lý tài nguyên sinh học trong các KBTTN để đảm bảo bảo tồn và sử dụng bền vững.

Trong quá trình hình thành và phát triển các khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN), mỗi quốc gia có cách tiếp cận riêng, dẫn đến việc thiếu tiêu chuẩn và thuật ngữ chung, gây khó khăn cho việc chia sẻ ý tưởng và kinh nghiệm Những nỗ lực đầu tiên nhằm làm rõ thuật ngữ và phân hạng KBTTN bắt đầu từ năm 1993, trong khi hệ thống phân hạng quốc tế đầu tiên được IUCN công bố vào năm 1978 với 10 phân hạng Hệ thống này đã được áp dụng rộng rãi và là cơ sở cho "Danh mục các KBTTN của Liên hiệp quốc năm 1993" Tuy nhiên, hệ thống phân hạng 1978 đã bộc lộ nhiều thiếu sót, dẫn đến việc IUCN xem xét và cập nhật vào năm 1984 Hệ thống phân hạng KBTTN quốc tế hiện hành của IUCN được công bố vào năm 1994, dựa trên những cập nhật từ hệ thống trước đó.

1.1.3 Các nghiên c ứ u v ề tài nguyên r ừ ng đặ c d ụ ng Ở Nepal, đã có một số mô hình thành công về chương trình bảo tồn đa đạng sinh học ĐDSH theo hướng toàn cầu Tuy nhiên, do sự ảnh hưởng của cuộc xung đột vũ trang trong gần một thập kỷ đã tác động đến các hoạt động bảo tồn và động vật hoang dã Chính vì vậy, một số nghiên cứu về đánh giá tác động của những hoạt động này đến bảo tồn đa dạng sinh học tại VQG Bardia và vùng đệm phía tây Nepal đã được thực hiện Nghiên cứu khẳng định, 73% người dân địa phương sống trong khu vực phụ thuộc vào nông nghiệp, nguồn chất đốt và thức ăn (Alice Sharp…1999) Ở Ấn Độ, nơi ước tính có 275 triệu người dân địa phương ở các vùng nông thôn phụ thuộc vào rừng (ít nhất là một phần sinh kế của họ) Theo Gadgil và VP Vartok năm 1976 trong tác phẩm: “Những lùm cây thiêng miền Tây dãy Ghats ở Ấn Độ” cho rằng: Người dân địa phương ở Ấn Độ đã bảo vệ được các đám rừng từ 0,5 ha đến 10 ha dưới dạng lùm cây thiêng để thờ các vị thần của lùm cây Việc thờ cúng tại những lùm cây thiêng đó được hình thành từ các xã hội chuyên về săn bắn và hái lượm Việc lấy ra bất cử sản phẩm nào đều bị cấm kỵ Với nạn phá rừng ngày càng tăng, những lùm cây đó đã trở thành những di sản còn lại của rừng tự nhiên do đó đã trở nên quan trọng trong việc thu lượm một số sản phẩm như: Cây thuốc, lá rụng, gỗ khô… Việc khai thác gỗ đã bị cấm nhưng đôi khi vẫn xảy ra tình trạng khai thác gỗ trộm (FAO, 1996) Một nghiên cứu về lâm nghiệp công đồng bên ngoài khu rừng đặc dụng đã chỉ ra rằng các khu rừng không chỉ cung cấp tiềm năng to lớn để xóa đói giảm nghèo và tăng trưởng kinh tế nông thôn ở Ấn Độ mà vẫn hỗ trợ tốt mục tiêu quan trọng là bảo tồn.

Sự phụ thuộc giữa bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển đã trở thành một chủ đề quan trọng trong các hội thảo và diễn đàn khoa học gần đây Vào tháng 6 năm 1992, tại Hội nghị Liên hiệp quốc về Môi trường và Phát triển bền vững ở Rio De Janeiro, vấn đề này đã được công nhận chính thức.

Các mô hình ở Đông Nam Á cho thấy nỗ lực của Chính phủ trong việc di dời người dân khỏi khu vực bảo tồn thiên nhiên (KBT) không đạt được kết quả như mong đợi về quản lý tài nguyên và phát triển kinh tế - xã hội Việc di chuyển người dân quen thuộc với môi trường sống của họ đến nơi mới giống như “bắt cá ra khỏi nước”, dẫn đến việc các lực lượng khác có thể xâm lấn và khai thác tài nguyên mà không có sự bảo vệ từ cộng đồng Người dân địa phương sở hữu nhiều kiến thức truyền thống về sử dụng tài nguyên thiên nhiên, và các thể chế cộng đồng đã chứng minh hiệu quả trong việc quản lý các nguồn tài nguyên này.

Trước những thách thức trong công tác bảo tồn tại các VQG và KBT toàn cầu, từ những năm 1980, nhiều dự án nghiên cứu và hội thảo quốc tế đã được tổ chức với sự tham gia của các chuyên gia trong lĩnh vực bảo tồn, nhằm đề xuất những thay đổi trong chiến lược bảo tồn Một chiến lược mới đã dần hình thành, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc liên kết quản lý KBT và VQG với các hoạt động sinh kế của cộng đồng địa phương Sự tham gia bình đẳng của các cộng đồng, dựa trên việc tôn trọng văn hóa địa phương, là yếu tố cần thiết trong quá trình ra quyết định bảo tồn.

1.1.4 Các nghiên c ứ u v ề các y ế u t ố ả nh h ưở ng đế n r ừ ng đặ c d ụ ng

Nhiều nghiên cứu và kinh nghiệm thực tiễn cho thấy, việc quản lý thành công các khu bảo tồn cần gắn liền bảo tồn đa dạng sinh học với văn hóa địa phương Tại VQG Kakadu (Australia), người thổ dân không chỉ sống hợp pháp mà còn được công nhận là chủ sở hữu và tham gia quản lý Tương tự, VQG Wasur (Indonesia) duy trì 13 làng bản với lối sống săn bắn truyền thống Ở Thái Lan, dự án quản lý rừng bền vững tại KBT động vật hoang dã Phu Kheio nhấn mạnh tầm quan trọng của sự tham gia cộng đồng và phát triển kinh tế địa phương Hệ thống quản lý trước đây chú trọng quyền kiểm soát của Nhà nước, dẫn đến tình trạng phá rừng cao Một nghiên cứu ở vùng đệm của KBT Phu Kheio đã chỉ ra rằng sự tham gia của người dân địa phương có thể cải thiện quản lý tài nguyên Cần tạo ra nhận thức về tầm quan trọng của trồng rừng và bảo tồn thiên nhiên để quản lý hiệu quả hơn trong tương lai Người dân nghèo phụ thuộc vào rừng cho sinh kế, vì vậy việc họ tham gia lập kế hoạch và thiết kế dự án phát triển là rất cần thiết.

Báo cáo năm 1993 về "Liên minh cộng đồng: đồng quản lý rừng ở Thái Lan" đã chỉ ra sự thành công của cộng đồng tại VQG Dang Yai và khu phòng hộ Nam Sa trong việc tổ chức bảo tồn và quản lý rừng Tại Dang Yai, người dân đã hợp tác với Cục Lâm nghiệp Hoàng gia để xây dựng hệ thống quản lý rừng bền vững, bảo vệ môi trường sinh thái và đáp ứng nhu cầu của cộng đồng Tương tự, cộng đồng ở Nam Sa cũng đã đạt được kết quả tích cực trong quản lý rừng phòng hộ, khẳng định rằng nếu chính phủ hỗ trợ và trao quyền cho họ, họ sẽ kiểm soát tài nguyên rừng hiệu quả hơn.

Để bảo tồn đa dạng sinh học (ĐDSH) hiệu quả, việc đảm bảo sự tham gia của các cộng đồng địa phương là rất quan trọng, bởi họ là những người chịu ảnh hưởng trực tiếp từ các quyết định chính sách môi trường Theo kế hoạch hành động ĐDSH của Indonesia, việc tăng cường sự tham gia của công chúng, đặc biệt là các cộng đồng sống trong và phụ thuộc vào những vùng có tính ĐDSH cao, được xác định là mục tiêu chính và điều kiện tiên quyết cho việc thực hiện kế hoạch này.

Chính sách lâm nghiệp cần chú trọng đến việc củng cố quyền lợi của cộng đồng dân cư sống trong và gần các khu bảo tồn thiên nhiên, nhằm tạo thêm công ăn việc làm và tăng thu nhập, đồng thời giảm tác động đến tài nguyên rừng (Sheppherd G, 1986) Tuy nhiên, hiệu quả của các chương trình quản lý tài nguyên thiên nhiên vẫn còn hạn chế do chưa giải quyết tốt mối quan hệ lợi ích giữa cá nhân trong cộng đồng và giữa lợi ích địa phương với lợi ích quốc gia (Dilmour D.A, 1999) Do đó, cần phát triển quản lý tài nguyên theo hướng kết hợp giữa bảo tồn và phát triển, nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân và thống nhất lợi ích của họ với lợi ích quốc gia trong hoạt động bảo tồn và phát triển tài nguyên rừng (Nguyễn Minh Thanh, 2004).

Theo Nick Salafky và các đồng sự (Biodiversity Support Program, 2000), vào những năm 90, các nhà bảo tồn đã phát triển một cách tiếp cận mới nhằm kết hợp lợi ích kinh tế với bảo tồn Chiến lược này tập trung vào mối liên hệ giữa đa dạng sinh học (ĐDSH) và cộng đồng địa phương, cho phép họ hưởng lợi trực tiếp từ ĐDSH, từ đó giảm thiểu các tác động tiêu cực từ bên ngoài Sinh kế không chỉ hỗ trợ bảo tồn ĐDSH mà còn khẳng định vai trò của người dân địa phương trong việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên Chiến lược này cũng khuyến khích việc khai thác lâm sản ngoài gỗ và phát triển du lịch sinh thái, góp phần vào sự phát triển bền vững (Nguyễn Minh Thanh, 2004).

Tổ chức Bảo tồn Động thực vật Hoang dã Quốc tế (WWF) năm 2001 nhấn mạnh rằng hoạt động bảo tồn cần liên kết chặt chẽ với việc xóa đói giảm nghèo, coi đây là yếu tố quan trọng trong chính sách bảo tồn tài nguyên rừng.

Ở Việt Nam

1.2.1 L ị ch s ử hình thành là phát tri ể n r ừ ng đặ c d ụ ng

Việt Nam có lịch sử thành lập các khu rừng đặc dụng (RĐD) tương đối sớm so với nhiều quốc gia khác Vào tháng 7/1962, Thủ tướng chính phủ đã ban hành Quyết định số 72/TTg, thành lập khu rừng cấm Cúc Phương với diện tích 22.000 ha Khu rừng này sau đó trở thành Vườn quốc gia (VQG) đầu tiên tại Việt Nam, đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc bảo tồn thiên nhiên.

Trong 40 năm phát triển, ngành Lâm nghiệp Việt Nam đã trải qua 3 giai đoạn chính Giai đoạn từ 1960 đến 1974, ngành đã phát hiện và đề xuất 49 khu rừng cấm ở các tỉnh phía Bắc, nhưng chỉ một số ít được thành lập do chiến tranh và khó khăn kinh tế Từ 1975 đến 1986, sau khi đất nước thống nhất, ngành Lâm nghiệp đã tiến hành điều tra và phát hiện các khu bảo vệ trên toàn quốc, đặc biệt tại Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ, với nhiều đề án về hệ thống khu rừng cấm được trình lên Bộ và chính phủ Ngày 24/01/1977, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 41/TTg để thành lập các khu bảo vệ này.

Việt Nam có 10 khu rừng cấm với tổng diện tích 44.310ha, bao gồm các khu vực như Ba Bể, Đảo Ba Mùn, Ba Vì, Bắc Sơn (Mỏ Rẹ), Bán đảo Sơn Trà, Đền Hùng, Pác Bó, Rừng thông Đà Lạt, Núi Tam Đảo và Tân Trào (Núi Hồng) Trong số đó, khu Ba Vì, Đảo Ba Mùn và Núi Tam Đảo được xếp loại bảo tồn thiên nhiên, trong khi các khu còn lại mang giá trị di tích văn hóa - lịch sử Nhiều khu rừng có giá trị bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học đã được phát triển, bao gồm Khu rừng cấm Nam Bãi Cát Tiên (1978), Khu bảo tồn thiên nhiên Mom Ray - Ngọc Vin (1982), Vườn Quốc gia Côn Đảo (1984) và Vườn Quốc gia Cát Bà (1986).

Vào ngày 09/08/1986, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Quyết định 194/CT, xác lập danh mục 73 khu rừng cấm trên toàn quốc với tổng diện tích 769.512 ha Danh mục này bao gồm 02 Vườn Quốc gia với diện tích 65.000 ha và 46 Khu Bảo tồn Thiên nhiên (KBTTN) với diện tích 629.661 ha.

25 khu di tích văn hóa- lịch sử và môi trường (74.852ha).

Vào ngày 30/12/1986, Quy chế quản lý ba loại rừng, bao gồm Rừng Đặc Dụng (RĐD), đã được ban hành chính thức theo Quyết định 1171/QĐ của Bộ trưởng Bộ Lâm Nghiệp Theo quy chế này, Rừng cấm đã được đổi tên thành RĐD và được phân chia thành các loại khác nhau.

Việt Nam hiện có ba phân hạng RĐD: VQG, KBTTN và Khu văn hóa-lịch sử và môi trường Hệ thống RĐD đã phát triển để bao gồm nhiều khu vực đại diện cho các đai, đới khí hậu và các đơn vị địa lý sinh học khác nhau, phân bố đồng đều trên toàn quốc Giai đoạn từ 1987 đến nay, hệ thống này tiếp tục được mở rộng và nâng cao hiệu quả bảo tồn.

Sau năm 1990, Chính phủ đã quyết định thành lập nhiều khu rừng mới dựa trên Quy chế quản lý thống nhất, với sự hỗ trợ tích cực từ các ngành, địa phương và các nhà khoa học Ngày 17/9/2003, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 192/2003/QĐ-TTg phê duyệt chiến lược quản lý hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) của Việt Nam đến năm 2010, xác định mục tiêu, phương thức phát triển và phân công trách nhiệm quản lý Cũng trong năm 2003, Cục Kiểm lâm - Bộ NN&PTNT đã trình Chính phủ danh sách 121 khu rừng đặc dụng cần thiết cho đến năm 2010.

27 VQG, 57 KBTTN và 37 khu văn hóa lịch sử với tổng diện tích là 2.518.339 ha ( Cục Kiểm lâm 2003) Từ đó đến nay, Việt Nam đã có tổng số

164 RĐD được thành lập, có ( 30 VQG và 134 KBTTN), với diện tích

2.265.753,88 ha Trong đó diện tích có rừng 1.941.452,85 ha; diện tích chưa có rừng 275.291,03 ha; diện tích mặt nước biển 67.010,00 ha (Nguyễn Kim Phượng ,2010)

1.2.2 T ổ ch ứ c qu ả n lý r ừ ng đặ c d ụ ng

Luật Lâm nghiệp ban hành ngày 15/11/2017; Nghị định số

Nghị định 156/2018/NĐ-CP ngày 16/11/2018 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật lâm nghiệp, trong đó đưa ra các quy định cụ thể về quản lý rừng đặc dụng (RĐD) theo các văn bản liên quan.

Bằng 1.1.Bảng tổng hợp hệ thống rừng đặc dụng

III Khu bảo vệ cảnh quan

VI Rừng NC khoa học

Theo bảng 1.1, cả nước hiện có 176 khu rừng đặc dụng (RĐD), bao gồm 34 Vườn Quốc Gia (VQG), 58 khu bảo tồn, 61 khu bảo vệ cảnh quan và 9 khu rừng nghiên cứu khoa học Trong số đó, 6 VQG trực thuộc Tổng cục Lâm nghiệp - Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, bao gồm VQG Ba Vì, Cúc Phương, Tam Đảo, Bạch Mã, Yok Đôn và Cát Tiên Các khu văn hóa, lịch sử và môi trường được quản lý bởi Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, trong khi các VQG khác và toàn bộ các khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) đều thuộc sự quản lý của UBND các tỉnh và thành phố Lực lượng chủ yếu tham gia vào công tác quản lý và bảo vệ là cán bộ, công chức, viên chức, đặc biệt là kiểm lâm.

Theo Nghị định 156/2018/NĐ-CP, ngày 16/11/2018, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có nhiệm vụ lập quy hoạch các khu rừng đặc dụng (RĐD) và trình UBND tỉnh phê duyệt Tuy nhiên, hiện nay kinh phí cho RĐD đang ở mức thấp, chỉ đủ để chi trả cho hoạt động của Ban quản lý, trong khi nguồn kinh phí dành cho bảo tồn còn rất hạn chế.

1.2.3 Các nghiên c ứ u v ề tài nguyên r ừ ng đặ c d ụ ng

Trong nhiều năm qua, nhiều nhà khoa học đã tập trung vào việc cải thiện hiệu quả của các khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) và vườn quốc gia (VQG) với mục tiêu bảo tồn và phát triển Họ nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cân bằng giữa việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và phát triển kinh tế – xã hội cho cộng đồng địa phương.

Theo Donovan D., Rambo A.T, Fox J., Lê Trọng Cúc, Trần Đức Viên

Vào năm 1997, tác giả đã chỉ ra rằng việc khai thác gỗ, củi và các sản phẩm rừng khác như tre, nứa, nấm, cây dược liệu và động vật hoang dã đã dẫn đến sự suy giảm nghiêm trọng diện tích rừng già ở miền núi phía Bắc Việt Nam Những nguồn tài nguyên này không chỉ là nguồn sinh kế chủ yếu của người dân địa phương mà còn tạo ra áp lực lớn lên các khu rừng Việc đánh giá hiệu quả bảo vệ các khu bảo tồn thiên nhiên (KBT) ở Việt Nam trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.

Công tác bảo tồn và phát triển bền vững vùng đệm phụ thuộc vào việc cải thiện đời sống của người dân, thay đổi thói quen sử dụng củi và gỗ, cũng như nâng cao kỹ thuật canh tác nông lâm nghiệp Cần đẩy mạnh thâm canh, nâng cao năng suất cây trồng, từ bỏ các phương thức canh tác du canh, quảng canh, và tăng cường nhận thức của người dân về bảo tồn và sử dụng tài nguyên một cách hợp lý và bền vững.

D.A Gilmour và Nguyễn Văn Sản (1999), đã thực hiện một nghiên cứu về quản lý vùng đệm tại 3VQG: Ba Vì, Bạch Mã và Cát Tiên Kết quả nghiên cứu đã phản ánh khá rõ nét thực trạng vùng đệm ở Việt Nam như: Tình hìnhKT-XH, tình trạng bảo tồn tạicác VQG và vùng đệm; hoạt động phát triển trong các vùng đệm; tổ chức, thể chế cho quản lý vùng đệm (D.A.Gilmoir vàNguyễn Văn Sản, 1999)

Quản lý và phát triển vùng đệm các khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) dựa trên cơ sở cộng đồng là cách phát huy lợi thế của cộng đồng, đồng thời hạn chế những tác động tiêu cực trong hoạt động bảo tồn Cộng đồng có thể tận dụng những giá trị tích cực của phong tục và tập quán, từ đó xây dựng mối quan hệ hài hòa giữa các thành viên và giữa con người với thiên nhiên, góp phần tạo ra môi trường sống lành mạnh và hỗ trợ cho công tác bảo tồn (Lê Quý An, 2001).

1.2.4 Các nghiên c ứ u v ề các y ế u t ố ả nh h ưở ng đế n r ừ ng đặ c d ụ ng

Năm 2001, Đỗ Anh Tuân thực hiện một nghiên cứu điểm tại KBTTN

Đánh giá chung

Mối quan hệ giữa các bên liên quan và công tác bảo tồn hệ sinh thái tại các khu bảo tồn và vườn quốc gia đã được nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau Nhiều nghiên cứu đã xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn vững chắc, đồng thời lượng hóa tác động của các bên liên quan đến tài nguyên tự nhiên (TNR) của các khu vực này Một số nghiên cứu khác tập trung vào mức độ phụ thuộc của người dân vào TNR và sinh kế của cộng đồng sống gần khu vực bảo tồn, đồng thời đưa ra các giải pháp khoa học và thực tiễn hữu ích Tuy nhiên, các nghiên cứu hiện tại vẫn còn hạn chế, chưa phân tích đầy đủ và hệ thống các yếu tố ảnh hưởng đến công tác bảo tồn.

Biến đổi khí hậu và đa dạng sinh học đang trở thành mối quan tâm hàng đầu của các quốc gia, đòi hỏi sự phát triển cả về diện tích và chất lượng rừng đặc dụng Tại Việt Nam, số lượng khu rừng đặc dụng ngày càng gia tăng, mỗi khu có đặc trưng riêng về quy mô, sinh thái, dân cư, kinh tế, xã hội và phong tục tập quán Do đó, việc nghiên cứu tiềm năng, năng lực và thực trạng quản lý các khu rừng đặc dụng một cách hệ thống và khách quan là rất cần thiết, nhằm đề xuất các giải pháp thu hút sự tham gia của các bên liên quan trong công tác bảo tồn tại mỗi khu bảo tồn và vườn quốc gia trên toàn quốc.

Tổng quan nghiên cứu cung cấp cái nhìn hệ thống và biện chứng cho đề tài, bao gồm việc xác định chủ đề, mục tiêu, nội dung nghiên cứu, phương pháp thực hiện và dự kiến kết quả đạt được.

ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu tập trung vào tổ chức quản lý và các yếu tố tác động đến công tác quản lý bảo vệ rừng tại vùng đệm của Vườn Quốc gia Hoàng Liên, thuộc huyện Tân Uyên.

Phạm vị nghiên cứu

Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu tại 02: xã Phúc khoa, xã Trung Đồng thuộc vùng đệm VQG Hoàng liên tại huyện Tân Uyên.

Nghiên cứu đánh giá thực trạng quản lý bảo vệ rừng (QLBVR) tại vùng đệm của Vườn Quốc gia Hoàng Liên, huyện Tân Uyên, và phân tích các tác động đối với công tác quản lý tài nguyên rừng (TNR) tại các khu rừng đặc dụng hiện nay.

Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu một số đặc điểm tài nguyên rừng vùng đệm VQG Hoàng Liên tại huyện Tân Uyên.

- Hiện trạng công tác quản lý tại VQG Hoàng Liên

- Nghiên cứu phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến QLBVR trong vùng đệm VQG Hoàng Liên.

- Đề xuất một số giải pháp thu hút cộng đồng vào quản lý tài nguyên rừng vùng đệm VQG Hoàng Liên:

Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Ph ươ ng pháp lu ậ n

Nghiên cứu này được tiến hành dựa trên các lý thuyết tiếp cận hệ thống, kết hợp với quan điểm sinh thái – nhân văn, bảo tồn – phát triển và phương pháp tiếp cận có sự tham gia.

2.3.1.1 Quan điểm tiếp cận hệ thống

Hệ thống là một cấu trúc tự nhiên hoàn chỉnh, bao gồm nhiều bộ phận chức năng liên kết một cách có tổ chức và trật tự, hoạt động theo những quy luật thống nhất Mỗi hệ thống luôn chứa các hệ thống thành phần nhỏ hơn, được gọi là hệ thống phụ Tất cả sự vật và hiện tượng đều nằm trong một hệ thống, trong khi mỗi hệ thống cũng nằm trong một hệ thống lớn hơn.

Sự tác động của người dân địa phương đến tài nguyên thiên nhiên (TNR) là một phần quan trọng trong hệ thống kinh tế, liên quan đến các hoạt động như canh tác đất rừng, khai thác vàng, lâm sản và chăn nuôi Mức độ tác động này phụ thuộc vào sinh kế, nhu cầu thị trường, khả năng đầu tư và lợi nhuận, ảnh hưởng đến cách sử dụng TNR Ngược lại, sự giàu có và đa dạng của TNR cũng ảnh hưởng đến thu nhập của người dân Do đó, việc hiểu mối quan hệ giữa tác động của người dân và các yếu tố kinh tế có thể giúp giảm thiểu tác động tiêu cực đến TNR Nghiên cứu này nhằm tìm hiểu nguyên nhân kinh tế gây ra tác động bất lợi và đề xuất giải pháp kinh tế để giảm thiểu những tác động này.

Sự tác động của người dân địa phương đến TNR tại VQG Hoàng Liên, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu, là một hoạt động xã hội quan trọng, chịu ảnh hưởng bởi nhận thức về tầm quan trọng của TNR, ý thức pháp luật và trách nhiệm cộng đồng Các thói quen sử dụng TNR trong khu vực cũng đóng vai trò quan trọng Bên cạnh đó, các vấn đề về thể chế và chính sách như chính sách đối với người dân trong VQG, hệ thống quản lý TNR và việc thực thi luật bảo vệ phát triển rừng cũng ảnh hưởng đến sự tham gia của cộng đồng Sự hỗ trợ của Nhà nước trong việc tuyên truyền chính sách và gắn kết người dân thành một cộng đồng thống nhất là cần thiết để quản lý và bảo vệ TNR hiệu quả.

TNR là một hệ thống tự nhiên với các thành phần tương tác chặt chẽ, tồn tại khách quan và tuân theo các quy luật tự nhiên Để bảo tồn TNR, cần đảm bảo rằng các tác động của con người phù hợp với quy luật tự nhiên và giảm thiểu những ảnh hưởng tiêu cực đến hệ thống này.

2.3.1.2 Quan điểm sinh thái – nhân văn

Các hoạt động kinh tế xã hội trong cộng đồng và hộ gia đình rất đa dạng, phản ánh đặc điểm sinh thái và mối quan hệ kinh tế xã hội Những hoạt động này chịu sự chi phối của nhiều yếu tố, trong đó một số yếu tố có thể quan trọng tại thời điểm này nhưng không tại thời điểm khác hoặc ở cộng đồng khác Mối quan hệ giữa tác động bất lợi của cộng đồng đến tài nguyên thiên nhiên và phát triển kinh tế - xã hội địa phương là mối quan hệ nghịch Tác động tiêu cực của người dân địa phương đến tài nguyên thiên nhiên có cơ sở sinh thái và bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố kinh tế - xã hội.

Các yếu tố vật lý và sinh học được chia thành hai loại: những yếu tố không thể kiểm soát như khí hậu, thủy văn, địa hình và những yếu tố có thể kiểm soát như xói mòn, lũ lụt, sâu bệnh, lửa rừng, hạn hán Bên cạnh đó, các yếu tố kinh tế như sinh kế, mức sống của người dân địa phương và nhu cầu thị trường cũng đóng vai trò quan trọng trong việc tác động của người dân địa phương tới TNR.

Các yếu tố thể chế, chính sách và tổ chức cộng đồng có ảnh hưởng gián tiếp đến tác động của người dân địa phương đối với TNR Tập quán, nhận thức và văn hóa của cộng đồng đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành thái độ và nhận thức này Mọi yếu tố tác động đều có thể làm thay đổi cách nhìn nhận của cộng đồng Để giảm thiểu tác động bất lợi đến TNR và bảo tồn, phát triển bền vững, các giải pháp cần dựa trên cơ sở sinh thái và đảm bảo các yếu tố kinh tế, xã hội cho người dân địa phương.

2.3.1.3 Quan điểm bảo tồn – phát triển

Theo Gilmour D.A và Nguyễn Văn Sản (1999), bảo tồn và phát triển cần phải liên kết tài nguyên với nhu cầu phát triển địa phương Quan điểm này bao gồm ba thành phần chính trong cách tiếp cận.

Nếu nhu cầu phát triển cộng đồng tại địa phương có thể được đáp ứng bằng các nguồn thay thế khác, thì ảnh hưởng lên tài nguyên sẽ giảm và tài nguyên sẽ được bảo tồn Đây là một cách tiếp cận hiệu quả cho các giải pháp thay thế sinh kế.

Nếu cộng đồng đang gặp khó khăn về kinh tế, việc bảo tồn sẽ trở nên khó khăn vì họ chưa đáp ứng được những nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống Do đó, cần nỗ lực cải thiện nền kinh tế - xã hội của họ để giúp họ có thể quan tâm hơn đến bảo tồn thiên nhiên Đây là cách tiếp cận phát triển kinh tế hợp lý.

Cộng đồng địa phương đồng ý với việc bảo tồn tài nguyên nếu họ được tham gia tích cực vào quy hoạch và quản lý sử dụng tài nguyên Việc chia sẻ lợi nhuận từ tài nguyên sẽ thúc đẩy sự hợp tác, giúp bảo tồn tài nguyên thông qua khai thác hợp lý và bền vững Cách tiếp cận này nhấn mạnh tầm quan trọng của sự tham gia của cộng đồng trong quy hoạch tài nguyên.

2.3.1.4 Tiếp cận có sự tham gia trong nghiên cứu

Sự tham gia là quá trình mà các bên liên quan cùng tác động, chia sẻ sáng kiến phát triển và đưa ra quyết định chung Việc người dân địa phương có khả năng trao đổi quan điểm về TNR với các nhà nghiên cứu và cơ quan quản lý là rất quan trọng, vì điều này giúp các cơ quan hiểu và đáp ứng tốt hơn những mong muốn của cộng đồng.

Năm 1996, Hosley đã xác định bảy mức độ tham gia từ thấp đến cao, bao gồm: tham gia có tính chất vận động, tham gia bị động, tham gia qua hình thức tư vấn, tham gia nhằm nhận hỗ trợ vật tư từ bên ngoài, tham gia theo chức năng, tham gia hỗ trợ, và cuối cùng là tự huy động và tổ chức.

Nghiên cứu này áp dụng phương pháp tiếp cận cùng tham gia, trong đó người dân địa phương tham gia ở mức độ 3 thông qua tư vấn và cung cấp thông tin Để thu thập dữ liệu, các phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (RRA) và đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA) được sử dụng, cho phép người dân địa phương cung cấp thông tin và phân tích Những thông tin này có thể đáp ứng nhiều nhu cầu của cộng đồng, bao gồm sự hỗ trợ về quyền sử dụng tài nguyên tự nhiên (TNR) và các giải pháp giải quyết xung đột.

2.3.2 Ph ươ ng pháp nghiên c ứ u

2.3.2.1 Thu thập các tài liệu thứ cấp

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Ngày đăng: 19/04/2022, 15:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Khuất Thị Lan Anh ( 2009), Nghiên cứu tác động của cộng đồng địa phương đến tài nguyên rừng tại KBTTN Kim Hỷ- Bắc Kan, Luận văn thạc sỹ khoa học Lâm nghiệp, Trường Đại học Lâm nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tác động của cộng đồng địa phương đến tài nguyên rừng tại KBTTN Kim Hỷ- Bắc Kan
6. Donovan D, Rambo A.T, Fox J ; Lê Trọng Cúc, Trần Đức Viên ( 1997),Những xu hướng phát triển vùng núi phía bắc Việt Nam, tập 2 các nghiên cứu mẫu Châu Á, Trung tâm Đông Tây, Trung tâm nghiên cứu tài nguyên và môi trường- Đại học Quốc gia Hà Nội, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những xu hướng phát triển vùng núi phía bắc Việt Nam, tập 2 cácnghiên cứu mẫu Châu Á
Nhà XB: NXB Chính trịQuốc gia
7. IUCN Việt Nam (2008), Hướng dẫn quản lý KBTTN- Một số kinh nghiệm và bài học quốc tế, IUCN Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Hướng dẫn quản lý KBTTN- Một số kinh nghiệm và bài học quốc tế
Tác giả: IUCN Việt Nam
Năm: 2008
8. Đỗ Thị Hường (2010) ‘’Nghiên cứu các tác động của người dân địa phương đến tài nguyên rừng tại KBTTN Thượng Tiến- huyện Kim Bôi-tỉnh Hòa Bình ’’ Luận văn thạc sỹ khoa học Lâm nghiệp, Trường Đại học Lâm nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ’Nghiên cứu các tác động của người dân địa phương đến tài nguyên rừng tại KBTTN Thượng Tiến- huyện Kim Bôi-tỉnh Hòa Bình ’’
1. Lê Quý An (2000), Quan hệ đồng tác trên cơ sở cộng đồng trong vùng đệm các khu bảo tồn thiên nhiên quốc gia, báo cáo hội thảo Vùng đệm các KBTTN Việt Nam Khác
3. Công ước đa dạng sinh học (1992), Bộ Tài nguyên và môi trường, đượctruy cập và tra cứu từ trang Web Khác
4.Luật Lâm nghiệp và Nghị định số 156/2018/NĐ-CP ngày 16/11/2018 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Lâm nghiệp Khác
5. D.A. Gilmour và Nguyễn Văn Sản (1999), quản lý vùng đệm ở Việt Nam, IUCN Việt Nam Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.1. Bản đồ hành chính VQG Hoàng Liên - Đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp quản lý rừng tại vùng đệm vườn quốc gia hoàng liên thuộc huyện tân uyên, tỉnh lai châu
Hình 3.1. Bản đồ hành chính VQG Hoàng Liên (Trang 39)
Bảng 3.3. Các họ đa dạng nhất hệ thực vật Hoàng Liên - Đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp quản lý rừng tại vùng đệm vườn quốc gia hoàng liên thuộc huyện tân uyên, tỉnh lai châu
Bảng 3.3. Các họ đa dạng nhất hệ thực vật Hoàng Liên (Trang 44)
Bảng 3.4. Các chi đa dạng nhất hệ thực vật Hoàng Liên STT 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 - Đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp quản lý rừng tại vùng đệm vườn quốc gia hoàng liên thuộc huyện tân uyên, tỉnh lai châu
Bảng 3.4. Các chi đa dạng nhất hệ thực vật Hoàng Liên STT 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 (Trang 47)
Bảng 3.8. Thực trạng khai thác lâm sản từ phân khu bảo vệ nghiêm ngặt - Đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp quản lý rừng tại vùng đệm vườn quốc gia hoàng liên thuộc huyện tân uyên, tỉnh lai châu
Bảng 3.8. Thực trạng khai thác lâm sản từ phân khu bảo vệ nghiêm ngặt (Trang 56)
Bảng 3.11. Thống kê thị trường lâm sản trong VQG Hoàng Liên - Đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp quản lý rừng tại vùng đệm vườn quốc gia hoàng liên thuộc huyện tân uyên, tỉnh lai châu
Bảng 3.11. Thống kê thị trường lâm sản trong VQG Hoàng Liên (Trang 82)
Bảng 3.12: Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý và bảo vệ rừng - Đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp quản lý rừng tại vùng đệm vườn quốc gia hoàng liên thuộc huyện tân uyên, tỉnh lai châu
Bảng 3.12 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý và bảo vệ rừng (Trang 83)
Hình 3.2. Sơ đồ đề xuất xây dựng quỹ - Đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp quản lý rừng tại vùng đệm vườn quốc gia hoàng liên thuộc huyện tân uyên, tỉnh lai châu
Hình 3.2. Sơ đồ đề xuất xây dựng quỹ (Trang 87)
3.4.4. Tổ chức sản xuất - Đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp quản lý rừng tại vùng đệm vườn quốc gia hoàng liên thuộc huyện tân uyên, tỉnh lai châu
3.4.4. Tổ chức sản xuất (Trang 89)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w